Phát huy năng lực sáng tạo, xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia để hội nhập vào xu thế phát triển kin

Chia sẻ: Hoang Ly | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
360
lượt xem
125
download

Phát huy năng lực sáng tạo, xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia để hội nhập vào xu thế phát triển kin

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Từ sự xuất hiện cách mạng thông tin, cách mạng tri thức và sự bùng nổ công nghệ cao, con người cần luôn đổi mới, phát huy mạnh mẽ năng lực sáng tạo để luôn đổi mới quốc gia, hội nhập vào nền kinh tế, tri thức toàn cầu. Vì tài nguyên là có hạn, năng lực sáng tạo của con người là vô hạn do đó phải dựa chủ yếu và nguôn sáng tạo của con người để phát triển nền tri thức của nhân loại và toàn cầu...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phát huy năng lực sáng tạo, xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia để hội nhập vào xu thế phát triển kin

  1. PHÁT HUY NĂNG LỰC SÁNG TẠO, XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỔI MỚI QUỐC GIA ĐỂ HỘI NHẬP VÀO XU THẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC TOÀN CẦU G.S. Đặng Hữu 1. Nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa - Cơ hội và thách thức đối với VN Từ những thập kỷ cuối thế kỷ 20 cho tới nay khoa học và công nghệ đã có những bước phát triển kỳ diệu, đặc biệt là đã xuất hiện cách mạng thông tin, cách mạng tri thức và sự bùng nổ công nghệ cao. Thành tựu nổi bật nhất là sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nanô; đó là những công nghệ cao cơ bản, chúng đang hội tụ với nhau để tạo thành nền tảng cho một hệ thống công nghệ mới của thế kỷ 21, công nghệ của nền kinh tế tri thức. Hệ thống công nghệ mới ấy đang làm biến đổi sâu sắc các quá trình sản xuất, cách thức sản xuất kinh doanh và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người. Đây không chỉ là cách mạng trong kỹ thuật, trong kinh tế mà còn là cách mạng trong các khái niệm, trong tư duy, trong cách sống, cách làm việc, trong các quan hệ xã hội… Đi đôi với quá trình biến đổi lực lượng sản xuất, từ kinh tế công nghiệp chuyển lên nền kinh tế tri thức, là quá trình toàn cầu hóa; và trên thực tế đang hình thành nền kinh tế tri thức toàn cầu. Đó là xu thế phát triển tất yếu khách quan, xu thế ấy lôi cuốn tất cả các quốc gia, không loại trừ ai. Trong cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, máy móc thay thế lao động cơ bắp của con người; còn ngày nay máy tính giúp con người trong lao động trí óc, nhân lên gấp bội sức mạnh trí tuệ, sức sáng tạo của con người. Thông tin, tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất của việc tạo ra của cải, việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tri thức trở thành hình thức cơ bản nhất của vốn, quan trọng hơn cả tài nguyên, sức lao động. Lực lượng sản xuất xã hội loài người từ dựa vào tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người. "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm cả việc khai thác kho tri thức toàn cầu, cũng như làm chủ và sáng tạo tri thức cho những nhu cầu của riêng mình"1 Trong nền kinh tế tri thức, họat động chủ yếu nhất là tạo ra tri thức, quảng bá tri thức và sử dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị. Sức sáng tạo trở thành động lực trực tiếp nhất của sự phát triển. Trong kinh tế công nghiêp việc tạo ra giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là dựa vào sự tối ưu hoá, hoàn thiện cái đã có; còn trong kinh tế tri thức thì tạo ra giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là do tìm ra cái chưa biết; cái chưa biết là cái có giá trị nhất, cái đã biết sẽ dần dần mất giá trị. Tìm ra cái chưa biết, tạo ra cái mới cũng tức là loại trừ cái đã biết. Vòng đời của một sản phẩm, một công nghệ từ lúc nảy sinh, phát triển, chín muồi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn; trước đây vòng đời công nghệ tính bằng nhiều thập 1 UNDP-APDIP 2004 1
  2. kỷ, ngày nay tính bằng năm và đã có nhiều công nghệ thậm chí tính bằng tháng. Tốc độ đổi mới rất nhanh chóng. Như vậy nền kinh tế tri thức hình thành và phát triển là nhờ năng lực sáng tạo của con người, năng lực tạo ra tri thức mới, và vận dụng tri thức, biến tri thức thành của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển con người và phát triển xã hội. Sáng tạo là điều kiện cần nhưng chưa đủ; phải có năng lực đổi mới tức là năng lực vận dụng tri thức vào thức tiễn thúc đẩy sự đổi mới và phát triển; và trong đổi mới cũng phải cần yếu tố sáng tạo. Sáng tạo và đổi mới là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, là nguồn gốc của nền kinh tế tri thức ngày nay. Tài nguyên là có hạn, năng lực sang tạo của con người là vô hạn; một khi nền kinh tế dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người, thì khả năng của nền kinh tế là hết sức to lớn. Năm 2000 tính chung cho các nước trong khối OECD giá trị do tri thức tạo ra đã chiếm trên 50% tổng GDP. Nhờ đổi mới chính sách và môi trường kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu, phát triển mạnh các ngành công nghiệp tri thức, đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin, các nền kinh tế phát triển nhất khắc phục được các cuộc khủng hoảng vốn có, đạt tốc độ tăng trưởng dài hạn cao, thất nghiệp không cao, lạm phát thấp. Trên thực tế các nền kinh tế ấy đã trở thành những nền kinh tế dựa trên tri thức. Quá trình các nền kinh tế phát triển tiến tới kinh tế tri thức là một quá trình tự nhiên, hợp qui luật phát triển của lịch sử xã hội loài người. Trước xu thế phát triển nền kinh tế tri thức toàn cầu, các nước đang phát triển ý thức được ưu thế vượt trội của kinh tế tri thức so với kinh tế công nghiệp; họ chủ động triển khai các chương trình, chiến lược, kế hoạch hành động đi vào kinh tế tri thức. Hội nhập quốc tế, khai thác những ưu thế của kinh tế tri thức toàn cầu để phát triển đất nước, đó là sự lựa chọn khả dĩ nhất đối với các nước đang phát triển. Tự do hoá thị trường đang tạo tiền đề thuận lợi cho kinh tế thế giới, đặc biệt là thông tin, viễn thông và vận tải, từ đó hình thành một kết cấu hạ tầng toàn cầu thúc đẩy rất mạnh việc điều chỉnh các ngành cũ và phát triển các ngành mới. Hệ thống thông tin toàn cầu tạo cơ hội cho nhiều nước đang phát triển có thể truy cập, khai thác kho tri thức toàn cầu để phát triển nhanh, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng sự lệ thuộc vào các siêu cường. Các công ty xuyên quốc gia vừa đem đến cho các nước đang phát triển một nền kỹ thuật tiên tiến hơn, lại vừa mang lại cho các nước đang phát triển những sản phẩm giá thành thấp hơn nhờ nguồn tài nguyên dồi dào và sức lao động rẻ của các nước đang phát triển. Nhưng đồng thời các nước đang phát triển đã phải trả giá đắt cho sự tăng trưởng, chịu nhiều thiệt thòi, nguồn tài nguyên bị cạn kiệt nhanh, môi trường sinh thái ô nhiễm v.v… Các nước đi sau phải có đủ bản lĩnh để có thể vươn lên, sớm tiến kịp các nước đi trước; nếu không đủ bản lĩnh, không chớp lấy thời cơ thì đất nước tụt hậu ngày càng xa hơn, và bị gạt ra ngoài lề. Toàn cầu hóa cũng đặt ra cho các nước đang phát triển nhiều thách thức tưởng chừng khó vượt qua. Khó khăn không chỉ là về xây dựng năng lực nội sinh, năng lực chính sách, mà còn do sự bất bình đẳng của thiết chế toàn cầu hóa hiện nay. 2
  3. Trước hết hãy xem xét về hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tri thức là của chung của nhân loại, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải đi đôi với mở rộng quyền truy cập thông tin của mọi người2. Chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phải bảo đảm sự hài hòa lợi ích của người sáng tạo ra giải pháp với lợi ích của người sử dụng giải pháp và lợi ích toàn xã hội. Ngay trong Hiệp định TRIPS (hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ thương mại) cũng ghi như vậy, thế nhưng trên thực tế Hiệp định TRIPS bảo vệ chủ yếu cho những chủ sở hữu các giải pháp, họ bán ra với bất cứ giá nào, để có lợi nhuận tối đa, gây khó khăn cho các nước nghèo tiếp cận với các sản phẩm công nghệ cao, nhất là dược phẩm, phần mềm… Các sản phẩm công nghệ cao là những sản phẩm trí tuệ, không giống như các sản phẩm thông thường khác, rất khó xác định giá trị của chúng, qui luật giá trị lao động hầu như không còn phù hợp nữa; thế nhưng các hãng độc quyền bán chúng với giá rất cao. Đối với các nước giàu có thu nhập bình quân đầu người khoảng 30 nghìn USD mua một PC khoảng 500 USD, hệ điều hành Windows một vài trăm USD không đáng là bao, nhưng đối với các nước thu nhập cỡ 600 USD như VN thì làm sao người dân có thể mua được? Phần mềm nào cũng đều dựa trên các thành tựu toán học – tri thức chung của nhân loại, hơn nữa phần mềm nào cũng kế thừa các phần mềm có sẵn, việc công nhận và bảo hộ bản quyền của tác giả là đúng và rất cần thiết, nhưng thời hạn bảo hộ bao lâu, có nên lâu năm như các tác phẩm văn học nghệ thuật không? Thiết chế gì để xác định giá cả hợp lý, bảo đảm hài hòa lợi ích người sáng tạo và người sử dụng? Hệ thống sản xuất vì lợi nhuận tối đa hiện nay đang kìm hãm sự phát triển của công nghệ như thế đó. Cũng may là các nhà khoa học trên thế giới đã không chấp nhận tình hình bất công và sự độc quyền ấy, và hiện nay phần mềm mã nguồn mở đang phát triển mạnh mẽ. VN cũng như các nước đang phát triển khác phải đi theo xu thế này, không những để tránh chịu những chi phí bản quyền vô lý và quá sức chịu đựng, mà quan trọng hơn là để phát huy năng lưc sáng tạo của mình để phát triển CNTT. Vấn đề lớn đặt ra là liệu hệ thống sản xuất vì lợi nhuận tối đa có còn phù hợp không, khi mà trong xã hội các sản phẩm trí tuệ trở thành phổ biến. Hãy xem xét một khía cạnh khác: Trong khi kêu gọi thương mại tự do, thì các cường quốc kinh tế lại gia tăng bảo hộ mậu dịch; với những khoản bảo hộ hàng trăm tỷ USD cho nông nghiệp và một số ngành công nghiệp đang kìm hãm sự phát triển sản xuất ở các nước đang phát triển. P. Drucker đã viết: "Sự giảm sút của nông nghiệp đã khiến cho sự bảo hộ nông nghiệp mở rộng ra đến mức khó tưởng tượng nổi. Cũng tương tự như thế, sự đi xuống của công nghiệp chế biến đã làm bùng nổ sự bảo hộ công nghiệp chế biến. Sự bảo hộ này không cần dùng những hình thức thuế quan truyền thống, mà là hình thức trợ cấp, quota, cùng mọi thứ luật pháp. Các khối khu vực ngày càng có vai trò hơn, bên trong thì thương mại tự do hơn nhưng bên ngoài thì tăng cường bảo hộ." Thiết chế toàn cầu hóa hiện nay chắc chắn còn đặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với các nước đang phát triển trong việc chia sẻ tri thức toàn cầu vì sự phát triển của mình. Để vượt qua thách thức này phải phát huy năng lực nội sinh, đầu tư mạnh cho phát triển nguồn nhân lực, năng lực khoa học công nghệ, sức mạnh sáng tạo của toàn dân tộc, chọn lựa chiến lược thích hợp, đi tắt, rút ngắn, vượt qua trở ngại, cũng giống như việc sử dụng phần mềm mã nguồn mở đã mở ra lối thoát khỏi sự độc quyền về phần mềm. 2 Tuyên bố của Hội nghị toàn cầu về khoa học cho thế kỷ XXI - Budapest 1999, 3
  4. 2. Việt Nam đẩy mạnh công cuộc đổi mới để phát triển kinh tế tri thức Qua 20 năm đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất trên thế giới, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; là nước có thành tích giảm nghèo được thế giới khen ngợi; đời sống nhân dân nâng cao rõ rệt. Tuy vậy chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế còn rất thấp, còn chứa đựng nhiều yếu tố phát triển không bền vững, và đặc biệt là đang có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước khác, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển tiếp từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin và tri thức. Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chủ yếu là do vốn, với tỷ lệ là 64%; nhân tố năng suất tổng hợp (total factor productivity -TFP) chỉ đóng góp có 19%. Cơ cấu kinh tế vẫn còn nặng về nông nghiệp và khai thác tài nguyên, trong GDP tỷ lệ nông nghiệp còn chiếm khoảng 20%, dịch vụ chỉ đạt 38%. (Trong khi đó, tính bình quân trên toàn thế giới tỷ lệ nông nghiệp trong GDP là 5%, dịch vụ là 65%). Tỷ lệ dịch vụ thấp như thế đã nói lên tính kém hiệu quả của nền kinh tế. Giá trị xuất khẩu tuy khá cao, nhưng hiệu quả thấp. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô và nông sản ít qua chế biến; sản phẩm công nghệ cao không đáng kể3 Đầu tư kém hiệu quả. Hệ số ICOR trong những năm gần đây lên đến xấp xỉ 5. Cùng một tỷ lệ đầu tư trên GDP như vừa qua, nếu chính sách đầu tư đúng, có hiệu quả thì lẽ ra tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt hai con số. Theo phương pháp đánh giá của Viện nghiên cứu của Ngân Hàng thế giới (WBI) chỉ số phát triển kinh tế tri thức (knowledge economy index – KEI) của Việt Nam năm 2005 là 2,9; thuộc nhóm trung bình kém. Tốc độ đổi mới chậm chạp, hệ thống đổi mới chưa được hình thành, các yếu tố trụ cột của đổi mới còn non yếu. Đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ vào khoảng 0,2 - 0,3% doanh thu, (trong khi Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%). Theo xếp hạng chuyển giao công nghệ của WEF năm 2004, Việt Nam xếp thứ 66/104 quốc gia. Các lý do hạn chế chuyển giao công nghệ là do lạc hậu về nhận thức; khó khăn về vốn; thiếu thông tin và kiến thức, thiếu kinh nghiệm lựa chọn, mua bán công nghệ. Tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị của VN hằng năm chỉ đạt 8-10%, trong khi ở các nước trong khu vực thì tỷ lệ này đạt 15-20%. Khái quát lại, nền kinh tế VN đang còn là nền kinh tế dựa chủ yếu vào tài nguyên và lao động, hiệu quả và chất lương tăng trưởng thấp, giá trị do tri thức tạo ra không đáng kể; chưa khơi dậy và phát huy khả năng sang tạo của con người. Sự chuyển mạnh sang hướng 3 trong khi tỷ lệ sản phẩm công nghệ cao và công cao vừa trong tổng giá trị thương mại thế giới từ 24% năm 1975 đã tăng lên 49% năm 2000. 4
  5. phát triển dựa trên tri thức trở thành yêu cầu cấp thiết, không thể trì hoãn. Bỏ lỡ thời cơ lớn VN sẽ tụt hậu xã hơn và đó là hiểm họa của dân tộc. Báo cáo chính trị tại Đại Hội X của Đảng đã chỉ ra: "Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại. Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xã hội." Trong thời đại kinh tế tri thức, Việt Nam có thể bỏ qua các thế hệ công nghệ trung gian để đi ngay vào các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, không lệ thuộc vào cơ sở hạ tầng đã có. Trong các lĩnh vực công nghiệp dựa vào tri thức, nhất là công nghệ thông tin, VN chỉ chậm hơn các nước đi trước một vài thập kỷ, có thể chọn một số lĩnh vực để bứt phá lên trước. Kinh tế tri thức cho ta cơ hội để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ cấp bách, bức xúc, cũng như những nhiệm vụ cơ bản lâu dài trong quá trình CNH, HĐH, như: - Tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo; - Phát triển nông thôn, phát triển vùng sâu vùng xa; - Đổi mới và phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ; - chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; - Đổi mới và phát triển các doanh nghiệp; - Đổi mới tổ chức quản lý, thực hiện Nhà nước của dân do dân, vì dân, phát huy mọi khả năng của con người. Nhờ chính sách đổi mới của Đảng, trong những năm gần đây đã xuất hiện nhiều nhân tố mới về cách làm ăn năng động, sáng tạo, dựa nhiều hơn vào vào tri thức: các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, các doanh nghiệp dựa vào sáng chế, công nghệ mới, các doanh nghiệp khoa học công nghệ, kinh doanh trên internet, các doanh nghiệp công nghệ thông tin... Đó chưa phải là những ngành kinh tế tri thức, nhưng là những đơn vị biết tiếp thu những tri thức mới, năng động, sáng tạo trong đổi mới sản xuất kinh doanh, đem lại hiệu quả rõ rệt. Những nhân tố mới đó nói lên rằng, chính sách chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế thế giới, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân..., đã khơi dậy mọi năng lực sáng tạo, và thực sự là động lực cho giải phóng mọi năng lực sản xuất, thúc đẩy công cuộc đổi mới, hướng tới kinh tế tri thức. Nếu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa theo hướng đó thì sẽ tạo được những bứt phá ngọan mục trong phát triển kinh tế ở nước ta theo hướng kinh tế tri thức. Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta không có nghĩa là chuyển ngay sang các ngành công nghệ cao để có cơ cấu kinh tế như các nước phát triển đã đạt tới, mà là thực thi chiến lược phát triển dựa vào tri thức, thực chất là vận dụng tri thức mới vào tất cả các ngành kinh tế, làm tăng nhanh giá trị gia tăng của sản phẩm; giảm tiêu hao nguyên liệu và lao động; tăng hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm; dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá. Yếu tố then chốt bảo đảm thành công cho chiến lược này là phát huy năng lực sáng tạo và phát triển hệ thống đổi mới. 5
  6. Để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta cần tiến hành đồng thời và lồng ghép nhau hai quá trình: quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và quá trình chuyển từ kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri thức; trong khi đối với các nước đi trước đó là hai quá trình kế tiếp nhau. Nền kinh tế Việt nam do đó phải theo theo mô hình kinh tế hai tốc độ, kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt. Một mặt tận dụng lao động, cơ sở vật chất hiện có, sử dụng tri thức mới, công nghệ mới để phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập. Mặt khác đi thẳng vào hiện đại ở những khâu, những lĩnh vực, những ngành có lợi thế, phát triển các ngành, các vùng kinh tế mũi nhọn tạo thành đầu tàu có sức kéo lôi mạnh toàn bộ nền kinh tế đi lên. Nhiệm vụ trung tâm là sử dụng tri thức mới của thời đại kết hợp với sáng tạo tri thức mới để nhanh chong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ hàm lượng tri thức cao, giá trị gia tăng cao: + Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Ưu tiên phát triển công nghệ thông tin, đưa tri thức sản xuất kinh doanh, tri thức thức khoa học công nghệ về tận người dân ở nông thôn, đồng thời đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực, phục vụ cho đổi mới và hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh năng suất, hiệu quả, thay đổi bộ mặt nông thôn, chuyển lao động sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Xây dựng những khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao: sử dụng các công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật tự động hoá để điều khiển các quá trình sản xuất nông nghiệp, đưa giá trị sản xuất hàng năm trên một ha lên nhiều trăm triệu đồng, hoặc hàng tỷ đồng.4 Ứng dụng các công nghệ mới, đổi mới tổ chức quản lý sản xuất ở nông thôn để phát triển mạnh công nghiệp và dich vụ nông thôn, dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn. Phải khởi động ngay trong nông thôn một khu vực khác năng động và hiện đại, đó là khu vực công nghiệp. Từ một sự tích luỹ ban đầu, khu vực nầy sẽ phát triển nhanh. Đồng thời kết hợp tri thức truyền thống với tri thức hiện đại, với công nghệ mới để hiện đại hoá, phát triển các làng nghề truyền thống đã xây dựng được một văn hóa kinh doanh lâu đời. +Đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp và dịch vụ: Tăng nhanh các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến dựa nhiều vào công nghệ mới, giá trị cao; phát triển những sản phẩm chủ bài có tính cạnh tranh cao; giảm tối thiểu các sản phẩm xuất khẩu thô, ít chế biến, mà thực chất chỉ là bán tài nguyên. Tăng giá trị xuất khẩu lên nhiều lần so với hiện nay. Các ngành hiện có tiếp tục phát triển, nhằm tận dụng cơ sở vật chất và lực lượng lao động, giải quyết việc làm, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của nhân dân, nhưng phải tiếp thu các tri thức mới để đổi mới công nghệ, đổi mới sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Chỉ tận dụng cơ sở vật chất hiện có chừng nào còn hiệu quả, đồng thời chú trọng sử dụng tri thức mới. Kiên quyết xoá bỏ, chuyển đổi những cơ sở không còn hiệu quả. Đã xây dựng mới, là phải sử dụng công nghệ mới nhất mà ta làm chủ được. Các ngành dịch vụ: thương mại, du lịch, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng.... là những ngành có giá trị gia tăng cao, dựa nhiều vào tri thức, cần được phát triển, hiện đại hoá nhanh trở thành những ngành kinh tế tri thức. 4 (hiện nay cả nước phấn đấu 50 triệu đồng/ha, trong khi HASFARM Đà Lạt đạt giá trị trên một ha là khoảng 300.000 USD). 6
  7. +Tập trung các điều kiện để phát triển nhanh có chọn lọc các ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao, nhằm tạo những bước nhảy vọt của toàn nền kinh tế. Các ngành công nghiệp mới cần đi thẳng và những công nghệ tiên tiến nhất, để cho ra các sản phẩm có tính cạnh tranh cao, chiếm lĩnh được thị trường thế giới. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, trước hết là công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, các ngành công nghiệp sinh học, các ngành cơ điện tử, quang điện tử, các ngành vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ nanô. Những ngành công nghiệp công nghệ cao một khi ra đời là có thể theo kịp trình độ chung của thế giới; đó là sự nhảy vọt, tốc độ cao. Phát triển nhanh các ngành này sẽ có hai tác dụng lớn: thúc đẩy đổi mới công nghệ trong tất cả các ngành, và chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng nhanh hàm lượng kinh tế tri thức. Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta đòi hỏi tiến hành một cuộc đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc hơn nữa - một cuộc đổi mới mới trên tất cả các lĩnh vực: - Đổi mới căn bản cách thức phát triển kinh tế: Chuyển đổi triệt để từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, từ dựa chủ yếu vào nguồn lực vật chất sang dựa chủ yếu vào nguồn lực trí tuệ, chuyển trọng tâm đầu tư từ đầu tư hữu hình sang đầu tư vô hình. Coi tri thức là nguồn vốn quan trọng nhất. Coi quyền sở hữu trí tuệ là quan trọng nhất trong các quyền sở hữu. - Đổi mới các doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng nhất của kinh tế thị trường, doanh nghiệp là nơi biến tri thức thành giá trị. Doanh nghiệp coi vốn tri thức là nguồn lực quan trọng nhất của mình. - Đổi mới giáo dục đào tạo: Cải cách triệt để nền giáo dục theo chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo những con người năng động sáng tạo, thích nghi với sự phát triển kinh tế tri thức. - Đổi mới các hoạt động khoa học - công nghệ: Nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia, đồng thời xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia, gắn kết chặt chẽ khoa học, công nghệ với sản xuất kinh doanh, nhanh chóng biến tri thức thành giá trị, đẩy nhanh tốc độ đổi mới của nền kinh tế và từng doanh nghiệp. - Đổi mới thể chế, chính sách, tổ chức quản lý: Tạo môi trường kinh doanh sôi động, thúc đẩy sự cạnh tranh. Chính sách, pháp luật rõ rang, công khai, minh bạch thúc đẩy dân chủ, khuyến khích mạnh mẽ các khả năng sang tạo. Nhận thức lại vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế tri thức. Vai trò của nhà nước chuyển từ chức năng điều khiển, chỉ huy sang người kiến trúc sư của nền kinh tế tri thức, định hướng phát triển, tạo môi trường thuận lợi và động viên mọi người, mọi lực lượng tham gia xây dựng nền kinh tế tri thức. Mọi cố gắng của chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và các tổ chức khoa học phải nhằm thúc đẩy việc tao ra tri thức, vận dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị; hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện chiến lược đổi mới công nghệ, dịch chuyển nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành dựa trên tri thức. Thể chế chính sách phải nhằm tạo lập một không gian (môi trường) thuận lợi cho các quá trình đổi mới, nói cách khác là thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu. Đó là điều 7
  8. kiện tối cần thiết, là khâu then chốt để đưa nền kinh tế nước ta tiến nhanh vào kinh tế tri thức. 3. Thiết lập hệ thống đổi mới quốc gia Đổi mới (innovation) là sự áp dụng những giải pháp mới có hiệu quả hơn trong tổ chức quản lý, trong sản xuất kinh doanh và trong mọi lĩnh vực hoạt động. Đó là sự áp dụng trong bất kỳ tổ chức nào những ý tưởng mới đối với tổ chức đó, hoặc trong sản phẩm, quá trình, hoặc trong hệ thống quản lý và tiếp thị mà tổ chức đó đang vận hành. Nguồn gốc của đổi mới là công tác nghiên cứu, sáng tạo. Theo OECD (1997) thì đổi mới là quá trình sáng tạo, thông qua đó tri thức tạo ra giá trị gia tăng; nói cách khác, giá trị gia tăng tạo ra thông qua quá trình biến đổi tri thức thành sản phẩm mới, quá trình mới. Quá trình đổi mới là quá trình sử dụng tri thức mới, biến tri thức thành giá trị. Không đổi mới không biến tri thức thành công nghệ mới, sản phẩm mới, quá trình mới thì vẫn không có đổi mới, không có sự phát triển. Do đó các nước đều coi việc xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia (national innovation system) là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển. Hệ thống đổi mới quốc gia bao gồm các thiết chế, các hệ thống tổ chức ở tầm quốc gia nhằm gắn bó hữu cơ khoa học, đại học với sản xuất, thúc đẩy việc tạo ra và ứng dụng nhanh chóng các kết quả nghiên cứu sáng tạo để đổi mới sản xuất, phát triển kinh tế. Các chủ thể của hệ thống đổi mới là chính phủ, các doanh nghiệp, các đại học, các tổ chức khoa học và các cộng đồng dân cư, liên kết chặt chẽ nhau, phối hợp nhịp nhàng cùng nhằm vào thúc đẩy việc tạo ra các tri thức mới, vận dụng tri thức vào thực tiễn, biến tri thức thành giá trị. Hiện nay ở các nước phát triển, quan hệ khoa học - sản xuất (nội dung cốt lõi của hệ thống đổi mới) đang chuyển từ mô hình tuyến tính sang mô hình tác động qua lại giữa nhiều yếu tố. Trong mô hình tuyến tính truyền thống trước đây không có sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống đổi mới. Quá trình đổi mới bắt đầu bằng hoạt động nghiên cứu triển khai, đi tới các phát minh, sáng chế, công nghệ mới; rồi từ đó ra đời các bước cải tiến mới dẫn tới việc tạo ra các sản phẩm mới, các quá trình mới. Đó là một chuỗi sự kiện nối tiếp nhau, có tính nhân quả. Theo mô hình này, muốn tăng cường đổi mới thì nhất thiết phải thông qua nghiên cứu. Do đó các chính sách công nghiệp trước đây thường đánh đồng hoạt đông nghiên cứu cơ bản với hoạt động đổi mới, mà thực tế đó là hai khái niệm khác nhau; trình độ khoa học cơ bản cao chưa hẳn đã dẫn đến trình độ công nghệ cao (có thể so sánh Liên xô cũ và Mỹ). Trong khi đó yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là mức độ đổi mới. Những ngành công nghiệp có tính cạnh tranh cao trên trường quốc tế là những ngành mà ở đó các doanh nghiệp có năng lực và quyết tâm không ngừng đổi mới. Trong hệ thống đổi mới quốc gia theo mô hình tương tác, các yếu tố nghiên cứu triển khai, nổ lực đổi mới, phân tích thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao kỹ năng công nhân gắn bó nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Đối với nước ta, để tiến đến thiết lập được một hệ thống đổi mới quốc gia hữu hiệu, cần có những chuyển biến mạnh mẽ trên các mặt sau đây: 8
  9. + Trước hết là đổi mới cơ chế chính sách và hệ thống quản lý. Trong thời đại chuyển tiếp từ xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức, công nghệ, cách sản xuất kinh doanh, phong cách làm việc, quan hệ xã hội, cho đến nhận thức, tư duy, các khái niệm đều có những thay đổi to lớn, sâu sắc. Mọi người có thể tiếp cận đầy đủ thông tin, hiểu biết công việc mình đang làm, phải làm. Mô hình quản lý theo kiểu chỉ huy tập trung có đẳng cấp, công việc được điều khiển từ các trung tâm, và mọi người chỉ răm rắp thực hiện là không còn phù hợp nữa, mà cần phải chuyển sang mô hình mạng, trong đó mọi người trong tổ chức là những người luôn luôn chủ sở hữu tư liệu sản xuất –vốn trí tuệ- của mình, có thể quan hệ trực tiếp với nhau, hợp tác với nhau, hiểu biết nhau, cộng đồng làm việc cho công viẹc chung tốt hơn, phát huy sáng kiến, thuc đẩy đổi mới. Tổ chức quản lý không phải là đặt ra các khuôn mẫu sẵn buộc mọi người phải làm theo, mà là chỉ ra phương hướng, mục tiêu và tạo môi trường, động viên mọi lực lượng thực hiện; luôn luôn khơi dậy các khả năng sáng tạo, bồi dưỡng các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến; khuyến khích các cách làm mới, các tổ chức mới. Không thể lặp lại con đường cũ, cách làm cũ được; nhiều kinh nghiệm tốt trong quá khứ không thể sử dụng cho ngày nay. Thay đổi tư duy về tổ chức quản lý là quan trọng nhất. Cần chuyển hướng mạnh sang kinh tế thị trường, tạo lập môi trường kinh doanh sôi động, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền, chống bao cấp, từ bỏ tư duy kinh tế hiện vật, kinh tế chỉ huy tập trung. Tiếp cận với các cách quản lý mới của thế giới. Chú ý rằng những cách làm của chủ nghĩa tư bản rất thành đạt trong gần hai trăm năm qua nay đang bị thay thế; học cách làm của chủ nghiã tư bản để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội không phải là học cách làm của chủ nghĩa tư bản trước đây nữa, mà là theo cách quản lý mới hiện nay đang hình thành và phát triển trên thế giới, phù hợp với thời đại mới mà sản phẩm trí tuệ ngày càng chiếm ưu thế. Thế giới đang thay đổi to lớn, sâu sắc, cái cũ đang bị tàn lụi dần, cái mới chưa được định hình, mọi sự trở nên rối ren, hỗn tạp; trong tình hình đó phải có đủ năng lực sáng tạo mới đứng vững được và tìm ra con đường, phương pháp riêng của mình. Cần rất chú trọng xây dựng năng lực trong hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống quản lý; phải phát huy cao độ tính sáng tạo ngay trong việc hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống quản lý. Thiết lập cơ chế mới thúc đẩy hình thành thị trường công nghệ, Trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh thị trường công nghệ sẽ phát triển. Thị trường công nghệ đòi hỏi một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hợp lý đảm bảo được quyền lợi của người sáng tạo, đồng thời làm cho lợi ích của sáng tạo được chia sẻ cho mọi người. Đặc biệt coi trọng quản lý tri thức. Quản lý tri thức là quản lý việc tạo ra, truyền bá và sử dung tri thức sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Trong mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp cần có người quản lý thông tin (chief information officier-CIO), người quản lý tri thức (chief knowledge officier -CKO). Người quản lý tri thức có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, thúc đẩy việc tiếp thu tri thức mới, sử dụng tri thức và tạo ra tri thức mới, trước hết là việc chọn lựa, tiếp thu, làm chủ các công nghệ mới, tri thức mới về tổ chức, quản lý và công việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ, họ phải chăm lo việc phát triển và phát huy nguồn nhân lực, nhất là các tài năng, không ngừng nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động trong doanh nghiệp hay tổ chức của mình. 9
  10. +Thứ hai là thúc đẩy đổi mới và phát triển doanh nghiệp: Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong hệ thống đổi mới, trong quá trình biến tri thức thành giá trị, tạo của cải, tạo sự giàu có của xã hội. Mặt khác doanh nghiệp thúc đẩy tiến bộ khoa học-công nghệ; không có các doanh nghiệp đầu tư cho R&D và kinh doanh công nghệ mới thì sẽ không có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ như ngày nay. Doanh nghiệp có tiềm năng phát triển nhanh là những doanh nghiêp ra đời từ một sáng chế, và sáng chế thường đẻ ra doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp quyết định bởi sản phẩm mới, công nghệ mới, phương pháp tổ chức quản lý mới. Doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, đổi mới dịch vụ khách hàng; doanh nghiệp phải có chiến lược phat triển của mình trên cơ sở nghiên cứu dự báo công nghệ và thị trường; Muốn vậy doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vào R&D và đào tạo nhân lực, quản lý tri thức, coi đó là yếu tố quyết định nhất đối với sức mạnh cạnh tranh. Nhà nước có chính sách hỗ trợ để thành lập và phát triển nhanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ; các doanh nhiệp này cơ động, linh hoạt, dễ tiếp nhận công nghệ mới, dễ chuyển đổi công nghệ, sản phẩm, thu hút nhiều lao động. Khuyến khích mạnh mẽ việc thành lập các doanh nghiệp sáng tạo (doanh nghiệp kinh doanh công nghệ), đây là những người lính xung kích tiến công vào công nghệ. +Thứ ba là đổi mới mạnh mẽ các tổ chức hoạt động nghiên cứu – phát triển (R-D. Xóa bỏ mọi tàn dư của chế độ bao cấp trong quản lý khoa học. Chuyển từ quản lý quá trình sang quản lý kết quả và hiệu quả; chuyển trọng tâm từ quản lý các chương trình đề tài R-D sang quản lý các quá trình đổi mới và tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất. Chuyển mạnh các viện nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp; từ đó sẽ cho ra đời nhiều doanh nghiệp sáng tạo. Tiến tới xoá bỏ dần ranh giới giữa viện nghiên cứu ứng dụng với doanh nghiệp. Phát triển các khu công nghệ (technology park), các vườn ươm công nghệ (incubator) nhằm nhanh chóng biến các ý tưởng khoa học, các sáng chế thành công nghệ, sản xuất ra sản phẩm và trở thành những ngành công nghiệp mới. Một mặt Nhà nước tập trung sức chăm lo cho sự phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, tăng cường đầu tư cho phát triển khoa học cơ bản, xây dựng các trung tâm khoa học quốc gia vững mạnh làm điểm tựa cho phát triển công nghệ, đảm bảo luận cứ khoa học cho định hướng phát triển đất nước. Mặt khác Nhà nước có khung pháp lý minh bạch, tạo môi trường kinh doanh năng động, cạnh tranh lành mạnh, trên cơ sở đó phát triển thị trường khoa học công nghệ, thúc đẩy sự ứng dụng khoa học và phát triẻn công nghệ, giải phóng mọi năng lực sáng tạo. Khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ, các trường đại học thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh; khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đào tạo nhân lực và giải quyết việc làm, đầu tư nghiên cứu khoa học, gắn khoa học, đào tạo với sản xuất, kinh doanh. Nhà nước có chính sách khuyến khích và tổ chức các hình thức liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp, các đại học, các viện nghiên cứu theo ngành, hoặc nhóm sản phẩm để nhanh chóng hình thành, phát triển những ngành công nghiệp mới có ý nghĩa chiến lược, dựa trên công nghệ mới. Tổ chức các chương trình ứng dụng tiến bộ công nghệ để phát triển vùng, phát triển nông thôn, miền núi, do các lực lượng khoa học công nghệ, các doanh nghiệp phối hợp với các trang trại, các hộ nông dân và nhiều tổ chức xã hội khác cùng thực hiện theo hợp đồng kinh tế. 10
  11. +Thứ tư là có chính sách ưu đãi mạnh mẽ hơn để thu hút đầu tư nước ngoài về công nghệ cao; đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và các doanh nghiệp trong nước cùng hợp tác liên doanh liên kết để phát triển nhanh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nâng cao năng lực công nghệ trong nước, sớm có đóng góp rõ rệt vào tăng trưởng GDP. +Thứ năm là tăng cường các hoạt động dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ. Trong hệ thống đổi mới quốc gia, các hoạt động dịch vụ tư vấn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc sử dụng tri thức cho phát triển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức, thực hiện yêu cầu phát triển bền vững. Hoạt động tư vấn là loại hoạt động chất xám làm gia tăng giá trị sử dụng của sản phẩm, giảm tiêu hao vật tư, năng lượng trong sản phẩm. Theo đà phát triển của khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ kết tinh trong sản phẩm làm ra ngày càng tăng, hàm lượng lao động cơ bắp ngày càng giảm và sẽ giảm đến cực nhỏ; đó là nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng chế và nhờ hoạt động tư vấn - cầu nối giữa khoa học và sản xuất. Không có tư vấn, tri thức khoa học chậm được ứng dụng vào sản xuất, khoa học khó phát huy được vai trò động lực của mình. Mặt khác hoạt động tư vấn qua kiểm nghiệm trong thực tiễn sẽ không ngừng bổ sung tri thức khoa học, góp phần vào phát triển khoa học và công nghệ, phát triển năng lức sáng tạo, thúc đẩy sự đổi mới công nghệ. Có thể nói lĩnh vực hoạt động tư vấn biến tri thức thành giá trị của sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng của sản xuất, đó là một ngành kinh tế dựa vào tri thức. Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động tư vấn thực chất là gia tăng sử dụng tri thức phục vụ phát triển. Cải cách triệt để nền giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - yếu tố chi phối nhiều nhất đối với năng lực sang tạo và tốc độ đổi mới. Con người phải biết tự đào tạo, luôn tiếp thu tri thức mới, có năng lực sáng tạo, thường xuyên đổi mới cách nghĩ, cách làm thì mới có thể thích nghi và làm chủ được kinh tế tri thức. Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức. Vì vậy người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức. Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, thì trước hết nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi "hiền tài là nguyên khí quốc gia", tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học- công nghệ, quản lý kinh doanh, văn học-nghệ thuật. Đi đôi với nâng cao chất lượng giáo dục, cần phát triển nhanh quy mô giáo dục. Đẩy nhanh phổ cập giáo dục trung học, nâng số năm đi học bình quân của người trong độ tuổi lao động lên 12 năm vào trước năm 2020. Nhiệm vụ cấp bách là tiến hành ngay một cuộc cách mạng toàn diện trong giáo dục: cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, hệ thống giáo dục, phương thức tổ chức quản lý giáo dục - đào tạo. Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển. 11
  12. Chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang mô hình giáo dục mới: hệ thống học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người học ra trường vừa lao động vừa học tập (đào tạo) suốt đời. Phát triển hệ thống học tập suốt đời và xây dựng xã học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bồi dưỡng nhân lực cho CNH, HĐH rút ngắn dựa trên tri thức. Xã hội học tập và xã hội thông tin là tiền đề cho nền kinh tế tri thức. Phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội – động lực mạnh mẽ thúc đẩy đổi mới và phát triển, tiến vào kinh tế tri thức. Công nghệ thông tin là chìa khoá để đi vào kinh tế tri thức. Ứng dụng và phát triển CNTT sẽ góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển hệ thống đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ hữu hiệu quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng, tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá dựa trên tri thức. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, các lĩnh vực để đổi mới và phát triển. Nhanh chóng phát triển chính phủ điện tử, thương mại điện tử, tin học hóa các hoạt động tài chính ngân hang, giáo dục trên mạng, y tế từ xa... Phấn đấu xây dựng xã hội thông tin trước năm 2015. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân truy cập thông tin. Thực hiện sự hài hoà giữa việc kiểm soát với quyền tự do thông tin. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giữ gìn tính đa văn hoá, đa ngôn ngữ. Có chính sách, biện pháp khắc phục sự cách biệt về thông tin giữa các vùng, các đối tượng dân cư. Cần ưu tiên trợ giúp cho các vùng nông thôn, vùng xa xôi hẻo lánh tiếp xúc với thông tin giá rẻ hoặc miễn phí... Mọi doanh nghiệp coi công nghệ thông tin là động lực hàng đầu cho đổi mới và phát triển. Sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới tổ chức quản lý các nguồn lực hiệu quả hơn, sử dụng thương mại điện tử để mở rộng thị trường, đổi mới cách sản xuất kinh doanh, để thúc đẩy đổi mới công nghệ và đặc biệt là phát triển, nâng cao cơ sở tri thức của doanh nghiệp – tiềm năng lớn cho phát triển doanh nghiệp. Đẩy mạnh hơn nữa đào tạo nhân lực cho công nghệ thông tin; đồng thời tăng cường công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nhằm tạo nền tảng và động lực cho sự nghiệp phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin. Phát triển phần mềm mã nguồn mở phải được coi là ưu tiên quốc gia, đó là nhân tố rất quan trọng để phát triển nhanh công nghệ thông tin ở nước ta, phát triển các năng lực sang tạo, thúc đẩy đổi mới. Mạng thông tin điện tử là môi trường lý tưởng cho việc quảng bá tri thức, nâng cao kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, nó làm rút ngắn khoảng cách giữa khoa học, sản xuất với tiêu dùng, làm tăng nhanh tốc độ đổi mới. Chính công nghệ thông tin đã thúc đẩy sự chuyển đổi hệ thống đổi mới từ mô hình tuyến tính sang mô hình tác động qua lại giữa nhiều yếu tố. 12

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản