Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trướng ở Việt Nam

Chia sẻ: Vo Kiem | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

2
610
lượt xem
178
download

Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trướng ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thời gian qua cùng với sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phát triển một cách mạnh mẽ, đóng góp một vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên hiện nay chúng ta chưa có một chính sách đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho loại hình doanh nghiệp này phát triển. Đứng trước yêu cầu trên Nhà nước cần phải đưa ra một hệ thống chính sách nhằm khuyến khích, tạo điều kiên...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trướng ở Việt Nam

  1. LỜI NÓI ĐẦU Thời gian qua cùng với sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phát triển một cách mạnh mẽ, đóng góp một vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên hiện nay chúng ta chưa có một chính sách đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho loại hình doanh nghiệp này phát triển. Đứng trước yêu cầu trên Nhà nước cần phải đưa ra một hệ thống chính sách nhằm khuyến khích, tạo điều kiên phát triển loại hình doanh nghiệp này. Về cơ bản, loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiên nay chủ yếu thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, vì vậy với đề tài " Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trướng ở Việt Nam" chủ yếu tập trung vào nghiên cứu thực trạng, giải pháp nhằm phát triển khu vực doanh nghiệp này. Với mục đích nghiên cứu trên đề tài được chia thành ba phần. Phần I : Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phần này nghiên cứu một cách khái quát loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phần II : Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Đây là phần chính của đề tài, với phấn này sẻ nêu lên những điếu kiện để phát triển các doang nghiệp vừa và nhỏ đồng thời nêu lên thực trạng phát triển loại hình doanh nghiệp này thời gian qua ở nước ta từ đó đưa ra những kiến nghị về mặt quản lý cùng như những kiến nghị về mặt tổ chức điều hành từ phìa các doanh nghiệp. Phần III : Kinh nghiệm phát triển và quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới.
  2. Với phần này sẻ nêu lên một số kinh nghiệp của các nước trên thế giời, từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển từ đó rút ra những bài học ứng dụng vào Việt Nam.
  3. PHẦN I TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA NHỎ I: Khái niệm doanh vừa và nhỏ Ở Việt Nam hiện nay, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là vấn đề được Nhà nước quan tâm đặc biệt. Vì sự thành đạt của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các doanh nghiệp. Mà trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường thì doanh nhiệp quy mô vừa và nhỏ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa chung, hoàn chỉnh về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để xác định chính xác loại hình doanh nghiệp này người ta thường căn cứ vào hai tiêu chí. Nhóm các tiêu chí định tính bao gồm: chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, không phức tạp. Nhóm yếu tố này phản ánh đúng bản chất vấn đề nhưng thường khó xác định bởi vậy mà nó mang tính tham khảo, kiểm chứng, ít được sử dụng trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lượng: Có thể bao gồm số lao đông định biên, giá trị tài sản, vốn kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, nhóm tiêu chí này mỗi nước sử dụng hoàn toàn không giống nhau, có thể căn cứ vào cả lao động, vốn, doanh thu cũng có thể chỉ căn cứ vào số lao động hoặc vốn kinh doanh. Hãy xem xét khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới để tham khảo. Hàn Quốc: Là một nước công nghiệp trẻ, đạt được nhiều thành công chính là nhờ sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hàn Quốc đã có những đạo luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định rõ những tiêu chuẩn để được công nhận là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những tiêu chuẩn đó còn phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động cụ thể như sau. Trong lĩnh vực chế tạo, khai thác, xây dựng: doanh nghiệp có dưới 300 lao động thường xuyên và tổng vốn đầu tư dưới 600.000 USD được coi
  4. là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ. Trong lĩnh vực thương mại: doanh nghiệp có dưới 20 lao động thường xuyên và doanh thu dưới 500.000 USD/năm (nếu là bán lẻ) và dưới 250.000 USD/ năm (nếu là bán buôn) được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này doanh nghiệp nào có dưới 5 lao động thưòng xuyên được coi là doanh nghiệp nhỏ1(các tiêu thức này được xác định từ những năm 70, đến nay tiêu thức về lao động đã thay đổi từ 2 đến 3 lần và vốn đã tăng hàng chục lần). Nhật Bản: là một nước đã tạo nên huyền thoại “thần kỳ” trong phát triển kinh tế vào những năm của thập kỷ 50 đến thập kỷ 70. Từ những năm 60, Nhật Bản có đạo luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: Đối với doanh nghiệp sản xuất: doanh nghiệp có dưới 300 lao động và một khoản tư bản hoá (vốn đầu tư) dưới 100 triệu Yên (tương đương với 1. 000. 000 USD) được coi là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ. Đối với doanh nghiệp bán buôn: doanh nghiệp có dưới 100 lao động hoặc có một khoản tư bản hoá dưới 30 triệu Yên (tương đương 100.000 USD) được coi là doanh nghiệp nhỏ. Đối với doanh nghiệp bán lẻ và dịch vụ: doanh nghiệp có dưới 50 lao động hoặc một khoản tư bản hoá dưới 10 triệu yên (tương đương 100. 000 USD) được coi là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trong số này, doanh nghiệp nào có dưới 5 lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ (những tiêu thức này nay được xác định từ những năm 60, hiên nay vốn đã tăng lên hàng chục lần)2. 1 Th«ng tin ph¸t triÓn doanh nghiÖp võa vμ nhá, 1/1997, tr 2. 2 Industrial Policy of Japan. p 534. (§æi míi c¬ chÕ qu¶n lý doanh nghiÖp võa vμ nhá trong nÒn kinh tÕ thÞ tr−êng ë ViÖt Nam)-tr 12
  5. Trong khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhật Bản chỉ quan tâm đến hai tiêu thức là vốn và lao động. Đối với tiêu thức lao động của loại hình doanh nghiệp nhỏ, Nhật Bản quan niệm gần giống với Hàn Quốc, rất thấp so với khu vực châu á. Phải chăng các nước có tiềm lực kinh tế mạnh, nguồn nhân lực có hạn, họ quan tâm đến tiêu thức vốn đầu tư nhiều hơn. Thái Lan: là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, họ quan niệm doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 200 lao động, doanh nghiệp nhỏ có dưới 50 lao động 3. Như vậy Thái Lan chỉ quan tâm đến tiêu thức lao động và cũng không tính đến tính chất đặc thù của nghành kinh tế (tiêu thức này gần giống với Việt Nam). Các nước khác như Phi-lip-pin lại lấy tiêu thức chủ yếu là lao động và giá trị tài sản cố định; In-đô-nê-xi-a lấy tiêu thức vốn bình quân cho một lao động; Trung quốc lại lấy tiêu thức sản lượng đầu tư. Mỹ lấy tiêu thức lao động, trị số hàng hoá bán ra (doanh thu tiêu thụ) đối với doanh nghiệp bán buôn, dịch vụ, đối với doanh nghiệp sản xuất thì có tính đến yếu tố ngành sản xuất. ở nước ta, trước đây do chưa có tiêu chí chung thống nhất xác định DNV & N nên một số cơ quan nhà nước, tổ chức hổ trợ DNV & N đã đưa ra tiêu thức riêng để xác định DNV & N phục vụ công tác của mình. Theo Công văn số 681/CP-KNT nêu trên, các doanh nghiệp có vốn điều lệ DNV & Nưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 ngưòi là các DNV & N. Tuy nhiên, các tiêu chí xác định trong cộng văn 681/CP-KTN chỉ là quy ước hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hổ trợ DNV & N , là cơ sở để các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính thức của nhà nước thực thi chính sách đối với khu vực DNV & N. Việc các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính không có chức năng thực thi các các chính sách Nhà nước đối với DNV & N áp dụng các tiêu chí khác nhau là được, vì các cơ quan đó có mục tiêu, đối tượng hổ trợ khác nhau. Việc đưa ra các tiêu thức xác 3 Th«ng tin ph¸t triÓn doanh nghiÖp võa vμ nhá, 1/1997, tr3
  6. định DNV & N mới chỉ có tính ước lệ, bản thân các tiêu chí đó chưa đủ xác định thế nào là khu vưc DNV & N ở Việt Nam, bởi vì có rất nhiếu các quan điểm khác nhau về việc các đối tượng, các chủ thể kinh doanh được coi là thuộc về hoặc không thuộc về khu vực DNV & N. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng cần quy định rõ DNV & N ở Việt Nam là cơ sở sản xuất có đăng ký, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn và/ hoặc lao động thoả mãn qui định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Một số tiêu chí xác định DN vừa và nhỏ đã được áp dụng ở Việt Nam Cơ quan, tổ chức đưa Vốn Doanh thu Lao động ra tiêu chí Ngân Hàng công Vốn cố định dưới 10 tỷ dưới 20 tỷ Dưới 500 ngưòi Thương Việt Nam đồng, vốn lưu động dưới đồng/tháng 8 tỷ đồng Liên Bộ Lao Động & Vốn pháp định dưới 1 tỷ dưới 1 tỷ dưới 100 người Tài chính đồng đồng/năm Dự án VIE/US/95 (Hỗ trợ DNV & N ở Viêt Nam của UNIDU) + Doanh nghiệp nhỏ Vốn đăng ký dưới 0,1 dưới 30 người +doanh nghiệp vừa triệu USD Từ 30 dến 500 Vốn đăng ký dưới 0,4 người triệu USD Quỹ hỗ trợ DNV & N Vốn điều lệ từ 50.000 Từ 10 đến 500 (Chương trình Việt đến 300.000 người Nam- EU) Nguồn: Bộ kế hoạch & Đầu Tư II. Sự cần thiết khách quan phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
  7. 1. Lợi thế và bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Những lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ: - Chúng gắn liền với công nghệ trung gian, là cầu nối giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiên đại. - Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động, linh hoạt, tự do, sánh tạo trong kinh doanh. - Các doanh nghiệp vừa và nhỏ dể dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại. - Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh. - Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tỷ suất đầu tư trên lao động thấp nhiều so với doanh nghiệp lớn, vì vậy nó có hiệu suất tạo việc làm cao. - Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp. - Quan hệ giữa người lao động và người quản lý (quan hệ chủ- thợ) trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ khá chặt chẻ. - Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ảnh hưởng rất ít hoặc không gây khủng hoảng kinh tế- xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền. 1.2 Những bất lợi của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Bên cạnh những lợi thế kể trên doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có những bất lợi so với doanh nghiệp có quy mô lớn. - Thông thường các doanh nghiêp vừa và nhỏ thường có nguồn tài chính hạn chế. Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu. Khả năng đổi mới công nghệ hay áp dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất là hạn chế.
  8. - Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế rất nhiều. - Trình độ quản lý ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn bị hạn chế. - Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng suất lao động và sức cạnh tranh kinh tế thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn. 2. Vai trò và tác động kinh tế-xã hội của DNV & N Mặc dù có những thế bất lợi nhất định nhưng doang nghiệp vừa và nhỏ với những tính chất, đặc điểm và lợi thế của nó, nên các doanh nghiệp này có vị trí và vai trò tác động kinh tế-xã hội rất lớn. Thứ nhất, các DNV & N có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh. ở hầu hết các nước doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng trên dưới 90 % tổng số các doanh nghiệp. Tốc độ gia tăng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh hơn các doanh nghiệp lớn. Hiện nay, chưa có số liệu thống kê về doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách chính thức, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng chiếm khoảng 80-90% tổng số các doanh nghiệp. Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế. chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi nước, Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý TW, thì hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếp khoảng 24% GDP.4 Thứ ba, tác động lớn nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ là giải quyết một số lượng lớn chổ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo. Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm cho người lao động, thì khu vực này vượt trội hẳn so với khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc, ở hầu hết các nước doanh 4 B¸o c¸o: Hoμn thiÖn chÝnh s¸ch kinh tÕ vÜ m«, c¶i c¸ch thñ tôc hμnh chÝnh ph¸t triÓn DNVVN ë ViÖt Nam- Trong khu«n khæ dù ¸nUNIDO-MPI-US/VIE/95/004, tr 5
  9. nghiệp vừa và nhỏ tạo việc làm cho khoảng từ 50- 80% lao động trong các nghành công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt trong nhiều thời kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực doanh nghiệp lớn. ở Việt Nam cũng theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế TW, thì số lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,8 triệu người, chiếm tới 72,9% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước.5 Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường, do lợi thế quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Thứ năm, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút được khá nhiều vốn ở trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân cư và yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ cố tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu tư vào sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn đề huy động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước. Thứ sáu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại- dịch vụ phát triển. Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông 5 B¸o c¸o: Hoμn thiÖn chÝnh s¸ch kinh tÕ vÜ m«, c¶i c¸ch thñ tôc hμnh chÝnh ph¸t triÓn DNVVN ë ViÖt Nam- Trong khu«n khæ dù ¸nUNIDO-MPI-US/VIE/95/004, tr 6
  10. nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp. Thứ bảy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần vào đô thị hoá phi tập trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”. Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn sẻ thu hút những người lao động thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại quê hương bản quán,không phải di chuyển đi xa, thực hiên phương châm “ly nông bất ly hương”. Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiêp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành nhứng thị tứ, thị trấn, là hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, là quá trình đô thị hoá phi tập trung. Thứ tám, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp. Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinh doanh. Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành nên những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển. Các tài năng kinh doanh sẻ được ươm mầm từ đây. 3. Tính tất yếu khách quan của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của các DNV & N. Lịch sử ra đời và phát triển nền sản xuất hàng hoá gắn liền với sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp. Giai đoạn tiền sử ( C. Mác gọi là hàng hoá giản đơn) không có sự phân biệt giữa giới chủ và người thợ.
  11. Người sản xuất hàng hoá vừa là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, vừa là người lao động trực tiếp, vừa là người điều khiển (quản lý) công việc của mình (của gia đình mình), vừa là người trực tiếp mang sản phẩm của mình trao đổi trên thị trường. Đó là loại doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp gia đình, doanh nghiệp cực nhỏ. Trong thời kỳ hiện đại, thông thường đại đa số những người khi mới trưởng thành để đi làm việc được, đều muốn thử sức mình trong nghề kinh doanh. Với một số vốn trong tay ít ỏi, với một trình độ nhất định, lĩnh hội được trong các trường chuyên nghiệp, bắt đầu khởi nghiệp, phần lớn họ đều thành lập doanh nghiệp nhỏ chỉ của riêng mình, tự sản xuất, tự kinh doanh. Trong sản xuất- kinh doanh có một số người đã gặp vận may và đặc biệt là nhờ sự tài ba của mình, biết chớp thời cơ, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khéo điều hành và tổ chức sắp xếp công việc, cần cù,chịu khó, tiết kiệm...đã thành đạt, ngày càng giàu lên, tích luỹ được nhiều của cải, tiền vốn, thường xuyên mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, đến một lúc nào đó, lực lượng lao động của gia đình không đảm đương hết công việc, cần phải thuê thêm người làm và họ trở thành ông chủ. Ngược lại , một bộ phận nguời sản xuất hàng hoá nhỏ khác, hoặc do không gặp vận may trong sản xuất-kinh doanh và đời sống, hoặc do kém cỏi không biết chớp thời cơ, không có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, không biết tính toán quản lý và điều hành doanh nghiệp... đã dẫn đến thua lỗ triền miên, buộc phải bán tư liệu sản xuất, đi làm thuê cho người khác. Những giai đoạn đầu, các ông chủ và những người thợ cùng lao động trực tiếp với nhau và những người làm thuê thường là bà con họ hàng của ông chủ sau đó thì mở rộng dần ra. Các học giả thường xếp loại này vào phạm trù DNV & N. Trong quá trình sản xuất- kinh doanh, một số người thành đạt đã phát triển doanh nghiệp của mình, bằng cách mở rộng sản xuất kinh doanh, và như vậy nhu cầu về vốn sẻ đòi hỏi nhiều hơn. Nhu cầu về vốn ngày càng tăng, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh đã thôi thúc các nhà doanh nghiệp, hoặc một số người cùng nhau góp vốn thành lập xí nghiệp
  12. sản xuất-kinh doanh, hoặc phát hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần. bằng cách liên kết ngang, dọc hoặc hổn hợp, nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều doanh nghiệp lớn hình thành và phát triển. Nền kinh tế một quốc gia là tổng hợp các doanh nghiệp lớn, bé tạo thành. Phần đông các doanh nghiệp lớn trưởng thành, phát triển từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quy luật đi từ nhỏ đến lớn là con đường tất yếu của sự phát triển bền vững mang tính phổ biến của đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường . Đồng thời, sự tồn tại đan xen và kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp làm cho nền kinh tế của mỗi nước khắc phục được tính đơn điệu, xơ cứng, tạo nên sự đa dạng, phong phú, linh hoạt, vừa đáp ứng những nhu cầu phát triển đi lên lẫn những biến đổi nhanh chóng của thi trường trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại, đảm bảo tính hiệu quả chung của nền kinh tế. Để phát triển đất nước không thể không có các doanh nghiệp lớn với tiềm lực kinh tế, kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngoài việc xây dựng các doanh nghiệp lớn thật cần thiết, chúng ta phải tích cực tập trung hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo điều kiện cho nó sớm vươn lên thành nhữnh doanh nghiệp lớn. Đây thực sự là việc cần phải làm trong giai đoạn phát triển hiện nay.
  13. PHẦN II PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM I: Những điều kiện kinh tế- xã hội đảm bảo phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở việt nam hiện nay 1. Về thị trường Đối với hoạt động sản xuất-kinh doanh của mỗi doanh nghiệp thì điều kiện tồn tại và phát triển đầu tiên là thị trường. Thị trường là yếu tố mang tính tổng hợp nhất, là nhân tố quan trọng hàng đầu tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp. Trong đó, điều kiện về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu ra là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành bại, sự tồn tại, phát triển thịnh vượng hay thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Khó khăn lớn nhất của nước ta hiện nay chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm. Theo nghĩa đầy đủ, Thị trường phải bao hàm cả thị trường các yếu tố đầu vào. Đó là thị trường cung ứng nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động, thậm chí còn bao hàm cả thị trường bất động sản. Hiện nay, tuy không phải là khó khăn quan trọng nhất, nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta đang gặp khó khăn đối với thị trường các yếu tố đầu vào, cản trở không ít tới quá trình phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khắc phục vấn đề này cũng là những đòi hỏi cấp thiết để tạo điều kiện cho sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta. 2. Về vốn tài chính Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần vốn tài chính. Qua sự vận động của vốn có thể xác định được trạng thái hoạt động của doanh nghiệp. điều kiện về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay rất hạn hẹp và gặp khó khăn rất lớn. Sự thiếu vốn của chúng đang diễn ra trên
  14. bình diện khá rộng. Bởi vì, quy mô vốn tự có của nó đều rất nhỏ, hạn hẹp, không đủ tài trợ cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt đối với những doanh nghiệp muốn mở rộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cấp, phát triển công nghệ. Mặt khác, thị trường vốn dài hạn, thị trường chứng khoán, về cơ bản nước ta chưa có. Và nếu có thì khả năng tham gia thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất hạn chế, hiếm hoi. Đồng thời, khả năng và điều kiện tiếp cận các nguồn vốn trên thị trường tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất hạn chế và gặp khó khăn lớn, là do: không đủ tài sản thế chấp; mức lãi suất khá cao so với lợi nhuận thu được, khối lượng cho vay ít, thời hạn cho vay quá ngắn, thủ tục rườm rà phiền hà; hình thức và thể chế tín dụng, nhất là khu vực nông thôn, còn nghèo nàn, đơn điệụ và hiệu lực pháp lý không cao. Những khó khăn đó rất cần được giải quyết để tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 3. Về thiết bị - công nghệ “Bộ ba vốn-thị trường-công nghệ” luôn là vấn đề cốt lõi của mỗi doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều kiện thiết bị công nghệ sẻ tác động trực tiếp tới năng suất, chất lượng sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Trong những năm đổi mới vừa qua do sức ép của thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có những đổi mới công nghệ nhất định. Đó là việc dùng điện vào sản xuất và gắn liền với nó là thực hiện nửa cơ khí, cơ khí hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất. Song nhìn chung thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay còn lạc hậu, trình độ thấp, hiệu quả chưa cao, đang gặp khó khăn đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, điều kiện về vốn tài chính và các điều kiện khác không cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ tài trợ để đổi mới công nghệ, áp dụng một cách mạnh mẽ các loại công nghệ tiên tiến, hiện đại. 4. Về nhà xưởng, mặt bằng SX-KD và các kết cấu hạ tầng khác
  15. Điều kiện mặt bằng cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhìn chung rất chật hẹp và gặp nhiều khó khăn trong việc tạo lập và mở rộng mặt bằng, do cơ chế chính sách chưa thích hợp và khả năng về tài chính của các doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp phải thuê mựợn lại mặt bằng của các doanh nghiệp nhà nước, hoặc phải dùng nhà ở làm nơi sản xuất, kinh doanh, giao dịch, giới thiệu, bán hàng. Hệ thống điện, nước cung cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không đảm bảo. Hệ thống xử lý nước thải của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có, gây tác hại rất lớn tới môi trường sống. Các điều kiện về kho bãi, đường xá trong và ngoài doanh nghiệp, nhất là hệ thống giao thông công cộng phục vụ cho sản xuất-kinh doanh, giao lưu hàng hoá của các doanh nghiệp trong cả nước nói chung, ở khu vực nông thôn nói riêng (khu vực mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ dang và có địa bàn hoạt động chiếm ưu thế) đang rất hạn chế về mật độ và độ rộng của lòng đường, thấp kém về chất lượng cầu cống, nền và mặt đường, cùng như thiếu thốn về bến bãi. chúng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. 5. Về kiến thức và năng lực quản lý kinh doanh của các chủ doanh nghiệp Sự hoạt động sản xuất-kinh doanh trên thương trường với sức cạnh tranh khốc liệt đầy cam go, đòi hỏi các chủ doanh nghiệp phải có trình độ kiến thức cao, năng lực quản lý giỏi, mới có thể thành đạt trong quản lý kinh doanh, đưa doanh nghiệp của mình ngày càng phát triển. Mỗi chủ doanh nghiệp phải biết thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các loại thông tin kinh tế, kỹ thuật, biết đề ra những chiến lược đúng đắn và đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời. Đồng thời, chủ doanh nghiệp phải biết quản lý, giám sát, điều hành công việc của những người lao động một cách hợp lý, có hiệu quả, biết đánh giá, động viên, khuyến khích, thưởng phạt và trả công chính xác, tương xứng với những đóng góp của họ vào kết quả chung của xí nghiệp.
  16. Nhìn lại đội ngũ các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay cho thấy, họ có nhiều bất cập với đòi hỏi của kinh doanh trong thương trường hiện đại. Đại đa số họ chỉ có trình độ kiến thức phổ thông cấp II (45-50%), một số không nhiều có trình đồ văn hoá phổ thông trung học, cao đẳng và đại học (30-40%). Còn một bộ phận đáng kể có trình độ tiểu học (10-15%). Chỉ có rất ít các chủ doanh nghiệp được đào tạo kiến thức quản lý chính quy, một số ít (20-30%) được tập trung đào tạo ngắn hạn (dưới 6 tháng), còn lại đại đa số chỉ quản lý doanh nghiệp mình bằng kinh nghiệm. Đây là một điểm yếu rất lớn và là một khó khăn quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có sự giúp đỡ từ phía nhà nước và các tổ chức phi chính phủ.6 6. Về trí thức và trình độ tay nghề của lực lượng lao động Trình độ tri thức và tay nghề của ngừơi lao động làm việc trong các doanh nghiệp cũng rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của chúng . Những người có trí thức, tay nghề sẻ sử dụng tốt các loại thiết bị công nghệ cao, phức tap, tiếp thu áp dụng tốt các loại thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại, làm ra những sản phẩm đẹp, có chất lượng, với năng suất và hiệu quả cao. Đội ngũ lao động hiện có trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phân nhiều có trình độ văn hoá cấp II (40-50%) số có trình độ văn hoá phổ thông trung học cũng chiếm một tỷ trọng khá ( 20-30%) và số có trình độ tiểu học và chưa biết chữ còn chiếm một tỷ trọng khá lớn (25-30%). Song, về trình độ tay nghề, kỹ thuật của những người lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện rất thấp, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Số lao động có tính chất phổ thông, có trình độ tay nghề giản đơn, chưa được đào tạo, bình quân chiếm khoảng (60-70%). ở một số vùng nông thôn số được đào tạo nghề chính quy chỉ chiếm khoảng 10%. Đó cũng là một trong những khó 6 Tham kh¶o: Nhgiªn cøu kinh tÕ - sè 248- th¸ng 1/1999
  17. khăn đối với việc phát triển mạnh mẻ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay.7 7. Về khả năng tiềp cận thông tin và hệ thống thông tin Hệ thống thông tin và khả năng tiếp cận thông tin, nhất là những thông tin về thị trường, giá cả, công nghệ, sản phẩm là hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp. Hệ thống thông tin ở nước ta hiện nay mặc dù so với trước đã được phổ biến khá rộng rải, các phương tiện thông tin tương đối phong phú và hiện đại, phương pháp thu thập và cung cấp thông tin có nhiều tiến bộ.v.v..., song nhìn chung, tính chất nhanh nhạy, kịp thời, chính xác và đầy đủ, hoàn thiên của hệ thống thông tin chưa đáp ứng được những yêu cầu của sản xuất-kinh doanh trong điều kiên thị trường và cuộc cách mạnh khoa hoc-công nghệ hiện đại. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin. Nguồn vốn tài chính có hạn, chúng không đủ kinh phí để mua sắm các thiết bị phục vụ công tác thông tin nhanh chóng, kịp thời nói riêng và chi phí cho hoạt động tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin nói chung. Trình độ tri thức và năng lực thu thập, xử lý thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất hạn chế. Cho nên, khả năng tiếp cận thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn, rất cần sự giúp đỡ để cải thiện tình hình. 8. Về hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước Hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước tác động tới toàn bộ mọi mặt trong đời sống xã hội, trong đó có sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng hoặc là tạo điều kiện thuận lợi, hoặc là gây khó khăn cản trở đối với sự ra đời, hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm đổi mới, hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến khu vực ngoài quốc doanh (trong đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu) đã được hình thành và đổi mới từng bước 7 Tham kh¶o: Nhgiªn cøu kinh tÕ - sè 248- th¸ng 1/1999
  18. với những kết quả tích cưc. Chúng đã tạo điều kiện khuyến khích, thúc đẩy sự hình thành và phát triển khá mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt đối với khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, hệ thống chính sách và pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu đồng bộ, nhất quán và kém hoàn thiện. Chúng vẫn chưa tạo ra môi trường hoạt đông thông thoáng và bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiêp, chưa khuyến khích các doanh nghiệp hoạt đông sản xuất-kinh doanh có hiệu quả và tuân theo pháp luật, đặc biệt là các chính sách đất đai, thuế khoá, tín dụng và xuất nhập khẩu ... Điều đó đòi hỏi phải có sự đổi mới, hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước để tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 9. Về hệ thống tổ chức quản lý kiểm soát của Nhà nước và các thiết chế cộng đồng xã hội nông thôn Hệ thống tổ chức quản lý, kiểm soát của Nhà nước từ trung ương đến các cấp tỉnh, huyện, xã với nhiều ban ngành cồng kềnh và thực tế hoạt động không có sự phối hợp chặt chẻ, phân công trách nhiệm rõ ràng, đã làm giảm hiệu lực quản lý của bộ máy. Các hoạt động của đội kiểm tra liên ngành, quản lý thị trường, công an, thuế vụ ... không có sự thống nhất, chồng chéo, dẩm đạp lên nhau, nhiều khi còn đổ lỗi và có những hành động triệt tiêu hiệu quả công tác quản lý lẫn nhau. Một mặt, nó gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp, vì thường xuyên phải tiếp đoàn thanh tra, quản lý, kiểm soát của chính quyền các cấp, không còn thời gian cho các chủ doanh nghiệp lao tâm vào tìm các quyết sách kinh doanh. Mặt khác, nó lại thả lỏng nhiều lĩnh vực nhiều hoạt động sản xuất-kinh doanh. Vì vậy, cần thiết phải có sự kiện toàn, sắp xếp, đổi mới hệ thống và phương pháp quản lý, kiểm soát trên tinh thần hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển là chính. Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực nông thôn còn chịu sự tác động cửa những quan hệ, thiết chế xã hội nông
  19. thôn với những thông số cơ bản là gia đình, dòng họ và làng, thôn. ở Việt Nam, gia đình thật sự là đơn vị sản xuất-kinh doanh rất cơ bản trong lịnh sử, hiện tại và tương lai. Kết cấu dòng họ đã và đang góp phần ổn định xã hội , thực hiện tín chấp, tương trợ giúp nhau vốn để làm kinh tế, mở doanh nghiệp và xoá đói giảm nghèo. Làng Việt truyền thống là tổ chức cộng đồng tự quản, tự điều chỉnh bằng hương ước, bằng luật tục, bằng dư luận, bằng luân lý và đao đức, có tác dụng tới sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thôn cùng kênh thông tin, chuyển giao công nghệ, không gian tìm việc làm và tạo dựng doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất truyền thống của những thiết chế xã hội nông thôn đó cũng có những nhược điểm làm cản trở rất lớn tới sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiên đại. Đó là tính chất hẹp hòi, đố kỵ, bản kỵ và khép kín ngay trong từng gia đình giòng họ và làng thôn. chính đó là những tác nhân chủ yếu làm giam hãm xã hội nông thôn Việt Nam trong lịch sử cho đến ngày nay chưa vượt qua được vòng cương toả của sự đói nghèo và lạc hậu. Mặc dù hiện nay, mức độ và phạm vi của những tính chất tiêu cực đó không còn sâu nặng như trước và đã được giải toả rất nhiều, song sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện hiện đại đòi hỏi phải khắc phục và giải toả hoàn toàn những tính chất tiêu cực nói trên. II. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những giai đoạn phát triển, nhưng mức độ có khác nhau trong từng thời kỳ nhất định. Theo tôi có thể chia làm hai thời kỳ chính để nghiên cứu về loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thời kỳ thứ nhất là những năm 1986 trở về trước và thời kỳ sau năm 1986. ở thời kỳ thứ nhất loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ nhìn chung chưa phát triển mạnh, chủ yếu tồn tại và phát triển ở hai
  20. loại hình doanh nghiệp là HTX và DNNN, còn mang nặng tính chất hoạt động của thời kỳ kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp. ở thời kỳ thứ hai, nhìn chung do chính sách cởi mở hơn về kinh tế của Đảng và Nhà nước, do sự thúc ép cấp bách về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động: Tăng trưởng lao động tự nhiên hàng năm dư thừa lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp, DNNN trải qua giai đoạn cũng cố sắp xếp lại, sự trở về của hàng vạn lao động từ Liên Xô (cũ) và Đông Âu, hồi hương của những người di tản... Do đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ về số lượng, ở các nghành, lĩnh vực kinh tế và các vùng lãnh thổ, đóng góp rất quan trọng và việc thu hút nguồn lao động, nâng cao thu nhập cho người lao động và là động lực tăng trưởng nền kinh tế (xem bảng 2). Bảng 2: Thu hút lao đông vầ tỷ trọng khu vực tư nhân trong GDP 1995 1996 1997 1998 1999 2000 1. Tổng số l0ao động 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 làm việc trong khu vực nhà nước 11,28 10,12 9,36 9,05 8,70 8,66 - Trong khu vực nhà nước 88,72 89,88 90,64 90,95 91,30 91,34 - Trong khu vực tư nhân 2. Tỷ trọng của khu vực 32,50 33,30 36,02 39,20 40,20 57,80 quốc doanh trong GDP (%) 3. Tỷ trọng khu vực tư 67,50 66,70 63,80 60,80 59,80 57,80 nhân trong GDP (%)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản