Quá trình đổi mới và phát triển nông nghiệp qua các giai đoạn

Chia sẻ: Anviet Canh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:61

0
445
lượt xem
219
download

Quá trình đổi mới và phát triển nông nghiệp qua các giai đoạn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nông nghiệp, nông thôn ngoại thành nằm trong cơ cấu tổng thể Kinh tế - xã hội của Thành phố, với lợi thế về vị trí địa lý, là ngoại thành của đô thị lớn, là nông thôn của một trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ, văn hoá, khoa học công nghệ, đầu mối giao dịch quốc tế ..... Thành phố đã và đang tận dụng lợi thế về vị trí, khai thác thế mạnh về công nghệp và khoa học kỹ thật của mình để phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp và nông thôn....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quá trình đổi mới và phát triển nông nghiệp qua các giai đoạn

  1. Quá trình đổi mới và phát triển nông nghiệp qua các giai đoạn Nông nghiệp, nông thôn ngoại thành nằm trong cơ cấu tổng thể Kinh tế - xã hội của Thành phố, với lợi thế về vị trí địa lý, là ngoại thành của đô thị lớn, là nông thôn của một trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ, văn hoá, khoa học công nghệ, đầu mối giao dịch quốc tế ..... Thành phố đã và đang tận dụng lợi thế về vị trí, khai thác thế mạnh về công nghệp và khoa học kỹ thật của mình để phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp và nông thôn. Thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích tự nhiên 209.370 ha, nằm trong khu vực tiếp giáp giữa miền Đông nam Bộ và châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long có chiều dài từ giáp giới huyện Trảng Bàng Tây Ninh đến biển Đông, thuộc hạ l u sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, với địa hình đa dạng. Trong đó, 45% là đất nông nghiệp, mang sắc thái riêng, không giống nh những vùng nông nghiệp ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, quỹ đất nông nghiệp hạn chế, độ phì kém. Trong đất nông nghiệp có trên 50% lá đất nhiễm phèn, mặn, bị chia cắt bởi nhiều kênh rạch và gần 20% là đất xám, đồi gò có độ dốc lớn bị rửa trôi, đất bạc màu, thiếu nớc tới trong mùa khô, nên không thuận tiện cho việc phát triển sản xuất cây nông nghiệp hàng năm. Từ sau giải phóng 30-4-1975 đến nay, nhiệm vụ đặt ra cho ngành nông nghiệp đ ợc thay đổi theo yêu cầu phát triển chung của Thành phố qua các thời kỳ, từ " vành đai l - ơng thực thực phẩm" ở các năm 1975-1980 với nhiệm vụ cân đối l ơng thực cho các các bộ nông nghiệp ngoại thành và một phần thực phẩm cho Thành phố, nhất là rau xanh: chuyển qua "vành đai thực phẩm cho Thành phố và một phần nguyên liệu cho công nghiệp chế biến của Thành phố; từ năm 19990 đến nay với nhiệm vụ sản xuất nông sản hàng hoá có giá trị kinh tế cao, thích ứng với nhu cầu thị trờng, và những năm gần đây trớc yêu cầu mở rộng Thành phố, một phần ngọai thành đã đ ợc đô thị hoá, nông nghiệp ngọai thành có xu hớng chuyển sang nông nghiệp sinh thái, phù hợp với chiến lợc phát triển đô thị văn minh hiện đại, bền vững về môi trờng. Nhìn lại 25 năm qua, một chặng đờng 1/4 thể kỷ, cả nớc nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã có biết bao thay đổi, trong đó vùng nông thôn ngọai thành của Thành CHí Minh có những thay đổi đặt biệt lớn lao, cũng có thể nói là một quá trình " thay da đổi thịt" - Những ngày đầu sau chiến tranh, nông thôn ngọai thành với hàng chục ngàn hecta ruộng hoang hoá, đầy rẫy hố bom, bãi mìn, hàng rào kẽ gai, một " vành đai trắng"; điển hình là vùng "đất thép" Củ Chi, rừng sát Cần Giờ, vùng bng Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh..... làm cho hàng vạn hộ nông dân đứng tr ớc nguy cơ nạn đói đe dọa. 1. Ngoại thành đi lên từ một "vành đai trắng" Hậu quả của cuộc chiến trang xâm lợc để lại cho Thành Phố Hồ Chí Minh, là những vùng đất trắng bạt ngàn, hàng vạn hecta đất bị bỏ hoang hoá tạo thành "vành đai trắng" bao quanh đô thị Sài Gòn cũ, trên đất hoang hoá ấy còn lại rất nhiều bom trái lép và chi chít hố bom đạn cày xới, bờ bọng kinh m ơng bị sạt lở, bồi lắng không còn khả năng canh tác. Theo tài liệu tổng kết tội ác chiến tranh, cứ mỗi hecta đất ở Củ Chi 1
  2. có trên 1.000 hố bom pháo các lọai. Những vờn t ợc, những cánh rừng, xóm làng trơ trụi vì chất độc hoá học, chất độc "màu da cam" trong âm m u sát hại nhân dân, tiêu diệt mà xanh, phá hoại môi trờng sống, hòng ngăn chặn sự tấn công của lực l ợng cách mạng sài Gòn - Thủ Đô của chúng ở Miến Nam. Riêng vùng rừng sát huyện Cần Giờ khoảng thời gian từ năm 1960 mà nhất là 1964-1970, đế quốc mỹ đã rải chất độc hoá học nhiều lần với số lợng chất phun rất lớn: 665.666 gallons chất độc màu da cam, 3.453.385 gallons chất độc màu trắng và 49.200 gallons chất độc màu xanh (Ross, 1975) đã làm cho trên 40.000 ha rừng ngập mặn bị hủy diệt hoàn toàn. Hậu quả của chiến tranh ác liệt ở ngọai thành thật quá nặng nề, đã huỷ diệt gần nh toàn bộ hệ sinh thái, tạo thành nhiệu vùng trắng rộng lớn, đến gần 100.000 ha đất hoang hoá. Trong đó, đất hoang hoá do chiến tranh tàn phá khoảng 78.000-80.000 ha, phần còn lại là diện tích đất ngoại thành bị địch chiếm làm căn cứ quân sự, xây đồn bót. Số đất hoang hoá chủ yếu tập trung ở các huyện Củ Chi, Cần Giờ, và các huyện vùng Tây Nam Hóc Môn, Tây bắc huyện Bình Chánh, vùng b ng 6 xã huyện Thủ Đức....Đại bộ phận nông thôn ngoại thành trớc đây bị tách khỏi ruộng vờn, sống tập trung ở các ấp chiến lợc, trong các thị xã, thị trấn, hoăc trong đô thị Sài Gòn. Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh từ một xuất phát điểm nh vậy. 2. Từ vành đai trắng đến vành đai xanh Ngay trong những ngày đầu sau ngày giải phóng Thành phố, theo lời kêu gọi của chính quyền Cách Mạng, bà con nông dân đã trở về quê cũ, xây dựng lại xóm làng hầu nh với hai bàn tay trắng, trên "vành đai trắng" với ý nghĩa là "trắng" cả đất đai, cả nhà cửa và vốn liếng ban đầu, trong điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp nghèo nàn, đất nông nghiệp thuộc loại xấu, kém màu mỡ. Trong quá trình đi lên của nông nghiệp ngoại thành vừa phục vụ hoá khai hoang để thực hiện nhanh chóng lấp vùng trắng vừa vận động phong trào toàn dân làm thuỷ lợi, cải tạo đất, đi đầu ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Để đạt những thành ựu trong nông nghiệp và xây dựng nông thôn nh ngày nay là cả một sự cố gắng nỗ lực tích cực v ợt qua những hệ quả của chiến tranh, đồng thời cũng trải qua những bớc thăng trầm gấn liền với quá trình cải tạo và xây dựng nền kinh tế của nớc ta suốt 1/4 thế kỷ qua. 2.1 Thời kỳ khôi phục màu xanh "trên vùng đất trắng" ổn định đời sống nhân dân (1975-1980). Ngay từ bớc đầu, khi trở về quê cũ, bà con nông dân giúp đỡ nhau ổn định chỗ ở hâú hết là che chòi tranh tre làm nơi ở tạm, chính quyền địa ph ơng huy động lực lợng thanh niên xung kích, mà nồng cốt là du kích xã ấp và đợc bộ đội công binh cử cán bộ chiến sĩ xuống giúp sức rà soát khắp ruộng đồng, tháo gỡ bom mìn, giải phóng đất cho bà con nông dân phục hồi sản xuất, phục hoá khai hoang trên vùng " đất trắng" cũng hết sức quyết liệt với cái giá phải trả không những bầng mồ hôi, công sức, vốn liếng mà cả sự hy sinh tánh mạng và bằng máu của nhiều ngời kể cả nông dân, bộ đội và du kích xã, ấp. 2
  3. Đồng thời ngành nông nghiệp Thành phố huy động tập trung máy cày, do Liên Xô (cũ) và Miền Bắc chi viện cùng với số máy cày,máy ủi tiếp thu của chế độ cũ để thành lập các đội máy kéo đa về "vùng trắng" hỗ trợ lực lợng xung kích tại địa phơng; ủi phá bom mìn, san lấp hố bom, pháo; giải phóng đất, tạo mặt cho sản xúât. Bớc khởi đầu đầy gian khổ, quyết liệt, ngay cả khi bom, mìn nổ làm h hỏng nặng xe ủi, máy cày; công nhân đổ máu,bị thơng tật...., nhng quân dân đã quyết tâm phá bỏ "vùng trắng" để biến "đất trắng" thành đất sản xuất nông nghiệp. Nếu chỉ tính đến năm 1979 đã có 128.000 quả bom, pháo, mìn đợc thaó gỡ và thu gom hơn 1.150 tấn đạn dợc các lọai của Mỹ ngụy, giải phóng hàng vạn hecta đất canh tác. Với khí thế ra quân, không nề cực khổ hy sinh xơng máu trong thời bình, để giải phóng đất, giao lại cho nông dân, thắt chặt tinh thần đoàn kết liên minh công, nông, binh. Bà con nông dân đã tích cực sát cánh cùng lực lợng xung kích, để khi tháo gỡ bom mìn, giải phóng đất tới đâu thì bà con nông dân bắt tay ngay vào việc phục hoá khai hoang, làm thủy lợi đa đất vào sản xuất. Trong phong trào làm thuỷ lợi, nông thôn ngoại thành, có hàng triệu lợt nhân dân nội thành gốm tất cả các giới từ công nhân lao động, học sinh, sinh viên, đến các văn nghệ sĩ, trí thức, kể cả các tu sĩ, giáo phẩm....đã về tiếp sức với nông thôn, tạo thành một khí tế lao động rất sôi nổi, thắt chặt mối quan hệ giữa than2h thị và nông thôn, giữa nội thành và ngoại thành. Thành quả lao động đạt đợc của nông dân ngọại thành ở giai đoạn này rất to lớn, đã phục hoá khai hoang đa vào sản xuất hơn 70.000 hac đây là " vùng đất trắng", đa diện tích trồng trọt từ 45.000 ha lên 115.000 ha. Sản lợng lúa từ 95.00 tấn năm 1975 lên hơn 160.000 tấn năm 1976, Chỉ sau 1 năm, màu xanh đã phủ trên"vùng đất trắng" đã bị bom đạn cày xới. Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản giao đoạn này có tốc độ tăng trởng khá, bình quân tăng 5,1% năm. Ngành nông nghiệp tăng 3,7% năm, trong đó chăn nuôi tăng mạnh hơn, đạt bình quân 5,5%năm, trồng trọt tăng 3,1% năm.Ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trửơng khá cao, bình quân tăng 15,5% năm, trong đó: nuôi trồng tăng 23,25 năm và đánh bắt tăng 14,2% năm. Ngành lâm nghiệp có tốc độ tăng trởng rất cao, bình quân tăng 24,6% năm trong suốt giai đoạn năm năm. Thành tích lớn nhất là trồng đớc, hàng năm trồng đợc vài ngàn hecta trên vùng sình lầy ngập mặn, còn nhiều tàn tích của "chất độc màu da cam", làm nhiều ngời bị nhiễm bệnh vì chất độc này, dẫn đến tử vong, trong đó có cán bộ khoa học tham gia nghiên cứu phục hồi rừng Duyên Hải. Nhờ Thành phố có chủ trơng đúng đắn kịp thời, hợp lòng dân nên huy động lực lợng lớn lao động nội ngọai thành hỗ trợ bà con nông dân tích cực phục hoá khai hoang, làm thủy lợi chống úng, chống hạn phát triển sản xuất mở rộng diện tích trồng trọt.Tuy nhiên, do đất mới phục hoá khai hoang, nên năng xuất sản lợng cây trồng còn thấp, tốc độ tăng trởng chỉ đạt bình quân 3,2% năm, các ngành khác có tốc độ tăng trởng khá hơn. Trong quản lý xí nghiệp nông nghiệp, Thành phố đã kịp thời bố trí cán bộ quản lý điều hành xí nghiệp theo hình thức công t hợp doanh, với các hộ sản xuất công nghiệp và chế biến trong nông nghiệp, đồng thời trực tiếp quản lý theo hình thức quốc doanh các xí nghiệp công nghiệp vắng chủ, các trạm trại nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp; đã lập ra 9 xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc, 7 xí nghp phân bón thuốc trừ 3
  4. sâu, 12 trại chăn nuôi heo, gà và hai đoàn tàu thuyền đánh bắt thuỷ sản xa bờ, nên đã kịp thời khôi phục và phát triển sản xuất, nhất là giữ đợc đàn giống ngoại (heo -gà) có chất lợng cao. Tại đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ nhất (tháng 7/1977) đã đề ra ph ơng hớng nhiệm vụ sản xuất nông lâm thủy sản của Thành phố theo hớng đẩy mạnh sản xuất l- ơng thực cho ngoại thành và phải chế biến ngoại thành trở lại thành "vành đai thực phẩm" vững chắc cho Thành phố về: rau, đậu, thịt, cá, trứng..... mà trớc hết là sản xúât rau xanh là trọng tâm số 1 của vành đai nông nghiệp bao quanh nội thành. Thực hiện nhiệm vụ sản xuất lơng thực cho ngoại thành là rất khó khăn, vì đất nông nghiệp ngoại thành kém màu mỡ, đất trũng trồng lúa bị nhiễm phèn mặn, đất đồi gò trồng cây lơng thực là đất xám bạc màu, thiếu nớc tới mùa khô.... nên sản xuất lúa và khoai bắp gặp nhiều khó khăn. Năm 1976 đã đ a đất hoang hoá vào sản xuất, tăng diện tích trồng trọt từ 45.000 ha tăng lên 115.000 ha; sản l ợng lúa tăng từ 95.000 tấn năm 1975 lên 164.000 tấn năm 1976. Tuy nhiên, năm 1977 đến 1980, mặc dù có nhiều cố gắng tiếp tục đẩy mạnh sản xuất lơng thực, nhng diện tích và sản lợng lúa tăng không đáng kể: từ 70.579 ha (1976) đến 73.550 ha năm 1980; năng xuất lúa thấp, bình quân đạt 2,3 -2,4 tấn /ha. Năm 1978 do bị lũ lụt và sâu rầu phá hoại, nên năng xuất lúa giảm còn 73.455 tấn (giảm 56,3% so năm 1977). Cùng năm ấy, vùng đồng Bằng sông Cửu Long cũng bị thiên tai, lại bị tình trạng"ngăn sông cấm chợ", nên ngoại thành có nhiều hộ thiếu đói , chăn nuôi giảm sút. Trớc tình cảnh đó, nghành công nghiệp Thành phố vận động nông dân ngoại thành đẩy mạnh trồng màu lơng thực: mì, bắp, lang, cao l- ơng (bo bo) năm 1979 đạt 15.322 ha, sản lợng quy thóc đạt 34.451 tấn, so với năm 1976 và các năm trớc đều tăng hơn 2 lấn. Trong hoàn cảng nh vậy, việc chủ trơng chuyển sang trồng cây lơng thực là kịp thời và đang có kết quả. Khoai, bắp đợc bổ sung thay thế số lợng gạo thiếu hụt vào khẩu phần ăn cho nhân dân ngoại thành (ăn độn là việc hiếm có ở Nam bộ) và một phần cho chăn nuôi, tránh đợc nguy cơ đói. Để thực hiện đợc mụac tiêu lơng thực nêu trên, Thành phố tập trung đầu t xây dựng hệ thống thủy lợi, nhằm chủ động tới tiêu cho lúa và màu. Từ năm 1977 đến năm 1980 đã đầu t cho thủy lợi trên 40% tổng vốn đầu t cho các huyện ngoại thành, góp phần tăng giá trị sản lợng nâng cao năng xuất cây trồng. 2.2 Về cải tạo nông nghiệp, xây dựng nông thôn Trong phong trào cải tạo nông nghiệp chung, từ năm 1976 cùng với phong trào làm thủy lợi phục hoá khai hoang đẩy mạnh sản xúât, khu vực ngoại thành đã tổ chức nhiều tổ đoàn kết sản xúât nông nghiệp, có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất.Đến năm 1977 phong trào mở rộng tổ chức tỗ đoàn kết sản xúât, đồng thời thí điểm tổ chức tập đoàn sản xuất - là loại hình hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cấp thấp(trả hoa lợi ruộng đất, cha tập thể hoá t liệu sản xuất). Những năm 1978-1979, Thành phố tiến hành cải tạo nông nghiệp trên diện rộng, dự kiến hoàn thành cơ bản trong năm 1980, với nội dung tổ chức tập đoàn và hợp tác xã sản xúât nông nghệp, đa số theo hình thức hợp tác xã cao cấp (tập thể hoá t liệu sản xúât, phân phối theo lao 4
  5. động).Đến cuối năm 1978 đã xây dựng đợc 4 nông trờng quốc doanh, trên 790 tập đoàn sản xuất và 10 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Nhng các nông trờng hầu hết làm ăn thua lỗ(trừ nông trờng Phạm Văn Hai), chất lợng của cơ sở sản xuất nông nghiệp tập thể lúc đó ch a thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, trừ một số ít làm ăn khá, còn hầu hết làm ăn kém, do nóng vội, đơn giản, thiếu chuẩn bị các điều kiện bảo đảm, nhất là cung cách quản lý sản xuất theo kiểu hành chánh quan liêu bao cấp, không khuyến khích ngời xã viên hăng hái sản xuất, nên tổ chức tập đoàn, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp hầu hết không đứng vững. Đến năm 1980, Thành phố phải giải thể khoảng phân nửa số tập đoàn sản xuất nông nghiệp để xây dựng lại, số còn lại không phát triển tốt, ảnh h ởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân. Nông dân ngoại thành tuy rất tin Đảng, theo Cách mạng từ lâu đời, nhng có những biểu hiện bất bình trớc cung cách làm ăn và chánh sách giá cả của ta, tuy nhiên, bà con nông dân ngoại thành vẫn bám ruộng, cần cù lao động sản xúât, phong trào đi thanh niên xung phong, phong trào tòng quân cứu n ớc, phong trào xây dựng vành đai phòng thủ của Thành phố, xây dựng các công trình phúc i cho nông thôn vẫn giữ vững. Điều đó càng biểu hiên bản chất Cách mạng của nông dân ngoại thành. Về đời sống nông dân ngoại thành, trong hai năm 1976-1977, tạm thời ổn định vì sản xuất nông nghp có phần lợi nhuận, giá cả thị tr ờng tơng đối ổn định. Sau đó từ năm 1978 bị thiên tai sâu rầy lũ lụt làm diện tích và tăng năng xuất lúa giảm nghiêm trọng, sản lợng lúa giảm còn 43,7% so năm 1977 đồng thời chỉ số giá cả thị tr ờng xã hội tăng lên hàng năm: so với năm trớc, năm 1978 tăng 15,3%, năm 1979 tăng 30,9% năm 1980 tăng 20,3%, năm 1981 tăng 42%.... làm cho đời sống nông dân vô cùng khó khăn, khốn đốn, nhiều hộ nông dân bị đoái, số đông phải ăn độn khoai củ, và bo bo, (gạo, mì viện trợ), bức tranh nông thôn khá ảm đạm. 3. Nông nghiệp và nông thôn ngoại thành trong những năm 1981-1990 Từ năm 1980 trở đi, thực hiện chủ trơng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp để tạo bớc phát triển toàn diện, đợc đánh dấu từ khi có nghị quyết Trung Ương 6 (khoá IV), chỉ thị 100 của Ban bí th Trung ơng Đảng về khoán sản phẩm đến nhóm và ngời lao động. Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Trung Ương, Thành phố đề ra chủ trơng, phơng hớng phát triển toàn diện đối với nông thôn ngoại thành nh nghị quyết 21 của Thành ủy về phơng hớng nhiệm vụ kinh tế, xã hội, cải tạo và xây dựng toàn diện nông thôn ngoaị thành. Nghị quyết 18 của Thành ủy về phát huy năng lực công nghiệp và khoa học kỹ thuật của Thành phố phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ngoại thành. Tiếp đến nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ III ( thángn 4/1993) xác định nhiệm vụ nông thôn ngoại thành có vị trí quan trọng trong việc đảm bảo đủ lơng thực và thực phẩm cho nhân khẩu nông nghiệp, bảo đảm một phần cho nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tham gia xuất khẩu. Tiếp tục xây dựng ngoại thành thành vành đai thực phẩm và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày có chất lợng cao. 3.1 Giai đoạn 1981-1985 5
  6. Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản có tốc độ tăng trởng cao hơn giai đoạn trớc, bình quân giai đoạn này tăng 5,9%/năm, là giai đoạn có tốc độ tăng trởng cao nhất trong 25 năm qua. Ngành nông nghiệp tăng4,8%, trong đó: trồng trọt tăng 5,3%/năm cao hơn chăn nuôi (3,2%/năm). Ngành lâm nghiệp sau thời gian tăng mạnh 15,5%/năm. Trong giai đoạn trớc, do trồng mới gần 20.000 ha rừng sat Cần Giờ, giai đoạn này tăng trởng đạt 6,6%/năm. Ngành thủy sản có tốc độ tăng trởng lớn nhất, bình quân đạt 16,4%/năm, tăng mạnh cả về nuôi trồng và đánh bắt. Đây là giai đoạn có tốc độ tăng trởng cao nhất ở hầu hết các ngành cấp 2, nhờ thực hiện tốt chủ tr ơng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo chỉ thị 100 cuả Ban Bí Th TW Đảng. Cơ cấu ngành: nông nghiệp chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng giá trị sản xuất khu vực I và có xu hơớng giảm dần từ 87,4% năm 1980 giảm còn 83,2% năm 1985. Trong nông nghiệp, cùng thời gian tơng ứng, cây lơng thực chiếm tỉ trọng lớn và có xu h ớng giảm mạnh từ 80,5% giảm còn 71%. Rau và cây công nghiệp có tỉ trọng theo xu h ớng tăng dần: rau từ 12% tăng lên 14,5%, cây công nghiệp ngắn ngày từ 3,2% tăng lên 14,5%, cây công nghiệp hàng năm từ 2,2% tăng lên 7,3%. Về trồng trọt: Giá trị sản lợng lúa tăng bình quân 5%/năm, nhờ thay đổi bộ giống mới và đầu t thâm canh tăng năng suất từ 2,4 tấn/ha năm 1980 tăng lên 3,2 tấn/ha năm 1985, mặc dù diện tích lúa không tăng. Sản lợng lơng thực đạt gần 280.000 tấn, bình quân lơng thực nhân khẩu nông nghiệp đạt 450 kg/ngời về cơ bản đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố đề ra. Rau: Giá trị sản lợng rau giai đoạn này tăng cao, bình quân tăng 13,9%/năm, do tăng cả hai mặt diện tích và năng suất. Diện tích rau bình quân rau tăng bình quân 7,6%/năm do tăng diện tích vùng rau chuyên canh, từ 1.369 ha năm 1979 lên 2.500 ha năm 1984 và tăng hệ số vòng quay từ 2,1 lần lên 3,3 lần. Năng suất rau tăng từ 13,6 tấn/ha năm 1980 lên 18 tấn/ha năm 1985, kết quả này là nhờ tăng đầu t mạng lới giếng nớc bán công nghiệp, giếng thủ công và hoàn chỉnh mạng lới hạ thế điện cho các vùng chuyên canh rau. Đồng thời chuyển đổi cơ cấu rau, tăng rau có chất lợng cao, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của dân Thành phố và xuất khẩu chủ yếu là thị tr ờng vùng viễn đông Liên Xô cũ. Cây công nghiệp ngắn ngày có tốc độ tăng trởng chậm bình quân 3,6% năm. Trong đó: Đậu phọng tăng 2,9%năm chủ yếu là tăng năng xuất. Mặc dù diện tích đậu phọng giảm, từ 7060 ha (1980) xuống còn 6408 ha (1985), do thủy lợi kinh đông làm mực n ớc ngầm dâng cao. Đất trồng 1 vụ lúa 1 vụ đậu phọng nay có độ ẩm cao, không trồng đậu phọng tới vụ đông xuân. Vùng đất này chuyển sang gieo cấy 2-3 vụ lúa trong năm. Nhng năng suất đậu phọng tăng mạnh từ 0,9% tấn/ha (1980) lên 2,1% tấn/ha năm 1985 do ứng dụng tiến bộ khoa hoc kỹ thuật, chọn giống tốt, bón phân cân đối chăm sóc và tới nớc đầy đủ suốt vụ. Cây công nghiệp hàng năm, chủ yếu là cây míc có tốc độ tăng trởng cao bình quân tăng 10,6%/năm, do diện tích trồng mới tăng 19,8%/năm ở các nông trờng vùng Tây Nam Thành phố, chủ yếu là quản canh năng xuất thấp, bình quân đạt 34% tấn /ha. Sản lợng mía tăng, tạou kiện phát triển các lò đờng bán thủ công, đã góp phần giải quyết nhu 6
  7. cấu đờng cho vùng ngoại thành. Cây thơm chủ yếu trồng ở nông trờng Phạm Văn Hai (Bình Chánh). Đến năm 1980 diện tích trồng đạt cao nhất và ổn định ở mức 1070 ha, năng xuất bình quân đạt 10 tấn/ha, sản l ợng đạt 10.840 tấn, đến năm 1985 năng xuất thơm đạt 12 tấn /ha, sản lợng đạt 12.840 tấn. Thơm trái tiêu thụ tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Sản phẩm thơm chế biến xuất khẩu sang Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu. Về chăn nuôi: Tốc độ tăng trởng bình quân giai đoạn này tăng thấp 3,2%/năm, trong đó: bò tăng bình quân 5,2%/năm, bò sữa mới bắt đầu phát triển từ vài trăm con năm 1980 có trên 1.500 bò sữa lai Sind. Đàn heo tăng thấp bình quân đạt 2,4%/năm, do ch a giải quyết kịp thời về thức ăn gia súc cho đàn heo công nghiệp. Đàn gà vịt tăng khá, đàn gà tăng bình quân 8,6%/năm, đàn vịt tăng bình quân 14,7%/năm. Về lâm nghiệp: đã trồng đợc 22.500 ha rừng tập trung trong đó có 18.000 ha rừng đ- ớc, 3000 ha rừng lịch sử, 500 ha lâm viên và 60 triệu cây phân tán các loại. Riêng rừng Sát ở Duyên Hải t độc hóa học củA Mỹ Nguỵ tàn phá trơ trụi, nay đã đ ợc phục hồi; 18.000 ha rừng đớc đã trồng đang phát triển tốt, hằng năm trồng mới và tái sinh thêm 1.000 ha. Vành đai xanh đã thực sự thay thế cho vành đai trắng trớc đây. Về thuỷ sản: giai đoạn này có tốc độ tăng tr ởng cao nhất trong các thời kỳ, trung bình tăng 16,4%/năm, cả nuôi trồng và đánh bắt đều tăng mạnh, nuôi trồng tăng 15,9%/năm, đánh bắt tăng 16,5%/năm và có tỷ trọng tăng gấp 5-6 lần nuôi trồng, đoàn tàu đánh bắt xa bờ đợc tăng cờng và cũng cùng với đoàn tàu Chiến thắng là lực lợng đánh bắt xa bờ mạnh nhất ở vùng Nam Biển Đông. Đồng thời đanh bắt ở sông rạch và ven bờ cũng phát triển mạnh. Nuôi trồng phát triển rộng trong dân chúng với phong trào nuôi cá rô phi, cá trê phi, và một số loài tôm cá khác, một số diện tích trồng lúa kết hợp nuôi thủy sản theo mô hình lúa -Tôm ở các xã Long Thới, Phớc KIển Nhà Bè. Đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân nói chung và nông dân nói riêng đợc cải thiện đáng kể đã vợt qua giai đoạn đói kém và đi vào ổn định. Sản xuất nông nghiệp ở ngoại thành đảm bảo giải quyết cơ bản lơng thực cho nhân khẩu nông nghiệp và cho trên 60% nhu cầu về rau đậu, 20-30% về thịt cá các loại theo yêu cầu tiêu dùng của Thành phố, đóng góp một số nông sản hàng hoá cho xuất khẩu. 3.2 Giai đoạn 1986-1990 Giá trị sản xuất nông lâm thùy sản giai đoạn này có xu hớng tăng chậm lại, đạt 4,5% (giai đoạn 1981-1985 đạt 5,9%/năm). Ngành nông nghiệp vẫn giữ tốc độ bình quân 4,6%/năm, trong đó: trồng trọt tăng rất chậm bình quân 0,9%/năm, lúa tăng ít 1,1%. Rau quả giảm 4,3%/năm, do chuyển đổi cơ cấu chủng loại rau, giảm rau ăn lá, tăng rau có chất lợng cao và chuyển đổi vụ rau, giảm nhiều diện tích rau vụ Đông Xuân, tăng diện tích rau các loại trong vụ Hè thu và vụ mùa, mặt khác một số tập đoàn sản xuất rau tan rã đang củng cố sản xuất cha ổn định. Đậu phọng tăng trên 4%năm. Riêng mía giảm -1,8%/năm do giá cả không ổn định và một số nông tr ờng trớc có trồng mía nay chuyển đổi cây trồng hoặc giải thể. Diện tích thơm giảm từ 1.070 ha (1985) còn 7
  8. 891 ha (1987) và chỉ còn 30 ha (1992) do mất thị trờng tiêu thụ. Nông trờng Phạm Văn Hai trong giai đoạn này đã thày đổi cây trồng từ thơm chuyển sang mía, cây ăn trái và rừng phòng hộ. Chăn nuôi có tốc độ tăng trởng cao, bình quân đạt 9,1%/năm, đây là giai đoạn ngành chăn nuôi có tốc độ tăng trởng cao nhất trong 25 năm qua, do giải quyết tốt về nguyồn nguyên liệu thức ăn gia súc, ứng dụng khoa học kỹ thuật lai tạo giống cao sản, phát triển đàn heo, gà giống, bỏ sữa lai F1, F2 cung ứng cho chăn nuôi Thành phố và các tỉnh trong vùng, tiếp tụt khẩu qua thị trờng Viễn Đông -Liên Xô cũ. Đàn bỏ vắr sữa tăng mạnh từ 1.256 con (1985) lên 2.100 con (1990) tăng hơn 2/3 tổng đàn, tốc độ tăng bình quân 10,8%/ năm góp phần cung ứng sữa tơi cho Thành phố. Ngành thủy sản sau 10 năm (1976-1985) có tốc độ tăng trởng mạnh (15-16%/năm), giai đoạn này tốc độ tăng trởng có ohần chậm lại, bình quân tăng 8%/năm, nuôi trồng tăng mạnh, nhất là các mặt hàng đặc sản: tôm n ớc lợ, cua lột, các loại cá đồng, cá rô phi đực đơn tính... nên tốc độ tăng trởng đạt 27,5%/năm. Đánh bắt sông rạch và ven bờ giảm sút do nớc sông rạch bị ô nhiễm và sự cố tràn dầu làm giảm đáng kể nguồn lợi đánh bắt thủy hải sản, tốc độ tăng trởng đánh bắt giảm đáng kể, chỉ còn tăng 1,1%/năm. 3.3 Thời kỳ 1981 đến 1990 Từ đầu những năm 1980, với kinh nghiệm của các năm trớc, Thành phố đã ngày càng cụ thể phơng hớng, biện pháp phát nông thôn -xây dựng nông thôn ngoại thành đạt đ- ợc một số kết quả đáng kể phấn khởi. Ngoại thành tiếp tục hình thành và ổn định vùng rau chuyên canh, từ 1.850 ha năm 1980 lên 2.500 ha (1984) và đến cuối những năm 1980 đã lên đến trên 3.000 ha, sản l- ợng rau đạt trên 260.000 tấn, đáp ứng trên 60% nhu cấu rau cho toàn Thành phố, cung ứng một phần rau chất lợng cao cho xuất khẩu. Diện tích gieo trồng rau tăng cao nhất là năm 1985 đạt 14.732 ha sau đó giảm dần qua các năm và giữ mức khoảng 12.000 ha đến 13.000 ha, do diện tích rau các quận huyện ven giảm nhiều (quận 6,8,Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh) từ 4.169 ha (1985) giảm còn 2.794 ha (1990), bắt đầu xu h ớng giảm mạnh diện tích đất nông nghiệp ở các quận ven do mở rộng đô thị hoá. Sản lợng lơng thực tăng khá từ 164.000 tấn (1976) lên 136.000 tấn (1985) và 254.000 tấn (1990), bình quân nhân khẩu nông nghiệp đạt 400kg/ng ời năm 1982, lên 450 kg/ng- ời năm 1985. Năng suất lúa từ 2,4 tấn /ha lên 3,2 tấn cùng thời gian t ơng ứng. Riêng diện tích màu lơng thực giảm mạnh từ 9.097 ha năm 1980 giảm còn 4.500 ha năm 1985 và chỉ còn2.275 ha năm 1990, trong đó khoai mì và bắp giảm nhiều, do nhà nớc có chính sách điều hoà lơng thực từ vụ lúa Đồng Bằng sông Cửu Long cho thành phố và cho cả nớc, do vậy giá cả màu lơng thực giảm, có lúc giá khoai mì giảm còn đến mức giá bán cha bù đắp đợc công thu hoạch và vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Về cây công nghiệp, Thành phố đã xác định một số cây công nghiệp chủ lực phù hợp với từng vùng đất, cung cấp nguyên liệu cho cây công nghiệp chế biến nh: đậu phọng, 8
  9. mía, thơm, thuốc lá... Đậu phọng và thuốc lá là 2 cây công nghiệp có giá trị xuầt khẩu cao, tập trung chủ yếu trên vùng đất xám Củ Chi, Hóc Môn. Cây thơm trồng chủ yếu ở nông trờng Phạm Văn Hai, vùng đất nhiễm phèn phiá Tây Nam thành phố, diện tích và sản lợng cao nhất đạt đợc vào năm 1987, cung ứng cho Thành phố, cho chế biến xuất khẩu. Sau đó đến năm 1989-1990 diện tích thơm giảm gần hết do mất thị tr ờng tiêu thụ truyền thống. Cây mía phát triển ổn định và có chiều hớng tăng dần trên vùng đất dọc sông Sài Gòn, vùng đất nhiễm phèn thuộc Nông trờng Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, NHị Xuân, riêng míc trồng trên đất xám thuộc Nông tr ờng Phạm Văn Cội phát triển tốt, năng suất cao, từ 70-80 tấn/ha, năng xuất gần gấp đôi vùng đất nhiễm phèn. Cùng với vùng trồng cây công nghiệp đã mở rộng ngành nghề sơ chế bán thủ công nh: lò sấy thuốc lá, lò ép dầu ép đậu phọng, lò đờng, cất cồn, làm bột giấy....tạo thêm công ăn việc làm và tăng mức thu nhập cho công nhân nông thôn và dân ngoại thành. Chăn nuôi, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nguyên liệu thức ăn gia súc và giá cả tiêu thụ. Đàn heo đến năm 1985 tăng gấp 2 lần so với năm 1976 nhng sau đó đàn heo giảm, do tiền mất giá ( lạm phát phi mã trong những năm 1986-1988), ngời chăn nuôi bị lỗ nặng. Riêng đàn gà tăng khá, bình quân tăng 7,9%/năm, tăng nhiều nhất là gà công nghiệp do có vòng quay nhanh, 8-9 tuần/lứa, nên còn đối phó đ ợc phần nào với đồng tiền mất giá. Công tác hợp tác hoá nông nghiệp, qua bớc dầu vấp váp, đợc củng cố và có phơng thức hoạt động tốt hơn, nhất là biện pháp khoán sản phẩm đã nâng cao năng xuất lao động, nâng cao sản lơng, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nông dân. Trong năm 1984 thành lập thêm 229 tập đoàn sản xuất và 46 hợp tác sản xuất nông nghiệp, đến cuối năm 1984 có 70% số hộ nông dân và ruộng đất đã tập thể hoá . Có 3 quận huyện (quận 8, Tân Bình, Gò Vấp và huyện Củ Chi, Nhà Bè, Cần Giờ) đã cơ bản hoàn thành hợp tác hoá với hình thức phổ biến là tập đoàn sản xuất. Về cơ sản vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp, ngoài các hệ thống thuỷ lợi quan trọng đã thực hiện giai đoạn trớc (1976-1980) sau những sai sót ban đầu, thời kỳ này tập trung tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống giếng n ớc tới vùng chuyên canh rau gồm hơn 20 giếng công nghiệp có lu lợng từ 30-60 m3/giờ, trên 400 giếng bán công nghiệp có lu lợng từ 10-13 m3/giờ mà hàng ngàn giếng thủ công thọc mội, và kéo lới điện hạ thế trên 60 km phục vụ nớc tới cho rau, màu, cây công nghiệp. Xây dựng 4 trạm cơ khí huyện, một số trạm trại và trung tâm giống nông nghiệp của Thành phố. Xây dựng một số công trình có ý nghĩa lịch sử nh: hệ thống thủy lợi Kinh Đông Củ Chi, bắt đầu xây dựng năm 1985 đến năm 1990 hoàn thành cơ bản hệ thống thuỷ lợi Kinh Đông gồm 11 km kinh trục chính, 22 tuyến kinh cấp 1 có chiều dài 62 km, phục vụ nớc tới khoảng 7.000 ha đất canh tác vùng Bắc Củ Chi. Xây dựng Đờng Duyên Hải nối liền Thành phố hồ Chí Minh - Nhà Bè - Cần Giờ với chiều dài hơn 36 km xuyên qua rừng sát, trên nền móng yếu vợt nhiều sông rạch, đồng thời kéo điện cao thế vợt sông Nhà Bè về đến Cần Giờ, phục vụ phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn huyện biển Cần Giờ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận văn hoá, khoa học kỹ thuật của Thành phố công nghiệp. Đồng thời vận động nhân dân thực hiện ph ơng châm 9
  10. "Nhà nớc và nhân dân cùng làm", đã xây dựng thêm cầu đờng, xây dựng công trình văn hoá và phúc lợi công cộng nh: trờng học, nhà trẻ, bệnh viện, trạm xá, các cơ sở văn hoá, thể dục thể thao, xây dựng "nhà tình nghĩa" cho các gia đình chánh sách, Thành phố quan tâm chăm lo nhiều cho vùng xa, nơi căn cứ kháng chiến cũ hiện còn nghèo khó. 4. Nông nghiệp, nông thôn ngoại thành từ những năm 1991-1990 Từ đầu những năm 1990 Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần VI về lĩnh vực nông nghiệp, triển khai và thực hiện Nghị quyết 5 Trung ơng (khoá VII tháng 6/1993) và nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Thành uỷ (Khoá V) về tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội phát triển nông thôn ngoại thành, phát triển kinh tế hoàng hoá nhiều thành phần theo định h ớng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10 Bộ Chính Trị về phát huy vai trò đơn vị kinh tế chủ hộ nông dân mang lại một số thành tựu đáng kể. 4.1 Giai đoạn 1991-1995 Sản xuất nông lâm thủy sản giai đoạn này phát triển khá đồng đều ở cả 3 ngành và đạt thành tựu quan trọng, nhờ đổi mới cơ chế quản lý, khuyền khích các thành phần kinh tế đầu t mạnh vào nông nghiệp kể cả đầu t nớc ngoài đều phát huy hiệu quả, kết hợp với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên cơ cấu cây trồng vật nuôi từng bớc chuyển đổi theo hớng sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao. Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản có tốc độ tăng trởng khá, bình quân tăng 4,9%/năm. Ngành nông nghiệp tăng trởng bình quân4,3%/năm, trong đó trồng trọt tăng khá 3,5%/năm, là giai đoạn mà ngành trồng trọt có tốc độ cao đứng thứ nhì trong 25 năm qua (sau giai đoạn 1981-1985 tăng 5,3%/năm). Chăn nuôi bình quân tăng 5,1%/năm, trong đó đàn bò sữa tăng cao 18,8%/năm. Ngành lâm nghiệp tăng dịên tích rừng phòng hộ tập trung và tăng nhiều cây trồng phản tán, nhng là rừng phòng hộ, không khai thác kinh doanh, nên giá trị sản xuất không tăng. Ngành thuỷ sản co 1tồc độ tăng trởng cao, bình quân tăng 10,3%/năm, trong đó nuôi trồng tăng 11%/năm và đánh bắt tăng 9,6%/năm. Chuyển dịch cơ cấu các ngành nông lâm thủy sản. Ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất và tiếp tục xu hớng giảm từ 83,6% vào năm 1990 giảm còn 81,2% năm 1995, cùng thời gian tơng ứng, tỷ trọng trồng trọt giảm từ 55,5% còn 51,8%, chăn nuôi tỉ trọng gần nh không thay đổi (21,4% và 21,6%). Ngành ng nghiệp tăng khá từ 12,8% lên 16,4%, trong đó đánh bắt tăng nhanh hơn nuôi trồng, tỷ trọng đán bắt tăng từ 7,9% lên 9,8% và nuôi trồng tăng 4,8% lên 6,4%. Ngành lâm nghiệp có tỉ trọng ít thay đổi và giảm qua mấy thời kỳ từ 1985 chiếm tỉ trọng là 6% giảm còn 3,6% năm 1990 và giảm 2,5% năm 1995, do là rừng phòng hộ nên không tính giá trị sinh khối tăng tự nhiên. Riêng ngành thủy sản và lĩnh vực dịch vụ nông kâm thủy sản tiến triển mạnh tỷ trọng ngày càng cao. 10
  11. Trong trồng trọt: nhiều giống mới đợc đa vào sản xuất: Giống lúa mới ngắn ngày năng xuất cao, lúa đặc sản, giống rau cao cấp, giống mía mới (Đài Loan -Trung Quốc), giống cây ăn trái đặc sản địa phơng và nhập nội (Thái Lan) và các loại hoa kiểng. Diện tích lúa 1 vụ giảm dần chuyển sang mô hình VAC, kinh tế tổng hợp là cây trồng ăn trái, đạt hiệu quả cao hơn. Lúa: giai đoạn này diện tích gieo trồng lúa không thay đổi từ 79.257 ha năm 1990 và 79.355 ha năm 1995 nhng cơ cấu mùa vụ lúa có thay đổi, giảm diện tích lúa một vụ và một số diện tích lúa ở vùng đô thị hoá , nhng do có mở rộng diện tích tăng vụ lúa Đông xuân, lúa Hè -Thu, nhờ có diện tích lúa cả giai đoạn này còn đ ợc tăng trên 100 ha, năng xuất lúa bình quân vẫn giữ ở mức 3,0 tấn/ha và 3,1 tấn /ha, nên sản l ợng lúa không đáng kể. Rau: giai đoạn 1991-1991 tăng khá cả diện tích, năng xuất và sản lợng từ 11.921 ha tăng 12.761 ha, năng xuất tăng từ 17,9 tấn/ha tăng lên 22,5 tấn ha và sản lợng rau tăng 73,7 tấn. Đặc biệt là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, giảm diện tích rau vụ Đông xuân, thờng bị dội chợ khá rẻ, tăng diện tích rau hè thu và rau vụ muà, nhờ có gia tăng chất lợng và giá trị rau. Đa vào sản xuất các giống rau cao cấp trong vụ hè thu, cung ứng rau chất lợng cao quanh năm cho Thành phố và một phần cho xuất khẩu, phần nào lấn thị phần rau Đà Lạt. Đậu phọng: giai đoạn này tăng 984 ha, năng xuất từ 1,8 tấn/ha lên 2,1% tấn/ha, sản l - ợng tăng trên 3.000 tấn ( tăng gần 1,3 lần so năm 1990). Míc tăng 1.000 ha, năng xuất tăng từ 41 tấn/ha lên 47,6 tấn/ha sản lợng tăng gần 800 tấn. Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hớng sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao; giảm diện tích lùa độc cánh một vụ năng xuất xuất thấp, tăng cây trồng thực phẩm và cây trồng công nghiệp hàng năm và cây trái thực hiện theo h ớng chỉ đạo tại Nghị quyết 8 Thành ủy khoá V. Chăn nuôi: giai đoạn náy phát triển mạnh các loại giống: gia súc và gia cầm cho thịt, trứng, sữa đặc biệt là về bò sữa. Về trâu, đàn trâu giảm từ 32.532 con (1990) còn 26.521 con (1995) vẫn giữ đợc đàn trâu cày kéo ( từ 17.650 con còn 39.922 con) chủ yếu là giảm bò thịt, không giảm bò cày kéo, riêng đàn bò vắt sữa tăng rất mạnh từ 2.100 con tăng lên 6.650 con, trong 5 năm tăng hơn 3 lần, là giai đoạn tăng trởng cao nhất trong lịch sử phát triển đàn bò sữa ngoại thành, bình quân tăng 25,9%/năm. Đàn gia súc có xu hớng giảm, đàn trâu bò thịt do ít có hiệu quả kinh tế hơn bò vắt sữa, đàn trâu bò cày kéo vẫn giữ vững. Đàn heo theo thời gian sụt giảm, thời kỳ này tăng 2,9%/năm, nhờ tìm đợc thị trờng mới để xuất khẩu thử thịt để chế biến. Đàn gà tăng 3,1%/năm, trong đó có sự góp phần của công ty liên doanh gà Việt Thái, phỏng theo hình thức nuôi gà gia công trong nhân dân. Đàn vịt đã tăng khá, tốc độ bình quân 10,29%/năm, điểm mới là phát triển tăng đàn vịt ở vùng nớc lợ (Nhà Bè, Cần Giờ), đặc biệt trong mùa khô nớc có độ mặn cao đàn vịt đẻ trứng càng nhiều và chất l ợng trứng tốt hơn (trứng có tròng đỏ và đậm). Trong chăn nuôi có sự chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hớng tăng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đáp ứng thị trờng thịt sữa, trứng ngày càng tăng. 11
  12. Thủy sản: đáng chú ý là phát triển mạnh về nuôi nghêu, sò ven bãi biển Cần Giờ, sản xuất giống tôm càng xanh, một số loại cá, nhất là phát triển nuôi tôm, cá có chất lợng cao nh: tôm xú, cua lột, baba, cá sấu. cá cảnh, cá rô phi đực đơn tính.... nhiều điểm sản xuất cá cảnh tiêu thụ mạnh trên địa bàn Thành phố và một phần xuất khẩu. Các hoạt động dịch vụ trong nông nghệp và thủy sản ngày càng phát trển đa dạng. Trong lâm nghiệp: công tác quản lý rừng phòng hộ có nhiều tiến bộ, đã giao đợc 14.000 ha rừng phòng hộ cho dân quản lý. Một số khu lâm viên, rừng lịch sử văn hoá ở Củ Chi, Thủ Đức Giờ đợc đầu t tôn tạo. Trong 5 năm 1991-1995 trồng mới 5.840 ha rừng phòng hộ mà trên 1,4% triệu cây phân tán đa tổng diện tích rừng tập trung Thành phố đạt hơn 33.000 ha trong đó 30.500 ha rừng phòng hộ. Về cơ sở vật chất kỹ thuật: giai đoạn này đợc xây dựng mới, công trình ngăn mặn hệ thống thủy lợi Hóc Môn - Bắc Bình Chánh (khởi công năm 1993) với công trình cống An Hạ để mặn giữ ngọt vùng đất củ khu Tây Nam Thành phố, tiếp tục hoàn thành hệ thống thủy lợi kinh Đông Củ Chi, năm 1993 xây dựng và hoàn thành thêm tuyến kinh N31A đã mở rộng diện tích tới vùng đất phía Nam Củ Chi gồm 3.526 ha đất canh tác đồng thời chuyển giao quản lý thủy nông cho xã, ấp, xóm quản lý sử dụng nớc tới hợp lý phát huy hiệu quả sản xuất. Từ khi có nghị quyết 10 Bộ Chính trị xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, Sản xuất nông nghiệp Thành phố có sự chuyển đổi mạnh mẽ, kết quả sản xuất mạnh hơn, nh - ng thiếu quan tâm tiếp tục chỉ đạo giúp đỡ hớng dẫn tập đoàn sản xuất, hợp tác xã còn tồn tại đi vào kiểu cách làm ăn mới, không kịp thời rút kinh nghiệm những hình thức hợp tác mới ở một số khâu đang xuất hiện một cách tự nguyện. 4.2 Giai đoạn 1996-1999 Giai đoạn này Thành phố tiếp tục thực hiện tinh thần Nghị quyết lần thứ 5 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khoá VII về " tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ kinh tế -xã hội nông thôn". Mục tiêu đặt ra là tiếp tục giải phóng sức sản xuất, khai thác và huy động cao nhất mọi nguồn lực, mọi tiềm năng để phát triển mạnh nông nghiệp và kinh tế nông thôn.... Để thực hiện mục tiêu trên đây, phải gắn nông nghiệp và kinh tế nông thôn với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nớc, coi đó là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa chiến lợc, thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp và sản xuất nông thôn, xây dựng, đổi mới quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và yêu cầu phát triển không ngừng của lực lợng sản xuất theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời bớc đầu thực hiện Nghị quyết 6 của Bộ Chính Trị Khoá VIII về "đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, phát triển ngành nghề truyền thống, gắn sản xuất với thị trờng...". "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng nhanh khối lợng sản phẩm hàng hoá, nhất là hàng nông lâm thủy chế biến". 12
  13. Giai đoạn này có sự biến động nhiều về đất nông nghiệp nhất là sau khi Thành phố công bố qui hoạch tổng mặt bằng đến năm 2020 và chơng trình đô thị hoá ngoại thành, tạo thành " cơn sốt " săn lùng mua đất nông nghiệp ở các vùng qui hoạch đô thị hoá, nhằm chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng khác, nhất là sau khi ban hành Nghị định 03/CP của Chính Phủ về việc thành lập 5 quận mới.Đất nông nghiệp giảm mạnh từ năm 1995 êến năm 1999, giảm trên 4.145 ha mà hầu hết diện tích này cha sử dụng còn bỏ hoang, tập trung nhiều ở các quạn mới, dọc các trục giao thông chính giữa các vùng đô thị hoá, trong đó đất lúa màu giảm mạnh từ khoảng 2.200 ha và đất cây trồng hàng năm khác giảm khoảng 1.900 ha, đồng thời cũng ảnh h- ởng đến tâm lý ngời nông dân dân vùng qui hoạch không mạnh dạn đầu t vào sản xúât, diện tích bỏ hoang tăng nhanh, làm ảnh hởng không nhỏ đến mức tăng trởng chung của ngành nông nghiệp. Mặc dù có nhiều cố gắng đẩy mạnh sản xuất, nhng diện tích gieo trồng các loại cây trồng chính đều giảm đáng kể, trong đó diện tích lúa năm 1999 so với năm 1995 giảm 1.610 ha. Cùng thời gian tơng ứng, diện tích trồng rau giảm 2.832 ha, đậu phọng giảm 3.254 ha, mía giảm 1.344 ha. Riêng diện tích cây ăn trái và hoa kiểng tăng khá. Trong nông nghiệp, giá trị sản xuất trồng trọt giảm mạnh, bình quân giảm 2,7% năm, trong đó sản lợng trồng trọt các loại cây trồng chính đều giảm. Sản lợng lúa từ 246.000 tấn năm 1995 giảm còn 225.500 tấn năm 1999 bình quân giảm 2,2%/năm. Cùng thời gian t - ơng ứng, sản lợng rau từ 287.100 tấn giảm còn 182.000 tấn, bình quân giảm 12%/năm, sản lợng đậu phọng giảm từ 12.987 tấn còn 5.644 tấn, bình quân giảm 23,1%/năm, sản lợng mía giảm từ 276.100 tấn còn 209.300 tấn, bình quân giảm 7,2%/năm. Tuy diện tích cây trồng và giá trị sản xuất trồng trọt giảm, nh ng chăn nuôi đã đẩy mạnh phát triển và tốc độ tăng trởng bình quân đạt 4,4%/năm, trong đó đàn bò vắt sữa tiếp tục tăng mạnh đến nay là 10.857 con tăng 4.162 con so với năm 1995, tốc độ tăng bình quân 21%/năm. Trong thời gian 5 năm đàn bò sữa tăng hơn 2,6 lần và nếu tính cả 2 thời kỳ, trong 9 năm từ 1991-1999 đàn bò vắt sữa tăng 5,7 lần, tốc độ tăng trởng bình quân là 21,3%/năm, đây là thành tựu hiếm có trong ngành nông nghiệp. Cùng thời gian tơng ứng, đàn gà tăng 735.000 con bình quân tăng 6%/năm, đàn heo tăng 16.800 con bình quân tăng 1,8%/năm. Ngành thuỷ sản và lâm nghiệp có biến động nhỏ không đang kể. Đặc biệt giai đoạn này phát triển mạnh các dịch vụ, trong đó dịch vụ nông nghiệp tăng 5,1%/năm và dịch vụ thủy sản liên tục tăng mạnh bình quân 22%/năm, chủ yếu là dịch vụ đánh bắt xa bờ. Từ đó mà tổng giá trị sản xuất nông ng thủy sản giai đoạn này vẫn không giảm, hay cụ thể hơn là giảm không đang kể (bình quân giảm 0,1%/năm). Chuyển dịch cơ cấu: Ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu theo hớng tiếp tục giảm tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ trọng trồng trọt từ 51,8% (1995) giảm còn 46,7% (1999), cùng thời gian tơng ứng, tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 21,6% lên 25,8% và tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp tăng từ 7,8% lên 9,2%. Ngành lâm nghiệp tiếp tục giảm tỷ trọng từ 2,5% xuống còn 1,9%, cơ cầu ngành thủy sản giai đoạn này ít biến động, riêng dịch vụ thủy sản chiếm tỷ trọng thấp, nhng tăng mạnh gấp 2,5 lần, từ 0,2% (1995) lên 0,5% (1999). 13
  14. Trong trồng trọt: có sự chuyển dịch đáng kể về cơ cấu diện tích gieo trồng. Giảm diện tích lúa năng suất thấp, lúa độc canh một vụ, trong khi đó diện tích cây ăn trái vờn chuyên canh tăng nhanh. Hiện nay tổng diện tích cây ăn trái đã đợc cải tạo và trồng mới 7.816 ha cây ăn trái các loại, tăng 2.749 ha so với năm 1995 (5.067 ha) trong đó cải tạo phần lớn từ 2.140 ha vờn cũ, tốc độ tăng trởng bình quân 11,4%/năm. Đây là thời kỳ tăng trởng diện tích vờn cây ăn trái cao nhất trong 25 năm qua. Chuyển hớng và giảm diện tích một số cây trồng khác ở vùng ven để trồng hoa kiểng, cây cảnh cung ứng cho Thành phố và xuất khẩu. Một số hộ nông dân, nghệ nhân trong lĩnh vực này có thu nhập cao. Trong chăn nuôi: Chăn nuôi đại gia súc có sự chuyển đổi cơ cấu đáng kể. Đàn trâu giảm kể cả trâu kéo cày. Tổng đàn trâu năm 1996 có 26.521 con, trong đó trâu cày kéo có 17.618 con, đến năm 1999 tổng đàn chỉ còn 10.794 con bình quân giảm 20,1%/năm trong đó trâu cày kéo giảm 8000 con, nguyên nhân là do giảm nhu cầu sức kéo bằng trâu vì diện tích lúa giảm, diện tích cày máy ngày càng tăng và việc nuôi trâu thịt kém hiệu quả hơn nuôi bò thịt. Cũng do nguyên nhân trên bò cày kéo giảm mạnh, nhng đàn bò thịt và đặc biệt là bò sữa tăng mạnh. Tổng đàn bò năm 1996 có 39.922 con trong đó bò kéo cày 8.376 con, bò vắt sữa 6.695 con, đến năm 1999 tổng đàn bò có 39.864 con, bò cày kéo giảm còn 5.808 con, bò vắt sữa tăng nhanh đạt 10.857 con, đàn bò thịt tăng. Các loại gia súc gia cầm khác nh heo, gà, vịt, trứng gà, trứng vịt đều tăng. Kết quả sản xuất giai đoạn 1995-1999: mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm nhiều, nhng nhờ nỗ lực sản xuất cùng với việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đánh bắt thủy hải sản theo hớng phát triển sản xuất cây con có hiệu quả kinh tế cao, do đó giá trị sản xuất nông lâm thủy sản không giảm mà vẫn giữ đợc mức nh giai đoạn trớc là nhờ thành tích của nhân dân và các cấp lãnh đạo ở ngoại thành, nhờ có thu nhập đợc nâng cao, đời sống nông dân đợc cải thiện. Xây dựng cơ sở hạ tầng: Giai đoạn này tiếp tục đầu t hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi Hóc Môn-Bắc Bình Chánh: thi công các cầu, các cống đầu kênh T7-8-9 các cống cuối các kênh AH, bờ bao kênh ranh Long An. Đến nay đã hoàn thành hệ thống thủy lợi giai đoạn 1 vùng Bắc TL10 thuộc khu vực nông trờng Phạm Văn Hai, An Hạ, Nhị Xuân, Vĩnh Lộc, Trung Ương cấp vốn đầu t. Công trình thủy lợi kinh Đông, trên tuyến kinh N31A, hoàn chỉnh các kênh bê tông vỏ mỏng, các cống trên kênh. Công trình thủy lợi An Phú - Phú Mỹ Hng, tiếp tục thi công hoàn chỉnh tuyến đê bao và hệ thống cống tiêu. Với năng lực mới về tới tiêu đợc tăng thêm: Diện tích tới tự chảy 500 ha, diện tích tới tiêu chủ động 2.500 ha, tạo nguồn nớc ngọt 2.275 ha. Kết quả này phục vụ phát triển sản xuất, cải tạo đất chua phèn, tạo điều kiện thâm canh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và từng bớc chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao góp phần quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động nông thôn ngoại thành. 14
  15. Các chơng trình khác đợc Thành phố quan tâm đầu t nh: Công tác khuyến nông giúp nông dân ứng dụng đa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, chuyển giao các giống mới cây trồng vật nuôi, phòng trừ dịch bệnh, thực hiện quy trình IBM để sản xuất rau, đậu, thực phẩm an toàn. Tiếp tục thực hiện nâng cấp đờng nông thôn, hoàn chỉnh hệ thống cầu đờng và hoàn chỉnh mạng lới điện hạ thế nhất là vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến trớc đây. Thực hiện chơng trình nớc ngọt sinh hoạt nông thôn: thự hiện các dự án cấp nớc ngọt đến năm 2000 với các nguồn vốn: UNICEF, EURAT, SEDIF, Tầm nhìn thế giới, với số vốn đầu t 885 triệu USD và vốn ngân sách thành phố 7.876 triệu đồng. Khối lợng thực hiện 683 giếng, 466 bể lọc sắt... đem lại nguồn nớc ngọt sinh hoạt cho hàng vạn dân vùng thiếu nớc sinh hoạt nghiêm trọng ở ngoài thành. Hợp tác hoá nông nghiệp - Quan hệ sản xuất ở nông thôn từng bớc đợc củng cố. Các hình thức kinh tế hợp tác tiếp tục phát triển và hoạt động tơng đối có hiệu quả, đợc sự tác động và hỗ trợ của nhiều tổ chức, đoàn thể nh Hội nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên, các Hội nghề nghiệp với nhiều tên gọi khác nhau nh: Tổ đờng nớc, tổ điện, tổ nhân giống lúa mới, tổ tín chấp, Chi hội thú y, Chi hội làm vờn, Câu lạc bộ nông dân sản xuất giỏi ngành nông nghiệp - phát triển nông thôn đã phối hợp với Liên minh các hợp tác xã và các đuận huyện để thực hiện việc chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp còn tồn tại theo luật hợp tác xã và Nghị định 16/CP của Chính phủ. Đến nay đã có 14 hợp tác xã nông nghiệp đợc chuyển đổi, thành lập mới hai hợp tác xã trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa (1 hợp tác xã hoạt động một thời gian ngắn sau khi thành lập đã giải thể - hợp tác xã Tân Lộc quận 12); một số hợp tác xã nông nghiệp còn lại cha xác định đợc phơng hớng sản xuất kinh doanh đã tiến hành thủ tục giải thể. Vấn đề tồn tại hiện nay đối với các hợp tác xã là cha có qui định và hớng dẫn thủ tục vay vốn, việc vay tín chấp rất hạn chế. - Kinh tế hộ nông dân, kinh tế t nhân, cá thể đã có bớc phát triển nhanh, tự chủ trong sản xuất kinh doanh; một số ít hộ có vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm đã tổ chức sản xuất dạng kinh tế trang trại, kinh doanh dịch vụ tổng hợp với qui mô vừa và nhỏ. Các hộ nông dân thiếu vốn đợc ngân hàng cho vay hoặc đợc hỗ trợ vốn từ quỹ giải quyết việc làm, chơng trình xóa đói giảm nghèo, quỹ tín dụng nhân dân... đồng thời thông qua chơng trình khuyến nông hỗ trợ về kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ khoa học, giống mới, phơng thức và công nghệ sản xuất mới. Trong các lĩnh vực: th ơng mại, dịch vụ, công nghiệp - TTCN: số lợng các công ty TNHH, Doanh nghiệp t nhân, hộ sản xuất, kinh doanh cá thể ngày càng tăng; kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế do các Quận, Huyện ngoại thành quản lý (Hóc môn: 92%, Củ Chi: 93%, Cần Giờ: 97%) Về kinh tế trang trại Đây là loại hình kinh tế mới phát triển trong vài năm gần đây, qui mô diện tích đất của các trang trại ở Thành phố không lớn nh các tỉnh Tây Nguyên, Miền Đông Nam bộ và đồng bằng Sông Cửu Long, nh các hộ sản xuất đã tập trung đầu t chiều sâu, ứng dụng 15
  16. tiến bộ khoa học trong sản xuất quản lý, đa dạng hoá sản phẩm, kết hợp kinh doanh dịch vụ tổng hợp trong các lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất về dịch vụ về giống cây, giống con, kể cả hoa và cây kiểng... mang dáng dấp của sản xuất hàng hoá. Phổ biến hiện nay là dạng trang trại kinh tế hộ (khoảng trên 330 trang trại). Một số loại hình kinh tế dạng trang trại đang có ở nông thôn Thành phố trong vài năm gần đây đang có xu hớng phát triển về số lợng và nâng cao chất lợng: - Chăn nuôi là nghề sản xuất chính: qui mô 15-20 bò sữa/hộ (Gò Vấp, Hóc Môn, Quận 12), 500-1.000 heo thịt, 50-100 heo nái/hộ; chăn nuôi gà 1.000-7.000 con/hộ, có nhiều hộ chuyên môn nuôi bồ câu công nghiệp (Quận 12), cá sấu, ba ba, cá kiểng... - Trồng trọt kết hợp chăn nuôi, dịch vụ: trồng cây ăn trái 5-10 ha/hộ. Trồng mía (10-20 ha/hộ), cao su 5-10 ha/hộ. Kinh tế VAC, VAC +dịch vụ: dới 3 ha. Hoạt động của loại hình kinh tế trang trại khá năng động, đã huy động đợc số vốn khá lớn trong dân đầu t phát triển kinh tế trang trại, huy động nhân lực có trình độ quản lý và khoa học kỹ thuật tham gia phát triển sản xuất nông nghiệp đạt hiểu quả cao, mở ra triển vọng sản xuất lớn theo định hớng xã hội chủ nghĩa phù hợp với chủ trơng của Đảng và Nhà nớc. http://www.cinet.vnnews.com/hcmc/25nam/phan4/ptnn.htm Noõng nghieọp cuỷa Tp. Hoà chớ Minh sau 25 naờm xaõy dửùng vaứ phaựt trieồn Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm về kinh tế - văn hóa - khoa học kỹ thuật, đầu mối giao thông, giao dịch quốc tế và quốc nội của cả n ớc, có vị trị chính trị thứ hai sau Thủ đô Hà Nội. Thành phố có vùng nông thôn khá rộng lớn với diện tích đất sử dụng cho nông lâm nghiệp hiện nay trên 131.100 ha, chiếm 67,2% diện tích tự nhiên các huyện ngoại thành và 5 quận mới thành lập theo Nghị định 03/CP (62,7% tổng diện tích toàn thành phố). Trong nhiều năm qua, với chủ trơng đổi mới của Đảng và Nhà n- ớc và dới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy, UBND thành phố, nhiều dự án đầu t đã đợc triển khai thực hiện nhằm khôi phục, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội ở ngoại thành nhất là thủy lợi, giao thông, điện khí hóa, y tế, giáo dục. Từ đó, bộ mặt nông thôn từng bớc phát huy, sản phẩm nông lâm ng nghiệp ngày càng đa dạng, phong phú; nhiều ngành nghề đợc khôi phục, mở rộng đã thu hút nhiều lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn ngoại thành theo hớng chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội chung của thành phố. Trong lãnh vực nông - lâm - ng - nghiệp, độ phì của đất đai thành phố kém so với các tỉnh trong khu vực (trên 60% là đất phèn, phèn mặn; 10,5% là đất phù sa, 20% đất xám...) và hiệu quả sản xuất nông nghiệp không cao bằng các ngành nghề phi nông nghiệp. Nhng với sự quyết tâm phấn đấu của ngành nông nghiệp - phát triển nông thôn, sự nỗ lực của bà con nông dân nên đã hình thành đợc vành đai thực phẩm tơi 16
  17. sống, khôi phục và phát triển mảng xanh rừng phòng hộ môi tr ờng và hàng năm cung cấp khối lợng đáng kể về nông sản thực phẩm cho tiêu dùng, chế biến xuất khẩu: 200-260.000 tấn lúa, 220-250.000 tấn rau đậu htực phẩm các loại; 13-14.000 tấn đậu phộng, 250-280.000 tấn mía cây, 24-26.000 tấn thịt heo hơi, 7-8.000 tấn thịt gia cầm, 28-30.000 tấn sữa, 35-40.000 tấn thủy hải sản... Trình độ sản xuất, kỹ thuật thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học, giống mới của nông dân ngày càng nâng cao, đặc biệt là từ khi chuyển sang kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn (Nghị quyết Trung ơng 5 khóa VII), Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ơng 2 khóa VII về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới. 1. Cơ cấu sản xuất bắt đầu chuyển dịch Kết quả phát triển sản xuất nông lâm thủy sản và xây dựng nông thôn 25 năm qua, đã làm thay đổi đang kể bộ mặt nông thôn ngoại thành, bớc đầu hòa nhập với tiến trình đô thị hóa và thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ngoại thành theo tinh thần Nghị quyết 6 của bộ chính trị. Đến nay sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn ở ngoại thành đạt một số thành tựu quan trọng. Tuy diện tích đất nông nghiệp của Thành phố trong những năm gần đây giảm nhiều do quá trình đô thị hóa ngoại thành giảm 800-1000 ha/năm đất nông nghiệp bị n ớc mặn xâm nhập nhiều hơn nh huyện Nhà Bè, Cần Giờ và một số huyện Bình Chánh làm năng suất lúa và cây trồng giảm sút. Nhng nhờ sự cố gắng nỗ lực chịu khó chịu khổ cần cù lao động "một nắng hai sơng" của bà con nông dân ngoại thành, sự quan tâm chỉ đạo lãnh đạo của Thành phố tập trung đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn ngoại thành đến nay đạt một số kết quả đáng kể. Nhng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm trong mấy năm qua vẫn giữ ở mức 99-102.000 ha. Năng suất cây trồng - vật nuôi và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong sản xuất đều có bớc tăng trởng khá. Cơ cấu cây trồng - vật nuôi từng bớc chuyển dịch theo hớng nông nghiệp đô thị và phục vụ đô thị. Phát triển nông nghiệp xanh, bền vững và có hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là sự chuyển dịch ở các vùng sản xuất lúa 1 vụ năng suất thấp (Cần Giờ, Nhà Bè) và ở các quận mới thành lập (quận 2, 7, 9, 12, Thủ Đức). So với những năm đầu của thập kỷ 80, hiện nay diện tích trồng lúa của thành phố đã giảm gần 9.000 ha. Nhng cùng việc đầu t xây dựng các hệ thống thủy lợi tới tiêu, cải tạo đất và ứng dụng tiến bộ khoa học nên diện tích lúa tăng vụ đông xuân, hè thu đạt trên 27.800 ha (tăng 12.500 ha so năm 1980), năng suất bình quân đạt 3 tấn/ ha (tăng 0,7 tấn/ha, vụ mùa tăng 0,3 tấn/ha). Nhiều giống lúa mới kháng rầy năng suất cao, có chất l ợng gạo ngon và chống chịu đ- ợc các điều kiện khắc nghiệt của môi trờng đã đợc tuyển chọn, khảo nghiệm và khuyến nông đa vào sản xuất ở ngoại thành (16 giống lúa cao sản kháng rầy, 6 giống lúa trung mùa, 13 giống chịu đợc mặn, 14 giống chịu đợc phèn...). 17
  18. Trong nhiều năm qua, vùng rau xanh thành phố vẫn duy trì ở mức 11.000-12.000 ha. Năng suất và chất lợng rau ngày càng cao (năng suất bình quân hiện nay trên 20 tấn/ha, năm cao nhất 23,5 tấn/ha, tăng trên 5 tấn/ha so năm 1975). Chơng trình sản xuất rau an toàn đợc triển khai từ năm 1997 và đạt một số kết quả khá, ngày càng đợc nhiều nông dân và ngời tiêu dùng thành phố ủng hộ. Ngời trồng rau tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn đã làm quen và áp dụng các qui trình công nghệ sản xuất rau an toàn; sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh, phân bón qua lá, các chất tăng trởng hữu cơ, các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM). Môi trờng và cảnh quan du lịch, giải trí vùng nông thôn ngoại thành ngày càng đợc cải thiện, nâng cao qua việc quy hoạch phát triển cây ăn trái, hình thành các mô hình VAC, VACD (vờn - ao - chuồng - dịch vụ) cùng với việc mở rộng và phát triển nghề trồng hoa, cây cá cảnh. Năm 1999 sản xuất nông - lâm - thủy sản đạt giá trị sản xuất lớn hơn 2,5 lần năm 1976 (hơn 2,1 lần năm 1980) tốc độ tăng bình quân 4,2%/năm. Trong nông nghiệp ngành chăn nuôi có tốc độ tăng trởng mạnh, bình quân tăng 5,4%/năm, tăng hơn 3,4 lần năm 1976, trong khi đó ngành trồng trọt có mức tăng trởng chậm hơn, bình quân tăng 2,2%/năm, do diện tích đất nông nghiệp giảm nên giá trị sản xuất giai đoạn (đô thị hóa mạnh) 1995-1999 có tốc độ tăng trởng âm 2,7%/năm. Trong cả thời kỳ 25 năm (từ 1976-1999) ngành trồng trọt chỉ tăng 1,64 lần. Ngành lâm nghiệp đạt thành tích rất lớn, tổng diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng tập trung toàn Thành phố đã thiết lập đợc 32.232 ha và hằng chục triệu cây phân tán. Riêng huyện Cần Giờ trồng mới 21.292 ha rừng đớc tập trung, phục hồi tái sinh 8.916 ha rừng ngập mặn khác và hiện còn hơn 7800 ha đất trống cần tiếp tục trồng rừng (trong tổng số 38.604 ha đất rừng sác ở Cần Giờ tr ớc đậy bị giặc Mỹ hủy diệt bằng các chắt hóa học "màu da cam"). Đã phục hồi hệ sinh thái vùng ngập mặn (rừng, chim, thú, các loài bò sát, thủy hải sản), tạo môi trờng cảnh quan du lịch sinh thái gần Thành phố. Rừng lịch sử huyện Củ Chi phục hồi, tái sinh và trồng mới 516 ha, là địa điểm tham quan di tích lịch sử địa đạo và cảnh quan - sinh thái đặc tr ng cho rừng nhiệt đới ma mùa vùng Đông Nam Bộ, và còn hơn 1.500 ha rừng phòng hộ ở các địa điểm khác của ngoài thành. Ngành thủy sản có tiềm năng lớn, nhất là đanh bắt xa bờ, qui mô giá trị sản xuất năm 1999 bằng 8,23 lần năm 1976, tốc độ tăng tr ởng cao, bình quân tăng 9,9%/năm, trong đó nuôi trồng tăng cao nhất, bình quân tăng 14,6%/năm, đánh bắt tăng bình quân 8,4%. Mấy năm gần đây mở rộng qui mô đánh bắt xa bờ và trong t ơng lai còn nhiều hứa hẹn. Các ngành nông lâm thủy sản chuyển dịch phù hợp theo h ớng đô thị hóa ngoại thành: giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi và chuyển dịch theo hớng tăng cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đánh bắt có giá trị kinh tế cao. Ngành nông nghiệp có tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nông lâm thủy sản và có xu hớng giảm dần. Ngành thủy sản chiếm tỷ trọng nhỏ, nhng tăng dần và ngày càng tăng khá. Trong nông nghiệp: trồng trọt có tỷ trọng cao và xu hớng giảm dần từ 73,1% ở năm 1976 đến nay còn 46,7%. Chăn nuôi có 18
  19. tỷ trọng thấp nhng tăng mạnh dần, năm 1976 chiếm 21% năm nay chiếm 31,6% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Trong trồng trọt: giảm tỷ trọng độc canh lúa 1 vụ, tăng tỷ trọng rau, cây ăn trái, hoa kiểng... Trong chăn nuôi: giảm tỷ trọng đàn trâu, tăng tỷ trọng đàn bò vắt sữa, tăng tỷ trọng vật nuôi đặc sản... Trong ngành thủy sản: thì cả nuôi trồng và đánh bắt đều có tỷ trọng tăng khá, nuôi trồng từ 0,6% tăng lên 6,2%, đánh bắt từ 4% tăng lên 9,7% các năm tơng ứng. 2. Từng bớc hình thành các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp Đã từng bớc hình thành vành đai xanh thực phẩm, cây công nghiệp và rừng phòng hộ. Cơ cấu cây trồng đang đi vào hớng sản xuất những cây có giá trị kinh tế cao, thích ứng với yêu cầu thị trờng. Hình thành một số vùng chuyên canh có khối l ợng hàng hóa cao, nh vùng lúa cao sản và đặc sản (Bình Chánh, Hóc môn, Củ Chi...), rau cao cấp (Hóc Môn, Củ Chi); thuốc lá sợi vàng (Củ Chi), vùng cây ăn trái dọc tuyến sông Sài Gòn, sông Đồng Nai tạo cảnh quan du lịch sinh thái, vùng mía tập trung, vùng đậu phộng. Chăn nuôi tăng trởng mạnh và có bớc phát triển mới, nhất là tạo đợc giống tốt và tăng tổng đàn gia súc, làm cho tỉ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi ngày càng tăng khá. Nông nghiệp Thành phố đã tạo đợc thế mạnh so với các tỉnh về giống và dịch vụ kỹ thuật. Đàn giống gốc, giống nhập nội ngày càng tăng về số l ợng và đợc chăm sóc quản lý theo quy trình kỹ thuật hiện đại. Các cơ sở quốc doanh chuyển mạnh sang sản xuất giống và dịch vụ kỹ thuật, cung cấp cho các hộ chăn nuôi và tiếp tục di dời các cơ sở chăn nuôi quốc doanh đến vùng quy hoạch thuộc khu đất nông tr ờng Phạm Văn Cội (Củ Chi). Trên lĩnh vực phát triển đàn bò sữa, thành phố đã đi đầu cả nớc trong việc nhân giống và phát triển đàn bò sữa với tổng số con chiếm hơn 50% đàn bò sữa cả n - ớc. Đàn bò sữa liên tục phát triển tăng mạnh bình quân tăng 24% đi vào thế ổn định về năng suất và chất lợng sữa tơi, đến nay đàn bò sữa Thành phố có 21.899, trong đó có 10.857 con đang vắt sữa cung cấp từ 120-130 ngàn lít sữa mỗi ngày. Vùng bò sữa tập trung ở các huyện Củ Chi, Hóc Môn và Quận 12 tơng lai qui mô đàn bò sữa còn khả năng phát triển mạnh ở vùng này. Đàn heo tiếp tục ổn định và tăng chậm, cơ sở sản xuất giống heo của thành phố đã cung ứng giống heo tốt, có chất lợng cho 51 tỉnh thành trong cả nớc. Ngành nông nghiệp - phát triển nông thôn thành phố đã đầu t và thực hiện đạt kết quả các chơng trình nạc hóa đàn heo, sinh hóa đàn bò, phát triển các giống gà hớng thịt, hớng trứng có năng suất cao và một số đặc sản có giá trị khác. Chăn nuôi của thành phố đã và đang phát triển theo hớng công nghiệp, hiện đại hóa phù hợp với chơng trình đô thị hóa: tổng đàn gia súc, gia cầm giảm nhanh ở các quận ven, 5 quận mới, tăng nhanh ở các huyện và các vùng nông nghiệp ổn định lâu dài. Các doanh nghiệp và hộ chăn nuôi đã chú trọng và quan tâm đầu t để xử lý chất thải, cải thiện vệ sinh môi trờng. Đến nay đàn heo thành phố có trên 90% là giống ngoại có chất lợng nạc cao; năng suất sữa bò bình quân 3.720 kg/ chu kỳ (năm 1994: 2.846 kg/chu kỳ) tơng đơng với các nớc trong khu vực. Thành phố có trên 20km bờ biển, 35.500 ha, mặt n ớc sông rạch, ao hồ. Tiềm năng nuôi trồng và khai thác thủy hải sản ở các vùng nớc ngọt, nớc lợ, nớc mặn, vùng bãi bồi... còn rất lớn, hiện nay chỉ mới nuôi tôm cá trên 5.000 ha (trong đó vùng nớc ngọt 1.000- 1.200 ha), nuôi nghêu sò 1500-1600 ha. Về nuôi thủy sản phát triển mạnh cả vùng nớc 19
  20. mặn, lợ, ngọt, với tốc độ tăng trởng bình quân tăng 14,6%/năm. Đánh bắt thủy sản có tốc độ tăng trởng bình quân 8,4%/năm, đánh bắt xa bờ đợc phục hồi và phát triển trong những năm gần đây. Việc khôi phục, bảo vệ, chăm sóc rừng trồng và rừng tái sinh tự nhiên ở Cần Giờ đợc quan tâm tổ chức thực hiện kịp thời. Công tác trồng rừng phòng hộ và cây phân tán đợc chú trọng. Đến nay thành phố đã thực hiện công việc khôi phục và phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ; xây dựng các khu rừng phòng hộ, văn hóa lịch sử ở Củ Chi, Bình Chánh, quận 9; rừng thực nghiệm ở Dần Xây, Tân Tạo (Bình Chánh) góp phần quan trọng trong xây dựng chơng trình bảo vệ, cải thiện môi trờng thành phố và các tỉnh lân cận. Đã có trên 33.700 ha rừng phòng hộ tập trung (rừng trồng 21.905 ha, rừng tự nhiên 8.991 ha) và gần 50 triệu cây phân tán các loại đợc chăm sóc, quản lý, bảo vệ. Hệ động vật, thực vật rừng khôngngừng phát triển, ngày càng phong phú về chủng loại và số lợng. Đên nay rừng phòng hộ Cần Giờ đã đợc công nhận là một trong những khu dự trữ sinh quyển của thế giới và đang đ ợc nghiên cứu xây dựng thành khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn. Nhìn chung nông nghiệp ngoại thành có sự chuyển dịch khá mạnh theo h ớng nông nghiệp sinh thái, hình thành các vùng chuyên canh, vùng nông nghiệp sinh thái ven sông Sài Gòn sông Đồng Nai, vùng nông nghiệp sinh thái khu vực thủy nông kinh Đông Củ Chi, vùng sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ... nâng cao giá trị, hiệu quả sàn xuất, tạo cảnh quan môi trờng sinh thái ngoại thành ven đô của Thành phố lớn - Thành phố Hồ Chí Minh. Công tác khuyến nông bớc đầu đợc quan tâm, có tác dụng tốt đối với sản xuất, góp phần đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Các thành phần kinh tế phát triển năng động, sức sản xuất từng bớc đợc giải phóng. Việc thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế tự củ đã tạo nên động lực mới và sự năng động trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ngoại thành. Nông dân gắn bó hơn với ruộng đất, chú ý đầu t thâm canh tăng vụ, chuyển đổi kịp thời các cây con có giá trị cao thích ứng với kinh tế tị trờng. Kinh tế t nhân, cá thể phát triển, nhất là lĩnh vực chăn nuôi heo, gia cầm, bò sữa, chế biến, dịch vụ và buôn bán nhỏ đã cùng với kinh tế hộ nông dân khơi dậy một số ngành nghề ở ngoại thành, giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông nhàn. Kinh tế tập thể với một số hợp tác xã tồn tại đã chuyển đổi phơng thức tổ chức và hoạt động kinh doanh dịch vụ. Đồng thời cũng đã hình thành nhiều hình thức tổ chức hợp tác mới tự nguyện trên nhiều lĩnh vực phục vụ cho phát triển kinh tế hộ nh tổ đ- ờng nớc ở khu vực kinh Đông Củ Chi; tổ hợp tác làm thủy lợi nội đồng ở các xã nam Bình Chánh; làm giếng nớc UNICEF, tổ nuôi tôm cua, nghêu sò ở Cần Giờ - Nhà Bè, Hội ngành nghề (nuôi bò sữa, hội làm vờn...) hợp tác nghiên cứu giữa hộ sản xuất vùng nguyên liệu với các chủ máy, cơ sở chế biến công nghiệp, hợp tác trong các dự án sản xuất nông nghiệp, hợp tác vay vốn ngân hàng, hợp tác hạ thế điện; hợp tác cùng sử dụng công cụ, công trình sản xuất... 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản