PHÂN TÍCH SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Chia sẻ: ngohoi1808

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản, phạm trù xuất phát của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chính vì vậy, trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch, chống cộng cùng với các phần tử cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc đã và đang mưu toan xuyên tạc, phủ nhận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có quan điểm về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: PHÂN TÍCH SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

 

  1. HỌC VIỆN QUÂN Y KHOA LÝ LUẬN MÁC – LÊNIN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Môn học: Chủ nghĩa xã hội khoa học Bài : 04 Đối tượng: Dài hạn Quân y –dược Năm học : Giảng viên Trung tá, ThS: Nguyễn Thế Học Hà Nội – 20… 1
  2. KẾ HOẠCH GIẢNG BÀI 1. Phần thủ tục: : Lý luận Mác – Lênin Khoa Môn học : Chủ nghĩa xã hội khoa học Đối tượng học viên : Dài hạn Quân y –dược Tên bài giảng: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Tên giảng viên: Nguyễn Thế Học Năm học : Thời gian : 180 phút 2. Các mục tiêu học tập - Th ứ nh ất: Nắm đ ượ c đ ịnh nghĩa v ề GCCN và n ội dung s ứ m ệnh l ịch sử c ủa GCCN. - Thứ hai: Những căn cứ khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của GCCN và vai trò của Đảng Cộng sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN. 3. Kỹ thuật tiến hành cơ bản 3.1 Loại bài giảng: Lý thuyết. 3.2 Phương pháp: Thuyết trình 3.3 Hình thức tổ chức dạy học: Lên lớp tập trung. 3.4 Phương tiện dạy học: Giáo trình – tài liệu. 4. Phần thời gian và cấu trúc bài giảng 4.1 Tổ chức lớp: 4.2 Kiểm tra bài cũ: 4.3 Giới thiệu tài liệu tham khảo, nghiên cứu: 4.4 Tiến hành nội dung bài giảng: 2
  3. Thời Những Phương hđộng Nội dung tiện DH của gian PPDH vận hv dụng Khái niệm và nội dung SMLS của GCCN I Khái niệm GCCN. 1. Nội dung SMLS của giai cấp công nhân. Diễn Bảng 2. Nghe Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch giảng, phấn II ghi, sử của giai cấp công nhân. nêu vấn tham đề 1. gia Địa vị KT – XH của GCCN. 2. xây Đặc điểm và khả năng của của GCCN. dựng III Vai trò của Đảng Cộng sản đối với việc thực bài hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN 1. Tính tất yếu, quy luật hình thành và phát triển Đảng của giai c ấp công nhân Mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp công 2. nhân 3. Vai trò của Đảng Cộng sản đối với quá trình IV. thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN 1. Sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam Đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam 2. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt 3. Nam Phương hướng xây dựng GCCN Việt Nam hiện nay 5. Kiểm tra đánh giá. 6. Tổng kết bài giảng. 7. Nhận xét rút kinh nghiệm Thông qua Ngày tháng năm 20... 3
  4. Chủ nhiệm khoa Chủ nhiệm bộ môn Người làm kế hoạch Đại tá ThS Nguyễn Văn Đại tá ThS Nguyễn Văn Lập Trung tá ThS Nguyễn Thế Học Trường HỌC VIỆN QUÂN Y KHOA LÝ LUẬN MÁC – LÊNIN PHÊ DUYỆT Ngày tháng năm 20.... Chủ nhiệm khoa Đại tá, ThS Nguyễn Văn Trường SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Môn học: Chủ nghĩa xã hội khoa học Bài : 04 Đối tượng: Dài hạn Quân y –dược Năm học : Giảng viên Trung tá ThSĩ : Nguyễn Thế Học Hà Nội – 20… 4
  5. SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG CÔNG NHÂN Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là ph ạm trù cơ b ản , phạm trù xuất phát của chủ nghĩa xã hội khoa học. Chính vì vậy, trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch, chống cộng cùng với các phần tử cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc đã và đang mưu toan xuyên t ạc, phủ nhận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có quan điểm về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó. Vì thế, việc nhận thức đúng đắn về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với mỗi đảng cộng sản cũng như toàn bộ phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu mang tính thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. I. KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG SMLS CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN 1. Khái niệm GCCN * Các thuật ngữ khác nhau chỉ GCCN trong quá trình phát triển: - Thuật ngữ chung nhất: GCCN, GCVS, GC lao động, lao động làm thuê. - Thuật ngữ có nội dung h ẹp h ơn: ch ỉ GCCN trong các nghành ngh ề khác nhau: CN nông nghiệp, CN công nghiệp, CN khai khoáng… - Thuật ngữ chỉ GCCN trong các giai đoạn phát tri ển khác nhau: CN th ủ công, CN công trường thủ công, CN công nghiệp, CN đại công nghiệp… Toàn bộ các thuật ngữ trên về bản chất chỉ là một: chỉ GCCN hay GCVS. * Khái niệm GCCN: Theo Mác – Ăngghen, GCCN có hai thuộc tính: - Về nghề nghiệp: là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao (Là điều kiện để GCCN phát triển). 5
  6. + Trực tiếp: Là những người trực tiếp vận hành, điều khiển các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp. + Gián tiếp: Là những người quản lý quá trình lao động công nghiệp, những người tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp: tiếp thị, bán sản phẩm… Môi trường lao động của họ là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau. Trong đó lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp là bộ phận cơ bản và là hạt nhân của GCCN. Quan điểm này được Mác - Ăngghen khẳng định: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”1 - Vị trí trong QHSX: + Dưới CNTB: Là những người lao động không có, hoặc cơ bản không có TLSX phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà Tư bản, bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư. C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “...giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và cũng chỉ kiếm được việc làm nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản,... Những công nhân ấy buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một. Là một hàng hoá, tức là một món hàng hoá đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết thảy mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”2. Mác và Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh thuộc tính thứ hai này , vì chính điều đó khiến cho người công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản. Đồng thời thuộc tính này nói lên đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản, nên Mác và Ăngghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản. + Khi giành được chính quyền (dưới CNXH): Họ cùng nhân dân lao động làm chủ xã hội, làm chủ TLSX, cùng nhau hợp tác lao động cho mình. (Vì xã hội XHCN dựa trên chế độ công hữu về TLSX, tạo sự công b ằng, bình đẳng cho mọi người, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội). Ngày nay do sự phát triển của KHCN , làm cho công nhân cũng có sự thay đổi lớn lao; bên cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí, xuất hiện công nhân của nền công nghiệp tự động hoá. Hoặc ở các nước Tư bản phát triển, bên cạnh nền công nghiệp, xuất hiện ngày càng nhiều loại ngành dịch vụ 1 . Sdd, t.4, tr.610. 2 . Sdd, t4, tr. 605. 6
  7. (Hiện nay chiếm khoảng 50-70%). Vậy những người làm trong những ngành này có phải là công nhân? Xét trên cả hai tiêu chí như trên họ vẫn là công nhân: Về nghề nghiệp: tuy không trực tiếp vận hành máy móc như công nhân công nghiệp truyền thống, song nghề nghiệp của họ vẫn gắn liền với công nghiệp và hoạt động theo lối công nghiệp. Vị trí trong QHSXT BCN: Họ vẫn là những người không có TLSX, phải bán sức lao động làm thuê cho nhà Tư bản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Từ nghiên cứu về GCCN trên hai thuộc tính cơ bản của nó, có thể định nghĩa về GCCN như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các mối quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của mình. Định nghĩa trên đã khái quát những điểm chung, bản chất của GCCN hiện đại là: + Bao gồm cả những người lao động sản xuất vật chất trực tiếp hoặc gián tiếp trong các ngành công nghiệp hoặc có tính chất công nghiệp. + Trình độ kỹ thuật của GCCN cũng có sự khác nhau. + Địa vị KT – XH phụ thuộc vào chế độ CT – XH đương thời (dưới CNXH hay dưới CNTB) Tóm lại , hai tiêu chí trên về GCCN đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị , vẫn là phương pháp luận để nghiên cứu GCCN hiện đại và SMLS của nó trong thời đại ngày nay, và là cơ sở để phân biệt GCCN với các giai cấp khác. Vấn đề đặt ra cần nghiên cứu: ở nước ta hiện nay - Cán bộ, sỹ quan trong Quân đội có phải là công nhân không? - Đảng viên có phải là công nhân không? (Xảy ra ba trường hợp.) 7
  8. - Giáo viên, bác sỹ, kỹ sư, các nhà khoa học, nhân viên Nhà nước, nh ững người làm trong các ngành dịch vụ mới (Không liên quan đến sản xuất công nghiệp) có phải là công nhân không? Vì sao? 2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân * Khái quát là: Xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao đ ộng và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, l ạc h ậu, xây dựng xã hội CSCN văn minh. Ăngghen đã viết: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy ; đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”3. Lênin cũng đã chỉ rõ rằng, điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là nó đã làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, là người xây dựng xã hội XHCN. * Hiểu nội dung của SMLS của GCCN trên 3 vấn đề : - Về kinh tế; Xoá bỏ chế độ tư hữu về TLSX, xây dựng chế độ công hữu về TLSX. Đây là nội dung quan trọng nhất vì nó