Phong tục ngày cưới - Nghi thức lễ cưới 3 miền

Chia sẻ: meoheo6

Hôn Lễ là một lễ trọng có quy định chặt chẽ từ nhiều thế kỷ qua của dân tộc ta không có gì thay đổi trên nền cơ bản. Tuy nhiên ở mỗi vùng, phong tục có điều chỉnh chút ít. Hà Nội Nghi thức, nghi lễ cưới ở Hà Nội so với các vùng khác có quy định nghiêm ngặt hơn, nhưng trải qua một thời gian nghi thức đó cũng đã thay đổi theo tiến bộ của xã hội.

Nội dung Text: Phong tục ngày cưới - Nghi thức lễ cưới 3 miền

Nghi thức lễ cưới 3 miền

Hôn Lễ là một lễ trọng có quy định chặt chẽ từ nhiều thế kỷ qua của dân tộc ta

không có gì thay đổi trên nền cơ bản. Tuy nhiên ở mỗi vùng, phong tục có điều

chỉnh chút ít.



Hà Nội

Nghi thức, nghi lễ cưới ở Hà Nội so với các vùng khác có quy định nghiêm ngặt

hơn, nhưng trải qua một thời gian nghi thức đó cũng đã thay đổi theo tiến bộ của

xã hội. Tuy nhiên, dù có thay đổi gì cũng phải giữ 3 lễ:


Chạm ngõ là lễ tiếp xúc đầu tiên, chính thức của hai gia đình nhà trai và


nhà gái. Ngày nay, những gia đình ở Hà Nội vẫn giữ nguyên nếp xưa, lễ

chạm ngõ vẫn được xem là thủ tục cần thiết, để giữa hai gia đình, " chỗ

người lớn " thưa chuyện với nhau. Sau lễ chạm ngõ, người con gái được

xem như có nơi có chốn, bước đầu để tiến tới chuyện hôn nhân.



Sau lễ chạm ngõ là đến lễ ăn hỏi. Dù là tầng lớp nào thì cũng không thể


thiếu được cơi trầu. Một lễ ăn hỏi của người Hà Nội thì không thể thiếu

cốm và hồng. Nếu gia đình khá giả thì ngoài cốm - hồng và trầu cau còn có

thêm lợn sữa quay. Ðồ lễ ăn hỏi gắn liền với đặc sản của vùng đất Hà

Thành, gồm có: bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc
lá... Dù lễ vật nhiều, ít nhưng không thể thiếu bánh "su sê", ngày xưa gọi là

bánh "phu thê", một số địa phương gọi chệch ra là bánh "su sê" là biểu

tượng của đôi vợ chồng duyên phận vẹn toàn. Thông thường lễ ăn hỏi gồm

có 3 lễ: lễ đàng nội, lễ đàng ngoại và lễ tại gia. Lễ tại gia thường được chia

ra đưa kèm theo người được mời cưới.



Thời gian sau khi ăn hỏi đến lễ cưới thông thường là dưới 10 ngày. Lễ rước


dâu ngày xưa có rất nhiều thủ tục, đi đầu đám rước là những người giàu có

địa vị trong làng xã, khi đón dâu ra đến đầu làng còn có lễ chăng dây, đầu

làng hoặc đầu phố (lễ chăng dây đến đầu thế kỷ 20 vẫn còn), muốn đi qua

phải đưa một ít tiền. Ăn uống, tiệc tùng diễn ra trước ngày cưới 1 ngày (bây

giờ thường tổ chức ngày trong ngày cưới).


Sau khi Hà Nội đô thị hóa, dân cư tập trung chủ yếu ở trung tâm thành phố, là khu

vực 36 phố phường thì phong tục cưới xin cũng vì thế thay đổi do tiếp thu trình độ

văn hóa phương Tây. Ðám cưới bắt đầu xuất hiện thiệp báo hỷ, khi đưa thiệp mời

cưới phải đưa kèm theo chè và hạt sen (lấy từ lễ ăn hỏi). Ðến nay tục này vẫn còn

được giữ lại. Nếu là đám cưới của những gia đình khá giả, phải có quả phù tang

(dùng để đựng đồ lễ, dài từ 80cm đến 1m) do hai người khiêng, đựng trầu cau, lợn

sơn son (tục này vẫn được giữ trước năm 1945). Sâm banh được mỡ ra báo hiệu

một lễ cưới bắt đầu, rượu sâm banh với bánh sâm ba là hai thứ không thể thiếu
trong lễ cưới của những người phong lưu. Nhưng dù là người giàu hay nghèo

trong đám cưới cũng chỉ dùng tiệc ngọt (không dùng mặn).

NGUYỄN VINH PHÚC - (nhà Hà Nội học)




Huế

Quy trình tổ chức lễ cưới ở Huế cũng có đủ các bước thủ tục như các địa phương

khác, từ lễ chạm ngõ, hỏi cưới, đến tân hôn vu quy... Nhìn tổng thể, các đám cưới

Huế thường diễn ra tiết kiệm, giản đơn, không phô trương, nhưng ở mỗi phần cụ

thể khá cầu kỳ, với quan niệm "trọng lễ nghi khi (khinh) tài vật".


Chuẩn bị lễ hỏi, lễ cưới, người Huế thường xem ngày giờ tốt xấu, có khi lên


chùa thỉnh ý các cao tăng. Sau khi chọn ngày giờ, hai bên thông gia sẽ báo

cho nhau bằng một cuộc thăm đơn giản. Việc này cũng đôi khi do đôi bạn

trẻ thực hiện, nhưng phải là hai nhà có thân tình từ trước.



Ðối với đám hỏi, người Huế chỉ xem là buổi gặp mặt giữa hai gia đình và


tông tộc thân thích để giới thiệu đôi bạn trẻ, không tổ chức rầm rộ. Ðám

cưới Huế có các lễ: xin giờ, nghinh hôn, bái tơ hồng, rước dâu diễn ra ở nhà

gái, và đón dâu, trình báo gia tiên ở nhà trai. Người Huế không có tục thách

cưới, lễ vật trong lễ cưới tối thiểu chỉ gồm có mâm trầu cau, rượu trà, nến

tơ hồng, bánh phu thê. Nếu khá giả, nhà trai có thể thêm bánh kem, bánh
dẻo; không có "lợn quay đi lộng" như nhiều nơi. Ngoài ra, đám cưới ở Huế

luôn có phù dâu, phù rể và hai đứa trẻ rước đèn đi trước. Hai đứa trẻ thường

là 1 trai 1 gái, tuổi tương đương cầm lồng đèn hay cầm hoa.



Trong đêm tân hôn, đôi bạn trẻ phải làm lễ giao bôi hợp cẩn. Người Huế có


tập tục để trong phòng hoa chúc một khay lễ với 12 miếng trầu, đĩa muối,

gừng và rượu giao bôi. Ðôi bạn trẻ phài nhai hết 12 miếng trầu ấy, tượng

trưng cho 12 tháng hòa hợp trong một năm, 12 năm hòa hợp tuần hoàn

trong một giáp âm lịch. Việc ăn muối ăn gừng mang màu sắc dân gian, biểu

tượng nghĩa tình nồng thắm. Còn rượu giao bôi thì theo đúng với lễ giáo

phong kiến của Trung Hoa cũ.



Khi đưa dâu, thông thường bố mẹ cô gái sẽ không theo xe, mà hôm sau mới


sang nhà trai, với ý nghĩa xem cô con gái ngày đầu về làm dâu có làm điều

gì phật lòng nhà chồng. Buổi gặp này, hai bên thông gia đối đáp những câu

khách sáo, nhắn gửi con cái cho nhau, và căn dặn con mình phải thuận thảo

với gia đình bên vợ hoặc bên chồng. Hiện nay, lễ này đã được nhiều gia

đình Huế giảm bớt, bằng cách khi rước dâu, bố cô gái theo về nhà trai bằng

một chiếc xe khác xe hoa, và tại tiệc đãi sẽ trao đổi với nhà trai. Ba ngày

sau lễ cưới, cô dâu mới được trả lại nhà bố mẹ để thu dọn tư trang về nhà

chồng, bắt đầu cuộc sống làm dâu.
Tính cầu kỳ của người Huế tại lễ cưới chủ yếu trong cách hành xử. Không hề có

chuyện ầm ĩ ồn ào thái quá trong các lễ và tiệc cưới. Trao đổi ngôn từ giữa hai bên

thông gia, giữa bà con thân thuộc đều rất thận trọng. Việc thưa gửi, trình bày của

chủ hôn, bố mẹ hai bên đều rất khuôn sáo và không bỏ sót ai.



Ðặc biệt, quan hệ tuổi mạng rất được coi trọng ở đám cưới Huế. Vị chủ hôn

thường là vị cao niên trong dòng tộc hai bên, thân thuộc với gia đình, vợ con đầy

đủ, không tật bệnh, tuổi không khắc kỵ đôi tân hôn. Các phù dâu phù rể là người

chưa có chồng vợ, tính tình vui vẻ nhanh nhẹn. Một số nhân vật khác cũng được

lực chọn tùy phần nghi lễ phù hợp. Ðơn cử trước ngày cưới đôi tân hôn có thể đưa

nhau đi may áo cưới (nếu gia đình khá giả), thì ngày giờ đi may phải tốt, chủ tiệm

may là người còn cả vợ chồng, nhiều con cái, gia đình hòa thuận. Việc bài trí

phòng tân hôn phải do một người phụ nữ lớn tuổi, phúc hậu sửa soạn. Lễ vật rước

dâu, nhà trai nhờ một người cao tuổi, đủ vợ chồng con cái, gia đình hòa thuận

kiểm tra. Người này cũng sẽ têm trầu cau, bày cặp nến hồng trên bàn thờ gia tiên

nhà gái. Sau khi lễ xong, cặp nến hồng cũng phải được người này thổi tắt. Số

người nhà trai đi rước dâu luôn ở số chẵn. Trước khi đi và khi đón dâu về, nhà trai

thường cử vài người đàn ông trẻ tuổi hoạt bát, đã có vợ con ra đứng đón sẵn để

"lấy hên" cho đôi tân hôn.

Tiến sĩ TÔN THẤT BÌNH
Nam Bộ

Hôn lễ chính cử hành tại gia đình. Vì là lễ điều kiện tiên quyết là trang nghiêm,

sạch sẽ. Vị trí buổi lễ là khu vực thờ tổ tiên, trong nhà, trang trí tùy theo gia đình,

phải có đủ "hương đăng hoa quả".


Họ hàng đàng trai đến, có người làm mai đi đầu. Phẩm vật đưa đến, ngoài


trái cây, bánh kẹo, phải có trầu cau, truyền thống này nay vẫn giữ, nghe đâu

có từ thời Hùng Vương dựng nước. Ðó là nét văn hóa, linh thiêng của dân

tộc Việt. Phải có cặp đèn (nến) thật to, trùng với kích thước của đôi chân

đèn trên bàn thờ. Ðại diện nhà trai đến, kính cẩn mời đàng gái uống trà,

rượu, và mời ăn trầu. hai bên bàn bạc với nhau vài chi tiết, tặng nữ trang,

tiền mặt, không mất thì giờ vì đã thỏa thuận với nhau từ trước rồi. Xong

xuôi, người trưởng tộc của đàng gái tuyên bố: "Xin làm lễ lên đèn". Hiểu

đó là kiểu "ký tên, đóng dấu" chính thức.



Lên đèn là nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất, bắt buộc phải có. Hai


ngọn nến to, do đàng trai đem đến được đặt trên bàn thờ ông bà. Người

trưởng tộc bèn khui một chai rượu, trong số hai chai do đàng trai đem đến.

Rồi thì ông đứng trước bàn thờ ngay chính giữa, cô dâu và chú rể đứng hai

bên, im lặng. Hai ngọn đèn được đốt lên, từ ngọn lửa của cái đèn trứng vịt

nhỏ của bàn thờ (hiểu là lửa hương hỏa). hai ngọn đèn cháy từ từ, đặt sát

nhau vì người làm lễ đang áp vào hai tay, như khấn vái. Khi lửa cháy đều
ngọn, ông này từ từ giang cánh tay ra trao cho hai người trợ lý mỗi bên một

ngọn để cắm vào chân đèn. Ngọn đèn phải cháy thong dong, đều đặn, nếu

bên cao bên thấp thì sẽ có dư luận chàng rể sợ vợ, cô dâu sẽ lấn hiếp chồng.

Ðề phòng nến tắt, nhiều người đóng cửa sổ thật kỷ, sợ gió tạt hoặc tạm thời

tắt quạt máy. Ngày nay, đèn chế biến bằng hóa chất, không làm bằng sáp

ong như xưa nên dể tắt bất ngờ. Trong lúc lên đèn, có sự tôn nghiêm kỳ lạ.

Lửa là sự sống, là niềm lạc quan. Lửa nối quá khứ, nối tổ tiên đến hiện tại.

Lửa nối mặt đất lên trời. Lửa dịp lễ hội ở đình làng, với đèn. Lửa ở ngay cà

những Thế vận hội. Lễ lên đèn theo tôi là lễ quan trọng, bắt buộc phải có ở

mọi hôn lễ từ xưa đến nay. Lên đèn là đủ rồi.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản