Những câu hỏi kiến thức về bệnh viêm gan B

Chia sẻ: Nguyen Ngoc Tuan Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:12

0
343
lượt xem
170
download

Những câu hỏi kiến thức về bệnh viêm gan B

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viêm gan B là 1 vấn đề nóng hổi hiện nay trong khi đại bộ phận quần chúng chưa hiểu biết nhiều về bệnh , nên chủ đề này xin được đề cập dài dòng và chi tiết hơn các chủ đề khác .

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những câu hỏi kiến thức về bệnh viêm gan B

  1. BỆNH VIÊM GAN B Bệnh do virus thuộc họ Hepagdan virus.Trong trường hợp mắc bệnh ,có thể sẽ virus gây ra viêm lá gan dẫn đến xơ cứng gan và ung thư gan, được phát hiện lần đầu tiên năm 1960 . Viêm gan B là 1 vấn đề nóng hổi hiện nay trong khi đại bộ phận quần chúng chưa hiểu biết nhiều về bệnh , nên chủ đề này xin được đề cập dài dòng và chi tiết hơn các chủ đề khác . CÂU 1 : Tình hình hiện nay của bệnh viêm gan B hiện nay như thế nào ? Hiện nay trên thế giới theo WHO có khoảng 350 triệu người mắc phải căn bệnh này , tập trung chủ yếu ở châu Á ( phần lớn tại Đông Nam Á ) và châu Phi . Trên thế giới, vùng dịch tể lưu hành siêu vi B ở 3 mức độ như sau: thấp (dưới 7%). Ở Việt Nam tỉ lệ nhiễm siêu vi B 10 - 15% là thuộc vùng dịch tễ cao. Vì vây , viêm gan B là căn bệnh dành được sự quan tâm không chỉ nghành y tế mà còn của đại bộ phận quần chúng . CÂU 2 :Tôi có thể mắc bệnh vì những lý do nào ? Khác với viêm gan A là bệnh truyền chủ yếu qua đường tiêu hóa , viêm gan B lây truyền chủ yếu qua đường máu . Do đó virus gây bệnh chủ yếu lây truyền
  2. qua các con đường sau : 1 . Do truyền máu , chế phẩm máu không đảm bảo an toàn , không được xét nghiệm đúng ng , yên tắc sẽ truyền bệnh từ người cho máu sang người nhận máu . Cũng có thể do tiếp xúc với dịch tiết , tinh dịch , dịch âm đạo , mủ , … của người mắc bệnh . 2 . Do dụng cụ y tế không được tiệt trùng kỹ lưỡng , dùng chung cho nhiều người do thiếu thốn về trang thiết bị y tế tại các trung tâm y tế vùng sâu vùng xa trung tâm . 3 . Đường tình dục dù là đồng giới hay khác giới . 4 . Mẹ truyền sang con , không phải qua nhau thai , cuống rốn mà là lúc chuyển dạ sinh con và do tiếp xúc , chăm sóc sau khi sinh . Đây là nguyên nhân lây truyền chủ yếu nhất , cách phòng bệnh cho đứa trẻ có bệnh sẽ được trình bày kỹ lưỡng ở phần phòng bệnh . 5 . Do những nguyên nhân khác do dùng chung dụng cụ như bấm lỗ tai , châm cứu , xăm người , nhổ răng , dùng chung bơm kim tiêm cũng xẩy ra ở những kẻ nghiện hút , bị người bệnh cắn , .… CÂU 3 : Những ai có nguy cơ mắc bệnh cao ? ♦ Trẻ nhỏ được sinh ra từ các bà mẹ bị nhiễm bệnh. ♦ Những ai có quan hệ tình dục với người bị nhiễm bệnh hay có nhiều bạn tình. ♦ Những người chích ma túy.
  3. ♦ Những người làm công tác cấp cứu. ♦ Nhân viên y tế. ♦ Những người có quan hệ tình dục qua đường miệng hoặc hậu môn. ♦ Những bệnh nhân được lọc máu. CÂU 4 : Các trường hợp diễn biến có thể xảy ra khi bạn bị nhiễm vi rus viêm gan B Các triệu chứng thường xuất hiện 4-6 tuần(?) sau khi nhiễm HBV và có thể từ nhẹ đến nặng, gồm một số hoặc đủ các triệu chứng sau đây: chán ăn, buồn nôn và nôn, ốm yếu và mệt mỏi, đau bụng vùng gan, vàng da và vàng mắt, đau khớp, nước tiểu sẫm màu , vàng da vàng mắt , đau khớp. Chúng ta phân biệt 2 khsis niệm : * cấp tính : là giai đoạn sau nhiễm virus , các triệu chứng xảy ra rầm rộ , ở một số người có thể khỏi sau đó và có khả năng miễn dịch và thải trừ HBV suốt đời . Những người không khỏi sẽ chuyển sang giai đoan mạn tính . * mạn tính : giai đoạn bệnh âm ỉ , triệu chứng không rõ ràng , kéo dài trong nhiều năm nên có thể coi là chung sống cả đời với HBV . Ở người trưởng thành 90% trường hợp nhiễm HBV sẽ hồi phục hoàn toàn , còn 10% chuyển thành nhiễm khuẩn mạn tính . Xét nghiệm máu , HBsAg dương tính trong các trường hợp : nhiễm HBV mạn tính tiến triển gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan . Tuy nhiên , ở trẻ nhiễm siêu vi B từ lúc mới sinh, bệnh diễn biến khác hẳn . Khoảng 90% số trẻ này sẽ trở thành người mang bệnh mạn tính . Trường hợp viêm gan B mạn tính : Người lành mang mầm bệnh, ở họ không có bằng chứng viêm gan , nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể , khi đó họ mang HBV trong máu và có thể lây nhiễm sang người khác . Xét nghiệm kháng nguyên E phát hiện sự có mặt của một protein do tế bào nhiễm HBV tiết ra , kết quả dương tính do có nồng độ virut cao trong máu và dễ lây nhiễm . Người bị bệnh mạn tính kéo dài nhiều năm , có thể không có biểu hiện lâm sàng , cuối cùng dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan , có nước trong ổ bụng , chảy máu đường tiêu hóa do vỡ mạch máu bị giãn , ung thư gan . Nói chung khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn xơ gan, chức năng gan khó có thể hồi phục , ngay cả khi tình trạng viêm gan được cải thiện. Vì vậy , các thầy thuốc thường điều trị bệnh sớm nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình xơ gan . Khi các chất độc tích lũy trong máu có thể gây ảnh hưởng thần kinh dẫn đến lú lẫn và hôn mê trong bệnh não gan .
  4. Nguy cơ nhiễm khuẩn mạn và chết vì xơ gan, suy gan và ung thư gan tỷ lệ nghịch với độ tuổi bị nhiễm HBV . Những người nhiễm HBV mạn tính đều dễ nhiễm một chủng virut viêm gan khác là viêm gan D . CÂU 5 : Các xét nghiệm chẩn đoán viêm gan siêu vi B ? 1. XÉT NGHIỆM MÁU Bệnh viêm gan B có thể chẩn đoán bằng xét nghiệm máu tại bệnh viện hoặc phòng khám bệnh. Cũng có thể tình cờ phát hiện bệnh tại Trung Tâm Huyết Học – Truyền máu khi bạn tới hiến máu. Xét nghiệm HBsAg dương tính có thể do: 1. Nhiễm siêu vi B mạn tính tiến triển: Siêu vi đang nhân đôi, đang tăng sinh, gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan 2. Nhiễm trùng đã qua: Một số người hiện tại không có viêm gan, nhưng đã tiếp xúc với HBV trong quá khứ, tạo ra đáp ứng miễn dịch và thải trừ hoàn toàn siêu vi B. 3. Người lành mang mầm bệnh: Ðó là những trường hợp không có bằng chứng viêm gan, nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể. Họ mang siêu vi B trong người và có thể truyền sang người khác, mặc dù bản thân họ không có biểu hiện bệnh. 2. KHÁM CHUYÊN KHOA GAN Nếu xét nghiệm máu HBsAg dương tính, bạn nên đến gặp bác sĩ có kinh nghiệm để được khám bệnh và phân tích kỹ hơn. Lúc này, cần xác định liệu có tình trạng viêm gan đang tiến triển hay không. Nếu có, cần làm thêm: 1. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan 2. Siêu âm gan: Phân tích cấu trúc của gan và các bộ phận xung quanh, tìm dấu hiệu xơ gan hoặc biểu hiện bất thường khác. 3. Nên làm thêm xét nghiệm sinh thiết gan, đồng thời tìm HBV DNA trong máu.
  5. CÂU 6 : Những lời khuyên về chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân viêm gan B Người Việt có khuynh hướng phân biệt thực phẩm thành hai loại: Thức ăn "nóng" và thức ăn "mát". Khi gan bị nóng do viêm gan B, dùng thức ăn "mát" sẽ giúp gan đỡ viêm hơn . Thí dụ điển hình cho thức ăn "mát" để trị bệnh "nóng" gan là artichoke, nói theo tiếng Pháp là artichaud (a-ti-sô). Một số nhà vạn vật thiên nhiên cho rằng artichoke dự trữ nhiều chất cynarin với khả năng bảo vệ và duy trì tế bào gan. Họ cũng tin rằng chất hóa học này có khả năng kích thích sự di chuyển của chất mật tiết từ gan xuống túi mật. Vì thế, một viện bào chế dược phẩm Pháp đã sản xuất và bày bán thuốc artichoke với tên là Chophytol . Ở nước ta, bạn có thể mua bông a-tisô hay lá a-ti-sô về nấu uống mỗi ngày. Trái a-ti-sô là một món ăn dùng để nấu, xào vừa ngon miệng vừa có tác dụng bảo vệ, trợ giúp tế bào gan tự thân chống lại virus. Còn những thứ mát khác như rau má uống sống trong khi tay chân luôn luôn bị lạnh ( một biểu hiện của bệnh nhân mãn tính ) thì không nên uống vì có thể gây tiêu chảy. Một trong những gia vị mà bạn có thể dùng là tỏi. Tỏi với hai chất hóa học germanium và selenium vẫn được xem như một chất thiên nhiên có khả năng tẩy độc, khử trùng và làm các mạch máu dẻo dai hơn. Tất nhiên khi nấu bạn cũng chọn những món cần tỏi mới nên cho vào. Chẳng hạn chiên trứng vịt mà phi tỏi thì hai thứ này lại “kỵ rơ” nhau đến mức làm cho sình bụng. Trong Đông dược , thiết yếu có đề cập đến việc người bệnh gan không dùng gừng. Lý do theo Đông y là bệnh gan tay chân lạnh thuộc “âm hàn “ trong khi gừng (can khương) lại thuộc “ôn tỳ dương”. Một điểm lưu ý nữa là những món như hải sản, những thuốc mà bạn đã bị dị ứng cũng không nên ăn, uống bởi phản ứng dị ứng sẽ làm gan vốn đang bị bệnh sẽ yếu đi vì buộc phải làm việc để thải độc. Nếu bạn là người lành mang HBV , bạn nên hạn chế uống rượu . Người nghiện rượu mắc bệnh viêm gan B thường hay bị xơ gan hơn . Chế độ ăn bình thường là thích hợp với hầu hết trường hợp viêm gan siêu vi B. Khi có xơ gan,bác sỹ khuyên bạn nên giảm muối trong chế độ ăn. CÂU 7 : Những lời khuyên về lối sống cho bệnh nhân viêm gan B . Người bị nhiễm HBV thường lo lắng về nguy cơ truyền bệnh sang những người xung quanh . Mối lo này hoàn toàn hợp lý bởi vì siêu vi B lây
  6. nhiễm qua tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của bệnh nhân, cũng như do quan hệ tình dục. Hiện nay, đã có vắc-xin chủng ngừa cho những người tiếp xúc với người mang mầm bệnh (bạn tình, trẻ em, cha mẹ, người chăm sóc.). Dù sao, người mang mầm bệnh cần có biện pháp đề phòng thích hợp, ví dụ nếu Bạn bị đứt tay, hãy lau sạch máu bằng thuốc sát trùng. Nên sử dụng biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục , bao cao su vẫn là dụng cụ đáng tin cậy nhất. Nếu vừa mới (có thể) bị lây, hoặc qua quan hệ tình dục, hoặc bị kim đâm từ người đang bị viêm gan B, nên đến bác sĩ càng sớm càng tốt vì cần chích thuốc ngừa trong vòng 48 tiếng đồng hồ, trễ nhất là trong vòng một tuần. Trong trường hợp này, người bị lây sẽ cần phải được chích kháng thể viêm gan B (HBIg) và thuốc ngừa viêm gan B tại hai nơi khác nhau của cơ thể trong vòng 48 tiếng, trễ lắm là một tuần. Sau một tháng sẽ cần phải chích kháng thể và thuốc ngừa lần thứ hai, và đến tháng thứ sáu cần mũi ngừa thứ ba . CÂU 8 : Phòng bệnh và điều trị . A . Phòng bệnh : ( do có nhiều câu hỏi chi tiết nhỏ nên phần này sẽ được nói chi tiết ở phần “ Một số câu hỏi chi tiết hay gặp “ ) Phòng bệnh đặc hiệu bằng các tiêm vác – xin viêm gan B . Phòng không đặc hiệu thể hiện ở cuộc sống , giao tiếp và sinh hoạt với bệnh nhân viêm gan B B . Ðiều trị : Tùy theo quyết định của bác sĩ, một số trường hợp cần điều trị sớm và tích cực. Mục đích điều trị nhằm: (a) Loại trừ hoặc giảm thiểu tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa, làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan, ung thư gan. (b) Ðào thải toàn bộ, hoặc một phần lượng siêu vi B trong cơ thể, đặc biệt ở trong gan.
  7. Thuốc điều trị chủ yếu là Interferon alpha . Interferon alpha là một chất tự nhiên có trong cơ thể người, do tế bào khi cơ thể nhiễm virut sản xuất ra có chức năng diệt trừ virut gây bệnh . Chức năng của Interferon alpha là diệt trừ tác nhân gây bệnh . Như vậy, khi dùng Interferon, siêu vi B sẽ bị loại bỏ giống như cơ chế đào thải tự nhiên của cơ thể . Interferon alpha (RoferonỊ-A) được đóng sẵn trong bơm tiêm có kèm kim nhỏ, tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân đều có cảm giác sốt nhẹ, mệt mỏi trong vài giờ , gọi là hội chứng giả cúm. Những biểu hiện này là do Interferon khởi động đáp ứng của cơ thể chống lại siêu vi giống như khi Bạn mắc bệnh cúm vậy. Về sau, tác dụng phụ này sẽ bớt dần. Uống Paracetamol nửa tiếng trước khi tiêm thuốc sẽ hạn chế biểu hiện đó. Nên tiêm thuốc vào buổi tối để hôm sau Bạn có thể làm việc bình thường. Trong thời gian điều trị, Bạn nên làm xét nghiệm máu để đánh giá đáp ứng. Sau khi kết thúc điều trị, cần tiếp tục theo dõi thêm 6 tháng nữa, bởi vì một số bệnh nhân có thể bị tái phát sau khi ngưng thuốc. Hiện nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu một số thuốc kháng sinh chống HBV phối hợp với interferon alpha. Lamivudin (epivir) kháng virut, giúp ngăn không cho HBV nhân lên trong tế bào . Nó thường được dùng ở dạng viên uống 1lần/ngày trong 12 tháng. Lamivudin giúp được khoảng 40% số người dùng thuốc. MỘT SỐ CÂU HỎI CHI TIẾT HAY GẶP Câu hỏi 1 : Chồng sắp cưới của em bị viêm gan siêu vi B, như vậy em có cần chích ngừa viêm gan B hay không? Chúng em sẽ sống chung với gia đình bên nhà em, như vậy những người trong nhà có cần chích ngừa hay không? Có cách nào để chữa trị bệnh viêm gan B cho chồng em hay không? Phải chích thuốc hay uống thuốc? Hết bao lâu? Nếu không chữa thì có nguy hiểm lắm không ? Trả lời : Nếu chồng bị viêm gan B mà mình chưa bị thì chắc chắn là mình cần phải chích ngừa viêm gan B. Điều cần chú ý ở đây là mình chỉ cần chích khi mình chưa bị nhiễm hoặc cơ thể chưa có miễn nhiễm với viêm gan B. Có rất nhiều loại kháng thể và kháng nguyên của virus viêm gan B, nhưng hiện nay, đầu tiên, thường thường bác sĩ chỉ cần thử
  8. hai loại kháng thể và kháng nguyên có liên quan đến tình trạng miễn nhiễm (HBsAb và HBsAg), nếu âm tính thì có thể chích ngừa. Khi chích ngừa, phải chích nhiều mũi, do đó trong lúc chờ đợi cơ thể có miễn nhiễm, bạn cần phải áp dụng các phương pháp chống lây bệnh khác, quan trọng nhất là luôn luôn dùng bao cao su (condom) mỗi khi giao hợptránh tiếp xúc với máu của người bệnh như là dùng chung bàn chải đánh răng (chảy máu lợi có thể dính vào bàn chải và lây qua người khác), lưỡi lam… Ngoài ra, ăn uống chung, nằm chung, dùng chung bàn cầu tiêu, các tiếp xúc hàng ngày không có liên quan đến máu và giao hợp đều không làm cho bệnh viêm gan B lan truyền. Do đó, đầu tiên bạn cần đi bác sĩ thử máu để xem mình đã có miễn nhiễm hoặc đã có bị viêm gan B hay chưa để biết có cần chích ngừa hay không . Câu hỏi 2: Tôi đã chích viêm gan B mũi đầu tiên, sau đó đi xa nên quên không kịp chích hai mũi sau, bây giờ đã bảy tháng rồi, có cần chích lại từ đầu hay không hay chỉ tiếp tục chích hai mũi còn lại? Trả lời : Nếu quên mũi thứ hai dưới ba tháng, có thể chích mũi thứ hai và thứ ba như bình thường (như đã kể trên). Nếu quên từ sáu tháng trở lên thì chắc chắn là phải chích lại từ đầu cả ba mũi. Nếu quên mũi thứ ba dưới một năm, thì có thể chỉ cần chích mũi thứ ba. Ngoài ra, cần phải chích lại từ đầu. Trường hợp này mũi thứ 2 đã quên chích hơn 6 tháng nên cần chích lại từ đầu . Câu hỏi 3 : Các vấn đề về hiệu lực của vác - xin Tôi đã có chích ngừa viêm gan B lâu lắm rồi, nhưng sao thử máu bác sĩ nói là không có miễn dịch, vậy phải làm sao? Tỉ lệ hiệu quả của thuốc ngừa có cao không? Chích ngừa một lần là đủ cho suốt đời hay cần phải lập lại nhiều lần? Nếu như vậy thì bao lâu phải chích một lần? Làm sao để biết chắc là chích ngừa có hiệu quả? Trả lời : A ) Làm sao để biết chắc chích ngừa có hiệu quả hay không? Cách đơn giản để biết chích ngừa viêm gan B có hiệu quả hay không, là thử kháng thể của cơ thể đối với loại kháng nguyên bề mặt
  9. của viêm gan B, HBsAb (cơ thể con người tạo ra nhiều loại kháng thể khác nhau nhằm chống lại các thành phần khác nhau của virus viêm gan B, như phần lõi –core-, phần bề mặt –surface-, vân vân. Trong từ HBsAb, HB là• viết tắt của Hepatitis B –viêm gan B-, s là chữ đầu của surface,• Ab• là viết tắt của Antibody-kháng thể-). Cho tới nay, nếu mức kháng thể HBsAb này cao hơn 10 IU/L, thì bệnh nhân được coi như đã có đề kháng với viêm gan B. Con số này dựa trên một nghiên cứu trên 773 người, được thực hiên vào các năm 1980s, tỉ lệ bị viêm gan cấp đã tăng gấp bảy lần khi mức kháng thể HBsAb giảm xuống dưới mức 10 IU/L . B ) Chích ngừa có hiệu quả bao nhiêu phần trăm? Dùng mức 10 IU/L của HBsAb để xác định xem người chích có miễn dịch hay chưa, thì nói chung 95 phần trăm người lớn mạnh khoẻ sẽ có miễn dịch sau khi chích đủ ba mũi. Tỉ lệ đạt được miễn dịch sau khi chích giảm đi khi tuổi càng cao, đến mức 86 phần trăm ở tuổi tứ tuần (lứa tuổi bốn mươi), và đến lứa tuổi sáu mươi, tỉ lệ này chỉ còn 47 phần trăm. Tỉ lệ đáp ứng với thuốc chủng ngừa viêm gan B cũng giảm đi đôi chút ở người mập, hút thuốc và đàn ông. Tỉ lệ đáp ứng với thuốc chủng giảm đi một cách đáng kể ở những bệnh nhân bị xơ gan, suy thận mạn tính (chronic renal failure), những người được cấy ghép các bộ phận cơ thể (organ transplant recipients) và những người bị suy giảm miễn dịch. Ở những bệnh nhân lọc máu kinh niên (chronic hemodialysis), tỉ lệ đáp ứng với thuốc chủng chỉ có khoảng 50 đến 60 phần trăm. Dù vậy, khi so sánh với những bệnh nhân lọc máu kinh niên không được chích ngừa, nguy cơ bị nhiễm viêm gan B ở những người được chích ngừa cũng giảm đi đến 70 phần trăm. C ) Sau khi chích ngừa có cần phải kiểm tra sự hiệu quả của thuốc ngừa hay không? Thử như thế nào?
  10. Ở người mạnh khoẻ và trẻ, nói chung, không cần thiết lắm phải kiểm tra hiệu quả của thuốc chủng sau khi chích, vì tỉ lệ đáp ứng với thuốc lên đến 95 phần trăm. Các trường hợp cần phải kiểm tra là ở các nhân viên y tế (phải tiếp xúc với máu hàng ngày nên có nguy cơ cao), các bệnh nhân lọc máu, cũng như những người có nguy cơ cao bị nhiễm virus viêm gan B hoặc có tỉ lệ đáp ứng với thuốc thấp (như đã trình bày ở các câu hỏi trên). Kiểm tra hiệu quả thường nên được thực hiện một hoặc hai tháng sau khi chích ngừa đủ ba mũi (trừ trường hợp các bé sinh bỡi mẹ bị đã bị nhiễm viêm gan B, thì thử ở tuổi từ 9 đến 15 tháng). Bằng cách thử mức HBsAb như nói trên. Những người khi kiểm tra mà thấy chưa có miễn dịch thì nên chích một đợt thứ hai (cũng ba mũi). Theo một số nghiên cứu, những người cần chích đợt hai có tỉ lệ đáp ứng với thuốc từ 50 đến 70 phần trăm. Sau đợt chích thứ hai, nên thử lại xem mình đã có miễn dịch hay chưa. D ) Bao nhiêu lâu thì cần chích ngừa lại viêm gan B? Mức độ kháng thể chống với viêm gan B thường giảm theo thời gian, tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy dù khi mức độ kháng thể đã giảm xuống, tỉ lệ người đã chích ngừa bị nhiễm viêm gan B rất thấp, và nếu có bị nhiễm cũng nhẹ hơn. Sự bảo vệ của thuốc có vẽ như có thể kéo dài từ 10 đến 12 năm ở những người có đáp ứng tốt với thuốc ngay từ đầu (HBsAb trên 100 IU/L). Hiện nay, chưa có hướng dẫn chính thức bao nhiêu lâu thì nên chích bồi (booster injection) trừ trường hợp ở những người lọc máu kinh niên thì cần phải kiểm tra mức HBsAb hàng năm để chích bồi khi HBsAb giảm xuống dưới 10 IU/L (ở những người mạnh khoẻ khác, chưa có qui định này vì như nói trên, dù mức HBsAb xuống thấp, có vẽ như cơ thể vẫn có phản ứng tương đối tốt nếu bị nhiễm virus viêm gan B). Gần đây, đang có dự định thay đổi lịch chích ngừa để chích bồi viêm gan B ở những trẻ em đã được chủng ngừa. Nếu cẩn thận, có lẽ ta nên kiểm tra độ miễn nhiễm sau khi chích, và
  11. nếu có miễn dịch rồi, cứ sau khoảng mười năm thì kiểm tra lại và chích bồi nếu cảm thấy cần thiết (chỉ tốn tiền thuốc chứ (cho tới nay) không (thấy) hại gì. Câu hỏi 4 : Phụ nữ bị viêm gan B có nên lập gia dình và sinh con không ? làm thế nào để phòng bệnh cho bé ? Trả lời : Mẹ mang thai lây con không do đường cuống rốn mà là lúc chuyển dạ và săn sóc, gần gủi sau đó . Nếu mẹ HbsAg (+) HbeAg (+) tỉ lệ lây cho con gần như trên 80% , nếu mẹ HbsAg (+), HbeAg (-) tỉ lệ lây cho con 10 - 15% . Nếu sinh mổ thì không lây . Những đứa con nhiễm siêu vi B từ lúc lọt lòng hầu như trên 90% sẽ thành nhiễm mãn tính . Trong một nghiên cứu tại Singapore, HbsAg được phát hiện 43% những đứa trẻ sinh ra từ mẹ HbsAg (+) . Theo dõi những đứa trẻ này thấy khoảng 75% trở thành nhiễm mãn tính. Tuy nhiên vấn đề lây lan qua vợ chồng hay từ mẹ sang con đều có thể phòng ngừa được nhờ có vaccin. Do đó những người phụ nữ HbsAg (+) vẫn có thể lập gia đình và sinh con bình thường. Nếu có thai mà đang bị viêm gan B, cần phải báo cho bác sĩ biết (dù rằng thường thì khi có bầu, các bác sĩ vẫn cho thử xem có bị viêm gan B hay không). Những em bé sinh từ bà mẹ bị viêm gan B (HBsAg dương tính) cần phải được chích thuốc ngừa và kháng thể trong vòng 12 tiếng đồng hồ từ lúc sinh . Câu hỏi 5 : Người yêu bị viêm gan B ,vậy khi hôn nhau có khả năng mắc bệnh không ? Trả lời : Ơn trời là không , trừ trường hợp người yêu bạn bị viêm lợi hoăc chảy máu chân răng thì sẽ lây qua nước bọt .
Đồng bộ tài khoản