Những khe hở chết người (Phần cuối)

Chia sẻ: Than Kha Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

0
150
lượt xem
69
download

Những khe hở chết người (Phần cuối)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các nhà đầu tư thường không am hiểu cách làm thế nào để có thêm tiền đầu tư vào nó và biến nó thành loại cổ phiếu số một trong danh mục đầu tư của mình. Để điều khiển danh mục đầu tư của mình một cách chính xác, các nhà đầu tư cần có những quy luật mua và những quy luật bán, nhưng họ cũng cần biết tất cả các điều có liên quan tới cổ phiếu, thêm chúng vào khi thích hợp và cuối cùng bán chúng đi khi chúng đã chạm đỉnh và chuẩn bị theo...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những khe hở chết người (Phần cuối)

  1. Những khe hở chết người (Phần cuối) Mối lo từ các chuyên gia Các nhà đầu tư thường không am hiểu cách làm thế nào để có thêm tiền đầu tư vào nó và biến nó thành loại cổ phiếu số một trong danh mục đầu tư của mình. Để điều khiển danh mục đầu tư của mình một cách chính xác, các nhà đầu tư cần có những quy luật mua và những quy luật bán, nhưng họ cũng cần biết tất cả các điều có liên quan tới cổ phiếu, thêm chúng vào khi thích hợp và cuối cùng bán chúng đi khi chúng đã chạm đỉnh và chuẩn bị theo chiều hướng đi xuống. Nếu nhà đầu tư tuân theo phương pháp như trên có lẽ họ sẽ sở hữu những cổ phiếu tốt nhất trong vòng một tới hai năm. Ngoài ra, các nhà đầu tư riêng lẻ không thể đúng trong tất cả những quyết định đầu tư của mình và điều này cũng không cần thiết. Ngay cả khi sở hữu những cổ phiếu hàng đầu, các nhà đầu tư cũng cần biết cách điều khiển nó, chuyển nó thành tiền mặt vào những thời điểm hợp lý để tránh sự khủng hoảng. Để làm được tất cả các công việc trên, các nhà đầu tư thường nhờ cậy đến một số nhân vật chiếm vị trí quan trọng trong thị trường chứng khoán. Đó là các chuyên gia phân tích. Với tính chuyên nghiệp hoá được đề cao, Wall Street bắt đầu xuất hiện giới chuyên gia phân tích. Các công ty thuê chuyên gia phân tích, ngân hàng thuê chuyên gia phân tích, người kinh doanh thuê chuyên gia phân tích, và hãng kiểm toán thuê chuyên gia phân tích. Vài người trong số họ là dân phân tích bậc thầy nhưng vài kẻ khác chỉ dừng lại ở trình độ buôn bán nước bọt và thậm chí là dân “ba xạo” chuyên nghiệp. Hàng loạt scandal Wall Street thời gian qua đều có sự “đóng góp” ít nhiều của giới phân tích. Nạn lừa gạt trong giới phân tích xảy ra một phần do cơ chế hưởng hoa hồng. Chuyên gia phân tích Henry Blodget của Merril Lynch (dính vài vụ Debase Kanjilai) đã tư vấn cho 52 thương vụ giao dịch ngân hàng từ tháng 12 năm 1999 đến tháng 11 năm 0201, đem lại 115 triệu USD cho công ty mình và được hưởng từ 3 đến 12 triệu USD. Với tỷ lệ hoa hồng cao như vậy, các chuyên gia phân tích dễ sẵn sàng làm mọi thứ đế giúp công ty đạt doanh thu cao. Wall Street không bao giờ thừa nhận họ trả tiền trực tiếp cho giới chuyên gia phân tích từ những thương vụ làm ăn trực tiếp. “Tiền hoa hồng của các chuyên gia phân tích phụ thuộc lợi nhuận của công ty”, phát ngôn viên Susan McCabe của Merrill Lynch nói, “Họ không bao giờ thực hiện bất kỳ thương vụ nào và lén lút nhận chi phiếu”. Tuy nhiên, giới chuyên gia phân tích tiếp tục là phần “không thể thiếu” trong những scandal Wall Street. Trong vụ Worldcom, nhân vật đã được chú ý là Jack Grubman, chuyên gia phân tích thị trường viễn thông cho công ty tư vấn Salomon Smith Barney, thuộc tập đoàn ngân hàng Citigroup. Grubman được trả đến 20 triệu USD/năm cho
  2. những thương vụ giữa Salomon Smith Barney và các công ty khác trong đó có Worldcom. Một vụ khác cho thấy vai trò nguy hiểm của giới phân tích thị trường nguy hiểm như thế nào. Trong vụ Enron, nhiều nhà phân tích tài chính liên tục đánh giá cao công ty này, cho đến sát thời điểm nó sụp đổ. Theo tạp chí tài chính Bloomberg Markets, đến giữa tháng 10 năm 2001, vẫn có ít nhất 6 nhà phân tích nổi tiếng ở Wall Street tiếp tục khuyên nên mua cổ phiếu của Enron. Chưa đầy hai tháng sau, ngày 2 tháng 12 năm 2001, Enron đệ đơn xin phá sản. Dường như, những scandal Wall Street đều không đơn thuần là các vụ phá sản thông thường mà đằng sau đó là những bê bối đạo đức, trong đó vụ hãng kiểm toán Athur Andersen (liên quan đến Enron lẫn Worlcom) bị cáo buộc cố tình cản trở điều tra liên bang; giám đốc điều hành của IM Clone Systems bị cáo buộc tội mua bán gian trá; hãng truyền hình cáp Adelphia Communications lớn thứ sáu của Mỹ gian lận kế toán; công ty thiết bị văn phòng Xerox tâng bốc doanh thu nhằm duy trì giá cổ phiếu ổn định; ông trùm Dennis Kozlowski của tập đoàn Tyco trốn thuế; hãng viễn thông Worlcom làm sai lệch kế toán số tiền khổng lồ 3,85 tỷ USD,… Cần nhắc lại Worldcom đang nợ 2,65 tỷ USD và vào thời điểm trước khi vụ việc đổ bể, tập đoàn này còn thương lượng vay 5 tỷ USD. Trong số ngân hàng trở thành nạn nhân của Worlcom có Ngân hàng Bank of America, JP Morgan Chase, Citigroup, FleetBosston Finacial, Mellon Financial, Bank One, Well Fargo,… Từ tháng 3 năm 2002, Worldcom bắt đầu gây chú ý khi SEC thực hiện cuộc điều tra tại sao và làm thế nào mà Worldcom cho tổng giám đốc điều hành (cũng là người sáng lập) Bernie Ebbers vay 366 triệu USD trước khi Ebbers tuyên bố từ chức vào cuối tháng 4 năm 2002 (và được hưởng lương hưu 1,5 triệu USD/ năm đến suốt đời). Nhà trắng cũng không ngoại lệ Tạm gạt bỏ chi tiết Worldcom từng ủng hộ hơn 4 triệu USD cho các chiến dịch tranh cử của Đảng Cộng hoà lẫn Đảng dân chủ trong một thập niên qua (tương tự Enron), điều hiện được chú ý là bản thân tổng thống Mỹ Bush cũng đang bị dòm ngó. Năm 1989, thời ông Bush có chân trong ban giám đốc tập đoàn năng lượng Harken, SEC từng buộc công ty này sửa lại sổ sách kế toán để xác minh việc hàng triệu USD thất thoát không rõ nguyên nhân. Lúc đó, người ta tin rằng có những vụ kinh doanh cổ phiếu trong nội bộ Harken và Bush đã bán số cổ phiếu trị giá 848.000 USD cho Harken vào hai tháng trước khi công ty chính thức báo cáo kinh doanh lỗ. Cụ thể, Bush bán lại số cổ phiếu trên với giá 4 USD vào tháng 6 năm 1990 nhưng nó chỉ còn 1 USD vào cuối năm. Cần nói thêm, công ty kiểm toán Arthur Andersen, nơi chịu trách nhiệm giám sát sổ sách Worlcom lẫn Enron, từng là nhà kiểm toán của Harken vào thời điểm tổng thống Bush bán cổ phiếu. Sau vụ Enron xảy ra năm 2001, tổng thống Bush đã đề xuất một kế hoạch cải tổ 10 điểm (liên quan đến Wall Street) trong đó có phần mang nội dung bắt buộc các
  3. giám đốc điều hành phải tiết lộ khi nào bán hoặc mua cổ phiếu công ty mình. Bây giờ, cánh dân chủ đang đòi tổng thống Bush kể lại câu chuyện cũ ở Harken. Lợi nhuận luôn được coi trọng nhưng có lẽ năng lực thực sự và đạo đức nghề nghiệp càng cần được trân trọng hơn. Các nhà đầu tư đem toàn bộ tài sản và sự nghiệp của mình phó thác cho những tờ giấy cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, một trong những phát minh vĩ đại nhất của con người. Nhưng tại nhiều nơi, chính tài sản và sự nghiệp của các nhà đầu tư lại bị chính một số khe hở về cơ chế, quy tắc và đạo đức chi phối để rồi chìm nổi cùng với nó. Warren Buffet đã từng nhận định: “Ta đâu còn là ta nữa khi sống trong thị trường chứng khoán”. Và tất cả mọi người đều muốn trả lời một câu hỏi: “Trong hoạt động kinh doanh chứng khoán, đứng trước những khe hở chết người như vậy, liệu chúng ta còn có thể giữ vững được sự độc lập và vượt lên nó hay không?”.
Đồng bộ tài khoản