Phân tích môi trường kinh doanh Việt Nam & Sử dụng mô hình SWOT định hướng chiến lược cho công ty Vinamilk

Chia sẻ: quynhdiep9x

Quy mô và tốc độ tăng dân số - Tổng số dân của nước ta vào 0 giờ ngày 1/4/2009 là 85.789.573 tăng 9,47 triệu người so với năm 1999 (với sai số thuần là 0,3%). Hiện nay dân số Việt Nam vào khoảng hơn 86 triệu người.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Phân tích môi trường kinh doanh Việt Nam & Sử dụng mô hình SWOT định hướng chiến lược cho công ty Vinamilk

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG




ĐỀ TÀI THẢO LUẬN


PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM
SỬ DỤNG MÔ HÌNH SWOT ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC
CHO CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM - VINAMILK

Bộ môn: Marketing căn bản

Giảng đường H303 – Chiều thứ 4 ca 4




Hà Nội, tháng 4/2011
PHẦN 1: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM
Môi trường vĩ mô
1.
Nhân khẩu học
1.1.
 Quy mô và tốc độ tăng dân số
Tổng số dân của nước ta vào 0 giờ ngày 1/4/2009 là 85.789.573 tăng 9,47 triệu
-
người so với năm 1999 (với sai số thuần là 0,3%). Hiện nay dân số Việt Nam vào
khoảng hơn 86 triệu người.
- Tốc độ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm
 Nước ta là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất khu vực (260
người/km2), sự gia tăng dân số khá nhanh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam
mở rộng thị trường và tận dụng nguồn lao động. Tuy nhiên tăng dân số cũng tạo sức ép
rất lớn đến những vấn đề chung của xã hội như việc làm, nhà ở… ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng cuộc sống của người dân và vô hình chung ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
 Cơ cấu dân số:
Theo thống kê năm 2009, cơ cấu dân số theo độ tuổi của Việt Nam là:
• 0-14 tuổi: 29,4%
• 15-64 tuổi: 65%
• Trên 65 tuổi: 5,6%
 Việt Nam đang có “cơ cấu dân số vàng” với lực lượng lao đ ộng dồi dào. Đi ều đó
giúp cho doanh nghiệp có thể dễ dàng có được nguồn nhân công dồi dào với giá rẻ, góp
phần giảm chi phí sản xuất, hạ giá bán sản phẩm.
Tuy nhiên, hiện nay nguồn lao động Việt Nam mới chỉ có trên 25% số lao động
được đào tạo, thiếu hụt lượng lao động chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của các
doanh nghiệp. Đó cũng là một khó khăn mà hầu hết các doanh nghiệp Vi ệt Nam hi ện
nay đang gặp phải
 Sự thay đổi quy mô hộ gia đình
Xu hướng: các gia đình với quy mô lớn bao gồm nhiều thế hệ trước đây dần dần
được thay bằng các hộ gia đình nhỏ do lớp trẻ ngày nay có xu hướng s ống t ự l ập, ảnh
hưởng mạnh đến nhu cầu của nhiều loại hàng hóa, qua đó ảnh hưởng đến quy mô thị
trường của doanh nghiệp.
 Phân bố dân cư
- Dân số nước ta phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Hai vùng đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có 43% số dân của cả nước sinh sống.
Ngược lại, hai vùng trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chỉ chiếm dưới một
phần năm (gần 19%) số dân của cả nước. Mật độ dân số khác biệt rất l ớn gi ữa các
vùng, vùng có mật độ đông dân nhất gấp mười lần vùng có mật độ dân số thấp nhất.
- Dân cư có xu hướng chuyển dịch từ nông thôn ra thành phố, tới các khu công nghiệp
hóa, các khu đô thị mới. Do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các đôthị ngày
càng mở rộng và đông đúc, hấp dẫn những người từ nông thôn ra thành phố tìm việc
làm.
 Các doanh nghiệp cần có chiến lược tập trung vào những vùng thị trường ở thành
phố đồng thời mở rộng chi nhánh ra các vùng trung du, miền núi, vùng sâu vùng xa
Việc dân số tập trung tại các thành phố lớn giúp doanh nghiệp tạo thuận l ợi cho
doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, khảo sát thị trường, giám sát các giao dịch để tránh
hiện tượng hàng giả, hàng nhái hay gian lận khi hàng chuyển qua các đại lý trung gian.
Tuy nhiên việc tập trung này cũng làm cho sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi
doanh nghiệp phải xây dựng được một chiến lược Marketing phù hợp để tồn tại và phát
triển.
 Chính sách dân số
- Thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình: mỗi gia đình chỉ sinh từ 1-2 con. Có
hình thức xử lý nghiêm với những cán bộ, đảng viên, công chức sinh con thứ ba trở lên.
- Tăng cường đưa những kiến thức về dân số, về công tác kế hoạch hóa đến nhân dân
 Đây là chính sách phù hợp với hoàn cảnh nước ta, đất nước còn đang trong giai đoạn
phát triển, còn nhiều khó khăn, trong khi đó quy mô dân số không ngừng tăng sẽ dẫn đến
không đảm bảo được chất lượng cuộc sống và các vấn đề về môi trường, về xã hội.
Điều này có thể làm giảm quy mô dân số trong tương lai. Do đó doanh nghiệp phải có
những chiến lược cụ thể để tránh bị thu hẹp quy mô thị trường.
Kinh tế
1.2.
 Bối cảnh thế giới:
Tình hình kinh tế diễn biến phức tạp, luôn tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng.
 Bối cảnh kinh tế Việt Nam năm 2010:
- Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2010 đạt 6,78 %
 Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, đây là tốc độ tăng trưởng đáng tự
hào của Việt Nam. Nền kinh tế liên tục phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp mở rộng thị trường trong nước và tranh thủ cơ hội vươn ra thị trường thế giới.
- Tỉ lệ lạm phát: 11,75%
 Trong vòng bốn năm từ 2007-2010, có tới ba năm lạm phát ở mức hai con số (năm
2007 là 12,63%; năm 2008 là 22,97%), đây là bài toán lớn với kinh tế Việt Nam. Tình
trạng lạm phát quá nóng, đặc biệt tại các thành phố lớn khiến cho cuộc sống của người
dân gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng, qua đó ảnh
hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
- Tỉ lệ thất nghiệp: 2,88%
 Tuy tỉ lệ thất nghiệp đã giảm so với năm 2009 (4,65%) nhưng vẫn ở mức cao, phản
ánh một nghịch lý, doanh nghiệp vẫn rất thiếu nguồn lao động nhưng số người thất
nghiệp lại không ngừng tăng lên. Điều này là do công tác đào tạo lao động chưa tốt,
chưa có chất lượng cao. Doanh nghiệp phải có biện pháp nâng cao đội ngũ lao động của
mình đồng thời tuyển thêm những nhân viên mới để đáp ứng yêu cầu công việc
- Xu hướng tiêu dùng của dân cư
+ Chuyển sang các hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm
+ Chuyển từ hàng ngoại sang hàng nội
 Xu hướng tiêu dùng hàng nội của người dân đang là cơ hội vô cùng thuận l ợi cho
doanh nghiệp mở rộng thị phần và khẳng dịnh thương hiệu.
Chính trị - Pháp luật
1.3.
Môi trường chính trị – pháp luật ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp. Môi trường chính trị - pháp luật có thể tác động tới hoạt động kinh doanh
theo 2 hướng: khuyến khích hoặc kìm hãm.
Môi trường chính trị pháp luật bao gồm:
Tình hình an ninh chính trị, cơ chế điều hành của chính phủ

Đây được xem là 1 điểm mạnh của môi trường kinh doanh VN. Tình hình an ninh
chính trị của Việt Nam tương đối ổn đinh do ở Việt Nam chỉ tồn tại 1 Đảng lãnh đạo,
không có tình trạng đa Đảng như các nước khác. Các cơ chế điều hành của chính phủ
cũng tương đối rõ ràng và ổn đinh.
Hệ thống pháp luật và các văn bản pháp luật đặc biệt là các chính sách kinh

tế nhằm điều chỉnh hành vi kinh doanh, tiêu dùng, quan hệ trao đổi thương mại
Trong báo cáo Doing Business 2010 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Tổ
chức Tài chính Quốc tế (IFC) thì Việt Nam xếp thứ 93, tụt 2 bậc so với năm trước.
Nguyên nhân của việc tụt giảm này không thể loại trừ việc thiếu một môi trường pháp
lý minh bạch.
- Về các thủ tục hành chính ở Việt Nam: còn quá rườm rà, gây nhiều cản trở cho
hoạt động kinh doanh.
Đăng kí doanh nghiệp ở VN: Mặc dù kể từ khi luật doanh nghiệp 2005 chính thức
có hiệu lực, số ngày cấp phép đăng kí KD có giảm xuống tuy nhiên thủ tục vẫn còn
rườm rà, phức tạp.
Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt
động kinh doanh trong ngành xây dựng ở Việt Nam tương đối cao so với các nước trong
khu vực. Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 194 ngày và 373,6% thu nhập bình quân đầu
người, trong khi mức bình quân toàn khu vực là 185% mức thu nhập bình quân; thậm chí
nước láng giềng Thái Lan chỉ là 10,7%.
- Về việc đóng thuế
Theo báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm tiêu tốn nhiều thời gian
nhất để đáp ứng các yêu cầu về thuế. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều
thời gian của doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32
lần và mất 1.050 giờ làm việc trong khi ở Indonesia là 266 giờ làm việc.
- Việt Nam chưa có cơ chế bảo vệ nhà kinh doanh và người tiêu dùng
Ví dụ, trong vụ sữa nhiễm melamine, các công ty sữa trong đó có Vinamilk bị oan
và đã được Bộ Y tế chính thức giải oan nhưng thiệt hại của họ thì không ai bồi thường,
nông dân đổ sữa đi cũng không biết kêu ai. Giả sử doanh nghiệp có khởi kiện yêu cầu
Bộ Y tế bồi thường thiệt hại và thắng kiện đi chăng nữa thì cũng khó có thể nhận được
tiền bồi thường vì Luật bồi thường nhà nước chưa được ban hành.
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và chống độc quyền đã có nhưng chưa đi vào
cuộc sống vì thiếu các quy định cụ thể để thực hiện quyền và bảo vệ quyền của người
tiêu dùng. Đặc biệt là các hình thức độc quyền gây thiệt hại lớn cho người tiêu dùng
thực tế đang tồn tại. Khi người ta tăng giá xăng, giá cước vận tải thì lấy lý do thị trường
thế giới tăng. Nhưng khi thị trường thế giới giảm thì người tiêu dùng kêu mãi, người ta
mới giảm một cách nhỏ giọt. Nguyên nhân là do khi quyết định giá thì các doanh nghiệp
ngồi lại với nhau và đưa ra một mức giá chung, người tiêu dùng không có lựa chọn nào
khác. Hành vi móc túi này chưa có cơ chế để xử lý.
- Về việc đăng kí tài sản
Doanh nghiệp có dễ dàng bảo đảm quyền sở hữu tài sản hay không? Ở Việt Nam
doanh nghiệp cần trải qua 4 bước thủ tục, mất 67 ngày và tốn 1,2% giá trị tài sản để có
được sự bảo đảm này. Tuy nhiên, so với các nước đứng đầu trong bảng xếp hạng doanh
nghiệp Việt Nam vẫn mất nhiều thời gian đăng ký tài sản.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là minh bạch pháp luật về thương mại.
Muốn minh bạch pháp luật về thương mại thì trước hết cần phải minh bạch về sở hữu,
nhất là quyền sở hữu của cá nhân, sở hữu nhà nước và sở hữu đất đai.
Các quyền dân sự của công dân, nhất là quyền kinh doanh và quyền sở hữu tài
sản là các quyền hiến định. Do đó, bảo đảm các quyền này phải là nghĩa vụ của nhà
nước. Hiện nay, nhà nước đã có các quy định pháp lý về các quyền này nhưng chưa có
được sự đảm bảo hoàn chỉnh. Cụ thể, để đảm bảo quyền thì phải xây dựng được ba cơ
chế bao gồm: cơ chế xác lập quyền, cơ chế thực hiện quyền và cơ chế bảo vệ quyền.
Hiện nay, ở Việt Nam, về mặt nguyên tắc thì công dân có quyền nhưng chưa có các cơ
chế đảm bảo là chưa có hoặc thiếu, nhất là cơ chế bảo vệ quyền. Cần phải xây dựng
các cơ chế đảm bảo quyền dân sự của người dân trong quá trình lập pháp.
Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ diễn ra phổ biến trên nhiều lĩnh vực,
làm cho môi trường cạnh tranh thiếu lành mạnh và rất dễ dẫn đến những vụ kiện về
mặt này.
Các chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phát triển nền kinh tế thị trường dựa trên định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng ta đã và đang không ngừng đưa ra các đường lối chính sách nhằm khuyến
khích, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển.
Lập trường và các chính sách quan hệ khu vực và quốc tế.

- Tham gia các khu vực mậu dịch tự do ASEAN, ASEAN - Trung Quốc và các khu vực
mậu dịch tự do khác (ASEAN - Nhật Bản, ASEAN -Ấn Độ, ASEAN - Hàn Quốc)
- Tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
- Tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế Á - ÂU (ASEM)
- Tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO)
=> Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại 1 số khó khăn:
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và
thủ tục đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh
nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 24 ngày và tốn 669 USD. Trong khi đó, Trung Quốc
chi phí thời gian không thấp hơn Việt Nam là 21 ngày nhưng chi phí tiền bạc lại thấp
hơn đáng kể, chỉ 390 USD.
Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có 8 loại hồ sơ, mất 23
ngày và 881 USD. Việc phải chịu chi phí cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực
đang gây ảnh hưởng không nhỏ cho tính cạnh tranh của Việt Nam.
Văn hóa – Xã hội
1.4.
Văn hóa của Việt Nam mang đậm bản sắc văn hóa phương Đông. Ví dụ: Người
Việt có thói quen thờ cúng tổ tiên và ăn Tết cổ truyền; nói đến truyền thống văn hoá ẩm
thực của người Việt Nam phải nói đến tập quán tiêu dùng cơm gạo với những phương
tiện để ăn như bát đũa còn ở nhiều nước phương Tây thì đó là bánh mì, bơ, sữa, thịt với
các phương tiện thìa, dĩa v.v...
Sự hiểu biết tường tận về văn hoá Việt là "vũ khí" của doanh nghiệp Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, bởi chúng ta không thể dựng hàng rào v ới t ất
cả các doanh nghiệp nước ngoài mà không có hàng rào quanh ta, chúng ta không thể cạnh
tranh với người nước ngoài bằng vốn liếng, công nghệ, kinh nghiệm quản lý...nhưng
chúng ta có thể cạnh tranh bằng Văn hoá . Văn hoá là một thứ không dễ học, là rào cản
rất lớn với bất cứ với người nước ngoài, kể cả người nước ngoài sống nhiều năm ở
một nước.
Tựu chung lại, điều mà các doanh nghiệp Việt Nam nhưng doanh nghiệp nước
ngoài không làm được là hãy tìm hiểu kỹ nhu cầu của người Việt Nam, văn hoá Việt
Nam, đáp ứng nhu cầu đó, văn hoá đó thì chúng ta sẽ thắng trên sân nhà.
Khoa học – Công nghệ
1.5.
Khoa học công nghệ đã tạo ra những điều kì diệu cho cuộc sống của con người.
Công cuộc cạnh tranh về công nghệ mới không những đảm bảo cho doanh nghiệp phát
triển trên thị trường mà còn làm thay đổi bản chất của sự cạnh tranh. Cả thế giới vẫn
đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và
được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ. Thế kỉ XXI là thế kỷ của sự phát triển khoa
học- công nghệ với sự bùng nổ công nghệ thông tin. Đây là thành tựu lớn nhất của nhân
loại, nhờ đó loài người có thể tiếp cận với thông tin trên thế giới mọi lúc mọi nơi.
Nhận thức được vấn đề này, ở Việt Nam, dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp,
nhưng với nỗ lực của Nhà nước, từ năm 2000 tỉ lệ chi ngân sách nhà nước cho KH &
CN đã đạt 2%, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách đầu tư
phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó khi sản phẩm ngày càng phức tạp hơn, công chúng cần đ ược bảo
đảm an toàn chắc chắn, các cơ quan nhà nước đã tăng cường quyền lực của mình đối
với việc kiểm tra và nghiêm cấm những sản phẩm có khả năng không an toàn.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam
cơ hội để học hỏi, tiếp cận khoa học công nghệ của các nước bạn, nâng cao năng l ực
sản xuất trong nước.
Địa lý
1.6.
Lãnh thổ VN gồm 2 bộ phận :
- Đất liền: 330991 km2, hình chữ S.
- Biển rộng gấp nhiều lần so với đất liền, thuận lợi phát triển các ngành kinh tế biển.
- Vị trí địa lí đã quy định đặc điểm cơ bản của thiên nhiên nước ta mang tính chất nhiệt
đới ẩm gió mùa.
- Nước ta nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương liền kề với vành đai sinh
khoáng Thái Bình Dương và địa trung hải, trên đường di lưu và di cư của nhiều loài
động thực vật nên có nhiều tài nguyên khoáng sản và tài nguyên sinh vật vô cùng phong
phú.
- Vị trí và hình thể nước ta đã tạo nên sự phân hóa đa dạng của tự nhiên thành các vùng
tự nhiên khác nhau giữa miền Bắc với miền Nam, giữa miền núi và đồng vằng, ven
biển, hải đảo.
- Việt Nam nằm trên ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, tạo điều
kiện thuận lợi cho nước ta giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Nước ta còn là cửa ngõ mở lối ra biển thuận lợi cho các nước Lào, Đông bắc Thái Lan,
Campuchia và khu vực Tây Nam Trung Quốc.
Vị trí địa lí thuận lợi như vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển các ngành
kinh tế, các vùng lãnh thổ, tạo điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các
nước trên thế giới, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Bên cạnh đó còn tạo đi ều ki ện
thuận lợi cho nước ta chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các
nước, đặc biệt là với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
► Khó khăn:
- Nước ta cũng nằm trong vùng có nhiều thiên tai nhất là bão, lũ lụt, hạn hán thường xảy
ra hằng năm.
- Biên giới dài, vùng biển rộng lớn nên việc bảo vệ chủ quyền là hết sức quan trọng.
- Đất nước kéo dài theo hướng Bắc - Nam làm giao thông xuyên Việt tốn kém, khó khăn
trong điều hành quản lý kinh tế XH.
- Nằm ở vùng kinh tế năng động phải cạnh tranh tích cực với các nước (đây là điểm khó
khăn và cũng là thuận lợi cho Việt Nam).
Vấn đề không mới hiện nay là môi trường tự nhiên ngày cầng xấu đi đã trở thành
một trong những vấn đề quan trọng đặt ra trước các doanh nghiệp và công chúng. Ở
nhiều thành phố trên thế giới tình trạng ô nhiễm không khí và nước đã đạt tới mức độ
nguy hiểm. Một mối lo rất lớn là các hóa chất công nghiệp đã tạo ra lỗ thủng trên tầng
ozone gây nên hiệu ứng nhà kính, tức là làm cho trái đất nóng lên đ ến mức đ ộ nguy
hiểm.
Cùng với đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những mối
lo sau:
• Thiếu hụt nguyên liệu
• Chi phí năng lượng tăng
• Mức độ ô nhiễm tăng
Thực tiễn này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có chiến lược kinh
doanh phù hợp với xu hướng chung của thế giới:
• Áp dụng các chính sách tiết kiệm nguyên, nhiên liệu: thu hồi nước đã qua sử
dụng, lắp đặt bộ tiết kiệm điện…
• Ứng dụng công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, bảo vệ sức khỏe
người tiêu dùng như: tháp lọc khí, các trung tâm tái sinh và hệ thống bãi thải,
sản xuất và bao gói hàng hóa không huỷ hoại môi trường.
Những công ty khôn ngoan thay vì để bị chậm chân, đã chủ động có những
chuyển biến theo hướng bảo vệ môi trường để tỏ ra là mình có quan tâm đến tương lai
của môi trường thế giới.

Môi trường vi mô
2.


Yếu tố khách hàng
2.1.
Khách hàng là yếu tố quan trọng nhất trong môi trường vi mô vì h ọ là
người đề đạt yêu cầu, mong muốn, họ là người lựa chọn tiêu dùng sản phẩm,
dịch vụ của doanh nghiệp và là người đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ
của doanh nghiệp.
Để phân loại, khách hàng gồm có: người tiêu dùng, người trung gian,
người sản xuất, các cơ quan Đảng và Chính phủ.
Người tiêu dùng

Thị trường người tiêu dùng gồm các cá nhân, hộ gia đình, các nhóm ng ười
hiện có và tiềm ẩn mua sắm hàng hoá hoặc dịch v ụ nh ằm tho ả mãn nhu c ầu cá
nhân. Các đặc điểm của người tiêu dùng Việt Nam:
Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng
-
Mặc cho tất cả các sự biến động trong nền kinh tế toàn cầu và với ảnh hưởng
của lạm phát hay suy thoái kinh tế, hộ gia đình trung lưu Vi ệt Nam đã tr ở nên
giàu có hơn. Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách quá lớn gi ữa nh ững h ộ gia đình
có thu nhập cao và những hộ có thu nhập thấp hơn.
Rõ ràng, các chuyên viên tiếp thị và các nhà sản xuất cần cung c ấp cho
người tiêu dùng nhiều sản phẩm với giá cả đa dạng hơn và để bảo đảm rằng họ
có thể thu hút được khoảng cách đang mở rộng trong các tầng lớp tiêu dùng Vi ệt
Nam.
Người tiêu dùng quan tâm hơn tới thương hiệu và hành vi xã hội của các
-
doanh nghiệp
Không chỉ là những nhãn hiệu quốc tế đã ăn sâu vào tâm trí ng ười tiêu
dùng, mà có cả những nhãn hiệu Việt Nam, những nhãn hiệu chiếm 4 trong 10
nhãn hiệu phát triển nhanh nhất Việt Nam năm 2008.
=> Như vậy, các chuyên gia marketing và các nhà sản xuất cần hiểu hơn
những nhu cầu tình cảm của người tiêu dùng và nh ững phân khúc mới đang phát
triển ở Việt Nam để hoàn thành tốt hơn nhu cầu được công nhận xã hội và đa
dạng sản phẩm.
- Coi trọng yếu tố tiêu dùng an toàn
Xu hướng lớn nhất trong thị trường hiện nay là phản ứng gay g ắt v ới các
sản phẩm không rõ xuất xứ và nguy cơ liên quan đến sức khỏe.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết các sản phẩm FMCG rẻ ở nông thôn
Việt Nam đều xuất xứ từ Trung Quốc, khoảng vài trăm nhãn hiệu và có nhiều
thành phần từ Trung Quốc hơn.
Vì vậy, an toàn thực phẩm, như ngày hết hạn, thành phần, và nguồn gốc
các thành phần và sản phẩm, cũng như tổ chức chứng nhận y tế s ẽ trở thành
mối quan tâm hàng đầu vào năm 2009.
=> Các chuyên gia marketing và các nhà sản xuất cần tập trung h ơn vào an
toàn thực phẩm, xuất xứ và cơ quan kiểm duyệt để đạt được th ị ph ần kh ổng l ồ
ở thị trường nông thôn vốn bị chiếm lĩnh bởi các mặt hàng rẻ từ Trung Quốc,
miễn là giá vẫn phải phù hợp với những người tiêu dùng nghèo hơn.
Thế hệ người tiêu dùng mới tại Việt Nam
-
“Thu nhập tăng - chi tiêu nhiều - am hiểu sản ph ẩm và luôn nâng cao m ức
sống của mình” là ba yếu tố định hình nên một thế hệ người tiêu dùng mới tại
Việt Nam.
=> Các doanh nghiệp có thể lợi dụng đặc điểm này để tập trung khai thác
thị trường tiềm năng này.
Người trung gian

Là các tổ chức thương mại, những cá nhân và tổ chức mua hàng để bán
hay cho thuê nhằm mục đích kiếm lời. Cụ thể hơn là nh ững ng ười bán buôn
hoặc bán lẻ các loại hàng hoá, dịch vụ.
Hiện nay ở Việt Nam, các trung gian ngày càng nhiều và lớn m ạnh, t ạo
điều kiện thuận lợi cho việc phân phối sản phẩm một cách nhanh chóng và
thuận lợi đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên đội ngũ phân ph ối ở Vi ệt
Nam hoạt động chưa thực sự chuyên nghiệp và có hiệu quả. Các doanh nghiệp
cần thiết phải thiết lập chiến lược về kênh phân phối chuẩn cho doanh nghiệp
mình.
Người sản xuất

Hiện nay, Việt Nam ngày càng đẩy mạnh tự sản xuất để đáp ứng các nhu
cầu tiêu dùng của người dân. Vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất ngày càng
nhiều và đa dạng, đáp ứng phần lớn nhu cầu người tiêu dùng. Các DN s ản xu ất
mua nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm để sản xu ất hay tái s ản xu ất
và bán đi thu lợi nhuận.
Cơ quan Đảng, Chính phủ

Thị trường các tổ chức Nhà nước gồm các tổ chức của chính phủ và các
cơ quan địa phương mua hay thuê những mặt hàng cần thiết để thực hiện nh ững
chức năng cơ bản theo sự phân công của chính quyền.
Đối thủ cạnh tranh
2.2.
Trong thời buổi hội nhập kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp VN không chỉ
phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghi ệp nước
ngoài kinh doanh tại VN
Với những công nghệ cao và nguồn tài chính hùng mạnh,các doanh nghiệp
nước ngoài thật sự là một đối thủ đáng gờm của doanh nghiệp VN
=> Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra thị trường rộng lớn để xuất khẩu hàng
hóa và dịch vụ; tạo điều kiện cho ta tiếp nh ận vốn, công ngh ệ s ản xu ất và công
nghệ quản lý; các khoản vay ưu đãi từ các nước… Đây là những nguồn lực to
lớn góp phần đưa nền kinh tế nước ta có những bước phát tri ển m ạnh m ẽ trong
những năm vừa qua. Những lợi ích của hội nhập kinh tế đã rõ ràng. Tuy nhiên,
bên cạnh những mặt thuận lợi ấy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra
những thách thức to lớn: Cạnh tranh trở nên quyết liệt h ơn. C ạnh tranh không
chỉ giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước trên thị trường nước
ngoài để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ mà cạnh tranh ngay trên th ị trường trong
nước. Điều đó gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp, nh ất là nh ững
doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của Nhà nước, những doanh nghi ệp có
tiềm lực tài chính và công nghệ yếu kém mà tình trạng này lại khá ph ổ bi ến ở
doanh nghiệp nước ta.
Các lực lượng bên trong công ty
2.3.
Khi đánh giá một công ty ta cần dựa vào ba yếu tố sau:
 Năng lực tài chính
Khái niệm: Năng lực tài chính của 1 DN là nguồn lực tài chính của bản thân DN,
là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể
hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời… đủ để đảm bảo và duy trì
hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường. Hiện nay ở Việt Nam các doanh
nghiệp phần lớn có quy mô vừa và nhỏ với nguồn vốn ít, khó khăn trong tiếp cận nguồn
vốn (vốn tự có, vốn điều lệ rất ít, huy động bên ngoài hạn chế, tiếp cận thị trường vốn
không đủ điều kiện, năng lực tự huy động không có... ). Vốn là cái khó khăn nhất và
cũng là cái yếu nhất của DN. Có 46% các doanh nghiệp Việt Nam đ ược hỏi cho r ằng
khó khăn về lãi suất tín dụng. Có đến 41% kêu gọi hỗ trợ t ừ phía Chính ph ủ nh ằm cắt
giảm lãi suất vay vốn, giảm bớt gánh nặng tài chính. Quy mô vốn của các doanh nghiệp
còn nhỏ, gần 50% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng; gần 75% số doanh
nghiệp có mức vốn dưới 2 tỷ đồng và 90% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 t ỷ
đồng. Chỉ có 32,38% số doanh nghiệp cho biết đã tiếp cận được các nguồn vốn của Nhà
nước, chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hoá; 35,24% số
doanh nghiệp khó tiếp cận và 32,38% số doanh nghiệp không tiếp cận được.
 Từ đây chúng ta có thể thấy được rằng đây thực sự là một điều đáng bàn với
các tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam và các nhà làm Marketing cần đánh giá đúng năng
lực tài chính của mình để từ đó định ra chiến lược cho công ty mình.
 Kỹ thuật công nghệ
Hiên nay các doanh nghiệp của Việt nam đang cố gắng ứng dụng các thành tựu
khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất. Tiến hành nhập khẩu các trang thiết bị đ ể
nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên thì theo nhận định chung, trình độ khoa học-kỹ
thuật của viêt nam vẫn còn thấp.
Theo các quan chức Việt nam nói "công ty Việt Nam đang bỏ lỡ công nghệ mới và
tụt hậu trong thị trường toàn cầu thay đổi nhanh chóng,.” Theo Sở Khoa học và Công
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm sản xuất công nghiệp của Việt Nam, một
nghiên cứu gần đây của 429 công ty phát hiện ra rằng chỉ có ba trong s ố họ đã áp d ụng
công nghệ tiên tiến. Hơn một nửa đã được tìm thấy đã được sử dụng "công nghệ l ỗi
thời." công ty Việt Nam đang bỏ lỡ công nghệ mới và tụt hậu trong thị trường toàn cầu
thay đổi nhanh chóng, các quan chức nói.
 Nguồn nhân lực
Trong báo cáo chính thức của mình, Việt Nam luôn khẳng định rằng mình có
nguồn tài nguyên phong phú của con người mà có thể đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế-xã hội trong tương lai. Tuy nhiên, chất lượng của nguồn nhân lực của Việt Nam hiện
nay là một vấn đề hóc búa.
Các quan chức cho biết chỉ 32% của người lao động được đào tạo và 14,4% có
chứng chỉ đào tạo dạy nghề dài hạn. Các báo cáo về thị trường lao đ ộng c ủa Bộ
LĐTBXH cho biết: “Việt Nam thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao
động dịch vụ cao cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng... nên nhiều
nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài trong khi lao động xuất khẩu đa phần
có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc mới chỉ qua giáo dục định hướng”.
Để có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thi Việt Nam sẽ chi tiêu khoảng 6
nghìn tỉ đồng (US $ 375,000,000) về dạy nghề trong những năm tiếp theoTổ chứ. Đào
tạo trình độ kỹ thuật cho các cán bộ công nhân viên trong các tổ chức doanh nghiệp.
Chính vì vậy mà chất lượng nguồn nhân lực hiện nay ở các công ty cũng được nâng lên
đáng kể.
Những tổ chức cá nhân cung ứng các yếu tố sản xuất
2.4.
Để tiến hành sản xuất ra hàng hóa dịch vụ cung cấp cho thị trường thì bất kỳ
công ty nào cũng cần được cung cấp các yếu tố đầu vào như:nguyên, nhiên, vật
liệu,phụ tùng, bán thành phẩm, tuyển dụng lao động,thuê đất, vay tiền…
Ở Việt Nam hiện nay các nhà cung ứng các yếu tố sản xuất cũng có nhiều bi ến
động. Nhiều công ty đang phải đối mặt với việc khan hiếm nguồn nguyên liệu.
Từ đầu năm đến nay, giá đường trên thế giới và trong nước liên tục tăng mạnh
làm cho nhiều nhà máy đường đang phải hoạt động dưới công suất do thiếu nguyên
liệu, cộng với sự cạnh tranh khốc liệt từ các loại đường nhập khẩu là những trở ngại
lớn mà các doanh nghiệp ngành mía đường phải đối mặt.
Từ đây ta có thể thấy các nhà cung ứng trên thị trường việt nam nhìn chung là vẫn
chưa đủ tiềm lực để có thể cung ứng nguồn nguyên vật liệu cho các doanh ngiệp một
cách ổn định cho dù họ cũng đã có nhiều cố gắng.
Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực tài chính của các nhà cung ứng này đang còn
yếu nên còn bị ảnh hưởng nhiều của sự biến động trên thị trường, hoặc do ảnh hưởng
của yếu tố thời tiếtsự khan hiếm của nguồn nguyên vật liệu…
Như vậy các nhà quản trị marketing phải chú ý theo dõi giá cả các mặt hàng
cung ứng bởi vì giá vật tư mua về có thể buộc phải nâng giá.trong ngắn hạn có thể bỏ
lỡ các cơ hội tiêu thụ và trong kế hoạch dài hạn sẽ làm mất đi thiện cảm khách hàng
đối với công ty.
Ví dụ: trong những năm gần đây thì giá dầu lửa có nhiều biến động và đây là
điều bất lợi cho các công ty kinh doanh phải sử dụng tới các sản phẩm từ dầu mỏ.
Các tổ chức dịch vụ môi giới MKT
2.5.
Những môi giới trung gian bao gồm những cá nhân hay doanh nghiệp hỗ trợ cho
việc phân phối, tiêu thụ, quảng bá hàng hóa/dịch vụ cho thị trường. Họ bao gồm:
Những môi giới thương mại: là những cá nhân hay doanh nghiệp phân phối và bán
lẻ, tìm kiếm và/hoặc trực tiếp bán sản phẩm. Ví dụ hệ thống môi giới thương mại của
Unilever là hàng ngàn tiệm tạp hóa, các Đại lí, các nhà phân phối, các siêu thị…Tại sao
doanh nghiệp cần có môi giới thương mại? Đó là vì không công ty nào có đ ủ khả năng
tự thiết kế kênh phân phối bao trùm khắp thị trường. các môi giới thương mại đảm bảo
tốt hơn, nhanh hơn các điều kiện thuận tiện về thời gian, địa điểm và thủ tục mua hàng
cho các khách hàng mục tiêu, và tất nhiên với chi phí thường thấp hơn so với công ty t ự
làm.
Những môi giới lưu thông hàng hóa: Các cá nhân hay tổ chức giúp lưu thông hàng hóa,
vận chuyển từ nơi dự trữ tới nơi cần thiết. Các môi gới này có tác dụng trong việc bảo
đảm sự an toàn, đẩy nhanh tiêu thụ hàng hóa, giảm chi phí trung gian và làm tăng l ợi
nhuận nếu doanh nghiệp lựa chọn các môi giới tốt.
Những môi giới dịch vụ Marketing: Các cá nhân và tổ chức cung cấp các dịch vụ
như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, tư vấn marketing….giúp công ty có các định
hướng tốt hơn và quảng bá hiệu quả hơn cho sản phẩm của mình. Ngày nay, trong điều
kiện cạnh tranh gay gắt thì các doanh nghiệp không thể nào tự mình làm hết các công tác
này, mà cũng không thể làm tốt được, do vậy việc sử dụng các môi giới dịch vụ
marketing là vô cùng cần thiết.
Những môi giới tổ chức tín dụng- tài chính: Các tổ chức hỗ trợ đầu tư, các ngân
hàng, các công ty tín dụng, các công ty bảo hiểm… nhằm hỗ trợ công ty đ ầu tư và/bảo
hiểm chống lại các rủi ro lien quan tới việc mua bán hàng hóa. Các môi giới này ảnh
hưởng tới khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nói chung, các môi giới trung gian này ảnh hưởng tới đầu ra của sản phẩm, cụ
thể là ảnh hưởng tới giá bán lẻ, hình ảnh thương hiệu, uy tín công ty, tốc đ ộ tiêu thụ
v.v…Giả sử các nhà phân phối và bán lẻ thực hiện không đúng các chương trình khuyến
mãi tiêu dùng ( ví dụ: không phát quà khuyến mãi cho người tiêu dùng) thì uy tín và hình
ảnh của công ty bị ảnh hưởng nghiệm trọng. Hoặc giả các nhà bán lẻ hạ giá sản phẩm
để cạnh tranh lẫn nhau cũng ảnh hưởng tới hình ảnh công ty. Nhất là các môi giới
marketing, nếu họ làm sai lệch hay không phù hợp các thông tin tời thị tr ường thì ảnh
hưởng sâu sắc tới doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp sản phẩm bị tầy chay ch ỉ vì
các quảng cáo hay thông tin không phù hợp.
Do vậy, công tác Marketing cho môi giới trung gian bao gồm việc cung cấp đầy
đủ và chính xác các thông tin về thị trường, giáo dục thường xuyên về các quan điểm và
định hướng hành động marketing của doanh nghiệp, phối hợp thực hiện và giám sát chặt
chẽ các hoạt động của họ để hạn chế tối đa các rủi ro và sai sót có thể xảy ra.
PHẦN 2: SỬ DỤNG MÔ HÌNH SWOT ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHO
CÔNG TY VINAMILK
Giới thiệu sơ lược về công ty Vinamilk
1.
Giới thiệu chung:

Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) được thành lập trên cơ sở quyết định
số 155/2003QĐ-BCN ngày 01/10/2003 của Bộ Công nghiệp về việc chuyển Doanh
nghiệp Nhà nước Công ty Sữa Việt Nam thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam. Giấy
Chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty số 4103001932 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP
Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2003. Trước ngày 01/12/2003, Công ty là doanh nghiệp Nhà
nước trực thuộc Bộ Công nghiệp. Vốn điều lệ đăng ký hiện nay của công ty là 1.590 tỷ
đồng, trong đó cổ đông Nhà nước chiếm 50,01% vốn cổ phần, cổ đông nội bộ chiếm
13,10% và cổ đông bên ngoài chiếm 36,89%
Hoạt động của công ty:

Ngành, nghề kinh doanh và các sản phẩm chính: sản xuất và kinh doanh sữa hộp,
-
sữa bột, bột dinh dưỡng, bánh, sữa tươi, sữa đậu nành, nước giải khát và các sản phẩm
từ sữa khác. Ngoài ra, công ty Vinamilk còn kinh doanh thực phẩm công nghệ, thiết bị
phụ tùng, vật tư, hóa chất, nguyên liệu; kinh doanh nhà, môi giới cho thuê bất động sản;
kinh doanh kho bãi, bến bãi; kinh doanh vận tải bằng ô tô, bốc xếp hàng hóa; s ản xuất
mua bán rượu, bia, đồ uống, thực phẩm chế biến, chè uống, café rang – xay – phin – hòa
tan; và sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề khác theo phạm vi cho phép của pháp
luật.
Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Công ty: Công ty có trụ sở chính tại 36-38 Ngô
-
Đức Kế, Quận 1, Tp.HCM. Công ty có 8 nhà máy sữa, trong đó có 3 nhà máy và 1 xí
nghiệp kho vận tại Tp.HCM cùng 5 nhà máy đặt tại các tỉnh như: Đồng Nai, Cần Thơ,
Quy Nhơn, Nghệ An, Hà Nội.
Điểm mạnh của công ty Vinamilk
2.
Vị trí đầu ngành được hỗ trợ bởi thương hiệu được xây dựng tốt
2.1.
Thương hiệu Vinamilk được sử dụng từ khi công ty mới bắt đầu thành lập vào
năm 1976 và hiện nay là một thương hiệu sữa được biết đến rộng rãi tại Việt Nam.
Danh mục sản phẩm đa dạng và mạnh
2.2.
Vinamilk cung cấp các sản phẩm sữa đa dạng phục vụ nhiều đối tượng người
tiêu dùng với các dòng sản phẩm nhắm đến một số khách hàng mục tiêu chuyên bi ệt
như trẻ nhỏ, người lớn và người già cùng với các sản phẩm dành cho hộ gia đình và các
cở sở kinh doanh như quán café. Bên cạnh đó, thông qua việc cung cấp các sản phẩm đa
dạng đến người tiêu dùng với các kích cỡ bao bì khác nhau, Vinamilk mang đ ến cho
khách hàng tại thị trường Việt Nam các sản phẩm sữa tiện dụng có thể mang theo dễ
dàng..
Mạng lưới phân phối và bán hàng rộng khắp
2.3.
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2009, Vinamilk đã bán sản phẩm thông qua 240
nhà phân phối cùng với hơn 140.000 điểm bán hàng tại toàn bộ 64 tỉnh thành của cả
nước. Đội ngũ bán hàng nhiều kinh nghiệm gồm 1.787 nhân viên bán hàng trên khắp đất
nước đã hỗ trợ cho các nhà phân phối phục vụ tốt hơn các cửa hàng bán lẻ và người tiêu
dùng.
Cùng với mạng lưới phân phối trong nước, Vinamilk hiện tại đang đàm phán các
hợp đồng cung cấp với các đối tác tiềm năng tại các nước như Thái Lan, Úc và Mỹ.
Quan hệ bền vững với các nhà cung cấp, đảm bảo nguồn sữa đáng tin cậy
2.4.
Vinamilk hỗ trợ tài chính cho nông dân để mua bò sữa và mua sữa có chất lượng
tốt với giá cao. Công ty đã ký kết hợp đồng hàng năm với các nhà cung cấp sữa và hiện
tại 40% sữa nguyên liệu được mua từ nguồn sản xuất trong nước.
Các nhà máy sản xuất được đặt tại các vị trí chiến lược gần nông tr ại bò s ữa,
cho phép công ty duy trì và đẩy mạnh quan hệ với các nhà cung cấp. Đ ồng thời công ty
cũng tuyển chọn rất kỹ vị trí đặt trung tâm thu mua sữa để đảm bảo sữa tươi và chất
lượng tốt.
Vinamilk cũng nhập khẩu sữa bột từ Úc, New Zealand để đáp ứng nhu cầu sản
xuất cả về số lượng lẫn chất lượng.
Năng lực nghiên cứu và phát triển theo định hướng thị trường
2.5.
Vinamilk có một đội ngũ tiếp thị và bán hàng có kinh nghiệm về phân tích và xác
định thị hiếu và xu hướng tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ các nhân viên bán hàng tr ực ti ếp,
những người hiểu rõ thị hiếu người tiêu cùng thông qua việc tiếp cận thường xuyên với
khách hàng tại nhiều điểm bán hàng. Chẳng hạn, sự am hiểu về thị hiếu của trẻ em từ 6
đến 12 tuổi đã giúp công ty đưa ra thành công chiến lược tiếp thị mang tên Vinamilk
Milk Kid vào tháng 5 năm 2007. Kết quả của chiến lược tiếp thị này là Vinamilk Milk
Kid trở thành mặt hàng sữa bán chạy nhất trong khúc thị trường trẻ em từ 6 đến 12 tuổi
vào tháng 12 năm 2007.
Vinamilk có đội ngũ nghiên cứu và phát triển gồm 10 kỹ sư và một nhân viên kỹ
thuật. Các nhân sự làm công tác nghiên cứu phối hợp chặt chẽ với bộ phận tiếp thị, bộ
phận này liên tục cộng tác với các tổ chức nghiên cứu thị trường để xác định xu hướng
và thị hiếu tiêu dùng.
Kinh nghiệm quản lý tốt được chứng minh bởi kết quả hoạt động kinh doanh
bền vững
Vinamilk được quản lý bởi một đội ngũ nhiệt tình và giàu kinh nghiệm trong
ngành. Chủ tịch Mai Kiều Liên có 30 năm kinh nghiệm trong ngành sữa tại công ty và
giữ một vai trò chủ chốt trong quá trình tăng trưởng và phát triển của công ty cho đến
hôm nay. Các thành viên quản lý cấp cao khác có trung bình 25 năm kinh nghiệm trong
lĩnh vực sản xuất, phân phối và bán sản phẩm sữa
Thiết bị và công nghệ sản xuất đạt chuẩn quốc tế:
2.6.
Vinamilk nhập khẩu công nghệ từ các nước châu Âu như Đức, Ý và Thụy Sĩ đ ể
ứng dụng vào dây chuyền sản xuất, là công ty duy nhất tại Vi ệt Nam sở h ữu h ệ thống
máy móc sử dụng công nghệ sấy phun do Niro của Đan Mạch, hãng dẫn đầu thế giới về
công nghệ sấy công nghiệp, sản xuất. Các công ty như Cô gái Hà Lan (công ty tr ực
thuộc của Friesland Foods), Nestle và New Zealand Milk cũng sử dụng công nghệ này và
quy trình sản xuất. Ngoài ra, vinamilk còn sử dụng các dây chuyền sản xuất đạt chuẩn
quốc tế do Tetra Pak cung cấp để cho ra sản phẩm sữa và các sản phẩm giá tr ị công
thêm khác
Điểm yếu của công ty Vinamilk
3.
Hệ thống marketing chưa tốt
3.1.
Vinamilk là có những sản phẩm tốt, thậm chí có những thương hiệu mạnh,
nhưng khâu marketing yếu, dẫn đến chưa tạo được một thông điệp hiệu quả để quảng
bá đến người tiêu dùng về những điểm mạnh của công ty. Tuy trong các sản phẩm có
lượng sữa tươi chiếm 70% - 99%, nhưng do chưa biết cách khai thác thương hiệu nên
Vinamilk chưa có một thông điệp nào để người tiêu dùng hiểu sự khác biệt của sữa tươi
so với sữa hoàn nguyên, sữa tiệt trùng. Chủ động trong nguồn nguyên liệu, giá thu mua
sữa cao hơn các doanh nghiệp khác, hệ thống xe đông lạnh vận chuyển tốt, dây chuyền
chế biến hiện đại là một lợi thế vượt trội của Vinamilk, nhưng tất cả thế mạnh hơn
hẳn này lại chưa được chuyển tải đến người tiêu dùng.
Công tác chăm sóc khách hàng và chất lượng sản phẩm chưa thực sự tốt
3.2.
Sản phẩm sữa là sản phẩm rất nhạy cảm với các công đoạn bảo quản, vận
chuyển. Nếu các khâu này làm không tốt thì người tiêu dùng sẽ nhận đ ược sản phẩm
sữa không bảo đảm chất lượng như ban đầu. Do đó, chăm sóc khách hàng là vấn đ ề
được đặt lên hàng đầu. Thế nhưng chât lượng san phâm và dich vụ chăm soc khach hang
́ ̉ ̉ ̣ ́ ́ ̀
cua Vinamilk vân con kem.Vinamilk đủ sức cạnh tranh ngang ngửa với các đối thủ nước
̉ ̃ ̀ ́
ngoài đang kinh doanh mặt hàng sữa tại Việt Nam do có một chiến lược về giá hợp lý,
đa dạng về sản phẩm, mẫu mã và chất lượng không thua kém các sản phẩm nhập khẩu,
nhưng xét cho cùng, vẫn còn khá nhiều bất cập trong khâu chăm sóc khách hàng như đã
nói. Một cái tốt không thể bù cho nhiều cái chưa tốt được.
Hệ thống phân phối và bán lẻ chưa chọn lọc
3.3.
Hệ thống phân phối và bán lẻ của các công ty sữa trong nước nói chung và của
Vinamilk nói riêng chưa chặt chẽ trong khâu lựa chọn, ký kết hợp đồng phân phối với
các đại lý. Các đại lý và điểm bán lẻ chính là kênh bán hàng trực tiếp tới người tiêu
dùng, nếu không có những quy định chặt chẽ về điều kiện kho tàng, bảo quản, dịch
vụ… sẽ làm mất uy tín của công ty. Nhiều hộp sữa do không đ ược bảo quản đúng quy
cách nên trước khi tới tay người tiêu dùng bao bì đã bị biến dạng, biến chất, quá hạn….
Vinamilk nên có những khuyến cáo và công bố cụ thể các đại lý phân phối chính hãng
trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người biết rõ. Đồng thời có cam kết
bồi thường sản phẩm vi phạm chất lượng được mua tại đại lý của công ty nếu có lý do
chính đáng, giúp người tiêu dùng yên tâm hơn với sản phẩm sữa nội.
Cơ hội đối với công ty Vinamilk
4.
Thị trường sữa Việt Nam ngày càng được mở rộng với nhu cầu không ngừng
4.1.
tăng cao.
Nguyên nhân chính là do:
- Mặc dù hoạt động sản xuất và kinh doanh sản phẩm sữa trên phạm vi toàn cầu thời
gian qua sụt giảm do khủng hoảng kinh tế thế giới, song điều này không tác động nhiều
đến tiêu thụ sữa tại Việt Nam, khi nhu cầu về sữa vẫn tăng khá mạnh với t ổng doanh
thu năm 2009 tăng trưởng trên 14% so với năm 2008, đ ạt hơn 18.500 t ỷ đ ồng. Con s ố
này vượt xa mức doanh thu 4.194 tỷ đồng năm 2000 và 13.361,7 tỷ đồng năm 2007. Điều
này cho thấy không giống như các ngành khác ngành sữa ít chịu tác động của thị trường
thế giới và nhu cầu về sữa trong những năm qua không hề có sự sụt giảm.
- Việt Nam là nước có cơ cấu dân số trẻ với mức tăng dân số trên 1%/năm và thu nhập
bình quân tăng trên 6%/năm tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của giai đoạn 2001 –
2010 là 7,25%. Trong đó, tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001 – 2005 là 7,51% và giai
đoạn 2006 – 2010 là 7%. Điều này đồng nghĩa với chất lượng cuộc sống s ẽ không
ngừng được nâng cao và sữa cùng các chế phẩm từ sữa sẽ ngày càng trở thành những
sản phẩm không thể thiếu.
- Tốc độ tiêu thụ các sản phẩm sữa tính theo đầu nguời tại Việt Nam tăng khá mạnh
trong đó, đứng đầu là sữa bột nguyên kem, với tốc độ tăng trưởng bình quân 28,9%/năm
(từ 0,07 kg/người (1997) lên 4 kg/người (2009). Tiếp đến là sữa không béo, với mức
tăng bình quân xấp xỉ 20%/năm. và cuối cùng là sữa nước với khoảng 10%/năm.
- Bên cạnh đó mức tiêu thụ sữa tươi bình quân ở Việt Nam hiện nay mới chỉ là 14
lít/người/năm, còn kém xa so với các nước khác trong khu vực, như Thái Lan (23
lít/người/năm), Trung Quốc (25 lít/người/năm).
Sau vụ sữa nhiễm Melamine niềm tin của người tiêu dùng với các sản phẩm
4.2.
sữa ngoại nhập đã phần nào bị giảm sút.
Hệ quả là khách hàng đang dần hướng tới các sản phẩm sữa sản xuất trong nước
với chất lượng không hề thua kém cùng với đó là giá thành hết sức hợp lý. Đây là cơ hội
vàng cho Vinamilk cũng như các thương hiệu sữa trong nước chiếm lĩnh lại thị trường
nội địa từ đó dần khẳng định mình và tạo dựng niềm đối với khách hàng.
Vụ việc trên đồng thời cũng chỉ ra rằng các thương hiệu sữa nội và sữa bột
ngoại nhập đều được sử dụng từ các nguồn nguyên liệu giống nhau.Điều này đặt ra câu
hỏi Tại sao giá một hộp sữa ngoại lại đắt gấp đôi so với sữa của các DN trong nước.
Theo tính toán của một DN, giá thành một hộp sữa loại 400g (gồm nguyên liệu sữa, bao
bì, vi chất, thuế và phí gia công) chỉ xấp xỉ khoảng 60.000-75.000 đồng, nhưng giá của
sữa hộp ngoại đã đẩy lên tới 140.000-150.000 đồng/hộp. Khoảng chênh lệch này thực
chất là người tiêu dùng đang phải trả cho thương hiệu sản phẩm (khoảng 30%-50% giá
thành sản phẩm) chứ không phải là chất lượng sữa. Sự lý giải này đã phần nào thỏa
mãn tâm lý ưa tiêu dùng hàng ngoại thái quá của một bộ phận khách hàng và một l ần
nữa mở ra cơ hội lớn cho Vinamilk nói riêng cũng như các thương hiệu sữa nội nói
chung.
Sự hỗ trợ của nhà nước thông qua việc định hướng chiến lược phát triển và
4.3.
khuyến khích nông dân nuôi bò sữa.
Vụ công nghiệp nhẹ, Bộ Công thương cho biết: Định hướng phát triển ngành
công nghiệp chế biến sữa đến năm 2015, cả nước phấn đấu đạt 1,9 tỷ lít quy sữa tươi,
ước tính trung bình 21 lít/người/năm, đáp ứng 35% nhu cầu người tiêu dùng. Đến năm
2020 số lượng bò sữa sẽ là 450.000 - 500.000 con và sản l ượng sữa khoảng 1 tri ệu t ấn
đáp ứng từ 35% đến 38% nhu cầu Đến năm 2025 là 3,4 tỷ lít quy sữa tươi, trung bình 34
lít/người/năm Tổng nguồn vốn đầu tư toàn ngành giai đoạn 2016-2020 là 5.230 tỷ đồng;
giai đoạn 2021-2025 là 6.060 tỷ đồng. Những con số ấn tượng trong quy hoạch ngành
sữa Việt Nam đến năm 2020 đã cho các nhà đầu tư thấy một triển vọng về ngành sữa
Việt Nam và cùng với đó là một cơ hội đặc biệt để các doanh nghiệp trong nước trong
đó có Vinamilk nâng cao sức cạnh tranh dần chiếm lĩnh lại thị trường nội đ ịa vốn đã bị
thống trị quá lâu bởi các thương hiệu nước ngoài.
Dòng sữa bột, sữa đặc chưa có sản phẩm thay thế.
4.4.
Với từng đối tượng khách hàng thì sản phẩm sữa lại đóng một tầm quan trọng
nhất định trong đó đặc biệt là đối với trẻ em. Trước tiên phải nói rằng hầu hết các trẻ
em khi sinh ra là cần được nuôi bằng sữa mẹ tuy nhiên khi thiếu hụt nguồn s ữa mẹ thì
sữa nhân tạo mà điển hình như các sản phẩm sữa đặc sữa bột là không thể thiếu. Đó là
còn chưa kể trong quá trình phát triển của trẻ mà nhất là trong những năm đ ầu đ ời các
loại sữa này sẽ là nguồn cung cấp chủ yếu hiệu quả và đa dạng các loại dưỡng chất
cần thiết cho cơ thể để trẻ phát triển bình thường khỏe mạnh. Bên cạnh đó s ữa còn là
sản phẩm tiện lợi, phù hợp khó có thể thay thế được với mọi hoàn cảnh,mọi lứa tuổi từ
thanh thiếu niên đến người trung niên và người già. Vậy nên trong khi s ữa b ột và s ữa
đặc chưa có được sản phẩm thay thế thỏa đáng thì thị trường sữa vẫn là một thị trường
tiềm năng và luôn là cơ hội tốt cho Vinamilk cũng như các DN khác khai thác và chi ếm
lĩnh.
Sự chia tay của một số hãng sữa ngoại đối với thị trường sữa nội địa.
4.5.
Điển hình như Nestle’s (Thuỵ Sỹ) đã phải bán lại nhà máy tại Ba Vì cho Công ty
cổ phần Anco, hay một thương hiệu sữa của Italia đầu tư nhà máy tại TP.HCM đã phải
dừng hoạt động. Đây là một dấu hiệu cho thấy không phải cứ thương hiệu ngoại đầu
tư vốn lơn là chắc chắn sẽ trụ lại được thị trường nội địa đồng thời cũng để lại cơ hội
cho DN VN mở rộng thị phần chiếm lĩnh thị trường.
Hợp tác quốc tế được đẩy mạnh.
4.6.
Mặc dù Việt Nam là một nước nhập khẩu phần lớn sữa nguyên liệu nhưng trong
những năm qua do sự hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng và sâu sắc nên đã tạo ra các cơ
hội cho doanh nghiệp VN xuất khẩu sữa sang các thị trường còn rất mới như Trung
Đông, Châu Phi… Ngay từ những năm 2005 thì Vinamilk đã tiến hành xuất khẩu
sữa( chủ yếu la sữa bột) sang các thị trường trên nhưng giá trị chua lớn. Vậy nên trong
bối cảnh hiện tại nước ta đã là thành viên của WTO kinh tế đang dần hội nhập mạnh
mẽ thì cơ hội này lại một lần nữa mở trước mắt đòi hỏi Dn phải nắm bắt và tận dụng
kịp thời, hiệu quả hướng tới đạt kim ngạch xuất khẩu từ 150-200 triệu USD vào năm
2025.
Vinamilk được cổ phần hóa.
4.7.
Theo số liệu từ HSSC, năm 2003, Vinamilk được đánh giá ở mức 100 triệu USD;
một năm sau thực hiện cổ phần hóa, theo đánh giá của thị trường là 150 triệu USD và
đến năm nay, phần vốn và lãi của Nhà nước đã tăng vọt lên 970 triệu USD (gần 16.000
tỷ đồng). Điều này cho thấy sau cổ phần hóa Vinamilk đã có bước chuyển l ớn c ả về
quy mô, giá trị và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Điều này cho thấy cổ phần hóa đã
đang và sễ là cơ hội rất lớn để Vinamilk ngày càng phát triển, cùng với đó là s ự chi ếm
lĩnh thị trường tạo dựng thương hiệu một cách hiệu quả bền vững.
Thách thức đối với công ty Vinamilk
5.
Thị hiếu ưa chuộng chất lượng hơn giá rẻ
5.1.
Hiện nay, trước sự phát triển của nền kinh tế, chất lượng cuộc sống dần được
nâng cao, người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn tới chất lượng của những sản ph ẩm mà
mình sử dụng. Chất lượng luôn là yếu tố được người tiêu dùng l ựa chọn trong xu
hướng hiện nay.
Số lượng đối thủ cạnh tranh tăng lên
5.2.
Nhu cầu sử dụng sữa tăng nhưng cũng chính từ đó và quá trình hội nhập kinh tế,
các sản phẩm sữa của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như của thế giới có mặt tại thị
trường Việt Nam tăng lên rất nhanh. Trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh
nghiệp Việt Nam nói chung đều đứng trước sự cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài. Vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có được các chiến lược phù hợp đ ể
tăng khả năng cạnh tranh của mình, thuyết phục khách hàng trung thành với doanh
nghiệp mình, cũng như tạo ra chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp mình trên thị
trường.
Các doanh nghiệp khác cũng tìm cách mở rộng thị trường và nâng cao chất
5.3.
lượng sản phẩm, đưa ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Các nhãn sữa có thương hiệu như Zinzin, Elovi, Vinasoy, Dutch Lady Việt Nam…
luôn nâng cao và khẳng định chất lượng sản phẩm của mình, khẳng định thương hiệu
trước người tiêu dùng. Đồng thời họ cũng đưa ra những sản phẩm mới cho những nhu
cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Lạm phát tăng cao
5.4.
Năm 2010, Việt Nam lạm phát hơn 11,75%, gấp rưỡi mức 6,52% của năm 2009,
và vượt xa mục tiêu ban đầu là 7%.
Lạm phát tăng cao trong khi thu nhập của người tiêu dùng vẫn còn thấp, đ ặt ra
yêu cầu phải lựa chọn những sản phẩm cần thiết nhất và phù hợp nhất cho nhu cầu của
mình. Đây cũng trở thành 1 thách thức lớn cho các doanh nghiệp nói chung.
Lạm phát cũng gây ra tình trạng thiếu tiền ở các doanh nghiệp vì các doanh
nghiệp khó khai thác được nguồn tín dụng cho việc duy trì sản xuất của mình.
Chi phi thu mua sữa cao
5.5.
Thực chất, nhiều năm qua, mặc dù chi phí cho việc thu mua sữa tươi nguyên liệu
trong nước cao hơn nhiều so với giá nhập khẩu sữa bột, Vinamilk vẫn nỗ l ực đ ể bao
tiêu sữa cho người nông dân và chấp nhận bù lỗ. Theo bà Mai Kiều Liên - Tổng giám
đốc Vinamilk: “Trong vòng 10 năm nay, bình quân Vinamilk phải bù lỗ trên chục tỉ
đồng/năm cho việc thu mua sữa tươi nguyên liệu trong nước, tốn kém hơn rất nhiều so
với nhập khẩu nguyên liệu nhưng chúng tôi chấp nhận bù lỗ vì muốn phát triển nguyên
liệu nội địa”. Giá thu mua năm 2004 tăng 10,9%; năm 2005 tăng 18,3% và năm 2006 tăng
9,5% so với các năm trước. Như vậy, nếu tính từ thời điểm 31/8/2004 đến nay, giá thu
mua sữa bò tươi nguyên liệu đã tăng 43,7%. Tại địa bàn lớn mà Vinamilk đang thu mua là
TP.Hồ Chí Minh, theo báo cáo số 101/TB-SNN-NN của Sở NN và PTNT thành phố,
người nông dân không hề lâm vào tình trạng phá sản từ chương trình chăn nuôi bò s ữa.
Đàn bò sữa đến hết tháng 6/2006 là 59.958 con (cuối năm 2005 là 54.000 con), tăng
trưởng khoảng 10%.
Tính từ đầu năm 2011 đến nay, Vinamilk liên tiếp có 3 đ ợt tăng h ỗ tr ợ thu mua
sữa bò tươi nguyên liệu cho bà con và tổ chức chăn nuôi bò sữa ở các vùng miền, và chỉ
riêng trong tháng 3 thì đây là lần thứ 2 tăng hỗ trợ cho bà con chăn nuôi ở phía Bắc.
Là một công ty thu mua sữa bò tươi nguyên liệu chiếm hơn 60% sản lượng của
cả nước, mỗi ngày Vinamilk đang thu mua trên 400 tấn sữa bò tươi nguyên liệu từ hệ
thống 86 đại lý trung chuyển sữa bố trí theo các khu vực chăn nuôi bò s ữa khắp cả
nước, được tổ chức chặt chẽ, đảm bảo tiêu chuẩn và chất l ượng sữa, bao tiêu toàn bộ
nguyên liệu sữa cho bà con nông dân trong suốt những năm qua.
Phân tích mô hình SWOT và đưa ra các định hướng chiến lược
6.
SO – Chiến lược khai thác tối đa các cơ hội hiện có
6.1.
 S1+S2+S3+O1
Lợi dụng sự phát triển của thị trường và những điểm mạnh vốn có đ ể mở rộng
thêm thị phần.
 S6+O3
Tranh thủ sự hỗ trợ của nhà nước dựa trên thiết bị và cơ sở vật chất sẵn có đ ể
mở rộng SX giảm dần tỉ lệ sữa nguyên liệu nhập ngoại từ đó tiến tới giảm giá
thành sản phẩm.
 S2+S3+S6+O6
Mở rộng thị trường ra nước ngoài.
 S4+O1+O2+O5
Lợi dụng sự hỗn loạn của thi trường, phát huy lợi thế về uy tín và chất lượng để
mở rộng thị phần.
 S5+S6+O4
Tập trung phát triển thị trường trọng tâm là các dòng sản phẩm sữa đ ặc s ữa b ột
song song với nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và cải tiến công nghệ sản
xuất để phù hợp với xu thế phát triển của thị trường.
S2+O1

Tiếp tục củng cố xây dựng và phát triển hệ thống các nhãn hiệu và sản phẩm đa
dạng, đáp ứng tốt nhất các nhu cầu và tâm lý người tiêu dùng Việt Nam.
ST – Dùng sức mạnh để vượt qua nguy cơ, đe dọa
6.2.
 S6+T1+T4
Sử dụng các ứng dụng khoa học công nghệ trong dây chuyền sản xuất, nâng cao
năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm.
 S1+T1+T2+T3
Nâng cao uy tín của công ty và chất lượng sản phẩm để nâng cao năng l ực c ạnh
tranh, khẳng định vị trí của công ty trên thị trường.
 S5+T2+T3
Tham khảo, phân tích kịp thời các xu hướng của người tiêu dùng để đưa ra sản
phẩm phù hợp cho từng đối tượng khách hàng, mở rộng thị trường.
 S1+S3+S4+T2+T3
Đầu tư mở rộng mạng lưới phân phối và bán hàng, bằng uy tín của công ty và
chất lượng sản phẩm để tăng sự trung thàng của khách hàng với những sản
phẩm của công ty.
 S2+T2+T3
Cố định mức giá hiện thời, phát triển toàn diện danh mục sản phẩm sữa nhằm
hướng tới một lực lượng tiêu thụ rộng lớn
 S1+S5+S6+T1
Phát triển thương hiệu Vinamilk thành thương hiệu dinh dưỡng có uy tín khoa
học và đáng tin cậy nhất với mọi người dân Việt Nam thông qua chiến lược áp
dụng nghiên cứu khoa học về nhu cầu dinh dưỡng đặc thù của người Việt Nam
để phát triển ra những dòng sản phẩm tối ưu nhất cho người tiêu dùng Việt Nam.
WO – Tranh thủ cơ hội và nắm lấy cơ hội nếu có
6.3.
W1+ O6

Tích cực liên kết hợp tác quốc tế để đào tạo đội ngũ nhân viên, nâng cao chất
lượng quản trị Marketing, để người tiêu dùng có thể biết đến những điểm mạnh
của công ty => tạo niềm tin cho người tiêu dùng, giúp thương hiệu Vinamilk
đứng vững trong tâm trí khách hàng
W3+O2+O3

Sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước khuyến khích nông dân nuôi bò sữa để hướng
dẫn người dân nuôi bò đúng kĩ thuật, nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu đầu
vào nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, khuyến khích người Việt dùng hàng
Việt.
W3+W4+O7

Tích cực huy động vốn từ các cổ đông, sử dụng vốn để cơ cấu và hoàn thiện lại
hệ thống phân phối và bán lẻ, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
W1+W2+O2

Chú trọng vào khâu chăm sóc khách hàng nhằm tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa
doanh nghiệp với khách hàng, tạo cho khách hàng cảm giác an toàn khi sử dụng
sản phẩm nhất là khi người tiêu dùng đã mất lòng tin ở một số sản phẩm của đối
thủ cạnh tranh => mở rộng thị phần.
ST – Áp dụng chính sách phòng thủ tối đa để hạn chế các nguy cơ, đe dọa
6.4.
W1+ T1

Tăng cường chiến dịch MKT quảng cáo sản phẩm đồng thời nâng cao chất lượng
sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
W4+T1

Tiếp tục nâng cao năng lưc quản lý hệ thống phân phối bán lẻ. Tiếp tục mở rộng
và phát triển hệ thống phân phối chủ động vững mạnh để đảm bảo chất lượng
sản phẩm.
W4+T2+T3

Củng cố hệ thống và chất lượng phân phối nhằm dành thêm thị phần tại các thị
trường mà Vinamilk có thị phần chưa cao,đặc biệt tại các nông thôn và các đô thị
nhỏ.
W1+T2+T3

Cải thiện và nâng cao hiệu quả của hệ thống MKT, truyền tải thành công các lợi
thế vượt trội của Vinamilk so với các công ty sữa khác để quảng bá thương hiệu
và đánh bại đối thủ cạnh tranh.
W2+T2+T3

Cải thiện hệ thống chăm sóc khách hàng để thoả mãn và "giữ chân" được khách
hàng, nâng cao uy tín và hình ảnh của công ty trong mắt người tiêu dùng.
W3+W4+T4+T5

Liên kết chặt chẽ trong khâu phân phối vừa giúp sản phẩm của Vinamilk đ ược
đưa đến tay người tiêu dùng với chất lượng tốt nhất lại tránh được các chi phí
phát sinh không đáng có,tiết kiệm chi phí. Nhờ đó,dù chi phí thu mua sữa tăng sản
phẩm của Vinamilk vẫn giữ được chất lương mà không phải tăng giá quá cao,
tăng khả năng cạnh tranh của Vinamilk với các đối thủ khác./.
DANH SÁCH NHÓM




Phạm Quỳnh Diệp
1.
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
2.
Đặng Nguyệt Anh
3.
Nguyễn Thị Hương Lan
4.
Nguyễn Hiền Phương
5.
6. Vũ Thùy Dung
Nguyễn Thị Yến
7.
8. Bùi Lan Anh
9. Trần Thị Hiền
10
Bùi Thị Thúy
.
11. Đỗ Thị Hương
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản