Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố

Chia sẻ: Anviet Canh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:52

0
171
lượt xem
48
download

Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Năm 1995, GDP của thành phố là 36.975 tỷ đồng (giá hiện hành) t¬ơng đ¬ơng 3,37 tỷ USD, năm 2000 là 76.660 tỷ đồng (giá hiện hành) t¬ơng đ¬ơng 5,46 tỷ USD. Giai đoạn 1991-1995, nền kinh tế thành phố đã có b¬ớc tăng tr¬ởng nhanh chóng, GDP tăng bình quân 12,6%/năm, GDP bình quân đầu ng¬ời tăng từ 620 USD năm 1991 (giá so sánh năm 1994) lên 937 USD năm 1995.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố

  1. z   Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố D:\My to do\DangboTpHCM.doc 1
  2. Phần thứ nhất Tình hình phát triển kinh tế - xã hội thành phố hồ chí minh giai đoạn 1996 - 2000 I. Kết quả phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996 - 2000 và so sánh với giai đoạn 1991 - 1995: 1/ Tăng trởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và hiệu quả kinh tế: 1.1- Tăng trởng kinh tế: Năm 1995, GDP của thành phố là 36.975 tỷ đồng (giá hiện hành) t ơng đơng 3,37 tỷ USD, năm 2000 là 76.660 tỷ đồng (giá hiện hành) tơng đơng 5,46 tỷ USD. Giai đoạn 1991-1995, nền kinh tế thành phố đã có bớc tăng trởng nhanh chóng, GDP tăng bình quân 12,6%/năm, GDP bình quân đầu ngời tăng từ 620 USD năm 1991 (giá so sánh năm 1994) lên 937 USD năm 1995. Trong giai đoạn 1996-2000, tốc dộ tăng trởng GDP bình quân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đạt 10,15%/năm, nâng tỷ trọng GDP của thành phố so với cả n ớc tăng từ 16% năm 1995 lên 18,93% năm 1999 và GDP bình quân đầu ngời tăng từ 937USD (giá so sánh năm 1994) năm 1995 lên 1365 USD năm 2000 (gấp 1,45 lần). Tuy nhiên mức tăng tr ởng GDP bình quân 10,15%/năm thấp hơn so với mức tăng tr - ởng 12,62% của thời kỳ 1991-1995 và mục tiêu 15%/năm mà thành phố đã đề ra. Trong cả thời kỳ 1991- 2000, dự ớc GDP thành phố tăng bình quân 11,4%/năm, cao hơn tốc độ 7,6%/năm của cả nớc là 1,5 lần. Năm 1995, tốc độ tăng GDP của thành phố đạt 15,3%, năm 1996 đạt 14,7%, năm 1997 đ ạt 12,1% ; năm 1998 đạt 9,0% ; năm 1999 đạt 6,2% và năm 2000 ớc đạt 9%. Nh vậy, tốc độ tăng trởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã suy giảm từ năm 1996 tr ớc cả khi có tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính ở khu vực Đông á bắt đầu từ cuối năm 1997. Điều đó cho thấy việc tăng tr ởng kinh tế chững lại trớc hết là xuất phát từ những yếu kém trong nội bộ nền kinh tế. 1.2- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 1.2.1- Chuyển dịch cơ cấu ba khu vực kinh tế công nghiệp-xây dựng, dịch vụ và nông nghiệp: Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu dựa vào công nghiệp-xây dựng và dịch vụ. Giá trị gia tăng c ủa khu vực công nghiệp và xây dựng luôn có tốc độ cao nhất, bình quân giai đoạn 1996-2000 là 13,2%/năm; tiếp đến là khu vực dịch vụ với tốc độ tăng bình quân là 8,4%/năm, còn khu vực nông nghi ệp ch ỉ tăng 1,2%/năm. Bình quân 10 năm từ 1991 đến 2000, công nghiệp-xây dựng tăng 14,7%/năm; dịch vụ tăng 9,8% và nông nghiệp tăng 2,5%/năm, hình 1, phụ lục 2. Với tốc độ tăng trởng nh vậy, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP giảm liên tục từ 4,6% năm 1991 xuống 2,9% năm 1996 và 2,2% năm 2000. Trong giai đoạn 1991-1995, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng giảm từ 40,6% năm 1991 xuống 38,9% năm 1995, còn tỷ trọng dịch vụ tăng từ 54,8% năm 1991 lên 57,8% năm 1995. Trong giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng tăng từ 40,1% năm 1996 lên 44,6% năm 2000, còn tỷ trọng dịch vụ giảm từ 57,0% năm 1996 xuống còn 53,2% năm 2000. Theo chỉ tiêu đề ra thì đến năm 2000 tỷ trọng trong GDP của khu vực công nghiệp và xây d ựng là 46%, khu vực dịch vụ là 52%, của khu vực nông nghiệp là 2%. Nh vậy, thì nhìn chung cơ cấu ba khu vực kinh tế chuyển dịch đúng theo định hớng (xem bảng 1, phụ lục 1). D:\My to do\DangboTpHCM.doc 2
  3. Tuy nhiên, nếu xét về tốc dộ tăng trởng; thì mức tăng ở cả 3 khu vực đều không đạt và còn chênh lệch khá xa so với kế hoạch đề ra cho cả thời kỳ 1996-2000 . Cụ thể là mức tăng giá trị gia tăng đối với khu vực công nghiệp và xây dựng giai đoạn 1996-2000 theo kế hoạch là 17%/năm, song thực tế đ ạt 13,2%/năm; khu vực thơng mại - dịch vụ theo kế hoạch là 14%/năm, thực tế là 8,4%/năm, khu vực nông nghiệp theo kế hoạch là 5%/năm, thực tế là 1,2%/năm. Đóng góp của ba khu vực kinh tế vào mức tăng trởng GDP: Giai đoạn 1996-2000, GDP tăng bình quân gần 10,15%/năm, trong đó 5,4% là do khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp, 4,8% là do khu vực dịch vụ đóng góp (xem bảng 2, phụ lục 1). Đóng góp của khu vực nông nghiệp vào tốc độ tăng trởng GDP hầu nh không đáng kể. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố thể hiện rõ hơn qua sự thay đổi cơ cấu đóng góp vào GDP của 14 ngành và nhóm ngành quan trọng sau đây (xem bảng 3): Bảng 3: Cơ cấu GDP chi tiết của thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1990-2000: Cơ cấu trong GDP (%) So sánh năm 2000 với 1990 1995 2000 Năm 1990 Năm 1995 Công nghiệp-Xây dựng 42,3 38,9 44,6 1,1 1,15 Trong đó: 10,5 11 9,5* 0,9 0,86 (-) 1- Lơng thực - Thực phẩm 2- Xây dựng 4,1 5,5 5,6* 1,36 1,02 3- Cơ khí 1,6 2,2 3,1 1,9 1,41* 4- Dệt 3,0 2,8 2,5 0,8 0,89 (-) 5- Hóa chất 1,6 1,6 1,9 1,19 1,19* 6- Nhựa-Cao su 0,9 1,4 1,8 2,0 1,29* 7- May 1,7 1,8 1,9 1,1 1,06 8- Da giày 0,6 1,0 1,2 2 1,2* 9- Điện tử 0,3 0,6 1 3,3 1,67* Dịch vụ 52,2 57,8 53,2 1,02 0,92 Trong đó: 21,0 25,2 20,4* 0,97 0,81 (-) 10- Khách sạn - Nhà hàng - Thơng mại 11- Vận tải - Bu điện 5,9 7,7 8,3* 1,4 1,08 12- KD tài sản - t vấn 8,3 6,5 4,1 0,49 0,63 (-) 13- Tài chính - Tín dụng 2,0 3,4 2,3 1,15 0,68 (-) 14- Nông-Lâm-Ng nghiệp 5,5 3,3 2,2 0,4 0,67 (-) Tổng cộng 14 ngành 67,0 74,0 65,7 TC 4 ngành có tỷ trọng trên 5% vào năm 41,5 49,4 43,8 2000 D:\My to do\DangboTpHCM.doc 3
  4. Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh 2000 Theo bảng 3, so với năm 1995 trong năm 2000, năm ngành có sự gia tăng tỷ trọng trong GDP nhiều nhất là điện tử, cơ khí, nhựa-cao su, da giày, hóa chất. Sáu ngành có sự giảm tỷ trọng trong GDP là kinh doanh tài sản t vấn, nông- lâm-ng, tài chánh-tín dụng, khách sạn-nhà hàng-thơng mại, lơng thực-thực phẩm và dệt. Bốn ngành kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 5%) trong GDP là ngành khách sạn-nhà hàng-thơng mại (20,4%), chế biến lơng thực-thực phẩm (9,5%), vận tải-bu điện (8,3%) và xây dựng (5,6%), chiếm tổng cộng 43,8% GDP của thành phố. Năm 2000, tất cả 14 ngành kinh tế trong bảng 3 chiếm 65,7% giá trị GDP của thành phố. 1.2.2- Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: Cũng giống nh tốc độ tăng GDP, tốc độ tăng giá trị gia tăng của các thành phần kinh tế đều giảm liên tục từ năm 1996 đến năm 1999. So sánh giữa các thành phần kinh tế (Hình 2, phụ lục 2) cho thấy khu vực có vốn đầu t nớc ngoài có tốc độ tăng trởng cao nhất, bình quân đạt 22, 13%/năm trong giai đoạn 1996-2000. Kinh tế nội địa gồm hai thành phần là kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh có t ốc đ ộ tăng tr ởng xấp xỉ nhau là 8,61% và 7,74%/năm. Tốc độ tăng trởng của các thành phần kinh tế đã dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nh trong bảng 4. Khu vực kinh tế quốc doanh, dù vẫn chiếm u thế về tỷ lệ đóng góp vào GDP, song tỷ trọng đã giảm từ 54,9% năm 1991 xuống 47,4% năm 1996 và xuống còn 45,9% năm 2000. Tỷ trọng của khu vực ngoài quốc doanh giảm từ 42,2% năm 1991 xuống 38,6% năm 1996 và xuống còn 35,5% năm 2000. Ng ợc lại, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài với tốc độ tăng trởng nhanh nên tỷ trọng trong GDP tăng mạnh từ 2,9% năm 1991 lên 14,O% năm 1996 và lên đến 18,6% năm 2000. Bảng 4: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế thời kỳ 1996-2000 1991 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Kinh tế quốc doanh 54,9 48,9 47,4 46,8 49,0 43,4 45,9 Kinh tế ngoài QD 42,2 40,0 38,6 37,6 33,6 38,4 35,5 Trong đó Kinh tế tập thể 1,78 1,3 1,72 1,83 KV có vốn ĐTNN 2,9 11,1 14,0 15,6 17,4 18,2 18,6 Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM. Đóng góp của ba thành phần kinh tế vào tăng trởng GDP: Bình quân giai đoạn 1996-1999, trong tốc độ tăng GDP l0,4%/năm, có 3,9% là do khu vực quốc doanh đóng góp, 3, l% là do khu vực ngoài quốc doanh và 3,4% là do khu vực có vốn đ ầu t nớc ngoài (bảng 5, phụ lục 1). Nh vậy, khu vực quốc doanh, với tỷ trọng lớn nhất trong GDP, có mức đóng góp cao nhất vào tăng trởng GDP, kế đó là khu vực có vốn đầu t nớc ngoài, rồi mới đến khu vực ngoài quốc doanh nội địa. Doanh nghiệp nhà nớc do Thành phố quản lý: Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 7 Tổng Công ty Nhà n ớc do thành phố quản lý chiếm khoảng 24% tổng vốn kinh doanh, 42% lao động và 38% mức nộp ngân sách của khu vực doanh nghi ệp D:\My to do\DangboTpHCM.doc 4
  5. nhà nớc do thành phố quản lý. Sự hình thành các Tổng Công ty đã tách chức năng quản lý kinh doanh c ủa các doanh nghiệp khỏi chức năng quản lý hành chánh Nhà n ớc; góp phần phát huy sự năng động, quyền tự chủ trong sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp; tạo điều kiện để thành phố chủ động hơn trong việc thực hiện các chủ trơng phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các Tổng Công ty cha cao. Trên thực tế việc thành lập các Tổng Công ty cha tạo nên đợc một sự thay đổi về chất trong hoạt động kinh doanh do các u thế của doanh nghiệp lớn cùng với tính năng động và mối liên kết giữa các đơn vị thành viên cha đợc khai thác và phát huy. Thực hiện chủ trơng sắp xếp lại và cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nớc, từ năm 1998 đến nay thành phố đã sắp xếp lại 392 doanh nghiệp và đến thời điểm 31/5/2000 còn 345 doanh nghiệp Nhà n ớc do thành phố quản lý đang hoạt động. Đã tiến hành cổ phần hoá 52 doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa đã hoạt động tốt hơn nh Công ty Cơ điện lạnh, Công ty Bông Bạch Tuyết, Công ty Mỹ phẩm Sài gòn,... Tuy nhiên, do còn nhiều khó khăn vớng mắc trong việc xử lý công nợ; vật t hàng hóa tồn kho; thủ tục chuyển giao bất động sản; nghiệp vụ định giá và do tình hình biến đ ộng phức t ạp c ủa các doanh nghiệp nên tiến trình thực hiện sắp xếp lại và cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà n ớc còn chậm. Hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp Nhà n ớc nói chung giảm sút trong giai đoạn 1996- 1999. Doanh thu bình quân một Doanh nghiệp Nhà nớc giảm từ 68,0 tỷ đồng năm 1995 xuống 64,5 ty đồng năm 1999. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các Doanh nghiệp Nhà n ớc của thành phố cũng giảm từ 9,3% năm 1995 xuống 7,1% năm 1999. Doanh nghiệp khu vực t nhân : Kinh tế t nhân của thành phố hoạt động chủ yếu ở các ngành: nông nghiệp, xây dựng, khách sạn-nhà hàng, công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác, thơng nghiệp, vận tải, tài chính-tín dụng, kinh doanh bất động sản, giáo dục-đào tạo và phục vụ cá nhân, bình quân thời kỳ 1996-2000 đóng góp khoảng 37% vào cơ cấu GDP của thành phố (bảng 4) song đã góp phần tích cực trong việc giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố. Tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực này chiếm tới 73,2% lao động đang có việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm kinh doanh, sản xuất nhỏ, thiếu vốn, năng suất và hiệu quả hoạt đ ộng ch a cao nên mức tăng giá trị gia tăng của khu vực này còn hạn chế (đạt 8,7% vào năm 2000 trong khi mức tăng GDP của thành phố là 9%; và đạt bình quân suốt thời kỳ 1996-2000 là 8,3%, trong khi GDP của thành phố tăng bình quân suốt thời kỳ là l0,15%). Tính chung các chỉ tiêu tổng hợp thì khu vực này có tỷ lệ đóng góp ít nhất vào trong mức tăng trởng GDP chung của thành phố (bảng 5, phụ lục 1). Kể từ đầu năm, nay sau 9 tháng thực hiện Luật Doanh nghiệp, tại thành phố Hồ Chí Minh đã có 3.9 16 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 4.099 tỷ đồng đ ợc thành lập, tăng 97% về số lợng doanh nghiệp và 61% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 1999. Số l ợng doanh nghiệp gia tăng này chính là một trong những động lực thúc đẩy sản xuất phát triển không chỉ trong năm 2000 mà cả trong những năm tiếp theo. Kinh tế hợp tác: Trong gần 4 năm thực hiện Luật Hợp tác xã từ 01/Ol/1997, có 63 Hợp tác xã đợc thành lập mới trong tổng số 328 Hợp tác xã hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Theo Báo cáo của Liên minh các Hợp tác xã thành phố Hồ Chí Minh, hiện có 30% Hợp tác xã phát triển t ốt và làm ăn khá giỏi, 50% số Hợp tác xã ở mức trung bình song có khả năng phát triển trong t ơng lai, còn 20% các Hợp tác xã hoạt động yếu kém và cầm chừng. Trong thời gian qua đã xuất hiện nhiều mô hình kinh doanh mới của Hợp tác xã nh: Mô hình siêu thị, đa hàng về vùng sâu, vùng xa... đã thu đợc kết quả tốt. Hiện nay, nhu cầu hợp tác là khách quan của một bộ phận lực l ợng sản xuất, nhng trong cơ chế thị trờng hiện nay, nhu cầu này có xu hớng chựng lại, phát triển chậm và thu hẹp so với tổ chức doanh nghiệp. Phần lớn tổ chức Hợp tác xã hiện nay là nhỏ, lẻ, rời rạc, cha có quan hệ hợp tác rộng rãi; từng Hợp tác xã vốn ít, khả năng quản lý điều hành có nhiều hạn chế. D:\My to do\DangboTpHCM.doc 5
  6. 1.3- Hiệu quả quản lý và năng suất: Trong tốc độ tăng trởng bình quân l2,6% của GDP giai đoạn 1991-1995, có 3,9% là do tăng vốn sản xuất và l,2% là do tăng lao động tạo ra. Phần chênh lệch, 7,5%, là do tăng hiệu quả quản lý (quản lý vốn, công nghệ, lao động, tổ chức). Tức là, trong mức tăng GDP có 31% do tăng vốn đem lại; 9,5% là do tăng lao động và 59,5% là do quản lý tốt hơn về vốn, công nghệ, lao động và tổ chức đem lại. Trong giai đo ạn 1996-2000, GDP tăng bình quân gần 10,2%/năm, việc tăng vốn sản xuất đã đóng góp vào tăng GDP là 5,3%, tăng lao động đóng góp l,4%, còn lại nhân tố quản lý tốt hơn đóng góp 3,5%. Tức là 52% mức tăng GDP là do tăng vốn đem lại; 13,7% là do tăng lao động, còn 34,3% là do quản lý tốt hơn đem lại. Nói một cách khác, sự giảm sút tốc độ tăng tr ởng giai đoạn 1996-2000 so với 1991-1995 chủ yếu là do hiệu quả quản lý vốn, công nghệ, quản lý lao động và quản lý tổ chức chậm đ ợc cải thiện, nền kinh tế phát triển chủ yếu theo chiều rộng (tăng vốn, tăng lao động) còn trình độ quản lý tăng quá chậm, ch a theo kịp yêu cầu phát triển. Năng suất lao động tính bằng giá trị gia tăng do 1 lao động t ạo ra năm 1999 bình quân chung các ngành kinh tế là 25 triệu đồng/lao động (giá so sánh 1994), trong đó khu vực nông-lâm-ng có năng suất 4,7 triệu đồng/lao động, công nghiệp 27,8 triệu đồng/lao động; xây dựng 38,2 triệu đồng/lao đ ộng; dịch vụ 27,8 triệu đồng/lao động. Nh vậy năng suất lao động nông nghiệp chỉ bằng 17% năng suất lao động công nghiệp hoặc dịch vụ. Điều này làm cho việc đầu t vào nông nghiệp thiếu hấp dẫn và phản ánh thu nhập thấp của nông dân so với khu vực công nghiệp và dịch vụ. 2/ Công nghiệp: Trong cơ cấu các ngành công nghiệp trên thành phố Hồ Chí Minh (gồm công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất - phân phối điện, nớc), công nghiệp chế biến chiếm u thế và có tỷ trọng trên 96% giá trị sản xuất công nghiệp trong suốt giai đoạn 1996-2000; công nghiệp khai thác chiếm bình quân 0,15%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nớc chiếm bình quân 3,4%. Khu vực các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn chiếm u thế trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp, mặc dù tỷ trọng đóng góp của khu vực này có giảm (hình 4, phụ lục 2). Năm 1999, giá trị sản xuất c ủa khu v ực doanh nghiệp Nhà nớc chiếm 45,9%, trong khi sự đóng góp của khu vực ngoài quốc doanh chỉ chiếm 24,5% và của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài chiếm 29,6% (hình 4, phụ lục 2). 2.1- Công nghiệp chế biến: Hiện nay 7 ngành có tỷ trọng giá trị sản xuất cao nhất trong cơ cấu công nghiệp chế biến của thành ph ố là: chế biến thực phẩm và đồ uống (22%), cơ khí (13%), may mặc (11%), da giày (9%), hóa chất (8,1%), dệt (7%) và nhựa cao su (6,5%) (hình 3, phụ lục 2). Cơ cấu công nghiệp chế biến theo giá trị gia tăng thể hiện ở bảng 3. Trong giai đoạn 1996-2000, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14,21%/năm làm cho tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp thành phố so với cả nớc tăng từ 28,55% năm 1995 lên 29,69% năm 2000, giữ vững vị trí lớn nhất trong cả nớc. Tuy nhiên, mức tăng trởng 14,2%/năm thấp hơn so với tốc độ tăng 15,6%/năm của giai đoạn 1991- 1995 và thấp hơn so kế hoạch là 17%. Bình quân cả thời kỳ 1991-2000, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố là 14,9%. Trong giai đoạn 1996-2000, hai ngành công nghiệp truyền thống là thực phẩm - đ ồ uống và dệt có t ỷ trọng lớn trong cơ cấu ngành công nghiệp thành phố, tăng bình quân khoảng 10%/năm, thấp hơn so với tốc độ tăng bình quân hàng năm của toàn ngành công nghiệp chế biến là 14,2% (bảng 6, phụ l ục 1). Ngành may mặc và da giày tiếp tục có tốc độ tăng trởng cao (lần lợt là 18,27%/năm và 19,07%/năm) và tỷ trọng trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến trên địa bàn chiếm lần l ợt 10,6% và 9,9%, hình 3 và bảng 6 (phụ lục 2 và 1). D:\My to do\DangboTpHCM.doc 6
  7. Các ngành có tỉ trọng tơng đối khá nhng vẫn giữ đợc tốc độ tăng cao là nhựa - cao su và hóa chất (với tốc độ tăng trởng lần lợt là 21% và 18,4%/năm và tỷ trọng lần lợt là 6,3% và 8,1%). Trong ngành cơ khí, sản xuất máy móc thiết bị có tốc độ tăng cao nhất là 36,7%/năm giai đoạn 1996-2000. Tuy nhiên, sản xuất sản phẩm từ kim loại, dụng cụ chính xác và ph ơng tiện vận tải chỉ có tốc độ tăng từ 20%/năm trở xuống. Tính chung, giá trị sản xuất cơ khí tăng bình quân 22%/năm là cao nhất trong giai đoạn 1996-2000 và tỷ trọng ngành cơ khí trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp chế biến tăng từ 8,3% năm 1996 lên 13,4% năm 2000. Ngành điện tử (radio, tivi, thiết bị truyền thông) có tốc độ tăng tr ởng ở mức 21%/năm, song quy mô còn nhỏ bé nên tỉ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp chế biến vẫn chỉ ở mức 3% (hình 3, phụ lục 2). Năng suất lao động các ngành công nghiệp thành phố (tính bằng giá trị gia tăng do 1 lao đ ộng t ạo ra trong 1 năm) có sự chênh lệch rất lớn. Ngành Da-giày có tốc độ tăng tr ởng cao, song năng suất lao động thấp nhất trong 8 ngành (bảng 6, phụ lục 1) chỉ đạt 8 triệu đồng/năm. Ngành may truyền thống cũng có năng suất lao động rất thấp, chỉ 10 triệu đồng/năm. Bình quân toàn ngành công nghiệp chế biến năng suất lao động là 27 triệu đồng/năm. Ngành Dệt và Cơ khí có năng suất lao động xấp xỉ mức bình quân này, trong khi Nhựa - Cao su và Điện tử có năng suất lao động khá cao là 35 và 49 triệu đ ồng/năm, còn hóa ch ất và thực phẩm chế biến năng suất lao động cao nhất là 53,5 và 72 triệu đồng/năm. Ngành cơ khí và điện tử - tin học thuộc bốn lĩnh vực mà thành phố chọn là "mũi nhọn" để phát triển tuy có tốc độ phát triển cao nhất, song do mức xuất phát thấp, nên t ỷ trọng t ổng c ộng c ủa hai ngành ch ỉ chiếm hơn 16% giá trị sản xuất công nghiệp chế biến. Còn vật liệu mới và công nghệ sinh học thực ra là ngành khoa học đợc ứng dụng trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp chứ bản thân những ngành này không phải là ngành kinh tế. 2.2- Sản xuất và phân phối điện nớc: 2.2.1- Điện: Ngành điện thời gian qua đã cố gắng trong công tác cải tạo và phát triển l ới điện, tăng công suất cực đại của toàn hệ thống lên 950MW vào năm 1999 và dự kiến đạt 1.150MW vào năm 2000, làm cho tình hình phân phối điện đã đợc cải thiện khá lớn. Giá trị điện sản xuất và phân phối tăng từ 886 tỉ đồng năm 1996 lên 1.516 tỉ đồng năm 1999 (giá 1994), chiếm bình quân 2,95% giá trị sản xuất công nghiệp thành phố. Mạng lới điện đã đợc phủ khắp và mức tiêu thụ điện bình quân đầu ngời tăng từ 371 Kwh/ngời/năm năm 1991 lên 958 Kwh/ngời/năm năm 1999, vợt chỉ tiêu đề ra cho năm 2000 là 800 Kwh/ngời/năm. Tuy nhiên, hệ thống điện truyền tải thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều trạm trung gian 110/15 KV và 66/15 KV bị đầy tải và quá tải; mạng lới điện hiện nay phần lớn vẫn là dây nổi - dây trần thiếu an toàn và mất mỹ quan đối với một thành phố lớn. 2.2.2- Nớc: Trong 5 năm qua, đã nâng sản lợng nớc sạch từ 688.000 m3/ngày trong năm 1995 lên 850.000m3/ngày trong năm 2000. Giá trị sản xuất và phân phối nớc tăng từ 269 tỉ đồng năm 1996 lên 297 tỷ đồng năm 1999 (giá năm 1994) chiếm bình quân 0,48% giá trị sản xuất công nghiệp thành phố. N ớc cấp bình quân đầu ngời chung toàn thành phố tăng đáng kể, (năm 1991 là 95,6 lít/ng ời/ngày đêm) năm 2000 đạt 1171ít/ng- ời/ngày đêm. Đã thay thế hơn 100 km đờng ống nớc mục bằng vốn ngân sách và 65 km bằng nguồn vốn ADB, giảm tỷ lệ thất thoát nớc từ 40% năm 1995 xuống còn 34,1% năm 1999. Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống cấp nớc của thành phố đã quá tải cả về nguồn và mạng lới, song do quản lý còn yếu kém và nguồn kinh phí có hạn nên chỉ giải quyết từng khu vực, trong khi mạng l ới hiện nay D:\My to do\DangboTpHCM.doc 7
  8. đòi hỏi phải đợc cải tạo và thay thế mới cho đồng bộ với nguồn n ớc tiêu thụ chủ yếu là cho nớc sinh hoạt trên 80%, cho sản xuất là 16% và dịch vụ là 4%. 3/ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp diễn ta theo hớng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, hớng tới sản xuất hàng hóa tập trung vào cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên sự chuyển dịch trên còn diễn ra rất chậm chạp. Cụ thể từ năm 1996 đến năm 1999, t ỷ tr ọng trồng trọt giảm từ 42,2% xuống còn 41,4%; chăn nuôi tăng từ 31,7% lên 33,2%; dịch vụ nông nghiệp hầu nh không thay đổi và vẫn chiếm khoảng 9,5% giá trị trong cơ cấu chung. Diện tích trồng lúa còn lớn, năm 1996 còn 80.300 ha, năm 2000 còn 77.300 ha, trong khi đó diện tích mía giảm từ 5.400 ha xuống 4.300 ha, diện tích đậu phộng giảm từ 6.000 ha xuống 3.100 ha, diện tích rau giảm t ừ 12.500 ha xuố.ng 9.400 ha. Diện tích cây ăn trái tăng từ 5.500 ha lên 8.000 ha, diện tích hoa kiểng t ừ 250 ha lên 650 ha. Tốc đ ộ tăng trởng ngành chăn nuôi tăng bình quân 4,72%/năm. Đàn heo ổn định mức trên 190.000 con, đàn bò sữa đ ạt 24.000 con, vợt mức kế hoạch 15.000 con. Thành phố đã tạo đ ợc đàn giống heo thịt và bò sữa có năng suất cao, cung cấp cho nhiều tỉnh. Tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị gia tăng nông nghiệp tăng từ 37,9% năm 1996 lên 39,4% năm 1999. Một số mô hình kinh tế mới xuất hiện nh mô hình nông nghiệp kết hợp du lịch sinh thái, mô hình kinh tế vờn, trang trại. Trong lâm nghiệp, rừng ngập mặn Cần Giờ với diện tích 29.000 ha đã đ ợc khôi phục và đợc tổ chức UNESCO công nhận là vùng dự trữ sinh quyển của thế giới rừng phòng hộ Củ Chi, Bình Chánh với diện tích 386 ha đợc bảo vệ và chăm sóc. Giá trị sản xuất ngành thủy sản chiếm 12,7% giá trị sản xuất toàn bộ khu vực nông lâm ng và tỷ lệ này không thay đổi nhiều trong giai đoạn 1996-1999. Mặc dù ph ơng tiện khai thác thủy sản đã đ ợc cải tạo và phát triển nhng đầu t vào ngành này vẫn thấp. Trong những năm qua, mặc dù gặp khó khăn về vốn, nh ng thành phố đã dành phần vốn đáng kể (từ 20 - 25% vốn ngân sách tập trung) để đầu t cho ngoại thành: cơ sở hạ tầng giao thông (làm mới 500 km đ ờng giao thông nông thôn, bê tông hóa 75% số cầu khỉ), điện khí hóa, giáo dục y tế, trung tâm văn hóa thể dục thể thao, thủy lợi, nớc sạch nông thôn, hạ tầng các khu dân c rnới... nhờ đó bộ mặt nông thôn đã có những thay đổi đáng kể, giảm bớt sự cách biệt giữa các vùng đô thị và vùng còn khó khăn c ủa thành ph ố; thông qua chơng trình xóa đói giảm nghèo đã xóa đợc hộ đói, giảm đáng kể hộ nghèo. Tuy nhiên, đời sống một bộ phận nông dân ngoại thành vẫn còn hết sức khó khăn. Cơ cấu kinh t ế của ngoại thành đã có s ự chuyển biến rõ rệt, theo hớng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày một gia tăng. Giá trị sản xuất khu vực nông lâm ng tăng bình quân hàng năm 0,75% trong giai đoạn 1996-2000, thấp hơn 6 lần chỉ tiêu đã đề ra là 5% và rất thấp so với mức tăng 4,7% thời kỳ 1991 - 1995. Giá trị gia tăng của khu vực này trong giai đoạn 1996-2000 chỉ tăng bình quân 1,2%/năm. Trong cả giai đoạn 1991-2000, giá trị gia tăng nông nghiệp tăng bình quân 2,7%/năm. Năng suất lao động tính theo giá tr ị gia tăng/lao đ ộng trong khu vực nông nghiệp, đạt 4,7 triệu đồng năm 1999 (giá 1994), thấp hơn 5 lần so với con s ố 27,2 triệu đồng năm 1999 của khu vực công nghiệp và 27,7 triệu đồng của khu vực dịch vụ. Năng suất lúa bình quân từ 1995 đến 2000 không tăng, chỉ đạt mức 3,1 tấn/ha, so với 4,11 t ấn/ha ở các tỉnh miền Tây, tức là thấp hơn gần 25%. Năng suất mía không tăng, chỉ đạt gần 47 t ấn/ha so với 61 tấn/ha của miền Tây, thấp hơn 23%. Bên cạnh lý do kém lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, việc đầu t thấp cho nông nghiêp và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiêp góp phần /àm cho sản xuất nông nghiệp của thành phố có mặt thua kém so v ới các tỉnh khác trong vùng. Nông lâm ng nghiệp chiếm 2,2% GDP, nhng đầu t đợc tính cho nông nghiệp chỉ chiếm 1,1% tổng đầu t trong giai đoạn 1996-2000. Với mức tăng trởng giá trị sản xuất bình quân 0,75%/năm trong giai đoạn 1996 - 2000, trong khi nông nghiệp cả nớc tăng trởng bình quân 5%/năm, nông nghiệp thành phố đã rơi vào tình trạng kém phát triển. D:\My to do\DangboTpHCM.doc 8
  9. Có 3 nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là: cơ cấu cây, con ch a phù hợp với việc tạo ra u thế cạnh tranh cho sản phẩm; đầu t ít cho nông nghiệp và đất bị giảm, do quá trình đô thị hóa (hàng năm bị giảm khoảng 870 ha); việc sử dụng đất còn lãng phí (vẫn còn đất bỏ hoang vì đã đ ợc quy hoạch làm Khu công nghiệp hoặc cơ sở hạ tầng). 4/ Đầu t: Tổng vốn đầu t thực hiện trên địa bàn trong 5 năm 1991 - 1995 là 37.889 tỷ đồng, t ơng đơng khoảng 3,5 tỷ USD. Trong giai đoạn 1996-2000, tổng vốn đầu t tăng lên đến 101.486 tỷ đồng, t ơng đơng khoảng 8 tỷ USD gấp 2,68 lần giai đoạn trớc. Mặc dù tăng lên đáng kể nhng mức đầu t này thấp hơn nhiều so với mục tiêu huy động vốn đã đề ra là 12 - 13 tỷ USD. Tỉ trọng đầu t so với GDP trên địa bàn thành phố tăng từ 21,4% năm 1991 lên 34,38% năm 1995 nh ng đã giảm mạnh từ 40,9% năm 1996 xuống 25,7% năm 2000. Cùng với sự suy giảm về tốc độ tăng tr ởng kinh tế, đầu t cũng chững lại từ năm 1993 trở lại đây và tổng vốn đầu t đã giảm về số tuyệt đối trong năm 1999 và 2000 (hình 5, phụ lục 2). Cùng với quy mô đầu t, một vấn đề đáng lo ngại nữa là hiệu quả đầu t . Chỉ số ICOR có xu h ớng tăng nhanh, từ 2,3 trong giai đoạn 1991 - 1995 lên 4,45 năm 1999 và bình quân là 3,6 trong giai đoạn 1996-2000. Mặc dù sự gia tăng của chỉ số này một phần là do xu h ớng thâm dụng vốn của nền kinh tế, nh ng nó cũng chứng tỏ rằng hiệu quả đầu t đã suy giảm (xem thêm phân tích ở mục 4 phần trên). Trong cơ cấu tổng vốn đầu t bình quân giai đoạn 1996 - 1999, nguồn vốn ngân sách nhà n ớc (trong đó chủ yếu là từ ngân sách địa phơng) chiếm 9,6%, vốn tín dung chiếm 2,4%, vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nớc chiếm 27,7%, vốn đầu t của khu vực t nhân chiếm 24,8% và vốn đầu t của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài chiếm 35,5% (hình 6, phụ lục 2). Tỷ trọng vốn ngân sách tăng dần từ 7,9% năm 1996 lên 11,2% năm 1999 và 15,2% nărn 2000. Trong giai đoạn trớc, tỷ trọng này giảm từ 15,9% năm 1990 xuống 7,9% năm 1995. Cùng với xu thế giảm về số l ợng, tỷ trọng vốn tự huy động của các doanh nghiệp Nhà nớc cũng giảm mạnh từ 35,9% năm 1996 xuống 25,2% năm 1999 và xuống 22,93% năm 2000. Trong khi đó, đầu t của khu vực t nhân tăng lên từ 9,7% năm 1996 lên 13,1% năm 2000. Tỷ trọng đầu t đa vào thực hiện của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài tăng từ 36% năm 1996 lên 38% năm 1997, nh ng giảm xuống 34,3% năm 1998, 33,4% năm 1999 và 27,7% năm 2000. Theo khu vực kinh tế, bình quân trong giai đoạn 1996 - 2000, sản xuất công nghiệp và xây dựng chi ếm 39,1% tổng vốn đầu t, các ngành dịch vụ chiếm 59,9% và nông nghiệp chỉ chiếm 1,0% (bảng 7, phụ lục 1). Cơ cấu đầu t trong nội bộ khu vực công nghiệp chế biến chủ yếu cũng chỉ tập trung vào một số ngành truyền thống nh thực phẩm, dệt, cao su và nhựa, còn đầu t vào cơ khí, điện tử, tin học và vào các ngành công nghiệp khác còn rất thấp. Trong cơ cấu đầu t cho khu vực dịch vụ 59,9% thì đầu t cho ngành nhà hàng, khách sạn cao (chiếm 9,4% tổng đầu t, chủ yếu là nguồn vốn của t nhân). Đầu t cho các hoạt động dịch vụ khác (chủ yếu là các dịch vụ thông thờng phục vụ cá nhân và cộng đồng bao gồm cả đầu t xây dựng nhà ở) cũng rất cao (chiếm 16,4% tổng đầu t). Đầu t vào giao thông, kho bãi, viễn thông chiếm 15,3%, còn điện - nớc chiếm 7,4% tổng đầu t. Mặc dù tỷ trọng đầu t vào cơ sở hạ tầng không nhỏ, nhng việc triển khai chậm do các vớng mắc trong khâu quy hoạch, xét duyệt, đền bù giải tỏa và quản lý thi công đã làm giảm đáng kể hiệu quả. Một lĩnh vực c ơ sở hạ tầng nữa có vai trò rất quan trọng và mang tính quyết định cho sự phát triển trong những năm tới là cơ sở hạ tầng thông tin mới chỉ đợc đề cập trong thời gian gần đây. Đầu t vào các ngành cơ sở hạ tầng xã hội nh giáo dục, y tế, thể dục - thể thao (mà chủ yến là nguồn vốn ngân sách) cũng chỉ chiếm 4,6% tổng vốn đầu t trong giai đoạn 1996-2000. D:\My to do\DangboTpHCM.doc 9
  10. Tỉ lệ đầu t vào các ngành dịch vụ cao cấp nh khoa học, công nghệ, tài chính - tín dụng còn thấp (ch a đợc 0,5% tổng đầu t). 4.1- Đầu t trực tiếp nớc ngoài: Tính đến cuối tháng 10 năm 2000, trên địa bàn thành phố có 886 dự án còn hiệu lực đang ho ạt đ ộng v ới tổng vốn đầu t là 10.524,5 triệu USD, trong đó hình thức liên doanh chiếm 40,3% số dự án và 62,2% tổng vốn đầu t; hình thức đầu t 100% vốn nớc ngoài chiếm 54,4% số dự án và 27,2% tổng vốn đầu t . Các ngành đợc đầu t nhiều nhất là: công nghiệp (chiếm 63,3% về số dự án và 38,88% tổng vốn đầu t ); hoạt động kinh doanh tài sản, dịch vụ t vấn (chiếm 17% số dự án và 24% tổng vốn đầu t). Đài Loan là lãnh thổ có số dự án và tổng vốn đầu t lớn nhất (chiếm 22,8% số dự án và 18,8% tổng vốn), tiếp đến là Hong Kong (chiếm 17,1% tổng vốn đầu t) và Singapore (chiếm 11,8% tổng vốn). Riêng tại hai khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung có 140 dự án với tổng vốn đầu t là 728,9 triệu USD; trong đó có 104 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh, thu hút lực l ợng lao động trên 53.000 ngời và đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu từ năm 1993 đến nay gần 2 triệu USD. Đầu t nớc ngoài vào thành phố tăng nhanh vào thời kỳ 1993 - 1995: Từ năm 1996 tình hình đ ầu t bắt đầu giảm, năm 1999 chỉ đạt 470 triệu USD, bằng 20% của năm 1995 (hình 7, phụ lục 2). Nh vậy giai đoạn 1991 - 1995, bình quân hàng năm đầu t nớc ngoài tăng 40,6%, còn giai đoạn 1996 - 2000, bình quân hàng năm giảm 28,1%. Việc thực hiện chính sách thu hút vốn đầu t nớc ngoài trong thời gian qua, ngoài chính sách chung của cả nớc, thành phố cũng đã chủ động, sáng tạo để đẩy mạnh thu hút đầu t vào thành phố. Việc chuẩn bị các dự án kêu gọi đầu t đã đợc thực hiện ngay từ những năm đầu thực hiện Luật đầu t nớc ngoài. Công tác quy hoạch đợc xúc tiến và tập trung vào việc đầu t cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Thành phố là nơi đi đầu trong cả nớc về phát triển các khu chế xuất và khu công nghiệp và có thể nói, cũng là nơi thành công nhất so với cả nớc, nhất là về khu chế xuất. Khu chế xuất Tân Thuận là một trong những khu chế xuất thành công của khu vực Châu á - Thái Bình Dơng hiện nay. Nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực, đầu t nớc ngoài đã đợc cải tiến và đơn giản hóa. Cơ chế "một cửa, tại chỗ" đ ợc áp dụng tại các khu chế xuất, khu công nghiệp đợc các nhà đầu t nớc ngoài hoan nghênh. Ngoài những thành tựu đạt đ ợc, trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài trên địa bàn thành phố trong thời gian qua cũng đã bộc lộ một số hạn chế. Do đầu t vào địa bàn chủ yếu là từ các n ớc Đông á nên khi các nớc này gặp khủng hoảng vào năm 1997 thì đầu t nớc ngoài vào thành phố giảm mạnh. Do đó, việc đa dạng hóa đầu t cần đợc chú trọng hơn nữa trong tơng lai. Mặc dù thành phố đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiến các thủ tục liên quan đến hoạt động đầu t nhng nhìn chung các nhà đầu t nớc ngoài vẫn phàn nàn về thủ tục hành chính rờm rà, chậm trễ, giá của các loại dịch vụ mặc dù đã có sự điều chỉnh nh ng vẫn còn cao đối với ngời nớc ngoài và nhiều loại hình dịch vụ vẫn còn thực hiện cơ chế hai giá. 4.2- Đầu t từ nguồn vốn ODA: Trong giai đoạn 1996-2000, tổng vốn đầu t đã ký kết từ nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA), trong đó chủ yếu là vay u đãi, do thành phố quản lý là 478 triệu USD, trong đó đầu t vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật (nớc, giao thông) chiếm 80%, bảo vệ môi trờng chiếm 15% và y tế - giáo dục chiếm 5%. Các dự án ODA đều đợc tập trung vào cơ sở hạ tầng và có tính thiết thực cao, đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội cho thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài vốn ODA do thành phố, vốn ODA đầu t trên địa bàn thành phố do các Bộ - ngành Trung ơng quản lý cũng tơng đối lớn nh dự án nâng cấp Quốc lộ 1A, dự án cải tạo l ới điện thành phố. Nhợc điểm của các dự án ODA là tốc độ giải ngân và triển khai chậm làm giảm hiệu quả; quản lý chồng chéo và trong nhiều trờng hợp không phù hợp với thông lệ quốc tế; sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện dự án với các sở ban ngành khác cha đợc chặt chẽ cũng nh năng lực của các ban quản lý dự án còn hạn chế. D:\My to do\DangboTpHCM.doc 10
  11. 4.3- Chính sách kích cầu: Chính sách kích cầu, mặc dù đ ợc tích cực triển khai để khắc phục tình trạng thiểu phát và thúc đẩy tăng trởng, nhng cho đến nay việc phát huy tác dụng còn chậm. Tình hình thực hiện các dự án kích c ầu tri ển khai chậm, trong đó có lý do khách quan là các quy định về đấu thầu và giao đất cho đầu t không dùng vốn ngân sách có nhiều bất hợp lý chậm đợc điều chỉnh. Một số công trình trọng điểm về cơ sở hạ tầng đã đ - ợc bố trí kế hoạch nhng triển khai chậm do gặp khó khăn vớng mắc về di dời, giải tỏa hoặc phát sinh khối lợng, thay đổi thiết kế phải trình duyệt lại. 5/ Dịch vụ: 5.1. Thơng mại: a) Nội thơng: Tổng mức bán ra trên địa bàn thành phố năm 1998 đạt 132.346 tỉ đồng, năm 1999 đ ạt 135.076 t ỉ đ ồng và dự kiến năm 2000 đạt 147.500 tỉ đồng (giá hiện hành). Tỉ trọng bán buôn giảm dần, tuy chậm, t ừ 59,3% năm 1998 xuống 59,2% năm 1999 và 58,8% năm 2000. Tỉ trọng bán lẻ tăng chậm từ 40,7% năm 1998 lên 41,2% năm 2000. Tỉ trọng thơng mại quốc doanh giảm chậm, năm 1998 là 34,7%, 1999 là 33,5% và năm 2000 ớc 33,4%, tơng ứng với sự tăng tỉ trọng th ơng mại ngoài quốc doanh 64,3%, 65,5% và 65,8%. Đóng góp của đầu t nớc ngoài vào thơng mại còn nhỏ bé và không đổi, chiếm 0,8% tổng mức bán ra trong 3 năm 1998 - 2000. Toàn thành phố có 216 chợ với 60.412 tiểu thơng, chất lợng hoạt động các chợ chậm đ- ợc cải thiện. Mặt nổi bật của thơng mại thành phố là sự ra đời 19 siêu thị và 8 trung tâm th ơng mại trong thời kỳ 1996 - 2000, trong đó tiêu biểu là hệ thống siêu thị Coopmart có chất l ợng phục vụ tốt, doanh số bình quân 1 tỷ đồng/ngày. Hiện nay, 70% hàng bán ở các siêu thị là hàng Việt Nam. Tỉ trọng đóng góp của thơng mại vào tổng giá trị GDP của thành phố giảm từ 17,6% năm 1996 xuống 14,6% năm 1999, do mức tăng trởng giá trị đóng góp của thơng mại 3 năm 1997 - 1999 thấp hơn mức gia tăng tổng sản phẩm nội địa của thành phố. b) Xuất nhập khẩu: Bình quân thời kỳ 1991-2000, kim ngạch xuất khẩu tăng 22,4%/năm. Về giá trị tuyệt đối, kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 1,1 tỷ USD năm 1991 lên 3,8 tỷ USD năm 1996 và 5,9 tỷ USD năm 2000 (hình 8, phụ l ục 2). Nh vậy tỷ lệ xuất khẩu so với GDP của thành phố năm 2000 là 107% (5,9 t ỷ USD so với 5,5 tỷ USD) tức là nền kinh tế thành phố rất nhạy cảm với xuất khẩu và cạnh tranh ở thị trờng nớc ngoài. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1996-2000 trên địa bàn là 17,8%/năm. Đây là tốc đ ộ tăng tr - ởng khá cao, nhng vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng 27,1%/năm trong giai đoạn 1991-1995 và thấp hơn mục tiêu 22%/năm đã đề ra. So cả nớc, giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố luôn chiếm tỷ trọng lớn (xấp xỉ hoặc trên 40%; đặc biệt năm 1996 chiếm 52,6%; năm 2000 dự ớc chiếm gần 40%). Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu đã có sự chuyển dịch đáng kể trong 5 năm qua. Nếu trớc đây xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng nông sản thô, nông sản chế biến, và một số hàng thủ công, mỹ nghệ thì nay xu ất khẩu của thành phố chủ yếu là hàng công nghiệp. Tỷ trọng hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu địa phơng của thành phố tăng từ 20,4% năm 1991 lên 62,3% năm 1996 và 69,7% năm 1999. Số loại sản phẩm xuất khẩu tăng từ 35 sản phẩm năm 1991 lên 664 sản phẩm năm 1997, bình quân mỗi năm tốc độ tăng sản phẩm mới để xuất khẩu đạt gần 80%. Việc thay đổi cơ cấu hàng công nghiệp trong xuất khẩu là tích cực, phản ánh đợc lợi thế so sánh của thành phố. Tuy nhiên, hiện nay xuất khẩu hàng công nghiệp của thành phố vẫn chủ yếu tập trung vào các ngành thâm dụng lao động và có năng suất lao động rất thấp nh may mặc và giày dép. Trong khi năng suất lao động bình quân của công nghiêp thành phố năm 1999 là 27,2 triệu đồng giá trị gia tăng/lao động (giá 1994) thì năng suất lao đ ộng c ủa ngành may chỉ là 10,1 triệu đồng/lao động; của ngành giày dép 8,2 triệu đồng/lao động. Xuất khẩu các sản phẩm có hàm l - D:\My to do\DangboTpHCM.doc 11
  12. ợng công nghệ cao bớc đầu đã xuất hiện nhng còn chiếm tỷ trọng nhỏ và đợc sản xuất chủ yếu là ở các khu chế xuất và một số công ty có vốn đầu t nớc ngoài. Bên cạnh đó phần lớn nguyên liệu lại đợc cung cấp từ nớc ngoài nên, phần giá trị gia tăng trong n ớc chủ yếu là công lao động. Nh vậy, mặc dù hoạt động xuất khẩu đã có nhiều b ớc tiến đáng kể về mặt lợng, song sự chuyển biến về chất và hiệu quả xuất khẩu còn chậm. Về thị trờng xuất khẩu, mặc dù thị trờng Đông á vẫn là thị trờng xuất khẩu chính của thành phố song đến nay thành phố đã giảm đợc một phần sự phụ thuộc quá nhiều vào các thị trờng này nhờ việc đa dạng hóa thị trờng, chuyển hớng sang những thị trờng mới nh EU và Mỹ (hai thị trờng này tổng cộng chiếm 49,8% kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm 2000, trong khi các năm tr ớc tỷ lệ này là 60- 70%). Năm 1995, mức nhập khẩu của thành phố là 2,9 tỷ USD, năm 1999 là 3,4 tỷ USD. Tốc độ tăng trởng nhập khẩu giai đoạn 1996-2000 trên địa bàn là 5,2%/năm, thấp hơn nhiều so với giai đoạn 1991 - 1995 là 24,6%. Bình quân 10 năm 1991-2000, tốc độ tăng nhập khẩu là 14,9%/năm; nguyên nhân do nhập khẩu giảm mạnh trong năm 1998 và 1999. Trên địa bàn thành phố, chênh lệch kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu năm 2000 ớc là 2,2 tỷ USD. Cơ cấu nhập khẩu từ năm 1998 đã có nhiều b ớc cải thiện đáng kể theo hớng ngày càng phục vụ sát hơn nhu cầu sản xuất. Tỷ trọng nhập hàng tiêu dùng đã giảm t ừ 23% năm 1994 xuống còn 12,8% năm 1998 và 5,6% năm 1999. Tỷ trọng nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu luôn chiếm tỷ trọng lớn (năm 1999 chiếm gần 77% tổng kim ngạch nhập khẩu) và có chiều h ớng ổn định. Nhóm hàng máy móc thiết bị còn chiếm tỷ trọng nhỏ (năm 1999 chiếm gần 15%) so với nhu cầu đổi mới thiết bị. 5.2- Du lịch: Mời năm qua, du lịch thành phố đã có bớc phát triển mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lợng du lịch, đa dạng hóa loại hình du lịch, liên kết với các tổ chức du lịch quốc t ế. Tuy nhiên, do tác đ ộng c ủa kh ủng hoảng kinh tế - tài chính và khả năng cạnh tranh quốc tế còn hạn chế, hoạt đ ộng du l ịch gần đây không còn gia tăng mạnh mẽ nh trong giai đoạn trớc. Doanh thu dịch vụ du lịch giảm liên tục trong 3 năm 1997 - l 999. Tỷ trọng doanh thu du lịch so với GDP giảm từ 11,6% năm 1996 xuống chỉ còn 5,3% năm 1999. Số lợt khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh giảm trong hai năm 1997 và 1998, nh ng đến năm 1999 và năm 2000 đã tăng trở lại (hình 9, phụ lục 2). Bình quân trong giai đoạn 1996 - 1999, một năm có 546 nghìn lợt khách quốc tế tới thành phố. Năm 1999, thành phố đã đón tiếp 975 ngàn l ợt khách và dự ớc trong năm 2000 sẽ đón khoảng 1.100 lợt khách quốc tế. Trong giai đoạn này, bên cạnh việc tập trung đầu t vào xây dựng khách sạn và nhà hàng, các khu vui chơi giải trí cũng đã đợc đầu t nâng cấp nh Đầm Sen, Suối Tiên và xây dựng mới nh sân gôn, các công viên n- ớc,... Tuy nhiên, các khu du lịch có quy mô lớn đ ợc đề ra trong quy hoạch hầu nh cha đợc triển khai thực hiện nh Khu di tích địa đạo Củ Chi, Khu du lịch rừng ngập mặn Cần Giờ, Khu di tích lịch sử văn hóa Thủ Đức, cụm du lịch Bình Thạnh, Gò Vấp, ven sông Sài Gòn. 5.3- Giao thông vận tải: Trong thời gian qua, thành phố đã có nhiều nỗ lực tập trung nguồn vốn duy tu, cải tạo, nâng cấp và đầu t mới nhiều công trình giao thông. Đã nâng cấp, làm mới 500km đ ờng giao thông nông thôn, nâng cấp 27 cầu, 34 km tuyến đờng Nhà Bè - Cần Thạnh, xây mới 18 km đ ờng Bắc Nhà Bè, (Nam Bình Chánh - Bắc Nhà Bè), cải tạo, mở rộng 15 nút giao thông... Khối l ợng vận chuyển hàng hóa hành khách tăng nhanh qua các năm, năm 1999 đạt 24,5 triệu tấn hàng hóa, tăng 47% so với 1995 và 194 tri ệu l ợt ngời hành khách, tăng 35% so với 1995. Năm 1999, tổng lợng hàng thông qua các cảng của thành phố là 13 triệu tấn, bốc xếp 21 triệu tấn. Vận tải công cộng có bớc tiến mới : loại hình xe khách đợc củng cố và phát triển, có 13 Công ty và 14 Hợp tác xã taxi đã đi vào hoạt động. Tuy nhiên, mạng l ới cầu đờng trên địa bàn thành phố vẫn chịu tình trạng quá tải. Vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng đ ờng sông cha đợc quan tâm đúng mức, trong khi thành phố rất có u thế để phát triển dịch vụ vận chuyển đ ờng sông. Tình trạng kẹt xe gia tăng, tai nạn giao thông, ô nhiễm đang tạo nên những áp lực đáng kể cho quá trình phát triển kinh tế. D:\My to do\DangboTpHCM.doc 12
  13. 5.4- Bu chính viễn thông: Bu chính viễn thông là ngành phát triển mạnh mẽ nhất trong các ngành cơ sở hạ t ầng kỹ thuật. Đ ặc biệt trong những năm 1996-2000, ngành bu chính viễn thông chuyển sang giai đoạn tăng tốc, hiện đại hóa mạng lới, bắt nhịp đợc trên nhiều lãnh vực so với các n ớc khu vực. Số lợng bu cục tăng từ 91 năm 1991 lên 177 năm 2000, đại lý bu điện tăng từ 14 điểm năm 1992 lên 280 năm 2000. Số máy điện thoại tăng từ 267.800 máy năm 1996 lên 538.452 máy năm 1999 và 647.000 máy năm 2000 (bình quân 12,7 máy trên 100 ngời dân), đờng cáp quang tăng từ 160 km năm 1996 lên 643 km năm 1999. 5.5- Tín dụng ngân hàng: Hoạt động Tín dụng - Ngân hàng trong những năm qua luôn gắn liền với đời sống và sự phát triển kinh tế-xã hội của thành phố. Tổng số huy động năm 1996 là 24.173 tỷ đồng, năm 1999 đ ạt hơn 41.000 t ỷ đồng, tăng bình quân 18%/năm. Hệ thống các ngân hàng khu vực trong n ớc vẫn chiếm tới 78,8% thị phần vốn huy động năm 1999. Hoạt động tín dụng tăng nhanh. Bình quân suốt thời kỳ 1990-1999 tăng tr ởng tín dụng đạt 47,9%. Tỷ lệ d nợ cho vay trung và dài hạn đã tăng từ 14% tổng d nợ đang luân chuyển năm 1992 lên 27, l%/năm 1999. Tỷ lệ cho các doanh nghiệp Nhà nớc vay là hơn 60% số cho vay, trong khi cho các doanh nghiệp t nhân chỉ có 14,8%. Tình trạng vốn bị ứ đọng trong ngân hàng kéo dài. Tính đến cuối tháng 9 năm 2000, ớc vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tăng 26, l% so với đ ầu năm. Tuy nhiên, t ổng d nợ tín dụng chỉ tăng 13,6% so với đầu năm. Nh vậy, vốn huy động vẫn tăng nhanh hơn rất nhiều so với vốn cho vay. Có nhiều nguyên nhân làm cho các ngân hàng không cho vay trong nớc đợc đó là: một số doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận thấp và không muốn vay vốn để đầu t mở rộng sản xuất; tuy nhiên vẫn có rất nhiều doanh nghiệp đang sản xuất-kinh doanh phát triển, có nhu cầu và có khả năng vay vốn. Nh ng do thiếu thông tin và khả năng phân tích còn hạn chế nên các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng th ơng mại quốc doanh, có tâm lý ngại cho vay vì sợ rủi ro. Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhng những cải cách trong hệ thống ngân hàng từ năm 1999 trở lại đây đ ợc tiến hành rất tích cực. Các nỗ lực tái cơ cấu ngân hàng đ ợc tập trung vào các ngân hàng thơng mại cổ phần của thành phố Hồ Chí Minh. Một số ngân hàng đã đợc sát nhập, giải thể hay đợc đặt dới sự kiểm soát hoặc giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nớc. Các ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng đợc rà soát lại về tình hình tài chính. Các quy định về quản lý rủi ro cũng đã đ ợc ban hành. Việc ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh là một b ớc phát triển quan trọng của thị trờng vốn của thành phố. Nhìn chung, chức năng trung gian tài chính của các ngân hàng và định chế tài chính tren đ ịa bàn thành ph ố Hồ Chí Minh vẫn cha đợc thực hiện một cách có hiệu quả. Ngoài chức năng huy động vốn và cung cấp tín dụng, chức năng cung cấp dịch vụ thanh toán c ủa h ệ thống ngân hàng còn rất yếu. Công nghệ dịch vụ thanh toán còn sơ khai, Vì vậy, t ỷ lệ đóng góp c ủa dịch vụ tài chính-tín dụng vào GDP của thành phố chỉ đạt 2,3% vào năm 2000, hoàn toàn ch a tơng xứng với vị trí một Trung tâm tài chính của cả nớc. 5.6 Hoạt động khoa học - công nghệ D:\My to do\DangboTpHCM.doc 13
  14. Trong 5 nărn qua, hoạt động khoa học và công nghệ có bớc phát triển, phát huy sáng tạo của đội ngũ khoa học kỹ thuật của thành phố và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong nhiều lĩnh vực, đã tri ển khai nghiên cứu và ứng dụng và thực tế nhiều đề tài mang hiệu quả. Trong công nghiệp, việc đ ổi mới máy móc thiết bị, công nghệ, cải tiến mẫu mã chất l ợng ngày càng đợc quan tâm, nhiều sản phẩm mới ra đời đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập và vơn ra thị trờng các nớc. Trong nông nghiệp đã đạt đợc những tiến bộ về giống heo, gà, bò và cây trồng. Trong khoa học xã hội và nhân văn triển khai nhi ều đ ề tài nghiên cứu, đề xuất các giải pháp kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố. Các giải pháp quản lý khoa học - công nghệ làm rõ nhiều yếu tố và định h ớng cơ bản của cơ chế hoạt động khoa học - công nghệ phù hợp với kinh tế thị trờng và điều kiện xuất phát thấp của chúng ta. Đã tổ chức tổng kết các bài học và mô hình hiện đại hóa thành công trong điều kiện vốn ít, các giải pháp cạnh tranh tổng hợp khi công nghệ còn lạc hậu. Thực hiện các lớp đào tạo để nâng cao năng lực quản lý của các doanh nghiệp trên địa bàn nh Chơng trình 1000 Giám đốc cho năm 2003, Ch ơng trình bồi dỡng Doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh tham gia AFTA 2003. Thực hiện các chơng tnnh hỗ trợ doanh nghiệp nh áp dụng hệ thống quản lý chất l - ợng ISO 9000, (tại 60 doanh nghiệp với kinh phí hỗ trợ 12 tỷ đồng); ch ơng trình giới thiệu thiết bị, sản phẩm và công nghệ mới ngành thực phẩm chế biến, nhựa cao su tại thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Bớc đầu hình thành thị trờng công nghệ ở thành phố và sự liên kết giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nớc và các Đại học, Viện nghiên cứu. Xây dựng và đa vào khai thác mạng thông tin khoa học và công nghệ của thành phố. 6/ Môi trờng: Công tác bảo vệ môi trờng đợc đẩy mạnh, đã triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo vệ môi tr ờng và hạn chế sự gia tăng về ô nhiễm, nh hình thành đội ngũ chuyên trách về công tác môi tr ờng ở 22 quận-huyện, các hoạt động liên kết giữa Sở Khoa học-Công nghệ và Môi tr ờng, Sở Giao thông công chánh và Thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, liên tục phát động tuần lễ "sạch và xanh", triển khai mạng l ới giám sát nớc và không khí; kiểm soát ô nhiễm trong giao thông đ ờng bộ, ô nhiễm trong công nghiệp nh thực hiện chơng trình giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp với quỹ cho vay vốn c ải thiện một trờng trên 13 tỷ đồng, triển khai sản xuất sạch hơn tại 6 công ty và doanh nghiệp... Công tác vệ sinh công cộng đợc chú ý phát triển và cải thiện đáng kể (nhà vệ sinh công cộng, lò thiêu rác y tế cho toàn thành phố, hỏa táng bằng khí đốt ở Bình Hng Hòa và đặt 7.500 thùng rác công cộng trên đ ờng phố toàn thành). Việc quét, thu gom rác đô thị đợc tổ chức phủ kín khắp 22 quận - huyện và vận chuyển xử lý trên 3.800 tấn rác/ngày. Nâng tổng số cây xanh đờng phố từ 26.600 câỵ năm 1995 lên 44.700 cây năm 2000. Năm năm qua, đã xây dựng thêm 61 km đ ờng cống thoát nớc các loại, nạo vét các kênh rạch, giải quyết dần việc ngập lụt khi có ma hoặc thủy triều lên. Đặc biệt, công trình cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè đã góp phần chỉnh trang đô thị khu vực này, cải thiện điều kiện sống cho 35.000 ngời dân nghèo, tạo một ấn tợng mới về thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nhìn chung tình hình ô nhiễm trong công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp c ủa thành phố còn ch a có cải thiện căn bản, ô nhiễm kênh rạch còn nghiêm trọng. Xử lý rác còn theo ph ơng pháp thô sơ, chôn lấp là chủ yếu, bãi rác cha có hệ thống xử lý nớc thải hoặc xử lý sơ bộ nên gây ô nhiễm môi trờng ở các vùng lân cận bãi rác. Mặt khác, do việc tổ chức quản lý đ ợc dựa theo địa giới hành chánh nên việc điều hành hiệu quả cha cao. ở một số quận- huyện, sự quan tâm của lãnh đạo tới công tác bảo vệ môi tr ờng còn hạn chế, hiệu lực quản lý Nhà nớc về môi trờng còn yếu. 7/ Văn hóa - xã hội 7.1- Giáo dục và đào tạo: Từ năm 1995, thành phố tiến hành phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, huy động tối đa trẻ vào hệ thống tr ờng lớp chính quy, giảm nhanh tỷ lệ bỏ học ở tiểu học từ 3,7% năm 1990 xuống còn 0,97% năm 1999 và giảm tỷ lệ lu ban từ 14,6% năm 1990 xuống còn 2,5 l% năm 1999. Đến nay thành phố đã có 301 trên 303 D:\My to do\DangboTpHCM.doc 14
  15. phờng-xã đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học, trong đó có 240 ph ờng-xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 9 trên 22 quận- huyện với 18 l trên 303 ph ờng-xã (chiếm 60%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở và nhiều phờng ở các quận đang triển khai kế hoạch phổ cập trung học phổ thông trớc năm 2002. Mặt bằng dân trí của ng ời dân thành phố tăng từ lớp 6, l năm 1994 lên lớp 7,56 năm 1999. Hiện nay, tỷ lệ ngời biết chữ ở thành phố là 97,41 %. Trong 5 năm 1996-2000, thành phổ đã xây mới 4.500 phòng học cho giáo dục mầm non và phổ thông. Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có 17 trờng đại học, cao đẳng Trung ơng và 22 trờng trung học chuyên nghiệp với số lợng học viên theo học năm 2000 khoảng 260.000 ng ời bậc đại học, cao đẳng (gấp 2 lần năm 1995) và 41.000 ngời bậc trung học chuyên nghiệp; có 185 cơ sở dạy nghề, trong đó có 146 cơ sở dạy nghề ngắn hạn, với quy mô đào tạo khoảng 150.000 học viên/năm, trong đó đào tạo dài hạn có trình độ bậc 3/7 trở lên chỉ đạt khoảng 6% số học viên. Nhìn chung cơ cấu về quy mô giữa các cấp học, bậc học trong giáo dục phổ thông có chuyển bi ến tích cực, nhng cơ cấu giữa dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, đại học cao đẳng vẫn ch a đợc cải thiện mà còn ngày càng mất cân đối. Khoảng cách mặt bằng học vấn giữa nội thành và ngoại thành vẫn còn chênh lệch khá xa. Vấn đ ề phân luồng học sinh sau trung học phổ thông bị bỏ ngỏ, thiếu hẳn một chiến l ợc phát triển đồng bộ và toàn diện. Vấn đề giáo dục nghề cha đợc chú ý đúng mức cả về phía lãnh đạo quản lý và ngời học. 7.2- Y tế: Mạng lới y tế của thành phồ đ ợc phân bổ đến tận phờng-xã với l00% trạm y tế ph ờng-xã có bác sĩ. Nhiều bệnh viện của thành phố là các trung tâm y tế chuyên sâu đầu ngành của các tỉnh phía Nam. Số gi - ờng bệnh qua các năm đều gia tăng nh ng không nhiều và đạt 15.550 giờng năm 1999, bình quân đạt gần 30 giờng bệnh/l0.000 dân. Việc khám và điều trị của ngành y tế có nhiều nỗ lực, áp dụng nhiều thành tựu kỹ thuật mới, hạ thấp ngày điều trị trung bình và giảm tỷ lệ tử vong. Bình quân l năm có 15 triệu l ợt ngời đợc khám bệnh và hơn 500.000 ngời đợc điều trị nội trú ở các cơ sở y tế Nhà nớc. Các chơnng trình chăm sóc sức khỏe ban đầu đ ợc triển khai đều khắp với nhiều kết quả tốt trong kế hoạch hóa gia đình, phòng chống các bệnh xã hội, các bệnh truyền nhiễm, chăm sóc trẻ em,... Ch ơng trình y tế cho ngời nghèo đợc thực hiện khá tốt. Từ tuyến cơ sở phờng xã đến bệnh viện đều có giờng miễn phí cho ngời nghèo. Hoạt động của Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo ngày càng thể hiện rõ tính u việt của xã hội mới. Tính đến nay Hội đã chữa bệnh miễn phí cho 600.000 l ợt bệnh nhân nghèo; thực hiện 30.43 l ca giải phẩu ghép thủy tinh thể nhân tạo, 9.000 ca giải phẩu vá môi hở hàm ếch. Thực hiện chính sách thúc đẩy xã hội hóa hoạt động khám chữa bệnh, hệ thống mạng l ới y tế t nhân tính đến 30/6/2000 có 8.582 cơ sở hoạt động, trong đó có 2 bệnh viện đa khoa, 14 phòng khám đa khoa, 4. l01 phòng mạch, 2.282 nhà thuốc - đại lý thuốc góp phần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh thông th ờng của ngời dân, giảm nhẹ sự quá tải của y tế Nhà nớc. Tại Thành phố nhiều bệnh truyền nhiễm" đặc tr ng thờng xuất hiện ở các nớc đang phát triển đã đ ợc kiểm soát, nhng một số bệnh phổ biến ở các nớc công nghiệp phát triển lại có xu hớng tăng nh bệnh về tim mạch, bệnh nghề nghiệp, tai nạn giao thông... Bên cạnh đó, thành phố vẫn là nơi có số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS lớn nhất nớc. Khó khăn lớn nhất của ngành y tế hiện nay là sự quá tải ở nhiều bệnh viện do các bệnh vi ện này là tuyến chuyên ngành cao nhất của khu vực phía Nam với nhiều chuyên khoa đầu ngành. Việc khám chữa bệnh không chỉ riêng cho nhu cầu ngời dân thành phố mà còn cả nhiều tỉnh ở phía Nam. Bình quân trên 30% bệnh nhân nội trú là của các tỉnh, trong đó có bệnh viện lên t ới 60% nh Trung tâm Ung bớu, do đó đầu t cho ngành y tế phải đợc xem xét trên bình diện rộng hơn. D:\My to do\DangboTpHCM.doc 15
  16. 7.3- Văn hóa, thông tin và phát thanh, truyền hình Hoạt động văn hóa nghệ thuật thông tin có nhiều cố gắng, tiến bộ trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, phát huy truyền thống cách mạng và bản sắc văn hóa dân t ộc. Hoạt đ ộng văn hóa ở các vùng sâu, vùng xa đợc quan tâm, cơ sở vật chất đ ợc tăng cờng đầu t xây dựng. Hoạt động sáng tác, nghiên cứu, đào tạo, định hớng, phê bình đã đợc quan tâm và đầu t thích đáng hơn. Công tác vận động xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ mê tín dị đoan, phòng chống tệ nạn xã hội đ ợc duy trì thờng xuyên. Hàng năm, các hoạt động văn hóa vào các ngày lễ lớn đợc duy trì và tổ chức tốt. Các hoạt động văn hóa quần chúng và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đ ợc mở rộng, góp phần ổn định an ninh chính trị. Lãnh vực báo chí, in ấn, xuất bản phát hành sách phát triển khá nhanh, đa dạng và phong phú. Hệ th ống th viện, các điểm di tích bảo tồn bảo tàng đợc bảo vệ tôn tạo kết hợp với các hoạt động du lịch và giáo dục truyền thống. Phát thanh, truyền hình trở thành phơng tiện hiệu quả để đa chủ trơng, chính sách, thông tin kinh tế-xã hội đến ngời dân. Cơ sở vật chất phát thanh, truyền hình đ ợc đổi mới, tăng cờng để tiếp nhận-phủ sóng toàn quốc và tăng thời lợng phát. Nội dung chơng trình đợc mở rộng về giáo dục học đờng, đào tạo từ xa, dạy tiếng nớc ngoài, đa dạng loại hình phim ảnh nghệ thuật,... b ớc đầu đáp ứng đợc nhu cầu nâng cao hởng thụ văn hóa, thông tin kinh tế - xã hội góp phần cải thiện đời sống tinh thần ng ời dân. 7.4- Thể dục - thể thao: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là 2 trung tâm thể dục thể thao lớn đợc tập trung phát triển để tiến tới Việt Nam có thể đăng cai tổ chức các giải SEA Game - ASIAD nên các cơ sở vật chất ngành tiếp tục đ ợc duy trì cải tạo. Các Liên đoàn Thể dục thể thao đ ợc tăng cờng. Hoạt động thể thao đ ợc đầu t từ nhiều nguồn vốn sớm đa vào hoạt động, cải thiện đáng kể điều kiện cơ sở vật chất tập luyện là nền t ảng đ ể thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu về thành tích thể thao tại các cuộc thi toàn quốc và cung c ấp nhân l ực cho Việt Nam tham gia các giải quốc tế, khu vực. Phong trào thể dục thể thao thờng xuyên đợc duy trì mở rộng nhất là trong hệ thống giáo dục phổ thông, số ngời tập luyện thể dục thể thao thờng xuyên tăng qua các năm đạt trên 13% dân số năm 1999, góp phần nâng cao thể lực, tăng cờng sức khỏe ngời dân. Những khó khăn và tồn tại là tiến độ đầu t cơ sở vật chất những năm qua còn chậm, thiếu nguồn đầu t ; trình độ nghiệp vụ quản lý của ngành còn yếu kém để xảy ra tiêu cực trong hoạt động Liên đoàn bóng đá ảnh hởng đến tinh thần thể thao. 7.5- Lao động, nhà ở và đời sống: Theo kết quả Tổng điều tra dân số 01/4/1999 thì dân số của thành phố Hồ Chí Minh là 5.037.155 ng ời. Dự kiến năm 2000 dân số của thành phố lên đến 5,17 triệu ng ời. Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 1996-2000 là 19%/năm, trong đó tỷ lệ tăng tự nhiên là l,38% và tỷ lệ tăng cơ học là 0,8 l%. Tỷ lệ tăng chung dân số trong giai đoạn 1996-2000 thấp hơn hẳn so với tốc độ tăng 2,42% trong giai đoạn 1991-1995 và so với mức tăng trong quy hoạch là 2,77%. Tỷ lệ tăng dân số t ự nhiên đã giảm dần qua các năm và thấp hơn mức khống chế l,5% đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Tỷ lệ tăng cơ học cũng giảm so với mức 0,9% trong giai đoạn 1991-1995 và mức tăng trong quy hoạch là l,35%. Số ngời đang làm việc tăng qua các năm và đạt l.928.746 lao động vào năm 1999, chiếm 38, l% t ổng dân số và 66,5% nguồn lao động. Tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp giảm t ừ 13,2% năm 1996 xuống 12,5% năm 1999 (241.000 lao động); khu vực công nghiệp - xây dựng tăng t ừ 37,8% lên 37,9% (73 D:\My to do\DangboTpHCM.doc 16
  17. l.000 ngời) và khu vực dịch vụ tăng từ 49,0% lên 49,6% (956.000 ng ời). So với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong ba khu vực kinh tế diễn ra rất chậm và t ỷ trọng lao đ ộng của các khu vực hầu nh không thay đổi trong giai đoạn 1996- 1999. Trong 5 năm 1996-2000, đã giải quyết đợc việc làm cho 906 ngàn lợt ngời, trong đó số lao động có việc làm ổn định chiếm 90,2%. Nh vậy, bình quân l năm có 18l ngàn chỗ làm mới đ ợc tạo ra trên địa bàn thành phố, cha tính số chỗ làm việc bị bỏ hoặc mất do nguời lao động chuyển khỏi nơi làm việc, cao hơn chỉ tiêu 160.000 chỗ làm đã đợc đề ra. Tuy nhiên, số ngời cha có việc làm vẫn tăng lên qua các năm với tốc độ bình quân giai đoạn 1996- 1999 là 18,3%. Tỷ lệ thất nghiệp (lao động ch a có việc làm so với nguồn lao động) năm 1996 là 7,79% và năm 2000 là 6,87%. Diện tích nhà ở mới xây hàng năm gia tăng ở mức độ trên 2 triệu m 2 giai đoạn 199l- 1995 và 3, l triệu m2 giai đoạn 1996-2000. Đến năm 1999, diện tích nhà ở bình quân đầu ngời đạt l0,3m2. Tỷ lệ hộ có nhà ở năm 1999 toàn thành phố là 99,7%, trong đó thành thị là 99,5% và nông thôn là l00%. Phong trào nhà tình nghĩa, tình thơng đã cải thiện điều kiện nhà ở cho một bộ phận dân c nghèo. Đến nay đã xây dựng đợc l0.228 căn nhà tình nghĩa với tổng giá trị trên 130.406 triệu đồng và 6285 căn nhà tình th ơng với tổng giá trị trên 3 l .365 triệu đồng. Chơng trình chỉnh trang đô thị, giải tỏa nhà trên kênh rạch gắn với việc tái định c, xây dựng các khu dân c mới bớc đầu tạo ra bộ mặt đô thị mới cho thành phố (35.000 ng ời dân nghèo đã đợc cải thiện đời sống qua công trình Nhiêu Lộc-Thị Nghè). Đã và đang xây dựng 5l chung c với tổng số l0.088 căn hộ. Đến nay đã xây dựng hoàn thành xong 38 chung c với tổng số 6306 căn hộ. Hởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, các đơn vị trong thành phố đang phụng dỡng gần l.300 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, đỡ đầu hàng ngàn thơng binh nặng và ngời thân của các liệt sĩ. Các hoạt động cứu trợ đồng bào bị thiên tai, hỏa hoạn ở thành phố và các tỉnh trong cả nớc đã trở thành phong trào của mọi tầng lớp nhân dân thành phố. Phát triển kinh tế đã thực sự cải thiện đời sống của đại bộ phận nhân dân thành phố nhất là các tiện nghi sinh hoạt gia đình. Tính đến cuối năm 1999, bình quân 87,7% hộ gia đình có máy thu hình, 40,8% hộ có tủ lạnh, 75,2% hộ có xe gắn máy, 58,3% hộ có bếp ga và 41,3% hộ có điện thoại. Mức chi tiêu bình quân một ngời l tháng tăng từ 415.582 đồng năm 1996 lên 506. l00 đồng năm 1999, trong đó t ỷ l ệ chi cho ăn uống giảm từ 49,3% xuống 46,8% trong cùng giai đoạn. 8/ Thu và chi ngân sách: Thu ngân sách hàng năm của thành phố đ ợc thể hiện ở bảng 8. Tổng thu ngân sách 5 năm 1996-2000 là l 16.2 l0 tỷ đồng. Bảng 8: Thu ngân sách trên địa bàn 1991 1996 1997 1998 1999 2000 Tổng thu ngân sách 2.274 19.576 20.537 23.788 26.584 23.962 trên địa bàn (tỷ đồng) Trong đó thu nội địa: 1.719 12.695 13.994 14.382 13.659 12.962 + Tỷ đồng 75,59 64,85 68,14 60,46 51,38 54,09 Tỷ lệ so với GDP TP 17,5 43,0 38,9 38,9 38,6 33,3 (%) Tỷ lệ so với thu ngân 22,6 31,4 37,1 35,2 37,4 31,6 D:\My to do\DangboTpHCM.doc 17
  18. sách cả nớc (%) Tỷ lệ điều tiết cho TP 16,3 13,2 17 16,6 15,8 17 trong tổng thu ngân sách trên địa bàn (%) Nguồn: Cục Thuế thành phố năm 2000 Trong những năm qua thành phố luôn đóng góp trên 30% cho tổng nguồn thu của ngân sách quốc gia. Tỷ lệ thu ngân sách trên địa bàn thành phố so với cả n ớc tăng từ 22,6% năm 199 l lên 3 l,4% năm 1996 và 37,4% năm 1999. Năm 2000, đóng góp 3 l,6% (Bảng 8).Từ năm 1999, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu do Hải quan thu, không tính vào thu nội địa do thành phố thu, do đó tỉ trọng thu nội đ ịa năm 1999 và 2000 giảm so với trớc. Bảng 8 còn cho thấy 1: tỷ lệ động viên vào ngân sách từ GDP giảm từ 43% năm 1996 xuống 33,3% năm 2000, sau khi tăng lên liên tục trong giai đoạn 199 l-1995. Tuy nhiên, t ỷ lệ thu ngân sách so với GDP bình quân ở mức trên 30% là rất cao. Điều đáng quan tâm là trong tổng số thu ngân sách này, tỷ lệ điều tiết cho ngân sách thành phố chỉ ở mức bình quân là 16,4% trong những năm 1996-2000. Điều này đã hạn chế khả năng cân đối đầu t cho phát triển so với nhu cầu đầu t hàng năm (bình quân chỉ đáp ứng đ ợc khoảng 25- 30% nhu cầu dầu t của các sở-ngành và quận-huyện). Cụ thể trong năm 2000 nhu cầu vốn để bảo trì duy tu hệ thống cầu đ ờng trên địa bàn thành phố (không kể tuyến đ ờng Nhà Bè-Cần Giờ) là 65,88l tỷ đồng, song chỉ cân đối đợc 47,800 tỷ đồng, đáp ứng 72,6% nhu cầu (phần còn thiếu là trên 18,000 tỷ đồng). Bảng 9: Cơ cấu chi ngân sách địa phơng 1996 1997 1998 1999 2000 Bình quân 1996- (ớc TH) 2000) Tổng (tỷ 2584.63 chi 3470,9 3948,24 4203,8 4583 3758,11 đồng) % 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 1.Chi XDCB (tỷ 758,9 996,3 1174,5 1214 1743 1177,34 đồng) % 29,36 28,70 29,74 28,87 38,03 31,33 thờng 1604,73 2. Chi 2082,6 2421,48 2352,8 2490 2190,32 xuyên (tỷ đồng) % 62,08 60,00 61,33 55,95 54,33 58,28 3. Chi khác (tỷ 221 392 352,25 637 350 390,45 đồng) % 8,55 11,29 8,92 15,15 7,64 10,39 Cơ cấu chi theo ngành trong tổng chi NSĐP - Chi sự nghiệp 19,05 17,30 20,00 23,47 25,06 20,98 giáo dục - Cho khoa học 1,26 1,03 1,17 1,03 1,15 1,13 công nghệ D:\My to do\DangboTpHCM.doc 18
  19. - Chi sự nghiệp y 10,46 15,73 9,96 26,01 16,76 15,78 tế - Chi quản lý HC 10,91 8,42 8,09 8,09 7,95 8,69 - Chi cho NS ph- 3,96 3,48 3,26 2,83 3,57 3,42 ờng, xã - Chi khác (GTCC, 54,36 54,04 57,52 38,57 45,51 50,00 VHHTT...) Nguồn: Sở Tài chính - Vật giá thành phố Hồ Chí Minh Trong cơ cấu chi ngân sách bình quân giai đoạn 1996-2000, chi cho đầu t xây dựng cơ bản chiếm 3 l,33% tổng chi (bảng 9). Bình quân hàng năm thời kỳ 1996-2000, ngân sách đã đầu t trên 2.200 tỷ đồng cho lĩnh vực giao thông, điện, cấp thoát nớc, giáo dục, y tế, nhà ở, vệ sinh môi tr ờng, công trình phúc lợi công cộng... để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế và cải thiện điều kiện sống cho dân. Trong điều kiện nguồn vốn đầu t từ ngân sách tập trung, theo kế hoạch Trung ơng phân bổ và các nguồn thu đ ợc để lại còn chiếm tỷ trọng nhỏ, thành phố đã thực hiện nhiều giải pháp huy động vốn nh hình thành định chế tài chính mới (Quỹ Đầu t Phát triển Đô thị thành phố); phát hành trái phiếu xây dựng công trình; áp dụng ph ơng thức đầu t "đổi đất lấy hạ tầng"; cho thu một số loại phí nh phụ thu tiền điện, tiền nớc, phát hành vé số; huy động trong đoàn viên thanh niên (phong trào xây dựng l000 phòng học); cổ phần hóa và bán mặt bằng, nhà x ởng không cần dùng của doanh nghiệp Nhà nớc, để đa vào đầu t xây dựng cầu đờng, trờng học, cải tạo và phát triển lới điện, điện khí hóa nông thôn, cải tạo nâng cấp hệ thống cấp thoát n ớc, di dời và đổi mới thiết bị công nghệ đối với các doanh nghiệp đang làm ăn có hiệu quả. Trong những năm qua, nhiều công trình đầu t từ ngân sách đã đợc hoàn thành và đa vào sử dụng, làm thay đổi bộ mặt của thành phố nh chơng trình giải tỏa, tái định c và xây dựng hạ tầng dọc kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, cải tạo phát triển mạng lới điện và điện khí hóa các xã ngoại thành, chơng trình nớc sạch nông thôn... Một số nút giao thông (Hàng Xanh, Phú Lâm, Nguyễn Tri Ph ơng, đờng 3/2, Ông ích Khiêm - Âu Cơ, Cầu Chông, chân cầu Sài Gòn) đ ợc cải tạo và mở rộng đã góp phần giải tỏa đ ợc tình trạng thờng xuyên ùn tắc giao thông, nhiều cầu, đ ờng đơc xây dựng và sửa chữa nâng cấp giúp cho việc giao l u kinh tế và đi lại của nhân dân đợc thuận lợi. Đầu t vào giáo dục với hàng ngàn phòng học đợc xây dựng và sửa chữa đã góp phần ngăn chặn đợc tình trạng học ca ba và giải quyết số lợng học sinh tăng thêm hàng năm. Nhiều bệnh viện trung tâm chuyên khoa, cơ sở y tế đã đ ợc đầu t nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị nhằm tăng thêm số giờng bệnh và nâng cao chất lợng khám, điều trị... 9/ Vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong cả nớc: Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6% dân số cả n ớc. Qua l0 năm phát triển, 199 l-2000 xét một cách tổng quát thì tỷ trọng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục gia tăng, song mức v - ợt trội về tốc độ phát triển đã giảm. Năm 1990, GDP của thành phố chiếm 13,66% của cả n ớc, năm 1995 là 16,67% và năm 1999 là 18,93%. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố so với cả n ớc ở ba thời điểm tơng ứng là 26,24%; 28,55% và 29,69%. Tỷ trọng giá trị dịch vụ là 20,09%; 22, 12% và 24,74%. Bán lẻ của thành phố chiếm 23,41%; 28,76% và 28,32% của cả nớc. Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 199l chiếm 22,6% của cả n - ớc và năm 1999 là 37,39%. Giá trị sản l ợng công nghiệp thành phố năm 1999 là 49,6 ngàn tỷ đồng, lớn hơn giá trị sản lợng của Bà Rịa-Vũng Tàu (22,4 ngàn tỷ đồng đồng), Hà Nội ( 13, l ngàn tỷ đồng) và Đồng Nai (12,2 ngàn tỷ đồng) cộng lại (47,7 ngàn tỷ đồng). D:\My to do\DangboTpHCM.doc 19
  20. Riêng lĩnh vực nông nghiệp tỷ trọng giá trị sản xuất của thành phố giảm từ 2,33% năm 1990 xuống 2,2 l % năm 1995 và l,76% năm 1999. Tốc độ tăng trởng CrDP của thành phố giai đoạn 199 l- 1995 là 12,62%, giai đoạn 1996- 1999 là l0,44%, trong khi của cả nớc là 8,23% và 6,99%. Sự chênh lệch về tốc độ tăng tr ởng giữa hai thời kỳ của thành phố Hồ Chí Minh so cả nớc là l,53 lần và l,49 lần. Chênh lệch tốc độ phát triển giá trị sản xuát công nghiệp thành phố và cả n ớc là l ,93% giai đoạn 1991- l995, giảm xuống chỉ còn l,l % cho giai đoạn l996-2000. Chênh lệch tốc độ phát triển giá trị sản xuất nông nghiệp hai thời kỳ là - l, 13% và -5,8l%. Riêng về giá trị dịch vụ thì tốc đ ộ tăng tr ởng của thành phố lớn hơn cả nớc: giai đoạn 1991-1995 lớn hơn là 2,21%, giai đoạn 1996- 1999 lớn hơn 3,0l%. Trong quan hệ với các tỉnh Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thành phố ch a tìm đợc cơ chế phối hợp với các tỉnh nhằm phát huy thế mạnh của một địa ph ơng và tạo nên sự cộng hởng trong phát triển. Về xã hội, thành phố là nơi có nhiều sáng kiến, đã hình thành các phong trào nh : Nhà tình nghĩa, nhà tình thơng, bảo trợ bệnh nhân nghèo, đỡ đầu các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xã hội hóa giáo dục, y t ế... đ ợc nhiều địa phơng khác hởng ứng. II. Đánh giá khái quát nguyên nhân các thành tựu và hạn CHế, CáC BàI HọC: l/ Khái quát những thành tựu trong 5 năm 1996-2000: 1- Mặc dù tốc độ tăng trởng kinh tế không bằng giai đoạn trớc, giá trị tổng sản phẩm nội địa (GDP) vẫn tăng bình quân gần l0,2%/năm trong giai đoạn 1996-2000, làm cho GDP bình quân đ ầu ng ời tăng từ 937 USD/năm năm 1995 lên l.365 USD năm 2000 (giá 1994). 2- Công nghiệp giữ đợc tốc độ tăng trởng cao, bình quân 14,2%/năm; cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục chuyển dị(h theo hớng tăng tỷ trọng công nghiệp, trong đó công nghiệp chế biến chiếm 96%. Hai khu chế xuất và nhiều khu công nghiệp đi vào hoạt động ổn định, có hiệu quả. 3- Khu vực kinh tế nhà n ớc vẫn giữ vị trí quan trọng so với các thành phần kinh tế khác trong các ngành kinh tế chính của thành phố và đóng góp trên 45,9% trong cơ cấu GDP. 4- Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh t ế góp phần thúc đ ẩy t ốc đ ộ tăng trởng kinh tế chung và giải quyết trên 70% việc làm cho ngời lao động. 5- Tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1996-2000 đạt 17,8%/năm. Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến trong kim ngạch xuất tăng lên qua các năm, đạt 70% vào năm 1999. Thị tr ờng xuất khẩu đợc mở rộng và đa dạng hóa; sự phụ thuộc vào các thị trờng Đông Bắc á và Đông Nam á đã giảm. 6- Thu ngân sách luôn tăng theo đà tăng trởng GDP. Tỷ lệ thu ngân sách trên địa bàn thành phố so với cả n- ớc tăng từ 3 l,4% năm 1996 lên 35,2% năm 1999, và 7,4% năm 2000. 7- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đ ợc u tiên đầu t với nhiều hình thức và từ nhiều nguồn vốn, nên đã phần nào đợc cải thiện. 8- Tốc độ tăng dân số giảm so với thời kỳ 199l- 1995 (2,19% so với 3,18%) cả về mức tăng t ự nhiên l ẫn mức tăng cơ học. D:\My to do\DangboTpHCM.doc 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản