Phòng ngừa bệnh xơ gan có dễ?

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
59
lượt xem
15
download

Phòng ngừa bệnh xơ gan có dễ?

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xơ gan là khi cấu trúc bình thường của gan bị biến đổi và thay thế bằng mô xơ sẹo không còn chức năng, thường gây ra bởi quá trình viêm kéo dài tại gan do nhiều bệnh lý khác nhau như xơ gan do ứ mật; hóa chất, thuốc; thiểu dưỡng; ký sinh trùng; rối loạn chuyển hóa... nhưng thường gặp nhất là tình trạng lạm dụng rượu và nhiễm virut viêm gan. Các thương tổn trong xơ gan thường không thể hồi phục được nhưng hoàn toàn có thể làm chậm hoặc ngăn cản các thương tổn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phòng ngừa bệnh xơ gan có dễ?

  1. Phòng ngừa bệnh xơ gan có dễ? Xơ gan là khi cấu trúc bình thường của gan bị biến đổi và thay thế bằng mô xơ sẹo không còn chức năng, thường gây ra bởi quá trình viêm kéo dài tại gan do nhiều bệnh lý khác nhau như xơ gan do ứ mật; hóa chất, thuốc; thiểu dưỡng; ký sinh trùng; rối loạn chuyển hóa... nhưng thường gặp nhất là tình trạng lạm dụng rượu và nhiễm virut viêm gan. Các thương tổn trong xơ gan thường không thể hồi phục được nhưng hoàn toàn có thể làm chậm hoặc ngăn cản các thương tổn này bằng việc điều trị hợp lý. Các giai đoạn của xơ gan:
  2. Trước khi bị xơ gan, hầu hết bệnh nhân đều có tiền sử mắc các bệnh lý gan mật như: viêm gan do virut, nghiện rượu... sau đó các triệu chứng xơ gan bắt đầu xuất hiện. Người ta chia xơ gan làm 2 giai đoạn chính: - Giai đoạn sớm (giai đoạn tiềm ẩn): ở thời kỳ này, các triệu chứng của bệnh rất nghèo nàn. Người bệnh chỉ thấy hơi đau ở hạ sườn phải, bụng trướng nhẹ, xuất hiện sự giãn các vi mạch ở cổ, mặt... Nhiều trường hợp không có các triệu chứng lâm sàng, người bệnh vẫn lao động, học tập bình thường. Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào từng bệnh nhân, có thể vài tuần, vài tháng, thậm chí vài năm. Chính vì không có những biểu hiện rõ rệt hay không có biểu hiện gì nên người bệnh chủ quan, không đi thăm khám, không có chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý, nhiều người vẫn dùng rượu, bia, thuốc lá, sử dụng những chất không có lợi cho gan... làm cho bệnh càng có cơ hội bùng phát mạnh ở giai đoạn tiếp theo. - Giai đoạn muộn (giai đoạn mất bù): Đây là giai đoạn có nhiều triệu chứng rõ rệt nên bệnh nhân mới đi khám. Biểu hiện rõ rệt nhất là ở hai hội chứng suy gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Do tình trạng xơ hóa làm chức năng gan bị suy giảm, dẫn đến hiện tượng người bệnh mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, sợ mỡ, rối loạn đại tiện. Bên cạnh đó, bệnh nhân dễ bị chảy máu dưới da và niêm mạc, như chảy máu cam, chảy máu chân răng. Một số trường hợp da bệnh nhân bị sạm đen do lắng đọng sắc tố hoặc vàng mắt, vàng da kèm theo ngứa, nhất là trường hợp xơ gan do ứ mật.
  3. Dấu hiệu nổi bật của xơ gan - Phù là một triệu chứng nổi bật của bệnh nhân xơ gan. Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có thể bị phù toàn thân. Ngoài ra, xơ gan cũng ảnh hưởng đến chức năng nội tiết của cơ thể. ở nam giới là tình trạng giảm ham muốn tình dục, teo tinh hoàn, vú to ra. Đối với nữ, đó là tình trạng rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh. - Tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường biểu hiện bằng hiện tượng tuần hoàn bàng hệ. Lúc đầu chỉ mới là các tĩnh mạch nổi lờ mờ ở vùng mũi ức và hạ sườn phải, sau đó phát triển rõ dần, có khi nhìn thấy từng búi tĩnh mạch nổi lên. Lúc này bệnh nhân có thể bị trĩ nội, trĩ ngoại, xuất huyết tiêu hóa do vỡ các tĩnh mạch ở thực quản và dạ dày. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm cho bệnh nhân bị cổ trướng, bụng bệnh nhân trương phình. Chọc hút dịch cổ trướng thường có màu vàng, nếu có màu hồng thì xơ gan có thể bị ung thư hóa. - Khi đã có những biểu hiện của giai đoạn muộn thì gan không còn cơ hội phục hồi nữa, bệnh rất ít tiên lượng điều trị, có đến 60% bệnh nhân tử vong trong năm đầu tiên, trên 80% tử vong trong vòng hai năm và chỉ có 6% tỉ lệ bệnh nhân sống quá 3 năm. Bệnh nhân tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan.
  4. Các tác nhân gây bệnh Nguyên nhân của bệnh xơ gan có rất nhiều. Hay gặp nhất là xơ gan sau viêm gan virut A, B, C. Trong đó nổi bật nhất là tình trạng viêm gan B virut. Đây là bệnh có tỉ lệ mắc rất cao ở nước ta, khoảng 10-20% dân số nhiễm virut này. Bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, truyền máu và từ mẹ sang con. Biến chứng của bệnh không chỉ là xơ gan mà còn ung thư gan. Xơ gan cũng có thể do tình trạng ứ mật kéo dài, do viêm tắc đường mật do sỏi hoặc do ký sinh trùng, do viêm nhiễm. Suy tim, sán lá gan cũng là những nguyên nhân gây ra căn bệnh này. Biến chứng nặng nề nhất của nghiện rượu là xơ gan, thói quen không tốt này làm tỉ lệ xơ gan thường thấy ở nam giới trung niên hơn nữ giới. Phòng bệnh xơ gan Xơ gan là bệnh không hồi phục được, việc điều trị rất khó khăn. Hiện nay, người ta đang áp dụng biện pháp ghép gan, tuy nhiên biện pháp này rất tốn kém, yêu cầu kỹ thuật hiện đại. Ở nước ta, kỹ thuật này chỉ mới đang là những bước đi ban đầu. Do vậy biện pháp tốt nhất là phòng bệnh. Mọi người cần thực hiện các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của các bệnh viêm gan do virut (không quan hệ tình dục bừa bãi, không dùng chung bơm kim tiêm...), cần tiêm phòng vaccin viêm
  5. gan, đặc biệt là vaccin viêm gan B cho trẻ sơ sinh. Bên cạnh đó phải điều trị triệt để các bệnh có thể gây xơ gan như suy tim, viêm gan, sỏi mật. ThS. BS. NGUYỄN VĂN DŨNG
Đồng bộ tài khoản