PHẦN I: CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Chia sẻ: kysuu0809

Tài liệu ôn thi tại chức môn địa lý

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: PHẦN I: CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 1

PHẦN I: CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Chuyên đề 1: "Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên"
1. Vị trí địa lí:
Lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai bộ phận: phần đất liền ( diện tích 330.991 km2) và
phần biển rộng lớn gấp nhiều lần so với phần đất liền.
a) Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Đặc điểm đó đã làm cho thiên
nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á, Đông Phi, Tây Phi và tác
động sâu sắc tới các hoạt động kinh tế.
b) Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á,
có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng. Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển làm
cho nước ta có thể dễ dàng giao lưu về kinh tế và văn hoá với nhiều nước trên thế giới.
c) Việt Nam nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế
giới. Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Xingapo, sau đó là Malaixia,
Thái Lan, Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơn
trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong nhiều năm liên
tục trước cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào nửa sau thập kỷ 90, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của các nước trong khu vực đạt khá cao. Vị thế của ASEAN ngày càng được
khẳng định.
2. Tài nguyên thiên nhiên
a) Nước ta có sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên. Ở trình độ phát triển kinh tế
như hiện nay, tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng. Việt Nam có khoảng 8,0 triệu ha đất
nông nghiệp, bao gồm đất ở đồng bằng, ở các bồn địa giữa núi, ở đồi núi thấp và các cao
nguyên.
Nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, số lượng các giống loài động, thực
vật biển và trên cạn khá phong phú, nguồn khoáng sản đa dạng v.v… là những thuận lợi
mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta.
Tuy nhiên, nước ta cũng có nhiều tai biến do thiên nhiên gây ra như bão, lũ lụt, hạn
hán v.v… Gần như không năm nào không có thiên tai gây ra những tổn thất nhất định cho
nền kinh tế và cho đời sống nhân dân ở vùng này hay vùng khác.
Khoáng sản là một loại tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt đối với việc phát
triển kinh tế - xã hội. nhìn chung, ở nước ta nhiều loại khoáng sản phân tán theo không
gian và phân bố không đều về trữ lượng. Một số khoáng sản với trữ lượng đáng kể như:
boxit, vật liệu xây dựng, dầu khí, sắt v.v… tuy mới được khai thác bước đầu nhưng đã
tỏ ra có hiệu quả.
Việc khai thác và sử dụng các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên có quan hệ mật
thiết với trình độ phát triển của khoa học – kỹ thuật và công nghệ, cũng như phụ thuộc
nhiều vào vốn đầu tư.
Trên một đơn vị diện tích, số lượng tài nguyên nhiều, trữ lượng nhỏ lại phân tán
như trong điều kiện hiện nay, có thể là một khó khăn. Song nếu áp dụng công nghệ khai
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 2

thác tài nguyên tiên tiến trên quan điểm kinh tế tổng hợp, thì mức độ tập trung tài nguyên
như đã nêu ở trên lại có thể coi là một thế mạnh.
b) Cho đến gần đây, những hậu quả của chiến tranh để lại và nhất là việc khai thác
không hợp lý tài nguyên ở nước ta đã dẫn đến tình trạng nhiều loại bị suy giảm nghiêm
trọng.
Thực trạng khai thác tài nguyên ở Việt Nam rất khác nhau. Trong khi tài nguyên biển
chưa sử dụng được bao nhiêu thì nhiều loại tài nguyên khác lại bị khai thác quá mức.
Tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng nhất. Hiện nay, độ che phủ của rừng đang
ở mức báo động. Rừng chỉ còn chiếm 32% diện tích cả nước (1999). Đất đai nhiều vùng
bị sói mòn, diện tích đất trồng, đồi trọc tăng lên đáng kể. Nhiều hệ sinh thái rừng, nhất là
ở khu vực ven biển, đầu nguồn và cửa sông bị phá hoại nặng nề. Nguồn gen động vật,
thực vật bị giảm sút mạnh.
Sự suy giảm tài nguyên thiên nhiên trước hết là hậu quả trực tiếp của việc khai thác
bừa bãi, không theo một chiến lược nhất định. Sau nữa là trình độ công nghệ khai thác
của nước ta còn lạc hậu. Vì thế, tài nguyên bị lãng phí mà chi phí khai thác lại cao.
c) Tài nguyên thiên nhiên là một trong những nguồn lực cơ bản trong việc xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, vấn đề sử dụng hợp lí đi đôi với việc bảo về và tái
tạo tài nguyên thiên nhiên đang được đặt ra nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho
sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện tại và trong tương lai.

Chuyên đề 2: "Dân cư và nguồn lao động"
1. Việt Nam là một nước đông dân, có nhiều thành phần dân tộc
Theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 1 – 4 – 1999, dân số nước ta là 76.327.900
người. Về dân số, nước ta đứng hàng thứ hai ở khu vực Đông Nam Á và hàng thứ 13
trong tổng số hơn 200 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới.
Dân số là một nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế. Với số dân đông,
nước ta có nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn. Song trong điều kiện
nước ta hiện nay, dân số đông là một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế và nâng cao
đời sống của nhân dân.
Nước ta có 54 thành phần dân tộc, đoàn kết trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Hiện nay trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các thành phần dân tộc ở nước ta vẫn
còn có sự chênh lệch. Vì vậy, phải chú trọng hơn nữa đển việc phát triển kinh tế - xã hội
ở các vùng dân tộc ít người.
2. Dân số nước ta tăng nhanh
Dân số tăng quá nhanh dẫn đến sự bùng nổ dân số. Điều đó xảy ra ở nước ta từ
cuối những năm 50 của thế kú XX. Tuy nhiên, ở từng vùng lãnh thổ, từng thành phần dân
tộc, mức bùng nổ dân số có sự khác nhau. Trên phạm vi toàn quốc, dân số nước ta đã tăng
gấp đôi từ 30 lên 60 triệu người trong vòng 25 năm (1960 – 1985).
Nhịp độ gia tăng dân số cũng biến đổi qua các thời kì.
Trong thời kì 1931 – 1960, tốc độ gia tăng trung bình năm là 1,85%. Dân số tăng
nhanh vào những năm 1965 – 1975 với mức tăng trung bình năm trên 3%. Giữa hai đợt
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 3

tổng điều tra dân số lần thứ nhất và lần thứ hai (1979 và 1989), mức tăng trung bình năm
giảm xuống còn 2,1% và giữa hai cuộc tổng điều tra dân số gần đây nhất (1989 và 1999)
là 1,7%.
Hiện nay, do kết quả của việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình, nhịp độ tăng dân số ở nước ta đang có xu hướng giảm xuống, tuy còn chậm. Mặc
dù tỉ lệ sinh có giảm, song số dân nước ta trong thời kì 1979 – 1989 vẫn tăng thêm 11,7
triệu người, tương đương với số dân của một nước trung bình trên thế giới.
Trong thời kì 1989 – 1999, số dân tăng thêm 11,9 triệu người, tỉ lệ gia tăng dân số
trung bình năm tuy có giảm (1,7%) nhưng vẫn cao hơn một chút so với mức gia tăng tự
nhiên của toàn thế giới.
Sự gia tăng dân số quá nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với việc phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước và nâng cao chất lượng cuộc sống của từng thành viên trong xã
hội.
3. Dân số nước ta thuộc loại trẻ
Cơ cấu các nhóm tuổi trong tổng số dân (1 – 4 – 1999) của nước ta là:
+ Dưới độ tuổi lao động: 33,1%
+ Trong độ tuổi lao động: 59,3%
+ Ngoài độ tuổi lao động: 7,6%
Do dân số trẻ nên lực lượng lao động của nước ta chiếm khoảng 50% tổng số dân.
Hàng năm xã hội có thêm khoảng 1,1 triệu lao động mới. Điều đó gây nên những khó
khăn về sắp xếp việc làm cho số lao động gia tăng. Tuy nhiên lực lượng lao động của
Việt Nam có khả năng tiếp thu nhanh các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Nếu được đào
tạo và sử dụng hợp lí, họ sẽ trở thành nguồn lực quyết định để xây dựng đất nước.
4. Dân cư và nguồn lao động nước ta phân bố không đều
Điều đó phụ thuộc vào lịch sử định cư, trình độ phát triển kinh tế -xã hội, mức độ
màu mỡ của đất đai, sự phong phú của nguồn nước v.v… Tính chất không đồng đều này
thể hiện rõ rệt giữa các vùng và ngay trong nội bộ từng vùng lãnh thổ.
Khoảng 80% số dân tập trung ở vùng đồng bằng và ven biển với mật độ dân số rất
cao (đồng bằng sông Hồng 1180 người/km2 – 1999). Ở trung du và miền núi, dân cư thưa
thớt hơn nhiều (Tây Nguyên là 67 người/km2, Tây Bắc là 62 người/km2).
Sự phân bố dân cư không đều còn thể hiện giữa thành thị và nông thôn. 76,5% số
dân sinh sống ở nông thôn, còn ở thành thị chiếm 23,5% (số liệu năm 1999)
Tình hình phân bố dân cư như vậy gây ra những khó khăn cho việc sử dụng hợp lí
nguồn lao động và việc khai thác nguồn tài nguyên hiện có ở mỗi vùng.
5. Để giảm bớt gánh nặng dân số, cần phải có chiến lược phát triển dân số hợp lí
và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động của nước ta
Trước mắt, cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm nhanh tỉ lệ sinh, đồng
thời từng bước phân bố lại dân cư, lao động giữa các vùng và giữa các ngành kinh tế
trong phạm vi cả nước.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 4



Chuyên đề 3: " Đường lối phát triển KT-XH và cơ sở vật chất kỹ thuật"
I. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội
1. Việc đổi mới kinh tế - xã hội một cách toàn diện là vấn đề cơ bản xuyên suốt hệ
thống chính sách của Đảng và Nhà nước
Đây cũng chính là nguồn lực quan trọng góp phần vào việc định hướng phát triển
nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội chủ yếu đang đặt ra ở nước ta. Cho đến nay,
nền kinh tế nước ta đã trải qua từ việc phi tập trung hoá về mặt hành chính đến việc
bước đầu đổi mới toàn diện. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, quá trình
đổi mới đã được định hình và phát triển đúng hướng. Sự đổi mới thể hiện ở việc xoá bỏ
cơ chế quản lí tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ cấu kinh tế năng động, sử dụng
cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 đã được vạch ra nhằm giải
quyết những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách của đất nước
Mục tiêu tổng quát của chiến lược là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn
lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
được hình thành về cơ bản ; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.
Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000 ;
chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp
xuống còn khoảng 50%.
3. Để thực hiện chiến lược đổi mới, nhiều chính sách cụ thể đã được ban hành
Một trong những nguồn lực quan trọng để đảm bảo thực hiện thắng lợi mục tiêu
của chiến lược kinh tế - xã hội là vấn đề tạo vốn. Ngoài chính sách huy động vốn trong
nước, chính sách mở cửa và luật đầu tư đã ra đời và đang phát huy tác động trong nhiều
lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Việt Nam được coi là một thị trường khá hấp dẫn, là nơi đang có nhiều nước trong
khu vực và trên thế giới đến đầu tư.
II. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội
1. Nước ta đã xây dựng được một hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật có trình độ
nhất định để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước
a) Cơ sở vật chất – kỹ thuật của các ngành từng bước được hình thành. Trong nông
nghiệp, cả nước có gần 5300 công trình thuỷ lợi, trong đó có khoảng 3000 trạm bơm. Các
công trình này đã góp phần vào việc chủ động tưới nước cho 4,8 triệu ha và tiêu nước
cho 52 vạn ha. Ngoài ra phải kể đến nhiều cơ sở bảo vệ thực vật, thú ý, nghiên cứu
giống, nhân giống và tạo ra nhiều giống cây, con phù hợp với điều kiện sinh thái, kỹ
thuật nuôi trồng cho năng suất cao.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 5

Trong công nghiệp, cả nước có 2821 xí nghiệp trung ương và địa phương, 590.246
cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh – (tính đến hết năm 1998). Một số ngành công nghiệp
khai thác (than, dầu khí), công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (dệt, giấy v.v…), xi măng.
Mạng lưới giao thông chính đã toả đi nhiều nơi từ Bắc đến Nam, từ đồng bằng lên
trung du và miền núi. Dọc vùng duyên hải là hệ thống cảng biển, trong đó đáng kể nhất
là các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Năng lực vận chuyển hàng hoá của các cảng
biển đạt 11,6 triệu tấn/năm (năm 1999). Mạng lưới thương mại phát triển rộng khắp với
1,5 triệu người kinh doanh chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.
b) Về phương diện lãnh thổ, các trung tâm công nghiệp quan trọng (Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh) và một số vùng chuyên canh (lúa, cây công nghiệp) có quy mô lớn, thật
sự trở thành bộ khung cho việc hình thành các vùng kinh tế.
2. Tuy nhiên, cơ sở vật chất – kỹ thuật chưa đủ mạnh để có thể đáp ứng được yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trừ một số cơ sở công nghiệp mới xây dựng, trình độ kỹ thuật và công nghệ của
nước ta nói chung còn lạc hậu. Sự thiếu đồng bộ giữa các ngành và trong từng ngành còn
phổ biến. Kết cấu hạ tầng vẫn đang ở tình trạng kém phát triển.
Sự phân bố cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền kinh tế chưa đồng đều giữa các
vùng. Các cơ sở kinh tế lớn tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và phụ cận, ở
Đông Nam Bộ, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh. Ở các vùng này, kết cấu hạ tầng phát
triển hơn hẳn các vùng còn lại của đất nước. Trong lúc đó, cả một vùng rộng lớn của
Tây Bắc, Tây Nguyên, cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc
phát triển kinh tế - xã hội còn rất hạn chế.
3. Để tạo tiền đề cho sự phát triển, việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật
chất – kỹ thuật là một vấn đề cấp thiết
Trước mắt, việc đầu tư theo chiều sâu kết hợp giữa hiện đại hoá và phát triển đồng
bộ cơ sở vật chất – kỹ thuật sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế - xã hội nước ta tiến kịp
trình độ chung của thế giới.

PHẦN II: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

Chuyên đề 1: "Lao động và việc làm”
1. Nguồn lao động
Nguồn lao động của nước ta rất dồi dào. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội, lực lượng lao động năm 1998 gồm 37,4 triệu người. Mặc dù mức gia tăng
dân số và nguồn lao động đã giảm, mỗi năm vẫn tăng thêm khoảng 1,1 triệu lao động.
Người lao động Việt Nam cần cù, khéo tay, có những truyền thống, kinh nghiệm
sản xuất (nhất là trong nông, lâm, ngư nghiệp và sản xuất tiểu thủ công nghiệp) được
tích luỹ qua nhiều thế hệ, có khả năng tiếp thu khoa học, kỹ thuật. Chất lượng nguồn lao
động ngày càng cao do đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật là gần 5 triệu người,
chiếm hơn 13% tổng lực lượng lao động, trong đó số người có trình độ đại học và cao
đẳng trở lên chiếm 23%.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 6

Tuy nhiên, từ một nước nông nghiệp đi lên, người lao động nước ta nhìn chung còn
thiếu tác phong công nghiệp, kỉ luật lao động chưa cao. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật, công nhân có tay nghề cao vẫn còn mỏng trước yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Lực lượng lao động, đặc biệt là lao động có kỹ thuật, tập trung chủ yếu ở vùng
đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, nhất là ở một số thành phố lớn (Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ…). Đó là điều kiện thuận lợi để
phát triển ở đây các ngành dịch vụ, các ngành công nghiệp đòi hỏi trình độ cao.
Mặt khác, sự tập trung quá cao lực lượng lao động ở vùng đồng bằng và duyên hải
có thể gây căng thẳng cho việc giải quyết việc làm. Trong khi đó, vùng núi và vùng trung
du giàu tài nguyên lại thiếu lao động, đặc biệt là lao động có kỹ thuật.
2. Sử dụng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân
a) So với những năm đầu Đổi mới, thì cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế quốc
dân đã thay đổi đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Lao động nông, lâm,
ngư nghiệp chỉ còn chiếm 63,5% lao động trong công nghiệp và xây dựng đã chiếm
11,9%, lao động trong khu vực dịch vụ tăng mạnh, chiếm 24,6% lực lượng lao động.
b) Việc sử dụng lao động trong các thành phần kinh tế có những thay đổi quan
trọng. Nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế nhiều thành phần(1), có thể chia
thành 2 khu vực lớn là khu vực Nhà nước (quốc doanh), và khu vực kinh tế tập thể và tư
nhân (ngoài quốc doanh). Hiện nay đang có sự chuyển dịch lao động từ khu vực Nhà
nước sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Sự chuyển dịch lao động như vậy là phù
hợp với quá trình nước ta chuyển sang kinh tế thị trường.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không chỉ thu hút đa số tuyệt đối lao động nông,
lâm, ngư nghiệp, mà còn thu hút ngày càng nhiều lao động làm công nghiệp, xây dựng và
dịch vụ.
c) Năng suất lao động xã hội nói chung còn thấp làm cho phần lớn người lao động
có thu nhập thấp, đồng thời làm chậm việc cải thiện sự phân công lao động xã hội. Thêm
vào đó, vẫn còn nhiều quỹ thời gian lao động (ở nông thôn, cũng như trong các cơ quan, xí
nghiệp) chưa được sử dụng. Nếu tổ chức tốt lao động, thì đây là một nguồn dự trữ lớn
để nâng cao năng suất lao động xã hội.
3. Vấn đề việc làm
a) Việc làm đang là một vấn đề kinh tế - xã hội gay gắt ở nước ta, đặc biệt là ở các
thành phố. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, năm 1998 cả nước
có 9,4 triệu người thiếu việc làm và 856 nghìn người thất nghiệp. Tỉ lệ thiếu việc làm ở
vùng nông thôn là 28,2%. Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị là 6,8%.
Hiện nay, tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn và tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị cao nhất
là ở đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là ở Bắc Trung Bộ. Vấn đề việc làm ở Đông Nam
Bộ trước đây cũng rất căng thẳng, nay đã được cải thiện rõ rệt.
b) Vấn đề việc làm đã và đang được giải quyết theo các hướng sau
- Phân bố lại dân cư và nguồn lao động giữa các vùng, để vừa tạo thêm việc làm,
vừa khai thác được tốt hơn tiềm năng của mỗi vùng. Tây Nguyên (đặc biệt là Đắc Lắc)
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 7

và Đông Nam Bộ (đặc biệt là Đồng Nai) đã tiếp nhận hàng chục vạn người đến xây
dựng các vùng kinh tế mới, nhất là từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền
Trung.
- Đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình và đa dạng hoá các hoạt động kinh tế nông thôn.
Việc khẳng định vai trò của kinh tế hộ gia đình sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả
hơn lao động nông nghiệp. Nền nông nghiệp đang chuyển dần từ tự cấp, tự túc thành
nông nghiệp hàng hoá, thâm canh và chuyên canh. Các nghề thủ công truyền thống, các
hoạt động dịch vụ ở nông thôn được khôi phục và phát triển. Lao động thuần nông ngày
càng giảm đi. Nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá nông thôn, nhờ vậy vấn đề việc
làm ở nông thôn sẽ được giải quyết vững chắc hơn.
- Phát triển các hoạt động công nghiệp và dịch vụ, trong đó có các hoạt động công
nghiệp và dịch vụ quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh, sử dụng kỹ thuật tinh xảo và cần
nhiều lao động, có khả năng tạo ra nhiều việc làm mới cho thanh niên ở các thành phố,
thị xã.
Việc đa dạng hoá các loại hình đào tạo (trong đó có các hình thức đào tạo từ xa, đào
tạo mở rộng…), đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp ở các nhà trường, hoạt động dạy
nghề và giới thiệu việc làm vừa giúp nâng cao chất lượng người lao động, vừa giúp cho
người lao động có thể tự tạo việc làm hoặc dễ tìm việc làm hơn.
Nhà nước và nhân dân ta đang tìm mọi biện pháp để giải quyết việc làm và sử dụng
hợp lí sức lao động, vì nguồn nhân lực có ý nghĩa cực kì quan trọng để phát triển kinh tế -
xã hội của nước ta.

Chuyên đề 2: "Vấn đề phát triển giáo dục văn hóa và y tế"
Việt Nam là một nước có nền văn hoá lâu đời. Mặc dù có những thăng trầm của
lịch sử, nền văn hoá đó đã giúp người Việt Nam giữ gìn được bản sắc của dân tộc mình,
đồng thời cải biến cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và thời đại.
Việc phát triển giáo dục, văn hoá và y tế có ý nghĩa to lớn trong việc đẩy mạnh tiến
bộ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, hình thành con người mới.
1. Nền giáo dục Việt Nam đa dạng và ngày càng hoàn chỉnh, góp phần tích cực vào
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có vị trí chiến lược trong việc hình thành nhân cách
con người Việt Nam mới, trong việc nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Vì vậy, Đảng và
Nhà nước ta đã khẳng định giáo dục là quốc sách.
Trong hơn nửa thế kỷ qua, mặc dù đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt,
nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưng sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã được chú trọng
đầu tư trong phạm vi cho phép.
Hệ thống giáo dục ngày càng hoàn chỉnh, có đủ các cấp học và ngành học, từ mẫu
giáo, phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông), bổ túc văn hoá (giáo dục
thường xuyên), đến hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng
và đại học.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 8

Các hình thức tổ chức giáo dục cũng đa dạng: Các trường phổ thông, trường năng
khiếu, trường dành cho trẻ mồ côi, trường dành cho trẻ bị khuyết tật, trường phổ thông
dân tộc nội trú… do Nhà nước quản lí. Trong mấy năm gần đây đã xuất hiện các trường
phổ thông dân lập và bán công.
Trong hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học cũng đã xuất hiện thêm một số
trường đại học dân lập, đại học cộng đồng (ở một số tỉnh trên cả nước), đại học bán
công, đại học mở, hai trường Đại học quốc gia ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các
trường đại học khu vực ở Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng…
Mạng lưới các cơ sở giáo dục hiện nay gồm hơn 23.000 trường phổ thông, 239
trường trung học chuyên nghiệp và 110 trường đại học, cao đẳng (chưa kể các trường
dân lập). Trung tâm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật lớn nhất là Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh, ngoài ra còn phải kể đến các trung tâm đào tạo tại các thành phố Thái
Nguyên, Hải Phòng, Vinh , Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ và Đà Lạt…
Những thành tựu về giáo dục và đào tạo mà nước ta đã đạt được là to lớn. Trước
Cách mạng tháng Tám, hơn 80% dân số nước ta không biết đọc biết viết. Hiện nay có tới
khoảng 92% dân số từ 10 tuổi trở lên là biết đọc biết viết (năm 1999), là tỉ lệ cao so với
nhiều nước đang phát triển ở vùng châu Á – Thái Bình Dương. Trình độ học vấn của
nhân dân ngày càng được nâng cao.
Mỗi năm cả nước có khoảng 17 triệu trẻ em đến trường. Nước ta đã hoàn thành
phổ cập tiểu học.
Số sinh viên cao đẳng, đại học mỗi năm không ngừng tăng lên; năm 1998 là 682
nghìn người, số tốt nghiệp là trên 103 nghìn người. Số học sinh trung học chuyên nghiệp
năm 1998 là 178 nghìn người, số học sinh các trường đào tạo công nhân kỹ thuật là 114
nghìn người.
Ngoài ra cần phải kể đến một lực lượng khá đông đảo trí thức, sinh viên… của
cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang hướng về quê hương mong đóng góp vào sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2. Một nền văn hoá đa dạng, giàu bản sắc dân tộc
Nước ta có nền văn hiến lâu đời. Bản sắc của dân tộc Việt Nam được tạo nên từ
tinh hoa văn hoá của 54 dân tộc chung sống trên toàn lãnh thổ, cộng với việc tiếp thu có
chọn lọc và phát triển tinh hoa của các nền văn hoá trên thế giới.
Việc xây dựng nền văn hoá mới, vừa dân tộc, vừa hiện đại có ý nghĩa rất quan
trọng trong xây dựng xã hội mới, phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vậy, việc duy trì và phát
triển bản sắc văn hoá của dân tộc luôn luôn được coi trọng.
Mạng lưới các cơ sở dịch vụ văn hoá đã hình thành và phát triển. Các thành phố, thị
xã, huyện lị là các trung tâm văn hoá của khu vực. Ở đây, tuỳ từng nơi mà có các nhà văn
hoá, câu lạc bộ, thư viện, hiệu sách, phòng triển lãm nghệ thuật, nhà bảo tàng, nhà hát,
rạp chiếu bóng với quy mô khác nhau. Mạng lưới dịch vụ văn hoá còn được phát triển
đến cấp xã ở nhiều vùng. Việc phủ sóng phát thanh, truyền hình trên phạm vi cả nước
với nội dung phát sóng ngày càng phong phú, hấp dẫn đang góp phần quan trọng vào việc
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 9

phát triển truyền thông đại chúng, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân. Các
hoạt động văn hoá đối ngoại (nhất là các hoạt động qua phát thanh, truyền hình và báo chí
trên mạng Internet) cũng ngày càng được chú trọng.
Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm văn hoá lớn nhất của cả
nước.
3. Một nền y tế ngày càng hoàn thiện
Phát triển dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cho từng thành viên trong xã hội là một
trong những nét ưu việt của chế độ ta. Nhờ việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu tốt mà tỉ
suất tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm mạnh (từ 79% năm 1970, xuống còn 44 ‰
hiện nay). Tuổi thọ trung bình của nhân dân ta đã khá cao (nam 65, nữ gần 70). Nhiều
bệnh truyền nhiễm và bệnh dịch hiểm nghèo đã được thanh toán về căn bản.
Mạng lưới dịch vụ y tế phát triển rộng khắp, từ tuyến trung ương, tuyến tỉnh, đến
tuyến huyện và y tế cơ sở (cụm xã, xã, phường, cơ quan, xí nghiệp). Bao gồm các bệnh
viện chuyên khoa và các bệnh viện đa khoa, viện điều dưỡng. Các phòng khám tư, hiệu
thuốc tư nhân đã được phép hoạt động. Tuy nhiên, mạng lưới y tế cơ sở ở các vùng núi,
vùng sâu, vùng xa vẫn còn mỏng, thiếu cả về phương tiện và đội ngũ cán bộ.
Việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được chú trọng, với các chương trình
trọng điểm quốc gia như chương trình phòng chống sốt rét, thanh toán bệnh phong, phòng
chống lao, phòng chống HIV/AIDS, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình
kiểm soát tình trạng suy dinh dưỡng…
Từ trước đến nay, ngành y tế nước ta vẫn có truyền thống kết hợp y học cổ truyền
với y học hiện đại để nâng cao chất lượng phòng và chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban
đầu đến hộ gia đình, đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao, cái thiện điều kiện vệ sinh
môi trường.
Chúng ta có thể tự hào rằng mặc dù bình quân thu nhập theo đầu người ở nước ta
còn thấp, tình hình ngành y tế của nước ta vẫn tốt hơn so với hầu hết các nước có thu
nhập thấp và thậm chí còn hơn cả một số nước có thu nhập khá cao khác.

4. Những khó khăn và các vấn đề cần giải quyết
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong lĩnh vực giáo dục, y tế và văn hoá vẫn
còn nhiều vấn đề phải giải quyết.
Trong giáo dục và y tế, vấn đề ngăn chặn tình trạng xuống cấp của các trường học,
bệnh viện và nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng phục vụ đang được đặt ra nhằm
đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân ta về học tập và chữa
bệnh, trong điều kiện khả năng tài chính của Nhà nước có hạn. Vấn đề phổ cập tiểu
học, tiến tới phổ cập trung học cơ sở, xoá mù chữ và tái mù chữ cũng là mối quan tâm
lớn, đặc biệt là ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và vùng đồng bằng
sông Cửu Long.
Trong thời đại hiện nay, các luồng thông tin trên hành tinh hầu như không có biên
giới do kỹ thuật phát sóng truyền thanh và truyền hình qua vệ tinh, do sự bùng nổ của
“văn hoá du lịch”, người dân bình thường cũng có điều kiện hơn để tiếp xúc với các nền
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 10

văn hoá của thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tốt cũng phải đề phòng sự “ô nhiễm xã
hội” do ảnh hưởng của các loại văn hoá lai căng, sự tuyên truyền thù địch, các lối sống
không phù hợp với dân tộc. Việc bảo vệ và gìn giữ, phát triển thuần phong mĩ tục, bảo
vệ và tôn tạo các di tích văn hoá – lịch sử cũng là vấn đề cần được đầu tư và quan tâm
hơn nữa.
Chuyên đề 3: " Thực trạng nền kinh tế"
1. Công cuộc Đổi mới đã đưa nước ta từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng
kinh tế - xã hội kéo dài
a) Nước ta vốn đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, lại chịu hậu quả
nặng nề của chiến tranh. Nền kinh tế mang nặng tính chất tự cấp tự túc, công nghiệp
nhỏ bé và lạc hậu, các ngành dịch vụ chưa phát triển. Chiến tranh kéo dài làm tổn hao lớn
về người và của ; nhiều cơ sở công nghiệp mới được khôi phục và xây dựng đã bị tàn
phá ; đường sá và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị hư hỏng nặng ; đời sống kinh tế - xã hội
bị đảo lộn.
Trước đây, đặc biệt là trong thời kì chiến tranh, những cân đối lớn trong nền kinh tế
của đất nước được đảm bảo bằng viện trợ và vay nợ của nước ngoài. Vì thế, tuy có
những năm mức tăng trưởng kinh tế tương đối khá, nhưng tỉ lệ nhập siêu rất lớn. Từ sau
khi đất nước thống nhất, các nguồn viện trợ bị cắt giảm đột ngột, Hoa Kì lại duy trì
chính sách cấm vận chống Việt Nam trong nhiều năm. Các quan hệ kinh tế xuất nhập
khẩu trước đây bị phá vỡ. Nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, rơi vào tình trạng khủng
hoảng trầm trọng vào cuối thập kỉ 70, nửa đầu thập kỉ 80 của thế kỷ XX.
b) Công cuộc Đổi mới được triển khai từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến
nay đã đưa nước ta từng bước thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Lạm
phát được đẩy lùi, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, nền kinh tế đã bắt đầu có tích luỹ nội
bộ, tuy còn thấp. Đời sống nhân dân được cải thiện.
c) Tuy nhiên, trong quá trình Đổi mới, nền kinh tế của nước ta phải trải qua nhiều
khó khăn, thử thách. Những đổi mới trong cơ cấu kinh tế còn chậm, tốc độ tăng trưởng
trong một số ngành còn chưa thật sự vững chắc. Đời sống nhân dân ở nhiều vùng còn
gặp khó khăn. Tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao, tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị còn
khá trầm trọng. Sự phân hoá giàu nghèo đang có xu hướng tăng.
2. Sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành
a) Có hai xu hướng lớn của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đang diễn ra trên
thế giới:
- Chuyển dịch từ khu vực sản xuất vật chất sang khu vực dịch vụ. Xu hướng này
thường diễn ra ở các nước có nền kinh tế phát triển cao, dưới ảnh hưởng của cuộc cách
mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại.
- Chuyển dịch trong nội bộ khu vực sản xuất vật chất, chủ yếu là chuyển dịch cơ
cấu từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Xu hướng này chủ yếu ở các
nước đang phát triển, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá.
b) Với điều kiện của nước ta, đang trong quá trình công nghiệp hoá, mở cửa nền
kinh tế, với xu hướng toàn câu hoá nền kinh tế thế giới và do tác động của cuộc cách
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 11

mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại, chúng ta có thể thực hiện cùng một lúc hai bước
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên, rút ngắn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại hoá.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành thể hiện tương đối rõ nét ở sự thay đổi
cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP). Tỉ trọng của nông – lâm – ngư nghiệp tăng dần
đến năm 1988 rồi sau đó giảm dần. Tỉ trọng của công nghiệp giảm cho tới năm 1990 do
những xáo trộn trong quá trình sắp xếp lại cơ cấu, nay đang tăng dần, chuẩn bị cho
những bước tiến mới. Khu vực dịch vụ tăng khá nhanh, từ năm 1992 đã vượt phần tỉ
trọng của khu vực nông - lâm – ngư nghiệp.
c) Sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ các ngành kinh tế thể hiện khá rõ
- Trong công nghiệp, trước Đổi mới, công nghiệp nặng được chú trọng phát triển
nhưng do thiếu nguồn lực nên kém hiệu quả. Trong thời kì đầu Đổi mới, các ngành công
nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm được chú trọng phát triển để phục vụ ba chương
trình kinh tế lớn : lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Hiện nay,
trong cơ cấu ngành công nghiệp chiếm ưu thế là các ngành sử dụng lợi thế tương đối về
lao động (dệt, may, da giày, chế biến thực phẩm) và tài nguyên (dầu khí, điện, xi
măng…). Nhưng các ngành đòi hỏi hàm lượng kỹ thuật cao (kỹ thuật điện và điện tử) sẽ
được phát triển mạnh hơn trong thập kỷ tới.
- Trong nông nghiệp, nhờ giải quyết tốt hơn lương thực cho người và thức ăn cho
gia súc mà ngành chăn nuôi đã phát triển khá, đạt hiệu quả cao. Ngành thuỷ sản được chú
trọng phát triển, góp phần quan trọng vào việc cải thiện bữa ăn cho nhân dân và tạo
nguồn hàng xuất khẩu.
- Các ngành thuộc kết cấu hạ tầng được chú trọng ưu tiên đầu tư, đặc biệt là thông
qua con đường hợp tác đầu tư với nước ngoài. Ngành bưu điện, thông tin liên lạc đã
được phát triển tăng tốc, đi trước một bước so với nhiều ngành khác.
3. Sự chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ
a) Cơ cấu lãnh thổ nền kinh tế đang chuyển dịch tương ứng với sự chuyển dịch cơ
cấu ngành. Trong nông nghiệp đang hình thành và phát triển các vùng nông nghiệp sản
xuất hàng hoá (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và miền núi, trung du phía Bắc chuyên môn
hoá về trồng và chế biến cây công nghiệp ; đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng
sông Hồng chuyên môn hoá về lương thực - thực phẩm). Trong công nghiệp đang phát
triển các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất ở các tỉnh, thành phố có lợi thế về
vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, các công trình kết cấu hạ tầng, nguồn lao động kỹ
thuật. Các trung tâm công nghiệp mới đang hình thành.
b) Trong cả nước đang nổi lên các vùng kinh tế phát triển năng động: Đông Nam
Bộ, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Các vùng này, cũng như các
thành phố lớn trong vùng (đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) có vị trí cực kì
quan trọng trong cơ cấu lãnh thổ kinh tế của đất nước.
c) Hiện nay đã hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm ở ba miền Bắc, Trung, Nam
- Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội – Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng -
Quảng Ninh – Vĩnh Phúc – Hà Tây - Bắc Ninh
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 12

- Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung: Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam -
Quảng Ngãi – Bình Định
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương -
Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu – Bình Phước – Tây Ninh – Long An
Đây cũng chính là những vùng trọng điểm đầu tư, được ưu tiên phát triển, có tầm
một quan trọng chiến lược, nhằm đạt được hiệu quả cao về kinh tế - xã hội.
Chuyên đề 4: "Sử dụng vốn đất"
1. Vốn đất đai
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không
thể thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của
môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh và quốc phòng. Bởi vậy việc sử dụng hợp lí đất đai có ý nghĩa rất lớn đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Ý nghĩa của việc sử dụng hợp lí
đất đai càng đậm nét trong hoàn cảnh của nước ta là một nước đất hẹp, người đông, tài
nguyên đất lại đã bị thoái hoá một phần.
Bình quân đất tự nhiên trên đầu người của nước ta chỉ khoảng 0,4 ha/người, gần
bằng 1/6 mức bình quân của thế giới. Không những thế, hơn 2/5 diện tích đất tự nhiên
của cả nước là đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất hoang hoá và đất bị hoang hoá trở lại.
Trong cơ cấu đất đai của cả nước, diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 24% và
còn rất ít khả năng mở rộng. Diện tích đất lâm nghiệp khoảng 35% là quá ít trong điều
kiện của một nước chủ yếu là đồi núi, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Không những thế,
diện tích này còn bị thu hẹp do diện tích trồng rừng không bù đắp được diện tích rừng bị
khai thác và chặt phá như hiện nay.
Diện tích đất chuyên dùng và đất thổ cư đang ngày càng tăng lên do quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và do nhu cầu về đất ở của dân cư ngày một tăng. Đất chuyên
dùng và đất thổ cư được mở rộng do lấy từ đất nông nghiệp sang là chủ yếu. Điều này
có ảnh hưởng xấu đến việc sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là ở những vùng kinh tế
phát triển như Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng, cũng như ở một số vùng đồng
bằng duyên hải miền Trung.
Vốn đất đai ở các vùng của nước ta rất khác nhau (về quy mô, cơ cấu và bình quân
trên đầu người). Điều đó đòi hỏi ở mỗi vùng phải có những chính sách thích hợp trên cơ
sở Luật đất đai để sử dụng và bảo vệ có hiệu quả nhất vốn đất đai hiện có.
2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp ở nước ta được chia thành 4 loại chính: đất trồng cây hàng năm,
đất trồng cây lâu năm, đất đồng cỏ cho chăn nuôi và diện tích nuôi trồng thuỷ sản.
a) Ở vùng đồng bằng
Đất ở vùng đồng bằng thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cho
các cây trồng hàng năm. Ở đây, diện tích đất trồng lúa và các cây thực phẩm chiếm
khoảng 90% diện tích đất nông nghiệp.
Đồng bằng sông Hồng là nơi điển hình về sức ép dân số đối với việc sử dụng đất.
Bình quân đất nông nghiệp dưới 0,05 ha/người, là mức bình quân thấp nhất cả nước.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 13

Khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp rất hạn chế. Trong khoảng 10 nghìn ha đất
hoang hoá thì chỉ một phần diện tích là đất có khả năng sản xuất nông nghiệp. Trong
việc sử dụng đất ở đồng bằng sông Hồng nổi lên vấn đề thâm canh, tăng vụ trên cơ sở
thay đổi cơ cấu mùa vụ, đưa vụ đông lên thành vụ chính. Việc chuyển một phần đất
nông nghiệp thành đất chuyên dùng và đất thổ cư phải theo quy hoạch. Ngoài ra, việc tận
dụng các diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản sẽ tạo ra khả năng mới cho mở rộng
diện tích đất nông nghiệp.
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất nông nghiệp lớn gấp ba lần đồng bằng
sông Hồng. Bình quân đầu người gần 0,18 ha/người. Dải phù sa nước ngọt ở ven sông
Tiền, sông Hậu trồng được lúa 2 – 3 vụ/năm. Trước đây phần lớn diện tích đất trồng lúa
nằm ngoài dải này chỉ cấy một vụ (vụ mùa) còn bị bỏ hoá về vụ chiêm xuân do đất bốc
phèn hoặc mặn. Các công trình thuỷ lợi lớn, cải tạo đất đã và đang được tiến hành ở
Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau. Nhờ thế hàng trăm nghìn ha
đã được đưa vào sử dụng, trờ thành ruộng hai vụ. Thêm vào đó, hàng trăm nghìn ha đất
ven biển có thể cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Vấn đề sử
dụng hợp lí tài nguyên đất ở đồng bằng sông Cửu Long gắn liền với quy hoạch tổng thể
phát triển thuỷ lợi của vùng.
Các đồng bằng nhỏ hẹp duyên hải miền Trung lại có những vấn đề riêng trong sử
dụng đất nông nghiệp. Ở Bắc Trung Bộ, đó là việc chống lại nạn cát bay, ngăn chặn sự
di động của các cồn cát do gió. Ở Nam Trung Bộ, nếu giải quyết được nước tưới trong
mùa khô thì có thể nâng cao hệ số sử dụng đất và mở rộng thêm diện tích đất nông
nghiệp.
b) Ở trung du và miền núi
Nhìn chung đất ở trung du và miền núi dùng để trồng rừng, trồng cây lâu năm thì
thích hợp hơn, do đất dốc, dễ bị xói mòn, việc làm đất và làm thuỷ lợi gặp khó khăn.
Nhưng trong nhiều năm qua, để đảm bảo lương thực tại chỗ, diện tích nương rẫy vẫn
không ngừng được mở rộng, nhất là ở vùng núi Bắc Trung Bộ và trung du miền núi phía
Bắc.
Việc đẩy mạnh thâm canh ở những nơi có khả năng tưới, tiêu sẽ cho phép giải
quyết tốt hơn vấn đề lương thực tại chỗ. Việc trao đổi dễ dàng sản phẩm hàng hoá với
các vùng khác lấy lương thực, thực phẩm cũng là một giải pháp để có thể chuyển một
phần nương rẫy thành vườn cây ăn quả, cây công nghiệp và hạn chế nạn du canh du cư,
phá rừng bừa bãi.
Việc phát triển các vùng chuyên cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, với sự hỗ
trợ tích cực của công nghiệp chế biến sẽ cho phép miền núi, vùng trung du khai thác tốt
hơn các thế mạnh về tự nhiên và các điều kiện kinh tế - xã hội. Như vậy vừa có thể phát
triển sản xuất với hiệu quả kinh tế cao, vừa góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân ở
khu vực này và bảo vệ, khai thác hợp lí tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất và tài
nguyên rừng trên cả nước.

Chuyên đề 5: "Vấn đề lương thực, thực phẩm"
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 14

Vấn đề lương thực, thực phẩm là một trong những mối quan tâm lớn, thường xuyên
của Nhà nước và nhân dân ta.
Nước ta có dân số đông. Việc đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm sẽ đảm
bảo an ninh lương thực, cải thiện cơ cấu bữa ăn cho nhân dân; mặt khác tạo điều kiện đa
dạng hoá sản xuất nông nghiệp, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế
biến, thúc đẩy công nghiệp hoá và tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng.
1. Hiện trạng sản xuất lương thực, thực phẩm
a) Sản xuất lương thực
Từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, sản xuất lương thực đã đạt được những
thành tựu khá vững chắc. Diện tích gieo trồng lúa cả năm không ngừng được mở rộng, từ
5,6 triệu ha (năm 1980), đến nay là hơn 7,6 triệu ha. Nhờ phát triển thuỷ lợi và đưa vào
các giống mới phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau, nên cơ cấu mùa vụ đã thay đổi
nhiều. Diện tích lúa đông xuân được mở rộng, tới hơn 2,8 triệu ha. Lúa hè thu được đưa
vào trồng đại trà. Hàng trăm nghìn ha lúa mùa được chuyển sang làm vụ hè thu, nhất là ở
đồng bằng sông Cửu Long.
Nhờ đẩy mạnh việc thâm canh, các cánh đồng cho năng suất 7 tấn, 10 tấn (trên đất
hai vụ lúa) đã trở nên phổ biến. Năng suất lúa cả năm liên tục tăng, từ 20 tạ/ha (năm
1980) lên hơn 40 tạ/ha (năm 1999), đặc biệt là nhờ năng suất cao và ổn định của lúa đông
xuân và lúa hè thu. Việc sản xuất các cây màu lương thực cũng có những tiến bộ, trong
đó diện tích và năng suất ngô tăng lên nhiều.
Sản lượng lương thực quy ra thóc đã ở mức 34 triệu tấn (năm 1999), trong đó riêng
thóc là 31 triệu tấn. Bình quân lương thực trên đầu người vào khoảng 440 kg/năm, trong
đó riêng thóc là 400 kg. Trước kia thường xuyên phải nhập khẩu lương thực, nhưng từ
năm 1989 trở lại đây, Việt Nam đã trở thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất
thế giới (cùng với Hoa Kì và Thái Lan).
Nước ta còn có nhiều khả năng tăng sản lượng lương thực nhờ tăng vụ và tăng năng
suất cây trồng. Tuy nhiên, những khó khăn cần phải giải quyết là tình trạng thiếu vốn,
sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu trong nước chưa đáp ứng nhu cầu, công nghiệp sau thu
hoạch còn nhiều hạn chế. Mặt khác, thiên tai, sâu bệnh làm thiệt hại mùa màng ở nhiều
vùng, làm cho sản lượng lương thực chưa ổn định vững chắc.
b) Việc phát triển chăn nuôi
Ngành chăn nuôi phát triển dựa trên cơ sở thức ăn tự nhiên (đồng cỏ), sản phẩm của
ngành trồng trọt, phụ phẩm của ngành thuỷ sản và thức ăn chế biến công nghiệp. Nhờ
đảm bảo được cơ sở lương thực cho người, nên nguồn thức ăn cho chăn nuôi đã được
giải quyết tốt hơn. Ngành chăn nuôi đang phát triển ngày càng đa dạng hơn, tăng tỉ trọng
của những sản phẩm không qua giết mổ như trứng, sữa.
Từ năm 1980 đến năm 1999, đàn lợn đã tăng từ 10 triệu con lên 19 triệu con, cung
cấp tớ ¾ sản lượng thịt các loại. Đáng chú ý là đàn bò tăng nhanh, từ 1,7 triệu con lên tới
4 triệu con, còn đàn trâu tăng chậm do sức kéo trong nông nghiệp đã được cơ giới hoá
nhiều hơn. Chăn nuôi gia cầm tăng rất mạnh trong những năm gần đây, từ 179 triệu con
năm 1999 lên 254 triệu con năm 2003.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 15

Tuy nhiên, hiện nay ngành chăn nuôi của ta còn phát triển chủ yếu theo lối quảng
canh. Giống gia súc, gia cầm nói chung năng suất còn thấp, chất lượng chưa cao (nhất là
cho yêu cầu xuất khẩu). Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi chưa được đảm bảo, công nghiệp
chế biến thức ăn cho gia súc và công tác dịch vụ thú y vẫn còn hạn chế. Hiệu quả kinh tế
của chăn nuôi nói chung vẫn còn thấp.
c) Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
Nước ta có bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu
km2. Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phong phú, cho phép khai thác hàng
năm 1,2 – 1,4 triệu tấn. Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư trường trọng điểm
là : ngư trường Minh Hải – Kiên Giang, ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa –
Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng - Quảng Ninh và ngư trường quần đảo Hoàng Sa -
quần đảo Trường Sa.
Ven bờ biển có nhiều bãi triều, vũng, vịnh, đầm phá có khả năng nuôi trồng thuỷ
sản nước lợ, nước mặn. Diện tích mặt nước có khả năng nuôi thuỷ sản nước ngọt rất
lớn.
Năm 1999 khai thác được khoảng 900 nghìn tấn cá biển, 50 – 60 nghìn tấn tôm,
mực. Chương trình đánh bắt xa bờ đang được triển khai. Nuôi trồng thuỷ sản đang được
phát triển mạnh. Sản lượng cá nuôi hơn 300 nghìn tấn, tôm nuôi hơn 55 nghìn tấn.
Ngành thuỷ sản đang được đẩy mạnh phát triển theo hướng hiện đại hoá cả ở khâu
đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu.
Sản phẩm của ngành không chỉ cung cấp nguồn đạm động vật quý giá, mà còn tạo
ra các nguồn xuất khẩu có giá trị lớn.
d) Việc sản xuất các loại thực phẩm khác đang được khuyến khích
Các mô hình kinh tế vườn (mô hình VAC, RVAC, “vườn rừng”, “vườn đồi”…) đa
dạng, phù hợp với các vùng sinh thái, đã cung cấp phần chủ yếu các loại rau quả và một
phần đáng kể thịt, cá, trứng, sữa cho nhu cầu hàng ngày của nhân dân ta.
2. Các vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm
Mỗi vùng sinh thái nông nghiệp của nước ta đều có những thế mạnh nhất định
trong việc sản xuất lương thực, thực phẩm. Các thế mạnh ấy đang ngày càng được phát
huy tốt hơn nhờ sản xuất đi đôi với bảo quản và chế biến sản phẩm, nhờ sự trao đổi,
lưu thông lương thực, thực phẩm hàng hoá giữa các vùng.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm số một. Ở
đây tập trung tới hơn 50% sản lượng lương thực của cả nước. Ngoài ra, đây còn là vùng
dẫn đầu cả nước về trồng mía, cây ăn quả ; vùng phát triển mạnh chăn nuôi lợn và gia
cầm, nhất là nuôi vịt. Do gần các ngư trường trọng điểm và tiềm năng nuôi thuỷ sản lớn
nên ngành thuỷ sản có vị trí rất quan trọng trong sản xuất thực phẩm của vùng. Hiện nay,
khu vực đồng bằng sông Cửu Long cung cấp hơn 50% sản lượng thủy sản các loại của
cả nước.
Đồng bằng sông Hồng là vùng trọng điểm số hai về lương thực, thực phẩm. Đây là
vùng nông nghiệp thâm canh rất cao. Năng suất lúa cao nhất cả nước. Nhưng do đất chật,
người đông, nên vùng chỉ cung cấp không quá 20% sản lượng lúa cả nước và bình quân
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 16

lương thực trên đầu người không cao. Thế mạnh của vùng là sản xuất lúa, rau quả, lợn,
gia cầm, cá. Đặc biệt, khả năng phát triển vụ đông để trồng các loại rau, quả nguồn gốc
cận nhiệt và ôn đới là thế mạnh độc đáo của vùng.
Ngoài hai vùng trọng điểm trên, các vùng khác cũng có những thế mạnh khác nhau
về sản xuất lương thực, thực phẩm. Trung du, miền núi phía Bắc có khả năng phát triển
chăn nuôi trâu, bò, trồng đậu tương, mía, lạc, cây ăn quả… Vùng duyên hải miền Trung,
với các đồng bằng duyên hải hẹp, lại hay bị thiên tai, khả năng sản xuất lương thực bị
hạn chế. Nhưng ở đây lại có những tiềm năng lớn về chăn nuôi trâu, bò, nuôi trồng và
đánh bắt thuỷ sản, trồng lạc, mía, đậu tương. Tây Nguyên có nhiều khả năng phát triển
chăn nuôi bò lấy thịt và bò lấy sữa. Vùng Đông Nam Bộ có khả năng lớn thứ hai sau đồng
bằng sông Cửu Long về trồng mía, đậu tương, cây ăn quả, nhiều khả năng về nuôi trồng
và đánh bắt thuỷ sản.

Chuyên đề 6: "Vấn đề phát triển cây công nghiệp"
Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, lại có nhiều loại đất thích hợp với nhiều
loại cây công nghiệp, trong đó có những sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao. Việc phát
triển cây công nghiệp có ý nghĩa to lớn trong việc sử dụng hợp lí tài nguyên, sử dụng lao
động nông thôn, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và nguồn hàng cho xuất khẩu.
Việc phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp còn góp phần phân bố lại dân
cư và lao động giữa các vùng, phát triển kinh tế - xã hội của các vùng núi, trung du và cao
nguyên, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
Việc phát triển các vùng chuyên canh cât công nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
được xác định là một hướng quan trọng trong chiến lược phát triển nền nông nghiệp của
nước ta.
1. Hiện trạng phát triển và phân bố các cây công nghiệp
Trong quá trình đa dạng hoá nền nông nghiệp, mấy chục năm qua diện tích, năng
suất và sản lượng của các cây công nghiệp, đặc biệt là cây lâu năm đã tăng lên nhiều. Tỉ
trọng sản xuất cây công nghiệp trong giá trị sản xuất của ngành trồng trọt đã tăng từ 14%
(1990) lên 20% (1999).
Sự phát triển mạnh mẽ của cây công nghiệp trong những năm qua là do:
- Nước ta có tiềm năng to lớn về phát triển cây công nghiệp, nhất là cây công
nghiệp lâu năm ở trung du, miền núi và cao nguyên. Những tiềm năng này mới được khai
thác một phần;
- Có nguồn lao động dồi dào (vì việc trồng và chế biến sản phẩm cây công nghiệp
cần nhiều lao động);
- Việc đảm bảo về lương thực đã giúp cho diện tích trồng cây công nghiệp được
ổn định;
- Nhà nước có chính sách đẩy mạnh phát triển cây công nghiệp;
- Sự hoàn thiện dần công nghệ chế biến và nâng cao năng lực của các cơ sở chế
biến sản phẩm cây công nghiệp đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cây công
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 17

nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm cây công nghiệp nước ta trên thị trường
thế giới;
- Việc xuất khẩu sản phẩm cây công nghiệp đã qua chế biến được đẩy mạnh, nhất
là những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, có nhu cầu lớn trên thị trường thế giới
và khu vực.
a) Cây công nghiệp hàng năm (chủ yếu là đay, cói, dâu tằm, bông, mía, lạc, đậu
tương, thuốc lá), thường được trồng ở vùng đồng bằng, một số cây trồng xen trên đất
lúa.
Đay được trồng nhiều ở đồng bằng sông Hồng (các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hà
Nam) và ở đồng bằng sông Cửu Long (Long An…)
Cói được trồng trên các đất nhiễm mặn, tập trung nhiều nhất ở dải ven biển của
đồng bằng sông Hồng, suốt từ Hải Phòng xuống phía Bắc Thanh Hóa. Những năm gần
đây, diện tích cói tăng rất mạnh ở đồng bằng sông Cửu Long, chiếm ½ diện tích cói cả
nước.
Dâu tằm là cây công nghiệp truyền thống, nay được phát triển cùng với việc khôi
phục nghề tằm tơ ở nước ta; dâu tằm được trồng nhiều nhất ở tỉnh Lâm Đồng.
Cây bông mới được chú trọng phát triển, trồng phổ biến ở Đắc Lắc, Đồng Nai và
một số tỉnh cực Nam Trung Bộ.
Mía được trồng ở hầu khắp các tỉnh, nhưng tập trung tới 75% diện tích và 80% sản
lượng ở các tỉnh phía Nam (đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và duyên hải miền
Trung).
Đậu tương, lạc, thuốc lá được trồng nhiều trên các đất bạc màu. Đậu tương được
trồng nhiều nhất ở miền núi, vùng trung du phía Bắc (ở Cao Bằng, Sơn La, Bắc Giang),
chiếm hơn 40% diện tích đậu tương cả nước, ngoài ra còn được trồng nhiều ở các tỉnh
Hà Tây, Đồng Nai, Đắc Lắc và Đồng Tháp. Lạc được trồng nhiều nhất trên đất phù sa
cổ của các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, trên đất cát pha của các đồng bằng duyên hải
miền Trung (nhất là ở Bắc Trung Bộ) và ở trung du Bắc Bộ. Thuốc lá được trồng nhiều
nhất ở vùng Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung và miền núi, vùng trung du phía Bắc.
b) Cây công nghiệp lâu năm (chủ yếu là chè, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, dừa)
thường được trồng trên đất feralit và đất phù sa cổ.
Cà phê là cây công nghiệp lâu năm có giá trị xuất khẩu lớn nhất hiện nay. Cà phê
được trồng thành các vùng chuyên canh lớn trên đất đỏ badan ở Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ và rải rác ở Bắc Trung Bộ.
Hiện nay cà phê, chè đang được trồng nhiều ở khu vực miền núi trung du phía Bắc.
Cao su được trồng chủ yếu trên đất xám phù sa cổ (ở Đông Nam Bộ) và đất đỏ
badan (ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị).
Chè được trồng nhiều ở trung du, miền núi phía Bắc và trên các cao nguyên cao ở
Tây Nguyên. Hiện nay cũng phát triển cả ở một số vùng núi, trung du thuộc các tỉnh miền
Trung.
Hồ tiêu là loại cây gia vị có giá trị xuất khẩu cao, được trông nhiều ở Tây Nguyên.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 18

Dừa được trồng nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long (nhất là ở Bến Tre, Cà Mau) và
ở duyên hải Nam Trung Bộ.
Cây điều mới được trồng phổ biến trong một số năm gần đây, nhưng có triển vọng
lớn để xuất khẩu. Điều được trồng nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Bộ.
2. Các vùng chuyên canh cây công nghiệp
Trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, các vùng chuyên canh cây công
nghiệp đã và đang hình thành ở những vùng có điều kiện tự nhiên đặc biệt thuận lợi cho
một số cây công nghiệp có giá trị. Việc hình thành các vùng chuyên canh đã và sẽ thu hút
nhiều lao động trẻ, khoẻ, góp phần phân bố lại dân cư và lao động giữa các vùng.
Đông Nam Bộ là vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm và hàng năm lớn nhất
nước ta. Ở đây có nhiều điều kiện thuận lợi : đất đai của vùng phần lớn là đồng bằng
cao, đất xám bằng phẳng kề liền với vùng đồi badan lượn sóng, nguồn nhân lực khá dồi
dào, nhiều cơ sở chế biến sản phẩm cây công nghiệp, có các chương trình hợp tác đầu tư
với nước ngoài để phát triển cây chức năng. Các cây trồng chính trong vùng là cao su, cà
phê, điều, đậu tương, lạc, mía, thuốc lá. Riêng cây cao su, Đông Nam Bộ chiếm gần 70%
diện tích, gần 90% sản lượng cả nước, tập trung chủ yếu ở Bình Phước, Bình Dương và
Đồng Nai.
Tây Nguyên là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn thứ hai nhờ có diện tích đất
badan lớn nhất cả nước và có khí hậu phân hoá theo độ cao. Các sản phẩm chính của
vùng là cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, dâu tằm. Riêng về cà phê, Tây Nguyên chiếm gần
80% diện tích và gần 90% sản lượng của cả nước. Hiện nay, trong vùng đang phát triển
một số cây công nghiệp khác như ca cao, bông, điều…
Ở trung du và miền núi phía Bắc, các vùng chuyên canh ché tạo thành một dải trên
hầu khắp các vùng đồi trung du (ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên) và một
số cao nguyên (ở Hà Giang, Nghĩa Lộ, Sơn La); lạc và thuốc lá trồng ở vùng đất bạc màu
của Lạng Sơn, Bắc Giang; hồi trồng ở Lạng Sơn, Cao Bằng.
Ở Bắc Trung Bộ có các vùng chuyên canh với quy mô không lớn lắm (trồng lạc, cà
phê, cao su)
Ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và duyên hải miền Trung chủ
yếu là các vùng chuyên canh cây công nghiệp hàng năm.

Chuyên đề 7: " Những vấn đề phát triển công nghiệp"
1. Cơ cấu ngành công nghiệp
Cơ cấu ngành công nghiệp biểu hiện ở tỉ trọng của từng ngành trong toàn bộ hệ
thống các ngành công nghiệp. Nó được hình thành phù hợp với các điều kiện cụ thể ở
trong và ngoài nước trong mỗi giai đoạn nhất định.
a) Cơ cấu ngành công nghiệp ở nước ta khá đa dạng và đang từng bước có những
thay đổi mạnh mẽ
Sự đa dạng của cơ cấu ngành thể hiện ở chỗ nước ta có khá đầy đủ các ngành công
nghiệp quan trọng.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 19

Trong những năm cuối của thập kỉ 80, cơ cấu ngành công nghiệp của nước ta
chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của các ngành công nghiệp nhóm B, giảm tỉ trọng
của các ngành công nghiệp nhóm A. Nhưng từ đầu thập kỉ 90 trở lại đây, mặc dù các
ngành công nghiệp nhóm B vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp nhưng các
ngành công nghiệp nhóm A đã tăng dần tỉ trọng.
Cơ cấu sản phẩm công nghiệp cũng thay đổi. Khoảng 30% số sản phẩm công
nghiệp không được tiếp tục sản xuất do thị trường chưa có nhu cầu hoặc không thể
cạnh tranh nổi với hàng nước ngoài. Trong khi đó, hàng loạt sản phẩm mới lại xuất hiện
vì phù hợp với nhu cầu của thị trường và có chất lượng cao.
b) Trong cơ cấu ngành công nghiệp nổi lên một số ngành trọng điểm. Ngành trọng
điểm là ngành có thế mạnh lâu dài, mang lại hiệu quả kinh tế cao và có tác động mạnh
mẽ đến việc phát triển các ngành kinh tế khác. Có thể coi các ngành công nghiệp trọng
điểm của nước ta là công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản ; công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng ; công nghiệp cơ khí và điện tử ; công nghiệp dầu khí ; điện ; hoá chất và
sản xuất các loại vật liệu xây dựng.
Ưu thế của công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản là có nguồn nguyên liệu tại
chỗ phong phú. Việc định hướng thực hiện ba chương trình kinh tế (sản xuất lương
thực, thực phẩm ; sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) tạo điều kiện cho ngành
này có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng mà nổi bất là các hàng dệt, may mặc có nhiều
lợi thế phát triển mạnh : nguồn lao động dồi dào và thị trường rộng lớn. Trên cơ sở phát
huy tiềm năng lao động và khả năng của tất cả các thành phần kinh tế, việc phát triển
ngành công nghiệp này nhằm thoả mãn nhu cầu của nhân dân trong nước và góp phần
đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài.
Công nghiệp cơ khí là ngành tạo ra công cụ lao động và trang bị kỹ thuật cho các
ngành kinh tế khác. Công nghiệp điện tử hiện là ngành mũi nhọn của nhiều nước. Nước
ta có nhiều tiềm năng và nhu cầu để đưa công nghiệp cơ khí và điện tử trở thành các
ngành công nghiệp trọng điểm.
Công nghiệp dầu khí là ngành có nhiều triển vọng nhờ việc thăm dò và khai thác các
mỏ dầu khí ở vùng thềm lục địa nước ta. Năm 1999, chúng ta đã khai thác được 15 triệu
tấn dầu thô với giá trị xuất khẩu là 2 tỉ USD.
c) Để nền công nghiệp nước ta đáp ứng được những nhu cầu mới của đất nước,
vấn đề đặt ra là tiếp tục hoàn thiện cơ cấu ngành công nghiệp theo các hướng sau đây:
- Xây dựng một cơ cấu ngành công nghiệp tương đối linh hoạt sao cho phù hợp với
tình hình phát triển thực tế của đất nước và thích ứng với nền kinh tế thế giới.
- Đẩy mạnh việc phát triển các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng ; tập trung sức cho công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, đưa công
nghiệp điện năng đi trước một bước. Các ngành khác sẽ được điều chỉnh theo nhu cầu
của thị trường trong và ngoài nước.
- Đầu tư theo chiều sâu, đổi mới trang thiết bị và công nghệ nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 20

2. Sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp
a) Nền công nghiệp nước ta có sự phân hoá về mặt lãnh thổ. Hoạt động công
nghiệp tập trung chủ yếu trên một số khu vực.
Ở Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng và vùng phụ cận là khu vực có mức độ tập trung
công nghiệp theo lãnh thổ vào loại cao nhất trong cả nước.
Từ Hà Nội, hoạt động công nghiệp toả theo các hướng với các cụm công nghiệp có
chuyên môn hoá khác nhau. Đó là hướng Hải Phòng – thành phố Hạ Long - Cẩm Phả
(khai thác than, cơ khí) ; Đáp Cầu - Bắc Giang (phân hoá học, vật liệu xây dựng) ; Đông
Anh – Thái Nguyên (luyện kim, cơ khí) ; Việt Trì – Lâm Thao – Phú Thọ (hoá chất,
giấy) ; Hà Đông – Hoà Bình (thuỷ điện) ; Nam Định – Ninh Bình – Thanh Hoá (dệt, xi
măng, điện).
Ở Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long hình thành một dải phân bố công
nghiệp, trong đó nổi lên là các trung tâm công nghiệp: thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà,
Vũng Tàu.
Dọc theo duyên hải miền Trung có hai trung tâm lớn là Huế và Đà Nẵng. Ngoài ra
còn có một số trung tâm khác nằm rải rác ven biển, đồng thời đó cũng là những thành
phố, thị xã ở khu vực duyên hải này.
Sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp ở nước ta là kết quả tác động của hàng loạt nhân
tố. Những khu vực tập trung công nghiệp thường gắn liền với sự có mặt của tài nguyên
thiên nhiên, nguồn lao động có tay nghề, kết cấu hạ tầng và vị trí địa lí tương đối thuận
lợi.
Ở những khu vực còn lại, nhất là ở trung du và miền núi, hoạt động công nghiệp bị
hạn chế hơn nhiều vì sự thiếu đồng bộ của các nhân tố trên và nhất là về kết cấu hạ
tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông vận tải vẫn chưa phát triển.
b) Sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp đang có nhiều thay đổi và ngày càng trở nên
hợp lí hơn
Trước Cách mạng tháng tám, nền công nghiệp Việt Nam vốn đã nhỏ bé, què quặt
lại phân bố rất không đều. Cùng với việc cải tạo và mở rộng các trung tâm công nghiệp
cũ, ngày nay đã hình thành nhiều cụm công nghiệp, trung tâm công nghiệp mới có sự
chuyên môn hoá, liên hợp hoá, hợp tác hoá trong một hệ thống công nghiệp khá thống
nhất và phân bố ngày càng hợp lí trong cả nước.
Từ năm 1975 đếm nay, công nghiệp vẫn tiếp tục có sự phân hoá lãnh thổ. Cho đến
đầu thập kỉ 90, xu hướng là tăng dần tỉ trọng của các tỉnh phía Nam trong cơ cấu giá trị
sản xuất công nghiệp toàn quốc. Trong những năm gần đây, do sự phát triển của vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên tỉ trọng của các tỉnh phía Bắc đang tăng dần.
Trong sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp nổi lên một số trung tâm công nghiệp có ý
nghĩa hàng đầu của cả nước. Tiêu biểu nhất là hai trung tâm công nghiệp Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh.
Với vị trí thủ đô, Hà Nội là một trung tâm công nghiệp quan trọng có sức hút trực
tiếp đối với các lãnh thổ lân cận.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 21

Cơ cấu ngành công nghiệp của Hà Nội khá đa dạng, trong đó có một số ngành phát
triển lâu đời và mang tính chất truyền thống. Sự chuyên môn hoá của trung tâm công
nghiệp này tập trung vào các ngành cơ khí, chế biến lương thực, thực phẩm, dệt, điện
tử…
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn nhất trong toàn quốc. Do
những ưu thế về vị trí địa lý, về lực lượng lao động có kỹ thuật và kết ấu hạ tầng, có
cảng sông với năng lực bốc dỡ khá lớn, nền công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh
phát triển mạnh với một hệ thống các ngành công nghiệp khá hoàn chỉnh. Các ngành
chuyên môn hoá chủ yếu là dệt, may mặc, chế biến lương thực, thực phẩm, hoá chất,
điện tử, cơ khí, đồ chơi trẻ em… Phần lớn các xí nghiệp có quy mô trung bình nằm phân
tán giữa các khu vực đông dân. Các xí nghiệp lớn chủ yếu tập trung ở Tân Cảng, Thủ
Đức.
c) Sự phân bố công nghiệp trên lãnh thổ nước ta tuy có nhiều tiến bộ nhưng vẫn
còn những sự khác biệt giữa các vùng.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hướng phát triển công nghiệp có ảnh
hưởng đến sự phân hoá lãnh thổ công nghiệp. Sản phẩm công nghiệp không chỉ thoả mãn
nhu cầu của thị trường trong nước, mà còn phải vươn ra thị trường quốc tế. Việc hoàn
thiện phân bố công nghiệp được triển khai theo hướng cải tạo, mở rộng các trung tâm
hiện có, kết hợp với hướng xây dựng các trung tâm mới trên cơ sở sử dụng hợp lí các
nguồn lực của từng vùng và của cả nước, đồng thời cũng cần phải chú ý đúng mức tới
vấn đề thị trường.

Chuyên đề 8: "Những vấn đề PT giao thông vận tải và TT liên lạc"
Giao thông vận tải là thông tin liên lạc là ngành có vị trí quan trọng trong kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội. Đó là ngành sản xuất đặc biệt vừa mang tính chất sản xuất vật
chất, vừa mang tính chất dịch vụ và có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
1. Trải qua gần nửa thế kỉ xây dựng và phát triển, giao thông vận tải nước ta đã trở
thành một ngành kinh tế - kỹ thuật có nhiều đóng góp trong công cuộc phát triển kinh tế
và phục vụ đời sống nhân dân.
a) Nước ta có nhiều khả năng để phát triển ngành giao thông vận tải. Nhờ vào vị trí
địa lý thuận lợi và có vùng biển rộng lớn, việc giao lưu giữa Việt Nam với các nước
trong khu vực và trên thế giới trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn.
Tuy vậy, việc phát triển ngành này cũng gặp nhiều trở ngại. Ngoài những khó khăn
do thiên nhiên dây ra làm tăng chi phí xây dựng và bảo dưỡng mạng lưới giao thông vận
tải thì sự thiếu vốn đầu tư, và sự yếu kém về cơ sở vật chất – kỹ thuật… là những trở
ngại đáng kể trong việc phát triển của ngành.
b) Ngành giao thông vận tải bước đầu đã có một hệ thống cơ sở vật chất – kỹ
thuật đáng kể. Hiện nay, hệ thống giao thông vận tải bao gồm 181.421 km đường ô tô,
2630 km đường sắt, 11.000 km đường sông, 73 cảng biển lớn nhỏ, 18 sân bay trong đó có
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 22

3 sân bay quốc tế. Ngành vận tải đường ô tô và vận tải đường sông có ý nghĩa quan trọng
trong việc vận chuyển hàng hoá và hành khách giữa các vùng ở nước ta.
Các tuyến giao thông vận tải kết hợp chặt chẽ với nhau làm nhiệm vụ nối liền các
khu vực kinh tế quan trọng như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (sản
xuất lương thực, thực phẩm), Tây Nguyên và ven biển miền Trung (nông sản xuất khẩu),
trung du và miền núi (lâm sản, khoáng sản). Trên phạm vi toàn quốc đã hình thành các
tuyến vận tải chuyên môn hoá (lương thực, nông sản xuất khẩu, hàng tiên dùng).
Thí dụ, tuyến đường Hà Nội - Hải Phòng làm nhiệm vụ vận chuyển các mặt hàng
xuất, nhập khẩu ở khu vực phía Bắc. Các tuyến đường nối liền đồng bằng sông Cửu
Long, thành phố Hồ Chí Minh với Tây Nguyên chủ yếu vận chuyển lương thực, hàng tiêu
dùng và một số mặt hàng nông sản.
Hệ thống giao thông vận tải Bắc – Nam mà trục chính là đường quốc lộ số 1 và
đường sắt Thống Nhất gần như chạy song song với nhau có giá trị hàng đầu trong việc
phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Chạy qua các trung tâm công nghiệp, các đầu mối
giao thông lớn và các khu vực nông nghiệp trù phú, tuyến đường này đã tạo nên mối liên
hệ kinh tế quan trọng nhất giữa các vùng.
c) So với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giao thông vận tải hiện
vẫn còn là một khâu yếu trong nền kinh tế. Mối liên hệ kinh tế giữa các vùng trong nước
và giữa nước ta với các nước khác còn bị hạn chế, một phần do năng lực có hạn của
ngành này.
Để tạo nên những chuyển biến về kinh tế - xã hội, việc tiếp tục phát triển ngành
giao thông vận tải đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Vấn đề chủ yếu là tăng cường
xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, kiện toàn hệ thống giao thông vận tải trong cả nước.
Việc mở rộng và bố trí hợp lí hệ thống cảng biển, việc phát triển đường không và hiện
đại hoá các sân bay quốc tế sẽ tạo nên cầu nối giữa Việt Nam với thế giới.
2. Hệ thống thông tin liên lạc của nước ta đang được chú trọng đầu tư, phát triển
với tốc độ cao
Nhìn chung, mạng lưới thông tin liên lạc chưa phát triển đều khắp trong phạm vi cả
nước.
Về số lượng, đến hết năm 1999, cả nước có trên 2 triệu máy điện thoại thuê bao,
bình quân 2,7 máy / 100 dân.
Trước đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và của việc giao lưu quốc tế, ngành thông
tin liên lạc đang được chú ý phát triển.
Bên cạnh các phương thức truyền tin truyền thống, gần đây đã đưa vào mạng sợi
cáp quang, mạng truyền dẫn số liệu, truyền dẫn các trang báo. Từ cuối năm 1997, nước
ta đã nối mạng Internet. Việc thông tin qua vệ tinh với 6 trạm mặt đất đã giúp cho việc
thông tin liên lạc với thế giới ngày được mở rộng.
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn thông tin mới và kịp
thời. Hiện đại hoá mạng lưới thông tin liên lạc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
chỉ đạo và quản lí các hoạt động kinh tế.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 23

Theo hướng này, việc ưu tiên xây dựng mạng lưới thông ting quốc tế được quan
tâm hàng đầu; sau đó từng bước hoàn thiện mạng lưới thông tin liên lạc trong nước, nhất
là ở những trung tâm đầu mối quan trọng ; tiếp tục đổi mới kỹ thuật, công nghệ để
nhanh chóng nâng cao năng lực và chất lượng thông tin, tiếp cận trình độ kỹ thuật hiện
đại của thế giới.

Chuyên đề 9: "Vấn đề phát triển kinh tế đối ngoại"
Kinh tế đối ngoại chủ yếu bao gồm các hoạt động ngoại thương (xuất – nhập
khẩu), hợp tác quốc tế về đầu tư và lao động, du lịch quốc tế và các dịch vụ thu ngoại tệ
khác.
Ngày nay, kinh tế đối ngoại có vai trò đặc biệt trong công cuộc xây dựng và đổi mới
đất nước. Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của nước ta phụ thuộc một phần vào việc
mở rộng và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế đối ngoại.
1. Từ sau năm 1988, hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta dần dần được đổi
mới
a) Hoạt động xuất – nhập khẩu gần đây có nhiều biến động do hoàn cảnh mới của
tình hình quốc tế.
Trước đây, thị trường chủ yếu là Liên Xô (cũ) và Đông Âu. Hiện nay, thị trường
buôn bán ngày càng mở rộng theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá. Các bạn hàng lớn
hiện nay là Xingapo, Nhật Bản, Hồng Công, Hàn Quốc…
Trong hoạt động xuất – nhập khẩu có những đổi mới về cơ chế quản lí. Đó là việc
mở rộng quyền hoạt động kinh tế đối ngoại cho các ngành và các địa phương; xoá bỏ cơ
chế quản lý tập trung bao cấp và chuyển sang hạch toán kinh doanh; tăng cường sự quản
lý thống nhất của Nhà nước bằng luật pháp. Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu phát
triển mạnh.
b) Việc hợp tác và đầu tư nước ngoài vào nước ta mới thật sự bắt đầu từ năm 1988
Tính đến hết năm 1999 đã có hơn 2800 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn
trên 37,1 tỉ USD. Đó là kết quả khả quan trong những năm đầu thực hiện luật đầu tư.
c) Việc hợp tác quốc tế về lao động góp phần giải quyết vấn đề về việc làm, về
đào tạo, nâng cao tay nghề cho hàng chục vạn người lao động và tăng nguồn ngoại tệ cho
Nhà nước. Hoạt động du lịch quốc tế và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tuy có phát
triển, nhưng phần lớn còn đang ở dạng tiềm năng.
2. Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế đối ngoại vẫn còn có những tồn tại đáng kể
Trong một thời gian dài, giữa xuất và nhập khẩu có sự mất cân đối nghiêm trọng.
Hàng nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất (80%), còn hàng xuất khẩu lại là các sản
phẩm thô mới qua sơ chế (khoáng sản, nông – lâm - thuỷ sản). Các hoạt động khác còn bị
hạn chế, hiệu quả chưa cao.
3. Trong điều kiện nền kinh tế mở, chiến lược kinh tế đối ngoại là một bộ phận
quan trọng trong chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước
Về tiềm năng, nước ta có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế đối ngoại. Một số
loại khoáng sản, nhất là dầu khí, đang thu hút sự chú ý của nhiều nước trên thế giới và
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 24

trong khu vực. Các sản phẩm của nền nông nghiệp nhiệt đới, của ngành nuôi trồng, đánh
bắt thuỷ, hải sản và của một số ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có thể phát
triển với quy mô lớn nhằm tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu. Tài nguyên thiên nhiên kết
hợp với nguồn nhân lực, kinh tế, kỹ thuật ở trong và ngoài nước là những nguồn lực quan
trọng để thực hiện chiến lược kinh tế đối ngoại.
Việc mở rộng xuất khẩu và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác trong thương mại
sẽ trở thành mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Đối với vấn đề này, việc
tạo nên các mặt hàng chủ lực và các thị trường trọng điểm có ý nghĩa hàng đầu.
Việc thực hiện có kết quả các chiến lược kinh tế đối ngoại còn phụ thuộc vào
nhiều điều kiện khác nữa như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, vào hệ thống luật pháp,
đội ngũ cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lí hiện làm công việc này.

PHẦN III: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KT-XH TRONG CÁC VÙNG

Chuyên đề 1: "Đồng bằng sông Hồng"
Đồng bằng sông Hồng rộng gần 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc với
một vùng biển bao quanh ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của đồng bằng là 14,8 triệu
người (1999), chiếm 19,4% số dân của cả nước.
Hiện tại cũng như trong tương lai, đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng
có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1. Vấn đề dân số
Đồng bằng sông Hồng là nơi dân cư tập trung đông đúc nhất trong cả nước. Việc
dân cư quá tập trung ở đồng bằng làm cho mật độ dân số trung bình đã lên tới 1180
người/km2 (1999). Mật độ này cao gấp 5 lần mật độ trung bình của toàn quốc; gấp gần
3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long; gấp 10 lần so với khu vực miền núi và trung du
Bắc Bộ; gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên.
Những nơi dân cư đông nhất là Hà Nội (2883 người/km2), Thái Bình (1183
người/km2), Hải Phòng (1113 người/km2), Hưng Yên (1204 người/km2 – 1999). Ở các
nơi khác, chủ yếu thuộc khu vực rìa phía Bắc và Đông Bắc của châu thổ, dân cư thưa
hơn.
Sự phân bố dân cư quá đông ở đồng bằng sông Hồng liên quan tới nhiều nhân tố.
Nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước là chủ yếu đòi hỏi phải có
nhiều lao động. Trong vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp quan trọng và một mạng
lưới các đô thị khá dày đặc. Ngoài ra, đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời
và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con
người.
Ở đồng bằng sông Hồng, dân số gia tăng vẫn còn nhanh. Vì vậy, tốc độ tăng dân số
chưa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội. Điều này gây khó khăn cho việc phát
triển kinh tế - xã hội của đồng bằng.
Việt Nam là nước có diện tích canh tác tính theo đầu người rất thấp (892m2). Trên
cái nền chung ấy, chỉ số này ở đồng bằng sông Hồng còn thấp hơn nhiều do bị sức ép
quá nặng nề của dân số. Ở đây, bình quân mỗi đầu người chỉ đạt khoảng ½ con số trung
bình của cả nước. Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh. Song nếu
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 25

thâm canh không đi đôi với việc hoàn lại đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ làm cho đất đai
ở một số nơi bị giảm độ phì nhiêu.
Với việc áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và những chính sách đổi mới trong
nông nghiệp, sản lượng lương thực của vùng tiếp tục tăng lên, nhưng về lâu dài có thể
tiến đến giới hạn của khả năng sản xuất.
Nền kinh tế ở đồng bằng sông Hồng tuy tương đối phát triển, nhưng đang phải chịu
áp lực rất lớn của dân số. Vào thời kì 1979 – 1989, nhịp độ tăng trưởng trung bình năm
của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đạt khoảng 4 – 5%, trong khi đó tỉ lệ tăng dân số
hằng năm vẫn dao động ở mức trên 2%. Thời kì 1990 – 1998, mức tăng trưởng tương
ứng là 7% và 1,4%.
Dân số đông và sự gia tăng dân số đã để lại những dấu ấn đậm nét về kinh tế - xã
hội. Mặc dù mức gia tăng dân số đã giảm nhiều, nhưng sản xuất nhìn chung chưa đáp
ứng được nhu cầu tích luỹ và cải thiện đời sống nhân dân. Hàng loạt vấn đề xã hội như
việc làm, nhà ở, y tế, văn hoá, giáo dục vẫn còn là bức xúc.
Trong nhiều năm qua, nước ta đã tiến hành phân bố lại dân cư và lao động trên
phạm vi cả nước. Đối với đồng bằng sông Hồng, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Ngay từ năm 1961 đã có nhiều người từ đồng bằng sông Hồng chuyển lên các tỉnh thuộc
miền núi Tây Bắc và một số tỉnh thuộc miền núi Đông Bắc. Nhưng phải đến cuối những
năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỉ này, việc chuyển cư mới được thực hiện với
quy mô lớn. Trong thời kỳ 1984 – 1989, tỉ lệ chuyển cư thuần tuý (tương quan giữa tỉ lệ
người chuyển đến và tỉ lệ người chuyển đi) của hầu hết các tỉnh trong vùng đều mang
giá trị âm, nghĩa là số người chuyển đi nhiều hơn số người chuyển đến đồng bằng sông
Hồng.
Ngoài vấn đề chuyển cư, giải pháp hàng đầu ở đồng bằng sông Hồng là việc triển
khai có hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỉ lệ sinh. Đồng
thời, trên cơ sở lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lí, từng bước giải quyết việc làm tại chỗ
cho lực lượng lao động thường xuyên tăng lên, tiến tới nâng cao chất lượng cuộc sống
của nhân dân trong vùng.

2. Vấn đề lương thực, thực phẩm
Đồng bằng sông hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất lương thực, thực
phẩm. Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau đồng bằng sông Cửu
Long.
Số đất đai đã được sử dụng vào hoạt động nông nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm
56% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng sông Hồng. Ngoài số đất đai phục vụ lâm
nghiệp và các mục đích khác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn hơn 2 vạn ha.
Nhìn chung, đất đai của đồng bằng sông Hồng được phù sa của hệ thống sông
Hồng và sông Thái Bình bồi đắp tương đối màu mỡ. Tuy vậy, độ phì nhiêu của các loại
đất không giống nhau ở khắp mọi nơi. Đất được bồi đắp hàng năm màu mỡ không hơn
đất không được bồi đắp hàng năm. Đất thuộc châu thổ của sông Hồng phì nhiêu hơn đất
thuộc châu thổ của sông Thái Bình.
Có giá trị nhất đối với việc phát triển cây lương thực ở đồng bằng sông Hồng là
diện tích đất không được phù sa bồi đắp hàng năm (đất trong đê). Loại đất này chiếm
phần lớn diện tích châu thổ, đã bị biến đổi nhiều do trồng lúa.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 26

Ở đồng bằng, đất và nước là hai yếu tố đan quyện vào nhau. Hệ thống sông Hồng
và sông Thái Bình cùng các nhánh của chúng là nguồn cung cấp nước thường xuyên cho
hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, lại quá thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong
mùa khô.
Bên cạnh khả năng tự nhiên, những nguồn lực về kinh tế - xã hội cũng đóng vai trò
đáng kể trong việc phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm. Từ bao đời nay, người
dân đồng bằng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, đã tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm. Đó là vốn rất quý để đẩy mạnh sản xuất. Ngoài ra, sự phát triển của nền kinh
tế cùng với hàng loạt các chính sách mới cũng góp phần quan trọng cho việc giải quyết
vấn đề lương thực, thực phẩm ở đồng bằng sông Hồng.
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực luôn giữ địa vị hàng
đầu. Diện tích cây lương thực khoảng 1,2 triệu ha, chiếm khoảng 14% diện tích cây
lương thực của cả nước. Sản lượng lương thực là 6,1 triệu tấn, chiếm 18% sản lượng
lương thực toàn quốc (1999).
Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tích và sản
lượng. Hàng năm, đồng bằng sông Hồng có hơn 1 triệu ha đất gieo trồng lúa. Với con số
này, lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của đồng bằng và chiếm khoảng 14% diện
tích gieo trồng lúa của cả nước (1999).
Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng suất cao nhất là
ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Tây. Thái Bình trở
thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (61,6 tạ/ha – năm 1999). Nhiều huyện, hợp
tác xã đạt năng suất 8 – 10 tấn/năm.
Ngành trồng cây lương thực, đặc biệt là ngành trồng lúa ở đây đã có từ lâu đời và
được thâm canh với trình độ cao nhất trong cả nước. Tuy vậy, việc đảm bảo lương thực
cho con người và cho các nhu cầu khác (phục vụ chăn nuôi, công nghiệp chế biến v.v…)
còn bị hạn chế. Mức bình quân lương thực theo đầu người ở đồng bằng sông Hồng vẫn
thấp hơn mức bình quân của cả nước (414 kg/người so với 448 kg/người – năm 1999).
Vấn đề thực phẩm liên quan đến cơ cấu bữa ăn và ảnh hưởng nhiều tới cơ cấu cây
trồng. Ở đồng bằng sông Hồng, việc sản xuất thực phẩm chưa tương xứng với tiềm
năng hiện có.
Rau các loại có diện tích gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27,8% diện tích rau cả
nước, tập trung chủ yếu ở vành đai xung quanh các khu công nghiệp và thành phố.
Nguồn thực phẩm của vùng đồng bằng phụ thuộc nhiều vào ngành chăn nuôi, nhất
là chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản. Việc phát triển các ngành này
còn nhiều khả năng to lớn. Vấn đề cơ bản là giải quyết tốt cơ sở thức ăn cho gia súc nhỏ
và mở rộng quy mô của ngành nuôi trồng thuỷ sản.
Hiện nay, chăn nuôi lợn rất phổ biến và thịt lợn là nguồn thực phẩm quan trọng
trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân. Đàn lợn của đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau
vùng núi và trung du Bắc Bộ về số lượng với gần 4,3 triệu con, chiếm 22,5% đàn lợn
của toàn quốc (1999).
Việc nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn đã được chú ý phát
triển, nhưng thực tế chưa khai thác hết tiềm năng của vùng. Hiện nay toàn vùng có 5,8
vạn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 10,9% diện tích mặt nước nuôi
trồng thuỷ sản của cả nước.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 27

Vấn đề lương thực, thực phẩm ở đồng bằng sông Hồng nằm trong chiến lực phát
triển kinh tế - xã hội chung của cả nước. Quá trình giải quyết vấn đề này liên quan tới
hàng loạt các biện pháp kinh tế, kỹ thuật.
Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí (trong đó cơ cấu nông nghiệp hợp lí) của đồng
bằng có thể được coi là biện pháp quan trọng. Sản xuất lương thực, thực phẩm hàng hoá
được phát triển theo hướng thâm canh, đa dạng hoá gắn liền với sự nghiệp công nghiệp
hoá.
Việc đẩy mạnh chăn nuôi (nhất là lợn, gia cầm), tận dụng mọi khả năng để nuôi cá
nước ngọt, tôm nước lợ, đánh bắt cá biển và chế biến các sản phẩm nông nghiệp sẽ tạo
điều kiện tốt để giải quyết nhu cầu thực phẩm và tăng sản phẩm xuất khẩu của đồng
bằng này.

Chuyên đề 2: "Đồng bằng sông Cửu Long"
Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta, với diện tích
gần 4 triệu ha, chiếm khoảng 11,9% diện tích toàn quốc. Tại đây có 16,1 triệu người sinh
sống, chiếm khoảng 21,1 số dân cả nước (số liệu năm 1999).
1. Vấn đề sử dụng và cải tạo tự nhiên
Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm phần đất nằm trong phạm vi tác động của các
nhánh sông Cửu Long (thượng và hạ châu thổ) và phần đất nằm ngoài phạm vi tác động
đó (đồng bằng phù sa ở rìa).
Phần thượng châu thổ là một khu vực tương đối cao (2 – 4m so với mực nước
biển), nhưng vẫn bị ngập nước vào mùa mưa. Phần lớn bề mặt có nhiều vùng trũng rộng
lớn. Vào mùa mưa, chúng chìm sâu dưới nước, còn vào mùa khô chỉ là những vũng nước
tù đứt đoạn. Đây là vùng đất rộng, dân còn thưa, chưa được khai thác nhiều.
Phần hạ châu thổ thấp hơn, thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều và sóng
biển. Mực nước trong các cửa sông lên xuống rất nhanh, những lưỡi nước mặn ngấm
dần vào trong đất. Ngoài các giống đất ở hai bên bờ sông và các cồn cát duyên hải, trên
bề mặt đồng bằng cao 1 – 2m còn có các khu vực trũng ngập nước vào mùa mưa và các
bãi bồi trên sông.
Các đồng bằng phù sa ở rìa tuy nằm ngoài phạm vi tác động trực tiếp của sông
nhưng vẫn được cấu tạo bởi phù sa sông (như đồng bằng sông Đồng Nai, đồng bằng Cà
Mau).
Thiên nhiên đồng bằng sông Cửu Long rất đa dạng với nhiều tiềm năng và không ít
trở ngại.
Ở đây, trên nền nhiệt đới ẩm, tính chất cận xích đạo của khí hậu thể hiện hết sức
rõ rệt. Hệ thống sông ngòi và các kênh rạch chằng chịt cắt xẻ châu thổ thành những ô
vuông làm cho việc giao thông bằng đường thuỷ trở nên dễ dàng.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là mùa khô kéo dài, là sự xâm nhập sâu vào đất liền
của nước mặn, sự tăng cường độ chua và chua mặn trong đất cũng như những tai biến do
thời tiết, khí hậu đôi khi có thể xảy ra.
Mặc dù thổ nhưỡng ở châu thổ là đất phù sa, nhưng tính chất của nó rất phức tạp.
Có 3 loại đất chủ yếu. Đất phù sa ngọt ven sông là loại đất tốt nhất, chạy thành một dải
dọc sông Tiền và sông Hậu. Đất phèn chiếm diện tích lớn nhất, phân bố thành các vùng
tập trung (Đồng Tháp Mười, Hà Tiên, Cần Thơ). Đất mặn phân bố ở cực Nam Cà Mau
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 28

và dải đất duyên hải Gò Công, Bến Tre. Những trở ngại chính khi cnah tác là đất thiếu
dinh dưỡng, nhất là thiếu các nguyên tố vi lượng, đất quá chặt, khó thoát nước.
Sinh vật cũng là nguồn tài nguyên quan trọng của đồng bằng. Thảm thực vật gồm 2
thành phần chủ yếu là rừng ngập mặn và rừng tràm. Về động vật, có giá trị hơn cả là cá
và chim.
Tài nguyên biển ở đây hết sức phong phú với hàng trăm bãi cá cùng với nhiều loại
hải sản quý.
Các loại khoáng sản ở đồng bằng không có nhiều, chủ yếu là than bùn, vật liệu xây
dựng. Việc thăm dò và khai thác dầu khí, mặc dù nằm ngoài khơi, nhưng chắc chắn sẽ có
tác động tới nền kinh tế của vùng.
Đồng bằng sông Cửư Long có nhiều ưu thế hơn về điều kiện tự nhiên so với đồng
bằng sông Hồng. Tuy vậy, việc sử dụng và cải tạo tự nhiên ở đây lại trở thành một vấn
đề cấp bách nhằm biến đồng bằng thành một khu vực kinh tế quan trọng của đất nước.
Nước là vấn đề hàng đầu ở đồng bằng sông Cửu Long. Một hạn chế đáng kể cho
việc sử dụng hợp lí đất đai trong vùng là việc đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Vì vậy,
cần có nước để rửa phèn, rửa mặn trong mùa khô.
Để đối phó với sự khô hạn làm bốc phèn và bốc mặn, nguồn nước ngọt trong các
dòng sông và nước dưới đất có ý nghĩa đặc biệt. Vào mùa khô rất thiếu nước ngọt. Nhân
dân địa phương đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để rửa phèn, rửa mặn, và đã đạt
được kết quả nhất định. Cách tốt hơn cả, có thể là chia đồng bằng thành các ô nhỏ để có
đủ nước thau chua, rửa mặn; đồng thời kết hợp với việc tạo ra các giống lúa chịu được
phèn hoặc mặn trong điều kiện nước tưới bình thường.
Đối với khu vực rừng ngập mặn phía Tây Nam đồng bằng, có thể từng bước biến
thành những bãi nuôi tôm, trồng sú, vẹt, đước kết hợp với việc bảo vệ môi trường sinh
thái; cải tạo dần diện tích đất mặn, đất phèn, thành những vùng đất phù sa mới để trồng
cói, lúa, cây ăn quả.
Việc sử dụng và cải tạo tự nhiên vùng này không tách khỏi hoạt động kinh tế của
con người. Vết tích của chiến tranh vẫn còn tồn tại. Tình trạng độc canh lúa còn tương
đối phổ biến. Điều đó đòi hỏi phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phá thế độc canh, đẩy
mạnh việc trồng cây công nghiệp có giá trị cao, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, phát
triển công nghiệp chế biến. Đối với vùng biển, hướng chính trong tổ chức lãnh thổ kinh
tế là kết hợp mặt biển với đảo, quần đảo và đất liền để tạo nên một thế kinh tế liên
hoàn.
2. Vấn đề lương thực, thực phẩm
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước. Việc giải quyết vấn
đề lương thực, thực phẩm ở đây có ý nghĩa không chỉ trong vùng, mà cả trong toàn quốc.
Diện tích đồng bằng khoảng 4 triệu ha, trong đó đất sử dụng vào mục đích nông
nghiệp: 2,65 triệu ha, vào lâm nghiệp: 30 vạn ha, vào các mục đích khác: 33 vạn ha và số
đất còn lại chưa khai thác: 67 vạn ha.
Được phù sa sông Cửu Long bồi đắp, lại không bị con người can thiệp quá sớm
(như đắp đê), đất đai ở đây nhìn chung khá màu mỡ. Đất trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu
Long nhiều gấp 3 lần mức bình quân đầu người so với đồng bằng sông Hồng.
Đồng bằng sông Cửu Long có 35 vạn ha mặt nước nuôi thủy sản, trong đó có hơn
10 vạn ha nước lợ nuôi tôm xuất khẩu. Riêng cá biển khai thác ở đây chiếm tới 42% sản
lượng của cả nước.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 29

Như đã trình bày, trở ngại lớn nhất của đồng bằng là sự nhiễm phèn, nhiễm mặn
của đất, trong lúc nước lại không đủ vào mùa khô. Về mặt kinh tế - xã hội, tình trạng
chậm phát triển của các ngành kinh tế khác và kết cấu hạ tầng thiếu nghiêm trọng đã
ảnh hưởng tới việc sản xuất lương thực, thực phẩm của vùng.
Với tiềm năng sẵn có, đồng bằng sông Cửu Long đã tạo ra một khối lượng lương
thực, thực phẩm lớn nhất cả nước.
Lúa giữ ưu thế tuyệt đối trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chiếm tới 99% diện tích
cây lương thực và 99,7% sản lượng lương thực của toàn bộ đồng bằng này. Diện tích
gieo trồng lúa cả năm đạt gần 4 triệu ha, chiếm 52% diện tích gieo trồng lúa trong toàn
quốc (1999).
Cách tỉnh trồng nhiều lúa nhất ở đồng bằng nói riêng và ở cả nước nói chung là An
Giang (462.800 ha), Long An (441.200 ha), Kiên Giang (514.300 ha), Đồng Tháp (442.700
ha).
Do thiên nhiên ưu đãi, năng suất lúa trung bình cả năm ở đây vượt năng suất lúa
trung bình toàn quốc (40,3 tạ/ha so với 38,8 tạ/ha, thời kì 1995 – 1999). Năm 1999, sản
lượng lúa đạt 16,3 triệu tấn, chiếm 52% sản lượng lúa toàn quốc. Mức lương thực bình
quân trên đầu người ở đồng bằng sông Cửu Long lên đến 1012,3 kg nghĩa là gấp 2,3 lần
mức bình quân của toàn quốc và cao hơn hẳn so với các vùng khác.
Ngành chăn nuôi của đồng bằng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh.
Bò có trên 18 vạn con trong toàn vùng, và được nuôi nhiều nhất ở An Giang, Bến Tre, Trà
Vinh. Lợn được nuôi ở khắp nơi và có gần 2,8 triệu con. Đàn vịt hết sức đông đúc, được
chăn thả trên các ruộng sau vụ thu hoạch.
Nguồn thực phẩm quan trọng nữa của đồng bằng sông Cửu Long là nguồn thuỷ, hải
sản. Trong những năm qua, vùng đồng bằng này đã cung cấp cho các vùng khác và cả cho
xuất khẩu 10 vạn tấn cá, tôm, và hàng vạn tấn thịt lợn.
Vấn đề lương thực, thực phẩm của đồng bằng sông Cửu Long liên quan tới nhu
cầu của nhiều vùng khác và của xuất khẩu. Đây là địa bàn chiến lược để giải quyết vấn
đề ăn cho cả nước và cho xuất khẩu. Vì vậy những định hướng lớn về sản xuất lương
thực, thực phẩm của đồng bằng này là tập trung vào việc từng bước biến nơi đây thành
vùng lương thực, thực phẩm hàng hoá lớn hơn nữa trên cơ sở thâm canh, tăng vụ, khai
thác những diện tích còn hoang hoá, đẩy mạnh ngành công nghiệp chế biến nông sản,
thuỷ hải sản.
Trên thực tế, đồng bằng sông Cửu Long là nơi còn nhiều tiềm năng chưa được lôi
cuốn vào hoạt động sản xuất. Hiện tại, hệ số sử dụng ruộng đất ở đây còn thấp. Phần
lớn diện tích canh tác là ruộng 1 vụ. Ruộng 2 vụ, và nhất là ruộng 3 vụ còn ít. Nếu giải
quyết tốt vấn đề thuỷ lợi, diện tích lúa 2 – 3 vụ sẽ tăng lên.
Diện tích các bãi bồi ven sông, ven biển và diện tích mặt nước chưa được sử dụng
còn lớn. Có thể từng bước cải tạo các diện tích này thành đất canh tác hoặc thành vùng
nuôi thuỷ sản, nhất là thuỷ sản nước lợ và thuỷ sản nước mặn.

Chuyên đề 3: "Duyên hải miền Trung"
1. Khái quát chung
Duyên hải miền Trung bao gồm vùng duyên hải Bắc Trung Bộ (các tỉnh Thanh Hoá,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) và duyên hải Nam Trung
Bộ (thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 30

Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận). Khối núi Bạch Mã – nơi có đèo Hải Vân, được coi là
ranh giới tự nhiên giữa hai vùng trên.
Đây là một lãnh thổ hẹp theo chiều Đông – Tây, nhưng lại kéo dài theo chiều Bắc –
Nam, với sự phân hoá khá rõ của các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, của dân
cư – dân tộc, điều kiện lịch sử… cho phép phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành để khai
thác có hiệu quả nhất sự khác biệt lãnh thổ đó.
Duyên hải miền Trung có khá nhiều tài nguyên nhưng chưa khai thác được bao
nhiêu. Một số loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn. Tài nguyên lâm nghiệp tương đối
giàu. Tài nguyên nông nghiệp, thuỷ sản cũng không kém phần đa dạng. Nhưng đây lại là
vùng thường xuyên chịu thiên tai và là vùng bị tàn phá nặng nề nhất trong thời gian chiến
tranh. Hiện nay, sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng thực sự còn gặp nhiều khó khăn.
Với sự tập trung đầu tư cho vùng, nhất là với sự hình thành và phát triển của địa bàn kinh
tế trọng điểm miền Trung, trong tương lai gần đây, kinh tế của vùng sẽ có bước phát
triển đáng kể.
2. Vấn đề hình thành cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp
Duyên hải miền Trung là vùng duy nhất của nước ta mà tất cả các tỉnh đều giáp
biển, có vùng biển rộng lớn phía Đông, tiếp đến là dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển và
vùng đồi núi thấp phía Tây. Vì vậy, vấn đề hình thành cơ cấu kinh tế nông – lâm – ngư
nghiệp có ý nghĩa lớn với tất cả các tỉnh trong vùng.
a) Lâm nghiệp
Tài nguyên lâm nghiệp của toàn vùng chỉ đứng sau Tây Nguyên cả về diện tích và
trữ lượng. Độ che phủ của rừng là 34%. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý (táu, lim, sến,
kiền kiền, săng lẻ, lát hoa…), nhiều lâm sản, chim, thú có giá trị. Hiện nay, rừng giàu chỉ
còn tập trung chủ yếu ở vùng sâu giáp biên giới Việt – Lào và ở sườn cao nguyên. Chính
ở đây tập trung nhiều lâm trường, vừa khai thác, tu bổ và trồng rừng. Lâm sản khai thác
chủ yếu được đưa về các cơ sở chế biến lâm sản ở Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn để chế
biến nhằm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Ở các tỉnh duyên hải miền Trung, việc đẩy mạnh khâu chế biến gỗ và lâm sản, tu
bổ rừng và trồng rừng đã trở nên cấp bách. Việc bảo vệ và phát triển vốn rừng còn có tác
dụng điều hoà nguồn nước, hạn chế tác hại của các cơn lũ đột ngột trên các sông ngắn
và dốc của Trung Bộ. Ở vùng Bắc Trung Bộ việc trồng rừng ven biển có tác dụng chắn
gió, bão và ngăn không cho cồn cát lấn sâu vào làng mạc, ruộng đồng.
b) Nông nghiệp
Việc phát triển nông nghiệp của vùng cần dựa trên cơ sở khai thác tổng hợp các thế
mạnh về nông nghiệp của vùng trung du, đồng bằng và miền biển. Vùng đồi trước núi có
thế mạnh về chăn nuôi đại gia súc (bò là chính). Đàn bò của vùng hiện nay có khoảng 2
triệu con, bằng 50% đàn bò của cả nước. Bắc Trung Bộ còn có một số vùng chuyên canh
cây công nghiệp lâu năm (cà phê ở Tây Nghệ An và Quảng Trị, cao su, hồ tiêu ở Quảng
Bình và Quảng Trị, chè ở Tây Nghệ An).
Trong số các đồng bằng thuộc duyên hải miền Trung chỉ có đồng bằng Thanh -
Nghệ - Tĩnh là tương đối lớn, còn các đồng bằng khác thì nhỏ hẹp, do phù sa bồi đắp các
vụng biển cũ. Đất phần lớn là đất cát pha, thuận lợi cho việc phát triển các cây công
nghiệp hàng năm (lạc, mía, thuốc lá…) nhưng không thật thuận lợi cho cây lúa. Ở đây đã
hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp hàng năm và các vùng lúa thâm canh.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 31

Tuy vậy, bình quân lương thực trên đầu người của vùng còn thấp (chưa đến 290
kg/người).
c) Ngư nghiệp
Biển miền Trung lắm tôm, cá và các hải sản khác. Tỉnh nào cũng có bãi tôm, bãi cá,
nhưng lớn nhất là ở biển cực Nam Trung Bộ. Chỉ tính riêng các tỉnh thuộc Nam Trung
Bộ, sản lượng thuỷ sản năm 1999 đã vượt 400 nghìn tấn, gấp 2 lần sản lượng năm 1990.
Sản lượng cá biển năm 1999 của toàn vùng duyên hải miền Trung là 385 nghìn tấn (của
Nam Trung Bộ là 300 nghìn tấn), trong đó có nhiều loài cá quý (như cá thu, cá ngừ, cá
trích, cá nục, cá hồng, cá phèn), tôm hùm, tôm he, mực… Bờ biển miền Trung có nhiều
vụng, đầm phá thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản. Việc nuôi tôm hùm, tôm sú đang được
phát triển ở nhiều nơi, nhất là các tỉnh ở vùng Nam Trung Bộ (Phú Yên, Khánh Hoà).
Hoạt động chế biển hải sản ngày càng đa dạng, phong phú. Tương lai, ngành thuỷ sản sẽ
có vai trò ngày càng lớn hơn trong việc giải quyết vấn đề thực phẩm của vùng và tạo ra
nhiều sản phẩm hàng hoá. Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý tới việc khai thác hợp lí và bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản trong vùng.
3. Vấn đề hình thành cơ cấu công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng
Vấn đề hình thành có cấu công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng ở các tỉnh
thuộc duyên hải miền Trung có ý nghĩa cấp bách. Đó là vì duyên hải miền Trung có nhiều
tiềm năng về khoáng sản, lâm sản, thuỷ sản, nhưng tiềm năng về năng lượng tương đối
hạn chế, cơ sở hạ tầng của vùng còn nghèo và bị tàn phá nhiều do chiến tranh, lại hay bị
đe doạ huỷ hoại do thiên tai.
a) Cơ cấu công nghiệp của vùng đang trong quá trình hình thành
Trong vùng có một số mỏ khoáng sản có giá trị như mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh),
mỏ crômit Cổ Định (Thanh Hoá), mỏ thiếc Quỳ Hợp (Nghệ An). Duyên hải Nam Trung
Bộ có trữ lượng lớn cát làm thuỷ tinh, ôxyt titan. Đất sét, cao lanh, đá vôi làm xi măng sẵn
có ở Bắc Trung Bộ. Ngoài ra còn có một số mỏ đá quý.
Do hạn chế về điều kiện kỹ thuật và vốn nên nhiều tài nguyên khoáng sản của
vùng vẫn ở dạng tiềm năng hoặc được khai thác không đáng kể (crômit, thiếc…)
Cơ sở năng lượng (điện) chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển cũng như các hoạt
động kinh tế khác của vùng. Vấn đề này đang được giải quyết theo hướng sử dụng điện
của nhà máy điện Hoà Bình qua đường dây 500 kV, xây dựng ở Nam Trung Bộ một số
nhà máy thuỷ điện với quy mô trung bình như Sông Hinh (Phú Yên), Vĩnh Sơn (Bình
Định), hoặc tương đối lớn như Hàm Thuận – Đa Mi (Bình Thuận). Ở Bắc Trung Bộ dự
kiến sẽ xây dựng nhà máy thuỷ điện Bản Mai (Nghệ An).
Các trung tâm công nghiệp của vùng như Thanh Hoá - Bỉm Sơn, Vinh, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, Nha Trang đang được phát triển với nhịp độ nhanh, định hình rõ nét, với việc
tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho các ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất
vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, dệt. Trong vùng có một số nhà máy xi măng lớn
như Bỉm Sơn, Nghi Sơn (Thanh Hoá).
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam -
Quảng Ngãi) đang được chú trọng đầu tư, đặc biệt với việc xây dựng cảng nước sâu
Dung Quất và nhà máy lọc dầu số 1 ở khu công nghiệp Dung Quất, công nghiệp của
vùng sẽ có những bước phát triển rõ nét trong thập kỉ tới.
b) Việc xây dựng cơ cấu công nghiệp của vùng gắn liền với việc xây dựng cơ sở
hạ tầng, trước hết là giao thông vận tải và thông tin liên lạc
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 32

Do lãnh thổ dài và hẹp nên trục đường quốc lộ 1, đường sắt Bắc – Nam và các
thành phố, thị xã nằm dọc theo các trục đường này trở thành trục kinh tế xương sống của
vùng. Quốc lộ 1 và đường sắt Bắc – Nam đã và đang được nâng cấp, hiện đại hoá, giúp
đẩy mạnh sự giao lưu giữa duyên hải miền Trung với các vùng cực phát triển của cả
nước là đồng bằng sông Hồng (ở phía Bắc) và Đông Nam Bộ (ở phía Nam). Hệ thống
sân bay của vùng đã được khôi phục, hiện đại, gồm sân bay quốc tế Đà Nẵng và các sân
bay trong nước Vinh, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang.
Duyên hải miền Trung (nhất là Nam Trung Bộ) là khu vực thuận lợi nhất của nước
ta để xây dựng các cảng nước sâu. Đây là lợi thế của vùng để phát triển nền kinh tế mở.
Hiện nay, hệ thống cảng biển trong vùng đang được nâng cấp, trong đó có các cảng quốc
tế Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang. Các cảng nước sâu mới xây dựng là Nghi Sơn
(Thanh Hoá), Dung Quất (Quảng Ngãi).
Dự án đường Hồ Chí Minh nhằm hiện đại hoá các tuyến đường xuyên Trường Sơn,
nối với đường quốc lộ 1 bằng các tuyến đường ngang theo hướng Đông – Tây, trong đó
có các tuyến đường sang Lào, lên Tây Nguyên, nối các vùng khai thác với các cơ sở chế
biến và các cảng xuất khẩu, làm cho sự phân công lao động theo lãnh thổ được phát triển
ngày một hoàn chỉnh hơn.

Chuyên đề 4: "Trung du miền núi phía Bắc"
1. Khái quát chung
Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích rộng lớn (102,9 nghìn km2), với vị trí địa
lí đặc biệt, giáp với Thượng Lào và có thể giao lưu thuận lợi bằng đường sắt và đường ô
tô với các tỉnh phía Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai và Móng Cái.
Trung du và miền núi phía Bắc kề liền với khu vực đồng bằng sông Hồng, giao lưu
dễ dàng (nhất là vùng Đông Bắc) với khu vực kinh tế phát triển sôi động này của đất
nước. Phía Đông là vịnh Bắc Bộ, một vùng biển giàu tiềm năng.
Trung du và miền núi phía Bắc bao gồm vùng Tây Bắc núi non hiểm trở và vùng
Đông Bắc với các núi thấp và đồi, các dãy núi hình cánh cung. Đây là những vùng giàu tài
nguyên để phát triển nông nghiệp (trồng cây công nghiệp, cây đặc sản, chăn nuôi gia súc
lớn), công nghiệp (tài nguyên năng lượng, kim loại và không kim loại), du lịch, kinh tế
biển và phần nào là lâm nghiệp (vì tài nguyên rừng đã bị suy thoái nhiều).
Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người (Tày,
Nùng, Thái, Mường, Dao, Mông…). Nơi đây có Việt Bắc, cái nôi của cách mạng, có Điện
Biên Phủ lịch sử. Do vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng không chỉ có ý nghĩa kinh
tế lớn, mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc.
2. Thế mạnh về khai thác, chế biến khoáng sản và thuỷ điện
Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có khoáng sản và trữ năng thuỷ điện lớn
nhất nước ta. Lòng đất ở đây giàu than, quặng sắt, mangan, đồng, chì, kẽm, đất hiếm,
apatit. Tuy nhiên, đa số các mỏ lại ở nơi mà kết cấu hạ tầng giao thông vận tải chưa phát
triển, các vỉa quặng thường nằm sâu dưới lòng đất cho nên việc khai thác đòi hỏi phải có
các phương tiện hiện đại và chi phí khai thác cao. Trong tương lai, sự kết hợp các tài
nguyên phong phú, đa dạng trên lãnh thổ của vùng là một thế mạnh mà không phải vùng
nào cũng có.
Các mỏ than tập trung chủ yếu ở khu Đông Bắc (Quảng Ninh, Na Dương, Thái
Nguyên). Vùng than Quảng Ninh (trữ lượng thăm dò được là 3 tỉ tấn, chủ yếu là than
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 33

antraxit) là vùng than lớn bậc nhất và chất lượng than tốt nhất của khu vực Đông Nam Á.
Năm 1998, sản lượng khai thác vào khoảng 10 triệu tấn, trong đó lượng xuất khẩu vào
khoảng 3 triệu tấn. Nguồn than khai thác được còn dùng làm nhiên liệu cho các nhà máy
nhiệt điện, như nhà máy nhiệt điện Uông Bí (Quảng Ninh) có công suất lên tới 150 nghìn
kW. Sắp tới sẽ xây dựng nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, công suất 600 nghìn kW.
Khu Tây Bắc có một số mỏ khá lớn như mỏ quặng đồng – niken (Sơn La), đất
hiếm (Lai Châu).
Khu Đông Bắc có nhiều mỏ kim loại, đáng kể hơn cả là mỏ sắt (Yên Bái), thiếc và
bôxit (Cao Bằng), kẽm – chì ở Chợ Điền (Bắc Cạn), đồng – vàng (Lào Cai). Mỏ thiếc
Tĩnh Túc (Cao Bằng) sản xuất khoảng 1000 tấn thiếc mỗi năm, để tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu.
Khoáng sản phi kim loại đáng kể có apatit (Lào Cai). Mỗi năm khai thác khoảng 600
nghìn tấn quặng để sản xuất phân lân.
Trữ năng thuỷ điện của hệ thống sông Hồng (11 triệu kW) chiếm hơn 1/3 trữ năng
thuỷ điện của cả nước. Riêng sông Đà chiếm gần 6 triệu kW. Nguồn thuỷ năng lớn này
đang được khai thác. Nhà máy thuỷ điện Thác Bà trên sông Chảy có công suất thiết kế là
110 nghìn kW. Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà có công suất thiết kế là 1,9
triệu kW. Dự kiến sẽ xây dựng một số nhà máy thuỷ điện lớn như nhà máy thuỷ điện
Sơn La (trên sông Đà) với công suất là 3,6 triệu kW, thuỷ điện Đại Thị (trên sông Gâm)
250 nghìn kW…
Việc phát triển thuỷ điện sẽ tạo ra động lực mới cho sự phát triển của vùng, nhất là
việc khai thác và chế biến khoáng sản trên cơ sở nguồn điện rẻ và dồi dào. Tuy nhiên với
những công trình kỹ thuật lớn như thế, cần chú ý đến những thay đổi không nhỏ của môi
trường.
3. Thế mạnh về cây công nghiệp, cây dược liệu, các loại rau quả cận nhiệt và ôn
đới.
Trung du và miền núi phía Bắc có phần lớn diện tích là đất feralit trên đá phiến, đá
vôi và các đá mẹ khác, ngoài ra còn có đất phù sa cổ (ở vùng trung du). Nơi đây có khí hậu
nhiệt đới ẩm, gió mùa, có mùa đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện địa
hình vùng núi. Vùng núi và trung du Đông Bắc địa hình tuy không cao, nhưng lại là nơi
chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa đông bắc, là khu vực có mùa đông lạnh nhất
nước ta. Vùng núi Tây Bắc tuy chịu ảnh hưởng yếu hơn của gió lạnh mùa đông, nhưng
do nền địa hình cao nên mùa đông cũng vẫn lạnh. Bởi vậy, trung du và miền núi phía Bắc
có thế mạnh đặc biệt để phát triển các cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn
đới. Đây chính là vùng chè lớn nhất cả nước, với các loại chè thơm ngon nổi tiếng ở Phú
Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Giang, Sơn La.
Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn, cũng như trên vùng núi cao
Hoàng Liên Sơn, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng các cây thuốc quý (tam
thất, đương quy, đỗ trọng, hồi, thảo quả…) và các cây ăn quả như mận, đào, lê. Ở Sa Pa
có thể trồng rau mùa đông và sản xuất hạt giống quanh năm.
Khả năng mở rộng diện tích và nâng cao năng suất cây công nghiệp, cây đặc sản và
cây ăn quả của trung du và miền núi phía Bắc còn rất lớn. Nhưng một khó khăn lớn đối
với khu Đông Bắc là thời tiết hay nhiễu động, thất thường, còn đối với khu Tây Bắc là
nạn thiếu nước về mùa đông. Mạng lưới các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản
(nguyên liệu cây công nghiệp) chưa cân xứng với thế mạnh của vùng.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 34

Việc đẩy mạnh sản xuất cây công nghiệp và cây đặc sản sẽ cho phép phát triển
nền nông nghiệp hàng hoá có hiệu quả cao của vùng và có tác dụng hạn chế nạn du canh,
du cư.
4. Thế mạnh về chăn nuôi gia súc
Trung du và miền núi phía Bắc có nhiều đồng cỏ, chủ yếu là trên các cao nguyên ở
độ cao 600 – 700m. Các đồng cỏ thường không lớn. Tuy vậy ở đây có thể phát triển chăn
nuôi trâu, bò (lấy thịt và lấy sữa), ngựa, dê. Bò sữa được nuôi tập trung ở cao nguyên
Mộc Châu (Sơn La). Trây, bò thịt được nuôi rộng rãi, nhất là trâu. Trâu khoẻ hơn, chịu
ẩm giỏi hơn bò, dễ thích nghi với điều kiện chăn thả trong rừng. Đàn trâu trong vùng có
hơn 1,7 triệu con, chiếm 3/5 đàn trâu cả nước. Đàn bò khoảng 800 nghìn con, bằng 20%
đàn bò cả nước.
Hiện nay, những khó khăn trong việc vận chuyển các sản phẩm chăn nuôi tới vùng
tiêu thụ (đồng bằng và đô thị) đã hạn chế việc phát triển chăn nuôi gia súc lớn của vùng.
Thêm vào đó, các đồng cỏ cũng cần được cải tạo, nâng cao năng suất.
Do giải quyết tốt hơn lương thực cho người, nên hoa màu lương thực được giành
nhiều hơn cho chăn nuôi đã thúc đẩy nhanh việc phát triển đàn lợn trong vùng, lên tới gần
5 triệu con (năm 1999), chiếm 26% đàn lợn của cả nước.
5. Thế mạnh về kinh tế biển
Trong điều kiện mở cửa nền kinh tế, thế mạnh về kinh tế biển của trung du và
miền núi phía Bắc sẽ càng được phát huy. Vùng biển Quảng Ninh là một vùng biển rất
giàu tiềm năng, một vùng đang phát triển năng động cùng với sự phát triển của vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ. Ở đây đang phát triển mạnh ngành đánh bắt và nuôi trồng thuỷ
sản, nhất là đánh bắt xa bờ. Du lịch biển - đảo đang đóng góp đáng kể vào cơ cấu kinh
tế, với quần thể du lịch Hạ Long đã được xếp hạng vào danh mục di sản thiên nhiên thế
giới. Cảng Cái Lân (một cảng nước sâu) đang được xây dựng và nâng cấp, tạo đà cho sự
hình thành khu công nghiệp Cái Lân…

Chuyên đề 5: "Tây Nguyên"
1. Khái quát chung
Tây Nguyên bao gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng.
Diện tích 55,6 nghìn km2. Đây là vùng duy nhất ở nước ta không giáp biển. Khối các cao
nguyên xếp tầng đồ sộ này nằm sát dải duyên hải Nam Trung Bộ dài mà hẹp, lại giáp
với miền Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Chính vì thế, Tây Nguyên có vị trí đặc biệt
quan trọng về quốc phòng và xây dựng kinh tế.
Đất đai màu mỡ, cộng với sự đa dạng của tài nguyên khí hậu và rừng, đem lại cho
Tây Nguyên những tiềm năng to lớn về nông nghiệp và lâm nghiệp mà đến nay chúng ta
vẫn chưa hiểu biết cặn kẽ.
Tây Nguyên không giàu tài nguyên khoáng sản, chỉ có bôxit với trữ lượng hàng tỉ tấn
là đáng kể. Trữ năng thuỷ điện khá lớn, trên các sông Xê Xan, Xrêpôk và thượng nguồn
sông Đồng Nai.
Tây Nguyên là vùng thưa dân nhất nước ta. Đây là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc
ít người (Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Cơ Ho, Mạ, M’nông…) với truyền thống văn
hoá độc đáo.
So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có
nhiều khó khăn. Trong vùng thiếu lao động lành nghề, cb khoa học – kỹ thuật. Mức sống
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 35

của nhân dân còn thấp, tỉ lệ chưa biết đọc biết viết rất cao. Cơ sở hạ tầng thiếu thốn
nhiều, trước hết là mạng lưới đường giao thông, các cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, dịch
vụ kỹ thuật. Công nghiệp trong vùng mới trong giai đoạn hình thành, với các trung tâm
công nghiệp nhỏ và điểm công nghiệp.
2. Vấn đề phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên
Tây Nguyên có tiềm năng to lớn về nông nghiệp và lâm nghiệp. Đất badan và khí
hậu cận xích đạo rất phù hợp với việc trồng các cây công nghiệp lâu năm.
Đất badan ở Tây Nguyên có tầng phong hoá sâu, giàu chất dinh dưỡng, lại phân bố
tập trung với những mặt bằng rộng, thuận lợi cho việc thành lập các nông trường và
vùng chuyên canh quy mô lớn.
Khí hậu Tây Nguyên có tính chất cận xích đạo với một mùa mưa và một mùa khô
kéo dài (có khi tới 4 – 5 tháng). Về mùa khô, mực nước ngầm hạ thấp, vì thế việc làm
thuỷ lợi gặp nhiều khó khăn, tốn kém, là trở ngại lớn cho việc sản xuất và sinh hoạt. Sự
đắp đổi giữa mùa khô kéo dài và mùa mưa trên vùng đất badan vụn bở còn đe doạ xói
mòn đất nếu lớp phủ thực vật bị phá hoại. Nhưng mùa khô kéo dài lại là điều kiện thuận
lợi để phơi sấy, bảo quản sản phẩm. Do ảnh hưởng của độ cao, nên trong khi ở các cao
nguyên cao 400 – 500m khí hậu khô nóng, thì các cao nguyên cao trên 1000m khí hậu lại
rất mát mẻ. Vì thế ở Tây Nguyên có thể trông các cây công nghiệp nhiệt đới (cà phê, cao
su, hồ tiêu) và cả các cây có nguồn gốc cận nhiệt đới (chè) khá thuận lợi.
Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một của Tây Nguyên. Diện tích cà phê ở
Tây Nguyên hiện nay là hơn 290 nghìn ha, chiếm 4/5 diện tích cà phê cả nước. Đắc Lắc
là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất (170 nghìn ha). Cà phê chè được trồng trên các cao
nguyên tương đối cao, có khí hậu mát hơn (ở Gia Lai, Kon Tum và Lâm Đồng), còn cà phê
vối được trồng ở những vùng nóng hơn (chủ yếu ở Đắc Lắc). Cà phê Buôn Ma Thuột
nổi tiếng có chất lượng cao.
Chè được trồng chủ yếu trên các cao nguyên cao hơn (như ở Lâm Đồng) và một
phần ở Gia Lai. Chè búp thu hoạch được đem chế biến tại các nhà máy chè Biển Hồ (Gia
Lai) và B’lao (Lâm Đồng).
Tây Nguyên là vùng trồng cao su lớn thứ hai trong nước (sau Đông Nam Bộ). Cao su
được trồng chủ yếu ở tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắc Lắc, tại những vùng tránh được gió
mạnh.
Tây Nguyên còn là vùng trồng dâu, nuôi tằm tập trung lớn nhất nước ta. Dâu tằm
được trồng nhiều nhất ở các huyện Bảo Lộc, Đơn Dương, Đức Trọng (Lâm Đồng). Ở
đây có các xí nghiệp ươm tơ xuất khẩu.
Việc phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên đã thu
hút về đây hàng vạn lao động từ các vùng khác nhau của đất nước và cũng tạo ra tập
quán sản xuất mới cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Bên cạnh các nông trường quốc doanh sản xuất tập trung, ở Tây Nguyên hiện nay
còn phát triển rộng rãi các mô hình kinh tế vườn trồng cà phê, hồ tiêu… Do vậy, đã sử
dụng tốt hơn sức lao động, nâng cao hiệu quả của việc đầu tư sản xuất, mở rộng diện
tích và nâng cao sản lượng các cây công nghiệp xuất khẩu nếu trên. Lương thực, thực
phẩm cho nhân dân được bảo đảm tốt hơn thông qua việc trao đổi hàng hoá với các vùng
khác, tạo điều kiện ổn định diện tích cây công nghiệp lâu năm, nhất là diện tích cây mới
trồng.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 36

Sự phát triển các cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên trong những năm tới đồi
hỏi phải nâng cấp mạng lưới đường giao thông, đặc biệt là đường 14 xuyên Tây Nguyên
và các tuyến đường ngang nối các tỉnh Tây Nguyên với đồng bằng duyên hải (đường 19,
26) vì hầu hết các vùng kinh tế mới, các nông trường, các vùng chuyên canh đều nằm dọc
các tuyến đường này. Việc thu hút đầu tư hợp tác của nước ngoài vào Tây Nguyên, đẩy
mạnh khâu chế biến các sản phẩm cây công nghiệp cũng là một yêu cầu cấp bách đặt ra
hiện nay.
3. Khai thác và chế biến lâm sản
Lâm nghiệp cũng là một thế mạnh nổi bật của Tây Nguyên. Vào đầu thập kỉ 90,
trong khi rừng ở nhiều vùng của nước ta đang trong tình trạng cạn kiệt, thì rừng của Tây
Nguyên vẫn che phủ 60% diện tích lãnh thổ. Tây Nguyên còn nhiều rừng gỗ quý (như
cẩm lai, gụ mật, nghiến, trắc, sến), nhiều chim, thú quý (voi, bò tót, gấu…). Rừng Tây
Nguyên chiếm tới 36% diện tích đất có rừng là 52% sản lượng gỗ có thể khai thác của
cả nước. Tây Nguyên thực sự là “kho vàng xanh” của nước ta.
Ở Tây Nguyên có hàng chục lâm trường và các liên hiệp lâm – nông – công nghiệp
lớn nhất nước ta: Liên hiệp lâm – nông – công nghiệp Kon Hà Nừng (tỉnh Gia Lai), Liên
hiệp lâm – nông – công nghiệp Ea súp (tỉnh Đắc Lắc) và Liên hiệp lâm – nông – công
nghiệp Gia Nghĩa (tỉnh Đắc Nông).
Các liên hiệp lâm – nông – công nghiệp không chỉ tiến hành khai thác rừng mà cả
khoanh nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ xẻ…
Do sự suy giảm tài nguyên rừng nên sản lượng khai thác không ngừng giảm, từ 600
– 700 nghìn m3 vào cuối thập kỉ 80 - đầu thập kỉ 90, nay chỉ còn khoảng 200 – 300 nghìn
m3
/năm.
Trong những năm gần đây nạn phá rừng gia tăng, làm giảm sút nhanh lớp phủ rừng
và trữ lượng các loại gỗ quý, môi trường sống của các loài chim thú quý bị đe doạ, mực
nước ngầm về mùa khô tiếp tục hạ thấp. Phần lớn gỗ khai thác, được đem xuất ra ngoài
vùng dưới dạng gỗ tròn chưa qua chế biến. Một phần đáng kể gỗ cành, ngọn chưa được
tận thu. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải ngăn chặn nạn phá rừng, khai thác rừng hợp lí đi
đôi với khoanh nuôi, trồng rừng mới. Công tác giao đất, giao rừng cần được đẩy mạnh.
Đồng thời cũng cần đẩy mạnh hơn nữa việc chế biến gỗ tại địa phương và hạn chế
xuất gỗ tròn.
4. Khai thác thuỷ năng
Tài nguyên thuỷ năng của vùng được sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn. Trước
đây đã xây dựng các nhà máy thuỷ điện Đa Nhim (160.000 kW) trên sông Đa Nhim
(thượng nguồn sông Đồng Nai), Đrây Hơlinh (12.000 kW) trên sông Xrêpôk. Công trình
thuỷ điện Yaly (700.000 kW) đưa điện lên lưới từ năm 2000. Các công trình thuỷ điện
khác như Bon Ron - Đại Ninh, Plây Krông cũng được dự kiến xây dựng. Với việc xuất
hiện các công trình thuỷ điện, công nghiệp của vùng sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để
phát triển, trong đó có việc khai thác và chế biến bột nhôm từ nguồn bôxit rất lớn của
Tây Nguyên.


Chuyên đề 6: "Đông Nam Bộ"
1. Các thế mạnh và hạn chế của vùng:
a) Khái quát chung
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 37

Đông Nam Bộ bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Bình
Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu. Vùng Đông Nam Bộ có diện tích vào
loại nhỏ so với các vùng khác (23,5 nghìn km2), dân số và lao động vào loại trung bình,
nhưng lại dẫn đầu cả nước về tổng sản phẩm trong nước, giá trị sản lượng công nghiệp
và giá trị hàng xuất khẩu.
Đông Nam Bộ là vùng có nền kinh tế hàng hoá sớm phát triển, cơ cấu kinh tế công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển hơn so với các vùng khác trong cả nước.
b) Vị trí địa lí
Đông Nam Bộ có vị trí địa lí rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Vùng này
nằm kề với đồng bằng sông Cửu Long – vùng lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước,
giao lưu thuận tiện nhờ có mạng lưới kênh rạch và hệ thống đường bộ. Bằng đường bộ
còn có thể dễ dàng giao lưu với Campuchia, với vùng Nam Tây Nguyên; bằng đường bộ
và đường sắt xuyên Việt có thể liên hệ với các tỉnh khác trong cả nước, nhất là duyên
hải Nam Trung Bộ. Cụm cảng Sài Gòn (đường không và đường biển) và Vũng Tàu tạo
cửa ngõ cho vùng mở ra với nước ngoài.
c) Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Các vùng đất badan khá màu mỡ chiếm tới 40% diện tích của vùng, nối tiếp với
miền đất badan của Nam Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ. Đất xám bạc màu (phù sa
cổ) chiếm tỉ lệ nhỏ hơn chút ít, phân bố thành vùng lớn ở các tỉnh Tây Ninh và Bình
Dương. Đất phù sa cổ tuy nghèo dinh dưỡng hơn đất badan, nhưng thoát nước tốt. Nhờ
có khí hậu cận xích đạo, đất đai màu mỡ và mạng lưới thuỷ lợi được cải thiện, Đông
Nam Bộ có tiềm năng to lớn để phát triển các cây công nghiệp lâu năm (cao su, cà phê,
điều, hồ tiêu), cây ăn quả và cả cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, mía, thuốc lá…)
trên quy mô lớn.
Vùng Đông Nam Bộ nằm gần các ngư trường lớn là ngư trường Ninh Thuận – Bình
Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu và như trường Minh Hải – Kiên Giang, đồng thời có các điều
kiện lí tưởng để xây dựng các cảng cá. Ven biển có rừng ngập mặn, thuận lợi để nuôi
trồng các loại thuỷ sản nước mặn và nước lợ.
Tài nguyên lâm nghiệp của vùng không thật lớn, nhưng đây là nguồn cung cấp gỗ
dân dụng, gỗ củi cho thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long, và là nguồn
nguyên liệu cho Liên hiệp giấy Đồng Nai. Ở đây còn có khu vườn quốc gia Cát Tiên nổi
tiếng, nơi còn bảo tồn được nhiều loài thú quý.
Tài nguyên khoáng sản của vùng nổi bật là dầu khí trên vùng thềm lục địa. Ngoài ra
là đất sét cho công nghiệp vật liệu xây dựng và cao lanh cho công nghiệp gốm, sứ. Hệ
thống sông Đồng Nai có tiềm năng thuỷ điện lớn.
Khó khăn của vùng là mùa khô ở đây kéo dài, có khi tới 4 tháng (từ cuối tháng 11
đến hết tháng 3), dẫn đến tình trạng thiếu nước cho cây trồng, cho sinh hoạt của dân cư
và cho công nghiệp (đặc biệt là nước trong các hồ thuỷ điện).
d) Điều kiện kinh tế - xã hội
Vùng Đông Nam Bộ là địa bàn thu hút mạnh lực lượng lao động có chuyên môn cao,
từ công nhân lành nghề tới các kĩ sư, các nhà khoa học, các nhà kinh doanh. Sự phát triển
kinh tế năng động càng tạo điều kiện cho vùng có được nguồn tài nguyên chất xám lớn.
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất cả nước về diện tích và dân số, đồng thời
cũng là trung tâm công nghiệp, giao thông vận tải và dịch vụ lớn nhất cả nước.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 38

Ở vùng Đông Nam Bộ có sự tích tụ lớn về vốn và kỹ thuật, lại đang tiếp tục thu
hút đầu tư trong nước và quốc tế. Cơ sở hạ tầng ở đây phát triển tốt, đặc biệt là giao
thông vận tải và thông tin liên lạc.
Tất cả các điều kiện trên tạo ra lợi thế của vùng trong phát triển kinh tế - xã hội.
Vấn đề nổi lên ở đây là khai thác lãnh thổ theo chiều sâu, tức là nâng cao hiệu quả khai
thác lãnh thổ trên cơ sở tăng cường đầu tư khoa học kỹ thuật và vốn, để vừa tăng thêm
tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, vừa bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lí tài
nguyên.
2. Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu
a) Trong công nghiệp
Hiện nay trong cơ cấu ngành công nghiệp của cả nước, vùng Đông Nam Bộ chiếm
tỉ trọng cao nhất, với vị trí nổi bật của các ngành công nghệ cao như luyện kim, công
nghiệp điện tử, chế tạo máy, tin học, hoá chất, hoá dược, thực phẩm… Việc phát triển
các ngành công nghiệp của vùng đặt ra nhu cầu rất lớn về năng lượng. Cơ sở năng lượng
của vùng đã từng bước được giải quyết nhờ:
- Xây dựng các công trình thuỷ điện trong vùng. Nhà máy thủy điện Trị An trên sông
Đồng Nai, công suất 400.000 kW đã đi vào hoạt động từ năm 1988. Công trình thuỷ điện
Thác Mơ (150.000 kW) trên sông Bé đã đi vào hoạt động. Các công trình thuỷ điện khác
trên sông Đồng Nai và trên sông La Ngà đang trong kế hoạch xây dựng.
- Đường dây cao áp 500 kV chuyển điện từ Hoà Bình vào
- Phát triển điện tuôcbin khí, gồm các nhà máy điện tuôcbin khí Phú Mĩ, Bà Rịa, Thủ
Đức…, trong đó lớn nhất là nhà máy điện tuôcbin khí Phú Mĩ, tổng công suất thiết kế
hơn 3 triệu kW.
- Phát triển một số nhà máy nhiệt điện chạy bằng dầu, phục vụ cho các khu chế
xuất…
Sự phát triển công nghiệp của vùng không tách rời xu hướng mở rộng quan hệ đầu
tư với nước ngoài (1). Do vậy, những vấn đề về môi trường phải luôn luôn được quan
tâm. Sự phát triển của công nghiệp cũng cần phải tránh làm tổn hại đến ngành du lịch mà
vùng có nhiều tiềm năng.
b) Trong khu vực dịch vụ
Các ngành dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế của vùng.
Cùng với việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, các hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển đa
dạng. Đó là các hoạt động dịch vụ thương mại, ngân hàng, tín dụng, thông tin, hàng hải,
du lịch,… Vùng Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước về sự tăng nhanh và phát triển có hiệu
quả các ngành dịch vụ.
(1): Cả vùng Đông Nam Bộ trong thời gian 1988 – 1999 đã thu hút số dự án với tổng số vốn đăng
kí là 17815,9 triệu USD, bằng 50,3% của cả nước. Chỉ tính riêng thành phố Hồ Chí Minh, trong thời kỳ
này đã thu hút 32% số dự án và 28% số vốn đầu tư của nước ngoài trong phạm vi cả nước. Ở thành
phố Hồ Chí Minh đã hình thành hai khu chế xuất là Tân Thuận và Linh Trung.
c) Trong nông, lâm nghiệp
Vấn đề thuỷ lợi có ý nghĩa hàng đầu. Nhiều công trình thuỷ lợi đã được xây dựng.
Công trình thuỷ lợi Dầu Tiếng trên thượng lưu sông Sài Gòn (tỉnh Tây Ninh) là công trình
thuỷ lợi lớn nhất của nước ta hiện nay. Hồ Dầu Tiếng rộng 270 km2, chứa 1,5 tỉ m3, bảo
đảm tưới tiêu cho hơn 170 nghìn ha đất thường xuyên bị thiếu nước về mùa khô của tỉnh
Tây Ninh và của huyện Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh). Việc giải quyết nước tưới cho
các vùng khô hạn về mùa khô và tiêu nước cho các vùng thấp dọc sông Đồng Nai và sông
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 39

La Ngà cũng được thực hiện kết hợp với việc xây dựng các công trình thuỷ điện trên
sông Bé, sông Đồng Nai và sông La Ngà. Nhờ đó, diện tích đất trồng trọt tăng lên, hệ số
sử dụng đất trồng cây hàng năm cũng tăng và khả năng bảo đảm lương thực, thực phẩm
của vùng cũng khá hơn.
Việc thay đổi cơ cấu cây trồng đang nâng cao hơn vị trí của vùng như là vùng
chuyên canh cây công nghiệp lớn của cả nước. Những vườn cao su già cỗi, năng suất mủ
thấp, được thay thế dần bằng giống cao su của Malaisia có năng suất cao gấp 1,5 đến 2
lần, nhờ thế mà sản lượng cao su của vùng trong thập niên tới sẽ tăng lên. Đông Nam Bộ
cũng đang trở thành vùng sản xuất chủ yếu cà phê, hồ tiêu. Cây cọ dầu, cây điều đang
được đưa vào trồng với quy mô lớn hơn. Cây mía và đậu tương vẫn chiếm vị trí hàng
đầu trong các cây công nghiệp ngắn ngày.
Vốn rừng trên vùng thượng lưu của các con sông cần được bảo vệ để tránh mất
nước ở các hồ chứa, giữ được mực nước ngầm, đồng thời cần cứu các vùng rừng ngập
mặn đang bị triệt phá do lấy than củi và do nuôi thuỷ sản không có quy hoạch tốt. Vườn
quốc gia Cát Tiên cũng cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
d) Trong phát triển tổng hợp kinh tế biển
Vùng biển và bờ biển Đông Nam Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
tổng hợp kinh tế biển (khai thác tài nguyên sinh vật biển, khai thác khoáng sản vùng thềm
lục địa, du lịch biển và giao thông vận tải biển). Việc phát hiện dầu khí ở vùng thềm lục
địa Nam Biển Đông của nước ta và việc khai thác dầu khí (từ năm 1986) với quy mô ngày
càng lớn, có sự hợp tác đầu tư của nhiều nước, đã tác động mạnh đến sự phát triển của
vùng, nhất là ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vũng Tàu là nơi nghỉ mát lý tưởng cho vùng Nam
Bộ và cả nước, nay còn là cơ sở dịch vụ lớn về khai thác dầu khí. Việc phát triển công
nghiệp lọc, hoá dầu và các ngành dịch vụ khai thác dầu khí sẽ làm thay đổi một cách lớn
lao cơ cấu kinh tế và cả sự phân hoá lãnh thổ của vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, cần
phải đặc biệt chú ý giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong quá trình khai thác, vận
chuyển và chế biến dầu mỏ.
đ) Địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm thành phố Hồ Chí Minh – Bình
Dương - Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu – Bình Phước – Tây Ninh – Long An sẽ tăng
cường hạt nhân phát triển của vùng, tạo ra một trong hai vùng cực phát triển của đất
nước. Địa bàn trọng điểm này sẽ góp phần tạo ra nhịp độ tăng trưởng mới của vùng và
của cả nước.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM

Trong cơ cấu ngành công nghiệp nước ta nổi lên một số ngành trọng điểm,
trong đó có công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ (hải) sản. Ngành công nghiệp này
bao gồm những phân ngành nào và vì sao lại được coi là ngành công nghiệp trọng
điểm?
1. Trong cơ cấu ngành công nghiệp, công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ (hải)
sản được coi là một trong những ngành trọng điểm.
a) Ngành công nghiệp trọng điểm là ngành có thế mạnh lâu dài, mang lại hiệu quả
kinh tế cao và có tác động mạnh mẽ đến việc phát triển các ngành kinh tế khác.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 40

b) Công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm. Đây là phân ngành quan trọng nhất
của công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ (hải) sản. Quan trọng hơn cả phải kể tới :
+ Công nghiệp xay xát,
+ Sản xuất đường mía, ép dầu…
+ Công nghiệp đồ hộp (rau, quả, sữa, thịt),
+ Chế biến chè, cà phê v.v…
-Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản :
+ Chế biến cá,
+ Hải sản đông lạnh v.v…
- Chế biến gỗ và lâm sản :
+ Chế biến gia công gỗ,
+ Các loại lâm sản khác v.v…
2. Đây là một ngành công nghiệp trọng điểm vì :
- Có thế mạnh lâu dài, đặc biệt là có nguồn nguyên liệu hết sức phong phú đa dạng.
- Trước kia cũng như hiện nay, công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ (hải) sản
chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị sản lượng cảu toàn ngành công nghiệp. Thí dụ, năm
1998, công nghiệp thực phẩm và đồ uống đứng đầu trong các ngành công nghiệp và
chiếm 23,6+% giá trị tổng sản lượng công nghiệp.
- Ngành này mang lại hiệu quả kinh tế và nhất là chiếm phần lớn các mặt hàng
xuất khẩu của nước ta (gạo, cao su, chè, cà phê, lạc nhân, thịt chế biến, rau quả, thuỷ
sản).
- Tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành khác (trồng trọt, chăn nuôi và đánh
bắt thuỷ hải sản, một số ngành công nghiệp v.v…).
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 41

(Tham khảo thêm)
CÁC VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(CNH,HĐH) đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam
nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh,
hiện đại.
Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ở nước ta
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của
các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại - dịch vụ
(gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các
ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp). Cùng với quá
trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã
hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành
phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối
ngoại…
1. Cơ cấu kinh đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta
đã đạt được những kết quả nổi bật sau đây.
Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP,
cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực. Đó là tỷ trọng trong
GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995;
24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6%. Tỷ trọng công
nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000:
36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6%. Tỷ trọng dịch vụ
trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000:
38,7%; năm 2005: 38,1%; năm 2008 sẽ là khoảng 38,7%.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày
càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi.
Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự chuyển dịch ngày
càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng giá trị sản xuất
công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007. Trên cơ
sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu
hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng
tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông
nghiệp thuần tuý giảm dần. Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp)
đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78%. Năm 2007, số hộ công nghiệp và
dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000.
Trong cơ cấu các thành phần kinh tế kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế
về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Từ
những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc
chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 42

thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu
quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Về cơ cấu vùng kinh tế, trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế. Trên bình diện quốc gia, đã hình
thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùng
đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng động lực cho
tăng trưởng kinh tế cả nước.
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng các
khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ
sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng. Điều này tạo thuận lợi cho phát
triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu.
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh
tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa là hệ số
mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm 2005 là trên
50%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 - 2005 đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân
17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/
người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục
đạt mức cao - 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng
21,5% so với năm 2006; năm 2008 tăng 29,5%so với năm 2007, đưa tỷ lệ XK/GDP đạt
khoảng 70%.
Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản... đã có
sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều
tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ
năm 2004 đến nay. Năm 2001, vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỉ USD; tiếp theo, năm 2002:
3,0 tỉ USD; 2003: 3,2 tỉ USD; 2004: 4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉ USD; và
năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồn vốn đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD, tăng gấp đôi so với năm
2006, bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001-2005, chiếm 1/4 tổng vốn
FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua.
Năm 2008 này, tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suy thoái,
song đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ USD, tăng gấp đôi
năm 2007. Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 diễn ra đầu
tháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà tài trợ lên tới 5,014 tỉ USD (thấp hơn 1 chút
so với năm 2007: 5,4 tỉ USD). Giải ngân vốn ODA được 2,2 tỉ USD, vượt chỉ tiêu kế
hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007 (2,176 tỉ USD).
Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triển khai. Các
doanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài như khai thác dầu ở
An-giê-ri, Xin-ga-po, Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở Lào...
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một trong những
nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả, thành tựu tăng trưởng kinh
tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng ta giữ được các cân đối vĩ
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 43

mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế..., góp
phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Các chương
trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người
nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm
từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn13,1%. Chỉ số phát triển
con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lên hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên 105 trong
tổng số 177 nước...
2. Những hạn chế, bất cập của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
So với yêu cầu đặt ra, tốc độ chuyển dịch CCKT còn chậm và chất lượng chưa cao.
Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố hiện đại trong toàn
ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung, vẫn ở
mức trung bình. Công nghiệp chế biến, đặc biệt là những ngành công nghệ cao chưa phát
triển. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liên tục trong những năm gần đây. Những ngành
dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính - tín dụng,
dịch vụ tư vấn chậm phát triển. Tình trạng độc quyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất
lượng dịch vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực, viễn thông, đường sắt. Một
số ngành có tính chất động lực như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, tính chất xã
hội hoá còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước.
Mới đây, tháng 9-2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra đánh giá tổng quan về
tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội trong 3 năm qua (2006-2008) và dự báo khả
năng thực hiện 52 chỉ tiêu chủ yếu đã được Đại hội X của Đảng đề ra trong kế hoạch
kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010, trong đó có các chỉ tiêu liên quan đến việc thực hiện
nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra cảnh báo, mặc dù đã có sự chuyển dịch đúng
hướng, song tiến độ thực hiện còn chậm so với mục tiêu kế hoạch; trong bối cảnh kinh
tế toàn cầu suy thoái hiện nay mà dự báo là sẽ còn rất nan giải, chí ít là trong vài ba năm
tới, nếu không có các giải pháp chính sách thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa trong phát triển
công nghiệp và dịch vụ theo hướng nâng cao sản lượng và chất lượng tăng trưởng,
chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cùng với chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ… thì khó có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra.
Có cảnh báo đó là vì, theo ước tính, đến hết năm 2008, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP
vẫn còn 20,6-20,7%, trong khi kế hoạch đến năm 2010 phải giảm còn 15-16%; giá trị
công nghiệp năm 2008 mới đạt 40,6-40,7% GDP, trong khi kế hoạch đến năm 2010 phải
đạt 43-44%; tỷ trọng thương mại - dịch vụ năm 2008 ước tính có thể đạt 38,7-38,8%
GDP, trong khi kế hoạch đến năm 2010 phải là 40-41%.
3. Một số giải pháp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010
Trong Báo cáo của Chính phủ trình bày tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII (tháng
10-11-2008) đã nêu rõ có nhiều nguyên nhân khiến cho kinh tế nước ta lâm vào tình trạng
lạm phát và suy giảm tăng trưởng từ đầu năm 2008 đến nay, trong đó có một nguyên nhân
cơ bản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH còn chậm. Vì thế đẩy
nhanh chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH vẫn được coi là một trong những giải
pháp quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Cụ thể, để phấn đấu đạt được mục
tiêu kế hoạch chuyển dịch CCKT đến năm 2010 như Đại hội X đã đề ra, cần thực hiện
tốt hơn nữa những vấn đề sau đây:
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 44

- Tăng mạnh hơn nữa tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm
quốc nội (GDP). Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta trước hết chính là
quá trình phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp, thông qua đó giảm bớt lao
động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng khả năng tích luỹ cho dân cư. Đây lại chính là điều
kiện để tái đầu tư, áp dụng các phương pháp sản xuất, công nghệ tiên tiến hiện đại vào
sản xuất, trong đó có cả sản xuất nông nghiệp. Kết quả là, tất cả các ngành kinh tế đều
phát triển, nhưng ngành công nghiệp và dịch vụ cần phát triển nhanh hơn, biểu hiện là
tăng tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp và dịch vụ trong GDP.
- Hình thành các vùng kinh tế dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, gắn với nhu cầu
của thị trường. Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình chuyển biến căn
bản về phân công lao động xã hội theo lãnh thổ. Xoá bỏ tình trạng chia cắt về thị trường
giữa các vùng; xoá bỏ tình trạng tự cung tự cấp, đặc biệt là tự cung, tự cấp về lương
thực của từng vùng, từng địa phương. Mỗi địa phương cần đặt mình trong một thị trường
thống nhất, không chỉ là thị trường cả nước mà còn là thị trường quốc tế, trên cơ sở đó
xác định những khả năng, thế mạnh của mình để tập trung phát triển, tham gia vào quá
trình phân công và hợp tác lao động có hiệu quả.
- Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH gắn với quá trình hình thành các trung
tâm kinh tế thương mại, gắn liền với quá trình đô thị hoá. Mặt khác, việc quy hoạch xây
dựng các khu đô thị, trung tâm kinh tế, thương mại có ảnh hưởng trực tiếp trở lại tới quá
trình chuyển dịch CCKT.
- Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động
xã hội. Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình phân công lao động xã
hội, là quá trình chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp
và dịch vụ. Đây là giải pháp vừa cấp bách, vừa triệt để để giải quyết tình trạng thiếu
việc làm ở nông thôn hiện nay, đồng thời là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển dịch
CCKT theo hướng CNH, HĐH.
- Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH,HĐH phải theo định hướng dẫn đến phát triển
bền vững không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà phải vì mục tiêu phát
triển kinh tế mà bao trùm lên cả là vì mục tiêu phát triển bền vững, trong đó có một cấu
thành bộ phận rất quan trọng và không thể thiếu là bảo vệ môi trường. Từ đó cho thấy,
các nhà lãnh đạo, nhà quản lý cho đến các doanh nghiệp, các địa phương, cơ sở… cần
phải hết sức chú ý thực hiện tốt vấn đề này, tránh tình trạng vì lợi nhuận kinh tế trước
mắt dẫn đến phá huỷ nghiêm trọng môi trường sinh thái tự nhiên như vừa qua và hiện
nay công luận vẫn đang tiếp tục lên án về không ít các trường hợp doanh nghiệp đã vi
phạm nghiêm trọng pháp luật bảo vệ môi trường./.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 45

PHƯƠNG PHÁP NHẬN BIẾT VÀ VẼ BIỂU ĐỒ MÔN ĐỊA LÝ

1. Biêu đồ hinh côt ̉ ̀ ̣
*Dang nay sử dung để chỉ sự khac biêt về qui mô khôi lượng cua 1 hay 1 số đôi
̣ ̀ ̣ ́ ̣ ́ ̉ ́
tượng đia lí hoăc sử dung để thực hiên tương quan về độ lớn giữa cac đai lượng.
̣ ̣ ̣ ̣ ́ ̣
Ví dụ : Vẽ biêu đồ so sanh dân số , diên tich ...cua 1 số tinh (vung , nước )hoăc vẽ
̉ ́ ̣ ́ ̉ ̉ ̀ ̣
biêu đồ so sanh san lượng (lua , ngô , điên , than...)cua 1 số đia phương qua 1 số năm.
̉ ́ ̉ ́ ̣ ̉ ̣
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ hinh côt
́ ́ ̀ ̉ ̀ ̣
-Bước 1 : Chon tỉ lệ thich hợp ̣ ́
-Bước 2: Kẻ hệ truc vuông goc (truc đứng thể hiên đơn vị cua cac đai lượng , truc
̣ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ̣ ̣
ngang thể hiên cac năm hoăc cac đôi tượng khac nhau )
̣ ́ ̣ ́ ́ ́
-Bước 3: Tinh độ cao cua từng côt cho đung tỉ lệ rôi thể hiên trên giây
́ ̉ ̣ ́ ̀ ̣ ́
-Bước 4: Hoan thiên ban đồ ( ghi cac số liêu tương ứng vao cac côt tiêp theo vẽ kí
̀ ̣ ̉ ́ ̣ ̀ ́ ̣ ́
hiêu vao côt và lâp ban chú giai cuôi cung ta ghi tên biêu đồ )
̣ ̀ ̣ ̣ ̉ ̉ ́ ̀ ̉
*Môt số dang biêu đồ hinh côt thường găp
̣ ̣ ̉ ̀ ̣ ̣
+Biêu đồ côt đơn
̉ ̣
+Biêu đồ côt chông
̉ ̣ ̀
+Biêu đồ côt đơn gôp nhom (loai nay gôm 2 loai côt ghep cung đai lượng và côt ghep
̉ ̣ ̣ ́ ̣ ̀ ̀ ̣ ̣ ́ ̀ ̣ ̣ ́
khac đai lượng )
́ ̣
+Biêu đồ thanh ngang
̉
Lưu ý :
Các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang của các cột phải bằng nhau .Tùy theo yêu cầu
cụ thể mà vẽ khoảng cách các cột bằng nhau hoặc cách nhau theo đúng tie lệ thời gian . Cần lưu ý là ở
biểu đồ hình cột thì việc thể hiện độ cao của các cột là điều quan trọng hơn cả bởi vì nó cho thấy rõ sự
khác biệt vì qui mô số lượng giữa các năm hoặc các đối tượng cần thể hiện . Còn về khoảng cách các
năm, nhìn chung cần theo đúng tỉ lệ . Tuy nhiên , trong 1 số trường hợp có thể vẽ khoảng cách các cột
bằng nhau để đảm bảo tính trực quan và tính thẩm mĩ của biểu đồ.
2. Biêu đồ đường _đồ thị
̉
* Đồ thị hay con goi là đường biêu diên hoăc biêu đồ dang đường , là dang biêu đồ
̀ ̣ ̉ ̃ ̣ ̉ ̣ ̣ ̉
dung để thể hiên tiên trinh phat triên , sự biên thiên cua cac đôi tượng qua thời gian.
̀ ̣ ́ ̀ ́ ̉ ́ ̉ ́ ́
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ đường _đồ thị
́ ́ ̀ ̉
Bước 1 : Kẻ hệ truc toa độ vuông goc (truc đứng thể hiên độ lớn cua cac đôi tượng
̣ ̣ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ́
như số người , san lượng , tỉ lệ %.. con truc năm ngang thể hiên thời gian )
̉ ̀ ̣ ̀ ̣
Bước 2 : Xac đinh tỉ lệ thich hợp ở cả 2 truc ( chú ý tương quan giữa độ cao cua truc
́ ̣ ́ ̣ ̉ ̣
đứng và độ dai cua truc năm ngang sao cho biêu đồ đam bao được tinh trực quan và mĩ
̀ ̉ ̣ ̀ ̉ ̉ ̉ ́
thuât ) ̣
Bước 3: Căn cứ vao cac số liêu cua đề bai và tỉ lệ đã xac đinh đẻ tinh toan và đanh giá
̀ ́ ̣ ̉ ̀ ́ ̣ ́ ́ ́
dâu toa độ cua cac điêm môc trên 2 truc . Khi đanh dâu cac năm trên truc ngang cân chú ý
́ ̣ ̉ ́ ̉ ́ ̣ ́ ́ ́ ̣ ̀
đên tỉ lệ (cân đung tỉ lệ cho trước) . Thời điêm năm đâu tiên năm trên truc đứng
́ ̀ ́ ̉ ̀ ̀ ̣
Bước 4: Hoan thiên ban đồ ( ghi số liêu vao ban đồ , nêu sử dung kí hiêu thì cân có
̀ ̣ ̉ ̣ ̀ ̉ ́ ̣ ̣ ̀
ban chú giai cuôi cung ta ghi tên biêu dồ )
̉ ̉ ́ ̀ ̉
Lưu ý :
+ Nêu vẽ 2 hoăc nhiêu đường biêu diên có chung 1 đơn vị thì môi đường cân dung 1 kí hiêu riêng
́ ̣ ̀ ̉ ̃ ̃ ̀ ̀ ̣
biêt và có chú giai kem theo
̣ ̉ ̀
+ Nêu vẽ 2 đường biêu diên có đơn vị khac nhau thì vẽ 2 truc đưng ơ 2 bên biêu đồ , môi truc thể
́ ̉ ̃ ́ ̣ ̉ ̃ ̣
hiên 1 đơn vị
̣
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 46

+Nêu phai vẽ nhiêu đường biêu diên mà số liêu đã cho lai thuôc nhiêu đơn vị khac nhau thì phai
́ ̉ ̀ ̉ ̃ ̣ ̣ ̣ ̀ ́ ̉
tinh toan để chuyên số liêu thô (số liêu tuyêt đôi với cac đơn vị khac nhau ) sang số liêu tinh (số liêu tương
́ ́ ̉ ̣ ̣ ̣ ́ ́ ́ ̣ ̣
dôi , với cung đơn vị thông nhât là đơn vị % ). Ta thường lây số liêu năm đâu tiên là ưng với 100% , số
́ ̀ ́ ́ ̣ ̀
liêu cua cac năm tiêp theo là tỉ lệ % so với năm đâu tiên . Sau đó ta sẽ vẽ đường biêu diên
̣ ̉ ́ ́ ̀ ̉ ̃
3. Biêu đồ hinh tron
̉ ̀ ̀
*Thường dung để biêu diên cơ cấu thanh phân cua 1 tông thể và qui mô cua đôi
̀ ̉ ̃ ̀ ̀ ̉ ̉ ̉ ́
tượng cân trinh bay .Chỉ được thực hiên khi đanh giá trị tinh cua cac đai lượng được tinh
̀ ̀ ̀ ̣ ́ ́ ̉ ́ ̣ ́
băng % và cac giá trị thanh phân công lai băng 100%
̀ ́ ̀ ̀ ̣ ̣ ̀
Ví dụ : Biêu đồ cơ câu tông san phâm trong nước cua nên kinh tế Viêt Nam ..
̉ ́ ̉ ̉ ̉ ̉ ̀ ̣
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ hinh tron
́ ́ ̀ ̉ ̀ ̀
Bước 1 : Xử lí số liêu ( Nêu số liêu cua đề bai cho là số liêu thô ví dụ như tỉ đông ,
̣ ́ ̣ ̉ ̀ ̣ ̀
triêu người thì ta phai đôi sang số liêu tinh qui về dang %
̣ ̉ ̉ ̣
Bước 2 : Xac đinh ban kinh cua hinh tron
́ ̣ ́ ́ ̉ ̀ ̀
Lưu ý : Ban kinh cua hinh tron cân phù hợp với khổ giây để đam bao tinh trực quan và
́ ́ ̉ ̀ ̀ ̀ ́ ̉ ̉ ́
mĩ thuât cho ban đồ .Trong trường hợp phai vẽ biêu đồ băng những hinh tron có ban kinh
̣ ̉ ̉ ̉ ̀ ̀ ̀ ́ ́
khac nhau thì ta phait tinh toan ban kinh cho cac hinh tron
́ ́ ́ ́ ́ ́ ̀ ̀
Bước 3 : Chia hinh tron thanh những nan quat theo đung tỉ lệ và trât tự cua cac thanh
̀ ̀ ̀ ̣ ́ ̣ ̉ ́ ̀
phân có trong đề bai cho
̀ ̀
Lưu y: toan bộ hinh tron là 360 đô, tướng ưng với tỉ lệ 100%. Như vây, tỉ lệ 1% ưng với 3,6 độ
́ ̀ ̀ ̀ ̣ ̣
̀ ̀
trên hinh tron
+ Khi vẽ cac nan quat nên băt đâu từ tia 12 giờ và lân lượt vẽ theo chiêu thuân với
́ ̣ ́ ̀ ̀ ̀ ̣
chiêu quay cua kim đông hồ .Thứ tự cac thanh phân cua cac biêu đồ phai giông nhau để tiên
̀ ̉ ̀ ́ ̀ ̀ ̉ ́ ̉ ̉ ́ ̣
̣
cho viêc so sanh ́
Bước 4 : Hoan thiên ban đồ (ghi tỉ lệ cua cac thanh phân lên biêu đồ ,tiêp ta sẽ chon kí
̀ ̣ ̉ ̉ ́ ̀ ̀ ̉ ́ ̣
hiêu thể hiên trên biêu đồ và lâp bant chú giai cuôi cung ta ghi tên biêu đồ )
̣ ̣ ̉ ̣ ̉ ́ ̀ ̉
* Môt số dang biêu đồ hinh tron
̣ ̣ ̉ ̀ ̀
+ Biêu đồ hinh tron (như đã giới thiêu ở trên )
̉ ̀ ̀ ̣
+ Biêu đồ từng nửa hinh tron ( thể hiên trên nửa hinh tron nên tỉ lệ 100% ứng với
̉ ̀ ̀ ̣ ̀ ̀
180độ và 1% ứng với 1,8 độ . Cac nan quat sẽ được săp xêp trong 1 nửa hinh tron ) ́ ̣ ́ ́ ̀ ̀
+ Biêu đồ hinh vanh khăn
̉ ̀ ̀
4. Biêu đồ miên ̉ ̀
*Biêu đồ miên con được goi là biêu đồ diên. Loai biêu đồ nay thể hiên được cả cơ
̉ ̀ ̀ ̣ ̉ ̣ ̣ ̉ ̀ ̣
câu và đông thai phat triên cua cac đôi tượng. Toan bộ biêu đồ là 1 hinh chữ nhât (hoăc hinh
́ ̣ ́ ́ ̉ ̉ ́ ́ ̀ ̉ ̀ ̣ ̣ ̀
vuông), trong đó được chia thanh cac miên khac nhau ̀ ́ ̀ ́
Ví dụ : Biêu đồ về sự thay đôi cơ câu giá trị san lượng cua cac nganh nông nghiêp
̉ ̉ ́ ̉ ̉ ́ ̀ ̣
nhom A và nhom B (thời kì 1998 - 2007)
́ ́
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ miên
́ ́ ̀ ̉ ̀
Bước 1 : Vẽ khung biêu đồ ̉
Bước 2: Vẽ ranh giới cua miên ̉ ̀
Bước 3 : Hoan thiên biêu đồ (tương tự như cac cach vẽ trên)
̀ ̣ ̉ ́ ́
*Môt số dạng biêu đồ miên thường găp :
̣ ̉ ̀ ̣
+ Biêu đồ miên chông nôi tiêp
̉ ̀ ̀ ́ ́
+ Biêu đồ chông từ gôc toa độ
̉ ̀ ́ ̣
Lưu ý : Trường hợp bản đồ gồm nhiều miền chồng lên nhau , ta vẽ tuần tự từng miền theo thư tự
từ dưới lên trên .Việc sắp xếp thư tự của các miền cần lưu ý sao cho có ý nghĩa nhất đồng thời cũng
phải tính đến tính trực quan và tính mĩ thuật của biểu đồ .Khoảng cách cấc năm trên cạnh nằm ngang
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 47

cần đúng tỉ lệ . Thời điểm năm đầu tiên nằm trên cạnh đưng bên trái của biểu đồ . Nếu số liệu của đề
bài cho là số liệu thô (số liệu tuyệt đối ) thì trước khi vẽ cần xử lí thành số liệu tinh (số liệu theo tỉ lệ
%)
Hệ thông biêu đồ gôm 2 nhom lớn :
́ ̉ ̀ ́
1. Cac biêu đồ thể hiên đông thai phat triển cua đôi tượng đia lí
́ ̉ ̣ ̣ ́ ́ ̉ ́ ̣
1.1 Biêu đồ hinh côt ̉ ̀ ̣
*Dang nay sử dung để chỉ sự khac biêt về qui mô khôi lượng cua 1 hay 1 số đôi tượng đia lí hoăc
̣ ̀ ̣ ́ ̣ ́ ̉ ́ ̣ ̣
sử dung để thực hiên tương quan về độ lớn giữa cac đai lượng
̣ ̣ ́ ̣
Ví dụ : Vẽ biêu đồ so sanh dân số , diên tich ...cua 1 số tinh (vung , nước )hoăc vẽ biêu đồ so sanh
̉ ́ ̣ ́ ̉ ̉ ̀ ̣ ̉ ́
san lượng (lua , ngô , điên , than...)cua 1 số đia phương qua 1 số năm
̉ ́ ̣ ̉ ̣
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ hinh côt :
́ ́ ̀ ̉ ̀ ̣
Bước 1 : Chon tỉ lệ thich hợp ̣ ́
Bước 2: Kẻ hệ truc vuông goc (truc đứng thể hiên đơn vị cua cac đai lượng , truc ngang thể hiên
̣ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ̣ ̣ ̣
cac năm hoăc cac đôi tượng khac nhau )
́ ̣ ́ ́ ́
Bước 3: Tinh độ cao cua từng côt cho đung tỉ lệ rôi thể hiên trên giây
́ ̉ ̣ ́ ̀ ̣ ́
Bước 4: Hoan thiên ban đồ ( ghi cac số liêu tương ứng vao cac côt tiêp theo vẽ kí hiêu vao côt và
̀ ̣ ̉ ́ ̣ ̀ ́ ̣ ́ ̣ ̀ ̣
lâp ban chú giai cuôi cung ta ghi tên biêu đồ )
̣ ̉ ̉ ́ ̀ ̉
*Môt số dang biêu đồ hinh côt thường găp
̣ ̣ ̉ ̀ ̣ ̣
+Biêu đồ côt đơn
̉ ̣
+Biêu đồ côt chông
̉ ̣ ̀
+Biêu đồ côt đơn gôp nhom (loai nay gôm 2 loai côt ghep cung đai lượng và côt ghep khac đai
̉ ̣ ̣ ́ ̣ ̀ ̀ ̣ ̣ ́ ̀ ̣ ̣ ́ ́ ̣
lượng )
+Biêu đồ thanh ngang.
̉

Hình minh họa :




Biểu đồ cột kề
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 48




Biểu đồ cột chồng




Biểu đồ cột đơn
Lưu ý : Các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang của các cột phải bằng nhau .Tùy theo
yêu cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách các cột bằng nhau hoặc cách nhau theo đúng tie lệ thời
gian . Cần lưu ý là ở biểu đồ hình cột thì việc thể hiện độ cao của các cột là điều quan trọng
hơn cả bởi vì nó cho thấy rõ sự khác biệt vì qui mô số lượng giữa các năm hoặc các đối tượng
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 49

cần thể hiện . Còn về khoảng cách các năm, nhìn chung cần theo đúng tỉ lệ . Tuy nhiên , trong 1
số trường hợp có thể vẽ khoảng cách các cột bằng nhau để đảm bảo tính trực quan và tính
thẩm mĩ của biểu đồ .
1.2 Biêu đồ kêt hợp (giữa biêu đồ côt và đường biêu diên)
̉ ́ ̉ ̣ ̉ ̃
*Dang nay cac đôi tượng được thể hiên trong biêu đồ kêt hợp thường có quan hệ nhât đinh với
̣ ̀ ́ ́ ̣ ̉ ́ ́ ̣
nhau vì vây khi chon tỉ lệ cho môi đôi tượng cân chú ý lam sao cho biêu đồ cột và đường biêu
̣ ̣ ̃ ́ ̀ ̀ ̉ ̉
diên không tach rời xa nhau thanh 2 khôi riêng biêt
̃ ́ ̀ ́ ̣
Ví dụ : Biêu đồ kêt hợp về diên tich và san lượng lúa cua nước ta năm 2007
̉ ́ ̣ ́ ̉ ̉
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ kêt hợp (giữa biêu đồ côt và đường biêu diên)
́ ́ ̀ ̉ ́ ̉ ̣ ̉ ̃
Bước 1 : Kẻ hệ toa độ vuông goc (Hai truc đứng năm ở hai bên biểu đồ ,xac đinh tỉ lệ thich hợp ̣ ́ ̣ ̀ ́ ̣ ́
trên cac truc ) ́ ̣
Bước 2 : Vẽ biêu đồ hinh côt ̉ ̀ ̣
Bước 3: Vẽ đường biêu diên ̉ ̃
Bước 4 : Hoan thiên ban đồ ( Ghi số liêu , lâp ban chú giai , ghi tên biêu đồ )
̀ ̣ ̉ ̣ ̣ ̉ ̉ ̉
*Môt số dang biêu đồ cua biêu đồ kêt hợp
̣ ̣ ̉ ̉ ̉ ́
+Kêt hợp giữa côt và đường
́ ̣
+Kêt hợp giữa côt chông và đường
́ ̣ ̀
1.3 Biêu đồ đường _đồ thị ̉
* Đồ thị hay con goi là đường biêu diên hoăc biêu đồ dang đường , là dang biêu đồ dung để thể
̀ ̣ ̉ ̃ ̣ ̉ ̣ ̣ ̉ ̀
hiên tiên trinh phat triên , sự biên thiên cua cac đôi tượng qua thời gian
̣ ́ ̀ ́ ̉ ́ ̉ ́ ́
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ đường _đồ thị
́ ́ ̀ ̉
Bước 1 : Kẻ hệ truc toa độ vuông goc (truc đứng thể hiên độ lớn cua cac đôi tượng như số ̣ ̣ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ́
người , san lượng , tỉ lệ %.. con truc năm ngang thể hiên thời gian )
̉ ̀ ̣ ̀ ̣
Bước 2 : Xac đinh tỉ lệ thich hợp ở cả 2 truc ( chú ý tương quan giữa độ cao cua truc đứng và độ
́ ̣ ́ ̣ ̉ ̣
dai cua truc năm ngang sao cho biêu đồ đam bao được tinh trực quan và mĩ thuât )
̀ ̉ ̣ ̀ ̉ ̉ ̉ ́ ̣
Bước 3: Căn cứ vao cac số liêu cua đề bai và tỉ lệ đã xac đinh đẻ tinh toan và đanh giá dâu toa độ ̀ ́ ̣ ̉ ̀ ́ ̣ ́ ́ ́ ́ ̣
cua cac điêm môc trên 2 truc . Khi đanh dâu cac năm trên truc ngang cân chú ý đên tỉ lệ (cân đung
̉ ́ ̉ ́ ̣ ́ ́ ́ ̣ ̀ ́ ̀ ́
tỉ lệ cho trước) . Thời điêm năm đâu tiên năm trên truc đứng ̉ ̀ ̀ ̣
Bước 4: Hoan thiên ban đồ ( ghi số liêu vao ban đồ , nêu sử dung kí hiêu thì cân có ban chú giai
̀ ̣ ̉ ̣ ̀ ̉ ́ ̣ ̣ ̀ ̉ ̉
cuôi cung ta ghi tên biêu dồ )
́ ̀ ̉
Lưu ý : + Nêu vẽ 2 hoăc nhiêu đường biêu diên có chung 1 đơn vị thì môi đường cân dung 1 kí
́ ̣ ̀ ̉ ̃ ̃ ̀ ̀
hiêu riêng biêt và có chú giai kem theo
̣ ̣ ̉ ̀
+Nêu vẽ 2 đường biêu diên có đơn vị khac nhau thì vẽ 2 truc đứng ở 2 bên biêu đồ , môi
́ ̉ ̃ ́ ̣ ̉ ̃
truc thể hiên 1 đơn vị
̣ ̣
+Nêu phai vẽ nhiêu đường biêu diên mà số liêu đã cho lai thuôc nhiêu đơn vị khac nhau
́ ̉ ̀ ̉ ̃ ̣ ̣ ̣ ̀ ́
thì phai tinh toan để chuyên số liêu thô (số liêu tuyêt đôi với cac đơn vị khac nhau ) sang số liêu
̉ ́ ́ ̉ ̣ ̣ ̣ ́ ́ ́ ̣
tinh (số liêu tương dôi , với cung đơn vị thông nhât là đơn vị % ). Ta thường lây số liêu năm đâu
̣ ́ ̀ ́ ́ ̣ ̀
tiên là ứng với 100% , số liêu cua cac năm tiêp theo là tỉ lệ % so với năm đâu tiên . Sau đó ta sẽ vẽ ̣ ̉ ́ ́ ̀
đường biêu diên ̉ ̃
Hình minh họa
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 50




Biểu đồ đường
1.4 Đường chỉ số phat triên ́ ̉
Dang nay em đang ngâm cứu chưa biêt nhiêu đên mong pac nao biêt thì post lên cho moi người
̣ ̀ ́ ̀ ́ ́ ̀ ́ ̣
̀
cung tham khao ̉
2. Các loai biêu đồ thể hiên cơ câu đối tượng đia lí
̣ ̉ ̣ ́ ̣
2.1 Biêu đồ hinh tron
̉ ̀ ̀
*Thường dung để biêu diên cơ cấu thanh phân cua 1 tông thể và qui mô cua đôi tượng cân
̀ ̉ ̃ ̀ ̀ ̉ ̉ ̉ ́ ̀
trinh bay .Chỉ được thực hiên khi đanh giá trị tinh cua cac đai lượng được tinh băng % và cac giá
̀ ̀ ̣ ́ ́ ̉ ́ ̣ ́ ̀ ́
trị thanh phân công lai băng 100%
̀ ̀ ̣ ̣ ̀
Ví dụ : Biêu đồ cơ câu tông san phâm trong nước cua nên kinh tế Viêt Nam ..
̉ ́ ̉ ̉ ̉ ̉ ̀ ̣
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ hinh tron
́ ́ ̀ ̉ ̀ ̀
Bước 1 : Xử lí số liêu ( Nêu số liêu cua đề bai cho là số liêu thô ví dụ như tỉ đông , triêu người
̣ ́ ̣ ̉ ̀ ̣ ̀ ̣
thì ta phai đôi sang số liêu tinh qui về dang %
̉ ̉ ̣
Bước 2 : Xac đinh ban kinh cua hinh tron
́ ̣ ́ ́ ̉ ̀ ̀
Lưu ý : Ban kinh cua hinh tron cân phù hợp với khổ giây để đam bao tinh trực quan và mĩ thuât
́ ́ ̉ ̀ ̀ ̀ ́ ̉ ̉ ́ ̣
cho ban đồ .Trong trường hợp phai vẽ biêu đồ băng những hinh tron có ban kinh khac nhau thì ta
̉ ̉ ̉ ̀ ̀ ̀ ́ ́ ́
́
phait tinh toan ban kinh cho cac hinh tron ́ ́ ́ ́ ̀ ̀
Bước 3 : Chia hinh tron thanh những nan quat theo đung tỉ lệ và trât tự cua cac thanh phân có
̀ ̀ ̀ ̣ ́ ̣ ̉ ́ ̀ ̀
trong đề bai cho ̀
Lưu ý : toan bộ hinh tron là 360 độ , tướng ứng với tỉ lệ 100% . Như vây , tỉ lệ 1% ứng với 3,6
̀ ̀ ̀ ̣
độ trên hinh tron ̀ ̀
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 51

+Khi vẽ cac nan quat nên băt đâu từ tia 12 giờ và lân lượt vẽ theo chiêu thuân với chiêu
́ ̣ ́ ̀ ̀ ̀ ̣ ̀
quay cua kim đông hồ .Thứ tự cac thanh phân cua cac biêu đồ phai giông nhau để tiên cho viêc so
̉ ̀ ́ ̀ ̀ ̉ ́ ̉ ̉ ́ ̣ ̣
́
sanh
Bước 4 : Hoan thiên ban đồ (ghi tỉ lệ cua cac thanh phân lên biêu đồ ,tiêp ta sẽ chon kí hiêu thể
̀ ̣ ̉ ̉ ́ ̀ ̀ ̉ ́ ̣ ̣
hiên trên biêu đồ và lâp bant chú giai cuôi cung ta ghi tên biêu đồ )
̣ ̉ ̣ ̉ ́ ̀ ̉
* Môt số dang biêu đồ hinh tron
̣ ̣ ̉ ̀ ̀
+Biêu đồ hinh tron (như đã giới thiêu ở trên )
̉ ̀ ̀ ̣
+Biêu đồ từng nửa hinh tron ( thể hiên trên nửa hinh tron nên tỉ lệ 100% ứng với 180độ và 1%
̉ ̀ ̀ ̣ ̀ ̀
ứng với 1,8 độ . Cac nan quat sẽ được săp xêp trong 1 nửa hinh tron )
́ ̣ ́ ́ ̀ ̀
+Biêu đồ hinh vanh khăn
̉ ̀ ̀
Hình minh họa :




2.2 Biêu đồ miên
̉ ̀
*Biêu đồ miên con được goi là biêu đồ diên .Loai biêu đồ nay thể hiên được cả cơ câu và đông
̉ ̀ ̀ ̣ ̉ ̣ ̣ ̉ ̀ ̣ ́ ̣
thai phat triên cua cac đôi tượng .Toan bộ biêu đồ là 1 hinh chữ nhât (hoăc hinh vuông ), trong đó
́ ́ ̉ ̉ ́ ́ ̀ ̉ ̀ ̣ ̣ ̀
được chia thanh cac miên khac nhau
̀ ́ ̀ ́
Ví dụ : Biêu đồ về sự thay đôi cơ câu giá trị san lượng cua cac nganh nông nghiêp nhom A và
̉ ̉ ́ ̉ ̉ ́ ̀ ̣ ́
nhom B (thời kì 1998 _2007)
́
*Cac bước tiên hanh khi vẽ biêu đồ miên
́ ́ ̀ ̉ ̀
Bước 1 : Vẽ khung biêu đồ ̉
Bước 2: Vẽ ranh giới cua miên ̉ ̀
Bước 3 : Hoan thiên biêu đồ (tương tự như cac cach vẽ trên ^^)
̀ ̣ ̉ ́ ́
*Môt số dạng biêu đồ miên thường găp :
̣ ̉ ̀ ̣
+ Biêu đồ miên chông nôi tiêp
̉ ̀ ̀ ́ ́
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 52

+Biêu đồ chông từ gôc toa độ
̉ ̀ ́ ̣
Hình biểu diễn :




Lưu ý : Trường hợp bản đồ gồm nhiều miền chồng lên nhau, ta vẽ tuần tự từng miền theo thứ
tự từ dưới lên trên .Việc sắp xếp thứ tự của các miền cần lưu ý sao cho có ý nghĩa nhất đồng
thời cũng phải tính đến tính trực quan và tính mĩ thuật của biểu đồ .Khoảng cách cấc năm trên
cạnh nằm ngang cần đúng tỉ lệ . Thời điểm năm đầu tiên nằm trên cạnh đứng bên trái của biểu
đồ . Nếu số liệu của đề bài cho là số liệu thô (số liệu tuyệt đối ) thì trước khi vẽ cần xử lí
thành số liệu tinh (số liệu theo tỉ lệ %)
2.3 Biêu đồ hinh vuông
̉ ̀
* Biêu đồ được thể hiên băng 1 hinh vuông lớn , trong đó được chia thanh 100 hinh vuông nhỏ ,
̉ ̣ ̀ ̀ ̀ ̀
nên tỉ lệ 1% ứng với diên tich cua 1 hinh vuông nhỏ .
̣ ́ ̉ ̀
2.4 Biêu đồ côt chông (như đã giới thiệu phần trên ^^)
̉ ̣ ̀
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 53

KỸ NĂNG NHẬN XÉT BIỂU ĐỒ:
CHÌA KHÓA ĐẠT ĐIỂM TỐI ĐA MÔN ĐỊA LÝ

Để có thể đạt điểm cao môn Địa lý, kỹ năng nhận xét biểu đồ là một yếu tố quan
trọng giúp các bạn có một bài thi thành công! Tuy nhiên, mỗi loại đề bài và mỗi loại biểu
đồ lại yêu cầu những phương pháp nhận xét khác nhau, gây lúng túng cho không ít bạn
trong khi làm bài thi. Sau đây là một số kỹ năng để các bạn tham khảo:


DẠNG 1: DẠNG BIỂU ĐỒ CỘT
Trường hợp cột đơn (chỉ có một yếu tố)
* Bước 1: Xem xét năm đầu và năm cuối của bảng số liệu để trả lời câu hỏi tăng
hay giảm? và tăng giảm bao nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay
chia đều được).
* Bước 2: Xem số liệu ở khoảng trong để trả lời tiếp là tăng (hay giảm) liên tục
hay không liên tục? (lưu ý những năm nào không liên tục).
* Bước 3: Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào nhanh, giai đoạn nào chậm. Nếu
không liên tục: thì năm nào không còn liên tục.
* Kết luận và giải thích qua về xu hướng của đối tượng.
Ví dụ:
Vẽ biểu đồ và nhận xét tình hình dân số ở nước ta theo bảng sau và nhận xét
(Đơn vị: triệu người)
Nhận xét:
- Từ năm 1921 đến năm 2002: dân số nước ta tăng liên tục và tăng từ 15,6 lên 80
triệu người (tăng 64,4 triệu người; hay tăng gấp hơn 5 lần).
- Từ năm 1921 đến năm 1960: dân số nước ta tăng chậm, gấp 2 lần trong 39 năm
(hay tăng 14,6 triệu người trong 39 năm, bình quân mỗi năm tăng 0,37 triệu người).
- Từ năm 1960 đến năm 1990: dân số nước ta tăng nhanh hơn, gấp 2,2 lần chỉ trong
30 năm (hay tăng 36 triệu người trong 30 năm, bình quân mỗi năm tăng 1,2 triệu người).
- Năm 1990 đến năm 2002: dân số nước ta có xu hướng tăng chậm lại, tăng 13,8
triệu người trong 12 năm, bình quân mỗi năm tăng 1,2 triệu người.
- Dân số nước ta tăng nhanh qua các năm, đặc biệt vào những năm 60 và 70, đây là
thời kì bùng nổ dân số ở nước ta. Xu hướng tăng chậm lại vào đầu thế kỉ 21.Tuy tỉ lệ
tăng dân số hàng năm có giảm nhưng dân số vẫn tăng nhanh bởi vì dân số nước ta đông.
Trường hợp cột đôi, ba (ghép nhóm) … (có từ hai yếu tố trở lên)
* Nhận xét xu hướng chung.
* Nhận xét từng yếu tố một, giống như trường hợp 1 yếu tố (cột đơn)
* Sau đó kết luận (có thể so sánh, hay tìm yếu tố liên quan giữa hai cột)
* Có một vài giải thích và kết luận.
Ví dụ:
Hãy nêu nhận xét về sản lượng than sạch và phân hóa học ở Việt Nam giai đoạn
1976 – 1997
(Đơn vị: Nghìn tấn)
Nhận xét:
* Giai đoạn 1976 – 1997:
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 54

- Than sạch ở nước ta không liên tục, tăng từ 5.700 lên 10.647 nghìn tấn (tăng 4.947
nghìn tấn).
- Phân hóa học cũng tăng không liên tục, tăng từ 435 lên 994 nghìn tấn (tăng 559
nghìn tấn ).
- Ngành công nghiệp chế biến than sạch luôn có sản lượng cao hơn công nghiệp
chế biến phân hóa học.
* Trong đó:
- Giai đoạn 1976 – 1985: Cả than và phân bón đều tăng, than tăng 100 nghìn tấn,
phân tăng 96 nghìn tấn.
- Giai đoạn 1985 – 1990: cả than và phân bón đều giảm, than giảm 1.173 nghìn tấn,
phân giảm 177 nghìn tấn.
- Giai đoạn 1990 – 1997: cả than và phân bón đều tăng trở lại, than tăng 6.020 nghìn
tấn, phân tăng 650 nghìn tấn.
>>>Tóm lại: Từ năm 1976 – 1997: Cả than và phân bón có thời gian tăng không liên
tục giống nhau, trong đó phân bón tăng nhanh hơn than (phân tăng 2,28 lần, còn than tăng
1,87 lần). Do nhu cầu ngày càng tăng của quá trình phát triển kinh tế đất nước, do vậy
sản lượng của ngành công nghiệp chế biến tăng lên.
* Trường hợp cột là các vùng, các nước…
- Cái đầu tiên đó là nhìn nhận chung nhất về bảng số liệu nói lên điều gì.
- Tiếp theo hãy xếp hạng cho các tiêu chí: Cao nhất, thứ nhì… thấp nhất (cần
chi tiết). Rồi so sánh giữa cái cao nhất và cái thấp nhất, giữa đồng bằng với đồng bằng,
giữa miền núi với miền núi.
- Một vài điều kết luận và giải thích.
Ví dụ:
Công suất của một số nhà máy thủy điện ở nước ta. (Đơn vị: nghìn kw)
Nhận xét:
>> Trong các nhà máy thủy điện nêu trên, ta thấy:
- Nhìn chung hệ thống các nhà máy thủy điện của nước ta có công suất không lớn
(trừ thủy điện Hòa Bình).
- Nhà máy thủy điện Hòa Bình có công suất lớn nhất 1.900.000 kw
- Thứ nhì là Yaly có công suất 700.000 kw
- Thứ ba là Trị An có công suất là 400.000 kw
- Thứ tư là Đa Nhim 160.000 kw
- Thứ năm là Thác Mơ 150.000 kw
- Cuối cùng (hay ghi thấp nhất) là Thác Bà 110.000 kw
- Nhà máy thủy điện Hòa Bình cao hơn Thác Bà đến 17,3 lần.
>>> Các nhà máy thủy điện của nước ta đã và đang đáp ứng một phần lớn nhu cầu
về tiêu thụ năng lượng cho quốc gia. Trong tương lai nhu cầu điện năng tăng cao vì thế
vai trò của năng lượng nói chung, thủy điện nói riêng càng có vai trò to lớn. Để ngày càng
đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó, hiện nay Chính phủ đang cho xây dựng thêm các nhà máy
thủy điện có công suất lớn hơn nữa (như thủy điện Sơn La công suất 2,4 triệu kw…)
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 55

DẠNG 2: BIỂU ĐỒ TRÒN
* Khi chỉ có một vòng tròn: ta nhận định cơ cấu tổng quát lớn nhất là cái nào, nhì là,
ba là… Và cho biết tương quan giữa các yếu tố (gấp mấy lần hoặc kém nhau bao nhiêu
%). Đặc biệt là yếu tố lớn nhất so với tổng thể có vượt xa không?
Lưu ý : Tỷ trọng có thể giảm nhưng số thực nó lại tăng, vì thế cần ghi rõ. Ví dụ:
xét về tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm… không ghi trống kiểu ngành nông nghiệp giảm
… vì như thế là chưa chính xác, có thể bị trừ hay không được cho điểm.
* Khi có từ hai vòng tròn trở lên (giới hạn tối đa là ba hình tròn cho một bài)
- Nhận xét cái chung nhất (nhìn tổng thế): tăng/ giảm như thế nào?
- Ta nhận xét tăng hay giảm trước, nếu có ba vòng trở lên thì thêm liên tục hay
không liên tục, tăng (giảm) bao nhiêu?
- Sau đó mới nhận xét về nhất, nhì, ba … của các yếu tố trong từng năm, nếu giống
nhau thì ta gom chung lại cho các năm một lần thôi (không nhắc lại 2, 3 lần)
* Cuối cùng, cho kết luận về mối tương quan giữa các yếu tố.
* Có thêm giải thích chút về vấn đề.
* Trường hợp cho bảng số liệu mang giá trị tuyệt đối (tỉ đồng, nghìn tấn, nghìn
ha…) thì cần phải xử lý ra số liệu tương đối (%). Và cần lưu ý nếu có từ 2 hình tròn trở
lên chúng ta cần tính bán kính của hình tròn.
Ví dụ 1: Vẽ biểu đồ cơ cấu lao động phân theo các ngành kinh tế ở nước ta năm
1999 (Đơn vị: %)
=>> Ta nhận xét như sau:
Năm 1999, ở nước ta:
- Lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm nhiều nhất: 63,5%.
- Dịch vụ đứng thứ hai với 25%.
- Công nghiệp thấp nhất chỉ còn 11,5% lao động.
- Lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp nhiều gấp 5,5 lần lao động trong
công nghiệp và gấp 2,5 lần dịch vụ.
- Tóm lại: Nền kinh tế ở nước ta chủ yếu vẫn là nông, lâm, ngư nghiệp. Công
nghiệp, dịch vụ vẫn còn chiếm tỉ trọng thấp. Do điểm xuất phát kinh tế thấp, hơn nữa
lại phải trải qua chiến tranh kéo dài.
Ví dụ 2:
Cho bảng số liệu sau: (Đơn vị: %)
a)Vẽ biểu đồ cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) phân theo khu vực kinh tế ở
nước ta.
b) Nhận xét
=>> Vẽ 2 biểu đồ tròn
Nhận xét:
Từ năm 2000 đến năm 2002 tổng sản phẩm phân theo khu vực kinh tế ở nước ta có
sự chuyển dịch:
+ Nông lâm ngư nghiệp giảm, giảm từ 24,6 % xuống còn 23% (giảm 1,5%).
+ Công nghiệp và xây dựng tăng, tăng từ 36,7% lên tới 38,4% (tăng 1,7%).
+ Dịch vụ không tăng, có giảm nhưng không đáng kể (0,01%).
- Trong cả 2 thời điểm thì dịch vụ luôn đứng đầu, kế đến là công nghiệp và thấp
nhất là nông lâm ngư nghiệp.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 56

- Năm 2002 sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng đồng đều và gần tương đương
nhau.
- Tóm lại: nền kinh tế nước ta có xu hướng đi lên theo hướng công nghiệp hóa.
Anh sẽ tiếp tục post tiếp các dạng biểu đồ khác sau khi anh chỉnh sửa và bổ sung.

DẠNG 3: BIỂU ĐỒ MIỀN
* Đây là dạng biểu đồ có yêu cầu của đề bài giống với dạng biểu đồ hình tròn
(biểu đồ cơ cấu). Nên rất dễ nhầm lẫn với xây dựng biểu đồ tròn.
* Để xác định vẽ biểu đồ miền, với số liệu được thể hiện trên 3 năm (nghĩa là việc
vẽ tới 4 hình tròn như thông thường thì ta lại chuyển sang biểu đồ miền). Vậy số liệu đã
cho cứ trên 3 năm mà thể hiện về cơ cấu thì vẽ biểu đồ miền.
Cách nhận xét:
- Nhận xét chung toàn bộ bảng số liệu: nhìn nhận, đánh giá xu hướng chung của số
liệu.
- Ta nhận xét hàng ngang trước: theo thời gian yếu tố A tăng hay giảm, tăng giảm
như thế nào, tăng giảm bao nhiêu? Sau đó đến yếu tố B tăng hay giảm … yếu tố C (mức
chênh lệch)
- Nhận xét hàng dọc: yếu tố nào xếp hạng nhất, nhì, ba và có thay đổi thứ hạng hay
không?
- Tổng kết và giải thích.
Ví dụ:
Vẽ biểu đồ và nhận xét chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng Sông
Hồng
(Đơn vị: %)
Nhận xét:
- Nhìn chung ở Đồng bằng sông Hồng tỉ trọng ngành dịch vụ tăng nhanh và dần
chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của vùng. Công nghiệp có tăng nhưng chậm, nông
nghiệp giảm nhanh.
Hàng ngang: Từ năm 1986 đến năm 2000: ở Đồng bằng sông Hồng, cơ cấu kinh tế
có sự chuyển dịch:
- Nông nghiệp giảm liên tục và giảm nhanh từ 49,5% xuống 29,1%, giảm 20,4%.
- Công nghiệp tăng liên tục, tăng nhẹ từ 21,5% lên 27,5% tăng 6%.
- Dịch vụ tăng liên tục, tăng khá nhanh từ 29% lên 43,4% tăng 4%.
Hàng dọc: Từ năm 1980 đến năm 1990, nông nghiệp đứng đầu, dịch vụ đứng thứ
hai, công nghiệp đứng thứ 3.
Từ năm 1995 -2000, dịch vụ vươn lên đứng thứ nhất, nông nghiệp đứng thứ hai và
công nghiệp đứng thứ 3.
Kết luận: Đồng bằng sông Hồng có sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, đi từ nông
nghiệp qua dịch vụ, qua công nghiệp. Điều này phù hợp với xu thế chung của thế giới và
cũng cho thấy con đường đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta nói chung và
của đồng bằng sông Hồng nói riêng.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 57

DẠNG 4: DẠNG BIỂU ĐỒ ĐỒ THỊ
Trường hợp thể hiện một đối tượng:
Bước 1: So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu
hỏi: Đối tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm? Nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao
nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay chia gấp bao nhiêu lần cũng
được)
Bước 2: Xem đường biểu diễn đi lên (tăng) có liên tục hay không? (lưu ý năm nào
không liên tục)
Bước 3:
+ Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào tăng nhanh, giai đoạn nào tăng chậm
+ Nếu không liên tục: Thì năm nào không còn liên tục
Bước 4: Một vài giải thích cho đối tượng, giải thích những năm không liên tục.
Trường hợp cột có hai đường trở lên:
- Ta nhận xét từng đường một giống như trên theo đúng trình tự bảng số liệu cho:
Đường a trước, rồi đến đường B, rồi đến c,d
- Sau đó, chúng ta tiến hành so sánh, tìm mỗi liên hệ giữa các đường biểu diễn.
- Kết luận và giải thích.
Ví dụ: Cho bảng số liệu sau
DÂN SỐ VÀ SẢN LƯỢNG LƯƠNG THỰC Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1980 –
2005
1. Trên cùng một hệ tọa độ vẽ đường biểu diễn dân số và đường biểu diễn sản
lượng lương thực qua các năm.
2. Nhận xét về diễn biến dân số và sản lượng lương thực của nước ta giai đoạn
1980 – 2005.
Trả lời:
1. Vẽ biểu đồ
- Biểu đồ 2 đường biểu diễn
- Có chú giải và tên biểu đồ.
2. Nhận xét
- Dân số và sản lượng lương thực của nước ta đều tăng, nhưng tốc độ tăng không
đều:
+ Dân số tăng 1,55 lần.
+ Sản lượng lương thực tăng 2,75 lần. Do sản lượng có tốc độ tăng nhanh hơn dân
số, nên bình quân lương thực theo đầu người ở nước ta tăng khá nhanh (năm 1980 là 268
kg/người, năm 2005 là 476,5 kg/người).
- Tuy nhiên, tốc độ tăng sản lượng lương thực còn chậm vì để tăng 1% dân số
thì phải tăng 4% sản lượng lương thực. Do đó để đảm bảo an ninh lương
thực một mặt phải đẩy mạnh phát triển sản xuất lương thực mặt khác phải
hạ thấp tỉ lệ tăng dân số.

DẠNG 5: BIỂU ĐỒ KẾT HỢP
Các bước nhận xét của dạng này thì giống như biểu đồ đồ thị
Ví dụ: Cho bảng số liệu sau:
DÂN SỐ VÀ TỈ SUÂT GIA TĂNG DÂN SỐ TỰ NHIÊN Ở NƯỚC TA GIAI
ĐOẠN 1960 – 2006
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 58

1. Vẽ biểu đồ kết hợp thể hiện qui mô dân số và tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên ở
nước ta, giai đoạn 1960 – 2006.
2. Nêu nhận xét.
3. Giải thích vì sao hiện nay qui mô dân số nước ta vẫn tăng mặc dù tỉ lệ tăng dân
số đã giảm nhanh.
Hướng dẫn trả lời:
1. Vẽ biểu đồ:
- Biểu đồ kết hợp đường (tỉ suất gia tăng tự nhiên) và cột (dân số).
- Có chú giải, chú ý khoảng cách năm.
- Tên biểu đồ.
2. Nhận xét
- Dân số nước ta liên tục tăng qua các năm (dẫn chứng).
- Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm (dẫn chứng). Đây là kết quả của
việc triển khai cuộc vận động dân số, kế hoạch hóa gia đình.
3. Giải thích
- Do qui mô dân số hiện nay lơn hơn trước đây nhiều, vì vậy tuy tỉ lệ gia tăng dân
số giảm nhanh, nhưng tổng dân số vẫn tăng nhanh.
- Do hậu quả của vấn đề tăng nhanh dân số trước đây nên số phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ ở nước ta hiện nay chiếm tỉ lệ khá đông.
Tài liệu ôn thi tại chức môn Địa lý Trang 59

CÁC BƯỚC VẼ LƯỢC ĐỒ VIỆT NAM

Bước 1: Vẽ khung ô vuông.
Vẽ khung ô vuông gồm 32 ô, đánh số thứ tự theo trật tự: theo hàng từ trái qua
phải (từ A đến E), theo hàng dọc từ trên xuống dưới (từ 1 đến 8). Để vẽ nhanh có thể
dùng thước dẹt 30 cm để vẽ, các cạnh của mỗi ô vuông bằng chiều ngang của thước (3,4
cm).
Bước 2: Xác định các điểm khống chế và các đường khống chế. Nối lại thành
khung khống chế hình dáng lãnh thổ Việt Nam (phần đất liền).
Bước 3: Vẽ từng đường biên giới (vẽ nét đứt - - -), vẽ đường bờ biển (dùng màu
xanh nước biển để vẽ).
Bước 4: Dùng các kí hiệu tượng trưng đảo san hô để vẽ các quần đảo Hoàng Sa (ô
E4) và Trường Sa (ô E8).
Bước 5: Vẽ các sông chính. (Các dòng sông và bờ biển tô màu xanh nước biển).
Điền tên các dòng sông, thành phố, thị xã lên lược đồ
Bước 1: Quy ước cách viết địa danh.
+ Tên nước: chữ in đứng.
+ Tên thành phố, quần đảo: viết in hoa chữ cái đầu, viết song song với cạnh
ngang của khung lược đồ. Tên sông viết dọc theo dòng sông.
Bước 2: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam xác định vị trí các thành phố, thị xã. Xác định
vị trí các thành phố ven biển: Hải Phòng: gần 210B, Thanh Hoá: 19045`B, Vinh: 18045`B,
Đà Nẵng: 160B, Thành phố Hồ Chí Minh l0049`b...
Xác định vị trí các thành phố trong đất liền:
+ Kon Tum, Plâycu, Buôn Ma Thuộc đều nằm trên kinh tuyến l08ođ.
+ Lào Cai, Sơn La nằm trên kinh tuyến l040đ.
+ Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lai Châu đều nằm trên vĩ tuyến 220B.
+ Đà Lạt nằm trên vĩ tuyến 120B.
Bước 3: Điền tên các thành phố, thị xã vào lược đồ.
>>>LƯU Ý: Trong kỳ thi tuyển sinh đại học-cao đẳng, thí sinh sẽ không được mang theo Atlat
Địa lý, đồng thời cũng không được dùng bút màu để vẽ vào bài thi. Vì vậy, muốn vẽ được lược
đồ Việt Nam đảm bảo độ chính xác tương đối về hình dạng, thể hiện được các hệ thống sông
chính, các điểm dân cư, khu vực hành chính cơ bản, các bạn phải vẽ đi vẽ lại nhiều lần. Với
yêu cầu điền nội dung địa lý phù hợp trên lược đồ, phải tùy theo nội dung mà lựa chọn phương
pháp thể hiện tương ưng, đảm bảo độ chính xác tương đối theo không gian phân bố các hiện
tượng địa lý.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản