Phân tích bài thơ "Thuật hoài" - Phạm Ngũ Lão

Chia sẻ: heavenmaster2013

1.Văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XIV phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: Dân tộc ta dành được quyền độc lập tự chủ vào cuối thế kỷ X

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Phân tích bài thơ "Thuật hoài" - Phạm Ngũ Lão

Phân tích bài thơ "Thuật
hoài" - Phạm Ngũ Lão
1.Văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ X đến thế kỷ XIV phát triển trong
hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: Dân tộc ta dành được quyền độc lập tự chủ
vào cuối thế kỷ X, lập nhiều kỳ tích trong các cuộc kháng chiến chống
xâm lược (chống quân Tống thế kỷ XI, chống quân Nguyên – Mông thế
kỷ XIII). Sau những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là công cuộc xây
dựng đất nước trong hoà bình. Chế độ phong kiến Việt Nam đang ở
thời kỳ phát triển. Những người cầm bút là vua quan, tăng lữ và nhà
Nho. Sáng tác của họ ít nhiều đều chịu ảnh hưởng tư tưởng của Nho,
Phật, Đạo giáo và đều in dấu ấn tâm lý của tầng lớp trên nhưng nói
chung vẫn tiếp thu được truyền thống tinh thần của dân tộc, gắn bó với
đất nước, vẫn thể hiện tâm hồn, khí phách cao đẹp Việt Nam.


2. Ra đời ở thời Trần và Hồ, văn học Việt Nam phản ánh rõ nét “hào khí
Đông A”.Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão là một bài thơ như
thế. Phạm Ngũ Lão (1252 - 1320) – người làng Phù Ủng, huyện Đường
Hào, tỉnh Hưng Yên, là con rể của Trần Hưng Đạo, được giữ đội quân
hữu vệ. Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên –
Mông, từng được gọi là người văn võ toàn tài. Dựa vào văn bản thơ, có
thể nhận ra bài thơ được Phạm Ngũ Lão sáng tác trong không khí quyết
chiến, quyết thắng của đời Trần khi giặc Nguyên – Mông xâm lược.


Thuật hoài


Phiên âm:


Hoành sóc giang san kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
Nan nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.


Dịch nghĩa:


Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,
Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu.
Thân nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh,
Thì luống thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu.


Dịch thơ:
Bản dịch 1:


Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
Bùi Văn Nguyên dịch


Bản dịch 2:


Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân hùng khí át sao Ngưu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
Trần Trọng Kimdịch


3. Nổi lên trong bài thơ là chân dung con người Việt Nam thế kỷ XIII. Đó
vừa là con người vũ trụ, con người cộng đồng vừa là con người hữu
tâm. Nói cách khác Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão là bài thơ tiêu biểu
thể hiện rõ nét quan niệm về con người trong văn học Phương Đông.
Và có lẽ bài thơ hấp dẫn chúng ta là ở chỗ đó.
4. Thuật hoài là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, chia thành hai phần khá rõ:
ở hai câu đầu là hình tượng con người và hình tượng quân đội thời
Trần, hai câu sau là “nỗi lòng” của tác gia.


5. Mở đầu bài thơ là hình ảnh tráng lệ với âm hưởng hào hùng, sảng
khoái:


Hoàng sóc giang san kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu


Hai câu thơ có hai hình ảnh: hình ảnh tráng sĩ (con người thời Trần) và
hình ảnh ba quân (quân đội thời Trần, thời đại, dân tộc). Tráng sĩ hiện
lên trong hành động cắp ngang ngọn giáo với mục đích giữ gìn non sông
đã mấy thu rồi. Các bản dịch thơ dịch “hoành sóc” bằng “múa giáo”.
Theo tôi, cách dịch như vậy là hay nhưng chưa có sức âm vang. “Múa
giáo” thể hiện sự điêu luyện, bền bỉ, dẻo dai nhưng thiếu đi độ cứng
rắn, mạnh mẽ. “Cầm ngang ngọn giáo” khắc hoạ được tư thế hiên
ngang, lẫm liệt, vững chãi của người trai thời Trần. Câu thơ nguyên tác
dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo trấn giữ đất nước.
Đó chính là dáng đứng của con người Việt Nam đời Trần.


