Phân biệt Alzheimer và bệnh mất trí nhớ lành tính

Chia sẻ: Traitim Muathu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
538
lượt xem
25
download

Phân biệt Alzheimer và bệnh mất trí nhớ lành tính

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phân biệt Alzheimer và bệnh mất trí nhớ lành tính Giảm trí nhớ là một biểu hiện của bệnh Alzheimer, tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp giảm trí nhớ đều là bệnh này. Người cao tuổi thường hay quên, còn được gọi là tình trạng quên lành tính, có nhiều điểm khác với giảm trí nhớ trong bệnh Alzheimer. Quên lành tính Quên những chi tiết không quan trọng, ví dụ như tên của những người không quan hệ. Không kèm theo với những rối loạn nhận thức khác. Thường sau đó có thể nhớ lại được đầy đủ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phân biệt Alzheimer và bệnh mất trí nhớ lành tính

  1. Phân biệt Alzheimer và bệnh mất trí nhớ lành tính Giảm trí nhớ là một biểu hiện của bệnh Alzheimer, tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp giảm trí nhớ đều là bệnh này. Người cao tuổi thường hay quên, còn được gọi là tình trạng quên lành tính, có nhiều điểm khác với giảm trí nhớ trong bệnh Alzheimer. Quên lành tính
  2. Quên những chi tiết không quan trọng, ví dụ như tên của những người không quan hệ. Không kèm theo với những rối loạn nhận thức khác. Thường sau đó có thể nhớ lại được đầy đủ chi tiết. Quên từng lúc, thường hay quên hơn khi bị stress hoặc bị thúc giục. Có thể nhớ bất cứ thứ gì nếu họ chú ý và học. Dễ dàng giải quyết sự giảm trí nhớ này bằng các biện pháp nhắc nhở đơn giản (như viết một danh sách, gợi ý...). Giảm trí nhớ làm cho bệnh nhân bực bội và cáu gắt, nhưng không bao giờ ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động nghề nghiệp và xã hội. Giảm trí nhớ trong bệnh Alzheimer Quên những chi tiết quan trọng, ví dụ như tên của các cháu. Luôn phối hợp với giảm khả năng suy luận và tính toán. Không thể nhớ lại, cố thúc giục, cố gắng cũng vô ích. Giảm trí nhớ tất cả các sự kiện, đặc biệt là những thông tin mới học. Khả năng học các thông tin mới bị suy giảm trầm trọng, cho dù họ có tập trung đến mấy. Trí nhớ tức thì vẫn bình thường nhưng bệnh nhân không thể nhớ lại sau vài giờ, vài ngày.
  3. Bệnh nhân Alzheimer không những không nhớ cả danh sách, mà họ còn không nhớ là họ đã làm danh sách đó. Ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động nghề nghiệp và xã hội. Bệnh Alzheimer được phát hiện như thế nào? Vào một buổi chiều năm 1901, người ta mang một bệnh nhân nữ tên là Auguste D. đến phòng khám của BS. Alois Alzheimer - một nhà thần kinh học người Đức. Khi đó ông mới 37 tuổi nhưng đã là một nhà thần kinh học tên tuổi ở Munich. Bệnh nhân này có các rối loạn về trí nhớ và hành vi như thường thấy ở những người rất già, cũng mất trí nhớ, rối loạn về ngôn ngữ, mất khả năng suy luận tính toán... nhưng vấn đề là ở chỗ bệnh nhân không già, mới có 51 tuổi. Alzheimer đã theo dõi và điều trị cho bệnh nhân suốt 4 năm đến khi bệnh nhân qua đời. Khi mổ tử thi, ông rất ngạc nhiên thấy bộ não của bệnh nhân hình như co nhỏ lại, các rãnh não rộng ra. Khi soi kính hiển vi ông hết sức kinh ngạc thấy tổ chức não bình thường dày đặc các tế bào thần kinh thì bây giờ các tế bào biến đâu mất, rất thưa thớt, chỉ còn để lại những dấu vết mà ông gọi là mảng già. Những tế bào thần kinh còn lại cũng không hoàn toàn bình thường, bên trong có những sợi nhỏ xoắn xuýt với nhau thành từng bó, dường như làm nghẹt cả tế bào, mà ông gọi là bó tơ thần kinh. Các tổn thương này chủ yếu là ở vỏ não, thùy thái dương, đặc biệt là hồi hải mã. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng những phát hiện của Alzheimer vẫn giữ nguyên giá trị và căn bệnh mà ông phát hiện ra sau này mang tên ông - bệnh Alzheimer.
  4. Có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh Alzheimer mà chúng ta chưa hiểu biết một cách đầy đủ, trong đó di truyền là một yếu tố quan trọng. Các gen gây bệnh được phát hiện trong một số ít các trường hợp Alzheimer có tính chất gia đình, thường khởi phát ở độ tuổi 40, 50. 6 cách ngừa bệnh Alzheimer ự suy giảm và rối loạn trí nhớ xuất hiện từ độ tuổi trung niên là biểu hiện thường thấy nhất của bệnh Alzheimer. Hãy thực hiện những bí quyết sau từ trẻ để giảm bệnh Alzheimer hữu hiệu khi về già.
  5. 1. Uống nước ép rau quả Các nghiên cứu xuất bản tháng 9 của tạp chí Y Khoa Mỹ đã chỉ ra rằng những người uống 3 hoặc nhiều hơn khẩu phần nước ép rau quả mỗi tuần sẽ giảm 76% nguy cơ phát triển các triệu chứng của bệnh Alzheimer so với những ngườit uống nước rau quả ép ít hơn 1 khẩu phần mỗi tuần. Những người bị lượng đường máu cao không thể uống nước ép quả thì nên chuyển sang các loại nước rau ép. Với những người không thích uống nước ép, biện pháp hiệu quả là ăn đủ lượng rau cần thiết. 2 Đảm bảo lượng axit béo Omega-3 Nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Neuroscience đã chỉ ra rằng chế độ ăn giàu axit béo Omega-3 đặc biệt là DHA có thể giảm đáng kể tiến trình của bệnh Alzheimer được thí nghiệm ở chuột. Các nhà khoa học trên toàn thế giới đã nhất trí rằng việc sử dụng thực phẩm giàu axit béo Omega-3 rất cần thiết cho việc phát triển và duy trì hệ thần kinh khoẻ mạnh để đầy lùi bệnh Alzheimer. Một số thực phẩm giàu axit béo Omega-3 như: dầu gan cá, quả óc chó tươi ngâm trong nước vài giờ, rong tảo biển, rau sam, hạt lanh, cá hồi... 3. Duy trì cân nặng hợp lý với chiều cao
  6. Theo các nghiên cứu được trình bày trong cuộc họp thường niên lần thứ 58 nghiên cứu về Thần Kinh ở Mỹ vào tháng 4/2006 thì những người thừa cân ở độ tuổi từ 40 trở lên có nguy cơ bị bệnh Alzheimer cao hơn so với những người có cân nặng vừa phải ở cùng độ tuổi. 4. Ưa hoạt động Các tế bào não cũng giống như các tế bào vùng cơ nên chúng cần được tập luyện đều đặn để giữ sự khoẻ mạnh và săn chắc. Nếu công việc hàng ngày của bạn ít vận động, tập thể dục đều là biện pháp giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và tăng cường sức khoẻ toàn diện. 5. Tránh xa nhôm Theo Viện Sức khoẻ Quốc tế thì thành phần quan trọng trong hợp chất nhôm có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh gây bệnh Alzheimer. Những nguồn phổ biến nhôm nên tránh như: - Pho mát và bánh mỳ ngô đã qua chế biến - Một số loại thuốc như antacid và aspirin buffer. - Các loại nồi xoong bằng nhôm, không nên nấu rau xanh và cà chua trong các đồ nhôm - Nhôm có trong chất chống chảy nhiều mồ hôi. 6. Tránh xa các nguồn có chứa thuỷ ngân
  7. Các nghiên cứu khoa học vẫn chưa biết chính xác sự liên quan giữa thuỷ ngân và nguy cơ mắc bệnh Alzheimer tuy nhiên nghiên cứu năm 2001 đăng tải trên tạp chí NeuroReport đã chỉ ra rằng việc xông hít hơi thuỷ ngân có thể gây ảnh hưởng lớn đến hệ thần kinh, gây ra những tổn thương giống biểu hiện ở những người mắc bệnh Alzheimer. Nguồn thuỷ ngân phổ biến sau nên tránh: - Hỗn hợp hàn răng - Hải sản, đặc biệt là những loại cá lớn - Bóng đèn compact, huỳnh quang bị vỡ.
Đồng bộ tài khoản