Phân tích bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Chia sẻ: thanhvien1313

Năm 1859, giặc Pháp tấn công thành Gia Định, Nguyến Đình Chiểu viết bài thơ “Chạy giặc”, hai câu kết nói lên mong ước thiết tha: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng / Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Phân tích bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Phân tích bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của Nguyễn


Đình Chiểu




Năm 1859, giặc Pháp tấn công thành Gia Định, Nguyến


Đình Chiểu viết bài thơ “Chạy giặc”, hai câu kết nói lên


mong ước thiết tha:




“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng / Nỡ để dân đen mắc


nạn này?”
Và mấy năm sau, Nhà thơ viết bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần


Giuộc” - đình cao nghệ thuật và tư tưởng trong sự nghiệp


thơ văn của ông. Có thể coi bài văn tế là tấm lòng trung


nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đối với những nghĩa sĩ anh


hùng của nhân dân ta trong buổi đầu chống Pháp xâm


lược. Nhà thơ mù đất Đồng Nai đã dựng lên một “tượng


đài nghệ thuật” mang tính chất bi tráng về người nông dân


yêu nước chống ngoại xâm.




Sau khi chiếm đóng 3 tỉnh miền Đông, giặc Pháp đánh


chiếm 3 tỉnh miền tây Nam Bộ. Năm 1861, vào đêm 14/12,
nghĩa quân đã tấn công đồn giặc ở Cần Giuộc, thuộc tỉnh


Long An ngày nay.Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt “làm


cho mã tà, ma ní hồn kinh”, Gần 30 chiến sĩ nghĩa quân


đã anh dũng hi sinh. Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài văn tế


này - bài ca về người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên


ngang.




“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một “tượng đài nghệ thuật”


hiếm có. “Bi tráng” là tầm vóc và tính chất của tượng đài


nghệ thuật ấy: vừa hoành tráng, hùng tráng vừa thống


thiết, bi ai. Hùng tráng ở nội dung chiến đấu vì nghĩa lớn.
Hùng tráng ở phẩm chất anh hùng, ở đức hi sinh quyết tử.


Hùng tráng ở chỗ nó dựng lên 1 thời đại sóng gió dữ dội,


quyết liệt của đất nước và dân tộc. Hoành tráng về quy


mô, nó không chỉ khắc hoạ về 1 nghĩa quân, 1 anh hùng


mà đông đảo những người “dân ấp dân lân mến nghĩa


quân làm quân chiêu mộ” dưới ngọn cờ “bình tây” của


Trương Công Định. Tính chất, quy mô hùng tráng, hoành


tráng ấy lại gắn liền với bi ai đau thương thống thiết. “Cái


tượng đài nghệ thuật” về người nông dân đánh Pháp giữa


thế kỉ XIX đã được dựng lên trong nước mắt, trong tiếng


khóc của nhà thơ, của nhân dân và cả của đất nước.
Trong toàn bài văn tế đặc biệt trong phân thích thực và ai


vãn , ta cảm nhận sâu sắc tính chất bi tráng này.




Mở đầu bài văn tế là 1 lời than qua 2 câu tứ tự song hành.


Hai tiếng “Hỡi ôi!” vang lên thống thiết, đó là tiếng khóc


của nhà thơ đối với nghĩa sĩ, là tiếng nấc đau thương cho


thế nước hiểm nghèo:




“Súng giặc, đất rền; lòng dân trời tỏ”




Tổ quốc lâm nguy. Súng giặc nổ vang rền trời đất và quê
hương sứ sở.




“Tan chợ vưà nghe tiếng súng Tây…” (“Chạy giặc”). Trong


cảnh nước mất nhà tan, chỉ có nhân dân đứng lên gánh


vác sứ mệnh lịch sử, đánh giặc cứu nước cứu nhà. Tấm


lòng yêu nước, căm thù giặc của nhân dân, của những


người áo vải mới tỏ cùng trời đất và ság ngời chính nghĩa.


Có thể nói cặp câu tứ tự này là tư tưởng chủ đạo của bài


văn tế, nó được khắc trên đá hoa cương đặt ở phía trước,


chính diện của “tượng đài nghệ thuật” ấy.
Hình ảnh trung tâm của “tượng đài nghệ thuật” “Văn tế


nghĩa sĩ Cần Giuộc” là những chiến sĩ nghĩa quân. Nguồn


gốc của họ là nông dân nghèo sống cuộc đời “côi cút” sau


luỹ tre làng. Chất phác và hiền lành, cần cù là chịu khó


trong làm ăn, quanh quẩn trong xóm làng, làm bạn với con


trâu, đường cày, sá bừa, rất xa lạ với “cung ngựa trường


nhung”:




“Nhớ linh xưa:




Côi cút làm ăn; toan lo nghèo khó
Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung; chỉ biết


ruộng trâu, ở trong làng bộ”.




Họ là lớp người đông đảo, sống gần fũi quanh ta. Quanh


năm chân lấm tay bùn với nghề nông, “chưa hề ngó tới”


việc binh và vũ khí đánh giặc:




“Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;


tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”.
Thế nhưng khi đất nước quê hương bị giặc Pháp xâm


lược, những “dân ấp, dân lân” ấy đã đứng lên “mến nghĩa


làm quân chiêu mộ”. Đánh giặc cứu nước cứu nhà, bảo


vệ “bát cơm manh áo ở đời” là cái nghĩa lớn mà họ “mến”


là đeo đuổi. Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những câu


cách cú hay nhất (giản dị mà chắc nịch) ca ngợi long yêu


nước, căm thù giặc của người nghĩa sĩ:




“Bữa thấy bong bong che trắng lốp, muốn tới an gan;


ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.
Đối với giặc Pháp và lũ tay sai bán nước, họ chỉ có 1 thái


độ: “ăn gan” và “cắn cổ”, chỉ có 1 chí hướng: “phen này


xin ra sức đoạn kình…, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.




Hình ảnh người chiến sĩ nghĩa quân ra trận là những nét


vẽ, nét khắc hùng tráng nhất, hoành tráng nhất trong


“tượng đài nghệ thuật” bài văn tế. Bức tượng đài có 2 nét


vẽ tương phản đối lập: đoàn dũng sĩ của quê hương và


giặc Pháp xâm lược. Giặc cướp được trang bị tối tân, có


“tàu thiếc, tàu đồng”, “bắn đạn nhỏ, đạn to”, có bọn lính


đánh thuê “mã tà, ma ní” thiện chiến. Trái lại, trang bị của
nghĩa quân lại hết sức thô sơ. Quân trang chỉ là “1 manh


áo vải” . Vũ khí chỉ có “một ngọn tầm vông”, hoặc “một


lưỡi dao phay”, một súng hoả mai khai hoả “bằng rơm con


cúi”. Thế mà họ vẫn lập được chiến công: “đốt xong nhà


dạy đạo kia” và “chém rớt đầu quan hai nọ”.




“Tượng đài nghệ thuật” đã tái hiện lại những giờ phút giao


tranh ác liệt của các chiến sĩ nghĩa quân với giặc Pháp:




“Chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào


lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn
đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.




Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho ma ní, mã tà


hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng


súng nổ”.




Đây là những câu gối hạc tuyệt bút. Không khí chiến trận


có tiếng trống thúc quân giục giã, “có bọn hè trước, lũ ó


sau” vang dậy đất trời cùng tiếng súng nổ. Các nghĩa sĩ


của ta coi cái chết như không, tấn công như vũ bão, tung


hoành giữa đồn giặc: “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông
vào”, “đâm ngang chém ngược”, “hè trước, ó sau”…


Giọng văn hùng tráng, phép đối tài tình, các động từ mạnh


được chọn lọc và đặt đúng chỗ… đã tô đậm tinh thần quả


cảm, vô song của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nguyễn Đình


Chiểu đã dành cho các chiến sĩ nghĩa quân những tình


cảm đẹp nhất: ngợi ca, khâm phục, tự hào. Qua đó, ta


thấy, trước Nguyễn Đình Chiểu chưa có nhà thơ nào văn


nào viết về người nông dân đánh giặc hay và sâu sắc như


thế.




Trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” còn có những giọt
lệ, lời than khóc, một âm điệu thông thiết, bi ai được thể


hiện ở phần ai vãn. Nhiều nghĩa sĩ đã ngã xuống trên


chiến trường trong tư thế người anh hùng: “Những lăm


lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ” Đất nước,


quê hương vô cùng thương tiếc. Một không gian rông lớn


bùi ngùi, đau đớn:




“Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn


chợ Trường Bình, già trẻ 2 hàng kuỵ nhỏ”.




Tiếng khóc của người mẹ già, nỗi đau đớn của người vợ
trẻ được nói đến vô cùng xúc động. “Hàng trăm năm sau,


chúng ta đọc Nguyễn Đình Chiểu có lúc như vẫn còn thấy


ngòi bút của nhà thơ nức nở trên từng trang giấy” (Hoài


Thanh):




“Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo


lét trong lều; não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn


bòn xế dật dờ trước ngõ”.




Các nghĩa sĩ đã sống anh dũng, chết vẻ vang. Tấm gương


chiến đấu và hi sinh của họ là “tấm lòng son gửi lại bóng
trăng rằm”, đời đời bất diệt, sáng rực mãi, trường tồn cùng


sông núi. Rất đáng tự hào:




“Ôi! Một trận khói tan; nghìn năm tiết rỡ”




Bài học lớn nhất của người nghĩa sĩ để lại cho đất nước


và nhân dân là bài học về sống và chết. Sống hiên ngang.


Chết bất khuất. Tâm thế ấy đã tô đậm chất bi tráng cho


“tượng đài nghệ thuật” về người nông dân đánh giặc:




“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giăc, linh hồn theo giúp
cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;…”.




Dám xả thân vì nghĩa lớn, “cây hương nghĩa sĩ thắp thêm


thơm”, các chiến sĩ nghĩa quân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần


Giuộc” là niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta.




Tóm lại, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” khẳng định văn


chương lỗi lạc, tấm lòng yêu thương dân mãnh liệt, thiết


tha của Nguyễn Đình Chiểu. Đúng là “người thư sinh dùng


bút đánh giặc” (Miên Thẩm). Một giọng văn vừa hùng


tráng, vừa thống thiết, bi ai. Nguyễn Đình Chiểu đã dựng
lên một “tượng đài nghệ thuật” mang tính chất bi tráng về


người nông dân yêu nước chống giặc ngoại xâm. “Văn tế


nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một kiệt tác trong văn tế cổ kim của


dân tộc. Nhà văn Hoài Thanh có viết: “Nhà nho nghèo ấy


đã sống cuộc sống của quần chúng, và đã đi cùng quần


chúng phấn đấu gian nan. Chính quần chúng cũng cần cù,


dũng cảm đã tiếp sức cho Nguyễn Đình Chiểu, cho trí tuệ


, cho tình cảm, cho lòng tin và cả cho nghệ thuật của


Nguyên Đình Chiểu
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản