PHÒNG PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC CỦA CÔNG TY CP TRAPHACO-TRA

Chia sẻ: Chanh Thu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
794
lượt xem
166
download

PHÒNG PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC CỦA CÔNG TY CP TRAPHACO-TRA

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chủ động nguyên liệu và chuyên môn hóa sản xuất: TRA hiện có 50% vốn góp vào TRA Sapa và 15% vốn góp vào TRA CNC. Hai công ty này hỗ trợ TRA thu mua nguyên liệu và thực hiện sản xuất một số mặt hàng bán lại cho TRA.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: PHÒNG PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC CỦA CÔNG TY CP TRAPHACO-TRA

  1. PHÒNG PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC Tháng 12/2008 CÔNG TY CP TRAPHACO – TRA NỘI DUNG CHÍNH KHUYẾN NGHỊ: BÁN Giá trị nội tại 49.100 VND Chủ động nguyên liệu và chuyên môn hóa sản xuất: TRA hiện có Giá thị trường 42.000 VND 50% vốn góp vào TRA Sapa và 15% vốn góp vào TRA CNC. Hai công ty này hỗ trợ TRA thu mua nguyên liệu và thực hiện sản xuất một số mặt THÔNG TIN CỔ PHẦN hàng bán lại cho TRA. Mã chứng khoán TRA Sàn giao dịch HOSE Hệ thống phân phối rộng tạo cơ hội gia tăng sản lượng bán: TRA đã Mệnh giá 10.000 VND xây dựng hệ thống phân phối dựa trên việc mở rộng mạng lưới đại lý. Số lượng CP 8.000.000 CP Bên cạnh đó, TRA còn mở rộng tiếp cận bệnh viên đa khoa cấp huyện. EPS 2008 (E) 5.945 VND Lãi gộp biên được cải thiện nhiều trong năm 2009: Trong năm 2008, TRA đã tăng giá các mặt hàng của mình, tân dược tăng khoảng 30% và đông dược tăng trung bình khoảng 25 – 30%. Việc gia công ngoài có thể làm giảm chất lượng sản phẩm thuốc: Biểu đồ giá Hiện tại, TRA đang gia công ngoài một số dược liệu trong đó nhiều nhất là Atiso. Việc này là rủi ro lớn mà chúng tôi nhấn mạnh vì có thể phá vỡ việc tuân thủ qui trình sản xuất dược phẩm như TRA đã cam kết với Bộ Y Tế. Bị chiếm dụng vốn nhiều qua tín dụng thương mại: việc tiêu thụ sản phẩm qua đại lý khiến số ngày thu tiền bình quân của TRA dài hơn doanh ngiệp khác với cách bán hàng truyền thống. Việc chuyển lợi nhuận là một rủi ro cho nhà đầu tư: Việc bán nguyên liệu cho TRA CNC giá thấp và thậm chí không có lời; trong khi mua lại hàng của TRA CNC với giá cao khiến tỷ suất lợi nhuận của TRA hiện tại đang thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp cùng ngành. THÔNG TIN TÀI CHÍNH CƠ BẢN (1.000.000 đồng) 2005 2006 YoY 2007 YoY 2008E YoY Tổng tài sản 189,630 234,068 23% 403,799 73% 384,044 73% Vốn CSH 73,388 100,799 37% 241,485 140% 269,844 140% Doanh thu thuần 261,227 360,241 38% 533,221 48% 700,000 48% ROA 12% 7% -43% 9% 39% 12% 39% ROE 31% 16% -49% 16% 0% 18% 0% EPS 22,844 7,984 -65% 4,781 -40% 5,945 -40% PE 1.8 5.3 8.8 7.1 73% Đọc kỹ khuyến cáo tại trang cuối báo cáo phân tích này
  2. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 TỔNG QUAN CÔNG TY Công ty cổ phần Traphaco ra đời năm 2001. Tháng 11/2008, Traphaco chính thức niêm yết trên sàn Hồ Chí Minh với mã TRA. Công ty có 3 hoạt động chính: thương mại (50% doanh thu); sản xuất đông dược (38% doanh thu), sản xuất tân dược (12% doanh thu). Cơ cấu cổ đông Thay đổi vốn điều lệ 80,000 80,000 Nhà nước Khác 37% 53% Nước 20,000 ngoài 10% 9,900 2005 2006 2007 Q3.2008 Nguồn: TRA Trong 3 mảng hoạt động này, TRA Doanh thu sản xuất năm 2007 nổi tiếng về đông dược, đặc biệt là 600,000 thị trường miền Bắc. Trong nhóm 500,000 các công ty có qui mô vốn tương 400,000 đồng, TRA đứng thứ hai về doanh 300,000 số sản xuất. 200,000 Hiện tại, TRA đang sở hữu 15% 100,000 công ty CP Công nghệ cao 0 Traphaco CNC (TRA CNC) và 50% TRA OPC DCL MKP công ty TNHH Traphaco Sapa (TRA SAPA). Nguồn: TRA TỔNG QUAN NGÀNH Tân dược tăng trưởng mạnh trong khi đông dược tăng trưởng khiêm tốn Tốc độ tăng trưởng bình quân nhân của ngành dược ở mức 23%/năm từ năm 2001 – 2008. Theo dự báo của Bộ Y Tế và BMI, trong khoảng 3 năm tới mức tăng 2
  3. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 trưởng này đạt khoảng 15%/năm. Trong khi nhìn chung tình hình ngành dược khá khả quan thì đông dược không thực sự có những bước chuyển đáng kể. Trao đổi với một số chuyên gia trong ngành, chúng tôi được biết mức tăng trưởng của ngành này chỉ khoảng 8 – 10%/năm từ năm 2006 trở lại đây. Mức tăng trưởng khiêm tốn này xuất phát từ một số lí do 1) Thiếu các tiêu chuẩn của sản phẩm đông dược góp phần tạo điều kiện cho hàng giả/ kém chất lượng gia tăng khiến các doanh nghiệp sản xuất thuốc tốt bị thiệt hại khi lòng tin của người bệnh đối với thuốc đông dược giảm. 2) Tốc độ thành lập các khoa đông dược và các bệnh viện Y Học Dân Tộc diễn ra khá chậm chạp (BV đa khoa có khoa YHCT tăng 27% trong vòng 4 năm từ 2003 - 2007, tức khoảng 7%/năm – tính theo trung bình cộng). 3) Thiếu nguồn dược liệu có chất lượng tốt trong nước cản trở sự tăng trưởng của đông dược. Thiếu dược liệu đông dược và nhập khẩu hàng từ Trung Quốc đang phổ biến Theo thống kê của Bộ Y Tế, lượng đông Nguồn dược liệu năm 2005 dược nhập khẩu chiếm 54% sản lượng đông dược sử dụng trong nước. Việc nhập khẩu nhiều do nguồn nguyên liệu trong Khai thác nước không đáp ứng đủ. Trong tương lai, tự nhiên 21% nhiều khả năng nguồn nguyên liệu này Nhập khẩu càng khan hiếm do việc nuôi trồng dược Nguồn nuôi 52% liệu chưa được thực hiện bài bản và số gia trồng 27% đình trồng cây thuốc và diện tích trồng cây thuốc cũng đang giảm dần. Đây là rủi ro lớn cho ngành đông dược Nguồn: Báo cáo Bộ Y Tế (12/2008) trong hiện tại và thời gian tới đây (báo cáo Bộ Y Tế tháng 12/2008). Việc nhập khẩu hiện nay phần lớn từ Trung Quốc và qua đường tiểu ngạch đang diễn ra phổ biến khiến ngành đông dược trong nước phụ thuộc vào dược liêu Trung Quốc càng nhiều. Triển vọng tăng trưởng ngành đông dược theo định hướng của chính phủ và xu hướng chữa bệnh hiện đại So sánh với một số quốc gia trong khu vực Châu Á hoặc các quốc gia có nền văn hóa theo hướng Châu Á và thói quen sử dụng các loại dược phẩm tự nhiên, tỷ lệ sử dụng đông dược của Việt Nam đang nằm ở mức khá thấp. Đơn cử trường hợp 3
  4. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 Trung Quốc, tỷ lệ sử dụng đông dược đạt 90% trong khi con số này của Việt Nam chỉ đạt 50%. Tỉ lệ dân số sử dụng đông dược Thống kê ngành dược Trung Quốc Trung Quốc 90% Sản phẩm Thuốc thú y, sinh học, 8% Hàn Quốc 69% 2% Nauru 60% Hóa chất cho Hông Kông 60% ngành dược, Phillipine 57.30% Thuốc 28% y học Việt Nam 50% cổ truyền , 30% Nhận Bản 49% Thành phẩm tân Singapore 45% dược, 32% Úc 48.50% Nguồn: Traditional Medicine Report, WHO Nguồn: Growth of Chinese Pharma Industry Report – 2007, U.S policy team Theo định hướng của Bộ Y Tế, đến năm 2010, chữa bệnh bằng Y Học Cổ Truyền tại các tuyến điều trị sẽ đạt tỷ lệ khá cao. Tỉ lệ điều trị bằng đông dược Kế hoạch 2010 Thực hiện năm 2008 Tuyến tỉnh 20% 8.3% Tuyến huyện 25% 9.8% Tuyến xã 40% 21.3% Nguồn: Bộ Y Tế Như vậy, kế hoạch đặt ra cho thời điểm 2010 có một khoảng cách khá lớn so với thực tế năm 2008. Mặc dù, nếu nhìn vào thị trường dược Trung Quốc và thói quen sử dụng thuốc của người Việt Nam, chúng tôi có thể thấy vẫn còn cơ hội cho ngành đông dược tại Việt Nam. Tuy nhiên, với nhiều vấn đề chưa được giải quyết như đã đề cập ở phần trên, chúng tôi cho rằng khả năng về một mức tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn là khó khăn. PHÂN TÍCH ĐẦU TƯ Chủ động nguyên liệu và chuyên môn hóa sản xuất TRA hiện có 50% vốn góp vào TRA Sapa và 15% vốn góp vào TRA CNC. Trong đó, TRA SAPA sẽ hỗ trợ TRA thu mua Atisô tại khu vực Sapa đúng thời hạn nhằm đảm bảo chất lượng của Atisô. Như vậy, TRA chủ động được nguồn nguyên liệu đối với sản phẩm Atisô (sản xuất ra Boganic – có doanh thu hơn 40 tỉ đồng/ năm). Sự chủ động này cộng với việc thu mua những nguyên liệu không 4
  5. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 khó mua trong nước (đinh lăng, biển súc, hà thủ ô) giúp TRA chủ động 60% dược liệu cần sử dụng. TRA CNC mua nguyên liệu từ TRA và tập trung sản xuất các thuốc đông dược theo dạng bào chế truyền thống như viên hoàn cứng, viên hoàn mềm (thuốc tể) và viên bao đường. Các sản phẩm này được bán cho TRA (doanh thu đông dược chiếm 70% doanh thu TRA CNC). Trong khi đó, TRA - ở đây là nhà máy Hoàng Liệt - tập trung sản xuất thuốc tân dược và thuốc đông dược (30% tổng doanh thu là đông dược) có dạng bào chế tiến bộ như viên nang mềm và viên bao phim. Như vậy, cách làm này định hướng chuyên môn hóa cho TRA vào một số sản phẩm nhất định nhằm tăng hiệu quả sản xuất. Hệ thống phân phối rộng tạo cơ hội gia tăng sản lượng bán trong tương lai TRA không trực thuộc Bộ Y Tế nên không có thuận lợi về mạng lưới phân phối vào thời điểm bắt đầu kinh doanh. Do vậy, TRA đã xây dựng hệ thống phân phối dựa trên việc mở rộng mạng lưới đại lý. Nếu so sánh với một doanh nghiệp khác trong cùng ngành sản xuất đông dược là OPC, chúng tôi nhận thấy hệ thống đại lý của TRA là một lợi thế và sẽ là kênh giúp gia tăng mạnh doanh số bán hàng của công ty khi có những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu. Bên cạnh đó, TRA còn tiếp cận không chỉ các bệnh viên đa khoa cấp tỉnh mà còn ở cấp huyện. Đây là hướng đi mang lại nhiều cơ hội cho TRA khi tỉ lệ thuốc đông dược sử dụng trong các tuyến địa phương sẽ tăng lên trong tương lai. Hệ thống phân phối của TRA và OPC TRA OPC Trụ sở chính 1 1 Số chi nhánh 2 6 Số đại lý 53 0 Nguồn: TRA, OPC Lãi gộp biên được cải thiện nhiều trong năm 2009 Trong một thời gian dài, các công ty đông dược nói chung và TRA nói riêng đã không tăng giá sản phẩm và tạo ra một thị trường đông dược với giá bán khá ổn định. Tuy nhiên, trong năm 2008, nhiều công ty đông dược và TRA đã tăng giá các mặt hàng của mình. Điển hình như TRA đã tăng giá các mặt hàng chủ lực sau. 5
  6. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 Sản phẩm Mức tăng giá Thời điểm tăng Doanh thu 2007 (tỉ đồng) Boganic 20% Tháng 11/2008 41 Trà Hà Thủ Ô 30% Tháng 7/2008 2.3 Viên Sáng Mắt 6% Tháng 7/2008 4.5 Sản phẩm đông dược khác (22 – 27 sản phẩm) 10% - 50% Giữa và cuối 2008 Chưa có số liệu Hoạt huyết dưỡng não Chưa tăng 110 Tân Dược (chung) 30% Đầu năm 2008 79 Đối với tân dược, việc tăng giá 30% giúp TRA bù đắp lại việc tăng giá dược liệu năm 2007 - đầu năm 2008. Và trong năm 2009, giá dược liệu có nhiều khả năng giảm nên lãi gộp biên của hàng tân dược sẽ tăng cao. Đối với hàng đông dược, biến động giá nguyên liệu khoảng 15%/năm. Với mức tăng giá trung bình khoảng 25 – 30% vào cuối tháng 7 (nhiều đại lý chỉ có thể bán đợt hàng giá mới vào cuối tháng 11/2008), chúng tôi kì vọng tỉ lệ lãi gộp biên của hàng đông dược sẽ tăng đáng kể trong năm 2009. Một điểm khá lạc quan là trong năm 2009, TRA dự tính tăng sản lượng đông dược sản xuất tại TRA Hoàng Liệt nhờ vào dàn máy viên nang mềm mới được trang bị trong năm 2008. Kế hoạch của doanh nghiệp là đảm bảo doanh thu đông dược tại Hoàng Liệt sẽ đạt 50% tổng doanh thu đông dược; và giảm bớt sản lượng của TRA CNC nhằm tăng lãi gộp biên của công ty TRA. Khả năng nghiên cứu sản phẩm mới và đưa sản phẩm vào thị trường Qua một số chỉ tiêu, chúng tôi nhận thấy TRA khá chú trọng đến đầu tư cho hoạt động nghiên cứu. Với việc đầu tư cho nghiên cứu như hiện nay, chúng tôi nhận thấy TRA có nhiều khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao của doanh thu nhóm hàng sản xuất. Chỉ tiêu TRA OPC T.Quốc Số nhân viên nghiên cứu trên tổng số nhân viên 3,8% 4,3% 7% Chi phí nghiên cứu/ năm (% doanh thu) 3% 0,8% 3% Số sản phẩm mới đưa vào sản xuất/ năm 10 5–6 n/a Doanh thu sản xuất đông dược (2007) - tỉ đồng 226 150 Nguồn: TRA, OPC, BVSC tổng hợp PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH Tốc độ tăng trưởng doanh thu của TRA từ năm 2006 – 2008 đạt trung bình 39%/năm. Năm 2008, tốc độ tăng trưởng của TRA chậm lại do mặt hàng thương mại (mà chủ yếu là hàng nhập uỷ thác) giảm mức tăng (chỉ tăng 31% năm 2008 trong khi năm 2007 tăng 101%); tuy nhiên, một điểm tích cực trong năm 2008 là hàng sản xuất tăng mạnh 31% trong khi năm 2007 chỉ tăng 24%. 6
  7. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 DTT - LNST 2006 - 2008 Lãi gộp biên - LNST biên 750,000 60,000 36% 26% 500,000 40,000 tr.đồng 20% 250,000 20,000 4.4% 7.2% 6.0% 0 0 2006 2007 2008(E) 2006 2007 9M.2008 Doanh thu thuần (tr. Đồng) Lãi gộp biên (%) Lợi nhuận sau thuế biên (%) Lợi nhuận sau thuế (tr. Đồng) Bên cạnh đó, nếu quan sát mức lãi gộp biên của TRA trong 3 năm gần đây thì có thể thấy rõ mức lãi gộp biên đang giảm khá mạnh. Nguyên nhân của sự sút giảm qua các năm như sau: • Biến động giá nguyên liệu (dược liệu và bao bì, tinh bột) • TRA mua thành phẩm/bán thành phẩm của TRA CNC thay vì mua nguyên liệu thô để sản xuất nên phần giá vốn tăng • Thay đổi cách ghi nhận giá vốn bằng cách chuyển một số chi phí liên quan đến hoạt động bán hàng lên giá vốn. Sự sụt giảm lãi gộp biên của nhóm hàng thương mại (từ 8% xuống còn 4% do bán nhiều nguyên liệu cho TRA CNC với giá gốc – không có lời). Lãi gộp biên 2006 - 2008 Cơ cấu doanh thu 6T.2008 54% 46% Tân Dược 38% 12% 35% 32% 23% Hàng TM 5% 8% 50% Đông dược 4% 38% 2006 2007 6T.2008 Tân Dược Đông dược Hàng TM Sự thay đổi về tỉ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu do thay đổi về cách ghi nhận các loại chi phí đã giúp tỷ lệ chi phí bán hàng/ doanh thu giảm đáng kể. Bên cạnh đó, chi phí quản lí không tăng và thậm chí giảm nhẹ do một phần lương trả cho cán bộ làm việc tại TRA CNC đã được giao lại cho TRA CNC. 7
  8. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 Chỉ tiêu 2006 2007 9M 2008 2008 E Doanh thu thuần (tr. Đồng) 360.241 533.221 573.151 700.000 Thay đổi (%) 38% 48% n.a. 31% Lãi gộp (tr. Đồng) 130.846 140.266 112.631 n.a. Lãi gộp biên (%) 36% 26% 20% n.a Lợi nhuận sau thuế (tr. Đồng) 15.967 38.248 34.415 48.000 Lợi nhuận sau thuế biên (%) 4,4% 7,2% 6,0% 6,9% ROE 15,8% 15,8% n.a. 18,7% ROA 7% 9% n.a. 12,9% Một số so sánh tài chính của TRA và các công ty dược cùng qui mô khi tách ảnh hưởng của nhóm hàng thương mại. Chỉ tiêu TRA OPC DCL M K P (* ) Doanh thu hàng sản xuất 304.640 165.957 293.168 545.487 (tr.đồng) Lãi gộp biên hàng sản xuất 39,8% 51,5% 28,0% 30,9% ROE 15,8% 15,2% 17,2% 19,9% Nguồn: BVSC, các công ty MKP (*): có bán nguyên liệu cho một số công ty dược với số lượng nhỏ Có thể thấy lãi gộp biên của TRA thấp hơn nhiều so với công ty cùng ngành là OPC. Theo chúng tôi đánh giá, do TRA đã mua/ bán thành phẩm từ TRA CNC và ghi nhận hàng hóa này vào nhóm hàng sản xuất nên mức lãi gộp cũng thấp hơn OPC. Thêm vào đó, cách TRA có thể có những cách ghi nhận giá vốn (do chuyển một số khoản mục từ chi phí bán hàng sang) khác với OPC nên cũng tạo ra sự khác biệt này. RỦI RO ĐẦU TƯ Việc gia công ngoài có thể làm giảm chất lượng sản phẩm thuốc Hiện tại, TRA đang gia công ngoài một số dược liệu trong đó nhiều nhất là Atiso. Việc gia công ngoài hỗ trợ TRA ở hai khía cạnh. Thứ nhất, TRA có thể có được sản phẩm tốt hơn do quá trình nấu cao diễn ra kịp thời sau khi thu hoạch dược liệu; thứ hai, TRA tốn ít chi phí vận chuyển về nhà máy Hoàng Liệt hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc gia công ngoài có thể phá vỡ việc tuân thủ qui trình sản xuất dược phẩm như TRA đã cam kết với Bộ Y Tế. Bằng chứng là TRA đã từng bị Bộ Y Tế thu hồi hai sản phẩm vì đã không tuân thủ qui định sản xuất. Đây là rủi ro lớn mà chúng tôi nhấn mạnh vì cao Atiso được gia công rất nhiều; trong khi cao Atiso lại là nguyên liệu để sản xuất sản phẩm chủ lực là Boganic và trà Atisô. 8
  9. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 Bị chiếm dụng vốn nhiều qua tín dụng thương mại Do tình hình nền kinh tế khó khăn, việc tiêu thụ sản phẩm của các đại lý cũng không thuận lợi; vì thế, số ngày thu tiền của TRA cũng dài ra nhiều (năm 2008, dự báo khoảng 66 ngày). Hiện tại, so với OPC, số ngày thu tiền của TRA đang dài gấp 2 lần. Việc chuyển lợi nhuận là một rủi ro cho nhà đầu tư Việc bán nguyên liệu cho TRA CNC giá thấp và thậm chí không có lời; trong khi mua lại hàng của TRA CNC với giá cao khiến tỷ suất lợi nhuận của TRA hiện tại đang thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp cùng ngành như OPC. Sự thiệt thòi có thể nhìn thấy rõ khi các cổ đông mới của TRA sẽ không có quyền lợi nhiều trong TRA CNC như các cổ đông cũ của TRA (cổ đông cũ đã được mua cổ phiếu TRA từ lâu). Tuy TRA đang có định hướng chuyển lại một phần hoạt động của TRA CNC về TRA (Hoàng Liệt) nhằm giảm bớt tình trạng này khi nhiều nhà đầu tư tỏ ra lo ngại, chúng tôi vẫn đề xuất nhà đầu tư nên theo dõi kĩ hoạt động trao đổi/ mua bán của TRA và TRA CNC để dự báo được những thiệt hại có thể xảy ra. Cạnh tranh cao khi các công ty dược Trung Quốc tiến vào Trung Quốc được biết đến như một cường quốc về đông dược; với mức thuế suất chỉ còn trung bình 2,5% so với mức thuế 5 – 10% trong quá khứ thì các mặt hàng thuốc từ Trung Quốc sẽ vào Việt Nam nhiều hơn. TRIỂN VỌNG TƯƠNG LAI Doanh thu hàng thương mại dự kiến năm 2009 sẽ được duy trì như năm 2008. Doanh thu hàng sản xuất (bao gồm cả đông dược và tân dược) theo kế hoạch của doanh nghiệp sẽ tăng 25%. Theo trao đổi, nhiều khả năng đây là tăng sản lượng. Tuy nhiên, với mức tăng trưởng của ngành đông dược 8 – 10%/năm, kết hợp với việc phân tích kết quả thực tế đạt được của công ty trong quá khứ, các kế hoạch tương lai cũng như xem xét những nhận định về vĩ mô của các tổ chức quốc tế, chúng tôi đã chiết khấu mức tăng trưởng của công ty xuống khoảng 20% trong năm 2009 và 2010. Công ty có chính sách không tăng giá trong năm 2009. Chúng tôi cũng xây dựng dòng tiền cho công ty dựa trên giả định công ty sẽ có thể duy trì tỉ lệ lãi gộp biên ổn định từ năm 2009 trở đi. 9
  10. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 Kết quả HĐ.KD 2008 (E) 2009 (F) 2010 (F) 2011 (F) 2012(F) Doanh thu thuần 700.000 800.000 925.000 1.050.000 1.162.500 Giá vốn 548.811 586.074 660.676 737.367 804.822 Lãi gộp 151.189 213.926 264.324 312.633 357.678 - Lãi vay 4.000 2.500 Chi phí bán hàng 61.055 80.000 100.000 120.000 138.000 Chi phí quản lí DN 34.215 56.601 65.445 74.288 82.248 Lãi hoạt động 51.920 74.825 98.879 118.344 137.430 LN trước thuế 55.302 75.125 99.179 118.644 137.730 Thuế TNDN 7.742 18.781 24.795 29.661 34.432 Lợi nhuận sau 47.559 56.344 74.384 88.983 103.297 thuế Thuế suất 14% 25% 25% 25% 25% ĐỊNH GIÁ Dựa trên các giả định tăng trưởng doanh thu như trên và mức tăng trưởng dài hạn 3%/năm từ năm 2014 trở đi. Chúng tôi tính toán giá trị nội tại của 1 cổ phiếu TRA là 49.107 đồng với chi phí sử dụng vốn bình quân 15%/năm. Tại mức giá này, P/E của TRA ở mức 8,3 lần vào cuối năm 2008 và 7,0 lần vào cuối năm 2009. Ngân lưu tự do của doanh nghiệp FCFF 200 8 (F) 200 9 (F) 201 0 (F) 2011 (F) 201 2 (F ) Lợi nhuận sau thuế 47.559 56.344 74.384 88.983 103.297 Lãi vay (1 – thuê suất) (*) 3.440 1.875 - - - Chi A&D 11.907 12.572 12.443 3.059 600 Thay đổi vốn lưu động 56.702 25.111 36.675 37.069 33.067 Chi đầu tư 3.000 3.000 3.000 3.000 3.000 FCFF 3.204 42.679 47.152 51.973 67.831 10
  11. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 Trang này được để trống 11
  12. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 KHUYẾN CÁO SỬ DỤNG Tất cả những thông tin nêu trong báo cáo này đã được xem xét cẩn trọng. Tuy nhiên, Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) không chịu bất kỳ một trách nhiệm nào đối với tính chính xác của những thông tin được đề cập đến trong báo cáo này. Các quan điểm, nhận định, đánh giá trong báo cáo này là quan điểm cá nhân của các chuyên viên phân tích mà không đại diện cho quan điểm của BVSC. Báo cáo chỉ nhằm mục tiêu cung cấp thông tin mà không hàm ý khuyên người đọc mua, bán hay nắm giữ chứng khoán. Người đọc chỉ nên sử dụng báo cáo phân tích này như một nguồn thông tin tham khảo. BVSC có thể có những hoạt động hợp tác kinh doanh với các đối tượng được đề cập đến trong báo cáo này. Người đọc cần lưu ý rằng BVSC có thể có những xung đột lợi ích đối với các nhà đầu tư khi thực hiện báo cáo phân tích này. 12
  13. BÁO CÁO PHÂN TÍCH TRAPHACO Tháng 12/2008 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT Trụ sở chính Chi nhánh Hồ Chí Minh Địa chỉ: Số 8 Lê Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội Địa chỉ: 11 & 72 Nguyễn Công Trứ, Quận I, TP Tel: 84-4-928 8080 Hồ Chí Minh Fax: 84-4-928 9899 Tel: 84-8-821 8564 Email: research@bvsc.com.vn Fax: 84-8-914 7477 BỘ PHẬN PHÂN TÍCH NGÀNH PHÓ TRƯỞNG PHÒNG PHÂN TÍCH Nguyễn Lương Tân tannguyen@bvsc.com.vn Vũ Thị Thanh Quyên quyenvtt@bvsc.com.vn Nguyễn Thị Quỳnh Dung dungntq@bvsc.com.vn CHUYÊN VIÊN PHÂN TÍCH Vũ Thị Mai maivt@bvsc.com.vn Nguyễn Quang Minh minhnq@bvsc.com.vn Nguyễn Hải Dương duongnh@bvsc.com.vn Lê Chí Thành thanhlc@bvsc.com.vn Trần Thăng Long longtt@bvsc.com.vn Nguyễn Tuấn Anh anhnt@bvsc.com.vn Lưu Phương Mai mailp@bvsc.com.vn Hoàng Hồ Phú phuhh@bvsc.com.vn Vũ Phương Nga ngavp@bvsc.com.vn Nguyễn Phi Hùng hungnp@bvsc.com.vn Nguyễn Lê Thúy thuynl@bvsc.com.vn 13

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản