Phương pháp điều tra trong NCKH giáo dục

Chia sẻ: Phạm Phúc Tuy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

0
679
lượt xem
209
download

Phương pháp điều tra trong NCKH giáo dục

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phương pháp phỏng vấn: là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi miệng để người được phỏng vấn trả lời bằng miệng nhằm thu được những thông tin nói lên nhận thức hoặc thái độ của cá nhân họ đối với một sự kiện hoặc vấn đề được hỏi.Đây là hình thức điều tra cá nhân – cá nhân, thường được sử dụng trong giai đoạn đầu khi mới làm quen với khách thể. Khi đó người điều tra phỏng vấn một vài cá nhân chủ yếu để thăm dò, phát hiện vấn đề, chuẩn bị cho hệ thống câu hỏi trong phiếu điều tra....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phương pháp điều tra trong NCKH giáo dục

  1. 1 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA TRONG NCKH GIÁO DỤC Phạm Phúc Tuy Khoa Sư phạm - Trường ĐH Thủ Dầu Một 1. Một số điểm cơ bản về phương pháp điều tra: Điều tra trong nghiên cứu khoa học là dùng một hệ thống câu hỏi theo những nội dung xác định nhằm thu thập những thông tin khách quan nói lên nhận thức và thái độ của người được điều tra ( có thể là cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh…. ) Phương pháp này có 2 hình thức cơ bản: + Phương pháp phỏng vấn: là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi miệng để người được phỏng vấn trả lời bằng miệng nhằm thu được những thông tin nói lên nhận thức hoặc thái độ của cá nhân họ đối với một sự kiện hoặc vấn đề được hỏi.Đây là hình thức điều tra cá nhân – cá nhân, thường được sử dụng trong giai đoạn đầu khi mới làm quen với khách thể. Khi đó người điều tra phỏng vấn một vài cá nhân chủ yếu để thăm dò, phát hiện vấn đề, chuẩn bị cho hệ thống câu hỏi trong phiếu điều tra. Phương pháp này có thuận lợi là dễ tiến hành,mất ít thời gian và trực tiếp cho ngay thông tin cần biết.Tuy nhiên phương pháp này chỉ có thể tiến hành được với một số ít cá nhân cho nên thông tin thu được không mang tính khái quát. Nếu phỏng vấn nhiều người thì mất rất nhiều thời gian, mặt khác các thông tin thu được cũng khó thống kê, xử lý. + Phương pháp điều tra bằng an-két:Là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn trên giấy theo những nội dung xác định, người được hỏi sẽ trả lời bằng cách viết trong một thời gian nhất định.Phương pháp này cho phép điều tra, thăm dò ý kiến đồng loạt nhiều người, có khi cả hàng người nên thường được sử dụng trong các cuộc điều tra xã hội học, trong nghiên cứu khoa học giáo dục…. Cần lưu ý là cả phương pháp phỏng vấn và điều tra bằng an-két đều chỉ cho những thông tin về nhận thức, thái độ của đối tượng chứ chưa cho biết hành động của họ. Vì thế chúng phải được phối hợp với những phương pháp nghiên cứu khác như quan sát, nghiên cứu sản phẩm hoạt động…để có được thông tin đầy đủ về đối tượng. Ngòai hai hình thức cơ bản trên, hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, phương pháp điều tra còn có thể tiến hành trên mạng internet. Điểm mạnh của hình thức này là có thể thu được một số lượng rất lớn ý kiến trả lời. Tuy nhiên, người nghiên cứu không thể chủ động nắm chắc đối tượng trả lời phỏng vấn có đúng yêu cầu của đề tài hay không cũng như tính xác thực của những ý kiến trả lời (có thể có phần “ảo” trong số những ý kiến thu được ). Trong khuôn khổ của bài này, tôi chỉ trình bày chi tiết về phương điều tra bằng an-ket. 2. Hình thức câu hỏi trong điều tra bằng an-két: Điều tra bằng an-két là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong điều tra xã hội học và nghiên cứu khoa học giáo dục. An-két ( có nhiều cách gọi khác nhau:phiếu hỏi, phiếu phỏng vấn, phiếu trưng cầu ý kiến, phiếu điều tra ) là công cụ chủ yếu của phương pháp này. Hiệu quả của phương pháp phụ thuộc rất lớn vào việc
  2. 2 thiết kế một bản an-két chuẩn có khả năng đem lại cho người nghiên cứu những thông tin đầy đủ,chính xác về đối tượng nghiên cứu.Mặt khác, một an-két được thiết kế chuẩn sẽ giúp cho việc tổng hợp, thống kê, xử lý các thông tin thu thập được dễ dàng, thuận lợi. Có 3 lọai an-két : an-két đóng, an-két mở và an-két kết hợp 2 hình thức đóng và mở. 2.1 An-ket đóng là hình thức người điều tra đưa ra câu hỏi cùng với nó là các phương án trả lời , theo đó người trả lời chọn một hoặc nhiều phương án trả lời phù hợp với ý kiến của mình ( việc được chọn một hay nhiều phương án trả lời tùy vào nội dung, yêu cầu của từng câu hỏi cụ thể ) Trong an-két đóng có thể sử dụng những loại câu hỏi sau đây: a/ Lọai câu hỏi được lập theo thang định danh :Trong những câu hỏi này người trả lời chỉ được chọn 1 hoặc được chọn nhiều phương án trả lời phù hợp với ý kiến của mình. Ví dụ 1:Theo anh ( chị ) việc thực hiện chương trình môn học HĐGDNGLL cần phải ( đánh dấu X vào ô tương ứng phương án được chọn ): □ Nhất thiết theo đúng qui định của Bộ GD-ĐT □ Nên vận dụng cho phù hợp hòan cảnh của địa phương,của trường Ví dụ 2: Những khó khăn chủ yếu khi triển khai thực hiện chương trình môn học HĐGDNGLL ở trường của anh ( chị ) là : □ Không có thời gian để xếp TKB □ CSVC hạn chế □ Kinh phí hạn hẹp □ Năng lực tổ chức họat động của GVCN còn hạn chế □ HS không hứng thú họat động ( Trong câu hỏi ở ví dụ 2 người trả lời có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương án phù hợp với ý kiến của mình ) b/ Lọai câu hỏi được lập theo thang thứ tự: Ví dụ 1: Theo anh ( chị ) việc tổ chức lớp tập huấn này là: □ Rất có lợi □ Tương đối có lợi □ Hơi có lợi □ Không có lợi □ Hòan tòan không có lợi Nếu trong câu hỏi có nhiều ý đều yêu cầu đánh giá theo cùng một thang thứ tự nào đó, chúng ta có thể thiết kế câu hỏi như trong ví dụ 2 dưới đây.
  3. 3 Ví dụ 2: Để tiến hành thực hiện tốt chương trình môn học HĐGDNGLL,theo anh ( chị ) các yếu tố sau đây có tầm quan trọng như thế nào?( Bằng cách đánh dấu X vào cột mức độ quan trọng tương ứng với từng yếu tố ) MỨC ĐỘ QUAN TRỌNG YẾU TỐ Rất Khá Quan Ít Không quan quan trọng quan quan trọng trọng trọng trọng 1. Sự chỉ đạo quyết tâm của hiệu trưởng 2. Phối hợp chặt chẽ với họat động Đội 3. CSVC đầy đủ 4. GVCN nhiệt tình, trách nhiệm cao 5. Bồi dưỡng tự quản cho HS 6. Chọn ND, hình thức HĐ phù hợp Ví dụ 3:Trong các lọai họat động sau đây, em hãy xếp thứ bậc từ thích nhất đến không thích ( 1: thích nhất … 6:không thích nhất ) bằng cách ghi chữ số chỉ thứ bậc vaò ô tương ứng với từng họat động. □ Nghi thức Đội □ Sinh họat chủ đề □ Làm kế họach nhỏ □ Cắm trại □ Phụ trách sao nhi đồng □ Công tác Trần Quốc Tỏan c/ Lọai câu hỏi được lập theo thang khỏang cách: Ví dụ: Theo anh ( chị ), tầm quan trọng của các yếu tố sau đây như thế não đối với nhà quản lý giáo dục ? ( 1=không quan trọng, 7= rất quan trọng ). Đối với mỗi yếu tố, anh ( chị ) khoanh tròn chữ số biểu thị mức độ tầm quan trọng của yếu tố đó theo ý kiến của mình. 1. Am hiểu lĩnh vực mình đang quản lý 1 2 3 4 5 6 7 2. Có trình độ học vấn cao 1 2 3 4 5 6 7 3. Có năng lực quản lý, điều hành 1 2 3 4 5 6 7 4. Đạo đức gương mẫu 1 2 3 4 5 6 7 5. Được mọi người tôn trọng 1 2 3 4 5 6 7 6. Có sức khỏe tốt 1 2 3 4 5 6 7 d/ Lọai câu hỏi được lập theo thang Likert:Loại câu hỏi này yêu cầu người trả lời phải xác định rõ thái độ đồng ý hoặc không đồng ý về vấn đề được hỏi ở những mức độ khác nhau ( thường có 5 mức độ: hoàn toàn đồng ý, đồng ý, phân vân, không đồng ý, hoàn toàn không đồng ý ) Ví dụ :Nếu được tự do chọn nới công tác,anh ( chị ) chỉ chọn ở thành phố?
  4. 4 □ Hòan tòan đồng ý □ Đồng ý □ Phân vân □ Không đồng ý □ Hòan tòan không đồng ý e/ Lọai câu hỏi theo kiểu vi phân ngữ nghĩa :Đây là loại câu hỏi trong đó có thể có nhiều ý, mỗi ý nêu 2 cực trả lời đối nhau, yêu cầu người trả lời chọn 1 trong 2 cực đó. Ví dụ: Theo anh ( chị ), nội dung đợt tập huấn này là : □ Dễ - Khó □ □ Phù hợp - Không phù hợp □ □ Hay - Không hay □ □ Có ích - Không có ích □ f/ Lọai câu hỏi giải quyết một tình huống giả định: Ví dụ: Để lập kế họach năm học, có bạn đã thực hiện các công việc sau đây: (1). Dự thảo kế họach (2).Xin ý kiến tư vấn của Hội đồng nhà trường (3).Thu thập thông tin thực tế (4).Triển khai quán triệt kế họach (5). Nghiên cứu văn bản chỉ đạo của cấp trên Theo anh ( chị ), các công việc đó phải được thực hiên theo trình tự nào ? Trảlời: : …………………………………………………………………………………………… ………………………………. 2.1 An-ket mở: a/ Là lọai câu hỏi trong đó chỉ nêu câu hỏi,không có các phương án trả lời có sẵn như trong an-két đóng, người được hỏi phải tự trả lời bằng ngôn ngữ của mình. Ví dụ: Những khó khăn chủ yếu khi triển khai thực hiện chương trình môn học HĐGDNGLL ở trường của anh ( chị ) là gì? Trảlời: …………………………………………………………………………………………… ………………………………………. …………………………………………………………………………………………… ……………………………………….. …………………………………………………………………………………………… ……………………………………… b/ Lọai câu hỏi giải quyết tình huống:
  5. 5 Ví dụ: Anh ( chị ) sẽ thực hiện những công việc gì để lập một kế họach năm học của trường mình quản lý? Trảlời: …………………………………………………………………………………………… …………………………………. …………………………………………………………………………………………… ……………………………………….. …………………………………………………………………………………………… …………………………………………. c/ Câu hỏi biểu hiện qua hình tượng ngôn ngữ ( thường được sử dụng trong nghiên cứu về tâm lý ): Ví dụ 1: Em hãy vẽ một bức tranh về gia đình hạnh phúc và 1 bức tranh về gia đình không hạnh phúc. Ví dụ 2: Em hãy xem bức tranh và cho biết cảm nghĩ của mình về bức tranh đó. Ví dụ 3: Hãy viết một đọan văn ngắn về gia đình hạnh phúc. 2.3 An-ket đóng & mở: Ví dụ: Những khó khăn chủ yếu khi triển khai thực hiện chương trình môn học Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường của anh ( chị ) là : □ Không có thời gian để xếp thời khóa biểu □ Cơ sở vật chất hạn chế □ Kinh phí hạn hẹp □ Năng lực tổ chức họat động của GV chủ nhiệm còn hạn chế □ HS không hứng thú họat động Những khó khăn khác: …………………………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………………………… ……………………………….. Chú ý: Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng loại an-két đóng và an-két mở + An-két đóng: Dễ thống kê,tổng hợp kết quả điều tra do người trả lời chỉ lựa chọn trong số các phương án trả lời đã được thiết kế sẵn.Tuy nhiên, thông tin thu được về một vấn đề có thể không đầy đủ nếu người nghiên cứu không đưa ra được tất cả những phương án trả lời có thể có được về vấn đề đó ( bỏ sót phương án trả lời ) + An-két mở: Trong lọai này người trả lời hòan tòan không bị ràng buộc bởi những phương án trả lời được thiết kế trước.Nhưng cũng chính vì thế việc tổng hợp
  6. 6 các ý kiến trả lời sẽ gặp nhiều khó khăn,các ý kiến trả lời có thể tản mạn, không phản ánh bản chất vấn đề do sự khác nhau trong nhận thức của những người trả lời khác nhau.Từ đó người nghiên cứu gặp khó khăn trong việc rút ra những kết luận cần thiết. Để khắc phục những khó khăn trên, trong nhiều trường hợp người nghiên cứu sử dụng lọai câu hỏi hỗn hợp an-két đóng và an-két mở.Trong lọai câu hỏi này người trả lời có thể bổ sung những phương án trả lời mà người nghiên cứu chưa đưa ra.Tuy nhiên, điều quan trọng vẫn là người nghiên cứu phải xem xét kỹ lưỡng để đưa ra đầy đủ những phương án trả lời có thể có được đối từng với câu hỏi. 3. Kỹ thuật thiết kế phiếu phỏng vấn ( an-két ): 3.1 An-két chưa chuẩn hoá & An-két chuẩn hoá: + An-két chưa chuẩn hóa: Là an-két dùng nhiều câu hỏi tự do, không chặt chẽ về mặt thời gian, về nội dung trả lời, về trình tự câu hỏi, trình tự các ý trả lời trong từng câu hỏi.Lọai này được dùng thí điểm trong giai đọan đầu với số lượng đối tượng điều tra hạn chế nhằm mục đích thăm dò, chuẩn bị cho việc thiết kế an-két chuẩn hóa + An-két chuẩn hóa: Được sử dụng trong khi tiến hành điều tra chính thức,trong đó phải hình thành một hệ thống câu hỏi đầy đủ và chính xác về nội dung cần điều tra với trình tự chặt chẽ, logic; thời gian tiến hành được quy định rõ ràng,hợp lý đảm bảo những quy tắc cơ bản của một bản an-két. 3.2 Các quy tắc lập câu hỏi an-két: + Phải xác định trình tự logic về nội dung của hệ thống câu hỏi ( xác định những nội dung cần tìm hiểu, số câu hỏi, trình tự logic của các câu hỏi ) + Từng câu hỏi phải được sọan một cách ngắn gọn, rõ ý, mỗi câu chỉ nên hỏi về một ý. + Trong câu hỏi nên dùng tiếng phổ thông,không được dùng tiếng địa phương, tiếng lóng hoặc tiếng nước ngòai gây khó hiểu cho người trả lời. + Khi đặt câu hỏi phải đưa ra đầy đủ các phương án trả lời có thể có được đối với câu hỏi đó.Muốn vậy người nghiên cứu phải nắm vững lý thuyết của vấn đề và phải có bước tiến hành điều tra thử để căn cứ vào đó mà hiệu chỉnh phiếu điều tra cho phù hợp. + Không dùng lọai câu hỏi có tính chất dồn ép hoặc lục vấn người trả lời. + Phải hướng dẫn cách thức trả lời câu hỏi một cách ngắn gọn, dễ hiểu. 3.3 Các giai đọan tiến hành điều tra bằng an-két: + Làm quen với khách thể + Xác định rõ nội dung, trình tự của hệ thống câu hỏi cần điều tra. + Sọan thử hệ thống câu hỏi đầu tiên, lựa chọn hình thức câu hỏi phù hợp từng câu hỏi. + Tiến hành điều tra thử bằng hệ thống câu hỏi đầu tiên ở một số khách thể. + Điều chỉnh hệ thống câu hỏi sau khi điều tra thử ( có thể nhờ các chuyên gia góp ý kiến, bổ sung cho hòan chỉnh ) + Xây dựng phiếu điều tra với hệ thống câu hỏi chính thức ( xem phụ lục ) + Tiến hành điều tra chính thức. 4. Một số vấn đề khác cần lưu ý trong phương pháp điều tra: 4.1 Những yêu cầu đối với người tiến hành điều tra:
  7. 7 + Có hiểu biết sâu sắc về vấn đề nghiên cứu ( phải nắm vững lý luận về vấn đề được nghiên cứu ) + Có hiểu biết về khách thể nghiên cứu + Có kỹ thuật sọan thảo an-két + Có kỹ năng xác định thang bậc của thông số cần đo,thiết kế bảng thống kê, tính tóan xử lý số liệu. + Có kỹ năng tiến hành điều tra đảm bảo tính khách quan, tính tự nhiên. 4.2 Nguyên nhân của những lỗi trong điều tra bằng an-két: 4.2.1 Lỗi do người nghiên cứu: + Chủ yếu do việc sọan câu hỏi: số câu quá ít,quá khó, câu hỏi chưa chuẩn ( không rõ ràng, một câu có nhiều ý hoặc trả lời thế nào cũng được ),xác định mức độ các thông số đo chưa chuẩn. + Do tiến hành điều tra không tuân thủ quy định, thể thức ( không đảm bảo tính khách quan, mớm ý, cố gắng hướng suy nghĩ của người được điều tra theo ý mình,người được hỏi phải trả lời trong điều kiện thúc ép về thời gian… ) 4.2.2 Lỗi do người được điều tra: + Tâm thế bị điều tra, quá lo lắng + Trình độ thấp hoặc không hiểu được hoặc hiểu không chính xác về vấn đề cần trả lời. + Thời điểm điều tra không thuận lợi + Ý thức: không ủng hộ người điều tra nên chỉ trả lời qua loa cho xong việc. 4.2.3 Một số lưu ý khác: a/ Để tăng hiệu quả của việc điều tra về một vấn đề nghiên cứu, cần xem xét và so sánh ý kiến của những đối tượng khác nhau về vấn đề đó. Ví dụ: Để đánh giá khả năng tự quản của HS, có thể thiết kế 3 phiếu hỏi: - Phiếu 1 dành cho HS để tìm hiểu HS tự đánh giá như thế nào về khẳ năng tự quản của mình - Phiếu 2 dành cho các CBQL nhà trường,tổng phụ trách: CBQL nhà trường vàTổng phụ trách đánh giá khả năng tự quản của HS - Phiếu 3 dành cho các GVCN: GVCN đánh giá khả năng tự quản của HS Điều cần lưu ý là ý kiến của 3 lọai đối tượng điều tra trên đều phải dựa trên cùng một thang đo. b/ Phương pháp điều tra chỉ phát huy tác dụng khi được phối hợp tốt với các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu sản phẩm họat động.... 5. Phương pháp trình bày bảng thống kê và xử lý số liệu : Trong nghiên cứu khoa học, sau khi đã thu thập được những số liệu điều tra thì vấn đề rất quan trọng là phải trình bày, xử lý những số liệu đó như thế nào để khai thác có hiệu quả những số liệu thực tế đó, rút ra được những nhận xét kết luận khoa học, khách quan đối với những vấn đề cần nghiên cứu , khảo sát.Hiện nay có những phần mềm xử lý số liệu thống kê như SPSS.Phần mềm này giúp nhà nghiên cứu xử lý nhanh, chính xác các số liệu thu được từ các cuộc điều tra xã hội học. Tuy nhiên đối với những người chưa có điều kiện tiếp cận phần mềm này, hơn nữa trong phạm vi một đề tài nhỏ, số liệu điều tra không nhiều thì chúng ta có thể áp dụng những phương pháp tương đối đơn giản.Trong phạm vi bài này tôi chỉ xin giới thiệu một vài
  8. 8 cách lập bảng thống kê, xử lý đơn giản để các đồng nghiệp có thể tham khảo. Những cách thức phức tạp khác ( biểu đồ, phép thử trong thực nghiệm…) tôi không trình bày ở đây. 5.1 Phương pháp tính tỉ lệ % : Đây là phương pháp đơn giản nhất,thường áp dụng cho những câu hỏi được sọan theo thang định danh Ví dụ : Với câu hỏi : Những khó khăn chủ yếu khi triển khai thực hiện chương trình môn học HĐGDNGLL ở trường của anh ( chị ) là : □ Không có thời gian để xếp TKB □ CSVC hạn chế □ Kinh phí hạn hẹp □ Năng lực tổ chức họat động của GVCN còn hạn chế □ HS không hứng thú họat động Chúng ta có thể lập bảng thống kê các số liệu thu được và tính tỷ lệ % của mỗi khó khăn được chọn trong tổng số những người trả lời câu hỏi trên: Bảng 1: NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HĐGDNGLL TS người trả lời: 200 KHÓ KHĂN TS ý kiến Tỉ lệ % 1. Không có thời gian để xếp TKB 126 63% 2. CSVC hạn chế 140 70% 3. Kinh phí hạn hẹp 144 72% 4. Năng lực tổ chức họat động của GVCN còn hạn chế 48 24% 5. HS không hứng thú họat động 72 36% Từ đó chúng ta có thể xếp thứ tự các khó khăn được chọn theo tỷ lệ % giảm dần và lý giải vấn đề theo kết quả đã thu thập được. 5.2 Phương pháp tính điểm trung bình, xếp thứ bậc: Phương pháp này áp dụng có hiệu quả để xử lý những thông tin thu được từ những câu hỏi được sọan thảo theo thang thứ tự, thang khỏang cách hoặc thang Likert. Việc cho điểm và tính điểm trung bình ( giá trị trung bình ) của từng yếu tố được xem xét giúp người nghiên cứu xác định mức độ giá trị, xếp hạng các yếu tố và từ đó có thể rút ra những kết luận, nhận xét khách quan, khoa học. Ví dụ 1: Với câu hỏi: Để tiến hành thực hiện tốt chương trình môn học HĐGDNGLL,theo anh ( chị ) các yếu tố sau đây có tầm quan trọng như thế nào?(Đánh dấu X vào cột mức độ quan trọng tương ứng với từng yếu tố )
  9. 9 MỨC ĐỘ QUAN TRỌNG YẾU TỐ Rất Khá Quan Ít Không quan quan trọng quan quan trọng trọng trọng trọng 1. Sự chỉ đạo quyết tâm của hiệu trưởng 2. Phối hợp chặt chẽ với họat động Đội 3. CSVC đầy đủ 4. GVCN nhiệt tình, trách nhiệm cao 5. Bồi dưỡng tự quản cho HS 6. Chọn ND, hình thức HĐ phù hợp Chúng ta thiết lập bảng thống kê số liệu thu nhận được như dưới đây: Bảng 1 : NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HĐGDNGLL TS người trả lời: 20 YẾU TỐ Số ý kiến chọn theo từng mức độ Điểm Thứ Rấ t Khá Quan Ít quan Không TB b ậc quan quan trọng trọng quan trọng trọng trọng 1.Sự chỉ đạo… 12 6 2 3,5 1 2.Phối hợp chặt chẽ… 6 9 4 1 3 5 3.CSVC đầy đủ… 8 9 3 3,1 4 4.GVCN nhiệt tình… 11 8 1 3,5 1 5.Bồi dưỡng tự quản… 9 9 3,15 3 6.Chọn ND,HT…. 7 5 3 3 2 2,6 6 Trong đó điểm trung bình của mỗi yếu tố được tính bằng cách: * Cho điểm 4 , 3 , 2 , 1 , 0 tương ứng với mỗi ý kiến chọn rất quan trọng, khá quan trọng, quan trọng, ít quan trọng hoặc không quan trọng *Công thức tính điểm trung bình của từng yếu tố: 4 A + 3B + 2C + D Điểm trung bình(của yếu tố ) = N Trong đó: A , B , C , D lần lượt là số ý kiến chọn rất quan trọng, khá quan trọng, quan trọng, ít quan trọng , không quan trọng. N là tổng số người được hỏi. Ví dụ: ĐTB ( yếu tố 1 ) = ( 12x4 + 6x3 + 2x2 ) / 20 = 3,5 * Đánh giá mức độ quan trọng của từng yếu tố căn cứ vào giá trị điểm trung bình của yếu tố đó: - Từ 3,2 đến 4 : Rất quan trọng - Từ 2,4 đến cận 3,2 : Khá quan trọng - Từ 1,6 đến cận 2,4 : Quan trọng - Từ 0,8 đến cận 1,6 : Ít quan trọng - Từ 0 đến cận 0,8 : Không quan trọng
  10. 10 * Dựa vào điểm trung bình của các yếu tố để xếp thứ bậc về mức độ quan trọng của các yếu tố đó. Rút ra những nhận xét cần thiết. Trong lọai câu hỏi được sọan theo thang Likert có thể cho điểm mỗi yếu tố cần xem xét theo thang khẳng định hoặc thang phủ định: Thang Thang phủ khẳng định định Hòan tòan đồng ý 5đ 1đ Đồng ý 4đ 2đ Phân vân 3đ 3đ Không đồng ý 2đ 4đ Hòan tòan không đồng ý 1đ 5đ Trong thang khẳng định, giá trị trung bình của một yếu tố nào càng cao thì mức độ chấp nhận của nó càng cao. Ngược lại trong thang phủ định, giá trị trung bình của yếu tố nào càng cao thì mức độ được chấp nhận của nó càng thấp ( mức độ không chấp nhận càng cao ). Ví dụ 2: Với câu hỏi: Theo anh ( chị ), tầm quan trọng của các yếu tố sau đây như thế nào đối với nhà quản lý giáo dục ? ( 1=không quan trọng, 7= rất quan trọng ). Đối với mỗi yếu tố, anh ( chị ) khoanh tròn chữ số biểu thị mức độ tầm quan trọng của yếu tố đó theo ý kiến của mình. 1. Am hiểu lĩnh vực mình đang quản lý 1 2 3 4 5 6 7 2. Có trình độ học vấn cao 1 2 3 4 5 6 7 3. Có năng lực quản lý, lãnh đạo 1 2 3 4 5 6 7 4. Đạo đức gương mẫu 1 2 3 4 5 6 7 5. Được mọi người tôn trọng 1 2 3 4 5 6 7 6. Có sức khỏe tốt 1 2 3 4 5 6 7 Chúng ta thiết lập bảng thống kê số liệu thu được từ các phiếu trả lời như trình bày dưới đây: Bảng 2: TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐỐI VỚI NHÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TS người trả lời: 20 Số ý kiến lựa chọn theo từng CÁC YẾU TỐ mức độ ĐTB Hạn 1 2 3 4 5 6 7 g 1.Am hiểu lĩnh vực mình đang 5 2 3 10 5,55 3 quản lý 2. Có trình độ học vấn cao 1 1 2 3 2 4 7 5,2 5 3. Có năng lực quản lý, lãnh đạo 4 1 5 10 6,05 1 4. Đạo đức gương mẫu 1 3 3 5 9 5,57 2 5. Được mọi người tôn trọng 9 5 3 3 2,3 6 6. Có sức khỏe tốt 1 2 2 3 6 7 5,3 4 Trong đó cách tính điểm trung bình ( ĐTB ) tương tự như trong ví dụ 1.Theo đó cho điểm 1, 2 ,3, 4, 5, 6, 7tương ứng với mỗi ý kiến chọn mức độ là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7.Căn cứ điểm trung bình để xác định mức độ giá trị và xếp hạng các yếu tố theo mức độ giá trị đó
  11. 11 Ví dụ 3: Với câu hỏi: Trong các lọai họat động sau đây, em hãy xếp thứ bậc từ thích nhất đến không thích ( 1: thích nhất … 6:không thích nhất ) bằng cách ghi chữ số chỉ thứ bậc vaò ô tương ứng với từng họat động. □ Nghi thức Đội □ Sinh họat chủ đề □ Làm kế họach nhỏ □ Cắm trại □ Phụ trách sao nhi đồng □ Công tác Trần Quốc Tỏan Số liệu thu được từ câu hỏi trên được trình bày trong bảng thống kê dưới đây: Bảng 3: MỨC ĐỘ HỨNG THÚ CỦA HỌC SINH ĐỐI CÁC HỌAT ĐỘNG TS học sinh trả lời: 40 HỌAT ĐỘNG Thứ bậc của HĐ được HS lựa chọn ĐTB HẠN 1 2 3 4 5 6 G Nghi thức Đội 2 5 8 10 15 4,775 6 Sinh họat chủ đề 5 10 7 8 7 3 3,275 3 Làm kế họach nhỏ 5 11 5 9 10 4,200 4 Cắm trại 25 6 4 5 1,725 1 Phụ trách sao nhi đồng 10 15 8 4 3 2,735 2 Công tác Trần Quốc Tỏan 2 5 10 11 12 4,650 5 Trong đó điểm trung bình ( ĐTB) của mỗi họat được tính theo công thức: A + 2 B + 3C + 4 D + 5E + 6 F ĐTB ( của HĐ) = N Trong đó A, B, C, D, E, F lần lượt là số ý kiến mà họat động được lựa chọn ở thứ bậc là 1, 2, 3, 4, 5, 6. Với cách tính này, họat động nào có điểm trung bình thấp hơn thì họat động đó được học sinh ưa thích hơn. Chú ý: Trong việc tính giá trị trung bình của cảc yếu tố nghiên cứu như trình bày ở trên, nếu chúng ta tính phương sai và độ lệch chuẩn để xác địng độ phân tán của các biện lượng chung quanh giá trị trung bình thì kết luận sẽ xác đáng hơn. 5.3 Tính hệ số tương quan thứ bậc: + Công thức tính hệ số tương quan thứ bậc ( Spearman): 6∑ ( X − Y ) 2 R = 1− ( -1 ≤ R ≤ 1 ) N ( N 2 − 1) Trong đó: N là số lượng các đơn vị được xếp hạng.
  12. 12 R là một số nhỏ hơn 1. Giá trị của R càng gần 1 thì chứng tỏ mối tương quan càng chặt. Nếu R< 0 : Tương quan nghịch R> 0 : Tương quan thuận 0,7 ≤ R < 1 : Tương quan chặt 0,5 ≤ R < 0,7 : Tương quan 0,3 ≤ R < 0,5 : Tương quan không chặt Chú ý: Thường người ta tính R với N giữa 5 và 30; Với N quá nhỏ ( N30) thì việc xếp hạng thực sự là khó khăn. Ví dụ : Điểm kiểm tra về nhận thức và kỹ năng trong một môn học của 10 học sinh thu được như trong bảng thống kê dưới đây: HS Điểm nhận thức Điểm kỹ năng A 10 18 B 6 13 C 8 14 D 12 19 E 11 17 F 15 18 G 22 28 H 19 25 I 18 23 J 21 27 Để tìm sự tương quan giữa điểm nhận thức và điểm kỹ năng của HS, trước hết chúng ta phải xếp hạng các HS theo điểm nhận thức ( X ),theo điểm kỹ năng ( Y ). Nếu có nhiều HS trùng cùng một thứ hạng thì thứ hạng của mỗi HS đó tính là trung bình cộng của các thứ hạng trong phạm vi các thứ hạng trùng đó. Ví dụ: + Nếu có 2 HS đồng hạng 5, thì thứ hạng của mỗi học sinh sẽ là : ( 5 + 6 ) / 2 = 5,5 + Nếu có 3 HS đồng hạng 5, thì thứ hạng của mỗi HS sẽ là : (5 + 6 + 7 ) / 3 = 6 N = 10 HS Điểm Thứ bậc Điểm kỹ Thứ bậc (X − Y ) 2 nhận thức (X) năng (Y) A 10 8 18 6.5 2.25 B 6 10 13 10 0 C 8 9 14 9 0 D 12 6 19 5 1 E 11 7 17 8 1 F 15 5 18 6.5 2.25 G 22 1 28 1 0 H 19 3 25 3 0 I 18 4 23 4 0 J 21 2 27 2 0 Tổng: 6.5 Hệ số tương quan thứ bậc ( giữa nhận thức và kỹ năng ):
  13. 13 6 * 6.5 39 R=1- =1- = 0.8696 ( tương quan chặt ) 10(100 − 1) 990 Kết luận : Nhận thức và kỹ năng của HS có tương quan chặt với nhau.Nghĩa là học sinh có điểm nhận thức thì cũng có điểm kỹ năng tốt. Trong trường hợp một trong hai biến là biến lượng ( biến kia là định hạng ) thì có thể xếp thứ tự các giá trị của biến lượng, từ đó xếp hạng các đơnh vị và tính hệ số R như trên. Ngòai ra phương pháp này còn có thể sự dụng để tìm hiểu sự tương quan giữa ý kiến của nhiều đối tượng điều tra về một vấn đề nào đó.Ví dụ, trong một đề tài nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu tiến hành tìm hiểu ý kiến về tầm quan trọng của một số biện pháp triển khai chương trình họat động giáo dục ngòai giờ lên lớp của các đối tượng : + Các cán bộ lãnh đạo ngành giáo dục + Các cán bộ quản lý nhà trường + Các giáo viên chủ nhiệm lớp Đối với ý kiến của mỗi lọai đối tượng sau khi tổng hợp, tính điểm trung bình, xếp thứ bậc về tầm quan trọng của các biện pháp (theo quan điểm của đối tượng đó ), người nghiên cứu sử dụng phương pháp tính hệ số tương quan thứ bậc : + Giữa ý kiến của cán bộ lãnh đạo ngành GD với ý kiến của các CBQL nhà trường + Giữa ý kiến của các CBQL nhà trường với ý kiến của các các GVCN + Giữa ý kiến của các cán bộ lãnh đạo ngành GD với ý kiến của các giáo viên chủ nhiệm lớp. Căn cứ vào các hệ số tương quan ( chặt hay không chặt … ) để lý giải về vấn đề cần nghiên cứu. Cần lưu ý: Các phương pháp tính điểm trung bình,hệ số tương quan thứ bậc cần được phối hợp với các phương pháp khác, các câu hỏi khác để có thể lý giải đầy đủ nguyên nhân. Bản chất của vấn đề cần nghiên cứu. 5.4 Tính hệ số theo thông số đo (để đánh giá về mức độ thường xuyên, mức độ cần thiết …của những biện pháp, yếu tố nào đó ) + Công thức : m−o k= M Trong đó : m là số ý kiến trả lời thường xuyên O là số ý kiến trả lời không thường xuyên M là tổng số ý kiến + Kết quả: 0,7 ≤ k < 1 : Thường xuyên 0,5 ≤ k < 0,7 : Tương đối thường xuyên 0,1 ≤ k < 0,5 : Ít thường xuyên + Ví dụ: Trong một cuộc khảo sát tìm hiểu về mức độ thường xuyên trong việc áp dụng các biện pháp A,B,C,D…qua câu hỏi: Anh ( chị ) vui lòng cho biết mức độ thường xuyên mà anh ( chị ) áp dụng các biện pháp sau đây: BIỆN PHÁP MỨC ĐỘ ÁP DỤNG
  14. 14 Thường xuyên Thỉnh thỏang Không bao giờ A B C D Người ta thu được các số liệu thống kê và tính hệ số biểu thị mức độ thường xuyên của các biện pháp trong bảng dưới đây Tổng số người trả lới : 45 Biện Mức độ áp dụng pháp Thường Thỉnh Không Chỉ số Thứ hạng xuyên thỏang bao giờ A 36 6 3 0,73 1 B 12 24 9 0,06 4 C 25 14 6 0,42 2 D 30 3 12 0,40 3 Trong bảng trên hệ số thường xuyên của biện pháp A là: k (A) = ( 36 – 3 ) / 45 = 0,73 Như vậy theo kết quả trên thí biện pháp A có mức độ áp dụng là thường xuyên, các biện pháp C & D có mức độ tương đối thường xuyên, còn biện pháp B có mức độ ít thường xuyên. --------------------------------------- PHỤ LỤC: PHIẾU PHỎNG VẤN Để góp phần nâng cao chất lượng thực hiện chương trình Họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp ( HĐGDNGLL ), xin anh ( chị ) vui lòng trả lời những câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu X vào ô vuông tương ứng câu trả lời phù hợp với ý kiến của anh ( chị ) hoặc trả lời ngắn gọn, đủ ý vào chố trống dưới câu hỏi. Xin chân thành cám ơn. --------------------------------------- * Thông tin cá nhân : Họ và tên : …………………………………………………………………………. GVCN lớp :……………………………. Trường :………………………………… Câu 1:Theo anh ( chị ) việc thực hiện chương trình môn học HĐGDNGLL cần phải: □ Nhất thiết theo đúng qui định của Bộ GD-ĐT □ Nên vận dụng cho phù hợp hòan cảnh của địa phương,của trường Câu 2: Những khó khăn chủ yếu khi triển khai thực hiện chương trình môn học HĐGDNGLL ở trường của anh ( chị ) là : □ Không có thời gian để xếp TKB
  15. 15 □ CSVC hạn chế □ Kinh phí hạn hẹp □ Năng lực tổ chức họat động của GVCN còn hạn chế □ HS không hứng thú họat động Khó khăn khác :…………………………………………….......... Câu 3: Để tiến hành thục hiện tốt chương trình môn học HĐGDNGLL,theo anh ( chị ) các yếu tố sau đây có tầm quan trọng như thế nào?( Đánh dấu X vào cột mức độ tương ứng với từng yếu tố ) MỨC ĐỘ QUAN TRỌNG R ất Khá Quan Ít Không YẾU TỐ quan quan trọng quan quan trọng trọng trọng trọng 1. Sự chỉ đạo quyết tâm của hiệu trưởng 2. Phối hợp chặt chẽ với họat động Đội 3. CSVC đầy đủ 4. GVCN nhiệt tình, trách nhiệm cao 5. Bồi dưỡng tự quản cho HS 6. Chọn ND, hình thức HĐ phù hợp

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản