Quá trình phát triển phôi ở thực vật

Chia sẻ: Võ Văn Thiệp Thiệp Hà | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:38

0
256
lượt xem
79
download

Quá trình phát triển phôi ở thực vật

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ở cây hai lá mầm: Sự phát triển phôi theo nghĩa hẹp, bắt đầu với hợp tử và kết thúc ở giai đoạn lá mầm. Sự phát triển thông qua các giai đoạn hình cầu, hình tim, hình ngư lôi và giai đoạn lá mầm có thể phân chia thành các bước có trình tự khác nhau, được đại diện ở 3 sự kiện chủ yếu

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quá trình phát triển phôi ở thực vật

  1. Qúa trình phát triển phôi ở thực v ật
  2. I. Con đường chung trong phát triển phôi 1. Ở cây hai lá mầm: Sự phát triển phôi theo nghĩa hẹp, bắt đầu với hợp tử và kết thúc ở giai đoạn lá mầm. Sự phát triển thông qua các giai đoạn hình cầu, hình tim, hình ngư lôi và giai đoạn lá mầm có thể phân chia thành các bước có trình tự khác nhau, được đại diện ở 3 sự kiện chủ yếu: - Sự phân chia không đối xứng của hợp tử, dẫn đến làm cho các tế bào ở đỉnh thì nhỏ, các tế bào cơ bản thì lớn. - Sự hình thành khuôn mẫu một cách rõ ràng, xảy ra ở giai đoạn hình cầu. - Sự chuyển biến của giai đoạn lá mầm xảy ra đồng thời với sự bắt đầu của mầm rễ, mầm lá thông qua mầm của thân.
  3. - Cây Một lá mầm chỉ phát triển một lá mầm nằm ở đỉnh ngọn, còn chồi mầm thì nằm ở bên cạnh. Kiểu một lá mầm của phôi Một lá mầm chỉ gặp ở thực vật Hạt kín. Ở cây Hai lá mầm cũng như ở cây Một lá mầm có sự khác nhau rất lớn trong cách phát triển phôi của từng nhóm riêng. Hiện nay ít nhiều đã xác định được một số kiểu phát triển và cấu tạo khác nhau của phôi. Những kiểu đó phân biệt với nhau bởi cách phân chia đầu tiên của hợp tử (phân cắt dọc, hay ngang hoặc xiên), bởi tính chất của tế bào tận cùng của tiền phôi hai tế bào và bởi mức độ tham gia của tế bào gốc vào việc hình thành phôi.
  4. 3. Trình tự phát triển phôi của cây hạt trần được chia thành 3 pha: -Giai đoạn tiền phôi: bao gồm tất cả các bước trước khi dây treo kéo dài. -Giai đoạn phát sinh phôi sớm: tất cả các giai đoạn sau khi dây treo kéo dài và trước khi hình thành mô phân sinh chồi. -Giai đoạn phát triển hậu phôi: trải qua lịch sử phát triển phôi, bao gồm sự hình thành mô phân sinh rễ và mô phân sinh chồi. →Ba bước phát triển phôi ở thực vật hạt trần tương đương với các giai đoạn phát triển phôi theo nghĩa hẹp ở thực vật hạt kín, kế tiếp là giai đoạn trưởng thành của phôi.
  5. Các giai đoạn phát triển phôi ở thực vật hạt kín và hạt trần. Quá trình phát triển phôi soma và phát triển phôi hợp tử
  6. 4. Diễn biến các pha (ví dụ ở Arabidopsis) a. Giai đoạn octant. Sau thụ tinh, hợp tử phân chia không đối xứng tạo nên hai tế bào có kích thước khác nhau, tế bào nhỏ ở đỉnh và tế bào lớn ở đáy. Tế bào đỉnh chứa nội chất được cô đặc lại, đó cũng là nơi chứa nhiều enzym của các hoạt động tổng hợp, trong khi tế bào đáy và con cháu của dòng tế bào này hóa không bào cao. Tế bào đỉnh phân chia 3 lần, tạo thành 8 tế bào, là giai đoạn octant. Tại giai đoạn này đã có sự phân biệt chức năng của các vùng. Giai đoạn octant 16 tế bào: Phôi ở giai đoạn octant, 8 tế bào bên ngoài của vỏ nguyên sinh được phân biệt với 8 tế bào bên trong. những nếp lồi phân chia kiểu đối nghiêng một cách có ưu thế trong lớp tế bào bên trong nên lớp vỏ nguyên sinh vẫn được tách ra từ lớp tế bào bên trong ở suốt quá trình phát triển.
  7. 3. Diễn biến các pha b. Giai đoạn hình cầu được duy trì trong một thời gian, sự phân chia của những tế bào bên trong dẫn đến sự hình thành trục phôi và sự biệt hóa vùng. ở giai đoạn phôi hình cầu, khi số lượng tế bào tăng lên hơn 100 thì phôi dần chuyển sang hình tam giác bởi vì sự phát triển định vị tại hai điểm đối diện nhau trong vùng đỉnh. c. Đầu giai đoạn phôi hình tim, có xấp xỉ 200 tế bào và là nguồn gốc chủ yếu của các cơ quan trong hạt như lá mầm, trụ dưới lá mầm, rễ nguyên thủy, cũng như những loại mô cơ bản, tiền mạch, vỏ phân sinh ngọn và vỏ là thấy rõ về mặt cấu trúc. Kết thúc là giai đoạn 2 lá mầm đã hình thành rõ rệt, sự biệt hóa các vùng, cơ quan và hạt đi vào giai đoạn nghỉ.
  8. II. Nội dung trong quá trình phát triển phôi 1.Xác định trục phân cực trong giai đoạn sớm của phát triển phôi hợp tử. * Phôi ở Arabidopsis và một số loài khác: tính phân cực đỉnh-gốc được hình thành trước lần phân bào đầu tiên của hợp tử được chứa đựng trong bản thân của tế bào trứng (noãn một số loài, tính phân cực do sự sắp xếp lại các thành phần của chất nguyên sinh
  9. Các nhân tố ảnh hưởng tính phân cực
  10. 2. Quyết định số phân của tế bào: Phôi – dây treo - Hợp tử trải qua lần phân chia không đối xứng đầu tiên tạo ra 2 tế bào có kích thước không giống nhau và phát triển theo những hướng khác nhau: + tế bào có kích thước lớn (tế bào gốc), được hình thành từ vùng tế bào có không bào lớn và phát triển thành dây treo. + tế bào có kích thước nhỏ (tế bào đỉnh), được hình thành từ vùng tế bào có nhiều chất nguyên sinh và phát triển thành phôi. - Dây treo do tế bào gốc phân chia theo mặt phẳng nằm ngang, tạo nên một trục gồm 7-9 tế bào. Chỉ duy nhất tế bào trên cùng sát với phôi, tham gia vào sự phát triển phôi tạo nên một phàn của mô phân sinh rễ. Dây treo có chức năng: vận chuyển chất dinh dưỡng và hormone cho phôi và đẩy phôi và sâu bên trong nội nhũ.
  11. * Yếu tố quyết đinh số phận tế bào Có 2 cơ chế hình thành nên số phận khác nhau của tế bào: sự phân chia không bằng nhau của các tế bào phân cực và vị trí quyết định số phận tế bào. Cả 2 cơ chế đó đều được thực hiện trong quá trình phát triển phôi. Mặt phẳng chính xác của sự phân chia tế bào đóng vai trò quan trọng trong phát triển phôi khi sự phân chia tế bào chất và những phân tử điều hòa được phân cực.Kết quả là sự phân chia không đối xứng của tế bào con có thể thừa hưởng phần tế bào chất khác nhau và ở đó đã có sự phân biệt số phận của tế bào.
  12. Thí nghiệm trên Fucus chứng minh vai trò của vách trong tế bào Sự biệt hóa của 2 tế bào phôi Fucus phụ thuộc vị trí phải được liên kết với nhân tố vách.
  13. * Yếu tố quyết định số phận tế bào - vai trò của thành tế bào trong sự quyết định số phận của tế bào Pectin là một thành phần cấu tạo nên thành tế bào, có chứa loại polysaccharide là Arabinogalctan (phát hiện thông qua phản ứng miễn dịch của kháng thể đơn dòng), một phần phân tử này liên kết với protein đặc biệt trên màng nguyên sinh chất gọi là Arabinoglactan protein (AGP). Vị trí của AGP có sự phân bố khác nhau trong quá trình phát triển phôi. Dùng kháng thể JIM8(kháng thể liên kết với APG) để phát hiện vị trí của AGP và thấy rằng: JIM8 chỉ bám lên phần tế bào hợp tử, sau lần phân chia, tế bào nào vẫn có sự biểu hiện của JIM8 sau này phát triển thành dây treo.
  14. * Yếu tố quyết đinh số phận tế bào - Các polysaccharide đóng vai trò quyết định số phận của tế bào trong giai đoạn sớm, đồng thời chúng còn duy trì hoạt động phân chia của phôi.Khi dùng thuốc thử Yariv, liên kết và ức chế AGP đã làm giảm tất cả quá trình phát triển của đỉnh và rễ. * Cơ chế phân tử thực hiện vai trò của thành té bào được thực hiện nhờ protein GNOM (GN). Gen gn bị đột biến đã gây ra những sai sót trong lân phân chia không đối xứng đầu tiên. Vai trò của GN có liên quan đến các túi vận chuyển của Golgi: nó định hướng một cách chính xác phương hướng cho các túi vận chuyển các chất quan trong đến màng và thành tế bào Như vậy: thành tế bào quyết định số phận của các tế bào nhưng GN là đối tượng thực hiện quyết định đó.
  15. 3. Sự hình thành trụ phôi Sự khởi đầu của trục phôi xảy ra thông qua sự định hướng phân chia chính xác trong giai đoạn sớm của phôi hình cầu, có thể phản ánh vài tín hiệu là vector trực tiếp trong phân cực đỉnh – cơ sở. Đột biến ở 3 gen MONOPTEROS (MP), BODENLOS (BDL) và AUXIN RESISTANT 6 (AXR 6) gây trở ngại cho mức độ biến đổi với sự hình thành của trụ phôi được nhận ra bởi sự thiếu định hướng trong vùng cơ bản.
  16. 4. Sự hình thành mô phân sinh rễ và chồi - Ở loài 2 lá mầm, nguồn gốc của mầm rễ xuất hiện vào cuối của sự hình thành kiểu phôi. Lá mầm được chỉ rõ từ vùng bên tại điểm cuối của đỉnh. Sự hình thành lá mầm là kết quả của giai đoạn phát triển hình tim. Ở cây một lá mầm, cả mô phân sinh rễ và chồi được hình thành bắt đầu phía bên hơn là ở ngoài mút (xa tâm). Vùng xa tâm ở phía trên của mô phân sinh thân trải rộng đáng kể để hình thành nên mảnh mày ( vốn là phần phụ của lá mầm gắn cạnh phôi thuộc họ Hòa thảo, khi hạt nảy mầm sẽ tiết ra các enzyme thủy phân vào nội nhũ bên cạnh và hấp thụ đường từ đó). - Cuối của sự phát sinh phôi trong cây hạt trần có giai đoạn tạo mô và tạo cơ quan. Trong giai đoạn sớm này, mô phân sinh đỉnh rễ và chồi đã được vạch ra và trục của cây được hình thành. Mô phân sinh đỉnh rễ gần trung tâm của phôi trước như là trung tâm của cơ quan rễ. Mô phân sinh chồi hình thành tại phần xa của khối phôi hình cầu. Lá mầm nguyên thủy xuất hiện trong vòng quanh điểm cuối
  17. 5. Biệt hóa mô mạch Những tế bào đầu tiên thuộc tiền thượng tầng được hình thành qua sự phân chia bao quanh, ghép vòng ở vùng trung tâm của l.t. Người ta biết được đột biến chấm dứt chọn lọc quá trình này đó là lớp cảm nhận auxin, gồm đột biến của mp, bdl, axr6. (Hardtke và Berleth, 1998, Hamann, 1999). Những khuyết tật đó là phù hợp với vai trò giả định của auxin trong việc thúc đẩy định hướng biệt hóa mô mạch. (Sachs 1981, 1991), đã chỉ ra tín hiệu auxin ở cực liên quan đến cả việc hình thành trục đỉnh – cơ sở và kiểu phóng xạ giữa các tế bào bên trong. Sự kiện dẫn tới sự biệt hóa tế bào phụ thuộc vào chức năng của gen MP, BDL, AXR6 chưa được biết rõ. Có thể chúng là thành phần tạo nên cơ chế feedback của auxin-flow-cell-polarization, vì vậy mà gián tiếp thúc đẩy biệt hóa của mô mạch
  18. 5. Biệt hóa mô mạch Gần đây, đã phát hiện thấy cytokinin cũng liên quan đến phân chia và biệt hóa tế bào bên trong trụ mạch. Đột biến mất chức năng của gen CYTOKININ RESPONSE1/WOODEN LEG (CRE1/WOL) dẫn tới giảm phân bào ở trung tâm của mô phân sinh rễ và sự hình thành của phloem bị giảm đi hoặc không có trong đột biến ở trụ dưới lá mầm và rễ. Gen CRE1/WOL mã hóa cho hai thành phần protein kinase liên kết màng và được nhận biết như là cytokinin thụ thể. Sự điều khiển phân bào thông qua cytokinin, trở thành yếu tố quan trọng để hình thành những tế bào chính thức và phloem trong trụ mạch
  19. III. Vai trò của các yếu tố điều khiển phát triển phôi. 1. Vai trò của gen trong quá trình phát triển phôi. Lớp 1: biểu hiện ở tất cả các giai đoạn, có chức năng đòi hỏi cho sự phát triển bình thường của thực vật. Lớp 2: biểu hiện trong giai đoạn phôi chính thức, và dừng lại khi hạt nảy mầm. Lớp 3: gen được biểu hiện ở mức cao trong giai đoạn sớm của phát triển phôi tới giai đoạn lá mầm. Lớp 4: những gen biểu hiện trong quá trình mở rộng của lá mầm và trưởng thành của hạt. Lớp 5: những gen được biểu hiện một cách phong phú ở giai đoạn cuối của phát triển phôi tới giai đoạn trưởng thành của hạt. Những gen được hoạt hóa bởi ABA.
  20. 1. Vai trò của gen trong quá trình phát triển phôi. • Để xác định vai trò của gen, người ta tiến hành nghiên cứu các đột biến: - Đột biến suspensor (sus) đã tạo ra hình dạng không bình thường của dây treo. Đột biến raspberry đã làm cho phôi đình trệ không phát triển, dây treo lại tiếp tục trải qua nhiều lân phân chia và mang những đặc điểm giống với phôi. - Đột biến twin đã gây nên sự biệt hóa lại của dây treo, chúng phát triển thành phôi (sau khi phôi do tế bào đỉnh bị ngưng trệ) • * ở những phôi không bị đột biến đã phát tín hiệu đến dây treo và duy trì số phận của nó. Trong trường hợp các đột biến như sus và raspberry, twin các tín hiệu đó không được tạo ra nên dây treo tiếp tục phân chia, biệt hóa và phát triển thành phôi theo con đường chung. • Đột biến thuộc đỉnh (gurke) sẽ sai lạc trong mô phân sinh chồi và lá mầm, đột biến trung tâm ( fackel) không có trụ dưới lá mầm gắn với rễ. Đột biến cơ bản (monopterous) không có trụ dưới lá mầm cũng như rễ. (ở giai đoạn hình tim)
Đồng bộ tài khoản