Nếu câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế,
hành động lớn lao, kỳ vĩ thì câu thơ thứ hai tô đậm hình ảnh “ba quân”
tượng trưng cho sức mạnh dân tộc.
Tam quân tì hổ khí khôn ngưu


“Tam quân” là chỉ quân đội, dân tộc; “Ngưu” có nghĩa: là sao Ngưu, là
trâu. Hình ảnh ba quân trong tư thế xông lên giết giặc với khí thế bừng
bừng. Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất
vừa hướng tới sự khái quát hoá sức mạnh tinh thần của “hào khí Đông
A”. Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách
quan và cảm nhận chủ quan, giữa hiện thực và lãng mạn. Tác giả Trần
Trọng Kim dịch là “Ba quân hùng khí át sao Ngưu”, còn Bùi Văn Nguyên
dịch là “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Tôi thích cách dịch của Trần
Trọng Kim, bởi lẽ dịch “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” nói được sức
mạnh, khí thế dũng mãnh “Sát Thát” của quân đội, sẵn sàng lăn xả vào
bọn giặc dữ một khi chúng tràn tới... nhưng chưa nói được tầm vóc.
Hơn nữa dịch “át sao Ngưu”... câu thơ có lẽ giàu hình ảnh, gợi cảm hơn,
kết hợp với câu thơ thứ nhất mở ra cả một không gian rộng lớn, vì thế ý
thơ cũng giàu sức khái quát hơn. Hai câu thơ nhỏ mà mang hai hình ảnh
lớn: Hình ảnh một tráng sĩ cắp ngang ngọn giáo đi cứu nước ròng rã bao
năm mà chưa hề mảy may mệt mỏi. Hình ảnh “ba quân” xông lên giết
giặc bừng bừng hùng khí át cả sao Ngưu, nghĩa là át cả trời cao. Bút
pháp miêu tả, so sánh, phóng đại, phép đối hài hoà, giọng thơ hào
hùng, sôi nổi tạo ra cách nói hấp dẫn và ấn tượng. Hình ảnh tráng sĩ còn
có tính chất cụ thể ít nhiều, hình ảnh ba quân thì rõ ràng chỉ từ ấn
tượng, từ cảm hứng chủ quan, dĩ nhiên là rất mãnh liệt và sảng khoái.
“Ở đây chủ quan mà lại chân thực, chân thực của ấn tượng chứ không
phải chân thực của thị giác. Chân thực ở cái hồn của sự việc chứ không
phải ở sự việc cụ thể. Xét cho cùng, chính đó là cái chân thực của thời
đại, của đất nước” (Nguyễn Đình Chú).


Nếu cái tư thế của tráng sĩ với hình ảnh cây trường giáo như đo bằng
chiều ngang của non sông thì tư thế của ba quân lớn mạnh đo bằng
chiều dọc. Nghĩa là không gian mở ra theo chiều rộng của núi sông và
mở theo chiều cao đến tận sao Ngưu thăm thẳm. Con người kì vĩ như át
cả không gian bao la trong một bối cảnh không – thời gian kì vĩ. Hình
ảnh tráng sĩ lồng vào trong hình ảnh dân tộc thật đẹp có tính chất sử
thi, hoành tráng. Đó chính là sức mạnh, âm vang của thời đại, vẻ đẹp
của người trai thời Trần. Đó chính là sản phẩm của “hào khí Đông A”.
Nói cách khác, đó là hình ảnh con người vũ trụ, mang tầm vóc lớn lao.
Con người mang tầm vóc của vũ trụ này vì ai mà xông pha, quyết
chiến...? Tất cả xuất phát từ trách nhiệm, ý thức dân tộc và nền thái
bình đất nước... Vì thế con người vũ trụ gắn với con người trách nhiệm,
con người ý thức, bổn phận, con người hành động, đó chính là những
biểu hiện củacon người cộng đồng, con người xả thân vì đất nước. Điều
đặc biệt ở đây là, khác với văn học Trung Quốc hay Ấn Độ, con người vũ
tru, con người cộng đồng trong văn học Việt Nam nói chung và Thuật
hoài nói riêng gắn với lòng tự hào, tự tôn dân tộc, gắn với thời đại và
đất nước.


6. Nếu ở hai câu đầu giọng điệu sôi nổi hùng tráng thì đến đây âm
hưởng thơ bỗng dưng như một nốt trầm lắng lại. Điều đó rất phù hợp
với lời bộc bạch, tâm sự, bày tỏ nỗi lòng của nhà thơ. Nói cách khác âm
hưởng thơ góp phần thể hiện nỗi lòng của Phạm Ngũ Lão.


Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu).


Vẻ đẹp của người trai thời Trần không chỉ thể hiện ở cái tư thế, khí
phách, tầm vóc, sức mạnh mà còn thể hiện ở cái chí, cái tâm của người
tráng sĩ. Cái chí, cái tâm ấy gắn liền với quan niệm chí làm trai. Theo
Phạm Ngũ Lão chí làm trai phải gắn liền với hai chữ công danh, Chí làm
trai này mang tinh thần, tư tưởng tích cực, gắn với ý thức trách nhiệm,
lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm cho đời). Chí làm
trai đó được coi là món nợ đời phải trả. Trả xong nợ công danh có nghĩa
là hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước. Quan niệm lập công danh
đã trở thành lý tưởng sống của trang nam nhi thời phong kiến. Sau này
Nguyễn Công Trứ cũng khẳng định:


Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông


Đặt trong thời đại của Phạm Ngũ Lão, chí làm trai này đã cổ vũ con
người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự
nghiệp lớn lao “cùng trời đất muôn đời bất hủ”. Phạm Ngũ Lão cũng từ
cái chí, cái nợ nam nhi, nam tử đó mà cùng dân tộc chiến đấu chống
xâm lược bền bĩ, ròng rã bao năm. Đặc biệt ở đây cũng từ cái chí, cái nợ
đó mà nảy sinh trong tâm trạng một nỗi thẹn. Nói cách khác cái tâm thể
hiện qua nỗi thẹn... Phạm Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn
như Vũ Hầu Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước. Thẹn bởi vì
so với cha ông mình chưa có gì đáng nói. Gia Cát Lượng là quân sư của
Lưu Bị, mưu trí tuyệt vời, song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng là
lòng tuyệt đối trung thành với chủ. Vì thế “luống thẹn tai nghe chuyện
Vũ hầu” thực chất là một lời thề suốt đời tận tuỵ với chủ tướng Trần
Hưng Đạo, “thẹn” còn được hiểu là cách nói thể hiện khát vọng, hoài
bão muốn sánh với Vũ hầu. Xưa nay, những người có nhân cách vẫn
thường mang trong mình nỗi thẹn. Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Thu
vịnh” từng bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ tới Đào Tiềm – một danh sĩ cao khiết
đời Tấn. Đó là nỗi thẹn của người có nhân cách. Trong bài Thuật
hoài,Phạm Ngũ Lão thẹn vì chưa trả xong nợ nước. Đó là nỗi thẹn có giá
trị nhân cách. Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà
trái lại nâng cao phẩm giá con người. Đó là cái thẹn của một con người
có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm nhường. Nỗi thẹn của một
con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng. Như
vậy, Phạm Ngũ Lão vừa đề cao cái chí, vừa đề cao cái tâm của con
người Việt Nam đời Trần. Đó chính là con người hữu tâm trong thơ ca
trung đại Việt Nam.


7.Kết luận:


Bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã thể hiện được quan niệm về
con người trong văn học phương Đông. Hình ảnh tráng sĩ – con người
Việt Nam đời Trần vừa mang tầm vóc vũ trụ, vừa có ý thức, trách nhiệm
cộng đồng, vừa lắng sâu một nỗi lòng cao cả. Nói cách khác 3 kiểu con
người: con người vũ trụ, con người cộng đồng và con người hữu tâm
đồng hiện, hài hoà. Chính ý thức trách nhiệm với đất nước (con người
cộng đồng) nên sẵn sàng xông pha cứu nước với tư thế và tầm vóc lớn
lao (con người vũ trụ) và luôn biết nghĩ suy, khát vọng (con người hữu
tâm)... Dáng đứng Việt Nam, con người Việt Nam đời Trần cao đẹp làm
sao!


“Bài thơ nêu cao lý tưởng trai thời loạn. Lý tưởng trai thời loạn là “cắp
ngang ngọn giáo”, luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu dẹp giặc cứu nước.
“Nợ công danh” lúc này là trách nhiệm của người thanh niên đối với đất
nước khi có giặc ngoại xâm... Người thanh niên thời đại ấy đã ý thức
được trách nhiệm cao cả của mình đối với Tổ quốc. Từ bài thơ còn nổi
lên hình ảnh quân đội cứu nước, ngùn ngụt khí thế của hổ báo nuốt
trâu. (Nguyễn Sĩ Cẩn)


“Cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Ngọn giáo ấy phải đo
bằng chiều ngang của non sông. Thế thì con người cầm ngang ngọn giáo
bảo vệ Tổ quốc ấy tất phải được đo bằng kích thước của trời đất. Con
người có tầm vóc vũ trụ như vậy đã đồng nhất với non sông . Tầm vóc
hoành tráng, tư thế vững chắc ấy của dân tộc ta có cơ sở từ tinh thần
làm chủ đất nước sâu sắc, từ ý chí bảo vệ đất nước rất kiên cường. Với
tinh thần ấy, nhân dân ta đã làm nên những chiến công oanh liệt ở
Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, v.v... và nhất là Bạch Đằng” (Đinh
Gia Khánh)
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản