Phân tích sai phạm trong báo cáo tài chính

Chia sẻ: thiphuong3774

Báo cáo tài chính (BCTC) là một công cụ thể hiện đầy đủ tình hình hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay. BCTC là thông tin đầu ra của doanh nghiệp, đồng thời đó là công thông tin đầu vào của các chủ đầu tư là cá nhân, tổ chức mong muốn tìm hiểu về doanh nghiệp. Bản thân doanh nghiệp luôn muốn các tổ chức, cá nhân đầu tư có cái nhìn thiện cảm về doanh nghiệp mình, ngược lại các nhà đầu tư luôn có nhu cầu về tình hình thực tế của doanh nghiệp....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Phân tích sai phạm trong báo cáo tài chính






Phân tích sai phạm trong
báo cáo tài chính




SV thực hiện :Lê Thị Tuyết
LỜI MỞ ĐẦU

Báo cáo tài chính (BCTC) là một công cụ thể hiện đầy đủ tình hình hoạt động
của các doanh nghiệp hiện nay. BCTC là thông tin đầu ra của doanh nghiệp, đồng
thời đó là công thông tin đầu vào của các chủ đầu tư là cá nhân, tổ chức mong
muốn tìm hiểu về doanh nghiệp. Bản thân doanh nghiệp luôn muốn các tổ chức, cá
nhân đầu tư có cái nhìn thiện cảm về doanh nghiệp mình, ngược lại các nhà đầu tư
luôn có nhu cầu về tình hình thực tế của doanh nghiệp. Báo cáo thông tin tài chính
khả quan, tốt luôn là kỳ vọng của các chủ doanh nghiệp, trong khi nhu cầu của các
nhà đầu tư mong muốn cung cấp một BCTC trung thực, khách quan. Chính nhu
cầu về thông tin khác nhau nên dẩn đến tình trạng bóp méo thông tin trên BCTC.
BCTC là một dạng thông tin do chính chủ doanh nghiệp cung cấp ra bên ngoài,
mang tính chủ quan của doanh nghiệp. Chính vì vậy, để có thể phục vụ cho mục
đích của mình doanh nghiệp luôn có xu hướng làm sai thông tin trên các bản báo
cáo này. Mặc dù đã có các cơ quan chức năng: kiểm toán độc lập, cơ quan thuế
can thiệp về thông tin trên BCTC, tuy nhiên không thể tránh khỏi sự sai phạm
chính doanh nghiệp tạo ra. Cho dù đó là vô ý hay có chủ ý của doanh nghiệp. Việc
phát sinh gian lận trên Báo cáo tài chính ở những công ty có tầm vóc lớn đã làm
phát sinh sự quan tâm ngày càng nhiều về tính trung thực, hợp lý của Báo cáo tài
chính. Nó cũng là thách thức lớn đối với người quản lý công ty cũng như đối với
kiểm toán viên trong việc phát hiện các gian lận trên Báo cáo tài chính. Do vậy,
gian lận luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Sai phạm BCTC là một chủ đề thời sự hiện nay, đặc biệt sau sự kiện hàng hoạt
các công ty hàng đầu thế giới đi vào phá sản vào thế kỷ 21. Các công ty bị phá sản
đã cho là có sai phạm nghiêm trọng về BCTC có thể kể ra rất nhiều như: Lucent,
Xerox, Rite Aid, Waste Management, Micro Strategy, Raytheon, Sunbeam, Enron,
Worldcom, Global Crossing, Adelphia, Qwest. Để khắc phục được các sai phạm
này, nhiều biện pháp được đặt ra từ trong doanh nghiệp tới các cơ quan hoạt động
độc lập bên ngoài. Các bộ phận hoạt động độc lập trong doanh nghiệp được thành
lập. Hoạt động kiểm toán ngày càng được chú trọng và nâng cao. Tốc độ giảm sút
về các sai phạm đã chứng tỏ rằng các cơ quan tổ chức này hoạt động có hiệu quả.
Để có thể phát hiện được các sai phạm mà đơn vị cũng như các cá nhân trong đơn
vị chủ ý tạo ra, một trong các thủ tục được áp dụng vào là phân tích các khoản
mục trên BCTC để tìm ra sai phạm nếu có. Trên thế giới cũng đã có rất nhiều các
công trình nghiên cứu về sai phạm trên BCTC, đặc biệt phải kể đến công trình
nghiên cứu của ACFE. Hiểu rõ các phương pháp thực hiện gian lận, điều kiện làm
phát sinh gian lận…sẽ giúp nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc thiết lập
những biện pháp nhằm ngăn ngừa và phát hiện gian lận nhằm giảm thiểu các tổn
thất cho xã hội, giúp nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC. Sau đây là một số
thông tin mà cá nhân em tìm hiểu về phân tích các sai phạm trên BCTC. Bài con
có nhiều thiếu sót, mong thầy cho ý kiên để em có thể hoàn thiện thêm.
SV thực hiện :Lê Thị Tuyết
PHẦN 1: KHÁI QUÁT VỀ SAI PHẠM TRÊN BCTC

I. KHÁI NIỆM
Sai phạm (Deviation) là thuật ngữ dùng để chỉ những lỗi xảy ra tại đơn vị làm
sai lệch các thông tin trong báo cáo tài chính tại đơn vị.
Sai phạm tại đơn vị có thể diễn ra ở những khía cạnh khác nhau, nhưng xét về
phương diện kế toán, những sai phạm thường gặp là các định khoản sai, ghi thiếu
hay ghi trùng, tính toán sai, lập chứng từ giả… Chúng có thể được diễn ra khác
nhau về mức độ hay quy mô và mục đích, như để đánh cắp tài sản của đơn vị;
hoặc ngụy tạo tình hình để tạo ra một hình ảnh tốt đẹp về thực trạng tài chính của
đơn vị, tạo lãi giả, lỗ giả… Các chuẩn mực kiểm toán thường đề cập đến ba nhóm
hành vi sai phạm gồm: sai sót, gian lận và không tuân thủ.
II. MỤC ĐÍCH
Sai phạm không có mục đích: Là những sai phạm không do cố ý tạo ra
ban đầu của cá nhân tổ chức có liên quan. Thông thường, những sai phạm không
có mục đích là do trình độ xử lý của nhân viên, xử lý số liệu bị nhầm lẩn về số
lượng về tính chất nghiệp vụ…
Sai phạm có mục đích: Gọi chung là gian lận, mục đích chính của gian
lận là tạo thông tin không trung thực trên BCTC. Dù cho mục đích cuối cùng là
gì, có 2 hình thức phổ biến nhất hiện nay là khai gian (khai khống) và khai thiếu.
Có 2 mục đích mà doanh nghiệp muốn hướng tới là khai khống để tại thông tin
tốt cho doanh nghiệp và trốn thuế. Tuy nhiên, nếu xét về phương diện cá nhân, đó
có thể là hành động biển thủ tài sản của cá nhân nào đó.
III.CÁC LOẠI SAI PHẠM TRÊN BCTC
1.GIAN LẬN
a. Khái niệm:
Có nhiều khái niệm tổng quát cũng như chuyên ngành về gian lận. Theo chuẩn
mực kiểm toán quốc tế 240 ( ISA 240), thuật ngữ “gian lận” được dùng để chỉ các
hành vi cố ý của một hay nhiều cá nhân, đó có thể là các thành viên trong BGĐ,
HĐQT, các nhân viên hay các bên thứ ba, liên quan đến sự gian dối nhằm thu
được lợi ích không xứng đáng hay bất hợp pháp. Gian lận liên quan đến một hay
nhiều thành viên trong BGĐ hay HĐQT được gọi là gian lận của BGĐ, gian lận
chỉ liên quan đến các nhân viên của doanh nghiệp được gọi là gian lận của nhân
viên. Trong mỗi trường hợp, có thể có sự cấu kết trong doanh nghiệp hay với bên
thứ ba bên ngoài doanh nghiệp.
Theo Kiểm toán Vương quốc Anh, gian lận có liên quan đến việc sử dụng thủ
đoạn lừa gạt để giành được các lợi ích không công bằng và bất hợp pháp, cũng
như là các sai sót cố ý hay việc cố tình bỏ sót một khoản tiền hay các khoản phải
công khai trên BCTC hay trên từng khoản mục. Gian lận cũng bao gồm cả sự biển
thủ tài sản cho dù có hay không có các sai sót trên chứng từ kế toán hay BCTC.
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 240 ( VSA 240), gian lận là những
hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong
HDQT, BGD, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng tới BCTC.
Như vậy, dù định nghĩa theo cách nào thì bản chất, gian lận là hành vi cố ý lừa
dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi. Theo đó ta có thể thấy được
các yếu tố cơ bản của gian lận như sau:
- Phải có sự chủ định của người thực hiện hành vi gian lận.
- Phải liên quan ít nhất hai bên: bên thực hiện hành vi gian lận và bên đã hoặc
có thể phải chịu hậu quả của gian lận;
- Gây nên sai phạm trọng yếu do công khai không đúng sự thật;
- Nhìn chung có sự cố gắng che dấu, lấp liếm các hành vi đã thực hiện;
- Gian lận nhất thiết là có sự vi phạm sự trung thực.
Kết quả nghiên cứu về gian lận theo công trình nghiên cứu của ACFE
Có ba loại gian lận như sau:
- Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ tài sản của tổ chức (ví dụ điển
hình là biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, gian lận về tiền lương).
- Tham ô: Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ
tham ô tài sản của công ty hay hành động trái ngược với các nghĩa vụ họ đã cam
kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay một bên thứ ba.
- Gian lận trên Báo cáo tài chính: Là trường hợp các thông tin trên Báo cáo tài
chính bị bóp méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý
nhằm lừa gạt người sử dụng thông tin. (Ví dụ khai khống doanh thu, khai giảm nợ
phải trả hay chi phí).
b. Ví dụ:
 Tạo nghiệp vụ ảo: Các công ty có thể dung các cá nhân hay tổ chức liên
quan để làm công cụ hổ trợ. Ví dụ: ký các hợp đồng có số lượng và đơn giá tốt với
một công ty mà thực chất là công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty trong tập
đoàn… nhằm tăng doanh thu tạm thời, tạo nhu cầu và giá bán ảo cho công ty. Khi
cần đạt tiêu chí lợi nhuận, các công cũng có thể tạo nghiệp vụ thanh lý hàng tồn
kho hoặc TSCĐ cho người quản lý hoặc cổ đông trong công ty. Nhân viên bán
hàng cũng có thể thỏa thuận với khách hàng lấy nhiều hàng vào cuối năm và sau
đó tạo nghiệp vị hàng bán trả lại vào đầu năm sau để tạo doanh số.
 Che dấu giao dịch nhằm trốn thuế: Với nhiều mục đích khác nhau, nhiều
giao dịch bị che dấu bằng cách không hạch toán hoặc hạch toán với nội dung khác.
Như: Doanh thu bán phế phẩm hoặc khoản chiết khấu nhận được từ nhà cung cấp
không được ghi nhận vào sổ sách nhằm đem lại lợi ích cá nhận, đồng thời với lợi
ích các nhân là một khoản thuế phải nộp nhà nước cũng giảm.
c. Yếu tố dẩn tới hành vi gian lận
Theo ISA 240, gian lận liên quan đến động cơ và áp lực để thực hiện gian lận,
một cơ hội được nhận thấy để thực hiện gian lận và một số cách thức để hợp lý
hóa hành động gian lận. Khả năng để gian lận xảy ra phụ thuộc vào 3 yếu tố: động
cơ thúc ép, cơ hội và tính liêm chính.
Động cơ thúc ép dẫn tới hành vi gian lận được xem như một loại áp lực có thể
là từ phía cá nhân người thực hiện hành vi gian lận hoặc bởi một người nào đó hay
bởi một yếu tố nào đó. Chúng có thể tồn tại dưới nhiều dạng, chẳng hạn động cơ
kinh tế, nhu cầu tài chính hay lợi ích khác là những động cơ thúc ép phổ biến nhất
dẫn tới gian lận. Những người có quyền lực thường có hành vi gian lận vì tính
tham lam của họ thôi thúc.
Cơ hội chính là thời cơ, khả năng có thể thực hiện hành vi gian lận. chẳng hạn
không ai kiểm kê hàng tồn kho thiếu cũng không ai biết, két tiền mặt thường
xuyên quên không khóa mà không ai để ý. Khi chức vụ càng cao thì càng có nhiều
cơ hội để thực hiện gian lận.
Yếu tố liêm khiết sẽ làm cho sự kết hợp giữa động cơ thúc ép và cơ hội biến
thành hành vi gian lận. Theo ISA 240, một số cá nhân có thể có những thái độ,
tính cách tiêu cực hay thiếu đi những giá trị đạo đức khiến họ cố tình vi phạm các
hành vi không trung thực.
2.SAI SÓT
a. Khái niệm:
Thuật ngữ “ sai sót” đề cập tới các sai phạm không cố ý trên BCTC, bao gồm
sự bỏ sót một khoản tiền hay một khoản phải khai báo trình bày. Tuy nhiện thực tế
không phải khi nào cũng phân biệt rõ ràng giữa chúng. Việc phân biệt hành vi sai
sót và gian lận có ý nghĩa quan trọng tới cuộc kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 ( VSA 240), sai sót là lỗi không
cố ý, có ảnh hưởng tới BCTC. Sai sót thường biểu hiện dưới nhiều hình thức, cụ
thể như:
- Một sai phạm trong quá trình thu thập và xử lý dữ liệu để chuẩn bị lập BCTC.
- Một ước tính kế toán không đúng phát sinh do sự bỏ sót hay hiểu sai thực tế.(
Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai; Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản
mục, các nghiệp vụ kinh tế;
- Áp dụng sai các nguyên tắc kế toán liên quan tới sự đo lường, ghi nhận, phân
loại, trình bày hay khai báo- Sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế
độ kế toán, chính sách tài chính nhưng không cố ý
b. Ví dụ:
 Việc các công ty ghi nhận các khoản thu nhập khác vào doanh thu như thu
nhập từ hoạt động tài chính, và thu nhập bất thường, tạo ra một sự hiểu lầm tăng tỷ
lệ tăng trưởng doanh thu, tạo ảo tưởng về tiềm năng phát triển công ty cho những
người đọc BCTC
 Kế toán tính toán các khoản trích lập bảo hiểm sai theo chế độ hiện vì không
nắm bắt được sự thay đổi trong chế độ mới. Hay: Một khoản doanh thu chưa thực
hiên kế toán vô tình tính tất cả vào doanh thu năm nay…


PHẦN 2: CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH KẾ
TOÁN CÓ THỂ LỰA CHỌN.

I. KHÁI NIỆM
1.Chính sách kế toán
Theo chuẩn mực số 29 kế toán Chính sách kế toán: Là các nguyên tắc, cơ sở
và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình
bày báo cáo tài chính.
2. Chính sách kế toán có thể lựa chọn
Là những chính sách mà bộ TC đưa ra trong chuẩn mực kế toán Việt Nam,
theo đó, các doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình một chính sách phù hợp với
hình thức hoạt động, cơ cấu tổ chức… của chính mình
II.CÁC CHÍNH SÁCH CÓ THỂ LỰA CHỌN
1.Chính sách kế toán có thể lựa chọn liên quan tới tài sản và nguồn
vốn.
1.1Chính sách kế toán liên quan tới TSCĐ
a. Chính sách ghi nhận TSCĐ
Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình:
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời tất cả
bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau:
(a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản
đó;
(b) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
(c) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;
(d) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Kế toán TSCĐ hữu hình được phân loại theo nhóm tài sản có cùng tính chất
và mục đích sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp,
gồm:
(a) Nhà cửa, vật kiến trúc;
(b) Máy móc, thiết bị;
(c) Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn;
(d) Thiết bị, dụng cụ quản lý;
(e) Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm;
(f) TSCĐ hữu hình khác.
b. Phương pháp xác định nguyên giá.
Theo chuẩn mực kế toán số 03 về TSCĐ, nguyên giá TSCĐ là toàn bộ chi phí
mà doanh nghiệp bỏ ra để có được tài sản tính đến thời điểm đưa TS đó và sử
dụng.
TSCĐ hữu hình mua sắm
Theo đó, nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm bao gồm giá mua (trừ (-) các
khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), các khoản thuế (không bao
gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa
tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: Chi phí chuẩn bị mặt bằng; Chi phí
vận chuyển và bốc xếp ban đầu; Chi phí lắp đặt, chạy thử (trừ (-) các khoản thu
hồi về sản phẩm, phế liệu do chạy thử); Chi phí chuyên gia và các chi phí liên
quan trực tiếp khác.
Đối với TSCĐ hữu hình hình thành do đầu tư xây dựng theo phương thức giao
thầu, nguyên giá là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng, các chi phí liên
quan trực tiếp khác và lệ phí trước bạ (nếu có).
Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền
sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải được xác định riêng biệt và ghi nhận
là TSCĐ vô hình.
Trường hợp TSCĐ hữu hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trả
chậm, nguyên giá TSCĐ đó được phản ánh theo giá mua trả ngay tại thời điểm
mua. Khoản chênh lệch giữa tổng số tiền phải thanh toán và giá mua trả ngay được
hạch toán vào chi phí theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính
vào nguyên giá TSCĐ hữu hình (vốn hóa) theo quy định của chuẩn mực kế toán
“Chi phí đi vay”.
Các khoản chi phí phát sinh, như: Chi phí quản lý hành chính, chi phí sản xuất
chung, chi phí chạy thử và các chi phí khác... nếu không liên quan trực tiếp đến
việc mua sắm và đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng thì không được tính
vào nguyên giá TSCĐ hữu hình. Các khoản lỗ ban đầu do máy móc không hoạt
động đúng như dự tính được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế
Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế là giá thành thực tế của
TSCĐ tự xây dựng, hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử. Trường hợp
doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển thành TSCĐ thì
nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan
đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Trong các trường hợp trên,
mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của các tài sản đó. Các chi
phí không hợp lý, như nguyên liệu, vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản chi
phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình tự xây dựng hoặc tự
chế không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình.
TSCĐ hữu hình thuê tài chính
Trường hợp đi thuê TSCĐ hữu hình theo hình thức thuê tài chính, nguyên giá
TSCĐ được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán “Thuê tài sản”.
TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu
hình không tương tự hoặc tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ
hữu hình nhận về, hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh
các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu
hình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài
sản tương tự (tài sản tương tự là tài sản có công dụng tương tự, trong cùng lĩnh
vực kinh doanh và có giá trị tương đương). Trong cả hai trường hợp không có bất
kỳ khoản lãi hay lỗ nào được ghi nhận trong quá trình trao đổi. Nguyên giá TSCĐ
nhận về được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi. Ví dụ: Việc trao đổi
các TSCĐ hữu hình tương tự như trao đổi máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải,
các cơ sở dịch vụ hoặc TSCĐ hữu hình khác.
TSCĐ hữu hình tăng từ các nguồn khác
Nguyên giá TSCĐ hữu hình được tài trợ, được biếu tặng, được ghi nhận ban
đầu theo giá trị hợp lý ban đầu. Trường hợp không ghi nhận theo giá trị hợp lý ban
đầu thì doanh nghiệp ghi nhận theo giá trị danh nghĩa cộng (+) các chi phí liên
quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
c. Phương pháp xác định khấu hao.
Theo chuẩn mực 03 về TSCĐ:
Khấu hao: Là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của
TSCĐ hữu hình trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó.
Giá trị phải khấu hao: Là nguyên giá của TSCĐ hữu hình ghi trên báo cáo tài
chính, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó.
Thời gian sử dụng hữu ích: Là thời gian mà TSCĐ hữu hình phát huy được tác
dụng cho sản xuất, kinh doanh, được tính bằng:
(a) Thời gian mà doanh nghiệp dự tính sử dụng TSCĐ hữu hình, hoặc:
(b) Số lượng sản phẩm, hoặc các đơn vị tính tương tự mà doanh nghiệp dự tính
thu được từ việc sử dụng tài sản.
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống
trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp
với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp. Số khấu hao của từng kỳ
được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính
vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt
động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ
vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao
TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác.
Lợi ích kinh tế do TSCĐ hữu hình đem lại được doanh nghiệp khai thác dần
bằng cách sử dụng các tài sản đó. Tuy nhiên, các nhân tố khác, như: Sự lạc hậu về
kỹ thuật, sự hao mòn của tài sản do chúng không được sử dụng thường dẫn đến sự
suy giảm lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp ước tính các tài sản đó sẽ đem lại. Do
đó, khi xác định thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình phải xem xét các
yếu tố sau:
- Mức độ sử dụng ước tính của doanh nghiệp đối với tài sản đó. Mức độ sử
dụng được đánh giá thông qua công suất hoặc sản lượng dự tính;
- Mức độ hao mòn phụ thuộc vào các nhân tố liên quan trong quá trình sử dụng
tài sản, như: Số ca làm việc, việc sửa chữa và bảo dưỡng của doanh nghiệp đối với
tài sản, cũng như việc bảo quản chúng trong những thời kỳ không hoạt động;
- Hao mòn vô hình phát sinh do việc thay đổi hay cải tiến dây truyền công
nghệ hay do sự thay đổi nhu cầu của thị trường về sản phẩm hoặc dịch vụ do tài
sản đó sản xuất ra;
- Giới hạn có tính pháp lý trong việc sử dụng tài sản, như ngày hết hạn hợp
đồng của tài sản thuê tài chính.
Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình do doanh nghiệp xác định chủ
yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản. Tuy nhiên, do chính sách quản
lý tài sản của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản có
thể ngắn hơn thời gian sử dụng hữu ích thực tế của nó. Vì vậy, việc ước tính thời
gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa trên kinh nghiệm của
doanh nghiệp đối với các tài sản cùng loại.
Ba phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, gồm:
- Phương pháp khấu hao đường thẳng;
- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần; và
- Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm.
Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không thay
đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Theo phương pháp khấu hao
theo số dư giảm dần, số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt thời gian sử dụng
hữu ích của tài sản. Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng
số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra. Phương pháp khấu hao do doanh
nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải được thực hiện nhất
quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó.
Doanh nghiệp không được tiếp tục tính khấu hao đối với những TSCĐ hữu
hình đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh.
1.2 Chính sách kế toán liên quan tới hàng tồn kho.
Hàng tồn kho bao gồm: Hàng hóa mua về để bán: Hàng hóa tồn kho, hàng mua
đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến. Thành
phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán;
Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa
làm thủ tục nhập kho thành phẩm; Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho,
gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường; Chi phí dịch vụ dở dang.
a.Phương pháp theo dõi giá gốc hàng tồn kho.
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí
liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái
hiện tại.
 Chi phí mua của hàng tồn kho bao gồm giá mua, các loại thuế
không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua
hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các
khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy
cách, phẩm chất được trừ (-) khỏi chi phí mua.
Chi phí chế biến
Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp
đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố
định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hóa
nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm. Chi phí sản xuất chung cố định là những
chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất,
như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng,... và chi phí
quản lý hành chính ở các phân xưởng sản xuất.
Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường
thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi
phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp.
Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị
sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Công suất
bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện
sản xuất bình thường.
- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường
thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi
phí thực tế phát sinh.
- Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình
thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến
cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí sản xuất
chung không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. Chi
phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị
sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
- Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng một
khoảng thời gian mà chi phí chế biến của mỗi loại sản phẩm không được phản ánh
một cách tách biệt, thì chi phí chế biến được phân bổ cho các loại sản phẩm theo
tiêu thức phù hợp và nhất quán giữa các kỳ kế toán. Trường hợp có sản phẩm phụ,
thì giá trị sản phẩm phụ được tính theo giá trị thuần có thểthực hiện được và giá trị
này được trừ (-) khỏi chi phí chế biến đã tập hợp chung chosản phẩm chính
Chi phí liên quan trực tiếp khác
Chi phí liên quan trực tiếp khác tính vào giá gốc hàng tồn kho bao gồm các
khoản chi phí khác ngoài chi phí mua và chi phí chế biến hàng tồn kho. Ví dụ,
trong giá gốc thành phẩm có thể bao gồm chi phí thiết kế sản phẩm cho một đơn
đặt hàng cụ thể.
 Chi phí không tính vào giá gốc hàng tồn kho
Chi phí không được tính vào giá gốc hàng tồn kho, gồm:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất, kinh
doanh khác phát sinh trên mức bình thường;
- Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho
cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản quy định ở đoạn 06;
- Chi phí bán hàng;Chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí cung cấp dịch vụ: Chi phí cung cấp dịch vụ bao gồm chi phí nhân viên
và các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc cung cấp dịch vụ, như chi phí giám
sát và các chi phí chung có liên quan.
- Chi phí nhân viên, chi phí khác liên quan đến bán hàng và quản lý doanh
nghiệp không được tính vào chi phí cung cấp dịch vụ.
b. Phương pháp ước tính giá trị sản phẩm dở dang.
Đánh giá theo chi phí trực tiếp
Theo cách tiếp cận này, toàn bộ chi phí chế biến giả định không tính trong giá
trị sản phẩm dở dang. Mức độ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tính vào sản phầm
dở dang còn tùy thuộc vào các loại nguyên liệu đưa ngay từ đầu hay đưa liên tục
trong quá trình sản xuất. Trường hợp chi phí nguyên vật liệu được đưa từ đầu kỳ
thì chi phí dở dang cuối kỳ được tính theo công thức sau
Chi phí Chi phí NVL cho Chi phí NVL
NVL trực SPDD đầu kỳ + Trực tiếp phát sinh
tiếp tính = Trong kỳ Số lượngSP
cho SPDD Số lượng SP hoàn + Số lượng SPDD DD CK
cuối kỳ thành nhập kho cuối kỳ


Trường hợp VNL được đưa từ từ trong quá trình sản xuất thì cần ước tính mức
độ hoàn thành của SPDD cuối kỳ
Chi phí Chi phí NVL cho Chi phí NVL
NVL trực SPDD đầu kỳ + Trực tiếp phát sinh Số
lượngSP
tiếp tính = Trong kỳ DD CK
cho SPDD Số lượng SP hoàn + Số lượng SPDD quy đổi
cuối kỳ thành nhập kho cuối kỳ quy đổi
Trong đó:
Số lượng Tổng Phần trăm hoàn thành

SPDD Cuối = số lượng tương đương của từng
kỳ quy đổi SPDD CK Loại SP
Đánh giá theo khối lượng sản phẩm dở dang theo toàn bộ chi phí
Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí SX phải được tính vào trong giá trị sản
phẩm dở dang chế dở. Cách ước tính NVL tương tự như trên. Đối với chi phí chế
biến phải ước tính mức độ hoàn thành tương đương cảu sản phẩm DD cuối kỳ để
quy đổi chi phí chế biến cho SPDD.
Chi phí Chi phí chế biến cho Chi phí chế biến
chế biến SPDD đầu kỳ + Trực tiếp phát sinh Số lượng

T. tiếp tính = Trong kỳ
SPDDCK
cho SPDD Số lượng SP hoàn + Số lượng SPDD quy đổi
cuối kỳ thành nhập kho cuối kỳ quy đổi
Khi đó:
Giá trị thực Chi phí NVL Chi phí chế biến
Tế SPDD = Trực tiếp cho + cho SPDD
Cuối kỳ SPDD cuối kỳ cuối kỳ
Việc xác định đúng đắn và đầy đủ giá trị HTK đóng vai trò quan trọng trong
quá trình quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh, sử dụng có hiệu quả tài
sản của doanh nghiệp. Nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi lập báo cáo tài
chính, liên quan trực tiếp tới chỉ tiêu hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, nếu
sai dẫn đến giá trị tài sản lưu động và tổng tài sản thiếu chính xác; chỉ tiêu giá vốn
hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bị sai sẽ làm chỉ tiêu lãi gộp
không còn chính xác.
Hiện nay, giá trị hàng tồn kho tại các doanh nghiệp đang được tính theo một
trong bốn phương pháp sau: Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO), phương
pháp nhập sau - xuất trước (LIFO), phương pháp đích danh, phương pháp bình
quân gia quyền.
 Phương pháp nhập trước - xuất trước ( FIFO)
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng được mua trước hoặc sản
xuất trước thì được xuất trước và giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô
hàng nhập trước hoặc sản xuất trước và thực hiện tuần tự cho đến khi chúng được
xuất ra hết.
Phương pháp này giúp cho chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng
xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán
ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ
tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên
báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn.
Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại
không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại. Theo phương pháp này, doanh
thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá đã có được từ cách
đó rất lâu. Đồng thời nếu số lượng chủng loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất
liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc
sẽ tăng lên rất nhiều
 Phương pháp nhập sau - xuất trước ( LIFO)
Phương pháp này áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua sau,
được sản xuất sau thì được xuất trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng
được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này, giá trị hàng xuất kho
được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn
kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.
Áp dụng cho các doanh nghiệp có thể quản lý thời gian nhập của từng lô hàng
cụ thể. Chi phí của lần mua gần nhất sát với giá vốn thực tế xuất kho, đảm bảo
được nguyên tắc phù hợp của kế toán.
Tuy nhiên, với phương pháp này trị giá vốn của hàng tồn kho còn lại cuối kỳ
không sát với giá thị trường. Khối lượng công việc tính toán, ghi chép nhiều... thế
nên trong thực tế ít dùng phương pháp này.
 Phương pháp tính giá đích danh
Theo phương pháp này sản phẩm, vật tư, hàng hoá xuất kho thuộc lô hàng
nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính. Đây là phương án tốt
nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với
doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà
nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế
của nó.
Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe,
chỉ những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị
lớn, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng
được phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì
không thể áp dụng được phương pháp này.
 Phương pháp bình quân gia quyền
Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị
trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho
được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp bình quân có thể được tính theo
thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng, phụ thuộc vào tình hình của doanh
nghiệp.
a) Theo giá bình quân gia quyền cuối kỳ (tháng)
Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho
trong kỳ. Tuỳ theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho
căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn
vị bình quân:
Đơn giá xuất kho bình quân trong kỳ của một loại sản phẩm = (Giá trị hàng tồn
đầu kỳ + Giá trị hàng nhập trong kỳ) / (Số lượng hàng tồn đầu kỳ + Số lượng hàng
nhập trong kỳ)
Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.
Nhược điểm: Độ chính xác không cao, hơn nữa, công việc tính toán dồn vào
cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Ngoài ra, phương
pháp này chưa đáp ứng yêu cầu kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm
phát sinh nghiệp vụ.
b) Theo giá bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập (bình quân thời điểm)
Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hoá, kế toán phải xác định lại giá trị
thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính
theo công thức sau:
Đơn giá xuất kho lần thứ i = (Trị giá vật tư hàng hóa tồn đầu kỳ + Trị giá vật tư
hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i)/(Số lượng vật tư hàng hóa tồn đầu kỳ + Số
lượng vật tư hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i)
Phương pháp này có ưu điểm là khắc phục được những hạn chế của phương
pháp trên nhưng việc tính toán phức tạp, nhiều lần, tốn nhiều công sức. Do đặc
điểm trên mà phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại
hàng tồn kho, có lưu lượng nhập xuất ít.
1.3 Chính sách kế toán tiền
 Nguyên tắc kế toán tiền
Phải sử dụng một đồng tiền thống nhất là Đồng của Việt Nam hoặc một đơn vị
tiền tệ được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận để ghi sổ.
Các đơn vị có giao dịch là đồng ngoại tệ phải quy đổi về Đồng Việt Nam để
hạch toán. Việc quy đổi này thường dựa vào tỷ giá liên ngân hàng được ngân hàng
Nhà Nước công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ. Đối với ngoại tệ, doanh
nghiệp cần phải theo giỏi chi tiết các khoản ngoại tệ này.
Các loại ngoại tệ khi nhập hay xuất đều phải theo giỏi như hàng tồn kho của
doanh nghiệp. Nghĩa là ngoại tệ nhập thì quy đổi tỷ giá theo phương pháp hối đoái
thực tế, khi xuất thì được theo dỏi tính trên 1 trong 4 phương pháp: bình quân gia
quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước và giá trị đích danh. Nguyên tắc
này cũng được vận dụng đối với vàng bạc, đá quý, … trong doanh nghiệp.
Đối với tiền gửi ngân hàng, ở các đơn vị có các tổ chức, bộ phận phụ thuộc
không tổ chức kế toán riêng, có thể mở tài khoản chuyên thu, chuyên chi hoặc mở
tài khoản phù hợp để thuận tiện cho việc giao dịch, thanh toán.
 Kế toán tăng giảm tiền
Kế toán tiền cũng như các phân hệ khác, chứng từ là cơ sở để ghi nhận các
nghiệp vụ phát sinh lên quan. Đối với quỷ tiền mặt, kế toán sử dụng phiếu thu,
phiếu chi và các chứng từ gốc. Đồi với tiền ngân hàng, kế toán sử dụng giấy báo
nợ, giấy báo có, bản sao ngân hàng cũng với các chứng từ gốc kèm theo để kế toán
ghi sổ.
Các nghiệp vụ tăng giảm tiền chủ yếu là các họa động mua bán, đầu tư, của
doanh nghiệp. Cần phải định khoản đúng và đầy đủ theo chế độ kế toán hiện hành
quy định. Các ghiệp vụ mua TSCĐ cần có sự kết chuyển nguồn…
Phải tổ chức kiểm quỷ tiền mặt; đối chiếu số dự tài khoản của doanh nghiệp
với sổ của ngân hàng. Quá trình này sẻ phát hiện được sự chênh lệch có thể do
nguyên nhân khách quan lẩn chủ quan như sự chậm trể của chứng từ gốc, do sai
sót hoặc những lổi trong kiểm soát làm thất thoát tiền. Các phát hiện chênh lệch
đều phải ghi nhận, không để chậm trể và chờ quyết định xử lý về sau.
1.4Chính sách ghi nhận giao dịch ngoại tệ
a. Nguyên tắc ghi nhận các nghiệp vụ phát sinh liên quan tới ngoại tệ
Theo chuẩn mực kế toán “ảnh hưởng của những thay đổi tỷ giá” việc ghi nhận
các nghiệp vụ này tuân theo các nguyên tắc:
Các doanh nghiệp có các nghiệp vụ phát sinh liên quan tới ngoại tệ phải thực
hiện ghi sổ kế toán và lập chứng từ báo cáo tài chính theo một tiền tệ thống nhất là
Đồng Việt Nam. Việc quy đổi này về nguyên tắc phải dựa vào tỷ giá thực tế giao
dịch của nghiệp vụ hoặc tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngan hàng nhà Nước
Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ đó. Khi các nghiệp vụ liên
quan tới tăng tiền, ghi nhận tỷ giá này theo tỷ giá thwucj tế tại thời điểm phát sinh.
Khi có một nghiệp vụ giảm liên quan tới tiền, kế toán phải dựa vào tỷ giá ghi sổ.
Tỷ giá này do kế toán có được từ số liệu trên sổ sách. Tỷ giá này là khác nhau nếu
theo các cách tính tỷ giá khác nhau(bình quân, LIFO, FIFO, đích danh)
Vào cuối năm tài chính, doanh nghiệp cần phải đánh giá lại tất cả các khoản
mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá giao dịch liên ngân hàng do ngân àng Nhà
nước Việt Nam công bố tại thời điểm cuối năm tài chính.
b. Chính sách có thể lựa chọn liên quan tới ngoại tệ.
Như đề cập trên, kế toán có thể lựa chọn tỷ giá xuất để đánh giá giá trị của các
nghiệp vụ phát sinh liên quan tới ngoại tệ. Kế toán có thể sử dụng 1 trong 4
phương pháp hiện nay đang sử dụng là:
Tỷ giá bình quân: Tất cả các nghiệp vụ phát sinh liên quan tới giảm tiền ngoại
tệ được tính theo tỷ giá bình quân của các lần nhập theo trọng số là số lượng ngoại
tệ đã có của doanh nghiệp trước đó.
Phương pháp LIFO: Cũng tương tự như hàng tồn kho, LIFO có nghĩa rằng, các
nghiệp vụ phát sinh liên quan tới giảm ngoại tệ sẻ hạch toán theo tỷ giá gần nhập
ngại tệ gần đây nhất.
Phương pháp FIFO: Ngược với LIFO, phương pháp này chỉ ra rằng ngoại tệ
xuất sẻ được lấy với tỷ giá lần nhập xa nhất mà doanh nghiệp có. Các nghiệp vụ
làm tăng ngoại tệ của các lần nhập trước đó sẻ được làm căn cứ để kế toán hạch
toán.
Phương pháp đích danh: Với phương pháp đích danh, tỷ giá giao dịch được
xác định chính là tỷ giá thực tế của khoản ngoại tệ đó khi nhập vào.
1.5Chính sách liên quan nợ phải trả và khoản phải thu.
a. Chính sách liên quan tới khoản phải thu
Khoản phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp, thể hiện quyền của
đơn vị trong việc nhận tiền, sản phẩm hàng hóa từ khách hàng, cá tổ chức và cá
nhân khác trong quá trình kinh doanh.
Đối với nợ phải thu, sẻ liên quan tới khoản thu đó là khoản thu về ngoại tệ hay
nội tệ từ đó liên quan tới chính sách kế toán tiền tương ứng.
Chính sách nợ phải thu kế toán có thể lựa chọn là chính sách tín dụng mà
doanh nghiệp dành cho các tổ chức cá nhân, từ đó liên quan tới lập dự phòng cho
các khoản khó đòi hay xử lý các khoản khó đòi về sau.
b. Chính sách liên quan tới nợ phải trả
Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp về một khoản tiền đồi với
một tổ chức cá nhân khác từ các nguồn lực của doanh nghiệp.
Việc thanh toán các khoản nợ phải trả có thể được thực hiên bằng trả bừng tiền
mặt, tiền ngân hàng, trả bằn tài sản khác(hàng hóa, nguyên vật liệu…) cũng cấp
dịch vụ, thay thế nghiệp vụ này bằng nghiệp vụ khác, chuyển đổi nghĩa vụ phải trả
thành nguồn vôn chủ. Vì vậy, chính sách nợ phải trả liên quan tới chính sách tiền
(thanh toán bằng tiên), xuất kho hàng tồn kho (nếu trả bằng hàng hóa hoặc tài sản
khác…)…
2.Chính sách kế toán có thể lựa chọn liên quan tới doanh thu chi phí.
a.Chính sách ghi nhận doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán phát sinh từ các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ… góp phần làm tăng
vốn chủ sở hữu.
Chính sách ghi nhận doanh thu mà kế toán có thể lựa chọn là việc lựa chọn
thời điểm kế toán để hạch toán doanh thu, rằng hàng hóa, dịch vụ mà doanh
nghiệp cung cấp đã hoàn toàn chuyển quyền sở hữu.
b.Chính sách ghi nhận chi phí.
Chi phí là yếu tố rỏ nhất liên quan tới việc lựa chọn chính sách kế toán của
doanh nghiệp. Việc lựa chọn phương pháp khấu hao, phương pháp xuất dùng, xuất
bán phân bổ công cụ dụng cụ… cũng ảnh hưởng tới chi phí doanh nghiệp. Mổi
phương pháp đều cho ra một kết quả khác nhau về chi phí.
 Chi phí sản xuất: chi phí này thường bị ảnh hưởng bởi chính sách
xuất dùng, phân bổ của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu trong kỳ sẻ được tính theo
phương pháp giá xuất mà kế toán lựa chọn. Từ đó làm cho chi phí nguyên vật liệu
thay đổi. Thông thường chi phí tính theo phương pháp LIFO thì cao hơn nhiều sơ
với các phương pháp khác.. Việc phân bổ chi phí khấu hao trong các phân xưởng
sản xuất cũng cho ta thấy rỏ điều này. Phương pháp khấu hao nhanh thường cho
chi phí cao hơn. Chi phí tạo nên giá thánh sẻ thay đổi khi các chi phí cấu thành
nên nó thay đổi. Hay giá thành cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi chính sách tùy chọn
này. Tùy theo mục tiêu của nhà quản trị mà kế toán lựa chọn chính sách phù hợp
 Chi phí giá vốn:
Giá vốn là toàn bộ chi phí liên quan tới việc có hàng hóa, thành phẩm để doanh
nghiệp bán của hàng hóa, thành phẩm được bán ra. Các doanh nghiệp sản xuất sẻ
bị ảnh hưởng nhiều bởi chi phí này.
 Chi phí bán hàng:
Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản
phẩm, bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện và đẩy mạnh quá trình lưu
thông, phân phối hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng.
Chi phí bán hàng bao gồm các khoản chi phí như chi phí quảng cáo, khuyến mãi;
chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi
phí vật liệu, bao bì dùng cho việc bán hàng, hoa hồng bán hàng.
 Chi phí quản lý doanh nhiệp
Chi phí quản lý là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tổ chức, quản lý
hành chính và các chi phí liên quan đến các hoạt động văn phòng làm việc của
doanh nghiệp mà không thể xếp vào loại chi phí sản xuất hay chi phí bán hàng.
Chi phí quản lý bao gồm chi phí tiền lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp và
nhân viên văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định (văn phòng và thiết bị làm
việc trong văn phòng), chi phí văn phòng phẩm, các chi phí dịch vụ mua ngoài,
v.v…Tất cả mọi tổ chức (tổ chức kinh doanh hay không kinh doanh) đều có chi
phí quản lý.
c.Chính sách phân phối lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả của quá tŕnh sản xuất kinh
doanh. Nó phản ánh đầy đủ về mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp.
Lợi nhuận của doanh nghiệp sẻ được phân chia cho cổ đông hay để lại tái đầu
tư bao nhiêu phụ thuộc vào chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.
Hội đồng quản trị có thể đề nghị Đại hội đồng cổ đông thông qua việc thanh
toán toàn bộ hoặc một phần cổ tức bằng những tài sản cụ thể (như cổ phiếu hoặc
trái phiếu đã được thanh toán đầy đủ do công ty khác phát hành) và Hội đồng quản
trị là cơ quan thực thi nghị quyết này.
Trường hợp cổ tức hay những khoản tiền khác liên quan tới một loại cổ phiếu
được chi trả bằng tiền mặt, Công ty sẽ phải chi trả bằng tiền đồng Việt Nam và có
thể thanh toán bằng séc hoặc lệnh trả tiền gửi qua bưu điện tới địa chỉ đã đăng ký
của cổ đông thụ hưởng và trường hợp có rủi ro phát sinh (từ địa chỉ đã đăng ký
của cổ đông) thì cổ đông đó phải chịu. Ngoài ra, các khoản tiền trả cổ tức hoặc các
khoản tiền khác được chi trả bằng tiền mặt liên quan tới một loại cổ phiếu có thể
được chi trả bằng chuyển khoản ngân hàng khi Công ty đã có thông tin chi tiết về
ngân hàng của cổ đông nhằm cho phép Công ty thực hiện được việc chuyển khoản
trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của cổ đông. Trường hợp Công ty đã chuyển
khoản theo đúng các thông tin chi tiết về ngân hàng do cổ đông cung cấp mà cổ
đông đó không nhận được tiền, Công ty không phải chịu trách nhiệm về khoản
tiền Công ty chuyển cho cổ đông thụ hưởng. Việc thanh toán cổ tức đối với các cổ
phiếu niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
có thể được tiến hành thông qua công ty chứng khoán hoặc Trung tâm Lưu ký.


PHẦN 3: LƯA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN.

I. Khái niệm
Là việc lựa chọn chính sách kế toán trong quy định của chế độ phù hợp với
chính sách quản lý, tính đặc trưng hoạt động của doanh nghệp để phù hợp với cách
thức hoạt động của doanh nghiệp đó
II.Ý nghĩa

III.Các yếu tố tác động nên chính sách kế toán
1.Trình độ kế toán
Trình độ kế ảnh hưởng tới tốc độ, cũng như độ chính xác khi xử lý thông tin
đầu vào trên tài liệu kế toán. Đồng thời, với các chính sách kế toán phức tạp cần
đòi hỏi trình độ kế toán cao. Vì vậy, trình độ kế toán là một yêu tố ảnh hưởng tới
sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp
Theo nghiên cứu của TS. Trần Đình Khôi Nguyên, các chuẩn mực kế toán quá
khó hiểu cho các doanh nghiệp vận dụng (41,8%). Thật vậy, các kế toán viên
không cần quan tâm đến nội dung chuẩn mực, vì họ cho rằng chuẩn mực kế toán
có quá nhiều khái niệm và thuật ngữ mới mẻ. Trong khi đó, họ quan tâm đến các
thông tư hướng dẫn do Bộ Tài chính ban hành vì thông tư hướng dẫn chi tiết và cụ
thể hơn. Thông thường, các thông tư hướng dẫn thường phục vụ cho mục tiêu thuế
hơn là mục tiêu kế toán. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải luôn cân nhắc mối
quan hệ giữa chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được, vì chuẩn mực kế toán khó hiểu nên
doanh nghiệp muốn vận dụng thì phải đầu tư nhiều chi phí (thuê tư vấn chẳng
hạn), nhưng kết quả đạt được là gì ?. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không công bố
báo cáo tài chính rộng rãi, không huy động vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh
thông qua thị trường chứng khoán. Chính vì vậy, yêu cầu trung thực và hợp lý của
báo cáo tài chính cũng không cần thiết.
2. Mức độ phức tạp của chuẩn mực
Theo một cuộc khảo sát trình độ học vấn các kế toán trên địa bàn ĐN, trình độ
trung cấp chuyên nghiệp (28%); trình độ đại học (20%); và sau đại học chưa đến
(3%) [14]. Từ kết quả này, có thể thấy trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của kế toán
doanh nghiệp còn khá thấp. Mức độ phức tạp của chuẩn mực càng cao càng dẩn
tới tình trạng khó hiểu cho các đối tượng áp dụng, từ đó dẩn tới hiểu sai hiểu lệch.
Một số khác lại nhằm thời cơ này hiểu nhưng giả vờ không hiểu cố ý làm sai lệch
chuẩn mực nhằm tư lợi.
3. Nhận thức, mục tiêu quản trị của chủ doanh nghiệp
Mục tiêu quản trị là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng mạnh tới chính sách kế
toán. Tùy theo cách quản trị của các chủ DN mà mổi doanh nghiệp trong cùng một
lĩnh vực lại lựa chọn chính sách kế toán cho mình khác nhau. Vì dụ: Nếu mục tiêu
của nhà quản trị là làm sao tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN, kế toán cần tìm cách
tình giá vôn, các chi phí càng cao càng có lợi. Như vậy, phương pháp tính giá
hàng tồn kho theo phương pháp FILO sẻ được ưu tiên sử dụng. hoặc nếu mục tiêu
của nhà quản trị là tối đa hóa lợi nhuận, kế toán cần lựa chọn chính sách thắt chặt
chi phí, chi phí càng thấp càng tốt.
4. Quy mô và loại hình doanh nghiệp
Quy mô: Quy mô của doanh nghiệp càng lớn, chính sách kế toán càng cần thắt
chặt hơn, các phương pháp cần phải phức tạp hơn. Phân chia công việc ra nhiều
phần ngành hơn. Sổ sách kế toán sử dụng cũng phức tạp hơn… Loại hình của
doanh nghiệp cũng tác động tới sự lựa chọn về chin sách kế toán. Các chính sách
liên quan tới khấu hao là một ví dụ cho sự lựa chọn này. Đối với DN hoạt động
trog lĩnh vực sản xuất, chính sách khấu hao máy móc phải được chú trọng hơn so
với DN thương mại
5. Ảnh hưởng của thuế
Đa số các doanh nghiệp cho rằng, thông tin trên BCTC chủ yếu cung cấp cho
nhà quản trị doanh nghiệp (trung bình =4,29); tiếp theo đó là cho cơ quan thuế
(trung bình=4,23). Ít ưu tiên nhất cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng (trung
bình = 3,43). Hay nói cách khác, thuế có ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế
toán ở các doanh nghiệp
Thuế TNDN là một khoản thuế làm ảnh hưởng nhiều tới công tác kế toán.
Thuế là một khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra dựa trên khoản lợi mà
doanh nghiệp đạt được. Là một khoản chi phí vì vậy kế toán luôn muốn là một
khoản nhỏ, vì vậy nhìn chung nếu mục tiêu trốn thuế thì DN sẻ khai bào LN thấp
để có thể giảm một phần nhỏ. Nếu nhà nước có chính sách thuế với thuế suất cao
thì doanh nghiệp có khả năng trốn thuế nhiều hơn. Và việc lựa chọn là tăng chi phí
lên là phương án lựa chọn tối ưu đó.
6. Khả năng sinh lời
Có thể nói, các doanh nghiệp khác nhau có những chính sách quản trị lợi nhuận
khác nhau, một số doanh nghiệp mong muốn “trau chuốt” BCTC của mình để từ
đó thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư trên thị trường. Tuy nhiên, một số doanh
nghiệp thì mong muốn che dấu các khoản lãi để từ đó giảm bớt chi phí thuế phải
nộp. Từ các yếu tố đó làm cho có sự khác nhau về lựa chọn chính sách trong kế
toán.
IV. Thay đổi các chính sách
Thay đổi ước tính kế toán: Là việc điều chỉnh giá trị ghi sổ của tài sản, nợ phải
trả hoặc giá trị tiêu hao định kỳ của tài sản được tạo ra từ việc đánh giá tình trạng
hiện thời và lợi ích kinh tế trong tương lai cũng như nghĩa vụ liên quan đến tài sản
và nợ phải trả đó. Những thay đổi trong ước tính kế toán do có các thông tin mới
không phải là sửa chữa các sai sót.
1. Các quy định về thay đổi chính sách kế toán
- Theo chuẩn mực 29 mục 6 thì doanh nghiệp chỉ được thay đổi chính sách kế
toán khi:
(a) Có sự thay đổi theo quy định của pháp luật hoặc của chuẩn mực kế toán và
chế độ kế toán; hoặc
(b) Sự thay đổi sẽ dẫn đến báo cáo tài chính cung cấp thông tin tin cậy và thích
hợp hơn về ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện đối với tình hình tài chính, kết
quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp.
- Những vấn đề sau đây không phải là thay đổi chính sách kế toán:
(a) Việc áp dụng một chính sách kế toán cho các giao dịch, sự kiện có sự khác
biệt về cơ bản so với các giao dịch, sự kiện đó đã xảy ra trước đây;
(b) Việc áp dụng các chính sách kế toán mới cho các giao dịch, sự kiện chưa
phát sinh trước đó hoặc không trọng yếu.
2.Áp dụng thay đổi trong chính sách
- Việc áp dụng các thay đổi trong chính sách kế toán được thực hiện trong các
trường hợp sau:
(a) Doanh nghiệp phải thực hiện thay đổi chính sách kế toán do áp dụng lần
đầu các quy định của pháp luật hoặc chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán theo các
hướng dẫn chuyển đổi cụ thể (nếu có) của pháp luật, chuẩn mực kế toán, chế độ kế
toán đó;
(b) Khi doanh nghiệp thay đổi chính sách kế toán do áp dụng lần đầu các quy
định của pháp luật hoặc chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán nhưng không có các
hướng dẫn chuyển đổi cụ thể cho sự thay đổi đó, hoặc tự nguyện thay đổi chính
sách kế toán thì phải áp dụng hồi tố chính sách kế toán mới.
3. Áp dụng hồi tố
Khi sự thay đổi chính sách kế toán được áp dụng hồi tố theo đoạn 10(a) hoặc
10(b) thì doanh nghiệp phải điều chỉnh số dư đầu kỳ các khoản mục bị ảnh hưởng
đã được trình bày trong phần vốn chủ sở hữu của kỳ sớm nhất và các số liệu so
sánh cho mỗi kỳ trước cũng phải được trình bày như thể đã được áp dụng chính
sách kế toán mới.
 Giới hạn áp dụng hồi tố
Theo quy định tại đoạn10(a) và 10(b), những thay đổi chính sách kế toán phải
được áp dụng hồi tố, trừ khi không thể xác định được ảnh hưởng cụ thể của từng
kỳ hoặc ảnh hưởng lũy kế của sự thay đổi.
Nếu tại thời điểm đầu kỳ hiện tại không thể xác định được ảnh hưởng lũy kế
của việc áp dụng chính sách kế toán mới cho tất cả các kỳ trước đó, doanh nghiệp
phải điều chỉnh hồi tố các thông tin so sánh theo chính sách kế toán mới cho kỳ
sớm nhất mà doanh nghiệp có thể thực hiện được.
Khi không thể áp dụng hồi tố một chính sách kế toán mới do không thể xác
định được ảnh hưởng lũy kế của việc áp dụng chính sách kế toán đó cho tất cả các
kỳ trước đó, thì theo quy định tại đoạn 13, doanh nghiệp phải áp dụng hồi tố chính
sách mới kể từ kỳ sớm nhất mà doanh nghiệp có thể thực hiện áp dụng hồi tố. Việc
thay đổi chính sách kế toán vẫn được thực hiện ngay cả khi không thể áp dụng hồi
tố cho các kỳ trước. Những hướng dẫn khi không thể áp dụng chính sách kế toán
mới đối với một hoặc nhiều kỳ trước được quy định từ đoạn 30 đến 33.
4.Trình bày về thay đổi chính sách kế toán
Khi áp dụng lần đầu một chính sách kế toán có ảnh hưởng đến kỳ hiện tại, một
kỳ nào đó trong quá khứ hoặc các kỳ trong tương lai, doanh nghiệp phải trình bày
những thông tin sau:
(a) Tên chính sách kế toán;
(b) Hướng dẫn chuyển đổi chính sách kế toán;
(c) Bản chất của sự thay đổi chính sách kế toán;
(d) Mô tả các qui định của hướng dẫn chuyển đổi (nếu có);
(e) Ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách kế toán đến các kỳ trong tương
lai (nếu có);
(f) Các khoản được điều chỉnh vào kỳ hiện tại và mỗi kỳ trước, như:
- Từng khoản mục trên báo cáo tài chính bị ảnh hưởng;
- Chỉ số lãi trên cổ phiếu nếu doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán
“Lãi trên cổ phiếu”;
(g) Khoản điều chỉnh cho các kỳ trước của kỳ được trình bày trên báo cáo
tài chính;
(h) Trình bày lý do và mô tả chính sách kế toán đó được áp dụng như thế
nào và bắt đầu từ khi nào nếu không thể áp dụng hồi tố theo quy định của
đoạn 10(a) hoặc 10(b) đối với một kỳ nào đó trong qúa khứ, hoặc đối với
kỳ sớm nhất.
Báo cáo tài chính của các kỳ tiếp theo không phải trình bày lại các thông tin
này.
Khi chính sách kế toán được doanh nghiệp tự nguyện thay đổi có ảnh hưởng
đến kỳ hiện tại hoặc một kỳ kế toán nào đó trong qúa khứ hoặc các kỳ trong tương
lai, doanh nghiệp phải trình bày những thông tin sau:
(a) Bản chất của sự thay đổi chính sách kế toán;
(b) Lý do của việc áp dụng chính sách kế toán mới đem lại thông tin đáng
tin cậy và phù hợp hơn;
(c) Các khoản được điều chỉnh vào kỳ hiện tại và mỗi kỳ trước như:
- Từng khoản mục trên báo cáo tài chính bị ảnh hưởng; và
- Chỉ số lãi trên cổ phiếu nếu doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán
“Lãi trên cổ phiếu”;
(d) Khoản điều chỉnh liên quan đến các kỳ sớm nhất;
(e) Nếu việc áp dụng hồi tố theo yêu cầu của đoạn 10(a) hoặc 10(b) là
không thể thực hiện được đối với một kỳ nào đó trong qúa khứ, hoặc kỳ
trước kỳ trình bày, thì phải trình bày lí do và mô tả chính sách kế toán đó
được áp dụng như thế nào và bắt đầu từ khi nào.
Báo cáo tài chính của các kỳ tiếp theo không phải trình bày lại các thông tin
này.
Trình bày về thay đổi ước tính kế toán
Doanh nghiệp phải trình bày tính chất và giá trị của các thay đổi ước tính kế
toán có ảnh hưởng đến kỳ hiện tại, dự kiến ảnh hưởng đến các kỳ trong tương lai,
trừ khi không thể xác định được thì phải trình bày lý do.
Trình bày sai sót của các kỳ trước
Khi thực hiện quy định tại đoạn 23, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin
sau:
(a) Bản chất của sai sót thuộc các kỳ trước;
(b) Khoản điều chỉnh đối với mỗi kỳ trước trong báo cáo tài chính:
- Từng khoản mục trên báo cáo tài chính bị ảnh hưởng;
- Chỉ số lãi trên cổ phiếu nếu doanh nghiệp áp dụng Chuẩn mực kế toán
“Lãi trên cổ phiếu”;
(c) Giá trị điều chỉnh vào đầu kỳ của kỳ lấy số liệu so sánh được trình bày
trên báo cáo tài chính;
(d) Nếu không thực hiện được điều chỉnh hồi tố đối với một kỳ cụ thể trong
qúa khứ, cần trình bày lý do, mô tả cách thức và thời gian sửa chữa sai sót.
5.Ví dụ về sự điều chỉnh và trình bày sự thay đổi chính sách kế toán

PHẦN 4: LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÌ QUẢN TRỊ LỢI
NHUẬN.

I. LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÌ MỤC TIÊU QUẢN TRỊ LỢI
NHUẬN
1. Quản trị lợi nhuận là gì?
Quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị
DN nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán. Kế toán theo cơ
sở dồn tích mang lại cơ hội tiềm tàng, đầu tiên cho hành vi này của nhà quản trị,
trong khi kế toán theo cơ sở tiền giúp cho nhà nghiên cứu “khám phá” hành vi và
mức độ điều chỉnh mức độ lợi nhuận của họ.
2. Kế toán theo cơ sở dồn tích và cơ sở tiền
2.1 Cơ sở dồn tich
Cơ sở kế toán dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi
phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp(DN). Theo đó,
mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu,
danh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan
tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (chuẩn mực kế toán số 01, 2002). Vì
việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận
của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính
yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN. Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần
chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói chung và BCKQKD nói
riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung
thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho phép tình trạng tái sản, nguồn
vốn của một DN một cách đầy đủ, hợp lý. Hơn nữa, do không có sự trùng hợp
giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí
ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép
theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả,
khấu hao, dự phòng,...
Bên cạnh những ưu điểm, kế toán theo cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ
theo yêu cầu khách quan trong kế toán. Ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa
vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà dựa vào thời điểm giao dịch phát
sinh, số liệu trên BCTC thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà kế toán. Chẳng
hạn, việc phân bổ nhiều loại chi phí hay ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện
trong hoạt động xây lắp thể hiện những hành động (vô hình), mang tính chủ quan
của nhà kế toán.
2.2 Cơ sở tiền
Ngược lại với kế toán theo cơ sở dồn tích, kế toán theo sơ sở tiền chỉ cho phép
ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền. Nếu lợi nhuận
được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
trong một kỳ sẽ bằng nhau. Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay chỉ được
sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (đặc biệt là báo cáo lưu chuyển tiền tệ
được lập theo phương pháp trực tiếp).
Kế toán theo cơ sở tiền có một ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình
thông tin trong BCTC. Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “hữu hình”, số
tiền và ngày thu, chi tiền được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ý
muôn chủ quan của nhà quản trị DN.
3. Mục đích điều chỉnh lợi nhuận
Mục đích: tăng giá cổ phiếu, được thưởng công ty, giảm thiểu chi phí thuế
TNDN, hưởng lợi tối đa từ việc ưu đãi thuế hoặc có thể mang lại lợi ích cho bản
thân người làm kế toán ...
4. Lựa chọn chính sách kế toán trong điều chỉnh lợi nhuận
Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, từ đó, việc ghi nhận doanh
thu và chi phí có tính quyết định đến lợi nhuận báo cáo trong một kỳ nào đó. Chế
độ kế toán hiện hành quy định rằng kế toán DN phải được thực hiện theo cơ sở
dồn tích. Kinh tế theo cơ sở dồn tích mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện
hành động điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được một mục tiêu nào đó, vì chế độ kế
toán cũng đưa ra nhiều lựa chọn cho mỗi loại giao dịch (đối tượng) có liên quan
đến ghi nhận doanh thu và chi phí
4.1 Lựa chọn chính sách điều chỉnh lợi nhuận.
a. Lựa chọn chính sách kế toán điều chỉnh chi phí
Chính sách kế toán đối với hàng tồn kho
Chính sách đối với tính giá thành sản phẩm: Lựa chọn phương pháp tính giá
thành sản phầm và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có thể làm thay ñổi
giá thành sản phẩm, từ đó có thể ñiều chỉnh giá vốn hàng bán.
Chính sách đối với xác định giá trị hàng xuất kho: Lựa chọn phương pháp
tính giá hàng xuất kho có thể làm thay đổi giá vốn hàng bán trong kỳ.
Chính sách lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Thay đổi giá bán và chi phí
ước tính để thay đổi mức lập dự phòng, điều chỉnh chi phí trong kỳ.
Chính sách lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: Có thể chỉ trích lập dự
phòng ít hơn mức cần thiết hoặc tăng mức trích lập dự phòng hơn mức cần thiết để
điều chỉnh chi phí và lợi nhuận.
Chính sách về phân bổ chi phí trả trước: Lựa chọn số kỳ phân bổ sẽ chủ
động điều chỉnh chi phí của từng kỳ.
Ghi nhận chi phí phải trả, dự phòng phải trả, quỹ dự phòng trợ cấp mất
việc làm: Lựa chọn về mức trích lập, hoàn nhập thông qua các giá trị ước tính từ
đó có thể làm điều chỉnh chi phí của công ty.
Chính sách về kế toán TSCĐ
Chính sách ghi nhận TSCĐ : Dựa vào tiêu chuẩn ghi nhận tài sản để điều chỉnh
việc ghi nhận là tài sản hay một khoản chi phí.
Chính sách khấu hao TSCĐ: Lựa chọn phương pháp khấu hao hoặc ước tính
thời gian sử dụng hữu ích của tài sản để điều chỉnh chi phí.
Chính sách sửa chữa TSCĐ: Lựa chọn quy mô, tính chất sửa chữa và số kỳ
trích trước hoặc phân bổ để điều chỉnh chi phí.
Chính sách về thanh lý TSCĐ: Lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý tài sản
để điều chỉnh doanh thu, chi phí. Lựa chọn chính sách kế toán điều chỉnh doanh
thu
b. Các chính sách kế toán liên quan tới doanh thu
Kế toán ghi nhận doanh thu (thu nhập) chủ yếu dựa vào nguyên tắc phù hợp,
thận trọng, cơ sở dồn tích, còn thuế ghi nhận doanh thu chủ yếu dựa vào tính hợp
pháp, hợp lý. Điều này sẽ dẫn ñến một số khoản doanh thu, thu nhập ñược ghi
nhận theo kế toán và thuế giống nhau, nhưng cũng có một số khoản doanh thu, thu
nhập được ghi nhận theo quy định của kế toán thì lại không được ghi nhận theo
quy định của thuế và ngược lại
c. Các chính sách kế toán khác.
Kỹ thuật quản trị lợi nhuận thông qua chính sách giá và tín dụng: Nới lỏng
chính sách bán hàng trả chậm hoặc công bố tăng giá kỳ sau sẽ làm tăng doanh thu
kỳ này.
Cắt giảm một số chi phí: Cắt giảm một số chi phí không cần thiết ñể tăng lợi
nhuận.
Trì hoãn hay thúc ñẩy thanh lý các khoản ñầu tư không hiệu quả: Đối với các
khoản ñầu tư không hiệu quả thường mang lại một khoản lỗ nếu như thanh lý, trì
hoãn hay thúc ñẩy việc thanh lý sẽ tác ñộng ñến lợi nhuận trong kỳ.
Làm giảm chi phí bằng cách “vốn hoá”: Việc xác ñịnh thời ñiểm bắt ñầu vốn
hóa, thời ñiểm tạm ngừng vốn hóa, thời ñiểm chấm dứt việc vốn hóa cũng có ảnh
hưởng không nhỏ ñến chỉ tiêu lợi nhuận.
Ước lượng phần trăm hoàn thành công việc trong ghi nhận doanh thu: Sự thay
ñổi trong phần trăm tiến ñộ hoàn thành công việc có thể tác ñộng doanh thu của
công ty
4.2 Vận dụng các phương pháp kế toán
Chế độ kế toán cũng cho phép DN được phép vận dụng các phương pháp kế
toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí. Nhà quản trị quyết định
chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một số loại chi phí sẽ làm giảm (hoặc
tăng) chi phí của niên độ hiện hành. Các loại chi phí có thể chuyển dịch thời điểm
ghi nhận bao gồm: chi phí bảo hiểm hỏa hoạn, giá trị công cụ, dụng cụ phân bổ
nhiều kỳ, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành
sản phẩm. Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào niên độ phát sinh hoặc
phân bổ cho một số kỳ (dựa vào nguyên tắc phù hợp).
Lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và các ước tính các
khoản chi phí, doanh thu: Nhà quản trị DN có thể lựa chọn thời điểm và cách thức
ghi nhận các sự kiện có liên quan đến chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ. Chẳng hạn, thời
điểm và mức dự phòng cần lập của hàng tồn kho, của chứng khoán và phải thu khó
đòi; thời điểm các khoản dự phòng này được hoàn nhập hay xóa sổ và mức hoàn
nhập. DN cũng có thể ước tính (trích trước) một số chi phí như chi phí bảo hành
sản phẩm, chi phí bảo hành công trình xây lắp, ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng
xây lắp và cung cấp dịch vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí, ước tính tỷ lệ lãi
suất ngầm ẩn của hợp đồng thuê tài sản để vốn hóa tiền thuê trong một hợp đồng
thuê tài chính. Ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ cũng có thể được
thực hiện để điều chỉnh chi phí khấu hao (mặc dù phạm vi không lớn).
Lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định: Lựa chọn thời điểm
mua hay thanh lý, nhượng bán tài sản cố định cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế
toán. Nhà quản trị DN có thể quyết định khi nào và mức độ các chi phí quảng cáo,
chi phí sửa chữa, nâng cấp cải tạo tài sản cố định được chi ra. Nhà quản trị cũng có
thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán tài sản cố định để đẩy nhanh hoặc
làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗ hoạt động khác. Đẩy nhanh hay
làm chậm lại việc gửi hàng cho khách hàng vào thời điểm gần cuối niên độ cũng
có ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận báo cáo trong kỳ.
PHẦN 5: MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH VÀ
GIAN LẬN.
I. KHÁI NIỆM

II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ GIAN
LẬN
1. Mối quan hệ giữa lựa chọn chính sách kế toán và gian lận

2. Một số trường hợp gian lận trong việc lựa chọn chính sách kế toán.
2.1 Gian lận liên quan tới doanh thu
a. Gian lận giảm doanh thu
 Công ty cổ phần Sinh Lợi:
Công ty CP Sinh Lợi trụ sở 189 Hoàng Văn Thụ- Phú Nhuận- TP Hồ Chí Minh
bán hàng không xuất hóa đơn. Cơ quan liên quan tiến hành kiểm tra phát hiện một
khoản doanh thu lên tới hơn 1,1 tỷ đồng không không có hóa đơn GTGT và để
ngoài sổ sách 200 triệu đồng. Cơ quan chức năng còn phát hiện tại công ty có 3
người nước ngoài làm việc không có hồ sơ rỏ rang, không có giấy phép. Ngoài ra,
còn phát hiện ra rằng, công ty tự ý in hóa đơn thu chi nhưng không đăng ký với cơ
qua chức năng có liên quan.
Như vậy, mục đích chính của công ty này là trốn các loại thuế, các loại phí…
liên quan. Vì vậy, công ty không đăng ký việc in hóa đơn, không xuất hóa đơn
GTGT khi bán hàng. Không ghi nhận một số khoản thu hợp lý, hợp lệ.
 Công ty CP tập đoàn Đức Long Gia Lai (DLG)
Báo cáo sau soát xét có nhiều khác biệt so với báo cáo DLG tự lập. Đặc biệt,
sau soát xét, lãi sau thuế của CĐ công ty mẹ 6 tháng của DLG chỉ còn 3,08 tỷ
đồng, giảm 83,33% so với trước soát xét.
Ngày 27/9/2012, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai (DLG) đã giải
trình KQKD theo yêu cầu tại công văn của HoSE về số liệu trên báo cáo bán niên
hợp nhất có soát xét.
Báo cáo sau soát xét có nhiều khác biệt so với báo cáo DLG tự lập. Đặc biệt,
sau soát xét, lãi sau thuế của cổ đông công ty mẹ 6 tháng của DLG chỉ còn 3,08 tỷ
đồng, giảm 83,33% so với con số trước soát xét (11,32 tỷ đồng)
Vấn đề được các nhà đầu tư quan tâm nhất vẫn là nguyên nhân giảm lãi sau
soát xét với con số 8,24 tỷ đồng. Giải trình vấn đề này, DLG cho biết có những
nguyên nhân như sau :
Một là, số liệu trên BCTC riêng của công ty mẹ và của các công ty con sau
soát xét có sự thay đổi so với trước soát xét. Sự thay đổi số liệu chủ yếu do các
công ty chưa hạch toán đầy đủ chi phí lãi vay dự trả 24,63 tỷ đồng, lãi dự thu
18,71 tỷ đồng và chưa trích lập dự phòng đối với các khoản đầu tư dài hạn tại công
ty mẹ số tiền 4,2 tỷ đồng. Điều chỉnh theo những sự thay đổi này, lãi sau thuế
giảm 9,16 tỷ đồng.
Hai là, các bút toán điều chỉnh hợp nhất chưa soát xét có sự nhầm lẫn và hạch
toán chưa đầy đủ. Nguyên nhân được DLG cho biết công ty thay đổi nhân viên kế
toán theo dõi và lập BCTC hợp nhất, nhân viên này thiếu kinh nghiệm nên đã có
những sai sót nói trên.
Công ty đã loại trừ sai và thiếu bút toán liên quan đến hàng hóa xây dựng các
công trình xây dựng cơ bản dở dang trong nội bộ tập đoàn. Sau khi điều chỉnh
đúng các chỉ tiêu này, doanh thu tăng 3,37 tỷ đồng và giá vốn giảm 2,5 tỷ đồng.
Việc điểu chỉnh các bút toán liên quan đến việc trích lập dự phòng đầu tư tài chính
dài hạn làm tăng khoản mục chi phí tài chính 2,42 tỷ đồng.
HoSE đồng thời yêu cầu DLG giải trình nguyên nhân công ty hợp nhất/không
hợp nhất các công ty con. Trong đó có công ty con là công ty CP Điện Đức Long
Tà Nung Đà Lạt. DLG cho biết công ty con này chưa đi vào hoạt động và đã giải
thể vào tháng 4/2012, do đó DLG không hợp nhất Điện Đức Long. Điện Đức
Long giải thể tháng 4/2012, nhưng DLG vẫn không công bố thông tin. Về vấn đề
này, DLG cam kết sẽ thực hiện đúng quy định trong những lần sau.
Về các khoản vay cá nhân ngắn và dài hạn trị giá lần lượt 3,5 tỷ đồng và 32,5
tỷ đồng, DLG cam kết các cá nân này không có bất kỳ mối quan hệ nào liên quan
đến các thành viên HĐQT, Ban TGĐ, BKS và các cán bộ quản lý. Đây chỉ là các
cá nhân có quan hệ trong kinh doanh, trong kỳ chưa thanh toán dứt điểm công nợ
nên chuyển sang cho vay.
 Công ty Tổng Công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí-CTCP
Kết quả 6 tháng 2012 PVE lãi 13,01 tỷ đồng, trong đó lãi của cổ đông công ty
mẹ đạt 12,77 tỷ đồng, tăng 594 triệu đồng so với báo cáo trước soát xét.
Tổng Công ty Tư vấn Thiết kế Dầu khí-CTCP (PVE) công bố báo cáo bán niên
hợp nhất có soát xét.
So với báo cáo trước soát xét, báo cáo sau soát xét của PVE có một số chênh
lệch đáng lưu ý sau :
- Doanh thu thuần 6 tháng đầu năm đạt 185,06 tỷ đồng, tăng 3,56 tỷ đồng so
với báo cáo trước soát xét. Nguyên nhân là do kiểm toán đề nghị ghi tăng doanh
thu cho một số dự án đã hoàn thành khối lượng công việc nhưng chưa phát hành
hóa đơn cho chủ đầu tư. Tương ứng, giá vốn cũng được ghi tăng 2,54 tỷ đồng.
- Chi phí quản lý DN đạt 23,53 tỷ đồng, tăng 926 triệu đồng.
- Doanh thu khác tăng khác tăng 1,32 tỷ đồng.
Kết quả 6 tháng 2012 PVE lãi 13,01 tỷ đồng, trong đó lãi của cổ đông công ty
mẹ đạt 12,77 tỷ đồng, tăng 594 triệu đồng so với báo cáo trước soát xét.
Mặc dù lãi 17,41 tỷ đồng trước thuế, nhưng 6 tháng đầu năm 2012 PVE phải
chi những khoản lớn để trả các khoản nợ và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, dòng
tiền kinh doanh của công ty bị âm 110 tỷ đồng
b. Gian lận tăng doanh thu
Là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hoá hay cung cấp dịch
vụ không có thực. Kỹ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo
thông qua lập chứng từ giả mạo nhưng hàng hóa không được giao và đầu niên độ
sau sẽ lập bút toán hàng bán bị trả lại,
Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các nhân
tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán… hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều
kiện giao hàng chưa hoàn tất, chưa chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với
hàng hoá – dịch vụ được bán. Sau đây là một số ví dụ liên quan tới gian lận ghi
tăng doanh thu:
2.2Gian lận liên quan tới chi phí
Công ty cổ phần SIMCO sông Đà (SDA)
Theo báo cáo công tác soát xét báo cáo tài chính tổng hợp giữa niên độ của
công ty TNHH kiểm toán và đinh giá Việt Nam tại doanh nghiệp này. Theo Công
ty TNHH kiểm toán Việt Nam, công ty này đã tiến hành soát xét BCTC tổng hợp
giữa niên độ, bao gồm bảng CĐKT tổng hợp, BC hoạt động kinh doanh, BC lưu
chuyển tiền tệ, giữa niên độ cho kỳ hoạt động 01/01/2012 đến ngày 30/06/2012.
Theo kết quả mà kiểm toán nhận được, kiểm toán không có thông tin về các công
ty đầu tư vào công ty SDA đó là: Công ty a Công ty Cổ phần Rượu Việt Nam
Thụy Điển; Công ty Cổ phần Sắt Thạch Khê; Công ty Cổ phần Cao su Phú Riềng -
Kratie; Công ty Cổ phần Đầu tư Vĩnh Sơn; Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển khu
kinh tế Hải Hà và Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Đô thị và Khu công nghiệp
Sông Đà Miền Trung với giá trị các khoản đầu tư là 25.979.000.000 đồng. Do đó,
kiểm toán không thể xem xét được khoản trích dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn
đối với các khoản đầu tư dài hạn trên. Bên cạnh đó, kiểm toán cũng không thể xác
nhận được khoản doanh thu cũng như chi phí liên quan tới dự án kết cấu hạ tầng
đô thị hai bên đường bao phía tây Hà Tĩnh.
Để giải trình cho điều này, ban quản trị công ty đã họp và đưa ra văn bản giải
trình có nội dung như sau:
“Công ty cổ phần SIMCO Sông Đà (Mã chứng khoán SDA) xin giải trình về ý
kiến ngoại trừ của kiểm toán tại Báo cáo tài chính tổng hợp giữa niên độ đã được
soát xét cho kỳ hoạt động từ ngày 01/01/2012 đến 30/06/2012 . Cụ thể :
Về việc cung cấp Báo cáo Tài chính của các Công ty liên kết và Công ty do
đơn vị đầu tư góp vốn dài hạn khác cho Công ty kiểm toán tại thời điểm soát xét
báo cáo tài chính bán niên năm 2012 đơn vị xin được báo cáo như sau:
Công ty cổ phần Rượu Việt Nam Thuỵ Điển (công ty liên kết ) do đơn vị này
chưa nộp báo cáo cho Công ty , mặc dù đã đôn đốc nhắc nhở nhiều lần.
Công ty cổ phần đầu tư Vĩnh Sơn đơn vị mua 210.000 cổ phần tương ứng với
số tiền góp vốn để thành lập công ty là 2,1 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 0,82% vốn điều lệ
và chiếm 1,6 % số vốn thực góp (131,6 tỷ đồng) tại thời điểm 31/12/2011. Công ty
Công ty cổ phần Đầu tư PT ĐT và KCN Sông Đà Miền Trung đơn vị mua 50.000
cổ phần tương ứng với số tiền góp vốn để thành lập công ty là 500 triệu đồng
chiếm tỷ lệ 0,5 % vốn điều lệ và chiếm 0,54 % số vốn thực góp (91 tỷ đồng) tại
thời điểm 31/12/2011. Hiện nay hai đơn vị này đang trong giai đoạn thực hiện đầu
tư dự án và đơn vị tham gia góp vốn với tỷ lệ nhỏ nên theo các văn bản quy định
của pháp luật thì đơn vị chưa đủ điều kiện có quyền được xem xét và trích lục báo
cáo Tài chính giữa năm và hàng năm (điểm b mục 2 điều 79 Luật doanh nghiệp số
60/2005/ QH11) và chỉ có thể được biết Báo cáo tài chính năm khi đơn vị đó tổ
chức đại hội cổ đông thường niên.
Còn Công ty cổ phần sắt Thạch Khê, Công ty cổ phần Cao su Phú Riềng, Công
ty cổ phần Đầu tư phát triển khu kinh tế Hải Hà, đơn vị đầu tư góp vốn theo hình
thức hợp đồng uỷ thác đầu tư cho Tập đoàn Sông Đà với tổng số vốn tham gia góp
là 5,159 tỷ đồng và cũng tương tự như hai Công ty cổ phần đầu tư Vĩnh Sơn và
Công ty cổ phần Đầu tư PT ĐT và KCN Sông Đà Miền Trung mà đơn vị đã nêu ở
trên cũng không thể có được Báo cáo Tài chính giữa năm và hàng năm theo yêu
cầu.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, do vậy Công ty chưa có đủ cơ sở để tính
toán lại số liệu trích lập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn tại thời điểm 30/6/2012
so với số liệu đã trích lập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn tại thời điểm
31/12/2011.
Về tài liệu cung cấp cho kiểm toán để ghi nhận doanh thu của Dự án kết cấu hạ
tầng đô thị hai bên đường bao phía tây thị xã Hà Tĩnh : Đơn vị căn cứ vào số tiền
đã thu được từ UBND thành phố Hà Tĩnh tạm thanh toán chi phí xây dựng và
thanh toán 80% số tiền do hiệu quả đầu tư mang lại mà đơn vị được hưởng theo
Hợp đồng đầu tư đã ký với thành phố Hà Tĩnh. Đồng thời giá vốn được xác định
tỷ lệ tương ứng với số tiền đã thu được.”
Nếu đứng trên cương vị là một kiểm toán viên tham gia trong cuộc kiểm toán,
tôi xin trình bày một số đề xuất như sau:
Đối với các khoản đầu tư của các công ty có danh sách trên, phải kiểm tra hợp
đồng liên quan tới các công ty đó với khách thể kiểm toán. Bao gồm hô sơ về công
ty đầu tư, hợp đồng ký kết giữa 2 công ty, dấu tích để lại trên hợp đồng. Đồng thơi
là các chứng từ phát sinh khi có sự đầu tư này, quá trình theo dỏi của doanh
nghiệp về những khoản đầu tư này của khách thể kiểm toán.
Gửi thư nhờ xác nhận của bên đầu tư vào SDA theo phương pháp noblank.
Kiểm tra tài liệu thông qua phương pháp phân tích thông tin liên quan; khi các
công ty này đầu tư vào doanh nghiệp theo hình thức nào: nếu là cổ phiếu thì xem
xét thêm nguồn vốn có đồng thời ghi tăng thêm, đồng thời đó là một khoản tiền
tăng thêm về khoản đầu tư (nếu có).
Đối với doanh thu và chi phí liên quan tới dự án kết cấu hạ tầng đô thị hai bên
đường bao phía tây Thị xã Hà Tĩnh, kiểm toán viên có thể xác nhận khoản thu
80% giá trị công trình bằng các hóa đơn liên quan hoặc gửi thu xác nhận cho bên
trả tiền là ủy ban thành phố Hà Tĩnh. Các khoản chi phí cần kiểm tra số lieu bằng
cách chọn mẫu rồi tiến hành thu thập thông tin.
Công ty Cổ phần Sông Đà 10 (SDT)
Công ty Cổ phần Sông Đà 10 là đơn vị thành viên của Tổng công ty Sông Đà-
Bộ Xây dựng. Tiền thân là Công ty Xây dựng Công trình Ngầm được thành lập
theo quyết định số 54/BXD-TCCB ngày 11/2/1981 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Theo BCTC 6 tháng đầu năm 2012, hoạt động của công ty tương đối tốt trong
điều kiện kinh tế như hiện nay. Sau khi phân phối lợi nhuận cho cổ đông thiểu số,
phần lãi dành cho cổ đông công ty mẹ 6 tháng đầu năm 2012 của SDT đạt 34,7 tỷ
đồng, tăng 3,5 tỷ đồng so với báo cáo trước soát xét.
Trước khi có sự soát xét, khi kiểm tra BCTC, KTV đã có những nhận xét về 2
khoản mục trọng yếu trên BCTC. Thứ nhất, trong phần chi phí phải trả 62,9 tỷ
đồng tại 30/6/2012 có 18,3 tỷ đồng tại công ty con (Công ty Cổ phần Sông Đà
10.1 – mã SNG) là chi phí nguyên liệu và các khản chi phí khác được ghi nhận
trên cơ sở biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành đối với các công trình đã
ghi nhận doanh thu nhưng chưa ghi nhận đủ chi phí vì chưa có hóa đơn của nhà
cung cấp. Vì vậy tính trung thực và hợp lý của các khoản chi phí này còn tùy
thuộc vào chứng từ gốc thanh toán sau này. Thứ hai, theo ý kiến kiểm toán, khoản
phải thu Ban điều hành Xêcaman 1 tương ứng với khoản doanh thu cung cấp dịch
vụ xây lắp, phải được hạch toán vào khoản “phải thu khách hàng”. Tuy nhiên SDT
đã hạch toán khoản thu trị giá 38,2 tỷ đồng này vào “phải thu khác”, chưa phù hợp
với quy định của chế độ kế toán hiện hành.
Như vậy nếu hạch toán theo ý kiến của kiểm toán đưa ra, số dư phải thu khách
hàng của SDT cuối quý 2/2012 sẽ là 782 tỷ đồng, tăng 30% so với số dư đầu năm.
Báo cáo sau soát xét, lãi sau thuế của SDT giảm 1,1 tỷ đồng do khoản ghi giảm
doanh thu tài chính. Tuy nhiên, sau khi phân phối lợi nhuận cho cổ đông thiểu số,
phần lãi dành cho cổ đông công ty mẹ 6 tháng đầu năm 2012 của SDT đạt 34,7 tỷ
đồng, tăng 3,5 tỷ đồng so với báo cáo trước soát xét.
2.3Gian lận một số chỉ tiêu liên quan trên BCTC
Công ty PVI-Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
Kết thúc quý 3/2012, PVI báo lãi hợp nhất sau thuế 82,68 tỷ đồng, giảm 31,9%
so với quý 3/2011. Lũy kế 9 tháng, PVI lãi 317,73 tỷ đồng, tương ứng 55,14% kế
hoạch lợi nhuận cả năm.
Doanh thu thuần quý 3/2012 của PVI đạt 1.260,5 tỷ đồng, tăng nhẹ so với cùng
kỳ 2011. Doanh thu phí bảo hiểm gốc tiếp tỷ trọng chủ yếu trong tổng doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ của PVI quý 3/2012 với 84,2%. Lãi gộp của PVI
giảm nhẹ so với quý 3/2011.
Doanh thu tài chính quý 3/2012 đạt 213,46 tỷ đồng, tăng gần 20% so với cùng
kỳ 2011, trong đó doanh thu từ lãi tiền gửi và cho vay đạt trên 139 tỷ đồng.
Đáng chú ý là dư tiền và tương đương tiền cuối quý 3 lên tới 4.341 tỷ đồng,
tăng mạnh so với mức 686 số dư đầu năm.
Nếu xét từ đầu năm tới nay, số dư khoản mục này trên BCTC đầu năm 2012 là
trên 88 tỷ, cuối năm quý 3 đã lên tới con số 4341 tỷ, như vậy nó tăng
4.252.913.301.000 tương ứng với tốc độ tăng trưởng là 4811,267%. Trong khi
doanh thu không tăng bao nhiêu, khoản phải thu không có số liệu đối chiếu, nhưng
đây quả thực là một điều mà kiểm toán viên nếu kiểm toán cần chú trọng xem xét.




Để giải thích cho sự tăng trưởng trên, công ty này giải trình trên thuyết minh
về khoản mục này như sau: do trong 9 tháng, PVI đã rút khá nhiều khoản đầu tư
tài chính ngắn hạn làm giảm số dư từ 4.182 tỷ đồng đầu năm còn 2.613 tỷ đồng
cuối quý 3/2012. Cụ thể:




Về số dư khoản ủy thác đầu tư cuối quý 3/2012 với 196,4 tỷ đồng, PVI cho
biết đó là số dư ủy thác cho vay có chỉ định mục đích sử dụng qua các ngân hàng.
Tại ngày 30/9/2012, khoản ủy thác này đã quá hạn trả một phần gốc và lãi, PVI đã
trích lập dự phòng với 153,61 tỷ đồng cho khoản gốc và lãi khó đòi này trong đó
113,74 tỷ đồng là dự phòng ủy thác đầu tư và 39,87 tỷ đồng dự phòng phải thu
ngắn hạn khó đòi.
So với con số trích lập đến cuối quý 2, PVI đã trích lập thêm 11,66 tỷ đồng
trong quý 3/2012 cho khoản ủy thác đầu tư này.
Cuối quý 3/2012, số dư phải trả cho Tập đoàn dầu khí Việt Nam PVN lên tới
1.149,8 tỷ đồng, so với 142,4 tỷ đồng số dư đầu năm. Theo thuyết minh, đây là
khoản phải trả bao gồm cổ tức, lãi và vốn ủy thác phải trả cho PVN theo hợp đồng
ngày 12/3/2012 là 850 tỷ đồng, thời hạn ủy thách dưới 12 tháng, lãi suất điều
chỉnh 3 tháng/lần.
Biện pháp xác nhận:
Để xác nhận các khoản tiền: Cần xem xét trên BC lưu chuyển tiền tệ, các dòng
thu chi từ các hoạt động liên quan. Thu từ hoạt động kinh doanh, thu khác…
nhưng cần chú trọng nhất dòng thu từ đầu tư. Các khoản thu phải chắc chắn rằng
tất cả đều phải có chứng từ hợp lý hợp lệ liên quan (các hóa đơn, các phiếu thu,
phiếu chi, các chứng từ gốc khác đính kèm…), phải có xác nhận (chử ký, dấu
tích…) để lại trên các chứng từ và xem xét nó có đúng với thực tế hay không.
Chọn các nghiệp vu tiêu biểu, các nghiệp vụ trước đó chưa có số phát sinh ở các
kỳ trước hay phát sinh nhiều ở kỳ này và gửi thư xác nhận đề nghị bên giao dịch
với công ty ký xác nhận.
 Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm
Công ty cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm cổ phần hóa từ năm 2004. Là một
trong số hơn một vạn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư phát triển,
khai thác các dự án khu đô thị mới tại Việt Nam hiện nay.
Trong quý 3 năm 2012, trong khi hầu hết các doanh nghiệp ngành bất động sản
đều nặng nỗi lo doanh thu thuần thì NTL vẫn đạt tăng trưởng DT thuần lần lượt
34,8% và 12% so với cùng kỳ.
Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm (NTL) thông báo kết quả kinh
doanh hợp nhất quý 3 và 9 tháng đầu năm 2012.
Trong khi báo cáo riêng công ty mẹ vẫn có lãi 7,41 tỷ đồng quý 3 thì báo cáo
hợp nhất NTL bất ngờ báo lỗ 1,93 tỷ đồng trong đó phần lỗ thuộc cổ đông công ty
mẹ là 2,21 tỷ đồng. Cùng kỳ công ty lãi ròng 21,07 tỷ đồng.
Lũy kế 9 tháng, NTL lãi 18,9 tỷ đồng, giảm mạnh 73,86% so với mức 72,34 tỷ
đồng 9 tháng năm 2011.
Nỗi lo của NTL nằm ở khoản mục chi phí tài chính quý 3 lên đến 24,49 tỷ
đồng trong khi cùng kỳ vỏn vẹn 105 triệu đồng. Theo thuyết minh BCTC thì đây
là khoản dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, dài hạn và lỗ từ thanh lý tài sản tại
CTCP Lideco 3. Đồng thời với nó là khoản chi phí khác phát sinh nhưng trong
thuyết minh báo cáo không có sự giải thích rỏ về vấn đề này.
Theo thông tin từ bảng báo cáo hoạt động kinh doanh cho thấy doanh thu quý 3
năm 2012 đạt trên 136 tỷ đồng tăng so với cùng kỳ năm trước hơn 36 tỷ tương ứng
với tốc độ tăng là 34,8 %. Trong xem xét về giá vôn, quý 3 năm nay tăng tương
ứng với tốc độ tăng là 29,43 %, theo thuyết minh BCTC chi phí về giá vốn và
doanh thu cùng kỳ năm nay tăng so với năm ngoái là do doah nghiệp có thêm hoạt
động kinh doanh BĐS, vì vậy công ty cần làm rỏ hoạt động mới này của doanh
nghiệp. Đồng thời với hoạt động đầu tư thì doanh thu hoạt đồng xây lắp giảm
mạnh từ trên 88 tỷ đồng rơi xuống chỉ đạt trên 12 tỷ đồng năm nay. Như vậy, tốc
độ tăng về doanh thu cao hơn nhiều sơ với tốc độ tăng về giá vốn.
KTV nên xem xét vào khoản tài chính. Nếu phân tích chúng ta thấy rằng doanh
thu tài chính năm nay đạt 3,301 tỷ đồng giảm mạnh so với nam ngoái là 22,458 tỷ
đồng trong khi đó chi phí tài chính năm nay đạt 24,489 tỷ đồng cao hơn nhiều so
với cùng kỳ năm trước 105 triệu đồng. Từ thuyết minh BCTC chúng ta thấy một
khoản thu về tiền lãi năm nay đã giảm nhiều so với năm trước từ trên 19 tỷ đồng
xuống còn trên 3,3 tỷ đồng. Trong khi đó, tiền gửi ngân hàng của doanh nghiệp có
chênh lệch đáng kế, tuy nhiên khoản thu về tiền gửi này không đáng kể so với
doanh thu mà theo sổ sách ghi nhận. Khoản đầu tư ngắn hạn cũng không thay đổi
bao nhiêu. Khoản đầu tư ngắn hạn năm trước đạt 2,253 tỷ đồng và năm nay là
2,108 tỷ đồng. KTV nên xem xét rỏ nguyên nhân khó hiểu này.
Theo như giải thích của NTL, khoản chi phí tài chính gia tăng là do khoản dự
phòng giảm giá những khoản đầu tư dài hạn và ngắn hắn, đồng thời đó là những
khoản lổ từ thanh lý tài sản. Về khoản đầu tư ngắn hạn, không tính them vào chi
phí vì dự phòng cuối quý nhỏ hơn đầu quý. Về khoản đầu tư dài hạn, KTV cần
xem xét kỹ, xem xét hồ sơ về các khoản đầu tư này để từ đó xem có đủ điều kiện
đưa vào dự phòng không. Còn các khoản lổ từ thanh lý thì kế toán phải tính vào
chi phí khác chứ không được đưa vào chi phí tài chính để phù hợp với chuẩn mực.
Trên báo cáo về hoạt động có khoản mục chi phí khác phát sinh khá là không
bình thường, cần phải có thông tin làm rỏ về khoản mục này.
2.4 Sai phạm liên quan tới chênh lệch tỷ giá.
 Công ty CP Xi Măng Vicem Bút Sơn (BTS)
Công ty xi măng Bút Sơn tiền thân là Ban quản lí công trình xây dựng Nhà
máy Xi măng Bút Sơn, được thành lập theo Quyết định số 54/BXD/TCLĐ ngày
28 tháng 1 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
BCTC sau rà soát 6 tháng đầu năm 2012 cho thấy Sau soát xét, mặc dù bị lỗ
thuần gần 136 triệu đồng nhưng nhờ lãi khác nên LNST 6 tháng đầu năm 2012
vẫn đạt 2,74 tỷ đồng giảm gần 400 triệu đồng so với trước soát xét. Theo đó,
doanh thu thuần 6 tháng của BTS đạt 1.341,36 tỷ đồng tăng 11% so với cùng kỳ.
Theo báo cáo chưa soát xét, BTS vẫn có lãi thuần 316 triệu đồng. Sau soát xét,
BTS phải ghi tăng giá vốn hàng bán thêm gần 3 tỷ đồng; ghi tăng chi phí tài chính
thêm gần 5 tỷ đồng
Nhờ khoản lợi nhuận khác 3,27 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm
của công ty đạt 2,74 tỷ đồng giảm gần 400 triệu đồng so với trước soát xét (trước
soát xét, LNST đạt 3,14 tỷ đồng).
Tính đến ngày 30/06/2012, tiền và các khoản tương đương tiền của công ty là
95,7 tỷ đồng giảm 34,4% so với đầu kỳ; Tổng tài sản là 5.420,5 tỷ đồng nhưng nợ
phải trả là 4.385,2 tỷ đồng chiếm 81% tổng tài sản.
Tại phần ý kiến kiểm toán, đơn vị kiểm toán còn lưu ý tại thời điểm 30/06,
công ty phản ánh số dư khoản mục chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 201
của Bộ Tài chính 164,87 tỷ đồng do đánh giá lại tỷ giá cuối kỳ của khoản vay dài
hạn bằng ngoại tệ. Theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 10 thì
khoản này phải ghi nhận như một khoản lỗ vào kết quả sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, số chi phí khấu hao máy móc thiết bị chính của dây chuyền 1 đang
được công ty phản ánh thấp hơn mức khấu hao tối thiểu theo hướng dẫn tại thông
tư 203/2009/TT-BTC khoảng 18,9 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên việc áp dụng mức
khấu hao nói trên đã được công ty đăng ký với cơ quan thuế tỉnh Hà Nam.
Về ý kiến chủ quan, cần xem xét khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp. Trong khi hoạt động công ty bình thường, có tính khả quan. Tuy
nhiên, chi phí quản lý doanh nghiệp giảm một khoản đáng kể trên 40% so với
cùng kỳ, cần xem xét lương cho các công nhân viên trong doanh nghiệp, vì sao
lương công nhân viên, ban điều hành lại giảm gần 50%. Bên cạnh đó là sự tăng lên
của chi phí bán hàng. Lý giải của doanh nghiệp là do chi phí chuyển giao hổ trợ
chuyển giao bí quyết tiêu thụ sản phẩm chuyển giao từ chi phí quản lý doanh
nghiệp năm 2011 sang chi phí bán hàng năm 2012. Cần xem xét, và nguyên nhân
vì sao có sự chuyển giao chi phí. Các khoản chi phí khác phát sinh cũng cần xem
xét đến các chứng từ liên quan.
Nhận xét: Tất cả các sai phạm cho dù xuất phát từ đâu thì cuối cùng cũng ảnh
hưởng tới BCTC. Như vậy, sau ra soát thì trên tài khoản 412 bị giảm một khoản
do phần đánh giá lại số dư ngoại tệ và phần này lại được chuyển vào xác định lổ
sản xuất kinh doanh. Theo ý kiến của KTV, có một khoản giảm về tiền và tương
đương tiền đáng kể (34,4%), chúng ta cần phải thu thập thông tin về khoản giảm
trọng yếu này bằng các phương pháp phân tích, đối chiếu, …
Thứ nhất: mục tiêu của việc không ghi tăng khoản chi phí giá vốn liên quan tới
hàng bán ra và khoản chi phí tài chính giảm lợi nhuận từ đó giảm thuế đầu ra phải
nộp. Cũng có thể, mục tiêu của doanh nghiệp là muốn làm thông tin tốt về hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai: Về khoản chênh lệch về tỷ giá hối đoái, cũng có thể là do trình độ của
nhân viên kế toán. Không thể xem xét tới trường hợp gian lận của kế toán nhằm
không tạo ra khoản chi phí để thông tin trên BCTC tốt hơn.
Trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính năm 2010 của Công ty Cổ phần
Container Phía Nam (VSG), kiểm toán viên lưu ý người sử dụng đến khoản lỗ
chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện do đánh giá lại số dư có gốc ngoại tệ cuối năm
của khoản vay dài hạn với số tiền 33,16 tỷ đồng đang được ghi nhận trên chỉ tiêu
“chênh lệch tỷ giá hối đoái”. Điều này giúp cho người sử dụng hiểu được, việc áp
dụng TT 201/2009 giúp cho công ty giảm lỗ 33,16 tỷ đồng. Nếu áp dụng VSA 10
thì chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của công ty năm 2010 không
phải con số lỗ 40,66 tỷ đồng mà là con số lỗ 73,82 tỷ đồng. Qua đó cho người sử
dụng thấy một phần lợi nhuận được tạo ra (hoặc một phần giảm lỗ) là do sự thay
đổi cách hạch toán mà có chứ không phải do bản thân hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty tạo ra.


PHẦN 6: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT HIỆN VÀ KHẮC PHỤC SAI
PHẠM TRÊN BCTC.

I. PHÁT HIỆN VÀ KHẮC PHỤC SAI SÓT TRÊN BCTC
Xuất phát từ nguyên nhân của sai sót trên BCTC là do trình độ của KTV, chính
vì vậy, để khắc phục được phần nào sai sót trên BCTC nhân viên kế toán cần được
đào tạo có trình độ tốt, luôn biết trau dồi nghiệp vụ. Các cán bộ trong cơ quan,
nhất là các nhà lảnh đạo cần am hiểu về kế toán tài chính để có thể phát hiện ra sai
phạm dể dàng hơn.
Việc phát hiện ra sai sót trên BCTC tương đối dể, vì mục đích của kế toán
không phải cố ý tại sai phạm mà do trình độ. Kế toán không có ý che dấu nên
người đọc dể dàng pháp hiện ra điều này.
II. PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN TRÊN BCTC
Gian lận nói chung và gian lận trên Báo cáo tài chính nói riêng phát triển cùng
với sự phát triển của xã hội và ngày càng biểu hiện tinh vi, là hành vi không thể
triệt tiêu. Gian lận có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của xả hội. Tại Việt
Nam cũng như các quốc gia trên thế giới, nguy cơ xuất hiện gian lận trên Báo cáo
tài chính doanh nghiệp ở rất cao
1.Về phía doanh nghiệp
Để hạn chế và phát hiện gian lận, trước hết cần xây dựng Hệ thống kiểm soát
nội bộ hữu hiệu. Các doanh nghiệp Việt Nam cần có nhận thức đúng đắn và đầy
đủ về tầm quan trọng và lợi ích của việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ vững
mạnh nhằm giảm thiểu gian lân do cá nhân. Ngoài ra, để phát hiện gian lận, doanh
nghiệp cần sử dụng các biện pháp khác như là: thành lập bộ phận kiểm toán nội
bộ, hay thiết lập đường dây nóng để thu nhận các thông tin nhanh chóng nhất.
2.Về phía các tổ chức cá nhận ngoài doanh nghiệp
Đối với các kiểm toán viên
Cần tăng cường trách nhiệm của kiểm toán đối với gian lận trong kiểm toán
Báo cáo tài chính và đây cũng là xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới.
Bởi lẽ xét cho đến cùng, một trong những mục tiêu quan trọng của kết quả kiểm
toán Báo cáo tài chính là phải nhằm góp phần ổn định thị trường chứng khoán,
thông qua việc xác nhận là các Báo cáo tài chính có trung thực và hợp lý hay
không. Nếu mục tiêu này không đạt, sự tồn tại của nghề nghiệp kiểm toán sẽ
không còn cần thiết.
Để giúp kiểm toán phát hiện gian lận, cần có các hướng dẫn chi tiết cho kiểm
toán viên về các nhân tố đưa đến gian lận và các phương pháp thực hiện gian lận.
Muốn vậy, cần hiệu đính chuẩn mực kiểm toán VSA 240 về gian lận. Có thể dựa
trên các công trình nghiên cứu để hiệu đính chuẩn mực kiểm toán VAS 240. Ba
nhân tố chính cần được nêu ra trong chuẩn mực VSA 240 là: áp lực, cơ hội và thái
độ.
Đối với các nhà đầu tư
Để phát hiện gian lận, nhà đầu tư cần thường xuyên cập nhật thông tin phi tài
chính về công ty, đội ngũ lãnh đạo và sự thay đổi các cổ đông lớn. Khi có sự thay
đổi liên tục giám đốc tài chính hoặc kế toán trưởng, nhà đầu tư cũng cần tìm hiểu
nguyên nhân. Các cổ đông nên làm quen với cách đọc báo cáo tài chính, đặc biệt
là các thông tin trong thuyết minh báo cáo và hiểu một số chỉ số tài chính cơ bản
như vòng quay hàng tồn kho, số ngày phải thu, tỉ lệ lãi gộp. Có như vậy, nhà đầu
tư mới thấy được sự bất hợp lý của số ngày phải thu trong báo cáo năm nay so với
năm trước, rủi ro nợ xấu không được lập dự phòng, sự biến động lớn số dư của các
tài sản hay các khoản nợ tiềm ẩn.
Hãy thận trọng với những giải trình về chênh lệch kết quả kinh doanh trước và
sau soát xét cũng như công bố Báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Điều thú vị là
các doanh nghiệp có rất nhiều cách để lý giải về sự chênh lệch này, đây là những
nguy cơ ẩn chứa gia lận rất cao nên nhà đầu tư hết sức thận trọng, cụ thể nhữ
chênh lệch như: chênh lệch tỷ giá, chênh lệch về trích lập dự phòng, chênh lệch
ghi nhận doanh thu, chênh lệch chi phí trích trước, chi phí trả trước và một số
chênh lệch khác.
Hãy thận trọn với những “chiêu” làm đẹp sổ sách của các công ty mẹ, công ty
con. Đó là hiện tượng chuyển vốn lòng vòng từ các công ty họ hàng, công ty mẹ,
công ty con... Những thủ thuật để làm đẹp báo cáo tài chính cuối năm của những
doanh nghiệp này gồm: Đẩy nợ cho “con” và “con” nuôi “mẹ”.
Hãy cẩn thận với những doanh nghiệp công bố Báo cáo tài chính không đúng
thời hạn. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy doanh nghiệp thiếu minh bạch, bởi nếu
tình hình kinh doanh diễn ra như thế nào đều được phản ánh vào sổ sách kế toán
và trong báo cáo tài chính, thì việc hoàn thành và công bố sẽ rất nhanh. cần cảnh
giác trước sự thay đổi chính sách khấu hao, các giao dịch với các bên liên quan và
những khoản chi phí hay thu nhập bất thường.
KẾT LUẬN
Hiện nay ở Việt Nam, nền kinh tế đang ngày càng phát triển, các DN (khối
nhà nước và tư nhân) kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực, đa sở hữu theo mô
hình cty mẹ – cty con, các cty liên kết,… đang ngày càng ra đời nhiều và phát
triển theo xu thế chung. Quản lý về tài chính ở các công ty ngày càng phức tạp,
khó khăn, các gian lận ngày càng tính vi và khó kiểm soát. Xuất phát từ nhu cầu
đó ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu hướng tới biện pháp khắc phục
những gian lận trên BCTC từ đó nhằm giúp DN, nhà quản lý, cơ quan nhà nước
hạn chế và phát hiện các lổ hổng. Với đề tài này tôi mong rằng doanh nghiệp, cơ
quan nhà nước hiểu rõ các cách thức thực hiện gian lận, điều kiện làm phát sinh
gian lận… sẽ giúp nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc thiết lập những biện
pháp nhằm ngăn ngừa và phát hiện gian lận nhằm giảm thiểu các tổn thất cho xã
hội, giúp nâng cao chất lượng thông tin trên Báo cáo tài chính.
Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình kế toán tài chính 1, 2 trường ĐH kinh tế-ĐH Đà Nẵng
- Bộ Tài chính, Chuẩn mực kiểm toán VN 240.
- Các trang WEB : http://luattaichinh.wordpress.com; cafef.vn;
www.vacpa.org.vn ...

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản