PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

Chia sẻ: nguyenhienvfu

Để thực hiện được những mục tiêu đặt ra trong chính sách tiền tệ, NHNN chủ yếu sử dụng thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. NHNN sử dụng 2 nhóm công cụ CSTT đó là: nhóm công cụ gián tiếp (thị trường) được sử dụng phổ biến hiện nay; và nhóm công cụ trực tiếp (hành chính) hiếm dùng.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (CSTT) CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC
(NHNN) VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

 NỘI DUNG CHÍNH:

I. Tìm hiểu chung về chính sách tiền tệ

1. Khái niệm

2. Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ

3. Thực trạng chung

II. Tìm hiểu các công cụ của chính sách tiền tệ.

1. Nghiệp vụ thị trường mở

2. Chính sách tái chiết khấu

3. Dự trữ bắt buộc

4. Ấn định hạn mức tín dụng

5. Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại

III. Phân tích và bình luận việc thực thi chính sách tiền tệ (CSTT) ở
Việt Nam trong thời gian gần đây.

1. Trước năm 2008

a. Từ năm 1986-1999

b. Từ năm 2000-2007

2. Năm 2008 đến nay

2.1. Năm 2008

a. Tình hình kinh tế

b. Phân tích và bình luận việc thực thi CSTT

2.2. Năm 2009

a. Tình hình kinh tế
b. Phân tích và bình luận việc thực thi CSTT

2.3. Năm 2010

a. Tình hình kinh tế

b. Phân tích và bình luận việc thực thi CSTT

2.4. Đầu năm 2011

a. Tình hình kinh tế

b. Phân tích và bình luận việc thực thi CSTT



 NỘI DUNG CHI TIẾT

I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.

1. Khái niệm: Chính sách tiền tệ (CSTT) là tổng hòa các phương thức mà
NHNN sử dụng nhằm tác động đến lượng tiền cung ứng để đạt được các mục
tiêu kinh tế, xã hội đất nước trong thời kỳ nhất định.

Như vậy, với các công cụ trong tay, NHNN có thể chủ động tạo ra sự thay
đổi trong cung ứng tiền (mở rộng hay thắt chặt), qua đó tác động đến các
biến số vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.

 Trong đó có hai chính sách chủ yếu:

- Chính sách tiền tệ mở rộng: cung ứng thêm tiền,khuyến khích đầu tư, mở
rộng sản xuất.., chống suy thoái.

- Chính sách tiền tệ thắt chặt: giảm cung ứng tiền nhằm hạn chế đầu tư,
kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế..., kiềm chế lạm phát.

2. Mối quan hệ giữa các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ:

Các mục tiêu của chính sách tiền tệ rất đa dạng như kiểm soát lạm phát,
ổn định giá cả, tạo công ăn việc làm (giảm tỷ lệ thất nghiệp), tăng
trưởng kinh tế, ổn định thị trường tài chính, lãi suất, tỷ giá hối đoái...

Do lạm phát cao có tác động xấu đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong
khi đó nguyên nhân lạm phát lại là tiền tệ. Chính vì vậy, ở hầu hết các
nước, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu
dài hạn của CSTT. Tùy vào tình hình kinh tế của mỗi quốc gia mà sẽ có
một tỷ lệ lạm phát phù hợp. Thông thường để thực hiện mục tiêu kiềm chế
lạm phát, ổn định giá cả NHNN áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt. Bên
cạnh đó còn hai mục tiêu là tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp. Để thực hiện hai mục tiêu này thì NHNN thường
thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng.

Như vậy, xét cả 3 mục tiêu thì ta thấy mục tiêu giảm lạm phát, bình ổn
giá cả mâu thuẫn với hai mục tiêu còn lại trong ngắn hạn. Bởi vì để thực
hiện mục tiêu giảm lạm phát, ổn định giá cả thì phải áp dụng chính sách
tiền tệ thắt chặt. Và như vậy thì trong ngắn hạn không thể thực hiện
được hai mục tiêu còn lại. Ngược lại, khi nền kinh tế mở rộng, thất
nghiệp giảm, nền kinh tế phát triển quá nóng dẫn đến lạm phát gia tăng.
. Tuy nhiên, xét các mục tiêu trên trong dài hạn thì chúng lại không mâu
thuẫn với nhau. Mối quan hệ giữa mục tiêu giảm thất nghiệp và mục tiêu
tăng trưởng kinh tế không mâu thuẫn cả trong ngắn hạn và dài hạn.

Hầu hết NHTW đều đặt ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của
CSTT. Nhưng trong ngắn hạn, dưới áp lực của chính trị, họ có thể tạm
thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu để hạn chế tình trạng thất nghiệp...Ngân
hàng trung ương không thể đạt được đồng thời tất cả các mục tiêu trong
ngắn hạn và thường thì NHTW theo đuổi một mục tiêu trong dài hạn và đa
mục tiêu trong ngắn hạn.
3. Thực trạng chung:

Nhìn chung, tư tưởng chủ đạo trong chính sách tiền tệ của Việt Nam là có
tính đan xen giữa mở rộng thận trọng và thắt chặt linh hoạt trong từng
thời điểm cụ thể mang tính ngắn hạn, còn các công cụ chính sách tiền tệ
ngày càng đa dạng và được NHNN điều hành khá mềm dẻo, đồng bộ, ngày càng
phù hợp cơ chế và bám sát các tín hiệu thị trường, đồng thời ngày càng
phù hợp xu thế vận động chung của chính sách tiền tệ khu vực, cũng như
thế giới, biểu hiện rõ nét nhất trong chính sách kích cầu năm 2009, và
các điều chỉnh về lãi suất 2010, 2011.

II. TÌM HIỂU CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Để thực hiện được những mục tiêu đặt ra trong chính sách tiền tệ, NHNN
chủ yếu sử dụng thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. NHNN sử
dụng 2 nhóm công cụ CSTT đó là: nhóm công cụ gián tiếp (thị trường) được
sử dụng phổ biến hiện nay; và nhóm công cụ trực tiếp (hành chính) hiếm
dùng.

 Sau đây là các công cụ CSTT dùng phổ biến hiện nay:

1. Nghiệp vụ thị trường mở: Là việc mà NHNN mua và bán các chúng khoán
có giá (chủ yếu là tín phiếu kho bạc) trên thị trường.
Muốn tăng khối lượng tiền lưu thông, mở rộng tín dụng, NHTW mua các giấy
tờ có giá trên thị trường tiền tệ và ngược lại.

Các nghiệp vụ thị trường mở là công cụ CSTT quan trọng nhất, bởi vì
chúng là những nhân tố chủ yếu làm thay đổi lãi suất và tiền cơ sở, là
nguồn chủ yếu là thay đổi cung tiền. Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở
không tác động trực tiếp mà tác động gián tiếp thông qua lãi suất LNH và
tiền cơ sở đến cung tiền và lãi suất thị trường.

Ưu, nhược điểm:

• Ưu điểm: Nghiệp vụ thị trường mở được tiến hành theo chủ ý chủ NHNN
nên NHNN kiểm soát được hoàn toàn khối lượng của nghiệp vụ này mà không
chịu ảnh hưởng cảu bất kỳ nhân tố nào khác. Là công cụ linh hoạt, chính
xác, ít tốn kém về chi phí và thời gian

• Nhược điểm: Việc thực hiện công cụ này đòi hỏi sự phát triển của thị
trường tài chính thứ cấp nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng.
Ngoài ra ngân hàng phải có khả năng dự đoán và kiểm soát sự biến động
của lượng vốn khả dụng trong hệ thống ngân hàng.

2. Chính sách tái chiết khấu: Bao gồm các quy định và điều kiện về việc
cho vay có kiểm soát bằng cách tác động đến lãi suất cho vay tái chiết
khấu.

Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất mà NHNN đánh vào các khoản tiền cho
các ngân hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc
bất thường của các ngân hàng này.

Khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt thực tế của ngân hàng thương mại giảm xuống
đến gần tỷ lệ an toàn tối thiểu thì họ sẽ phải cân nhắc việc có tiếp tục
cho vay hay không vì buộc phải tính toán giữa số tiền thu được từ việc
cho vay với các chi phí liên quan trong trường hợp khách hàng có nhu cầu
tiền mặt cao bất thường:

- Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơn lãi suất thị trường thì
ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt
giảm đến mức tối thiểu cho phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ
ngân hàng trung ương mà không phải chịu bất kỳ thiệt hại nào.

- Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng
thương mại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm xuống đến mức tối
thiểu cho phép, thậm chí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay
tiền từ ngân hàng trung ương với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường
khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ phía khách hàng.
Do vậy, với một tiền cơ sở nhất định, bằng cách quy định lãi suất chiết
khấu cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng trung ương có thể buộc các
ngân hàng thương mại phải dự trữ tiền mặt bổ sung khiến cho số nhân tiền
tệ giảm xuống (vì bội số của tiền gửi so với tiền mặt giảm) để làm giảm
lượng cung tiền. Ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm xuống thì các
ngân hàng thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân
tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung tiền.

Tuy nhiên, tác dụng của chính sách này chỉ phát huy khi các tổ chức tín
dụng có nhu cầu vay vốn từ NHNN.

3. Dự trữ bắt buộc: Là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một
tài khoản gửi ở ngân hàng trung ương.

Sự tăng lên hay giảm xuống của tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế
tạo tiền và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, qua đó tác
động đến lượng tiền cung ứng.

Ưu, nhược điểm:

• Ưu điểm: Đây là công cụ có quyền lực ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền
cung ứng. Chỉ cần một thay đổi nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ dẫn đến
sự thay đổi đáng kể khối lượng tiền cung ứng.

• Nhược điểm: Bất lợi chủ yếu của công cụ dự trữ bắt buộc là có thể
khiến cho một số ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp rơi vào tình
trạng mất "khả năng thanh toán ngay". Đồng thời, việc thay đổi thường
xuyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc khiến cho các ngân hàng rơi vào tình trạng
bất ổn trong việc quản lý thanh khoản, làm phát sinh tăng chi phí.

4. Ấn định hạn mức tín dụng: Là quy định mức dư nợ tối đa mà các tổ chức
tín dụng được phép cho vay.

Ngân hàng căn cứ vào nhu cầu vay vốn; năng lực tài chính; chu kỳ sản
xuất, kinh doanh; vòng luân chuyển vốn vay, dòng tiền, khả năng quản lý
sản xuất, kinh doanh; loại và trị giá tài sản bảo đảm tiền vay của Khách
hàng và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng để xác định nhu cầu vốn và Hạn
mức tín dụng cho Khách hàng mà Ngân hàng có thể đáp ứng trong một thời
gian nhất định (thường là 1 năm).

Lãi suất cho vay: Trong Hợp đồng (hạn mức) tín dụng có thể ấn định lãi
suất cụ thể hoặc quy định nguyên tắc xác định lãi suất phù hợp với quy
định về lãi suất của Ngân hàng. Lãi suất cụ thể được ghi trong Khế ước
nhận nợ từng lần phù hợp với thoả thuận của Khách hàng và Ngân hàng
trong Hợp đồng (hạn mức) tín dụng.
Nhược điểm: Công cụ này thiếu linh hoạt và có thể làm giảm cạnh tranh
giữa các ngân hàng.

5. Quản lý về lãi suất của các NHTM: Đưa ra khung lãi suất bao gồm lãi
suất trả.

Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi
suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước công
bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. (Lãi
suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân
hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất
huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu
vốn. Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi
suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.Lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần
đầu vào ngày 30 tháng 5 năm 2000. Trong lần đầu được công bố, lãi suất
cơ bản ở mức 7,2%/năm. Vào thời điểm tháng 6 năm 2008, lãi suất cơ bản
là 14%/năm. Điều này có nghĩa là các tổ chức tín dụng có thể quyết định
mức lãi suất cho vay của mình cao tới 21%/năm.)
Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất mà ở đó NHTW áp dụng cho các
nghiệp vụ tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng trung gian (bao gồm ngân
hàng thương mại). Ở Việt Nam, NHTW tái cấp vốn cho các NHTM qua các hình
thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương
phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay lại dưới hình thức
cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn.



III. PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VIỆC THỰC THI CSTT CỦA NHNN VIỆT NAM
TRONG
THỜI GIAN GẦN ĐÂY

1. Giai đoạn trước 2008:

a. Giai đoạn 1986 - 1999:

Năm 1987 do thiên tai, sản lượng lương thực cuối năm giảm 3,5% và đầu
năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói, giá cả lên cao, lạm phát chi
phí đẩy lại tiếp diễn. .Đứng trước tình hình đó, dân chúng tích trữ hàng
hóa , lương thực, vàng và đô la càng nhièu vì lo sợ rằng đồng Việt Nam
sẽ còn mất giá tạo nên cầu giả tạo, giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát cầu
kéo, với tỉ lệ lạm phát là 223,1%, mức tăng trưởng GDP chỉ là 3,78%.

Từ năm 1989 đến năm 1991, lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao với
mức tăng 67% liên tiếp trong hai năm 1990 và 1991, phải từ năm 1992 trở
đi tình hình mới lắng dịu và tạm ổn định cho đến năm 1995.
Như vậy, trong giai đoạn này lạm phát xảy ra ban đầu là do chi phí đẩy,
sau đó là do tăng mức cung ứng tiền , năm 1987 lại là lạm phát chi phí
đẩy, tiếp tục sau đó lạm phát cầu kéo xảy ra.

Chính sách về lãi suất:

Thực hiện chính sách lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh
nghĩa-tỉ lệ lạm phát ), tức là nâng lãi suất tiết kiệm lớn hơn tỉ lệ lạm
phát nhằm thu hồi lượng tiền trong lưu thông về.

NHNN từng bước giảm dần lãi cho vay thông qua giảm dần lãi huy động từ
12% xuống 9% rồi 6%/năm; 1,4% xuống 0,9% rồi 0,85%/ tháng.

Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu cũng được điều chỉnh
tăng, giảm phù hợp mục tiêu điều tiết lượng vốn huy động và cho vay tín
dụng hàng năm

Chính sách về tỉ giá hối đoái: Việc áp dụng tỉ giá hối đoái thực tế đã
làm cho người dân không còn tích trữ hàng hóa, vàng, USD mà bắt đầu tích
lũy bằng đồng nội tệ.

b. Giai đoạn 2000 - 2007:

Chính sách về lãi suất:

Tháng 8/2000, cơ chế điều hành lãi suất cho vay bằng VND được chuyển từ
cơ chế trần lãi suất sang lãi suất cơ bản

Năm 2001, lãi suất từng bước được điều hành theo hướng tự do hóa và phù
hợp với mục tiêu CSTT.

Từ năm 2003, việc điều hành CSTT chuyển biến theo hướng nới lỏng một
cách thận trọng. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh dần là lãi suất
trần; lãi suất chiết khấu được điều chỉnh là lãi suất sàn của thị trường.

Từ tháng 1/2005- 8/ 2008, NHNN đã tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp
vốn và lãi suất tái chiết khấu nhằm thắt chặt hơn tiền tệ, qua đó kiểm
soát lạm phát đang có xu hướng gia tăng.

Chính sách về Dự trữ bắt buộc (DTBB) :

Tháng 5/2001 tăng tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ lên 15%, giảm tỷ lệ DTBB bằng
VND xuống 3%; tháng 11/2001 giảm tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ xuống còn 10%.

Từ năm 2003, các TCTD được tính cả tiền gửi DTBB tại các chi nhánh NHNN,
đây là bước khởi đầu cho việc thực hiện mục tiêu tăng cường khả năng
điều tiết tiền tệ của công cụ này.

Chính sách về tỷ giá:

Năm 2006 tỷ giá VND/USD lần đầu được điều hành thử nghiệm theo cơ chế tỷ
giá thả nổi thận trọng, có quản lý, thực hiện can thiệp mua bán ngoại tệ
trên thị trường theo mục tiêu điều hành.

Tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng nhẹ, nhưng nhìn chung được giữ tương đối
ổn định trong thời gian dài. Đặc biệt, riêng năm 2006 tỷ giá VND/USD lần
đầu được điều hành thử nghiệm theo cơ chế tỷ giá thả nổi thận trọng, có
quản lý, thực hiện can thiệp mua bán ngoại tệ trên thị trường theo mục
tiêu điều hành.
Chính sách về Nghiệp vụ thị trường mở:

Chính sách về nghiệp vụ thị trường mở (khai trương tháng 7/2000), đã góp
phần điều chỉnh vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng.

Từ năm 2004, Nghiệp vụ thị trường mở được tăng cường sử dụng như một
công cụ chủ yếu điều tiết tiền tệ, không chỉ khắc phục hiện tượng mất
cân đối cung cầu ngoại tệ, mà còn tạo điều kiện cho NHNN tăng dự trữ
ngoại hối.

Trong năm 2007, nghiệp vụ thị trường mở đã có những đổi mới như cố định
phiên mua, thay đổi phương thức đấu thầu nhằm bám sát mục tiêu điều hành
CSTT và diễn biến vốn bằng VND của các TCTD.

2. NĂM 2008 ĐẾN NAY

2.1 . NĂM 2008

a. Tình hình kinh tế:

Năm 2008 là năm mà tình hình kinh tế có nhiều biến động lớn. Ba tháng
đầu năm nền kinh tế đang trên đà phát triển và chưa nhận ra được dấu
hiệu của khủng hoảng kinh tế. Sáu tháng tiếp theo, chúng ta bắt đầu nhận
ra sự bất ổn trong nền kinh tế và có những biện pháp ngăn chặn. Ba tháng
cuối năm là thời gian khủng hoảng kinh tế bộc lộ rõ và lan rộng. Giai
đoạn này chúng ta tập trung vào "chữa bệnh".

Với tình hình chung là bất động sản trong vòng vài tháng đã tăng lên
chóng mặt, tăng lên 2 đến 3 lần so với năm 2007 đã tạo thành những bong
bóng BĐS đe dọa nhà đầu tư.

Thị trường chứng khoán biến động thất thường nhưng hiện có xu hướng đi
xuống 30%.

Muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phải có vốn đầu tư. Tuy nhiên dòng vốn
chủ yếu để thúc đẩy đầu tư hiện nay là vốn tín dụng ngân hàng. Vô tình
chúng ta vướng vào một vòng mang tên "tín dụng".

Với mục tiêu kiểm chế lạm phát, hỗ trợ thị trường chứng khoán, kiềm hãm
sự tăng trưởng nóng của thị trường BĐS. NHNN đứng trước một bài toán khó
trong công cuộc điều hành chính sách tiền tệ.

Tất cả khó khăn trên đặt lên vai trò chính sách tiền tệ của NHNN

b. Phân tích và bình luận:

Có thể nói rằng, năm 2008 là năm mà nền kinh tế trong nước có những biến
động rất lớn. Năm 2008, thị trường ngân hàng trong nước đã trải qua
những biến động chưa từng có về lãi suất, tỷ giá... Thực hiện chính sách
tài chính tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, lúc thắt chặt, lúc nới lỏng. Việc
thắt chặt tiền tệ đầu năm và nới lỏng dần cuối năm đã tạo nên tần suất
điều chỉnh chính sách nhiều chưa từng có trong lịch sử.

Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, trong vòng 3 tuần đầu của tháng
2 năm 2008 NHTM đã thực hiện đồng thời 4 biện pháp thắt chặt tiền tệ của
NHNN

1. Quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% đồng thời mở
rộng thêm phạm vi tiền gửi dự trữ bắt buộc.

2. Phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc. Ba NHTM nhà nước
lớn nhất, mỗi ngân hàng phải mua 3000 tỷ đồng

Các loại tín phiếu trước đây được giao dịch trên thị trường mở với NHNN
thì giờ NHNN nói rõ là không được vay tái cấp vốn

3. Từ tháng 2 năm 2008, các loại lãi suất chủ đạo của NHNN tăng hơn trước.

4. NHNN ban hành quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1/2/2008 về sửa đổi
chỉ thị về cho vay chứng khoán. Quyết định 03 còn thắt chặt về cho vay
chứng khoán hơn Chỉ thị 03 trước đây.

Với 4 quyết định được coi là cứng rắn và kiên quyết nói trên trong điều
hành CSTT của NHNN đã gây ra các tác động sốc và phản ứng tiêu cực tức
thì của thị trường tiền tệ và của NHTM. Có thể nói đây là một cú phanh
gấp trong quá trình tụt dốc của nền kinh tế nhằm ngăn chặn vật giá leo
thang và lạm phát.
Như vậy, trên đây là điều chỉnh mở rộng nghiệp vụ thị trường mở của NHNN
nhằm thu hồi lượng tiền mặt quá lớn đồng thời thắt chặt tín dụng của các
NHTM

Lãi suất:

Lãi suất biến động mạnh và liên tục tăng cao trong những tháng đầu năm
và giải dần trong những tháng cuối năm:

Trong những tháng đầu năm 2008, đặc biệt là trong khoảng thời gian tháng
2/2008 đến tháng 5/2008, lãi suất huy động liên tục tăng cao trong cuộc
chạy đua về lãi suất... Tuy nhiên, những tháng cuối năm, lãi suất thị
trường có xu hướng giảm: Lãi suất huy động và cho vay bằng VND giảm
2,5%-3%/năm.

Diễn biến các mức lãi suất điều hành của NHNN 2007-2008

Đơn vị: %/năm

Năm



Lãi suất 2007 2008

Lần1:

 Lần2

 Lần3

 Lần 4

 Lần 5

 Lần 6



- Lãi suất cơ bản 8,25 8,75 12 14 13 12 11

- Lãi suất tái cấp vốn 6,5 7,5 13 15 14 13 12

- Lãi suất tái chiết khấu 4,5 6,0 11 13 12 11 10

- Lãi suất cho vay tối đa 12 13 18 21 19,5 18 16,5
Tác động của việc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt: việc thực thi
chính sách thắt chặt tiền tệ của NHTW thông qua công cụ dự trữ bắt buộc,
phát hành tín phiếu bắt buộc và công cụ lãi suất đã tác động trực tiếp
đến thị trường tiền tệ và hoạt động kinh doanh của các NHTM, theo hướng
làm giảm quy mô nguồn vốn; giảm khả năng cho vay. Quá trình này tác động
làm tăng chi phí kinh doanh, tăng lãi suất cho vay của các NHTM và trực
tiếp đến thanh khoản của các NHTM trong thời gian này.

Tỷ giá:

Tỷ giá trên thị trường diễn biến phức tạp và chia thành 4 giai đoạn:

• Giai đoạn đầu (3 tháng đầu năm từ 01/01/2008 - 25/03/2008): Tỷ giá
liên tục giảm, dưới mức sàn.

Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm (từ mức
16.112 đồng xuống 15.960 đồng. mức thấp nhất là 15.560 đồng/USD). Trên
thị trường tự do, USD dao động từ mức 15.700 - 16.000 đồng/USD.

Nguyên nhân là thời điểm này đang ở giai đoạn gần tết Dương lịch, do đó
lượng kiều hối chuyển về nước khá lớn. Thứ hai, các nhà đầu tư dự kiến
VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi suất lớn giữa USD
và VND nên các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển qua VND. Tập
trung vào các đối tượng là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Trái phiếu
Chính phủ Việt Nam (1,4 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu vay USD để
phục vụ sản xuất kinh doanh...Các NHTM lúc này cũng đẩy mạnh bán USD.

Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và NHNN đang đẩy mạnh việc kiềm
chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản
từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008). NHNN không
thực hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng
biên độ tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008.

• Giai đoạn 2 (từ 26/03 - 16/07): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt
USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.

Trong giai đoạn này, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa
tháng 6, đỉnh điểm lên đến 19.400 đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn
2.600 đồng so với mức trần. Tâm lý hoang mang cộng với động thái đầu cơ
của giới buôn ngoại tệ trên thị trường tự do đẩy USD cùng với giá vàng
tăng mạnh lên gần 19 triệu đồng/lượng.

Tỷ giá lên đỉnh ngày 18/06, sau đó giảm dần. Ngày 27/06, NHNN tăng biên
độ USD/VND từ 1% lên 2%.

Nguyên nhân USD tăng mạnh trong giai đoạn này chủ yếu do tâm lý bất ổn
của doanh nghiệp và người dân khi thấy USD tăng nhanh dẫn đến trạng thái
găm ngoại tệ của giới đầu cơ. Nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của
cả DN xuất và nhập khẩu đến hạn cao; Tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch
lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế.
Nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc bán Trái
phiếu chính phủ khi lo ngại về tình hình kinh tế và do tình hình thanh
khoản thấp trên thị trường thế giới đẩy nhu cầu mua USD chuyển vốn về
nước lên cao (bán ròng 0,86 tỷ USD).

Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh
nghiệp xuất khẩu (theo quyết định số 09/2008/QĐ, NHNN không cho phép vay
để chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, vay thực hiện dự án sản xuất xuất
khẩu) giảm hiện tượng doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tế bán lại trên
thị trường.

• Giai đoạn 3 (từ 17/07 - 15/10): Giảm mạnh và dần đi vào bình ổn.

Nhờ có sự can thiệp kịp thời của NHNN, cơn sốt USD đã được chặn đứng, tỷ
giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giao dịch bình
ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 - tháng 11.

Nhận thấy tình trạng sốt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch
sử, NHNN đã công khai công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi
các thông tin trên thị trường cho rằng USD đang trở nên khan hiếm.

Đồng thời lúc này, NHNN đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình ổn
thị trường ngoại tệ như kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm
mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký với các NHTM), cấm
mua bán USD thông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng
và cho phép xuất khẩu vàng; bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua
các NHTM lớn.

• Giai đoạn 4 (từ 16/10 đến nay): tỷ giá USD tăng trở lại.

Tỷ giá USDVND tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600 lên mức cao nhất là
16.998 sau đó giảm nhẹ. Giao dịch nằm trong biên độ tỷ giá. Tuy nhiên
cung hạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn. Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ
2% lên 3% trong ngày 7/11/2008, tăng tới mức 17.440 đồng/USD.

Nguyên nhân: Trong khoảng thời gian từ tháng 10 - tháng 11, nhà đầu tư
nước ngoài đẩy mạnh việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700
triệu USD), cổ phiếu (100 triệu USD). Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà
đầu tư nước ngoài tăng cao khi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức tại
chính quốc. Nhu cầu mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh
(khoảng 40 triệu USD/ngày).
Cầu USD trên thị trường tự do tăng cao bởi khi NHNN không cho phép nhập
vàng thì hiện tượng nhập lậu vàng gia tăng, làm tăng cầu USD để nhập
khẩu (do USD là đồng tiền thanh toán chính).

NHNN bán hơn 1 tỷ USD cho các NHTM đáp ứng nhu cầu nhập khẩu một số mặt
hàng thiết yếu.

Dự trữ bắt buộc:

Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 2/2008 NHNN điều chỉnh
tăng 1% tỷ lệ DTBB đối với tất cả các kỳ hạn, áp dụng cho cả tiền gửi
VND và ngoại tệ đối với hầu hết các TCTD.

Những tháng cuối năm 2008, để ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đã điều
chỉnh giảm tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng VND từ 11% xuống 6% và tiền
gửi bằng ngoại tệ từ 11% xuống 7%



Biểu 1: Diễn biến Dự trữ bắt buộc năm 2007-2008

Đơn vị %

2007 2008 (3 lần thay đổi)

Tỷ lệ DTBB (%tổng số dư tiền gửi phải DTBB) Lần 1: Lần 2: Lần 3:

- Không kỳ hạn và dưới 12 tháng

+ VND 10 11 10 8

+ Ngoại tệ 10 11 9 9

- Từ 12 -24 tháng

+ VND 4 5 4 2

+ Ngoại tệ 4 5 3 3

Như vậy, năm 2008 là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với
những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi
mới.Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước trong 6
tháng đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những phản ứng kịp
thời, sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt
chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ổn định kinh tế vĩ mô. Các
công cụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để hút tiền từ lưu
thông nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế, điều hành linh
hoạt tỷ giá theo tín hiệu thị trường. Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường
công tác thanh tra, giám sát hoạt động của thị trường ngoại hối và của
các tổ chức tín dụng, hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng có thể gây
mất an toàn hệ thống của các tổ chức tín dụng. Đến cuối năm 2008, để chủ
động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ thắt chặt được
chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng. Chính sách tền tệ chưa thể
nói là cực chuẩn nhưng có thể nói là thành công.
Tuy nhiên, do Chính phủ không dự đoán được tình hình khủng hoảng xảy ra
nên việc áp dụng CSTT của NHNN được thực hiện trong bị động và tình hình
căng thẳng, Việc thắt chăt CSTT đột ngột trong giai đoạn đầu sẽ tạo ra
sú sốc lớn và gây ra các phản ứng tiêu cực tức thời của thị trường tiền
tệ và của NHTM. Thêm vào đó, sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu trong ngắn
hạn sẽ khiến cho nền kinh tế trong ngắn hạn không thể thực hiện được tất
cả các mục tiêu của chính sách tiền tệ.

2.2. NĂM 2009

a. Tình hình kinh tế:

Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn,
thách thức. Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm
2008 đã đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng
kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động
tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta.

b. Phân tích và bình luận:

Tình hình kinh tế: Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ (CSTT) đã
phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập
của nền kinh tế và tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy, lạm phát cao
năm 2008, cùng với sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt
mạnh cán cân thương mại (12,783 tỷ USD) đã có tác động mạnh đến tâm lý
các nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối, gây những biến động khó lường
đến tỷ giá

Thêm vào đó, giải pháp hỗ trợ lãi suất có tác động tích cực hỗ trợ doanh
nghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường
tín dụng, nhưng cũng gây sức ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế,
tín dụng tăng trưởng cao và áp lực giảm giá VND.

2009 - Khó khăn đã vượt qua

Trước những tác động bất lợi như vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực
thi CSTT một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để
giữ bình ổn thị trường.

Từ đầu năm 2009 đến nay, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và dân cư
trong xã hội tiếp cận được với vốn vay của hệ thống ngân hàng theo tinh
thần của các gói giải pháp kích cầu của Chính phủ cũng như tạo điều kiện
cho các NHTM hoạt động ổn định và hiệu quả, NHNN đã hạ thấp lãi suất chỉ
đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%.

Thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn, tuy nhiên 6 tháng đầu năm
2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi. Do áp lực
từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá,
các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại tệ.

Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND
và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp
không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến
nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng
thẳng.
Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã triển khai
quyết liệt nhiều giải pháp như mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán
USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +/-3% lên +/-5% so với tỷ giá
bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết cung
cầu ngoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu
các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hòa
ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trên ngân hàng

Đồng thời, trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bán nguồn ngoại
tệ thu được từ phát hành trái phiếu Chính phủ cho NHNN; đề nghị một số
doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại
tệ; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công thương trong việc kiểm soát nhập siêu
và đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ thiết yếu của nền kinh tế.

Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng được tăng cường như
phối hợp với các bộ, ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi
quảng cáo, niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ, mua, bán ngoại tệ trái
phép; tăng cường kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng
thương mại và hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi
phạm.

Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của
các doanh nghiệp và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công
bố công khai, rộng rãi các thông tin về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu
cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ
(lãi suất cho vay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ
ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể từ ngày
01/6/2009, lãi suất huy động giảm xuống mức không quá l,5%/năm kể từ
ngày 01/6/2009)

Đồng thời đề nghị Hiệp hội Ngân hàng yêu cầu các NHTM cổ phần đồng thuận
giảm lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ như các NHTM nhà nước kể
từ ngày 8/6/2009. Các biện pháp trên đã có tác động giảm áp lực thiếu
cung ngoại tệ trên thị trường, giữ được thị trường ổn định.

Tuy nhiên, diễn biến kinh tế những tháng cuối năm vẫn tiếp tục là thách
thức cho thực thi CSTT như thâm hụt cán cân thương mại không được cải
thiện mà vẫn tiếp tục gia tăng (theo số liệu của Tổng cục Hải quan 11
tháng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 113,6 tỷ USD, giảm 14,7%
so với cùng kỳ năm 2008, trong đó, xuất khẩu là 51,33 tỷ USD, giảm 11,5%
và nhập khẩu là 62,28 tỷ USD, giảm 17%.

Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng thâm hụt 10,95 tỷ USD bằng 21,3%
xuất khẩu), nguồn bù đắp cho thâm hụt này suy giảm như nguồn đầu tư trực
tiếp nước ngoài giảm sút mạnh so với năm 2008, đầu tư gián tiếp nước
ngoài không tăng mà còn giảm; nguồn kiều hối cũng giảm do khủng hoảng
kinh tế toàn cầu... do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tình
hình này tiếp tục gây bất lợi cho việc ổn định tỷ giá.

Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt ngân
sách ở mức 6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà gây áp
lực giảm giá VND.

Trên thị trường tiền tệ xuất hiện những hiện tượng bất cập, mâu thuẫn
nhau: Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay
vốn của doanh nghiệp, VND vẫn khan hiếm, biểu hiện ở áp lực tăng lãi
suất, thanh khoản VND mỏng manh.

Sự khan hiếm tiền đồng về mặt lý thuyết là làm cho VND lên giá. Nhưng
chính sách điều tiết vĩ mô thì lãi suất lại thấp (lãi suất cho vay hỗ
trợ, trần lãi suất cho vay..) gây áp lực giảm giá VND, đồng thời kích
thích nhu cầu sử dụng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng, gây ra vòng xoáy
khan hiếm tiền đồng, gây áp lực cho NHNN phải cung ứng thêm tiền đồng.
Điều này tiếp tục gây áp lực giảm giá VND. Đồng thời, sự biến động mạnh
của giá vàng cũng có những tác động bất lợi đến tỷ giá.
Trước tình hình này, ngày 26/11, NHNN đã kịp thời điều chỉnh tỷ giá,
nâng tỷ giá công bố lên 17.980 VND/USD, tăng 5,4% so với ngày trước đó,
thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% xuống còn +/-3%, đồng thời yêu cầu các
tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm biên độ tỷ giá.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở
xuống lại được NHNN bán ngoại tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng
cam kết cung cấp đủ ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc
biệt ưu tiên những mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất.
Đồng thời với điều chỉnh tỷ giá, NHNN đã thực hiện nâng các mức lãi suất
chỉ đạo lên thêm 1%. Đây là giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với tình
hình thực tế, vừa có tác dụng tiếp tục duy trì tăng trưởng của nền kinh
tế đồng thời chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và trước mắt ổn định
thị trường ngoại hối.

Như vậy, có thể nói những khó khăn nhất đã qua, năm 2009 mặc dù phải đối
mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình thực thi CSTT, nhưng với sự
điều hành linh hoạt, sự ứng phó kịp thời với những biến động của tình
hình, về cơ bản CSTT đã đạt được mục tiêu của năm 2009 là kiềm chế lạm
phát từ mức 19,98% năm 2008 xuống còn 6,52%, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
ở mức 5,2% và CSTT đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy
nhiên, nền kinh tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ và đòi hỏi CSTT của
NHNN phải có phản ứng kịp thời để ngăn chặn.

2.2 Năm 2010

a. Tình hình kinh tế:

Năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng tài chính, tăng
trưởng kinh tế 4,8%, thương mại tăng 11,4%. Năm 2010, theo đánh giá của
Chính phủ, kinh tế nước ta tiếp tục đà phục hồi và tăng trưởng khá. Kinh
tế trong nước tăng trưởng cao (6,78%) nhờ động lực đầu tư (vốn đầu tư
toàn xã hội tăng 12,9%), xuất khẩu (25,5%) và tiêu dùng (tổng mức bán lẻ
hàng hóa và dịch vụ tăng 24,5%); các cân đối lớn của nền kinh tế và an
sinh xã hội cơ bản được đảm bảo.

b. Phân tích và bình luận:

Trong năm 2010, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt
và thận trọng, phù hợp với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và
bám sát tình hình thực tế, góp phần quan trọng để thực hiện các mục tiêu
kinh tế vĩ mô, thể hiện cụ thể là:

Với mục tiêu duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng
trưởng kinh tế bền vững trong năm 2010, chủ động đối phó với diễn biến
phức tạp của thị trường tài chính và kinh tế thế giới, Ngân hàng Nhà
nước đã quyết định điều chỉnh lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm,
tăng lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất chiết khấu
tăng từ 5%/năm lên 6%/năm áp dụng từ 1/12/2009.

Phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai Nghị định số
41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển
nông nghiệp và nông thôn, trong đó quy định hộ sản xuất và hợp tác xã
vay vốn từ 50-500 triệu đồng không phải thế chấp, cầm cố tài sản; ban
hành cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng cho vay vốn
đối với nông nghiệp và nông thôn với lãi suất thấp hơn lĩnh vực khác,
thông qua giảm dự trữ bắt buộc, cho vay tái cấp vốn, mở rộng mạng lưới
TCTD. Bên cạnh đó, NHNN chỉ đạo các TCTD tập trung vốn cho vay đối với
xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khắc phục hậu quả thiên tai. Tín
dụng đối với nền kinh tế tăng 27,65% (giảm dần trong 3 tháng cuối năm);
tín dụng đối với nông nghiệp và nông thôn tăng 23,2%, cao hơn năm 2009
(18,8%).
Trong 10 tháng đầu năm, lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn ổn
định ở mức 8%/năm, kết hợp với điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường
mở và giám sát việc thực hiện các tỷ lệ an toàn của TCTD, đã điều tiết
lãi suất huy động và cho vay giảm dần theo chỉ đạo của Chính phủ (đến
cuối tháng 10, lãi suất huy động VND bình quân 10,44%/năm, cho vay
13,18%/năm).

• Hai tháng cuối năm, NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản và tái cấp vốn
tăng 1%/năm, kết hợp với điều hành chặt chẽ lượng tiền cung ứng, quy
định trần lãi suất huy động VND 14%/năm để ổn định thị trường tiền tệ,
đã làm tăng lãi suất thị trường và giảm cầu tín dụng (cuối tháng 12, lãi
suất huy động VND bình quân 12,44%/năm, cho vay 14,96%/năm, cho vay nông
nghiệp nông thôn, xuất khẩu 12-14%/năm; lãi suất thị trường nội tệ liên
ngân hàng 9,5 - 12%/năm).

Điều chỉnh tỷ giá mua - bán ngoại tệ của các TCTD tăng 5,52%; thực hiện
các biện pháp ổn định thị trường ngoại tệ, như kết hối ngoại tệ đối với
7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước, quy định trần lãi suất tiền gửi của
tổ chức kinh tế bằng USD 1%/năm, bán ngoại tệ cho nhập khẩu mặt hàng
thiết yếu, chỉ đạo các TCTD hạn chế cho vay nhập khẩu mặt hàng không
thiết yếu và không khuyến khích. Thị trường ngoại tệ và tỷ giá tương đối
ổn định trong hơn 9 tháng đầu năm; từ tháng 10, tỷ giá thị trường tăng
phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô.

Thực hiện các giải pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng ngay từ đầu
năm. Đóng cửa sàn giao dịch vàng và chấm dứt kinh doanh vàng trên tài
khoản ở nước ngoài; điều hành xuất - nhập khẩu vàng phù hợp với nhu cầu
thị trường; ban hành Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010 thu hẹp
huy động và cho vay bằng vàng; phối hợp với các bộ, ngành chống đầu cơ,
buôn lậu vàng. Giá vàng trong nước tăng bám sát giá thế giới, hiện tượng
tâm lý đám đông và đầu cơ có xu hướng giảm.

Giám sát chặt chẽ diễn biến thị trường tiền tệ và thực hiện các giải
pháp đảm bảo an toàn hệ thống. Hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM; ban hành
quy định mới phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực
tế của hệ thống TCTD nước ta về tỷ lệ an toàn, cấp giấy phép thành lập
và hoạt động NHTM cổ phần, sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD, quản trị
kinh doanh của NHTM; giãn tiến độ tăng vốn điều lệ của các TCTD theo
Nghị định 141/2006/NĐ-CP đến cuối năm 2011; Cơ quan Thanh tra giám sát,
NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố tăng cường thanh tra, kiểm tra các TCTD.
Năm 2010, tài sản có của hệ thống TCTD tăng 28%, tỷ lệ an toàn kinh
doanh phù hợp với quy định của NHNN, tỷ lệ nợ xấu khoảng 2,5%; tình hình
thanh khoản và lãi suất thị trường tiền tệ trong nửa cuối tháng 12 tương
đối ổn định.

Tiếp tục hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay được giải ngân năm 2009
và các khoản cho vay năm 2010 theo Quyết định số 2072/QĐ-TTg ngày
11/12/2009 và Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009; cuối tháng 12,
dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất khoảng 95.000 tỷ đồng, trong đó cho vay hỗ
trợ lãi suất lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn 8.000 tỷ đồng, cho vay hộ
nghèo và đối tượng chính sách 28.000 tỷ đồng.

Phối hợp giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ với chính sách tài
khoá, các NHTM sử dụng số vốn dự trữ thanh toán để mua trái phiếu Chính
phủ, ngân sách Nhà nước có vốn để đầu tư phát triển, tăng tỷ lệ vốn hóa
thị trường vốn và thanh khoản của thị trường tiền tệ.
Nâng cao tần suất, chất lượng và hiệu quả của công tác truyền thông về
điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

Tình hình điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng nổi lên
các vấn đề cần được quan tâm sau:

(1) Việc điều hành chính sách tiền tệ đảm bảo hài hòa giữa ổn định kinh
tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế cho nên khả năng linh hoạt chưa ở mức cao;

(2) Thị trường tiền tệ và ngoại hối chưa ổn định, kỷ cương pháp luật
trên thị trường chưa nghiêm;

(3) Tỷ trọng tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất (kinh doanh chứng
khoản, bất động sản, tiêu dùng) giảm chậm; tín dụng có sức ép tăng, nếu
không kiểm soát chặt chẽ sẽ vượt xa mục tiêu 25%, ảnh hưởng xấu đến lạm
phát và cán cân thanh toán quốc tế;

(4) Năng lực tài chính, quản trị kinh doanh và khả năng cạnh tranh của
các TCTD còn hạn chế; tính tương trợ cộng đồng và liên kết hệ thống TCTD
còn yếu, nợ xấu tăng.

Nhìn chung, thị trường tiền tệ, tín dụng trong năm 2010 tương đối ổn
định và diễn biến phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội.Tính
đến 31/12, tăng trưởng tín dụng ước đạt 29,81%, tổng dư nợ tăng 27,6%;
tổng phương tiện thanh toán tăng 25,3% so với cuối năm 2009. Sau khi
thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận và các biện pháp điều hành tiền tệ
linh hoạt của NHNN, lãi suất huy động và cho vay VND của các NHTM giảm
dần. Hiện nay, các ngân hàng đã thực hiện đồng thuận lãi suất huy động
VND không vượt quá 14%/năm; lãi suất cho vay bình quân 15,27%/năm.

Thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã dần ổn định, nguồn cung ngoại tệ
được cải thiện đáng kể, tỷ giá diễn biến phù hợp với mục tiêu khuyến
khích xuất khẩu, góp phần hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế. Giá vàng trong nước diễn biến tương đối sát với giá vàng
thế giới, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới đã được thu hẹp.

Từ thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ năm 2010 và các năm gần đây,
NHNN rút ra một số kinh nghiệm cho điều hành năm tới:

Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và
thận trọng nhằm mục tiêu hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô; sử dụng đồng
bộ, hài hòa các công cụ vận hành theo cơ chế thị trường, kết hợp với các
quy định quy phạm pháp luật để ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát tín
dụng và tổng phương tiện thanh toán gia tăng ở mức hợp lý;

Hai là, tạo điều kiện cho các TCTD huy động vốn trong và ngoài nước, đi
đôi với chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng tín dụng để tập trung
vốn cho lĩnh vực sản xuất, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất
khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa;

Ba là, thông tin ra thị trường một cách công khai, minh bạch, kịp thời
và nhất quán về điều hành chính sách tiền tệ, để củng cố lòng tin và sự
đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp, dân cư, các nhà đầu tư ở trong và
ngoài nước;

Bốn là, tiếp tục cơ cấu lại hệ thống TCTD phù hợp với các chuẩn mực an
toàn, hiệu quả của thông lệ quốc tế, với các bước đi thích hợp; đảm bảo
kỷ cương trong điều hành;

Năm là, phối hợp ngay từ đầu năm kế hoạch các giải pháp cụ thể trong
điều hành chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

2.3 NHỮNG THÁNG ĐẦU NĂM 2011

Tình hình kinh tế:
a.
Về những giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2011, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng
cho rằng, nền kinh tế sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức
mới, lớn hơn so với dự báo cuối 2010, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô.

b. Phân tích và bình luận:

"Năm 2011, NHNN sẽ điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và
thận trọng nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh
tế vĩ mô, góp phần tăng trưởng kinh tế." - Đây là một định hướng chiến
lược mới, thay cho hỗ trợ tăng trưởng của chinh sách tiền tệ năm 2010.

Hiện nay:

Lãi suất cơ bản 9%

Lãi suất tái chiết khấu 12%

Lãi suất tái cấp vốn 13%

TGBQLNH ngày 19/4/2011 là 1USD = 20.733,00VND

Ngày 8/3/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 379/QĐ-NHNN về
lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm
trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn
trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng.

Theo quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước quy định các mức lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh
toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán
bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng là 12,0%/ năm

Như vậy, đây là lần thứ hai kể từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước tăng một số
loại lãi suất điều hành. Lần trước, ngày 17/2, mức tăng lãi suất tái cấp
vốn là từ 9%/năm lên 11%/năm, lần này thì từ 11% lên 12%.

Đáng chú ý là trong lần điều chỉnh này, lãi suất tái chiết khấu được
tăng mạnh, từ 7%/năm lên 12%/năm.

9/4/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Quyết định số
750/QĐ-NHNN điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 4%
lên 6% đối với các tổ chức tín dụng. Quyết định này có hiệu lực kể từ kỳ
duy trì dự trữ bắt buộc tháng 5/2011.

Tuy nhiên, thực tế sau 3 tháng đầu năm 2011, tăng trưởng tín dụng vẫn
còn cao, lạm phát chưa có dấu hiệu giảm.

Con số tăng trưởng tín dụng quý I/2011 tính đến gần cuối tháng 3 khoảng
4,3% và trong những ngày cuối tháng 3 các ngân hàng hầu như cũng ít giải
ngân nên khó có thể vượt ngưỡng 5%. Do vậy, biện pháp tăng dự trữ bắt
buộc khó có thể xảy ra, nhưng với việc tăng các mức lãi suất chỉ đạo như
vừa qua, và nếu NHNN tiếp tục tăng các loại lãi suất này, chắc chắn sẽ
tác động trực tiếp tới lãi suất huy động và cho vay trên thị trường của
các ngân hàng
 Sự thay đổi lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu từ năm 2008 đến nay

 Lãi suất cơ bản

Thời gian bắt đầu thay đổi lãi suất 22/12/2008 01/02/2009 01/12/2009
05/11/2010

Lãi suất 8.5% 7% 8% 9%

 Lãi suất tái cấp vốn

Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng

13% 692/QĐ-NHNN 31/3/2011 01/04/2011

12% 379/QĐ-NHNN 8/3/2011 08/03/2011

11% 271/QĐNHNN 17/02/2011 17/02/2011

9% 447/TB-NHNN 29/11/2010 01/12/2010

9% 2620/QĐNHNN 05/11/2010 05/11/2010

8% 402/TB-NHNN 27/10/2010 01/11/2010

8% 352/TB-NHNN 27/9/2010 01/10/2010

8% 316/TB-NHNN 25/8/2010 01/09/2010

8% 259/TB-NHNN 27/7/2010 01/08/2010

8% 220/TB-NHNN 24/06/2010 01/07/2010

8% 189/TB-NHNN 31/5/2010 01/06/2010

8% 26/TB-NHNN 26/01/2010 01/02/2010

8% 2664/QĐ-NHNN 25/11/2009 01/12/2009

7,0%/năm 2232/QĐ-NHNN 01/10/2009

7% 837/QĐ-NHNN ngày 10/4/2009 10/04/2009

8,0% 173/QĐ-NHNN 23/1/2009 01/02/2009

9.5%/năm 3159/QĐ-NHNN 19/12/2008 22/12/2008
11,0%/năm 2949/QĐ-NHNN 03/12/2008 05/12/2008

12,00%/năm 2810/QĐ-NHNN 20/11/2008 21/11/2008

13,00%/năm 2561/QĐ-NHNN 03/11/2008 05/11/2008

4,00%/năm 2318/QĐ-NHNN 20/10/2008 21/10/2008

15,00%/năm 1316/QĐ-NHNN 10/06/2008 11/06/2008

13,00%/năm 1099/QĐ-NHNN 16/05/2008 19/05/2008

7,50%/năm 306/QĐ-NHNN 30/01/2008 01/02/2008

 Lãi suất tái chiết khấu
Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng

12% 379/QĐ-NHNN 8/3/2011 08/03/2011

7% 447/TB-NHNN 29/11/2010 01/12/2010

7% 2620/QĐNHNN 05/11/2010 05/11/2010

6% 402/TB-NHNN 27/10/2010 01/11/2010

6% 352/TB-NHNN 27/9/2010 01/10/2010

6% 316/TB-NHNN 25/08/2010 01/09/2010

6% 259/TB-NHNN 27/7/2010 01/08/2010

6% 316/TB-NHNN 25/8/2010 01/09/2010

6% 220/TB-NHNN 24/06/2010 10/08/2010

6% 189/TB-NHNN 31/5/2010 01/06/2010

6% 26/TB-NHNN 26/01/2010 01/02/2010

6%/năm 2664/QĐ-NHNN 25/11/2009 01/12/2009

5,0%/năm 2232/QĐ-NHNN 01/10/2009

5% 837/QĐ-NHNN 10/4/2009 10/04/2009
6,0% 173/QĐ-NHNN 23/1/2009 01/02/2009

7.5%/năm 3159/QĐ-NHNN 19/12/2008 22/12/2008

9,0%/năm 2949/QĐ-NHNN 3/12/2008 05/12/2008

10% 2810/QĐ-NHNN 21/11/2008

11%/năm 2561/QĐ-NHNN 3/11/2008 05/11/2008

12.0%/năm 2318/QĐ-NHNN 20/10/2008 21/10/2008

13,0%/năm 1316/QĐ-NHNN 10/6/2008 11/06/2008

11,00%/năm 1099/QĐ-NHNN 16/05/2008 19/05/2008

11% 1098/QĐ-NHNN 16/5/2008 19/05/2008

6.0% 306/QĐ-NHNN 30/1/2008 01/02/2008

 Giải pháp trong thời gian tới

Một trong những giải pháp chủ yếu yêu cầu triển khai thực hiện là phải
áp dụng chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt phải tiến tới
kiềm chế lạm phát cao, góp phần ổn định giá trị tiền đồng Việt Nam, tăng
dần dự trữ ngoại hối. Nhanh chóng xây dựng các cơ chế, chính sách tăng
cường quản lý thị trường ngoại tệ (đô la) và vàng, khắc phục tình trạng
đầu cơ tích trữ, buôn bán trái phép, không gây trở ngại cho việc thu hút
các nguồn ngoại tệ từ nước ngoài về nước, tổ chức lại thị trường kinh
doanh vàng. Tăng cường quản lý hoạt động các ngân hàng thương mại, tránh
rủi ro về nợ xấu, bảo đảm tính thanh khoản; khắc phục những bất hợp lý
về lợi nhuận và thu nhập trong lĩnh vực này. Kiểm soát tỷ giá biến động
thấp hơn mức lạm phát kỳ vọng, tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng
cung và giảm cầu ngoại tệ như năm 2010, đi đôi với chống đầu cơ và găm
giữ ngoại tệ. Dành một phần lượng tiền cung ứng để cho vay tái cấp vốn
với lãi suất hợp lý, hỗ trợ TCTD mở rộng tín dụng ngắn, trung và dài hạn
đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu. NHNN thực hiện thắt
chặt tiền tệ thông qua lãi suất



KẾT LUẬN:

Như vậy, qua sự phân tích và bình luận CSTT của NHNN trong thời gian gần
đây, chúng ta nhận ra vai trò rất lớn của CSTT trong nền kinh tế. Để xét
chính sách tiền tệ tốt hay chưa tốt đôi khi phải xét ở góc độ toàn xã
hội chứ không chỉ ở góc độ các doanh nghiệp và NHTM. Vì CSTT chỉ có thể
đạt được mục tiêu trong dài hạn nên chắc chắn rằng những CSTT trong ngắn
hạn sẽ không để nào đáp ứng được tất cả các mục tiêu và làm thỏa mãn nhu
cầu của các NHTM cũng như toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, những phản ứng
kịp thời và linh hoạt của CSTT sẽ là một trong những công cụ hữu hiệu
điều tiết nền kinh tế trước những biến động diến ra hằng ngày theo quy
luật chung của nó. Và để thực hiện điều hành chính sách tiền tệ một cách
hiệu quả trong thời gian tiếp theo NHNN cần rút ra những bài học kinh
nghiệm về phản ứng thị trường trước những sự thay đổi CSTT và bám sát
hơn nữa thị trường để phát huy tối đa vai trò của mình.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản