PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

Chia sẻ: thuong_632

Việt Nam đã sớm tham gia vào tiến trình chung của thế giới trong việc xây dựng Chương trình Nghị sự 21. Năm 1992, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janero (Braxin) đã ký Tuyên bố chung của thế giới về môi trường và phát triển, Chương trình Nghị sự 21 toàn cầu, cam kết xây dựng Chiến lược PTBV quốc gia và chương trình nghị sự 21 địa phương. Năm 2004, Việt Nam đã phê chuẩn Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường thời kỳ đến...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

II. PHÁT TRIỂN BỀN 
VỮNG Ở VIỆT NAM




   
2.1. Việt Nam tham gia các hoạt động quốc tế

Việt Nam đã sớm tham gia vào tiến trình chung của thế giới trong
việc xây dựng Chương trình Nghị sự 21. Năm 1992, đoàn đại biểu
Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về
Môi trường và Phát triển ở Rio de Janero (Braxin) đã ký Tuyên bố
chung của thế giới về môi trường và phát triển, Chương trình Nghị
sự 21 toàn cầu, cam kết xây dựng Chiến lược PTBV quốc gia và
chương trình nghị sự 21 địa phương. Năm 2004, Việt Nam đã phê
chuẩn Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường thời kỳ đến 2010
và định hướng đến 2020. Việt Nam cũng đã tham gia nhiều cam kết
quốc tế nhằm bảo vệ môi trường và phát triển xã hội. Năm 2000,
Việt Nam cam kết thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của thế
giới.
Hội đồng PTBV quốc gia cũng đã được thành lập theo Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ số 1032/QĐ-TTg ngày 27/9/2005. Hội
đồng do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch, Bộ trưởng Bộ Kế
hoạch và Đầu tư là Phó Chủ tịch thường trực. Cơ quan Thường trực
giúp việc cho Hội đồng PTBV là Văn phòng PTBV, đặt tại Bộ Kế
hoạch và Đầu tư.
Đại hội Đảng lần thứ IX đã thông qua Mục tiêu chiến lược 10 năm
(2001-2010), mà nội dung tập trung vào những nhân tố phát triển
bền vững: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao
rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa
học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng,
an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản. Vị thế của nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao”.
2.2. Xây dựng Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở
Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)

CTNS 21 của Việt Nam là khung chiến lược để xây dựng các
chương trình hành động. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển
của Việt Nam dưới góc độ bền vững, CTNS đã đưa ra những
nguyên tắc PTBV, mục tiêu và tầm nhìn dài hạn, các lĩnh vực hoạt
động ưu tiên, phương tiện và giải pháp, nhằm đạt được sự PTBV
trong thế kỷ XXI.
2.2.1. Những mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc trong phát triển bền
vững Việt Nam

2.2.1.1. Những Mục tiêu:

Mục tiêu tổng quát trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-
2010 của Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ IX là: “Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao
rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân; tạo nền
tảng để đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công
Ngu ệp.
nghiồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ
tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành
về cơ bản; vị thế của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao”.
Quan điểm phát triển trong Chiến lược trên được khẳng định:
“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi
đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường”; “Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải
thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo
với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”.
Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất,
sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân
và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự
nhiên. Phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba
mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Mục tiêu PTBV về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với
cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống
của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai,
tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau.
Mục tiêu PTBV về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và
chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng cao,
mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình
trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng
lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công
bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế
hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản
sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về
đời sống vật chất và tinh thần.
Mục tiêu của PTBV về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng
tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn
chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo
vệ tốt môi trường sống; bảo vệ các vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn đa dạng sinh học;
khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.
2.2.1.2. Tám nguyên tắc chính cho phát triển bền vững của
Việt Nam:
Thứ nhất, con người là trung tâm của PTBV.

Thứ hai, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn
phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để
phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho
nhân dân.
Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là một yếu tố
không thể tách rời của quá trình phát triển.

Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công
bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc
sống của các thế hệ tương lai.
Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh
và bền vững đất nước.

Thứ sáu, PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền,
các bộ, ngành và địa phương, của các cơ quan, doanh nghiệp,
đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân.

Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để PTBV đất nước.

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã
hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và
trật tự an toàn xã hội.
2.2.1.3. Các lĩnh vực ưu tiên:
Chương trình Nghị sự cũng đề cập đến 19 lĩnh vực ưu tiên trong
chính sách phát triển. Bao gồm: 5 lĩnh vực ưu tiên để phát triển kinh
tế, 5 lĩnh vực ưu tiên nhằm phát triển xã hội bền vững và 9 lĩnh vực
ưu tiên nhằm phát triển tài nguyên thiên nhiên về môi trường.
* Những lĩnh vực ưu tiên trong phát triển kinh tế.

+ Duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, trên cơ sở nâng cao
không ngừng tính hiệu quả, hàm lượng khoa học công nghệ và sử
dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường.
+ Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo
hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường, dựa trên cơ sở sử
dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo lại được, giảm
tối đa chất thải độc hại và khó phân hủy, duy trì lối sống của cá
nhân và xã hội hài hòa và gần gũi với thiên nhiên.
+ Thực hiện quá trình “công nghiệp hóa sạch”, nghĩa là ngay từ ban
đầu phải quy hoạch sự phát triển công nghiệp với cơ cấu ngành
nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi
trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây
dựng nền “công nghiệp xanh”.

+ Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. Trong khi phát
triển sản xuất ngày càng nhiều hàng hóa theo yêu cầu của thị
trường, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát
triển được các nguồn tài nguyên đất, nước, không khí, rừng và đa
dạng sinh học.
+ PTBV vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương PTBV.
* Những lĩnh vực ưu tiên trong phát triển xã hội:
+ Tập trung nỗ lực để xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm; tạo
lập cơ hội bình đẳng để mọi người được tham gia các hoạt động xã
hội, văn hóa, chính trị, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
+ Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, giảm bớt sức ép của sự gia
tăng dân số đối với các lĩnh vực tạo việc làm, y tế và chăm sóc sức
khỏe nhân dân, giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, bảo vệ môi trường
sinh thái.
+ Định hướng quá trình đô thị hóa và di dân nhằm PTBV các đô thị;
phân bố hợp lý dân cư và lực lượng lao động theo vùng, bảo đảm sự
phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường bền vững ở các địa
phương.
+ Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí, trình độ nghề
nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước.
+ Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế và
chăm sóc sức khỏe nhân dân, cải thiện các điều kiện lao động và vệ
sinh môi trường sống.
* Những lĩnh vực ưu tiên trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ
môi trường:
+ Chống thoái hóa, thực hiện sử dụng hiệu quả và bền vững tài
nguyên đất.
+ Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên
nước.
+ Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên
khoáng sản.
+ Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài
nguyên biển.
+ Bảo vệ và phát triển rừng.
+ Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp.
+ Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại.
+ Bảo tồn đa dạng sinh học.
+ Giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có
hại của biến đổi khí hậu, góp phần phòng, chống thiên tai.
2.2.2. Chương trình hành động thực hiện Định hướng Chiến
lược phát triển bền vững ở Việt Nam
2.2.2.1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển
kinh tế nhanh và bền vững:
+ Tiếp tục đổi mới nền kinh tế, duy trì khả năng phát triển nhanh
và bền vững.
+ Phát triển nhanh, đồng bộ hệ thống thị trường, trên cơ sở tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh cho mọi doanh nghiệp và nhà
đầu tư.
+ Tăng tiềm lực và khả năng tài chính quốc gia.
+ Tăng cường hiệu lực của các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô,
nhằm huy động tốt các nguồn lực phát triển trong nền kinh tế.
+ Hoàn thiện khung pháp lý để hội nhập có hiệu quả.
+ Xây dựng các cơ chế chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng phát huy hiệu quả trong từng ngành, lĩnh vực
và trong toàn bộ nền kinh tế.
2.2.2.2. Xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình phát
triển công nghiệp và thương mại theo hướng bền vững, bao
gồm:
+ Đề án đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp.
+ Đề án phát triển công nghiệp khai thác.
+ Đề án phát triển hệ thống năng lượng.
+ Đề án phát triển công nghiệp chế biến.
+ Chương trình phát triển hệ thống giao thông.
+ Hệ thống dịch vụ và du lịch.
2.2.2.3. Xây dựng chương trình phát triển nông nghiệp và nông
thôn theo hướng bền vững:
+ Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông
thôn theo hướng bền vững.
+ Xây dựng đề án sử dụng hợp lý tài nguyên nông nghiệp và
nông thôn.
+ Xây dựng và thực hiện chương trình phát triển thị trường nông
thôn, tăng khả năng tiêu thụ nông sản.
2.2.2.4. Xây dựng các chương trình phát triển đô thị theo hướng
bền vững:
+ Chiến lược phát triển đô thị.
+ Các chính sách và các mô hình quản lý đô thị.
2.2.2.5. Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực và các
vấn đề xã hội theo hướng bền vững:
+ Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ dân
trí trong các vùng.
+ Xóa đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Tiếp tục giảm mức tăng dân số và tạo thêm việc làm cho người
lao động.
+ Phát triển và nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe,
cải thiện các điều kiện lao động và vệ sinh môi trường sống.
+ Nâng cao mức sống của các tầng lớp dân cư.
2.2.3. Đánh giá kết quả thực hiện
2.2.3.1. Đánh giá chung:
(a) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế nhằm thực hiện
Định hướng Chiến lược phát triển bền vững.
(b) Lồng ghép phát triển bền vững vào các chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển.
(c) Truyền thông nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực quản lý
phát triển bền vững của các cơ quan trung ương và địa phương.
(d) Triển khai thực hiện các sáng kiến và mô hình phát triển bền
vững tại các bộ, ngành và địa phương.
(e) Theo dõi, giám sát đánh giá về thực hiện phát triển bền vững.
(g) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển bền vững.
2.2.3.2. Đánh giá tổng quát về tình hình thực hiện phát triển bền
vững trong các lĩnh vực thời kỳ 2005-2010:
(a) Các kết quả đã đạt được


Về kinh tế: Tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có
bước phát triển khá. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân
5 năm ước đạt 7% so với kế hoạch đề ra là 7,5-8%. GDP theo giá
thực tế tính theo đầu người năm 2010 dự kiến đạt khoảng 1.162
đô la Mỹ, đưa nước ta ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu
nhập thấp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước tiếp tục được quan tâm. Tất cả các
vùng đều đạt và vượt mục tiêu về GDP bình quân đầu người và
giảm tỷ lệ hộ nghèo so với kế hoạch đề ra.
Về xã hội: Các mặt xã hội như công tác xóa đói giảm nghèo, công
tác dân số và bảo vệ chăm sóc sức khỏe người dân, giáo dục và
tạo việc làm cho người lao động, đều đạt được những thành tựu
bước đầu đáng khích lệ. Công tác an sinh xã hội được đặc biệt coi
trọng. Tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo dự kiến giảm còn
dưới 10% (tương ứng với 1,7 triệu hộ nghèo). Theo ước tính trong
5 năm qua, trên 8 triệu lao động đã được giải quyết việc làm. Chỉ
số phát triển con người của Việt Nam tiếp tục tăng: năm 2008,
Việt Nam được tăng hạng lên 105/177 nước, với chỉ số HDI đạt
0,733 điểm. Đến nay, các Mục tiêu thiên niên kỷ đều đã đạt được
và vượt cam kết với cộng đồng quốc tế.
Về tài nguyên và môi trường: Hệ thống pháp luật về quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường đang được hoàn thiện theo hướng
tiếp cận với các mục tiêu PTBV. Các nguồn lực cho công tác bảo
vệ tài nguyên môi trường vì mục tiêu PTBV đã và đang được tăng
cường mạnh mẽ. Hợp tác quốc tế về tài nguyên và môi trường thu
được nhiều kết quả tốt. Tốc độ gia tăng ô nhiễm đã từng bước
được hạn chế. Chất lượng môi trường tại một số nơi, một số vùng
đã được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân, cũng như quá trình PTBV của đất nước.
(b) Hạn chế, tồn tại:
Về kinh tế: Chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế còn thấp.
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, thiếu chiều sâu, đặc
biệt trong lĩnh vực sử dụng tài nguyên không tái tạo. Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế chưa đồng đều và chưa phát huy thế mạnh trong
từng ngành, từng vùng, từng sản phẩm.
Về xã hội: Tình trạng tái nghèo ở một số vùng khó khăn có chiều
hướng gia tăng. Giải quyết việc làm chưa tạo được sự bứt phá,
chưa tạo được nhiều việc làm bền vững.
Về tài nguyên và môi trường: Các vấn đề môi trường như ô nhiễm
môi trường nhiều nơi còn nặng nề; suy giảm đa dạng sinh học;
khai thác khoáng sản và quản lý chất thải rắn đang gia tăng. Hệ
thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa đồng
bộ. Lực lượng cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về tài
nguyên và môi trường còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng.
Nhận thức về bảo vệ môi trường và PTBV chưa đầy đủ. Tình
trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên
vẫn phổ biến.
2.2.4. Định hướng phát triển cho giai đoạn tới
2.2.4.1. Định hướng phát triển tổng quát:
Để thực hiện PTBV đất nước giai đoạn 2011-2020, cần xem xét
một cách toàn diện mức độ bền vững của phát triển kinh tế, phát
triển xã hội (văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công
nghệ) và môi trường. Định hướng PTBV giai đoạn 2011-2020
phải đảm bảo duy trì mức tăng và xu hướng gia tăng ổn định,
liên tục, nhất là đối với các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế, việc
làm, năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn đầu tư..., cũng
như phải đảm bảo duy trì mức giảm và xu hướng giảm ổn định,
liên tục, nhất là đối với các chỉ tiêu về tiêu tốn năng lượng, tai
nạn giao thông, tệ nạn xã hội, tỷ lệ đói nghèo, tỷ lệ thất nghiệp,
diện tích đất bị thoái hóa, ô nhiễm môi trường...
2.2.4.2. Các lĩnh vực ưu tiên nhằm phát triển bền vững trong giai
đoạn 2011-2020 (19 lĩnh vực được xác định trong Chương trình
Nghị sự 21):

(a) Lĩnh vực kinh tế:
- Duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
- Chuyển đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện
với môi trường.
- Thực hiện “công nghiệp hóa sạch”.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.
- Phát triển bền vững các vùng và địa phương.
(b) Lĩnh vực xã hội:
• Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội.
• Tiếp tục hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số, tạo thêm việc làm, xây
dựng và phát triển gia đình Việt Nam.
• Định hướng quá trình đô thị hóa và di dân, nhằm phát triển bền
vững các đô thị, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng.
• Nâng cao chất lượng giáo dục để nâng cao dân trí và trình độ
nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự phát triển đất nước.
• Phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe, cải thiện điều kiện lao động và vệ sinh môi trường
sống.
(c) Lĩnh vực môi trường:
• Chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất.
• Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên
nước.
• Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên
khoáng sản.
• Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài
nguyên biển.
• Bảo vệ và phát triển rừng.
• Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp.
• Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại.
• Bảo tồn đa dạng sinh học.
• Giảm thiểu tác động và thích nghi với biến đổi khí hậu, phòng
chống thiên tai.
2.2.4.3. Giải pháp:


Phát triển bền vững là phát triển vì con người, do con người. Vì
vậy, cần huy động lực lượng, sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị, với sự tham gia của từng người dân, biến tư duy
PTBV đất nước thành hành động thường nhật, cụ thể của mỗi
người, vì chất lượng cuộc sống hôm nay và mai sau của cá nhân
mình, gia đình mình, cộng đồng mình và cả nước.
Để thực hiện tư tưởng này, trong giai đoạn đến 2020, tập trung
trước hết vào các nhóm giải pháp cụ thể sau:
(a) Nâng cao hơn nữa nhận thức về phát triển bền vững đất nước:
Phát triển bền vững ngày nay đã trở thành nhận thức chung, là yêu
cầu mang tính thời đại, đã được nguyên thủ của các quốc gia và
các tổ chức quốc tế nhất trí cam kết, thông qua và long trọng
tuyên bố trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ, “như những nền tảng
thiết yếu cho một thế giới hòa bình, thịnh vượng và công bằng
hơn”.
Để nâng cao hơn nữa nhận thức về PTBV đất nước, các nghị
quyết của các cấp ủy Đảng cần thể hiện rõ tinh thần của PTBV
trong các nội dung có liên quan. Trên cơ sở đó, chỉ đạo, giám sát
việc tổ chức thực hiện các mục tiêu đề ra.
Mở các đợt tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân
(thông qua các tổ chức chính trị xã hội dưới nhiều hình thức
phong phú, bằng mọi kênh thông tin, kể cả lồng ghép những
thông tin cần thiết vào các chương trình giảng dạy cho học sinh
ở các trường phổ thông, nhằm cho làm cho mọi người hiểu rõ
những nội dung thiết thực của PTBV và tự giác tham gia vào
các hoạt động vì lợi ích thiết thân của họ.

(b) Nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đối với phát triển bền
vững đất nước:
Quan triệt tư tưởng PTBV là “sự phát triển có thể đáp ứng được
những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến
những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai...”
(Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới: Báo cáo Brundtland –
Tương lai chung của chúng ta, 1987)
Để nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đối với PTBV đất
nước, về phía quản lý Nhà nước cần:
+ Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách theo hướng rà
soát lại hệ thống luật và các văn bản dưới luật hiện hành: thiếu
thì làm mới, khuyết thì bổ sung.
+ Nâng cao chất lượng văn bản pháp luật. Thí điểm cải cách cách
thức xây dựng luật và các văn bản dưới luật.
+ Xây dựng các chương trình hành động, các dự án đầu tư liên
quan đến PTBV.
+ Đổi mới và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
việc triển khai thực
hiện các chính sách, chương trình, dự án đầu tư liên quan đến
PTBV.
+ Đổi mới công tác đánh giá kết quả thực hiện chính sách PTBV.
+ Có chế tài xử lý vi phạm và khen thưởng rõ ràng, nghiêm minh,
minh bạch.
(c) Nâng cao vai trò của các doanh nghiệp trong phát triển bền
vững: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp là những chủ thể chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ PTBV,
bao gồm cả khía cạnh xã hội lẫn môi trường.
(d) Đào tạo nhân lực: Để thực hiện PTBV đất nước, điều cốt
yếu nhất là ở nguồn nhân lực. Các nhà quản lý, các nhà khoa học,
các nhà kinh doanh và mọi người lao động đều phải quán triệt
quan điểm về PTBV, có hiểu biết ngày càng sâu sắc về PTBV.
(e) Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn cho
việc đảm bảo phát triển bền vững:
(g) Mở rộng hợp tác quốc tế: Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực trao đổi thông tin, khoa học công nghệ, phát triển những
ngành kinh tế môi trường, phối hợp giải quyết những vấn đề
toàn cầu và khu vực (liên quốc gia), Chủ động và tích cực tham
gia cùng cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề liên quan
đến môi trường, cứu trợ nhân đạo, phòng chống dịch bệnh, thiên
tai...
2.2.4.4. Tổ chức thực hiện:
Sau khi Định hướng phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn
2011-2020 được phê duyệt, cần tiếp tục triển khai các công việc
cụ thể sau:
(a) Hội đồng Phát triển Bền vững quốc gia tổ chức nghiên cứu,
tham mưu giúp Chính phủ trong công tác chỉ đạo, điều hành việc
thực hiện Định hướng phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn
2011-2020.
(b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành,
địa phương nghiên cứu, tổ chức việc xây dựng Chương trình hành
động quốc gia về PTBV Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong đó,
phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương; đảm
bảo nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ, đề xuất danh mục các
chương trình ưu tiên và các dự án hợp tác quốc tế.
(c) Các bộ, ngành, địa phương căn cứ vào Định hướng này và
Chương trình hành động quốc gia về PTBV Việt Nam giai đoạn
2011-2020 để xây dựng các chương trình hành động phát triển
bền vững của bộ, ngành, địa phương mình.
(d) Bộ Thông tin và Truyền thông, các phương tiện thông tin đại
chúng tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, nhân dân về
tinh thần của Định hướng chiến lược PTBV.
(e) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành,
địa phương tổ chức nghiên cứu đánh giá sơ kết kết quả thực hiện
hàng năm và tổng kết 5 năm thực hiện Định hướng PTBV, báo
cáo Thủ tướng và đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung các chính
sách cần thiết.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản