Phòng ngừa, chữa trị bệnh thuỷ đậu

Chia sẻ: Nguquai Nguquai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
99
lượt xem
16
download

Phòng ngừa, chữa trị bệnh thuỷ đậu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh thuỷ đậu (Chickenpox) hay còn gọi dân dã là bệnh trái rạ hay bỏng rạ, là căn bệnh truyền nhiễm cấp tính, dễ lây, thường gặp ở trẻ nhỏ, thủ phạm chính là do virus Varicella zoster. Nhiều người coi đây là căn bệnh ít nguy hiểm nên dễ bỏ qua. Bệnh thường kéo dài hai tuần và nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây biến chứng và tử vong. Triệu chứng Bệnh thuỷ đậu ở trẻ lúc mới phát bệnh thường không sốt nhưng lại phát bóng nước đột ngột còn ở người lớn...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phòng ngừa, chữa trị bệnh thuỷ đậu

  1. Phòng ngừa, chữa trị bệnh thuỷ đậu Bệnh thuỷ đậu (Chickenpox) hay còn gọi dân dã là bệnh trái rạ hay bỏng rạ, là căn bệnh truyền nhiễm cấp tính, dễ lây, thường gặp ở trẻ nhỏ, thủ phạm chính là do virus Varicella zoster.
  2. Nhiều người coi đây là căn bệnh ít nguy hiểm nên dễ bỏ qua. Bệnh thường kéo dài hai tuần và nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây biến chứng và tử vong. Triệu chứng Bệnh thuỷ đậu ở trẻ lúc mới phát bệnh thường không sốt nhưng lại phát bóng nước đột ngột còn ở người lớn thì ngược lại, có tiền chứng sốt, mệt mỏi, biếng ăn và đau cơ. Khi nhiễm bệnh, các nốt thuỷ đậu xuất hiện rất nhanh trong vòng một ngày trên toàn thân, có người mọc thưa có người mọc dày, kể cả trong cổ họng, trong mắt, niêm mạc và trong bộ phận sinh dục. Lúc đầu những nốt này có màu đỏ trông giống như ban sởi, vài giờ sau thành nốt phồng. Tuỳ theo sức khoẻ của trẻ mà trong vòng 1-2 tuần, nốt đậu đóng vảy và bong ra. Trong quá trình phát bệnh xuất hiện các nốt đậu thường đi kèm với các triệu chứng như sốt, đau bụng, đau đầu, ho nhẹ và người khó chịu, riêng ở nhóm trẻ khoẻ mạnh thì các dấu hiệu này thường không đáng kể. Còn ở phụ nữ có thai lại dễ mắc bệnh ở giai đoạn đầu, nếu mắc bệnh gần sát đến ngày sinh thì rủi ro đối với thai nhi là rất lớn. Nhóm người có nguy cơ mắc bệnh cao
  3. Là căn bệnh truyền nhiễm nên nguy cơ lây lan từ người sang người là rất lớn (trên 90%). Tỷ lệ trẻ mắc bệnh thuỷ đậu rất cao, nhất là nhóm từ 5-11 tuổi chưa tiêm phòng vắcxin (khoảng trên 50%) và rất ít khi xảy ra ở nhóm dưới 6 tháng tuổi. Người lớn nếu khi còn nhỏ chưa mắc bệnh thì nguy cơ mắc bệnh rất cao. Các biến chứng của bệnh thuỷ đậu Khi bị nhiễm bệnh, virus Varicella zoster sẽ còn lưu lại trong các tế bào thần kinh và tái xuất hiện trong suốt thời gian dài, đây là biến chứng gây tác hại đến hệ thần kinh với tỷ lệ rất cao, gây bệnh viêm não và hội chứng Rey, căn bệnh về não có mức độ tử vong tới trên 40 %. Cách điều trị Thông thường, những đứa trẻ khoẻ mạnh, bệnh thuỷ đậu không gây vấn đề gì, bác sỹ có thể kê đơn dùng thuốc giảm đau nhưng ở những người có sức khoẻ yếu và nguy cơ biến chứng cao, bác sỹ sẽ có thể kê đơn cho thuốc để rút ngắn thời gian lây nhiễm, như thuốc chống virus acyclovir (Zoviras) hoặc các loại thuốc có tên là intraveneous immune globin (IGIV), thuốc Valtres hay Famvir…Trẻ mắc bệnh nên cách ly tại nhà trong suốt thời gian nhiễm bệnh và khi khỏi nên tắm rửa sạch sẽ, giữ vệ sinh sạch sẽ, cắt móng tay, hạn chế không cho trẻ gãi, hàng ngày
  4. nên nhỏ mắt, nhỏ mũi sát khuẩn bằng chloraphenicoa 0,4%. Khi các nốt bỏng vỡ nên bôi thuốc xanh metilen, không được dùng thuốc kháng sinh để bôi lên các nốt vỡ này. Khi dùng kháng sinh nhất thiết phải tư vấn chuyên môn, trường hợp sốt cao, nốt đậu mọc nhiều, sợ ánh sáng thì phải đưa trẻ đi khám và chú ý ăn uống vệ sinh và đầy đủ. Để phòng ngừa bệnh thuỷ đậu nên đưa trẻ đi tiêm vắcxin phòng bệnh (Varivax) theo lịch như dưới đây, riêng phụ nữ có thai, những người có hệ miễn dịch yếu, dễ dị ứng với gelatin hoặc neomycin kháng sinh thì không nên tiêm phòng. Đối với trẻ nhỏ: Tiêm hai liều Varivax, liều đầu tiên khi trẻ được 12-15 tháng tuổi, mũi hai khi trẻ được 4-6 năm tuổi. Nhóm trẻ lớn chưa tiêm phòng: Trẻ 7-13 tuổi chưa tiêm thì tiêm hai mũi Varivax, hai mũi cách nhau ít nhất 3 tháng, riêng nhóm trên 13 cũng áp dụng tiêm 2 mũi nhưng thời gian cách nhau ít nhất 4 tuần. Người lớn chưa tiêm bao giờ cũng có mức độ rủi ro mắc bệnh cao, nhất là những người làm công tác xã hội như nuôi dạy trẻ, nhân viên ngành hàng không, y tế... Cũng nên tiêm hai mũi, khoảng cách giữa hai lần tiêm cách nhau 4-8 tuần.
Đồng bộ tài khoản