đoạn tuyệt tri ệt đ ể với ô hình thức sở hữu cổ truyền đó là chế độ tư hữu TLSX – nguồn gốc của mọi sự áp b ức, bóc lột, bất công trong xã hội. => Thực chất về kinh tế là đưa người lao động lên địa vị người làm ch ủ ; làm chủ TLSX chủ yếu của xã hội ; làm chủ quá trình phân công lao động ; làm chủ quá trình phân phối sản phẩm. - Về chính trị – xã hội: SMLS của GCCN với mục tiêu là giải phóng con người, trong đó kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phong nhân loại. - Về văn hóa tư tưởng: SMLS của GCCN nhằm tạo nên sự biến đổi căn bản trong phương thức, nội dung sinh hoạt văn hóa tinh thần của xã h ội theo tư tưởng tiến bộ. - Trong giai đoạn hiện nay đứng trước những diễn biến ph ức tạp của tình hình thế gới SMLS của GCCN được xác định là: Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Tóm lại: SMLS của GCCN cùng một lúc thực hiện các n ội dung nh ư: xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu về TLSX; giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại. * So sánh với nội dung SM của các giai cấp khác trong lịch sử: - Đối với các giai cấp khác trong lịch sử: như giai cấp ĐCPK, GCTS... 3 . Sdd, t.20, tr. 393. 8
  9. + Thay thế hình th ức t ư h ữu này b ằng hình th ức t ư h ữu khác cao hơn, tinh vi h ơn. + Mưu cầu lợi ích cho thiểu số. (Giai cấp thống trị, bóc lột). + Giành chính quyền cơ bản xong. - SMLS của GCCN: + Xoá bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về TLSX. Xoá bỏ tư hữu không phải xoá bỏ mọi hình thức sở hữu nói chung, mà ch ỉ: “Tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” . (Mác -Ăng ghen TT. Nxb CTQG. H, 1995, T4, tr 618). Đây là nguyên nhân sâu xa, là nguồn gốc của bóc lột, bất công… + Trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giành chính quy ền ch ỉ là bước đầu. Kết thúc khi xây dựng xong xã hội mới XHCN - đây là quá trình lâu dài khó khăn gian khổ đòi hỏi phải có hình th ức, bước đi phù h ợp v ới t ừng nước, từng dân tộc. (Tránh chủ quan nóng vội). + Là sự nghiệp giải phóng cho tuyệt đại đa số, mưu cầu lợi ích cho đa s ố nhân dân lao động. Mác: “ Tất cả những phong trào lịch sử từ trước đến nay , đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều do mưu cầu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của tuyệt đại đa số, mưu cầu lợi ích cho tuy ệt đại đa số”4 + Về tính chất: việc thực hiện SMLS của GCCN là quá trình c ải bi ến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để: Toàn diện: Không chỉ giải phóng con người về kinh tế mà giải cả về chính trị, văn hoá, tinh thần, tư tưởng… Sâu sắc, triệt để: cho đến khi giành thắng lợi cuối cùng là xây dựng thành công CNCS không chỉ trong một nước mà trên phạm vi toàn thế giới. + SMLS của GCCN: vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế: Vì GCCN mang bản chất quốc tế: tức là một lực lượng quốc tế, có đ ịa vị kinh tế xã hội giống nhau, cùng có kẻ thù chung là GCTS qu ốc t ế, do đó SMLS của GCCN mang tính quốc tế. Tuy nhiên để th ực hi ện sự nghi ệp qu ốc tế của mình GCCN phải thực hiện SMLS trong khuôn kh ổ n ước mình, t ức: phải tự mình trở thành GCDT, tự mình trở thành DT – như Mác nói; và làm cách mạng ở nước mình cũng chính là trực tiếp thực hiện SMLS thế giới. Tóm lại: GCCN ra đời gắn liền với s ự ra đ ời c ủa CNTB, h ọ đ ược phân biệt với các giai cấp khác dựa trên hai tiêu chí: đó là tính ch ất ngh ề nghiệp và địa vị trong QHSX. Dưới CNTB h ọ đ ược coi là nh ững ng ười nghèo 4 C. M¸c – Ph. ¡ngghen, TuyÓn tËp, tËp 1, NXB ST, H 1980, tr 555 . 9
  10. khổ, đáng thương; song các nhà kinh đi ển CN Mác – Lênin l ại phát hi ện ra h ọ có SMLS thế giới: đó là đánh đổ CNTB xây d ựng thành công CNXH và cu ối cùng là CNCS trên phạm vi toàn th ế gi ới. II. Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Học thuyết của Mác - Ăng ghen về sứ mệnh lịch sử của GCCN là sự luận chứng khoa học về địa vị kinh tế xã hội và vai trò lịch sử của GCCN, về những mục tiêu, con đường để GCCN hoàn thành sứ mệnh l ịch sử c ủa mình. H ọc thuyết ấy chứng minh rằng: SMLS của GCCN được quy định bởi nh ững đi ều kiện kinh tế, xã hội khách quan. Hay nói cách khác địa v ị kinh t ế, xã h ội chính là cơ sở khách quan quy định SMLS của GCCN. 1- Do địa vị kinh tế - xã hội của GCCN quy định: * GCCN là sản phẩm của nền đại công nghiệp: - GCCN ra đời gắn liền với sự ra đời của nền đại công nghiệp: + Do sự phát triển mạnh mẽ của LLSX, làm ra đời phương thức sản xu ất TBCN, thay thế cho phương thức sản xuất Phong kiến (Thế kỷ XV -XVI), lúc đầu xuất hiện các công xưởng ở vùng thành thị và vùng khai thác mỏ, chế biến nguyên liệu. Sự xuất hiện các công xưởng đã thu hút đông đảo những người làm thuê cho chủ xưởng. Như vậy từ đây lịch sử xuất hiện một chế độ bóc lột mới, đó là bóc lột giá trị thặng dư TBCN và gắn với nó là sự ra đ ời c ủa GCCN, mà đầu tiên là những người công nhân công xưởng. (Tiền đề của chế độ làm thuê TBCN là tích luỹ nguyên thuỷ TB: GCTS t ước đo ạt TLSX c ủa những người lao động và do sự phân hoá xã hội làm phá s ản nh ững ng ười s ản xuất nhỏ bổ sung vào lực lượng lao động làm thuê). + Cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh, nửa cuối Thế kỷ XVIII là mốc đánh dấu sự ra đời của GCCN hiện đại. Cuộc cách mạng công nghiệp (Đánh dấu bằng sự ra đời: Máy dệt Ren -ni:1764, Máy hơi nước Jêm -wat: 1767) làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất: chuyển từ lao động thủ công sang lao động máy móc (cơ khí), làm cho năng xuất lao động tăng cao. Đặc biệt ĐCN đã rèn cho công nhân cả về tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật…Đây chính là tiền đề cho sự ra đời của GCCN hiện đại. - Đại công nghiệp phát triển làm cho GCCN phát tri ển c ả số và ch ất lượng và cơ cấu: + Về số lượng: cùng với sự phát triển của ĐCN: GCCN ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư và trong sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. 10
  11. Vì: ° ĐCN phát triển tiếp tục làm phá sản hàng loạt những người s ản xuất vừa và nhỏ làm họ trắng tay và liên tục bổ sung vào hàng ngũ công nhân. ° Do KHKT phát triển làm ĐCN phát tri ển v ề quy mô s ản xu ất , cả về số lượng nghành nghề nên thu hút ngày càng đông số lượng người lao động - tức là công nhân và họ chính là những người trực hoặc gián tiếp vận hành các cộng cụ sản xuất tạo ra những của cải cho xã hội. Vấn đề đặt ra hiện nay: do trình độ KHCN phát triển mạnh mẽ, tính chất tự động hoá làm cho một người công nhân có thể điều hành được cả dây chuyền sản xuất. Song số lượng công nhân vẫn không hề giảm, (nếu trong một đơn vị sản xuất, một ngành cụ thể số lượng GCCN có thể giảm tương đối). Song bởi chính sự phát triển của KHCN dẫn đến sự phát triển của số lượng ngành nghề mới, vì vậy vẫn tiếp tục thu hút những người lao động vào những ngành đó và nhất là ở các nước đang phát triển số lượng công nhân vẫn đang tăng lên không ngừng. Do đó xét toàn cục số lượng của GCCN vẫn tiếp tục tăng lên. Theo điều tra của tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Năm 1900: Thế giới có khoảng 80 triệu công nhân Năm 1990: Thế giới có khoảng 600 triệu công nhân. Năm 1998: Thế giới có khoảng 800 triệu công nhân. Hiện nay: Thế giới có khoảng hơn 1 tỷ công nhân. + Về chất lượng: Vì: ° ĐCN tôi luyện cho GCCN và yêu cầu của lao động công nghiệp, đòi hỏi công nhân phải tự hoàn thiện mình cả về sức khoẻ, trình độ học vấn, tay nghề, ý thức kỷ luật… Nếu như thế kỷ XIX, công nhân chủ yếu trình độ cấp I, thì nay trình độ học vấn của công nhân không ngừng đ ược nâng cao. Ví dụ như ở một số nước phát triển: ở Nhật 90% công nhân có trình độ ĐH, con số đó ở Đức, Pháp là 60%; lao động giản đơn giảm, lao động trí tu ệ ngày càng tăng. ° Mặt khác chính sự sự phát triển của GCCN là cơ sở xã h ội để các nhà kinh điển CN Mác -Lê nin, khái quát thành lý luận, tuyên truy ền, giác ng ộ công nhân. Vì vậy, GCCN ngày càng giác ngộ về SMLS, về mục tiêu, lý tưởng, con đường, biện pháp đấu tranh thực hiện SMLS của mình và đặc biệt tổ chức ra chính Đảng - đội tiền phong ở nhiều nước. + Về cơ cấu: GCCN không ngừng biến đổi: 11
  12. ° Về số lượng nghề: Nếu thời kỳ Mác có khoảng 100 nghề thì hiện nay có khoảng 3000 nghề. ° Về tính chất nghề: Thế kỷ XIX còn chiếm khoảng 70% công nhân trực tiếp đứng máy thì nay chỉ còn khoảng 30%. ° Công nhân trong từng nghề cũng có s ự thay đ ổi l ớn : Nếu thế kỷ XIX, chỉ có khoảng 1-2% công nhân làm trong các ngh ề d ịch v ụ và có 3-4% công nhân nông nghiệp; thì nay có t ới 50-70% công nhân d ịch v ụ và có t ới 30% công nhân nông nghiệp… Tóm lại: GCCN là con đẻ của nền ĐCN, cùng với sự phát triển của ĐCN, GCCN phát triển cả về số, chất lượng và cơ cấu. Mác: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của ĐCN , còn GCVS lại là sản phẩm của nền ĐCN”. (Mác -Ăng ghen TT. Nxb CTQG. H 1995, t4, tr610). * GCCN là lực lượng sản xuất tiên ti ến, đ ại bi ểu cho ph ương th ức sản xuất mới, và là lực lượng quyết định đến việc phá vỡ QHSX cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới. GCCN đại diện cho LLSX tiên tiến, với tính ch ất xã h ội hoá ngày càng cao, do đó mâu thuẫn gay gắt với QHSX dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX. Sự mâu thuẫn này đòi hỏi phải phá vỡ QHSX cũ, mở đường cho LLSX phát triển. Vì vậy GCCN, đại diện cho LLSX tiên tiến là lực lượng có vai trò quyết định đến việc phá vỡ QHSX cũ, thiết lập QHSX mới - QHSX XHCN, dựa trên chế độ công hữu về TLSX - phù hợp với tính chất, trình độ phát triển mới của LLSX. * GCCN là lực lượng bị bóc lột nặng nề, có lợi ích đối kháng với GCTS: Dưới CNTB, GCCN không có hoặc về cơ bản không có TLSX, ph ải làm thuê cho GCTS, bị nhà TB bóc lột giá trị thặng d ư, b ị b ần cùng hoá… do đó đối kháng trực tiếp với GCTS. Mác: “Trong cuộc CM ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”. (Mác -Ăng ghen TT. Nxb CTQG, H 1995, T4, tr 646). Do vậy họ là lực lượng trực tiếp đấu tranh với GCTS, lật đổ s ự th ống tr ị c ủa GCTS, giải phóng những người lao động, xây dựng xã hội mới xã hội của những người lao động, do những người lao động làm chủ. 2 - Địa vị KT – XH của GCCN đã rèn luyện họ trở thành m ột giai cấp có đặc điểm và khả năng mà bất kỳ một giai cấp nào cũng không có được 12
  13. Từ địa vị kinh tế - xã hội nên hình thành ở GCCN có những đặc điểm (phẩm chất) và khả năng cách mạng nhất định: * Đặc điểm: - Là giai cấp tiên tiến nhất. - Là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất. - Là giai cấp có tính tổ chức, tính ký luật nghiêm minh nhất. - Là giai cấp có tinh thần quốc tế cao cả. * Khả năng cách mạng: - Khả năng lãnh đạo cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng và xây dựng xã hội mới XHCN. - Đoàn kết giai cấp và các tầng lớp nhân dân lao động trong công cuộc đấu tranh lật đổ GCTS, CNTB; xây dựng xã hội mới. - Đoàn kết GCCN các dân tộc bị áp bức trên phạm vi th ế giới trong cu ộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội. Từ địa vị kinh tế - xã hội và những đặc điểm, khả năng của GCCN, chính là cơ sở khách quan quy định SMLS của GCCN. * Thực tiễn đã chứng minh: Ngay từ khi ra đời GCCN đã liên tục đấu tranh chống CNTB và các cuộc đấu tranh không ngừng phát triển với trình độ tự giác ngày càng cao. - Những cuộc đấu tranh ở trình độ tự phát: + Phong trào đấu tranh của công nhân dệt Li - on, Pháp 1831-1834. + Phong trào Hiến chương của công nhân Anh: 1836-1844. + Đấu tranh của công nhân Xi -lê-di Đức 1844. + Đặc biệt là Công xã Pa -ri đã chứng t ỏ sự l ớn m ạnh, tr ưởng thành c ủa công nhân trong cuộc đấu tranh thực hiện SMLS của mình ngay từ khi còn non trẻ. - Các cuộc đấu tranh ở trình độ tự giác: + Cách mạng XHCN Tháng 10/1917 ở Nga. + Cách mạng Tháng 8/1945 ở Việt nam. + Cách mạng Tháng 10/1949 ở Trung quốc… Từ phân tích địa vị kinh tế - xã hội và từ thực tiễn phong trào đấu tranh của GCCN thế giới cho thấy SMLS của GCCN là khách quan do địa vị kinh tế xã hội quy định. Ăng -ghen: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới, đó là SMLS của GCVS hiện đại” (Mác -Ăng ghen toàn tập. Nxb CTQG. H, 1994, T20, tr 393). Hiện nay nhân loại đang có nhiều biến động lớn lao : CNTB có những điều chỉnh thích nghi, nên còn có sự phát triển nhất định, CNXH hiện th ực t ạm 13
  14. lâm vào thoái trào. Khoa học công nghệ hiện đại phát tri ển m ạnh m ẽ, công nhân ở nhiều nước TB đã được trí thức hoá, đã trở thành những “ông chủ”…Vì vậy có quan điểm cho rằng CNTB đã thay đổi về bản ch ất, GCCN không còn SMLS và cho rằng trong thời đại hiện nay SMLS thuộc về trí th ức. Tuy vậy cần khẳng định GCCN vẫn là giai cấp duy nhất có SMLS; bởi đ ịa v ị kinh t ế - xã hội của GCCN vẫn không hề thay đổi. Đây cũng chính là cơ sở khoa học để đấu tranh với những quan điểm hạ thấp vai trò, hoặc ph ủ nh ận SMLS c ủa GCCN: Trước hết: Trình độ tri thức không làm thay đổi bản chất GCCN, bởi lao động của họ vẫn gắn với sản xuất công nghiệp, h ọ vẫn là nh ững người làm thuê dưới CNTB. Vì vậy nếu như trước kia GCCN chủ y ếu bán s ức lao động chân tay, thì nay họ bán cả sức lao động chân tay và lao động trí óc, th ậm chí một số công nhân chủ yếu bán sức lao động kỹ thuật rất cao, giá trị ngày càng lớn và do đó bị bóc lột giá trị thặng dư theo chiều sâu. Thứ hai: Một thực tế hiện nay ở các nước Tư bản phát triển, GCCN không trần trụi vô sản như trước đây, một số có cổ ph ần ở xí nghi ệp, hoặc có những tài sản riêng. Tuy nhiên tình hình ấy không làm thay đổi s ự th ật là toàn bộ TLSX cơ bản nhất, quyết định nhất của nền sản xuất TBCN v ẫn n ằm trong tay GCTS và công nhân về cơ bản vẫn không có TLSX, h ọ v ẫn ph ải bán sức lao động làm thuê và bị nhà Tư bản bóc lột giá trị th ặng d ư và đi ều đó cũng chứng tỏ hình thức bóc lột hiện nay càng trở nên tinh vi, khó thấy h ơn trước rất nhiều. Đối với các giai cấp, tầng lớp khác: - GCND: tuy đông đảo, song còn tư hữu nhỏ, còn tư tưởng tư hữu; không có hệ tư tưởng tiên tiến, không phải là lực lượng đại diện cho ph ương thức sản xuất tiên tiến. Vì vậy không có sứ mệnh lịch sử. - Đội ngũ trí thức: + Ở thời nào cũng vậy trí thức luôn giữ vai trò quan trọng. Ngày nay: trước đòi hỏi của cuộc CM KHCN, trí thức càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Thể hiện: họ đi đầu trong việc phát triển các lý thuyết khoa học và công nghệ, khoa học quản lý, khoa học xã hội, khoa học quân sự…trong việc nâng cao dân trí. + Tuy nhiên trí thức không phải là một giai cấp, họ là một tầng lớp xã hội không thuần nhất; ở thời đại nào cũng vậy họ luôn nằm trong tay giai c ấp thống trị về kinh tế. Vì vậy họ không đại biểu cho một phương thức sản xuất nào và không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị đ ộc l ập . Dưới CNTB trí 14
  15. thức được GCTS đào tạo, sử dụng và có sự ưu đãi đặc biệt, vì vậy cũng b ị GCTS bóc lột song không đối kháng trực tiếp, quy ết li ệt nh ư GCCN với GCTS. + Không có hệ tư tưởng riêng, họ tiếp thu và chịu ảnh hưởng bởi hệ tư tưởng của giai cấp mà nó phục vụ và thường là giai cấp thống trị. Do đó trí thức chỉ phát huy được vai trò khi theo hệ tư tưởng của giai cấp tiên tiến trong xã hội. + Trong lịch sử trí thức chưa bao giờ lãnh đạo thành công một cu ộc cách mạng xã hội nào. Từ nghiên cứu đó khẳng định: trí th ức không có SMLS trong th ời đ ại hiện nay. Tuy nhiên cũng c ần kh ẳng đ ịnh : Trí thức có vai trò hết sức to lớn trong cuộc đấu tranh thực hiện SMLS của GCCN: Không có trí th ức không th ể xây dựng thành công CNXH. Vì vậy GCCN thông qua ĐCS cần đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ trí thức, có chính sách đúng đắn để xây dựng đội ngũ trí thức, tạo điều kiện để trí thức phục vụ sự nghiệp CM. Mặt khác bản thân công nhân cũng phải không ngừng vươn lên, nâng cao trình độ trí tuệ để đảm đương một cách xứng đáng vai trò, SMLS của mình. Như vậy so với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có SMLS trong thời đại hi ện nay. Song để hoàn thành được SMLS của mình GCCN phải tổ chức ra chính Đảng, phải có đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp CM đúng đắn, phải t ập h ợp, tổ chức quần chúng đấu tranh; đồng thời GCCN phải th ực hiện thông qua hai giai đoạn: Bước thứ nhất làm cuộc CMXH, giành chính quyền thiết lập CCVS; bước thứ hai: cùng toàn thể nhân dân lao động, sử dụng chính quy ền CM, từng bước xây dựng xã hội mới dựa trên chế độ công hữu về TLSX, ti ến tới xã hội không còn giai cấp. Vấn đề đặt ra hiện nay là tại sao ở các nước Tư bản phát triển GCCN chưa thực hiện được SMLS? (Định hướng nghiên cứu). III. NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân xuất hiện một cách khách quan , để biến khả năng khách quan đó thành hiện thực thì phải thông qua nh ững nhân tố chủ quan. Đảng cộng sản là chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trung thành với lợi ích, với sự nghiệp của giai cấp công nhân là nhân t ố chủ quan có ý nghĩa quyết định nhất đảm bảo cho giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. 15
  16. 1. Tính tất yếu, quy lu ật hình thành và phát tri ển Đ ảng c ủa giai cấp công nhân Tổng kết kinh nghiệm ra đời của Đảng V.I.Lênin đã chỉ ra rằng , Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp phong trào công nhân với ch ủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là quy luật chung của việc hình thành đảng. - Phải có chủ nghĩa Mác - Lênin, GCCN mới nhận thức được vị trí, vai trò của mình và chuyển phong trào đấu tranh từ tự phát lên tự giác Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã khẳng định thông qua các cuộc đấu tranh chống GCTSC, phong trào đấu của GCCN phát triển từ tự phát lên tự giác, chuyển từ giai cấp “tự nó” sang giai cấp “vì nó” và, chỉ khi nào GCCN vươn tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý luận cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin thì phong trào đó mới thực sự trở thành phong trào đấu tranh chính trị. Khi đó, GCCN mới nhận thức được vị trí, vai trò của mình trong xã hội, nguồn gốc tạo nên sức mạnh và biết tạo lên sức mạnh đó bằng sự đoàn kết, nhận rõ mục tiêu, con đường và những biện pháp đấu tranh đúng đắn chống GCTS để giải phóng giai cấp mình, giải phóng xã hội và giải phóng nhân loại. - Sự thâm nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân làm cho một bộ phận những người tiên tiến nhất trong GCCN giác ngộ và tổ chức thành chính đảng của GCCN, Đảng Cộng sản ra đời lại tiếp tục sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân. Sự kết hợp ấy là sản ph ẩm của lịch sử lại được thực hiện bằng con đường riêng, tùy theo điều kiện không gian và thời gian. ở nhiều nước thuộc địa, nửa thuộc địa, ch ủ nghĩa Mác thường kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước thành l ập ra Đảng Cộng sản. Đối với Việt nam: trong những năm đầu thế kỷ XX, vận dụng sáng tạo lý luận CN Mác - Lê nin, Hồ Chí Minh phát hi ện ra quy lu ật hình thành ĐCS Việt nam đó là sản phẩm của sự kết hợp gi ữa lý lu ận CN Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu n ước. Đây chính là quy lu ật đ ặc thù của Việt nam, bởi ở Việt nam nh ững năm đ ầu th ế k ỷ XX, phong trào yêu nước diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp, tác động to l ớn đ ến mọi l ực l ượng trong xã hội. Khi CN Mác - Lê nin thâm nh ập vào Vi ệt nam, m ột b ộ ph ận tiên ti ến trong phong trào yêu nước, đã ti ếp thu CN Mác - Lê nin, t ừ b ỏ l ập tr ường cũ, giác ngộ giai cấp, đứng về phía GCCN, đ ấu tranh cho s ự nghi ệp c ủa GCCN. 2. Mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp công nhân 16
  17. - Đảng lãnh đạo hay giai cấp lãnh đạo? Không có giai cấp nào đ ứng ra trực tiếp lãnh đạo xã hội mà phải lãnh đạo thông qua chính đ ảng c ủa giai c ấp mình, vì Đảng chính trị đó là tổ chức cao nhất, đại biểu tập trung cho trí tuệ và lợi ích của toàn thể giai cấp. Trong xã hội có giai cấp chính đ ảng nào cũng mang tính giai cấp, cũng tiêu biểu cho hệ tư tưởng của một giai cấp nhất định. Đảng là: “Một tổ chức chính trị của một giai cấp, tầng lớp xã hội.” (Đại từ điển tiếng Việt. Nxb VHTT. 1995, tr 586). Đảng chính trị là tổ chức cao nhất đại biểu cho trí tuệ và lợi ích c ủa toàn thể giai cấp. Với GCCN đó là Đảng cộng sản là tổ chức cao nhất, là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đ ấu c ủa GCCN. Đảng lấy CN Mác - Lê nin làm nền tảng tư tưởng, kim ch ỉ nam cho m ọi hành động. Đảng bao gồm những người con ưu tú, tiên tiến, được giác ngộ nhất của GCCN. Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định : “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của GCCN đồng th ời là đội tiên phong c ủa nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc”.5 - Giữa Đảng và GCCN có mối liên hệ hữu cơ, không th ể tách r ời gi ữa t ổ chức cao nhất của GCCN với toàn bộ GCCN. + Đảng là một bộ phận của giai cấp, đại biểu cho lợi ích căn bản của toàn giai cấp (đảng không đứng ngoài hoặc đứng trên giai cấp mà là một bộ phận – bộ phận ưu tú nhất của GCCN, nằm trong GCCN; nếu đảng đứng ngoài hoặc đứng trên giai cấp thì khi đó đảng sẽ mâu thuẫn với giai cấp và sẽ không thực hiện được sự lãnh đạo giai cấp để thực hiện mục tiêu của mình). + GCCN là cơ sở xã hội – giai cấp của đảng, là ngu ồn bổ sung l ực l ượng cho đảng tồn tại và phát triển mọi mặt, đảng là đội tiền phong chiến đấu, là bộ tham mưu của GCCN; những đảng viên của đảng có thể không phải là GCCN, nhưng phải là người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của GCCN và ph ải đứng trên lập trường của GCCN. Với một đảng chân chính thì sự lãnh đạo của đảng là sự lãnh đạo của giai cấp, đảng với giai cấp là thống nhất. - Giữa Đảng và giai cấp có điểm giống nhau là đều thống nhất về mục tiêu và lợi ích. Nhưng khác nhau là đảng có trình độ lí luận và tổ chức cao nhất là bộ phận ưu tú nhất đi tiên phong trong phong trào đấu tranh của giai cấp. Vì thế, 5 §¶ng C«ng s¶n ViÖt Nam: V¨n kiÖn §¹i héi ®¹i biÓu §¶ng lÇn thø X, Nxb CTQG, H 2006, tr 157. 17
  18. không thể lẫn lộn giữa Đảng Cộng sản với GCCN và giữa GCCN với Đảng Cộng sản, không có đảng chung chung cho mọi giai cấp, tầng lớp xã hội. Về bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản thì Đảng là của GCCN, nhưng về lợi ích thì Đảng Cộng sản đại biểu cho lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và cả dân tộc. 3. Vai trò của Đảng Cộng sản đối với quá trình thực hi ện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Phải khẳng định rằng : Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi SMLS của GCCN. - Có Đảng GCCN mới tự ý thức được mình, chuyển phong trào đấu tranh của GCCN từ tự phát lên tự giác. Trong lịch sử chưa có một giai cấp nào giành được thắng lợi T, thiết lập được vai trò thống trị xã hội nếu như giai cấp đó không tổ ch ức ra đ ược chính đảng của giai cấp mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh đó. Trong cuộc đấu tranh chống GCTS, thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN là cu ộc đ ấu tranh r ất gay go quyết liệt, lâu dài. Do đó, chỉ khi nào GCCN tổ ch ức ra được chính đ ảng của mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh ấy, thì GCCN mới giành được thắng lợi. Trong Tuyên ngôn Quốc tế I Mác đã khảng định: Chỉ khi nào GCVS tổ chức ra chính đảng của mình, đối lập với tất cả các chính đảng của giai cấp hữu sản, thì lúc đó mới hành động với tư cách là giai cấp được và đó là điều kiện tiên quyết để GCVS hoàn thành được SMLS của mình. V.I.Lênin viết: “ Không có tổ chức đó thì giai cấp công nhân không có khả năng vươn tới cuộc đấu tranh tự giác”6. - Có Đảng, GCCN mới có đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn. Đảng, với tính cách là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chi ến đấu của GCCN, bằng trí tuệ của mình đã vận dụng đúng đ ắn sáng t ạo ch ủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích đúng đắn hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước, ở mỗi giai đoạn cách mạng để đề ra mục tiêu, phương hướng, đường lối chính trị... đúng đắn, qua đó mà giác ngộ giai cấp và dân tộc đứng lên làm cách m ạng (ví dụ: giai đoạn giành chính quyền, giai đoạn xây dựng CNXH) Đảng là người tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó. Đảng là người tổng kết thực tiễn cách mạng , rút ra những bài học kinh nghiệm, bổ sung, phát triển lý luận, đường lối cách mạng. - Có Đảng, GCCN mới tập hợp được quần chúng nhân dân lao động để tiến hành làm cách mạng. 6 .Lªnin TT, tËp4. tr. 473. 18
  19. Đảng là người đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN , nhân dân lao động, có đường lối, chính sách phản ánh đúng nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân lao động và đưa đường lối đó vào quần chúng. Đảng tổ chức, giáo dục, đoàn kết thống nhất đông đảo lực lượng, phát huy sức mạnh trong nước với ngoài nước, sức mạnh dân tộc với sức m ạnh thời đại tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho GCCN hoàn thành s ứ m ệnh lịch sử của mình. Đồng thời, quần chúng được giác ngộ còn chính là ngu ồn b ổ sung lực lượng kế cận cho đảng. - Thực tiễn đã chứng minh: + Mặc dù ngay từ khi ra đời các phong trào công nhân diễn ra hết sức mạnh mẽ, song các phong trào đó chỉ mang tính tự phát, nên cuối cùng đều dẫn đến thất bại. Điển hình như Công xã Pa -ri (1871), m ặc dù s ức m ạnh c ủa GCCN Pa -ri là rất mạnh mẽ, đã giành thắng lợi song cũng ch ỉ t ồn t ại đ ược trong vòng 72 ngày, bởi chưa có sự lãnh đạo của Đảng, nên vẫn mang tính tự phát. + Chỉ đến khi tổ chức ra chính Đảng các phong trào mới thắng lợi: Đảng cộng sản Nga ra đời 1893 (Thực chất là 1903), thì đến 1917 CM thành công. Đảng cộng sản Trung quốc ra đời 1921 thì đến 1949 CM thành công. Đảng cộng sản Triều tiên ra đời 1925 thì đến 1953 chiến tranh Tri ều tiên kết thúc, Nhà nước XHCN Bắc Triều tiên ra đời… Đối với Việt nam: Khi chưa có Đảng: phong trào cứu nước của các sỹ phu yêu nước diễn ra mạnh mẽ theo các hệ tư tưởng khác nhau. Tiêu biểu như cuộc Khởi nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám, con đường cứu nước theo hệ tư tưởng TS, TTS của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh… song đều thất bại. Đảng cộng sản Việt nam ra đời 1930, với đường lối cứu nước đúng đắn, đoàn kết được sức mạnh tổng hợp của các phong trào yêu nước, các lực lượng tiến bộ trong nước và kể cả nhân dân Pháp và lực lượng tiến bộ trên thế giới. Vì vậy CMVN thông qua các cuộc tập dượt 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 và giành thắng lợi quyết định trong tổng khởi nghĩa 1945. Tóm lại: Đảng cộng sản là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với vi ệc thực hiện SMLS của GCCN. Hồ Chí Minh: “ CM phải có Đảng CM… Đảng có vững thì CM mới thành công; cũng như người cầm lái có v ững thì thuy ền míi ch¹y.” IV. sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân việt nam 19
  20. 1. Đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam GCCN Việt nam là một bộ phận của GCCN quốc tế, có địa vị kinh tế - xã hội cũng như đặc điểm, khả năng cách mạng như GCCN quốc tế. Tuy nhiên do sự khác biệt về điều điều kiện sinh trưởng và điều kiện kinh tế xã hội của Việt nam, nên GCCN Việt nam có những đ ặc đi ểm và kh ả năng CM riêng. - Ra đời muộn hơn GCCN quốc tế, nên có những khó khăn nh ất đ ịnh, song cũng có những thuận lợi cơ bản: + Không chịu ảnh hưởng nhi ều b ởi ch ủ nghĩa c ơ h ội trong qu ốc tế II, đồng thời được Quốc tế III , mà trực tiếp là đồng chí Nguyễn Á i Quốc, quan tâm, tuyên truyền, nên dễ dàng trong việc tiếp thu CN Mác - Lê nin, giác ngộ giai cấp và sớm tổ chức ra chính Đảng. + Có điều kiện để tiếp thu kinh nghiệm của GCCN quốc tế, được sự ủng hộ, giúp đỡ của GCCN quốc tế. Đặc bịêt được sự cổ vũ mạnh mẽ của CM Tháng 10 Nga. - Thành phần xuất thân chủ yếu từ GCND (Một giai cấp lao động đông đảo của xã hội Việt nam.). Tuy có chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng tư hữu, lối sản xuất nhỏ của nông dân, song lại dễ thực hiện sự liên minh với nông dân và các tầng lớp lao động khác. - Ra đời trong một dân tộc có truyền thống yêu n ước, kiên c ường, b ất khuất trong chống ngoại xâm. Đặc biệt vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ. Chính điều đó giúp GCCN Việt nam luôn gắn bó với dân tộc và thừa hưởng được truyền thống yêu n ước c ủa dân tộc, góp phần nâng cao tinh thần cách mạng. 2. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công ch ủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Trong từng giai đoạn cách mạng Đảng ta đã xác định: Làm CM DTDCND giải phóng dân tộc ; sau khi giành thắng lợi tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN và góp phần vào sự nghiệp giải phóng GCCN, NDLĐ trên thế giới. Trong “Chính cương vắn tắt, sách l ược vắn tắt” 1930 Đảng cộng sản Việt nam khẳng định: “Làm cách mạng tư sản 20
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản