Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP

Chia sẻ: | Ngày: doc 12 p | 400

0
1.980
views

Phá sản dù được lý giải rất khác nhau về xuất xứ, song khái niệm này đều được sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại đang bắt buộc chúng ta phải nhìn nhận phá sản là một hiện tượng xã hội tiêu cực khi xem xét các tác động của chúng trên các phương diện

PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
Nội dung Text

  1. PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP   1. PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1.1. Khái niệm phá sản, pháp luật phá sản 1.1.1 Khái niệm, phân loại phá sản a) Khái niệm phá sản Phá sản dù được lý giải rất khác nhau về xuất xứ, song khái niệm này đều được sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại đang bắt buộc chúng ta phải nhìn nhận phá sản là một hiện tượng xã hội tiêu cực khi xem xét các tác động của chúng trên các phương diện sau: ­ Về mặt kinh tế: Sự phá sản của một doanh nghiệp trong điều kiện ngày nay đếu đưa đến những hậu quả tiêu cực. Nhiều doanh nghiệp phải gánh chịu những hậu quả to lớn khi những đối tác làm ăn của mình bị phá sản. Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động của nghành nghề đó càng sâu rộng, số lượng bạn hàng càng đông, thì sự phá sản của nó có thể dẫn tới sự phá sản hàng loạt các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng Domino" - phá sản dây truyền. ­ Về mặt xã hội, phá sản doanh nghiệp để lại nhièu hậu quả tiêu cực cho xã hội. Trước hết, phá sản doanh nghiệp làm tăng số lượng những người thất nghiệp và làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn, đặc biệt là các đô thị lớn và các khu công nghiệp. Trên thực tế, gánh nặng giải quyết việc làm, đào tạo lại nghề cho những người thất nghiệp và trợ cấp thất nghiêp…lại được chuyển giao cho nhà nước. Mặt khác, tỷ trọng người thất nghiệp cao do phá sản đem lại luôn ẩn chứa những nguy cơ bất ổn định về mặt xã hội và nếu như không giải quyết kịp thời sẽ trở thành nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. ­ Về mặt chính trị, phá sản dây truyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí là khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên nhân dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị. Phá sản với tính cách là một hiện tượng xã hội tiêu cực cần phải được hạn chế và ngăn chặn tới mức tối đa. Nói cách khác, phá sản phải được xem là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất của nhà nước đối với các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Để ngăn chặn và kiểm soát một cách có hiệu quả những hậu quả bất lợi của việc phá sản doanh nghiệp, cơ chế phá sản hiện đại đã chủ động can thiệp bằng pháp luật từ khi "doanh nghiệp có những dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản". Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là các tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định rất khác nhau không chỉ ở các quốc gia khác nhau mà còn ở các giai đoạn phát triển khau nhau của một nền kinh tế. Nếu căn cứ vào nội dung của các tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thực tiễn điều chỉnh pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới hiện nay đã và đang tiếp tục sử dụng 3 tiêu chí sau đây:
  2. ­ Tiêu chí định lượng: theo tiêu chí này một doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không thanh toán được một món nợ đến hạn có giá rị tối thiểu được ấn định trong luật phá sản. Ví dụ: Luật của Anh là 50 bảng, luật Singapore là 2000 đô la Singapore…. ­ Tiêu chí "kế toán": tiêu chí này được thực hiện thông qua sổ sách kế toán của doanh nghiệp mắc nợ. Nếu như các sổ sách kế toán của doanh nghiệp cho thấy tổng giá trị tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản. So với tiêu chí định lượng, tiêu chí này đã phản ánh chính xác hơn tình trạng tài chính của doanh nghiệp mắc nợ và do đó nó cho phép thu hẹp hơn phạm vi những doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản. ­ Tiêu chí định tính "mất khả năng thanh toán": quan tâm trực tiếp đến tính "tức thời của việc trả nợ", khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp mắc nợ mà không dành sự quan tâm của mình đến số lượng tài sản hiện có của doanh nghiệp mắc nợ. Ở góc độ tài chính kế toán, tiêu chí này chỉ xem xét chủ yếu đến dòng tiền của doanh nghiệp mắc nợ khi đánh giá khả năng thanh toán của họ. So với hai tiêu chí trên, tiêu chí này đã làm cho khả năng mở thủ tục phá sản đối với một doanh nghiệp đến sớm hơn để có thể có những giải pháp "phục hồi" hoặc cho phá sản doanh nghiệp đó một cách kịp thời để bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân doanh nghiệp mắc nợ và các chủ nợ, ngăn chặn hiện tượng phá sản dây truyền. Phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của pháp luật phá sản hiện đại, luật phá sản Việt nam được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và có hiệu lực thi hành từ 15 tháng 10 năm 2004, đã đưa ra tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tại điều 3 như sau: "Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì bị coi là lâm vào tình trạng phá sản". Tuy nhiên, doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ phải là hiện tượng khách quan và nằm ngoài sự mong đợi của chủ doanh nghiệp. b) Phân loại phá sản. Phân loại phá sản là một việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Việc phân loại phá sản một cách khoa học sẽ giúp chúng ta xác định được phạm vi và mức độ can thiệp cần thiết của nhà nước bằng pháp luật đối với các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết một vụ phá sản. Trên thực tế, tuỳ thuộc vào mục đích và mức độ xem xét, có nhiều cách phân loại khác nhau. Ở đây chỉ đề cập tới hai dạng phân loại chủ yếu thường gặp là: Phá sản trung thực và phá sản man trá; phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc. ­ Sự phân biệt phá sản trung thực và phá sản man trá dựa trên bản chất quan hệ kinh tế, nhìn dưới góc độ nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản. + Phá sản trung thực là hậu quả khách quan và trực tiếp của tình trạng không thích ứng của doanh nghiệp mắc nợ trước các đòi hỏi khắt khe và nghiệt ngã của thương trường. Doanh nghiệp có thể bị phá sản bới nhiều nguyên nhân mang tính khách quan như: thiên tai, địch hoạ, bị ảnh hưởng của chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, những chênh lệch về tỷ giá hối đoái, sự chuyển đổi xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng,… và cả những nguyên nhân chủ
  3. quan như: sự yếu kém trong năng lực quản lý, đièu hành, cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp bị mất cân đối nghiêm trọng, bị mất uy tín trên thương trường,… + Phá sản man trá hoàn toàn là hậu quả của những thủ đoạn, hành vi gian dối, có sự sắp đặt từ trước của chủ doanh nghiệp mắc nợ lợi dụng cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của các chủ nợ. ­ Sự phân biệt phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc dựa trên cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp lý, cụ thể căn cứ vào chủ thể đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. + Phá sản tự nguyện là do chủ doanh nghiệp mắc nợ tự đề nghị khi thấy doanh nghiệp hoàn toàn mất khả năng thanh toán, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ. + Ngược lại, phá sản bắt buộc được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của các chủ nợ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp mắc nợ. 1.1.2 Pháp luật về phá sản ­ Theo hiểu biết chung nhất, pháp luật phá sản là một tổng thể thống nhất các quy phạm pháp luật nhằm hướng tới việc giải quyết đúng đắn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Trong đó, luật phá sản đóng vai trò trung tâm vì nó quy định những vấn đề có tính nguyên tắc của trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp như: phạm vi áp dụng, điều kiện mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, thứ tự ưu tiên thanh toán khi phân chia tài sản phá sản,… ­ Nội dung của pháp luật phá sản không chỉ bao gồm trình tự thu hồi tài sản và thanh toán theo một thứ tự nhất định cho các chủ nợ (phát mại tài sản). Ngay từ cổ luật La mã, thủ tục phá sản còn một khía cạnh thứ hai đáng lưu ý: tạo cơ hội cho người mắc nợ và chủ nợ thoả thuận, tái tổ chức kinh doanh và lập một kế hoạch trả nợ phù hợp. . ­ Pháp luật phá sản luôn là một hệ thống mở, luôn vận động cho phù hợp với các yêu cầu của nền kinh tế ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên chúng ta có thể thấy rằng luật phá sản ở các quốc gia đều có những nét chính giống nhau như: + Chỉ có toà án mới có thẩm quyền tuyên bố phá sản. + Sau khi mở thủ tục giải quyết phá sản, doanh nghiệp mắc nợ không có quyền quản lý tài sản của mình mà trao quyền quản lý này cho một chuyên gia do toà án chỉ định. Người chuyên gia quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ phải chịu sự kiểm soát của toà án hoặc của một người thẩm phán. + Tất cả các hành động có tính chất gian lận và gây thiệt hại cho chủ nợ đều bị bãi bỏ. + Thủ tục giải quyết phá sản thường chia làm hai giai đoạn: i) Giai đoạn thi hành các biện pháp nhằm khôi phục khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. ii) Phá sản và thanh lý tài sản doanh nghiệp. + Các chủ nợ được xếp theo thứ tự ưu tiên trong việc phân chia tài sản
  4. + Trong quá trình giải quyết phá sản, quyền lực của thẩm phán rất quan trọng: nó có thể ngăn chặn các vụ đòi nợ và tham gia một cách trực tiếp trong việc thiết lập và thi hành đề án hoà giải giữa các chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ. ­ Mặc dù là trong 90% vụ phá sản doanh nghiệp, các chủ nợ không có bảo đảm không nhận được một đồng nào trong việc phân chia tài sản của doanh nghiệp mắc nợ, nhưng các nhà lập pháp vẫn tìm cách hạn chế số lượng các doanh nghiệp lâm vào tính trạng phá sản và thanh lý tài sản. Do vậy, chúng ta có thể thấy rằng các quy định của luật phá sản đều thể hiện nguyên tắc: tất cả các chủ nợ có bảo đảm hay không có bảo đảm đều phải chịu mất một phấn nợ của mình để nếu được, cứu doanh nghiệp khỏi tình trạng phá sản. ­ Vai trò của pháp luật phá sản. Vai trò của pháp luật phá sản được thể hiện ở những điểm sau: + Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mắc nợ. Pháp luật phá sản đóng vai trò "chiếc lá chắn" cho doanh nghiệp mắc nợ trước những sức ép và phương thức đòi nợ mang tính tự phát, rất nghiệt ngã dưới dạng luật rừng mà trong nhiều trường hợp sẽ đẩy con nợ đến tình trạng cùng quẫn. Pháp luật đã tạo điều kiện cho phép doanh nghiệp mắc nợ áp dụng các biện pháp cần thiệt để khắc phục khó khăn về tài chính và quay lại thương trường. Với việc tuyên bố phá sản, con nợ được giải phóng khỏi những ràng buộc về mặt pháp lý để có cơ hội tiếp tục trở lại môi trường kinh doanh + Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Pháp luật phá sản "thiết kế" sẵn một thủ tục đặc thù nhằm bảo đảm các quyền về tài sản của chủ nợ trước những rủi ro do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn của con nợ gây ra. Mặt khác, vai trò bảo vệ chủ nợ còn thể hiện ở chỗ pháp luật phá sản góp phần vào việc bảo đảm quyền bình đẳng công bằng cho các chủ nợ trong việc đòi nợ + Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Hậu quả xã hội đáng lưu ý nhất do sự phá sản doanh nghiệp gây ra là những ảnh hưởng về việc làm và thu nhập của người lao động. Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích của người làm công ăn lương luôn là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật phá sản. Bằng những quy định cụ thể, pháp luật phá sản xác định những nguyên tắc, căn cứ pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ và các bên liên quan. Theo quy định của lật phá sản, người lao động không những có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà các quy định về thứ tự ưu tiên khi phân chia giá trị còn lại của doanh nghiệp, chế độ trợ cấp, bảo hiểm thôi việc,… đều thể hiện tinh thần bảo vệ các quyền và lợi ích của người lao động khi doanh nghiệp bị phá sản. + Pháp luật phá sản là công cụ tái tổ chức lại doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và góp phần cơ cấu lại nền kinh tế. Có thể nói đây là vai trò hết sức quan trọng mà hầu hết các đạo luật phá sản hiện đại trên thế giưói đều hướng tới. Thông qua cơ chế hoà giải, tái tổ chức lại doanh nghiệp, pháp luật về phá sản tạo cơ hội để doanh nghiệp đang gặp khóp khăn về tài chính phục hồi sản xuất kinh doanh. Theo quy định của luật phá sản doanh nghiệp Việt nam, sau khi toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, doanh nghiệp được quyền xây dựng phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại kinh doanh để khắc phục tình trạng
  5. mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Như vậy, cả khi toà án đã thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp vẫn chưa hết cơ hội phục hồi, tìm những giải pháp thích hợp để duy trì sự tốn tại thay vì bị tuyên bố phá sản. Chính cơ chế phá sản là sự răn đe thường trực đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trên thương trường. + Pháp luật phá sản góp phần bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội. Việc phá sản có thể dẫn đến nhiều hậu quả kinh tế xã hội nghiêm trọng. Những hậu quả này nhiều khi là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự xáo trộn, những biểu hiện tiêu cực trong đời sống xã hội. Vì vậy, thông qua việc giải quyết thoả đáng về mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ, giữa chủ nợ với nhau, pháp luật phá sản góp phần hạn chế những mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các chủ thể có liên quan, bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội. 1.2. Trình tự phá sản doanh nghiệp ­ Luật phá sản Việt nam nhìn một cách tổng quát cũng áp dụng những nguyên tắc quốc tế về phá sản. Tức là việc giải quyết phá sản một doanh nghiệp có thể diễn ra ba giai đoạn chính yếu như sau: + Giai đoạn điều tra khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. + Giai đoạn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản + Giai đoạn phá sản và thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Chúng ta có thể hình dung 3 giai đoạn của việc phá sản bằng biểu đồ sau: GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA KHẢ NĂNG THANH TOÁN NỢ Có khả năng thanh toán nợ đến hạn Xây dựng phương án phục hồi GIAI ĐOẠN hoạt động sản xuất kinh doanh GIẢI QUYẾT Hội nghị chủ nợ thông qua phương YÊU CẦU án TUYÊN BỐ Thi hành đúng đăn phương án hoà PHÁ SẢN giải. Sau 3 năm doanh nghiệp khôi phục lại khả năng thanh toán GIAI ĐOẠN THANH LY TÀI SẢN DOANH NGHIỆP Hình 6.1. Ba giai đoạn của quy trình phá sản
  6. Khi doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả thì không đủ lợi nhuận để thanh toán nợ. Do đó, doanh nghiệp bị đưa vào tình trạng yếu kém về mặt tài chính. Một khi toà án để ý đến vụ việc là do: hoặc các chủ nợ thưa kiện đòi nợ, hay chủ doanh nghiệp đề nghị toà án giải quyết vấn đề trả nợ của mình Khi toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì việc đầu tiên sẽ tiến hành điều tra về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Việc điều tra này nhằm mục đích xem xét khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. Đây là giai đoạn đầu tiên ghi trong biểu đồ trên. Nếu doanh nghiệp muốn tránh khỏi rơi vào giai đoạn sau, thì phải làm sao chứng minh được với toà án là mình vẫn còn khả năng thanh toán nợ đến hạn, và việc kinh doanh vẫn còn sinh lời. Nhưng nếu không may, sau khi điều tra toà án nhận thấy doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn nữa thì sẽ áp dụng ngay các thủ tục của giai đoạn thứ hai là giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong giai đoạn này chủ doanh nghiệp phải có trách nhiệm xây dựng phương án hoà giải: tức là một chương trình khôi phục lại khả năng tài chính của doanh nghiệp và đồng thời trả xong các món nợ cũ. Phương án hoà giải phải thi hành trong một thời gian không quá 3 năm. Như chúng ta thấy ở sơ đồ trên, doanh nghiệp muốn tránh lâm vào tình trạng phá sản thì phải hội đủ bốn điều kiện trong thời gian giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, tức là: (i) Xây dựng một phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh (ii) Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. (iii) Doanh nghiệp thi hành đúng đắn phương án phục hồi sản xuất kinh doanh, tức là phải trả được tất cả các khoản nợ cũ hay mới. (iv) Sau 3 năm, doanh nghiệp phải khôi phục lại khả năng thanh toán nợ. Trường hợp nếu doanh nghiệp không thoả mãn được một trong bốn điều kiện trên thì sẽ bị tuyên bố phá sản và kể từ đó doanh nghiệp kể như không tồn tại. BẢNG CHI TIẾT TRÌNH TỰ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1. Giai đoạn điều tra 1.1 Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. ­ Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc về những người sau đây: chủ nợ (chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần); người lao động (khi doanh nghiệp không trả được lương hoặc các khoản nợ khác và nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản); chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước (khi nhận thấy doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản mà doanh nghiệp nhà nước không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu), cổ đông trong công ty cổ phần (khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản, được quyền nộp đơn yêu cầu theo điều lệ của công ty hoặc theo nghị quyết của đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu trên 20% cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng); thành viên hợp đồng. Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ doanh nghiệp. ­ Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tạm ứng phí phá sản.
  7. 1.2 Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. 1.3 Doanh nghiệp gửi cho toà án bản báo cáo về khả năng thanh toán nợ của mình (doanh nghiệp phải chứng minh được với toà án là mình vẫn còn khả năng thanh toán nợ đến hạn, việc kinh doanh vẫn còn sinh lời. 1.4 Toà án quyết định doanh nghiệp có còn khả năng thanh toán nợ hay không. 2. Giai đoạn mở thủ tục phá sản. 2.1 Nếu toà án quyết định rằng doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán nợ thì sẽ mở thủ tục phá sản. ­ Mục đích của giai đoạn “mở thủ tục phá sản” là tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thời gian để khôi phục lại khả năng kinh doanh và sinh lợi của mình. ­ Chỉ định các thành viên trong tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp. ­ Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của thẩm phán và tổ quản lý tài sản. ­ Tất cả các chủ nợ không có quyền tố tụng hay thi hành án lệnh đối với doanh nghiệp mắc nợ. ­ Nghiêm cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau: + Cất giấu, tẩu tán tài sản + Thanh toán nợ không có bảo đảm + Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ. + Chuyển nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp. ­ Các hoạt động của doanh nghiệp phải được sự đồng ý bằng văn bản của thẩm phán trước khi thực hiện + Cầm cố, thế chấp, bán, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê tài sản. + Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng + Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực pháp lý. + Vay tiền + Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản. + Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tăng lương cho người lao động. - Những vi phạm trước ngày mở thủ tục phá sản: Điều 43: Các giao dịch sau đây của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện trong khoảng thời gian 3 tháng trước ngày toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu:
  8. a) Tặng cho động sản, bất động sản cho người khác b) Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia. c) Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn d) Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khảon nợ e) Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp. Khi các giao dịch trên bị tuyên vô hiệu thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp. Quy định này nhằm hai mục đích: bảo vệ tài sản của doanh nghiệp để rồi sau này thanh toán nợ và bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ bằng cách tôn trọng quyền ưu tiên và nguyên tắc bình quyền giữa các chủ nợ 2.2 Doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi sản xuất kinh doanh. Thời gian thi hành phương án không quá 3 năm. - Phương án này phải minh chứng được những điều sau đây: + Nếu không phải trả ngay những món nợ đến hạn và quá hạn thì doanh nghiệp kinh doanh bình thường có lợi + Nói đến kinh doanh có hiệu quả là số tiền doanh thu không những đủ để bù lại những chi tiêu mà còn sinh lợi tức thêm cho chủ doanh nghiệp. + Phần lợi tức thêm đó phải có đủ để chi cho: nhu cầu hoạt động hàng ngày của chủ doanh nghiệp, việc thanh toán các đến hạn trong một thời gian không quá 3 năm. - Nghĩa vụ của các chủ nợ trong giai đoạn xây dựng và thi hành phương án hoà giải. + Gửi giấy đòi nợ đến toà án. Hậu quả của việc không gửi giấy đòi nợ đến toà án là mất quyền tham gia hội nghị chủ nợ. + Tất cả các vụ kiện đều bị đình chỉ + Các số nợ của doanh nghiệp không được tính lãi kể từ ngày toà án quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp. 2.3 Họp các chủ nợ lại để thông qua hay không thông qua phương án phục hồi sản xuất kinh doanh. ­ Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi sản xuất kinh doanh. + Thẩm phán ra quyết định công nhận nghị quyết của hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, khi đó tổ quản lý thanh lý tài sản bị giải thể + Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt đông kinh doanh nếu có một trong các trường hợp sau: (i) doanh nghiệp đã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh (ii) được nửa số phiếu của các chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên chưa thanh toán đồng ý đình chỉ.
  9. Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh: doanh nghiệp được coi không còn lâm vào tình trạng phá sản. ­ Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nếu: (i) Phương án không đủ điều kiện kinh tế, tức là những đề nghị đưa ra không thể thi hành được vì thiếu thực tế (ii) Doanh nghiệp không đưa ra một phương án nào, (iii) Đại diện doanh nghiệp không có mặt tại hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng 3. Giai đoạn phá sản doanh nghiệp. 3.1 Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản ­ Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong các trường hợp sau: + Hội nghị chủ nợ không thành: chủ doanh nghiệp, đại diện của doanh nghiệp không tham gia hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng hoặc sau khi hội nghị chủ nợ đã hoãn một lần nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là các chủ nợ hoặc người lao động; không đủ số chủ nợ tham gia hội nghị chu nợ sau khi hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp đơn yêu cầu là doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ đông công ty cổ phần. + Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh + Doanh nghiệp thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. ­ Thứ tự phân chia tài sản + Phí phá sản + Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi viêc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết. + Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình, nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng. + Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi thanh toán đủ các khoản nợ mà vẫn còn thì phần con lại thuộc về: xã viên hợp tác xã, chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên của công ty, cổ đông của công ty cổ phần, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước. 3.2 Quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản ­ Xác định rõ căn cứ tuyên bố phá sản. ­ Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản theo quy định của điều 94 Luật phá sản: (i) Người giữ chức vụ Giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị của công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước (ii) chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị , hội đồng thành viên
  10. của doanh nghiệp, chủ nhiệm và các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm.
  11. 2. GIẢI THỂ DOANH NGHIÊP 2.1 Khái niệm giải thể doanh nghiệp ­ Thủ tục giải thể là một thủ tục mang tính chất hành chính nhằm chấm dứt hoạt động (tư cách pháp nhân) của một doanh nghiệp, giải thể trước hết là công việc nội bộ của doanh nghiệp, nhưng để bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, các cổ đông hoặc thành viên của công ty mà nhà nước phải quy định và can thiệp vào các quyết định giải thể của doanh nghiệp. Việc giải thể có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan và về cơ bản thuộc quyền tự do của các chủ doanh nghiệp. ­ Đặc điểm + Thủ tục giải thể là một thủ tục hành chính do cơ quan hành chính thực hiện hoặc chấp thuận trong quá trình giám sát việc giải thể doanh nghiệp (cơ quan đăng ký kinh doanh). + Nguyên nhân dẫn đến giải thể doanh nghiệp rất đa dạng song về cơ bản những nguyên nhân này phụ thuộc ý chí chủ quan của chủ doanh nghiệp. + Pháp luật Việt nam quy định rất khác nhau về căn cứ giải thể doanh nghiệp. + Điều kiện để cơ quan có thẩm quyền cho phép giải thể doanh nghiệp: một doanh nghiệp chỉ được cho phép giải thể khi doanh nghiệp đó bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và thanh lý hết mọi hợp đồng đã ký kết. + Hậu quả pháp lý: giải thể bao giờ cũng dẫn tới việc loại trừ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp trên thương trường bằng cách xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh. + Chế tài pháp lý đối với chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm quản lý điều hành doanh nghiệp: giải thể không đặt ra vấn đề hạn chế, cấm đảm đương chức vụ điều hành doanh nghiệp hoặc cấm thực hiện một số hoạt động kinh doanh đối với chủ doanh nghiệp và người chịu trách nhiệm quản lý điều hành doanh nghiệp. 2.2. Thủ tục giải thể doanh nghiệp ­ Các căn cứ để tiến hành giải thể doanh nghiệp. + Kết thúc thời hạn hoạt động đã được ghi trong điều lệ mà không có quyết định gia hạn. + Theo quyết định của đại hội đồng cổ đông, của tất cả các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh, hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn. + Không đủ số thành viên tối thiểu theo quy định của pháp luật trong thời hạn 6 tháng liên tục. + Bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong các trường hợp: (i) không tiến hành các hoạt động kinh doanh trong thời hạn 1 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận dăng ký kinh doanh, (ii) Ngừng hoạt động kinh doanh 1 năm liên tục mà không thông báo bằng văn bản với cơ quan đăng ký kinh doanh, (iii) Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh trong 2 năm liên tiếp, (iv) doanh nghiệp không gửi báo cáo về
  12. tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày cáo yêu cầu bằng văn bản, (v) kinh doanh ngành nghề bị cấm. ­ Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp: + Thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp. Quyết định giải thể doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau: tên, trụ sở, lý do giải thể, thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp (thời hạn thanh toán nợ và thanh lý hợp đồng không quá 6 tháng kể từ ngày thông qua quyết định giải thể), phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động, thành lập tổ thanh lý tài sản (quyền và nghĩa vụ của tổ thanh lý tài sản được quy định trong phụ lục kèm theo quyết định giải thể), chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. + Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể doanh nghiệp phải được gửi đến cơ quan đang ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người lao động trong doanh nghiệp. Quyết định giải thể phải được niêm yết công khai tại trụ sở doanh nghiệp, và đăng báo địa phương hoặc báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp. Quyết định giải thể phải được gửi đến cho các chủ nợ kèm theo thông báo giải quyết nợ (thông báo phải có tên, dịa chỉ của chủ nợ, thời hạn địa điểm, phương thức thanh toán nợ, cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại cua chủ nợ). + Thanh lý các tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp. + Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thanh toán hết nợ của doanh nghiệp, tổ thanh lý phải gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ giải thể, cơ quan đăng ký kinh doanh phải xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh. Trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi giấy đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải giải thể trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bị thu hồi giấy đăng ký kinh doanh. Trình tự thủ tục được quy định như trên.

Có Thể Bạn Muốn Download

Đồng bộ tài khoản