ÔN TẬP KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Chia sẻ: vuzlong

Tài liệu tham khảo và dùng ôn tập môn Kinh tế chính trị

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: ÔN TẬP KINH TẾ CHÍNH TRỊ

 

  1. Tài liệu ôn tập Môn: Kinh tế chính trị ♣ Vấn đề I: sản xuất và tái sản xuất xã hội 1. Vì sao Mác khẳng định: Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại? - Trong đời sống xã hội có rất nhiều những hoạt động khác nhau như hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, Khoa học kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật... Nhưng để thực hiện được mục đích của các hoạt động đó thì trước hết đòi hỏi con người phải tồn tại, phải sống. Muốn tồn tại, muốn sống thì bắt buộc con người hàng ngày phải tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt cần thiết như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, tư liệu sản xuất ... tất cả những tư liệu sinh hoạt đó không phải là những sản phẩm do tự nhiên hay thượng đế ban phát mà nó là sản phẩm của quá trình lao động sản xuất của con người tạo ra. Vì vậy Mác khẳng đinh rằng quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và sống còn của lịch sử nhân loại. 2. Phân tích vai trò của các nhân tố cấu thành quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất và sự hình thành ra các bộ phận trong cơ cấu giá trị của sản phẩm. Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Nhưng muốn có quá trình sản xuất đó thì Các Mác chỉ ra cần phải có 3 nhân tố sản xuất cơ bản đó là đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. a) Đối tượng lao động: - Khái niệm: Đối tượng lao động là toàn bộ các vật mà lao động của con người tác động vào làm thay đổi nó cho phù hợp với mục đích của con người. - Đối tượng lao động bao gồm: : + Những vật có sẵn trong tự nhiên nhưng đã được thăm dò, qui hoạch đưa vào sản xuất (quặng, cây trên rừng,…là đối tượng của ngành khai thác, khai khoáng + Những vật đã trải qua chế biến (kết quả của quá trình trước là nguyên liệu của quá trình sau): bông là nguyên vật liệu, là đối tượng lao động của ngành chế biến chế tạo b) Tư liệu lao động: 1
  2. - Khái niệm: tư liệu lao động là các vật, hệ thống các vật dùng để truyền dẫn lao động của con người tác động vào đối tượng lao động. - Tư liệu lao động bao gồm: + Công cụ lao động tác động trực tiếp vào đối tượng lao động, công cụ lao động giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất, công cụ lao động phản ánh sự phát triển của mỗi thời đại kinh tế. Cối xay chạy bằng sức gió -> xã hội phong kiến lạc hậu Cối xay chạy bằng động cơ hơi nước -> chủ nghĩa tư bản văn minh + Các vật dùng để chứa đựng và truyền dẫn đối tượng lao động: bể chứa, ống dẫn, băng tải,… + Các yếu tố hình thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật: đường xá, bến bãi,… * Giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động phân biệt chi là tương đối: - Khác nhau: ở vai trò trong quá trình sản xuất, hình thái tồn tại tự nhiên, phương thức chu chuyển giá trị. - Giống nhau: Chúng đều là yếu tố vật chất, nếu xét trong quá trình sản xuất sản phẩm thì đối tượng lao động và tư liệu lao động hình thành tư liệu sản xuất - đây là yếu tố vật chất hình thành nên sản phẩm. a) Sức lao động: - Khái niệm: Sức lao động là tổng hợp sức thân thể, sức thần kinh, sức cơ bắp có sẵn trong mỗi cơ thể của con người, sức lao động không tồn tại ngoài con người, sức lao động là khả năng lao động của mỗi con người. Lao động là sự vận dụng (tiêu dùng) sức lao động được thể hiện ra trong quá trình lao động sản xuất. - Như vậy quá trình lao động sản xuất diễn ra là sự kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, trong đó sức lao động là yếu tố chủ thể, giữ vai trò quyết định; tư liệu sản xuất là yếu tố khách thể, là điều kiện vật chất không thể thiếu được. - Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người và nó diễn ra giữa con người với tự nhiên nhằm cải tạo tự nhiên cho phù hợp với mục đích của con người. - Phân biệt sức lao động và lao động: Sức lao động là một phạm trù hiện hữu, lao động là một phạm trù trừu tượng, vì vậy Mác cho rằng người ta không thể nhìn thấy, sờ mó thấy lao động mà lao động chỉ được thể hiện ra trong thực tiễn khi con người vận dụng sức lao động để tiến hành quá trình sản xuất. - Đặc điểm lao động của con người khác với hoạt động của loài vật: + Lao động của con người là hoạt động có mục đích, có dự định, tính toán trước + Lao động của con người biết chế tạo và sử dụng công cụ, 2
  3. chính quá trình lao động hình thành nên ý thức của con người. + Lao động của con người có tính sáng tạo, tính tự giác và tính xã hội. - Bất kỳ sản phẩm nào do lao động của con người tạo ra thì nó cũng có giá trị, trong cơ cấu giá trị của sản phẩm bao gồm 2 bộ phận cấu thành đó là giá trị cũ (C) và giá trị mới (V+m) hay tổng cơ cấu giá trị sản phẩm là C+V+m Vai trò hai mặt của lao động trong hình thành các bộ phận cấu thành của lượng giá trị hàng hoá: + Lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị cũ (giá trị tư liệu sản xuất) vào giá trị sản phẩm (C) + Lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (V+m) Giá trị mới nhập giá trị cũ tạo ra tổng lượng giá trị hàng hoá: C+V+m 3. Phương thức sản xuất xã hội là gì? phân tích mối quan hệ giữa 2 mặt cấu thành phương thức sản xuất xã hội. - Khái niệm: Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa 2 mặt của nền sản xuất xã hội đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã từng lần lượt trải qua 5 phương thức sản xuất từ thấp đến cao: xã hôi công xã nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản (mà giai đoạn đầu của nó là CNXH) - Hai mặt của quá trình lao động sản xuất: Quá trình sản xuất ra của cải vật chất là quá trình kết hợp một cách biện chứng giữa hai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. * Lực lượng sản xuất: hay là sức sản xuất của xã hội nó phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, thể hiện khả năng chế ngự tự nhiên của con người. Lực lượng sản xuất bao gồm: + Toàn bộ tư liệu sản xuất, trong đó công cụ lao động giữ vai trò quyết định + Là con người lao động cùng với những kỹ năng, kinh nghiệm, trí thức tích luỹ. + Ngày nay dưới sự tác động của tiến bộ khoa học và công nghệ thì bản thân khoa học và công nghệ cũng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong lực lượng sản xuất thì yếu tố lao động của con người luôn luôn là yếu tố chủ thể và giữ vai trò quyết định, còn tư liệu sản xuất là yếu tố khách thể giữ vai trò quan trọng đồng thời khoa học công nghệ trở thành yếu tố quan trọng , nó có khả năng làm thay đổi nhanh chóng cả vai trò và năng lực của yếu tố chủ thể và cũng như yếu tố khách thể. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nó phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con người và đồng thới nó cũng khẳng 3
  4. định trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội giữa các quốc gia khác nhau. * Quan hệ sản xuất: Là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm: + Quan hệ giữa người với người trong chiếm hữu tư liệu sản xuất, gọi lại quan hệ sở hữu (sở hữu là hình thức xã hội của chế độ chiếm hữu) . Chiếm hữu là quan hệ giữa người với vật, là mặt tự nhiên của sản xuất . Sở hữu là quan hệ giữa người với người đối với vật, là hình thức xã hội của chiếm hữu. + Quan hệ giữa người với người trong quá trình trao đổi hoạt động, gọi là quan hệ tổ chức quản lý. + Quan hệ giữa người với người trong quá trình phân phối sản phẩm, gọi là quan hệ phân phối. Trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định đối với quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối, ngược lại hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối có tác động tích cực đối với quan hệ sở hữu. Nếu hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối phù hợp thì củng cố hoàn thiện quan hệ sở hữu, nếu không phù hợp nó trở thành lực lượng kìm hãm. (ý nghĩa thực tiễn ở nước ta ?) * Giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối liên hệ biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của nền sản xuất, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nền sản xuất: - Lực lượng sản xuất luôn vận động phát triển đòi hỏi quan hệ sản xuất phải thay đổi, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất có tác động tích cực đối với lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp thì sẽ thúc đẩy lượng sản xuất phát triển, nếu không phù hợp (quá chật hẹp, quá mở rộng) đều kìm hãm lực lượng sản xuất. - Mối quan hệ biện chứng lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phản ánh qui luật khách quan đó là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây là quy luật kinh tế chung của mọi phương thức sản xuất và suy đến cùng sự thay đổi lần lượt các phương thức sản xuất trong lịch sử là do qui luật này chi phối. * Vậy, Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa 2 mặt của nền sản xuất xã hội đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nếu vượt khỏi nó chuyển sang một phương thức sản xuất mới. 4) Thế nào là tái sản xuất? Phân biệt các loại hình tái sản xuất. Trình bày nội dung và các khâu cơ bản của quá trình tái sản xuất xã hội? 4
  5. - Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và không ngừng đổi mới. - Phân loại tái sản xuất: + Căn cứ vào qui mô của sản xuất phân thành tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng: Tái sản xuất giản đơn: là quá trình sản xuất của năm sau được lắp lại với quy mô như năm trước. Tái sản xuất giản đơn là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ dựa trên lao động thủ công, năng suất thấp Tái sản xuất mở rộng: là quá trình sản xuất năm sau lắp lại với qui mô lớn hơn năm trước. Tái sản xuất mở rộng là đặc trưng của sản xuất lớn, công nghiệp, tập trung, năng suất cao. Điều kiện để tái sản xuất mở rộng là phải tích luỹ. + Căn cứ vào tính chất của tái sản xuất mở rộng phân thành tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu. Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng là tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra bằng cách tăng số lượng các yếu tố đầu vào. Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu là tăng số lượng sản phẩm sản xuất bằng cách tăng năng suất và tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất. - Các giai đoạn của tái sản xuất: Quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục qua các khâu nối tiếp nhau: Sản xuất - Phân phối - Trao đổi - Tiêu dùng. + Sản xuất là khâu mở đầu, giữ vai trò quyết định vì kết quả của sản xuất là tạo ra khối lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ vì vậy nó có vai trò quyết định đối với quy mô của tiêu dùng. mở rộng + Tiêu dùng là khâu kết thúc của quá trình này nhưng là khâu mở đầu của quá trình sau. Tiêu dùng là mục đích, là động lực của sản xuất, qua tiêu dùng sẽ kích cầu để thúc đẩy tái sản xuất. + Phân phối và trao đổi là nối liền sản xuất với tiêu dùng, phân phối do sản xuất quyết định nhưng có tác động tích cực đối với sản xuất. Trao đổi là khâu tiếp tục hoàn thành phân phối để đI vào tiêu dùng, có tác động đến tiêu dùng. Bốn khâu của chu kỳ tái sản xuất như đã phân tích tuy độc lập với nhau theo các chức năng kinh tế cụ thể nhưng giữa chúng có một mối quan hệ biện chứng phụ thuộc vào nhau. Nếu bị trục trặc một khâu thì toàn bộ quá trình tái sản xuất sẽ bị ngừng trệ nền kinh tế sẽ bước vào thời kỳ suy thoái hay khủng hoảng - Nội dung của tái sản xuất: + Tái sản xuất ra của cải vật chất: tư liệu sinh hoạt và tư liệu tiêu dùng. + Tái sản xuất ra quan hệ sản xuất + Tái sản xuất ra sức lao động + Tái sản xuất ra môi trường tự nhiên và điều kiện sống 5
  6. 5) Thế nào là tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế? Mối quan hệ giữa hai chỉ tiêu kinh tế (Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế). - Tăng trưởng kinh tế là sự tăng sản lượng quốc gia tính bằng giá trị trong một thời gian nhất định, thường là một năm - Sản lượng quốc gia được tính bằng các chỉ tiêu: + GDP: Tổng sản phẩm quốc nội + GNP: Tổng sản phẩm quốc dân Trong đó: GNP = GDP + Thu nhập từ nướcngoài - Mức tăng trưởng hàng năm được tính của nền kinh tế sử dụng công thức (GNP1- GNP0) ---------------- *100% GNP0 GNP1: Năm sau GNP0: Năm trước - Nhân tố tăng trưởng kinh tế: + Nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định. + Khoa học công nghệ là động lực + Tài nguyên và vốn + Thể chế chính trị - Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế ổn định gắn liền với hoàn chỉnh cơ cấu và thể chế kinh tế - Nội dung của tăng trưởng kinh tế: Sự tăng trưởng ổn định: Phát triển kinh tế có nội dung rộng hơn tăng trưởng kinh tế, bao gồm cả việc chuyển dịch cơ cấu và hoàn thiện thể chế kinh tế, việc bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, đảm bảo phát triển bền vững. - Những nhân tố phát triển kinh tế: + Sự phát triển của lực lượng sản xuất + Mức độ hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. + Sự tác động của kiến trúc thượng tần: Thể chế chính trị, đường lối chính sách hệ thống pháp luật. Vấn đề II: sản xuất hàng hoá và các quy luật của sản xuất hàng hoá I. Điều kiền ra đời, đặc trưng và ưu thế của kinh tế hàng hoá: (sản xuất hàng hoá và kinh tế hàng hoá là một, kinh tế -> xem về hình thái, sản xuất xem về quá trình sản xuất ra sản phẩm) 6
  7. 1. Khái niệm sản xuất hàng hoá: Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để bán, để trao đổi trên thị trường. Sản xuất hàng hoá tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất: chiếm hữu nô lệ, phong kiến…chủ nghĩa xã hội, nhưng ngược lại thì một phương thức sản xuất trong đó có nhiều hình thức tổ chức kinh tế khác nhau: kinh tế hàng hoá, kinh tế tự nhiên,…Sản xuất hàng hoá không đồng nhất với phương thức sản xuất. - Kinh tế tự nhiên (sản xuất tự cung, tự cấp) là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để tiêu dùng cho người sản xuất ra nó. • Đặc trưng của kinh tế tự nhiên: + Mục đích sản xuất ra sản phẩm là để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra nó. + Các quan hệ kinh tế thể hiện dưới hình thái hiện vật + Kiểu tổ chức kinh tế khép kín, bảo thủ, mang tính truyền thống. Kinh tế tự nhiên phát triển đã tạo ra những điều kiện tiền đề để phát triển kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá ra đời “phá vỡ” kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, kinh tế tự nhiên ngày càng bị thu hẹp. 2. Điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá: + Phân công lao động xã hội (Đây là điều kiện cần) + Tồn tại sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất (điều kiện đủ) a) Phân công lao động xã hội - Khái niệm: Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các hình thức khác nhau, sự phân chia nền kinh tế thành ngành nghề Do sự chuyên môn mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài loại sản phẩm nhưng nhu cầu lại cần nhiều loại sản phẩm khác nhau cho nên người này cần sản phẩm của người kia, giữa họ hình thành mối quan hệ trao đổi sản phẩm cho nhau. Chính phân công lao động xã hội là cơ sở của sự trao đổi. b) Sự tách biệt về kinh tế: Giữa những người sản xuất chia rẽ nhau, độc lập nhau, mỗi người là một chủ thể tách biệt, trong điều kiện này thì việc trao đổi sản phẩm được thực hiện dưới hình thái là trao đổi hàng hoá, tức là thông qua quan hệ hàng hoá, tiền tệ. Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại dựa trên hai điều kiện trên, chừng nào còn tồn tại hai điều kiện đó thì kinh tế hàng hoá còn tồn tại khách quan. 3. Quá trình phát triển của kinh tế hàng hoá: qua các hình thức sau đây: 7
  8. - Sản xuất hàng hoá giản đơn. - Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của những người nông dân, thợ thủ công, cá thể dựa trên chế độ tư hữu nhỏ và lao động của chính bản thân họ. Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, quá trình sản xuất diễn ra là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà tư bản với sức lao động của công nhân làm thuê. Phân biệt sản xuất hàng hoá giản đơn và sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa: - Giống nhau: Đều là sản xuất hàng hoá dựa trên hai điều kiện. - Khác nhau: Sản xuất hàng hoá giản đơn Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa - Trình độ thấp, qui mô nhỏ, phân - Trình độ cao, tập trung, sản tán, dựa trên lao động thủ công xuất công nghiệp cơ khí - Mục đích: Sản xuất ra hàng hoá - Mục đích là giá trị thặng dư để trao đổi nhằm giá trị sử dụng khác - Trong quá trình sản xuất: Là sự - Trong quá trình sản xuất kết kết hợp trực tiếp giữa sức lao hợp gián tiếp tư liệu sản xuất động và tư liệu sản xuất của của nhà tư bản với sức lao chính họ động làm thuê của công nhân - Trong quá trình trao đổi: Sản - Trao đổi giữa nhà tư bản với xuất hàng hoá giản đơn trao đổi công nhân: Nhà tư bản chiếm dựa trên cơ sở ngang giá không đoạt giá trị thặng dư nhưng dẫn đến người này chiếm đoạt không vi phạm ngang giá. người kia Sản xuất hàng hoá phát triển trình độ cao, trong đó mọi quan hệ kinh tế đều được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ và được giải quyết thông qua tiền tệ, chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế của thị trường gọi là kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, không phải bất cứ kinh tế hàng hoá nào cũng là kinh tế thị trường. 4. Đặc trưng và những ưu thế của kinh tế hàng hoá: Kinh tế hành hoá là bước phát triển tất yêu của lịch sử, nó có đặc điểm và ưu thế hơn hẳn kinh tế tự nhiên. - Kinh tế hàng hoá ra đời “phá vỡ” kinh tế tự nhiên, nó phát triển mở cửa giải phóng sức sản xuất. - Mục đích của sản xuất hàng hoá là ra đời là thỏa mãn nhu cầu cho xã hội, khi nhu cầu tăng thì nó tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. - Trong nền kinh tế hàng hoá, lợi nhuận luôn là mục đích, là 8
  9. động lực của các hoạt động kinh tế. Để thu được nhiều lợi nhuận thì từng người sản xuất cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, hạ thấp chi phí sản xuất, tạo động lực thúc đẩy kinh tế. - Kinh tế hàng hoá ra đời, tồn tại dựa trên sự phát triển của phân công lao động nhưng khi kinh tế hàng hoá phát triển, mở rộng trao đổi thì nó tạo ra tiền đề để thúc đẩy phân công lao động chuyên môn hoá. - Kinh tế hàng hoá phát triển thích ứng và hết sức năng động đã tạo điều kiện và khả năng và cả nhu cầu để nâng cao trình độ tổ chức quản lý. Vấn đề III: Hàng hoá 1. Hàng hoá là gì? phân tích các thuộc tính cơ bản của hàng hoá. * Khái niệm: Hàng hoá là sản phẩm của lao động nó có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, nó được sản xuất ra để bán, trao đổi trên thị trường. * Phân tích các thuộc tính cơ bản của hàng hoá: Hàng hoá có hai thuộc tính: - Thoả mãn nhu cầu của con người, tức là hàng hoá có giá trị sử dụng. - Dùng để trao đổi, tức là hàng hoá có giá trị trao đổi (hay là giá trị) a) Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của vật, nhờ thuộc tính tự nhiên của nó có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Nội dung của giá trị sử dụng: + Công dụng của vật là do thuộc tính tự nhiên quyết định (lý tính, hoá tính) + Công dụng và phương pháp để lợi dụng nó dần được phát hiện ra cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật. + Giá trị sử dụng được thể hiện ra khi tiêu dùng thoả mãn nhu cầu của con người. + Giá trị sử dụng là nội dung của cải, là phạm trù vĩnh viễn, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào tính chất xã hội. + Trong điều kiện kinh tế thị trường, giá trị sử dụng là cho người khác thông qua trao đổi, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi. b) Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng giữa giá trị sử dụng này với giá trị sử dụng khác. Phương thức trao đổi là 1m vải = 5 kg thóc. Lúc mới trao đổi chưa có tiền, sản phẩm nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp. Vấn đề đặt ra là 2 giá trị sử dụng khác nhau lại trao đổi được với nhau, tức là so sánh với nhau về lượng, chứng tỏ rằng giữa chúng phải có một cơ sở chung. Cơ sở chung đó không phải 9
  10. thuộc tính tự nhiên của vật, bởi vì thuộc tính tự nhiên quyết định công dụng của vật, trong trao đổi chỉ đổi những giá trị sử dụng khác nhau cho nhau. Sở dĩ hai hàng hoá trao đổi được với nhau trước hết chúng đều là sản phẩm của lao động, nhưng trong trao đổi người ta không xét đến những hình thức cụ thể của lao động. Kết luận: Để hai hàng hoá trao đổi với nhau bởi vì chúng đều là những vật kết tinh của cùng lao động đồng nhất, lao động con người đã được hao phí vào đó, kết tinh vào đó. Khi chủ vải đồng ý trao đổi với chủ thóc, tức là hao phí lao động để sản xuất ra 1 m vải = hao phí lao động sản xuất 5 kg thóc, có nghĩa là giá trị 1m vải = giá trị 5 kg thóc. Vậy: Giá trị hàng hoá là lao động xã hội (lao động đồng nhất) của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá. Nhận xét: - Giá trị hàng hoá do lao động tạo ra, vật gì không do lao động tạo ra thì không có giá trị, tuy rằng vật đó cần thiết cho con người VD: Không khí tự nhiên, nước sông, nước suối, cây quả trong rừng, cá dưới sông, dưới biển… có giá trị sử dụng rất lớn đối với sự sống của con người, có nghĩa là nó có giá trị sử dụng hoặc công dụng rất cao, nhưng nó không phải là sản phẩm do lao động của con người tạo ra, nó không kết tinh sự hao phí của lao động con người trong đó vì vậy nó không phải là hàng hoá và nó không có giá trị. - Giá trị hàng hoá là trừu tượng, nó chỉ được biểu hiện trong trao đổi, vì vậy giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị, giá trị là nội dung, là bản chất. Vì vậy, Mác nghiên cứu giá trị hàng hoá bắt đầu từ giá trị trao đổi, tức là đi từ hình thức biểu hiện đến nội dung (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng) - Giá trị hàng hoá là phạm trù trừu tượng, nó được biểu hiện trong trao đổi, thực chất của trao đổi là trao đổi lao động cho nhau vì vậy phải qui mọi lao động khác nhau về lao động đồng nhất cho nên giá trị hàng hoá là biểu hiện mối quan hệ sản xuất xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá. - Giá trị hàng hoá là phạm trù lịch sử, nó chỉ tồn tại gắn liền với kinh tế hàng hoá - Giá trị hàng hoá là phạm trù vật chất, không tồn tại hình thái vật thể. 2) Vì sao hàng hoá có hai thuộc tính? Phân tích tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá: Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính giá trị (hay giá trị trao đổi) và giá trị sử dụng là bởi vì lao động của người sản xuất ra hàng hoá có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định hai thuộc tính của hàng hoá. * Lao động cụ thể: 10
  11. - Lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức nhất định, có nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có phương pháp riêng, có đối tượng riêng, mục đích riêng và kết quả riêng. VD: thợ may áo ->vải ->kéo, kim -> cắt, may -> áo Thợ xây -> gạch – Bay, xẻng.. -> xây, trát -> nhà Nội dung (Đặc trưng) của lao động cụ thể: + Lao động cụ thể là lao động khác nhau về chất, ví dụ lao động của người thợ dệt khác về chất với lao động của người nông dân. + Các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội. + Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của vật. + Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn. * Lao động trừu tượng: - Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hoá nếu xét đó là sự hao phí sức lao động nói chung của con người mà không kể đến hình thức cụ thể như thế nào. Ví dụ 1m vải = 5 kg thóc Xét về lao động cụ thể thì lao động của người thợ dệt và lao động của người nông dân khác về chất, về đối tượng, về mục đích. Nhưng đổi với nhau thì đằng sau sự khác nhau đó chứa đựng một cái gì chung. Gạt bỏ hình thức cụ thể của sức lao động đi thì lao động sản xuất ra vải và lao động sản xuất ra thóc đều là sự hao phí sức lao động nói chung của con người, hiểu theo nghĩa sinh lý đó là sự hao phí về sức cơ bắp, sức thần kinh của con người, đó là lao động trừu tượng. Nội dung (Đặc trưng) của lao động trừu tượng: + Lao động trừu tượng là lao động đồng nhất, đều là sự hao phí sức lao động nói chung của con người. + Lao động trừu tượng tạo ra thực thể (chất) của giá trị hàng hoá. + Lao động trừu tượng là phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại gắn với kinh tế hàng hoá. Tóm lại: Lao động cụ thể, lao động trừu tượng là hai mặt của cùng một lao động, nếu xét lao động cụ thể thì lao động đó khác nhau về chất và tạo ra cái gì, xét lao động trừu tượng thì đó là lao động đồng nhất chỉ khác nhau về lượng. Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, dựa trên phát hiện này ông xây dựng một hệ thống các phạm trù và qui luật kinh tế. * Mâu thuẫn cơ bản của lao động sản xuất hàng hoá đó là mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội. Một mặt, lao động của mỗi người sản xuất hàng hoá (trong sự tách biệt) trực tiếp mang tính tư nhân, việc sản xuất cái gì, như thế nào là riêng của từng người. 11
  12. Mặt khác, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội sản xuất ra sản phẩm là để thoả mãn nhu cầu của người khác, vì vậy lao động của mỗi người gián tiếp mang tính xã hội. Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội biểu hiện thành mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng, mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị. Mâu thuẫn trên được giải quyết thông qua trao đổi, nếu hàng hoá bán được thì lao động tư nhân được xã hội thừa nhận trở thành bộ phận của lao động xã hội, mâu thuẫn được giải quyết. Ngược lại, nếu hàng hoá không bán được tức là xã hội không thừa nhận, mâu thuẫn chưa được giải quyết, và được giải quyết thông qua một cuộc khủng hoảng kinh tế. 3. Thước đo lượng giá trị hàng hoá là gì? Phân tích các nhân tố quyết định lượng giá trị của hàng hoá. * Lượng giá trị hàng hoá: a) Thời gian lao động xã hội cần thiết: Giá trị hàng hoá do lao động tạo ra có mặt chất và mặt lượng: Chất của giá trị hàng hoá là lao động trừu tượng (lao động xã hội) Lượng của giá trị chính là số lượng của lao động đó Số lượng lao động lại được đo bằng thời gian lao động, thời gian lao động được chia thành ngày, giờ,...nhưng đó không phải là thời gian lao động cá biệt mà là thời gian lao động xã hội cần thiết. Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá trong điều kiện trung bình của xã hội, tức là với trình độ thành thạo trung bình, năng suất lao động trung bình và cường độ lao động trung bình. Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết quy định lượng giá trị hàng hoá, nó nghiêng về với thời gian lao động cá biệt của nhóm người sản xuất ra một khối lượng hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn cung cấp ra thị trường. Thời gian lao động trung bình không phải là trung bình số học mà là bình quân gia quyền: ∑t i qi T = ------------- ∑qi b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá: Lượng giá trị của 01 đơn vị hàng hoá thay đổi tỷ lệ thuận với số lượng lao động và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội. 12
  13. *) Năng suất lao động: - Năng suất lao động là hiệu quả có ích của lao động nó được xác định bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm. - Tăng năng suất lao động là tăng hiệu quả có ích của lao động biểu hiện là tăng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, là rút ngắn thời gian để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm. Tăng năng suất lao động (khi cường độ lao động không đổi) làm cho số lượng sản phẩm tăng nhưng lượng giá trị sản phẩm tạo ra trong thời gian đó không đổi, do đó giá trị của một đơn vị sản phẩm giảm xuống. Tăng năng suất lao động không phải tăng thêm sự hao phí về lao động mà là thay đổi trong cách thức của lao động Các nhân tố tăng năng suất lao động: - Nâng cao trình độ thành thạo của người lao động. - Cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật - Nâng cao hiệu quả sử dụng tư liệu sản xuất - Khai thác, sử dụng các điều kiện tự nhiên. *) Cường độ lao động: - Cường độ lao động là mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian. - Tăng tăng cường độ lao động là tăng mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian, biểu hiện là phải làm việc khẩn trương, nặng nhọc lên. - Tăng cường độ lao động (năng suất lao động không đổi) làm cho số lượng sản phẩm tăng nhưng lượng giá trị tạo ra trong thời gian đó tăng lên tương ứng do đó giá trị một đơn vị sản phẩm không thay đổi. Nếu ta xét trong sự hao phí sức lao động thì tăng cường độ lao động cũng là kéo dài thời gian lao động. Giữa tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động có sự khác nhau: + Lượng giá trị tạo ra + Giá trị một đơn vị sản phẩm + Mức bù đắp hao phí sức lao động để tái sản xuất sức lao động. *) Lao động giản đơn và lao động phức tạp: - Lao động giản đơn: là lao động không cần phải qua đào tạo chuyên môn nghề nghiệp, chỉ cần có sức lao động bình thường là có thể tiến hành quá trình sản xuất. - Lao động phức tạp: là lao động phải qua huấn luyện chuyên môn nghề nghiệp và được xác định bởi thang bậc của trình độ chuyên môn khác nhau. Nếu xét trong sự hình thành giá trị thì lao động phức tạp bằng bội số của lao động giản đơn. Trao đổi diễn ra trên thị trường đó là một quá trình quy mọi 13
  14. lao động phức tạp, lao động giản đơn về lao động giản đơn trung bình của xã hội. Vậy: lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động trung bình xã hội cần thiết. *) Phân biệt sự hình thành lượng giá trị hàng hoá trong nông nghiệp và trong công nghiệp: - Giống nhau: Lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. - Khác nhau: + Lượng giá trị hàng hoá trong công nghiệp được hình thành dựa trên điều kiện trung bình của ngành + Lượng giá trị hàng hoá trong nông nghiệp hình thành dựa trên điều kiện sả xuất xấu nhất (độ màu mỡ xấu nhất, xa nơi tiêu thụ nhất) vì: . Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, chỉ có hạn, là do độc quyền tư hữu và độc quyền kinh doanh ruộng đất nhưng trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi thì đã được đưa vào sản xuất kinh doanh. . Nhu cầu lương thực của xã hội ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu đó thì phải huy động cả vùng đất khó khăn vào tham gia sản xuất. Để đảm bảo tái sản xuất trên những vùng đất kho khăn đó trước hết phải đảm bảo đủ bù đắp được chi phí sản xuất và có lãi cho nên lượng giá trị của nông sản phẩm được hình thành trên điều kiện sản xuất xấu nhất. c) Cơ cấu của lượng giá trị hàng hoá: Giá trị hàng hoá do lao động tạo ra gồm hai bộ phận: - Gía trị cũ do lao động quá khứ tạo ra, được vật chất hoá vào lao động sản xuất (C) - Giá trị mới do lao động sống trực tiếp tạo ra (V+m) Tổng lượng giá trị hàng hoá: C+V+m * Vai trò hai mặt của lao động trong hình thành các bộ phận cấu thành của lượng giá trị hàng hoá. Lao động sản xuất hàng hoá có hai mặt: - Lao động cụ thể bảo tồn, di chuyển giá trị cũ, giá trị tư liệu sản xuất vào giá trị sản phẩm. - Lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (V+m) Giá trị mới nhập giá trị cũ được tổng lượng giá trị hàng hóa: C+V+m Vấn đề IV: Tiền tệ 1) Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ: - Tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu của quá trình phát triển 14
  15. lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Vì vậy, nghiên cứu nguồn gốc, bản chấ của tiền tệ là phải phân tích sự phát triển của các hình thái của giá trị (qua 4 hình thái) đến khi vật ngang giá thống nhất cố định ở vàng thì tiền tệ ra đời. Đây là sự vận dụng phương pháp trừu tượng hoá kết hợp với logic và lịch sử, quá trình này đi từ trừu tượng đến cụ thể. a) Hình thái giá trị giản đơn, ngẫu nhiên: Lúc mới trao đổi giữa những người sản xuất thường diễn ra hết sức tình cờ và ngẫu nhiên, người ta thường trao đổi vật lấy vật. Ví dụ 1 m vải = 5 Kg thóc: Hàng hoá vải tự nó không nói lên giá trị của mình, vải chủ động mang ra so sánh với thóc, hàng hoá thóc có công dụng phản ánh giá trị của vải. - Vải ở vào hình thái giá trị tương đối. - Thóc ở hình thái vật ngang giá. Hình thái giá trị tương đối và hình thái vật ngang giá là hai cực biểu hiện của giá trị, vừa thống nhất với nhau vừa không dung hoà với nhau. • Đặc điểm hình thái vật ngang giá: + Giá trị sử dụng trở thành hình thái biểu hiện của giá trị. + Lao động cụ thể trở thành hình thái biểu hiện của giá trị + Lao động tư nhân trở thành hình thái biểu hiện của lao động xã hội Phân công lao động xã hội phát triển thì trao đổi mở rộng. a) Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng: Trao đổi ngày càng mở rộng thì một hàng hoá có thể đổi được nhiều hàng hoá (giá trị một hàng hoá biểu hiện giá trị của nhiều hàng hoá), tỷ lệ trao đổi dần do hao phí lao động quyết định (Gía trị quyết định) Ví dụ: 1m vải có thể biểu hiện giá trị + 5 kg thóc + 1 cái rừu + 1 con cừu Trong trao đổi đã xuất hiện mâu thuẫn: Người này cần hàng hoá của người kia nhưng người kia cần hàng hoá của người khác. Giải quyết mâu thuẫn trên tức là trao đổi gián tiếp qua một hàng hoá mà ai cũng cần và trao đổi phát triển. c) Hình thái giá trị chung: - Đại phân công lao động xã hội phát triển thì trao đổi thường xuyên hơn, đòi hỏi cần có một hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, nhiều hàng hoá biểu hiện giá trị ở một hàng hoá là vật ngang giá, đây là sự phát triển mới nhất về chất. Ví dụ: + 5 kg thóc biểu hiện giá trị 5 kg thóc + 1 cái rừu biểu hiện giá trị 5 kg thóc + 1 con cừu biểu hiện giá trị 5 kg thóc 15
  16. Nhưng hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá mới chỉ thống nhất trong từng địa phương. Khi trao đổi mở rộng vượt khỏi phạm vi thì nảy sinh mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn trên đòi hỏi vật ngang giá phải thống nhất ở một hàng hoá, trao đổi phát triển ở hình thái cao hơn dẫn đến hình thái tiền tệ. d) Hình thái tiền tệ: Khi trao đổi trở nên thường xuyên hơn tất yếu đòi hỏi vật ngang giá phải thống nhất lại. Khi vật ngang giá thống nhất cố định ở vàng thì tiền tệ ra đời. Sở dĩ vàng đóng vai trò tiền tệ, bởi vì: - Vàng do thuộc tính tự nhiên quyết định: không bị oxy hoá, dễ dát mỏng, chia nhỏ, một trọng lượng nhỏ biểu hiện cho lượng lao động lớn. - Không phải do thuộc tính tự nhiên đó mà vàng trở thành tiền tệ mà do thuộc tính xã hội, do yêu cầu trao đổi phát triển mà tiền tệ ra đời. Tiền tệ ra đời làm thế giới phân chia làm hai: Một bên là tất cả các hàng hoá thông thường mà gía trị biểu hiện ở một bên là vàng – hàng hoá đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung. Vậy: Tiền là hàng hoá đặc biệt, tách khỏi thế giới hàng hoá, đóng vai trò là vật ngang giá chung cho mọi hàng hoá. (CH: Vì sao nói tiền tệ là hàng hoá đặc biệt) Sở dĩ gọi tiền tệ là hàng hoá đặc biệt bởi vì: + Tiền tệ (tiền vàng) cũng là một hàng hoá như mọi hàng hoá thông thường bởi vì nó cũng có hai thuộc tính cơ bản: giá trị sử dụng và giá trị. + Tiền tệ cho phép người ta có thể so sánh giá trị của mọi hàng hoá khác nhau với nhau. + Tiền tệ giúp cho người ta có thể cộng giá trị của các sản phẩm hàng hoá khác nhau về chất thành một đại lượng chung đó là giá trị biểu hiện thông qua một lượng tiền nhất định. 2) Chức năng cơ bản của tiền tệ: Bản chất của tiền còn được thể hiện ở 5 chức năng sau: - Tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị: Với chức năng này tiền tệ cho phép người ra có thể so sánh giá trị của các hàng hoá khác nhau với nhau. Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền phải có giá trị Để đo giá trị hàng hoá thì không nhất thiết phải là tiền mặt, chỉ cần một lượng tiền trong “ý niệm” cũng thực hiện được chức năng này. Để đo giá trị hàng hoá thì bản thân tiền tệ phải đo lường, chia thành đơn vị tiền tệ. Một đơn vị tiền tệ đại biểu cho một trọng lượng vàng nhất định gọi là tiêu chuẩn giá cả của tiền tệ. - Chức năng lưu thông: Lưu thông tìên tệ dựa trên cơ sở lưu thông hàng hoá, tiền thực hiện chức năng lưu thông phải là tiền mặt, nhưng không nhất 16
  17. thiết phải là tiền đầy đủ giá trị. Tiền giấy có giá trị nhưng không đầy đủ hoàn toàn, gọi tiền giấy là phù hiệu của giá trị. Qui luật lưu thông tiền tệ: Tổng giá cả Số tiền đến Số tiền Số tiền Lượng tiền hàng hoá kỳ hạn phải thanh toán thanh toán cần thiết trả khấu trừ không dùng trong lưu cho nhau tiền mặt thông Số vòng luân chuyển của đồng tiền cùng loại (đơn bản vị) PQ M = -------- V M: Khối lượng tiền P: Gía cả Q: Số lượng hàng hoá V: Tốc độ chu chuyển của tiền Lạm phát là do phát hành tiền vào lưu thông vượt khỏi số lượng tiền cần thiết trong lưu thông, làm cho mất cân đối hàng hoá - tiền tệ. Mức lạm phát: Biểu hiện ở chỉ số giá cả hàng tiêu dùng tăng. - Chức năng phương tiện thanh toán: Tiền dùng làm phương tiện thanh toán, chi trả. - Chức năng phương tiện tích luỹ hoặc cất trữ: Thực hiện chức năng này phải là tiền có đầy đủ giá trị, tiền vàng, tiền đi vào cất trữ hay ra lưu thông là do sự biến động của giá cả thị trường. - Chức năng tiền tệ quốc tế: Thực hiện chức năng này phải là tiền vàng để thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế. Vấn đề V: Quy luật giá trị 1) Quy luật kinh tế: Quy luật kinh tế đó là sự phản ánh mối quan hệ nhân quả, tất yếu, khách quan, bền vững, lắp đi lắp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế. Phân loại qui luật kinh tế: Căn cứ vào phạm vi hoạt động thì phân thành: + Qui luật kinh tế chung, tức là hoạt động trong tất cả các phương thức sản xuất: qui luật tăng năng suất lao động, qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. + Qui luật kinh tế đặc thù là qui luật chỉ hoạt động trong 17
  18. một số phương thức sản xuất: qui luật giá trị chỉ hoạt động trong phương thức sản xuất còn tồn tại sản xuất hàng hoá. Qui luật kinh của quy luật kinh tế: có hai đặc điểm sau: + Qui luật kinh tế hoạt động khách quan, tức là nó phát sinh, phát huy tác dụng độc lập với ý muốn chủ quan của con người. + Qui luật kinh tế hoạt động thông qua hoạt động của con người và con người có khả năng nhận thức, vận dụng Qui luật kinh tế một cách tự giác. + Qui luật kinh tế phát sinh, phát huy tác dụng mang tính lịch sử, gắn liền với những điều kiện kinh tế nhất định. Phân biệt giữa Qui luật kinh tế và Chính sách kinh tế: + Qui luật kinh tế hoạt động khách quan, con người nhận thức, vận dụng đưa ra các chính sách kinh tế + Chính sách kinh tế là tổng hợp tác động của Nhà nước trong một ngành, một lĩnh vực nhằm mục tiêu kinh tế nhất định. Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan cho nên có thể đúng, gần đúng và chưa chắc đúng (xét trong điều kiện cụ thể) 2) Qui luật kinh tế của kinh tế hàng hoá: Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để bán, để trao đổi trên thị trường, nó vận động chịu sự tác động các qui luật kinh tế riêng có của nó: + Qui luật lưu thông tiền tệ + Qui luật cung cầu + Qui luật giá trị Trong đó Qui luật giá trị là qui luật cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá. 3) Qui luật giá trị: Qui luật giá trị là qui luật vận động của hao phí lao động xã hội cần thiết. - Quy luật giá trị yêu cầu: Việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong lĩnh vực sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là phải nhỏ hơn hoặc bằng lao động xã hội cần thiết, cho nên từng người sản xuất bằng mọi cách hạ thấp chi phí cá biệt nhằm thu nhiều lợi nhuận. Trong trao đổi thì quy luật giá trị yêu cầu phải tuân thủ theo quy luật ngang giá (mua bán đúng giá trị) - Tác dụng của qui luật giá trị: + Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá: . Điều tiết sản xuất là phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành thông qua sự biến động của giá cả và quan hệ 18
  19. cung cầu trên thị trường, một ngành nào đó có cung tăng vượt cầu làm cho giá cả hàng hoá giảm xuống (đến chi phí), người sản xuất bỏ ngành này, di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động sang ngành cung chưa đáp ứng đủ cầu, cứ như vậy có sự điều tiết qua lại giữa các ngành tạo ra một sự cân bằng. . Điều tiết lưu thông tức là điều tiết nguồn hàng từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao. + Kính thích sản xuất phát triển: Trong nền sản xuất hàng hoá, lợi nhuận vừa là mục đích, vừa là động lực thúc đẩy hoạt động kinh tế, để đạt được mức độ thu nhiều lợi nhuận, người sản xuất không ngừng cải tiến kỹ thuật, vận dụng công nghệ mới tăng năng suất lao động, giảm chi phí (đến mức tối thiểu), tối đa lợi nhuận, kích thích sản xuất phát triển. + Phân hoá và thực hiện sự lựa chọn tự nhiên giữa người sản xuất: Trong môi trường cạnh tranh, để giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, người nào có điều kiện sản xuất thuận lợi (kỹ thuật tiên tiến, qui mô lớn,...) chi phí sản xuất thấp thu nhiều lợi nhuận và tiếp tục mở rộng sản xuất và ngày càng phát tài. Ngược lại, người nào có điều kiện bất lợi, chi phí sản xuất cao, việc thu lỗ dẫn đến phá sản. Tình hình trên dẫn đến một sự phân hoá trong xã hội, một số ít người giàu lên, trở thành ông chủ, ngược lại số đông người bị phá sản rơi vào điều kiện làm thuê, cuối cùng dẫn đến sự ra đời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. - Biểu hiện của sự hoạt động của qui luật giá trị: Qui luật giá trị hoạt động biểu hiện ra thành sự biến động của giá cả trên thị trường “Giá cả là biểu hiện của giá trị, giá trị là quy luật của giá cả, giữa giá cả và giá trị có một khoản cách, một độ chênh” + Giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. + Giá cả một mặt phù hợp với giá trị - giá cả lấy giá trị làm cơ sở, mặt khác giá cả tách rời giá trị, là do: . Quan hệ cung cầu . Sức mua của đồng tiền . Tình trạng cạnh tranh độc quyền. Giá cả có khả năng tách rời giá trị nhưng không phải tách rời vô hạn, vẫn lấy giá trị làm cơ sở. + Biểu hiện sự hoạt động của qui luật giá trị trong sản xuất hàng hoá giản đơn là giá cả trực tiếp lên xuống xoay quanh giá trị hàng hoá, có mặt hàng bán cao hơn giá trị, có mặt hàng bán thấp hơn giá trị, nhưng xet trên toàn xã hội thì tổng giá cả bằng tổng giá trị. 19
  20. + Biểu hiện qui luật giá trị trong cạnh tranh tự do (bàn tay vô hình) là qui luật giá cả sản xuất. + Trong giai đoạn độc quyền thì qui luật giá trị biểu hiện thành qui luật giá cả độc quyền. 3) Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa: a) Điều kiện ra đời của sản xuất tư bản chủ nghĩa: hai điều kiện -Người lao động được tự do về thân thể và bị tước hết tư liệu sản xuất vì vậy muốn duy trì cuộc sống thì phải bán sức lao động làm thuê, sức lao động trở thành hàng hoá - Phải có một lượng tiền của, tài sản đủ lớn tập trung vào tay một số ít người để lập ra xí nghiệp và thuê nhân công Hai điều kiện trên ra đời dưới tác động của các nhân tố sau: - Qui luật giá trị (tác dụng 3) nhưng quá trình này diễn ra tuần tự, chậm chạp - Tích luỹ nguyên thuỷ bằng bạo lực tước đoạt để thúc đẩy nhanh sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. b) Quá trình chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa: Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của những người nông dân, thợ thủ công, cá thể dựa trên chế độ tư hữu nhỏ và lao động của chính bản thân họ. Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, quá trình sản xuất diễn ra là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà tư bản với sức lao động của công nhân làm thuê. Quá trình chuyển từ sản xuất hàng hoá giản đơn lên sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa diễn ra khách quan, có tính qui luật sau đây: - Tiến hành cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông nghiệp tập trung, sản xuất hàng hoá lớn, tạo thị trường cho công nghiệp và tích luỹ cho công nghiệp hoá. - Cách mạng trong lĩnh vực lao động: Phân công lại lao động xã hội, chuyển bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác, là quá trình phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp. - Chuyển tư hữu nhỏ thành tư hữu lớn tư bản chủ nghĩa thông qua quá trình tích luỹ, tập trung tư bản, tích tụ tập trung sản xuất. - Tăng cường vai trò của Nhà nước thông qua các chính sách, luật thuế quan để bảo hộ, khuyến khích phát triển sản xuất. 20
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản