Phân bón cho cây lúa

Chia sẻ: chuong_dong

Phân bón cho lúa chứa những chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cây lúa phát triển, các loại dinh dưỡng này cần phải thường xuyên bổ sung cho cây lúa. Trong đất luôn tồn dư một lượng dinh dưỡng nhất định nhưng lượng dinh dưỡng từ đất thường không đủ cho cây lúa phát triển để đạt hiệu quả, hiệu suất cao nhất về năng suất, chất lượng khi thu hoạch.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Phân bón cho cây lúa

Phân bón cho cây lúa
PHÂN BÓN VÀ BÓN PHÂN CHO CÂY LÚA

Phân bón cho lúa chứa những chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cây lúa
phát triển, các loại dinh dưỡng này cần phải thường xuyên bổ sung cho cây lúa.
Trong đất luôn tồn dư một lượng dinh dưỡng nhất định nhưng lượng dinh dưỡng
từ đất thường không đủ cho cây lúa phát triển để đạt hiệu quả, hiệu suất cao nhất
về năng suất, chất lượng khi thu hoạch. Người ta bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa
bằng cách bón các loại phân bón vào đất hoặc phun lên lá các loại phân bón khác
nhau, vào các giai đoạn khác nhau để đạt được kết quả sản xuất cao nhất. Có hai
cách bón phân cho cây lúa: bón vào đất và phun lên lá:

a) Loại phân bón vào đất đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa trong suốt thời
gian sinh trưởng và phát triển. Phân bón vào đất thường ở dạng thô (phân hữu cơ:
phân chuồng, phân rác, phân xanh, phân vi sinh), dạng bột, vi ên (phân bón vô cơ:
phân đạm, phân lân, phân kali, vôi, phân khoáng hỗn hợp, phân vi l ượng…).

b) Loại phân phun lên lá: là những loại phân đa lượng dễ tan và phân vi lượng hay
một số hoá chất kích thích khác…ở dạng bột hoặc nước. Phân phun lên lá có đặc
điểm là cây lúa dễ và nhanh hấp thu và là biện pháp kỹ thuật rất hữu hiệu trong
điều kiện đất đai và bộ rễ lúa hư hại, kém phát triển hoặc cần bổ sung nhanh dinh
dưỡng cho lúa. Phân bón qua lá có thể phun kết hợp c ùng với thuốc bảo vệ thực
vật.

Đối với cây lúa người ta thường áp dụng chủ yếu biện pháp bón phân vào đất vì
nguồn dinh dưỡng chủ yếu và cần thiết cho cây lúa thường tồn tại trong các loại
phân bón vào đất. Sử dụng phân bón vào đất người ta dùng các loại phân hữu cơ
để bón lót vào đất trước khi gieo mạ hay trước khi cấy cùng với một lượng nhất
định phân vô cơ, còn phần lớn lượng phân bón vô cơ dùng để bón thúc vào các
giai đoạn cần thiết bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa. Còn phun lên lá là biện pháp
áp dụng đồng thời khi cây lúa cần bổ sung gấp một số dinh d ưỡng cần thiết. Trong
sản xuất các cây trồng nói chung và sản xuất lúa nói riêng, ngày nay người ta cũng
sử dụng một số hoá chất kích thích khác để điều tiết hoặc thúc đẩy hay hạn chế…
từng giai đoạn phát triển hay bộ phận nhất định của cây lúa trong sản xuất hạt
giống lúa lai F1 như: GA3, KH2PO4, điều hoa bảo…

Nếu tất cả các yếu tố sinh thái có liên quan đến sinh trưởng phát triển của cây lúa
như: ánh sáng, độ ẩm, nước, nhiệt độ… đã được đáp ứng đầy đủ mà lượng phân
bón cung cấp cho cây lúa thiếu hoặc không cân đối, không đúng với nhu cầu dinh
dưỡng của từng thời kỳ phát triển thì cây lúa cũng không thể có một hiệu suất cao
nhất. Và ngược lại cung cấp thừa phân bón về chủng loại cũng như lượng bón
cũng không những không mang lại hiệu quả mà đôi khi còn gây nên những bất lợi
cho sự phát triển của cây lúa và là điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát sinh, phát
triển.

NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÚA VÀ VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN

Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa hay nói cách khác là các chất dinh dưỡng cần
thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa bao
gồm: đạm (N), lân (P), kali (K), vôi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, mô-líp-đen,
bo, silic, lưu huỳnh và các-bon, ô-xy, hyđrô. Tất cả các chất trên đây (trừ các-bon,
ô-xy, hyđrô) phân bón đều có thể cung cấp được. Có nhiều chất dinh dưỡng
khoáng mà cây lúa cần, nhưng 3 yếu tố dinh dưỡng mà cây lúa cần với lượng lớn
là: đạm, lân và kali là những chất cần thiết cho những quá trình sống diễn ra trong
cây lúa. Các nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít và hầu như đã
có sẵn ở trong đất, nếu thiếu thì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà bón bổ sung.
Phân bón có vai trò tối quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây
lúa, nó cần thiết cho suốt quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu
hoạch. Cùng với các yếu tố năng lượng khác, phân bón cung cấp cho cây là nguồn
nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất đường, chất béo,
prôtêin… Ngoài ra chúng còn gi ữ vai trò duy trì sự sống của toàn bộ cây lúa,
không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không thể tồn tại.

Các yếu tố dinh dưỡng trong phân bón cung cấp cho cây lúa có vai trò khác nhau,
với hàm lượng cung cấp khác nhau trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây
lúa. Vì vậy việc bón phân, bổ sung dinh dưỡng cho lúa người ta đã nghiên cứu và
đưa ra những công thức bón phân hợp lý cho từng giống lúa, cho từng gia đoạn
sinh trưởng, phát triển, theo từng điều kiện đất đai, khí hậu... cụ thể.

Theo nghiên cứu, để có năng suất 5 tấn hạt/ha/vụ thì lượng các chất dinh dưỡng
chủ yếu cây lúa hút từ đất và phân bón là: 110kg N, 34kg P2O5, 156kg K2O, 23kg
MgO, 20kg CaO, 5kg S, 3,2kg Fe, 2 kg Mn, 200g Zn, 150g B, 250g Si và 25gCl.
Tuy nhiên không phải cứ bón bao nhiêu phân bón trong đất là cây lúa hút hết
được, trong thực tế, cây lúa chỉ hút được khoảng 2/3 - 3/4 lượng phân bón, còn lại
bị trông theo nước, bốc hơi và tồn dư trong đất.

PHÂN BÓN HỮU CƠ

Phân hữu cơ được chế biến từ những sản phẩm thực vật và động vật. Phân hữu cơ
được bón với khối lượng lớn, nhưng nó chỉ chứa một lượng rất ít những chất dinh
dưỡng khoáng mà cây lúa cần. Tuy nhiên, phân hữu cơ không thể thiếu trong sản
xuất lúa, nó không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa, mà còn làm cho cấu trúc
của đất tốt hơn, đất tơi xốp hơn, bộ rễ lúa phát triển mạnh... Có hai loại phân hữu
cơ là: phân hữu cơ truyền thống và phân hữu cơ công nghiệp, nhưng đối với cây
lúa hiện nay dùng chủ yếu là phân hữu cơ truyền thống.
Phân hữu cơ truyền thống bao gồm được chia làm 4 nhóm chính: a) phân chuồng,
b) phân rác, c) than bùn và d) phân xanh. Ngoài ra còn có một số loại phân bón
khác như: tro, phân bắc, phân gia cầm, bùn ao, bùn hồ, bùn sông, nước phù sa, khô
dầu (bà con lại sau khi ép dầu từ một số loại thực phẩm)...

Phân hữu cơ công nghiệp bao gồm: a) phân hữu cơ khoáng (được sản xuất từ
nguyên liệu hữu cơ được trộn thêm một hay nhiều yếu tố dinh dưỡng khoáng); b)
Phân hữu cơ sinh học (được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có sự tham gia của vi
sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác) và c) phân hữu cơ vi sinh –
còn gọi là phân vi sinh (là sản phẩm phân bón chứa vi sinh vật sống, đã được
tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động
sống của các vi sinh vật có ích tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử
dụng được hay các hoạt chất sinh học, đối kháng vi khuẩn, vi nấm gây bệnh vùng
rễ cây để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản).

Phân hữu cơ truyền thống được sử dụng cho lúa trong đó chủ yếu là phân chuồng
(được ủ hoai mục từ phân bắc, phân gia súc cùng với rơm rạ, thân lá ngô hay các
phụ phẩm hữu cơ khác trong vòng từ 2 – 6 tháng, hoặc cũng có thể ủ phân chuồng
với đất bột, phân lân và vôi bột). Các loại phân được sử dụng ủ làm phân chuồng
tốt nhất là phân bắc, lần lượt là các loại phân lợn, dê, cừu, bò cái, bò đực và kém
hơn cả là phân ngựa.

Nông dân Việt Nam còn xử dụng phân xanh để bón cho lúa. Phân xanh là tên gọi
chung các cây hoặc lá cây tươi được ủ hay vùi thẳng xuống đất. Trong quá trình
phân giải của cây xanh khi vùi trong đất, nhất là ở điều kiện ngập nước, thường
phát sinh ra nhiều hợp chất độc hại đối với cây như H2S, axit butiric, CH4,
C2H2... do vậy cần bón thêm vôi, lân kèm theo.

Ngoài ra có thể dùng bất kỳ loại phân hữu cơ vi sinh truyền thống nào để bón cho
cây lúa tùy theo điều kiện và nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa.
PHÂN BÓN VÔ CƠ

Phân bón vô cơ là phân hóa học hay còn gọi là phân khoáng. Nó được sản xuất
theo phương pháp công nghiệp. Trong quá trình sản xuất có sử dụng một số
nguyên liệu thiên nhiên hoặc tổng hợp. Tùy thuộc vào nguyên tố dinh dưỡng chứa
trong phân mà người ta gọi là phân đạm, phân lân hay phân kali.

Nếu người ta sản xuất loại phân bón đơn lẻ với một loại nguyên tố dinh dưỡng
hoặc đạm, hoặc lân, hoặc kali thì gọi là phân bón đơn.

Người ta còn sản xuất các loại phân bón đa nguyên tố bao gồm: a) phân hỗn hợp
(hỗn hợp của một số loại phân đơn trộn lại với nhau bằng cơ giới cùng với chất
phụ gia); b) phân hóa hợp (điều chế qua tác động hóa học giữa hai loại hóa chất để
được phân bón thường có 2 nguyên tố dinh dưỡng như KNO3, NH4N2PO4,
(NH4)2HPO4 và c) phân phức hợp (gồm nhiều loại nguyên tố hợp thành qua tác
động hóa học hoặc cơ lý hoặc cả hóa học và cơ lý, cũng có thể chứa chất kích
thích sinh trưởng, thuốc từ sâu... và thường chứa cả 3 nguyên tố dinh dưỡng N, P,
K với những tỉ lệ khác nhau.

Ngoài ra người ta còn sản xuất phân bón trung lượng và phân bón vi lượng:

a) Phân bón trung lượng (chứa các nguyên tố trung lượng: Ca, Mg, Na, S). Các
loại thành phần này thường được cung cấp qua thành phần phụ của phân bón đa
lượng và chất cải tạo đất;

b) Phân bón vi lượng: là hỗn hợp các chất hóa học nhằm cung cấp các nguyên tố
vi lượng cho cây (B, Cl, Co, Fe, Mn, Mo, Zn, Cu), có thể còn có thêm các nguyên
tố siêu vi lượng, đất hiếm, chất kích thích sinh trưởng.

Đặc điểm của phân bón vô cơ là: chứa ít nguyên tố dinh dưỡng nhưng tỉ lệ chất
dinh dưỡng cao; phần lớn phân hóa học dễ hòa tan (trừ phân lân) nên cây dễ hấp
thụ và có hiệu quả nhanh, nâng cao độ phì của đất; bón nhiều phân hóa học và bón
liên tục nhiều vụ, nhiều năm, đặc biệt là phân đạm và phân kali làm cho đất hóa
chua nếu không sử dụng phân chuồng hoặc sử dụng ít để bón lót.

Nói chung, phân hóa học làm giàu đất về các yếu tố dinh dưỡng, thay đổi độ chua
(pH) của đất và ảnh hưởng đến hoạt động vi sinh vật trong đất.

Xu hướng trong sản xuất các cây trồng nói chung và sản xuất lúa nói riêng, người
ta thường sử dụng phân bón hỗn hợp NPK. Sử dụng phân bón hỗn hợp NPK cho
lúa thường dùng với tỉ lệ 14-14-14 hoặc 24-12-12 hoặc một số loại chuyên dụng
khác rồi bổ sung các loại phân đơn theo yêu cầu dinh dưỡng của cây lúa.

PHÂN ĐẠM VÀ HIỆU SUẤT CỦA PHÂN ĐẠM

Đạm đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây lúa, nó giữa vị trí đặc biệt trong
việc tăng năng suất lúa. Tại các bộ phận non của cây lúa có h àm lượng đạm cao
hơn các các bộ phận già. Đạm là một trong những nguyên tố hóa học cơ bản của
cây lúa, đồng thời cũng là yếu tố cơ bản trong quá trình phát triển của tế bào và
các cơ quan rễ, thân, lá...

Đạm có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trưởng và tác dụng rõ rệt nhất của
đạm đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số nhánh đẻ. Tuy
nhiên hiệu suất quang hợp và hiệu suất nhánh đẻ hữu hiệu có ngưỡng nhất định
nên khi sử dụng đạm cần phải chú ý điều chỉnh lượng bón và thời điểm bón đạm
cho cây lúa. Nếu thiếu đạm, cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, h àm lượng
diệp lục giảm, lá lúa ngả màu vàng và lúa sẽ trỗ sớm hơn, số bông và số lượng hạt
ít hơn, năng suất lúa bị giảm. Nếu bón nhiều đạm và trong điều kiện ruộng thừa
chất dinh dưỡng thì cây lúa thường dễ hút đạm, dinh dưỡng thừa đạm sẽ làm cho
lá lúa to, dài, phiến lá mong, nhánh lúa đẻ vô hiệu nhiều, lúa sẽ trỗ muộn, cây cao
vóng dẫn đến hiện tượng lúa lốp, đổ non dẫn đến năng suất, hiệu suất lúa không
cao. Cây lúa hút đạm nhiều nhất vào hai thời kỳ: thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm
đòng.

Có 4 dạng phân đạm đơn là: a) dạng nitrat; b) dạng amôn và amôniắc; c) dạng
amôn – nitrat và d) dạng amid. Trên thị trường phân bón Việt Nam hiện nay có 3
dạng đạm vô cơ chính được nông dân sử dụng là: a) amôn sunphat: (NH4)2SO4 –
đạm SA; b) Đạm Clorua: NH4Cl và c) Urê: Co(NH2)2, trong đó dạng đạm vô cơ
được dùng bón cho lúa là Urê.

Đạm bón cho lúa còn nằm trong các loại phân bón khác như trong phân chuồng,
phân hỗn hợp NPK, phân bón qua lá...

PHÂN ĐẠM VÀ MÙA VỤ

Nhu cầu về đạm của cây lúa ở từng mùa vụ là khác nhau nên việc sử dụng phân
đạm cũng khác nhau.

Ở vụ mùa (mùa mưa): cây lúa cao, bộ lá rậm rạp, che khuất lẫn nhau nên việc tạo
chất dinh dưỡng trong lá bị giảm. Vào mùa mưa, nguồn năng lượng ánh sáng ở
bên trên và trong ruộng lúa thấp nên hầu như cây lúa không dùng hết lượng phân
bón để tạo hạt. Hơn nữa, mưa nhiều trong vụ mùa cũng là nguồn bổ sung phân
bón, phân đạm cho cây lúa, vụ mùa nên bón một lượng phân bón vừa phải.

Ở vụ chiêm xuân (mùa khô): cây lúa thấp và ít nhánh, năng lượng ánh sáng nhiều
hơn vụ mùa. Ngoài việc trong vụ xuân có thể cấy dày hơn thì việc bón lượng phân
đạm nhiều hơn là điều cần thiết. Với lượng ánh sáng nhiều, bón phân đạm trong
vụ xuân sẽ làm tăng được số nhánh đẻ, diện tích bộ lá cao sẽ tạo cho tốc độ tạo
chất dinh dưỡng của cây lúa cao và hiệu quả hơn, số nhánh đẻ thêm do bón đạm
cũng hường hữu hiệu vì ít bị che rợp. Như vậy nên bón nhiều, tăng lượng phân
đạm cũng như các loại phân bón khác cho cây lúa trong vụ xuân, nhưng vẫn phải
lưu ý đến hiệu suất để cân nhắc lượng đạm bón cho lúa.
Việc bón phân đúng lượng sẽ cho hiệu quả và thu nhập cao nhất, với bất kỳ mùa
vụ nào cũng phải cân nhắc lượng đạm bón cho lúa sao cho vừa đủ lượng. Lượng
đạm vừa đủ trong đất làm tăng diện tích lá, số chồi, làm tăng năng suất lúa. Quá
nhiều phân đạm trong đất sẽ làm cây tăng trưởng mạnh, cây bị ngã đổ do nhận
được ít ánh sáng, còn ở thời kỳ sinh sản, bón quá nhiều đạm sẽ làm tăng số hạt lép
và tạo nhiều chồi con. Nếu không đủ lượng đạm thì cây lúa sinh trưởng phát triển
kém cũng không thể cho năng suất cao.

PHÂN ĐẠM VÀ CÁCH SỬ DỤNG ĐỂ TĂNG HIỆU QUẢ

Cần chú ý rằng: lượng phân đạm bón cho cây lúa chỉ được cây hấp thụ khoảng
40%, lượng 60% còn lại thì 40% bị mất đi do bốc hơi, rửa trôi... và 20% còn lại thì
lưu giữ trong đất có thể một phần được vụ tiếp theo sử dụng). Vì vậy phải có cách
bón để sao cho cây lúa hấp thụ được nhiều nhất bằng cách: điều chỉnh lượng đạm
bón ở các mùa vụ khác nhau, đối với các chân đất, giống lúa khác nhau và vào
thời điểm nào cho thích hợp... Việc bón phân đạm đúng lượng sẽ cho hiệu quả cao
nhất. Lượng phân đạm cần bón còn phụ thuộc vào giá cả, hiệu quả tăng năng suất
và tùy theo từng loại giống lúa. Việc bón phân đúng lượng sẽ cho thu nhập cao
nhất.

Để sử dụng phân đạm cho lúa một cách có hiệu quả nhất cần áp dụng đồng bộ các
yếu tố: lượng phân và mùa vụ, lượng phân và giống, cách bón và thời điểm bón thì
chắc chắn sẽ cho một hiệu quả cao nhất.

Các giống có tiềm năng năng suất cao, chịu thâm canh thì sử dụng lượng đạm cao
cây lúa vẫn hấp thụ, phát triển tốt và không bị lốp đổ. Theo Bùi Huy Đáp (1981):
các giống cao cây và thấp cây có nhu cầu về đạm cũng khác nhau. Các giống cao
cây cần đạm từ lúc đẻ nhánh đến khi lúa sắp trỗ, còn các giống thấp cây thì nhu
cầu về đạm tăng đều tới lúc lúa trỗ và sau khi trỗ xong thì nhu cầu về đạm giảm rõ
rệt. Với những giống lúa mới, bón phân sẽ cho năng suất tăng l ên nhiều hơn năng
suất giống lúa cũ, dù là trồng vào vụ nào, bón đạm nhiều hay ít.

Lượng phân đạm bón cho cây lúa phải thích hợp: lượng phân bón thích hợp phụ
thuộc vào mùa vụ gieo cấy, độ màu mỡ của đất, tiềm năng năng suất của giống
lúa, giá cả phân bón, thời gian và cách bón phân. Ngoài việc phải tuân thủ theo
quy trình kỹ thuật của các giống lúa, còn phải quan sát, cân nhắc lượng và thời
điểm bón phân đạm dựa vào chân đất, thời tiết và màu sắc bộ lá lúa (dùng bảng so
màu lá lúa).

Bón phân đúng giai đoạn sinh trưởng của cây lúa: yêu cầu về đạm của cây lúa thay
đổi theo thời gian sinh trưởng. Cây lúa cần nhiều đạm trong thời kỳ đẻ nhánh, nhất
là thời kỳ đẻ nhánh cực đại. Khi kết thúc thời kỳ phân hóa đòng, hầu như cây lúa
đã hút trên 80% tổng lượng đạm cho cả chu kỳ sinh trưởng.

PHÂN ĐẠM CÁCH CÁCH BÓN ĐẠM ĐỂ TĂNG HIỆU QUẢ

Một trong những yếu tố quan trọng để tăng hiệu quả bón đạm cho cây lúa l à cách
bón, hay nói cách khác là bón đạm như thế nào.

Thời điểm thích hợp nhất để bón đạm cho cây lúa vào lúc cấy và lúc cây lúa bắt
đầu làm đòng, cũng không nên bón đạm cho lúa khi vừa cấy xong. Cách bón phân
đạm tốt nhất là trước khi cấy phân đạm được trộn với đất để cho phân đạm gần rễ
hơn.

Khi bón phân cũng phải quan sát không nên bón khi ruộng khô nẻ rồi cho nước
vào ruộng thì một phần phân đạm sẽ biến thành khí bốc hơi bay đi. Ngược lại nếu
bón đạm cho đất ngập nước thường xuyên làm thay đổi dạng đạm (dạng đạm này
dễ chuyển thành thể khí bay lên). Khi quan sát thấy trời sắp mưa không nên bón
đạm vì như vậy lượng đạm vừa bón sẽ dễ bị rửa trôi; khi chưa nắng nóng gay gắt
vào buổi trưa, đầu giờ chiều cũng không nên bón đạm vì đạm dễ bị bay hơi. Trời
quang đãng, vào buổi sáng hoặc chiều tối là thời điểm bón đạm tốt nhất.

Cần phải luôn luôn giữ cho đồng ruộng sạch cỏ dại. Trước khi bón phân đạm cho
lúa cần phải làm sạch cỏ dại bởi vì cỏ sẽ cạnh tranh phân đạm với cây lúa. Cỏ càng
mọc nhanh sẽ cạnh tranh với lúa không những chỉ phân bón mà cả nước, ánh sáng,
không gian chứa khí và điều kiện để sâu bệnh phát sinh phát triển. Cần phải làm
cỏ trong vòng 30 ngày sau khi cấy, nếu không làm cỏ ngay trong giai đoạn này thì
năng suất lúa sẽ bị giảm rõ rệt.

Một điểm chú ý khác khi bón thúc phân đạm là không nên bón khi lá lúa còn ướt
bởi phân đạm sẽ dính lại trên lá ướt và với lượng nhiều có thể gây cháy lá; phân
đạm đã hòa tan vào những giọt nước trên lá lúa sẽ bị mất vào không khí khi các
giọt nước đó bốc hơi, khô đi. Cũng không nên bón thúc phân đạm nếu như thấy có
mưa to vì đạm vừa bón sẽ bị trôi đi mất.

PHÂN LÂN VÀ HIỆU SUẤT CỦA PHÂN LÂN

Trong cây lúa, tính theo chất khô, tỉ lệ lân nguyên chất (P2O5) chiếm xung quanh
0,2% trong rơm rạ và khoảng 0,48% trong hạt gạo. Phân lân tham gia vào thành
phần ADN và ARN của cây lúa, lân có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành
diệp lục, protit và vận chuyển tinh bột; lân còn đóng góp vào quá trình hình thành
chất béo và tổng hợp prôtêin trong cây. Cũng như đạm, tỉ lệ lân cao hơn tại các cơ
quan non của cây lúa. Lân cũng làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra
rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút. Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng từ
khi cây lúc mọc đến khi lúa trỗ, nhưng hút lân mạnh nhất vẫn là thời kỳ đẻ nhánh
và làm đòng, tuy nhiên giai đoạn đầu nhu cầu về lân của cây lúa là rất thấp.

Cây lúa được bón đầy đủ lân và cân đối đạm sẽ phát triển xanh tốt, khỏe mạnh,
chống đỡ với điều kiện bất thuận như hạn, rét. Cây lúa đủ lân đẻ khỏe, bộ rễ phát
triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trong điều kiện nhiệt độ thấp trong vụ đông
xuân, hạt thóc mẩy và sáng. Cây lúa thiếu lân cây còi cọc, đẻ nhánh kém, bộ lá lúa
ngắn, phiến lá hẹp, lá có tý thế dựng đứng và có màu xanh tối; số lá, số bông và số
hạt/bông đều giảm.

Trong sản xuất, khi bón phân lân cho lúa, lượng lân supe bao giờ cũng gấp 1,5-2
lần so với đạm urê và thường bón lót toàn bộ phân lân cùng với phân chuồng hay
phân xanh để cung cấp kịp thời lân cho sự phát triển của bộ rễ lúa.

Phân lân thường chia làm 2 loại: phân lân tự nhiên và phân lân chế biến.

a) Phân lân tự nhiên có hai dạng: photphorit dạng bột mịn và apatit nghiền, không
có mùi. Nếu là photphorit thì có màu vàng đất, màu xám hoặc vàng nâu. Nếu là
apatit thì có màu xám xanh. Hàm lượng lân nguyên chất (P2O5) của hai dạng phân
này chiếm không quá 40%. Riêng với apatit có chứa 40-50% vôi và một số nguyên
tố vi lượng như: sắt, ðồng, mangan và megiê. Loại phân này không tan trong nước,
khi bón vào đất phân tan dần nhờ nước có khí cacbonic hay axit yếu. Phân này
thường dùng bón lót và có tác dụng chậm, nó có chứa vôi nên có tác dụng tốt ở đất
chua phèn. Ngoài ra còn có một số loại phân lân tự nhiên khác (còn gọi là phân
lèn) được xếp vào loại lân dễ tiêu được lấy từ hang núi đá vôi: dạng bột phôtphorit
thýờng không chứa đạm và phân và xác chim, dơi sống trong các hang núi.

b) Phân lân chế biến: loại thường dùng trong sản xuất lúa hiện nay là lân supe, còn
gọi là lân Lâm Thao và lân nung chảy hay phân lân Vãn Ðiển là những loại phân
bón trong nước sản xuất.

Loại phân ở dạng bột và có màu xám hay trắng xám, có mùi chua, tan được


trong nước là supe lân và loại phân này thường bón lót cho đất ít chua.

Loại phân lân có dạng bột màu xám xanh có ánh thủy tinh, không mùi,


không tan trong nước nhưng tan trong axit yếu là lân nung chảy (hay còn gọi là
técmo phốtphát) do hai doanh nghiệp nhà nước sản xuất là Văn Ðiển và Ninh
Bình, có thể dùng ở nhiều loại đất, đặc biệt nó có tác dụng ở đất chua. Loại phân
chế biến này thường chứa 18–20% P2O5 tổng số. Phân lân nung chảy cũng có
thêm một số nguyên tố vi lượng.

Ngoài ra trên thị trường có nhập một số loại phân lân nung chảy được nhập từ các
nước: Mỹ, Cộng hòa A-Rập thống nhất, Nhật Bản và Cộng hoa Liên bang Ðức.

PHÂN KALI VÀ HIỆU SUẤT CỦA PHÂN KALI

Trong cây lúa, tính theo chất khô, tỉ lệ kali nguyên chất (K2O) chiếm khoảng 0,6-
1,2% trong rơm rạ và khoảng 0,3-0,45% trong hạt gạo. Khác với đạm và lân, kali
không tham gia vào thành phần bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào mà chỉ tồn tại
dưới dạng ion trong dịch bào và một phần nhỏ kết hợp với chất hữu cơ trong tế
bào chất của cây lúa. Cũng như đạm, lân, kali chiếm tỉ lệ cao hơn tại các cơ quan
non của cây lúa. Kali tồn tại dưới dạng ion nên nhờ vậy mà kali có thể len lỏi vào
giữa các bào quan, xúc tiến quá trình vận chuyển dinh dưỡng, giúp cây lúa tăng
cường hô hấp. Kali còn giúp thúc đẩy tổng hợp prôtit, do vậy nó hạn chế việc tích
lũy nitrat trong lá, hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm cho lúa. Ngoài ra kali
còn giúp bộ rễ tăng khả năng hút nước và cây lúa không bị mất nước quá mức
ngay cả trong lúc gặp khô hạn, kali làm tăng khả năng chống hạn và chống rét cho
cây lúa.

Cây lúa được bón đầy đủ kali sẽ phát triển cứng cáp, không bị ngã đổ, chịu hạn và
chịu rét tốt. Cây lúa thiếu kali lá có màu lục tối, mép lá có màu nâu hơi vàng.
Thiếu kali nghiêm trọng trên đỉnh lá có vết hoại tử màu nâu tối trong khi các lá già
phía dưới thường có vết bệnh tiêm lửa. Khi tỉ lệ kali trong cây giảm xuống chỉ còn
bằng 1/2-1/3 so bình thường thì mới thấy xuất hiện triệu chứng thiếu kali trên lá,
cho nên khi triệu chứng suất hiện thì năng suất đã giảm nên việc bón kali không
thể bù đắp được. Do vậy không nên đợi đến lúc xuất hiện triệu chứng thiếu kali rồi
mới bón bổ sung kali cho cây.
Trong sản xuất, khi bón phân kali cho lúa, lượng kali clorua bao giờ cũng ít nhất
trong 3 loại phân bón chính và thường sử dụng để bón thúc cùng với phân đạm.

Phân kali có 2 loại: phân kali tự nhiên và chế biến công nghiệp:

a) Phân kali tự nhiên có: Sylvinit chứa 12-15% K2O, Cainit chứa 10-12% K2O,
bột xi măng chứa 14-35% K2O và tro bếp chứa 8-15% K2O.

b) Phân kali chế biến công nghiệp: bao gồm Clorua kali chứa 58-62% K2O,
Sunphat kali chứa 45-48% K2O, Nitrat kali ch ứa 41-46% K2O và Patenkali chứa
29% K2O.

Phân kali bón cho lúa chủ yếu là Kali Clorua (KCl) – còn gọi là MOP. Loại phân
này ở bạng bột màu hồng hoặc màu trắng như muối, dễ tan trong nước, dễ hút ẩm
và đóng cục, có vị mặn. Loại phân bón này chứa 58-62% kali nguyên chất K2O
thường được trộn với đạm urê để bón thúc cho lúa. Phân bón này thường được
nhập từ các nước: Canada, Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ðức.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản