Quản lí thu thuế giá trị gia tăng

Chia sẻ: phuong2401

Lời nói đầu Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Như vậy, có thể thấy rằng

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Quản lí thu thuế giá trị gia tăng

Lời nói đầu


Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách
Nhà nước, là công cụ quan trọng để phân phối và
phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân. Như vậy, có thể thấy rằng Thuế là một
biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước. Song để biện
pháp đó đạt hiệu quả sẽ rất cần đến một bộ phận
chuyên trách, chất lượng trong quá trình quản lý
và hành thu.
Nhận thức được điều này, đồng thời để bắt
nhịp được với bước chuyển biến về cơ cấu, thành
phần kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi cải
cách hệ thống Thuế bước hai. Trong đó, nổi bật
nhất là việc thay thế 2 sắc thuế Doanh thu và thuế
Lợi tức bằng thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu
nhập doanh nghiệp được thông qua tại kỳ họp thứ 11
và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999. Đây là bước
đi vô cùng quan trọng, thể hiện sự mạnh dạn của
Đảng ta trong công cuộc đổi mới nền kinh tế. Tuy
nhiên sự khởi đầu nào cũng đều có những chắc trở
không thể tránh khỏi, nhất là ở khu vực kinh tế cá
thể cả nước nói chung và đặc biệt ở Quận Ba Đình
nói riêng. Để có thể tháo gỡ được những khó khăn
này và tìm ra hướng đi mới là cả một vấn đề nan
giải đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và các cơ
quan hữu quan.

Trang 1
Quận Ba Đình là một trong 7 Quận nội
thành của thành phố Hà nội. Quận Ba Đình không
rộng về diện tích nhưng có nhiều trụ sở, cơ quan
trung ương của Đảng, chính phủ, các cơ quan ngoại
giao, đại sứ quán. Tuy nhiên hoạt động sản xuất
kinh doanh ở đây cũng rất phong phú. Qua thời gian
thực tập ở Chi cục Thuế quận Ba đình, được sự giúp
đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và các cán bộ
công tác tại Chi cục, tôi đã đi sâu nghiên cứu và
phân tích tình hình thực tế quản lí thu thuế giá
trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn
Quận Ba đình trong những tháng đầu triển khai luật
thuế mới này.Từ đó cũng xin được đưa ra một số
phương hướng nhằm tăng cường công tác quản lí thu
thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể,
góp phần tăng thu cho Ngân sách nhà nước.
Bắt nguồn từ những lí do trên nên đề
tài có tên gọi là: “Bàn về công tác quản lí thu
thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể
trên địa bàn quận Ba đình" .


Toàn bộ đề tài được trình bày theo
kết cấu sau:


Phần I: Sự cần thiết phải quản lý thuế giá
trị gia tăng đối với thành phần kinh tế cá thể
hiện nay.




Trang 2
Phần II: Tình hình quản lý thu thuế giá trị
gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn
quận Ba đình trong quý I năm 2003
Phần III: Một số phương hướng tăng cường
quản lý thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh
tế cá thể ở quận Ba đình.


Vì thời gian thực tập và trình độ hạn hẹp
nên bài viết không thể tránh khỏi khiếm khuyết,
sai sót. Rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các
thầy cô, các cán bộ thuế và những người quan tâm.


Xin chân
thành cảm ơn.




Trang 3
Mục lục
Phần I: Sự cần thiết phải quản lý
thuế giá trị gia tăng đối với thành phần
kinh tế cá thể hiện nay.


I. Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị
trường:
1. Khái niệm, đặc điểm của thuế.
2. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị
trường.


II. Sự cần thiết phải áp dụng thuế giá trị gia tăng
ở nước ta hiện nay:
1. Sự cần thiết phải áp dụng thuế Giá trị
gia tăng thay cho thuế Doanh thu.
2. Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm
nổi bật.
3. Nội dung cơ bản của luật thuế giá trị
gia tăng.


I. ý nghĩa của công tác quản lý thu thuế giá
trị gia tăng đối với khu vực kinh tế cá thể:
1. Vị trí, vai trò của kinh tế cá thể
trong nền kinh tế thị
trường.




Trang 4
2. ý nghĩa của việc tăng cường quản lý
thuế giá trị gia tăng đối với khu vực kinh
tế cá thể.


Phần II: Tình hình quản lý thu thuế giá trị
gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa
bàn Quận Ba Đình quý I năm 2003.


I. Đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình quản
lý thu thuế trên địa bàn quận Ba Đình:
1. Một số nét về đặc điểm kinh tế xã hội.
2. Công tác tổ chức bộ máy thu thuế trên
địa bàn quận Ba Đình.


II. Tình hình quản lý thu thuế giá trị gia tăng
với các hộ kinh tế cá thể trên địa bàn quận Ba
Đình trong những tháng đầu thực hiện luật thuế
mới:
1. Quản lý đối tượng nộp thuế.
2. Quản lý căn cứ tính thuế.
3. Quản lý khâu thu nộp tiền thuế.


Phần III: Một số phương hướng
tăng cường quản lý thu thuế ở khu vực
kinh tế cá thể tại Quận Ba Đình.




Trang 5
I. Quản lí đối tượng nộp thuế:


1. Quản lý những hộ đã quản lý được .
2. Quản lý những hộ chưa quản lý được.


II. Quản lý về căn cứ tính thuế:


III. Một số biện pháp quản lý thu nộp trên thuế:
1. Công tác xây dựng kế hoạch.
2. Công tác đôn đốc thu nộp thuế.
3. Công tác kiểm tra và thanh tra thuế.


4. Các biện pháp về tổ chức cán bộ:
1. Chấn chỉnh bộ máy hoạt động của Chi cục
thuế Quận Ba Đình.
2. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ
một cách có hệ thống.
3. Có chính sách về lương thoả đáng đối
với cán bộ thuế.
4. Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo
của cơ quan thuế và các cấp, các ngành có
liên quan.


V. Một số biện pháp khác:
1. Từng bước đưa khoa học kỹ thuật vào
quản lý thu thuế như ứng dụng công cụ tin
học.




Trang 6
2. Làm thay đổi thói quen của người dân về
việc sử dụng hoá đơn, chứng từ.
3. Kiến nghị về văn bản luật, chính sách
của Nhà nước.

Phần I
Sự cần thiết phải quản lý thuế
giá trị gia tăng đối với thành
phần kinh tế cá thể.

I. Thuế và vai trò của thuế trong nền
kinh tế thị trường:


1. Khái niệm, đặc điểm của Thuế:


Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện
của Nhà nước và sự phát triển tồn tại của nền
kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước sử dụng thuế
như một công cụ để phục vụ cho việc thực hiện
các chức năng và nhiệm vụ của mình. Lịch sử càng
phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình
thức thuế khoá và pháp luật thuế ngày càng đa
dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của
kinh tế thị trường, các khoản đóng góp của người
dân cho Nhà nước được xác định và được quy định
công khai bằng luật pháp của Nhà nước .



Trang 7
Các khoản thuế đóng góp của dân tạo
thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Cùng với sự
hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử
dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước ngày càng mở
rộng. Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì
quyền lực của bộ máy Nhà nước, mà còn để chi
tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế.
Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một
vấn đề thời sự nóng bỏng đối với các hoạt động
kinh tế xã hội và với mọi tầng lớp dân cư.
Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận
thuế dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đứng
trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới
khái niệm như sau:
Thuế là một trong những biện pháp tài
chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước
nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao
động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng
hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và
pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để
trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà
nước và các nhu cầu chung của xã hội. Các khoản
động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật.
Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ
sự khác nhau giữa thuế với các hình thức phân
phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau
đây:




Trang 8
• Đặc điểm thứ nhất : Thuế là một biện
pháp tài chính của
Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế,
tính pháp lý cao nhưng
sự bắt buộc này là phi hình sự.
Quá trình động viên nguồn thu từ thuế
của Nhà nước là quá trình chuyển đổi quyền sở
hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và
thể nhân thành quyền sở hữu của Nhà nước. Do đó
Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiện quyền
chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc
là một tất yếu khách quan, nhưng vì các hoạt
động thu nhập của thể nhân và pháp nhân không
gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này là
phi hình sự. Vì vậy có thể nói việc đánh thuế
không mang tính hình phạt.
Đặc điểm này được thể chế hoá trong
hiến pháp của mọi quốc gia, việc đóng góp thuế
cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa
vụ bắt buộc đối với công dân. Mọi công dân làm
nghiã vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ
quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi
hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất
định.
* Đặc điểm thứ hai: Thuế tuy là biện pháp
tài chính của Nhà nước mang tính bắt buộc, song
sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền
tảng kinh tế-xã hội của người làm nhiệm vụ đóng


Trang 9
thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu
tố kinh tế xã hội.
+ Yếu tố kinh tế thể hiện : Hệ thống
thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình quân
đầu người của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế,
thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó, cũng
như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước.
Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức
độ chi tiêu của Nhà nước nhằm thực hiện các
chức năng kinh tế của mình.
+ Yếu tố xã hội thể hiện : Hệ thống
thuế phải dựa trên phong tục, tập quán của quốc
gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế
của các thành viên trong từng giai đoạn lịch sử.
Mặt khác thuế còn thực hiện phân phối lại thu
nhập xã hội đảm bảo công bằng xã hội.
Như vậy mức động viên qua thuế trong
GDP của một quốc gia phụ thuộc vào nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước và các vấn đề kinh tế, xã hội
của quốc gia đó.
* Đặc điểm thứ ba: Thuế là một khoản
đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực
tiếp. Nghiã là khoản đóng góp của công dân bằng
hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng
bằng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ
công dân đó như là một khoản vay mượn. Nó sẽ
được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua




Trang 10
cơ chế đầu tư của Ngân sách nhà nước cho việc
sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng.
Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau
giữa thuế và lệ phí. Lệ phí được coi là một
khoản đối giá giữa Nhà nước với công dân, khi
công dân thừa hưởng những dịch vụ công cộng do
nhà nước cung cấp phải trả một phần thu nhập
của mình cho nhà nước. Tuy nhiên việc trao đổi
này thường không tuân thủ theo hình thức trao
đổi ngang giá dựa trên quy luật của thị trường.
Tóm lại, Thuế là một biện pháp kinh tế
của mọi Nhà nước, nó được thực thi khi hoạt
động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn
thu nhập tạo ra. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị
trường vai trò của Nhà nước ngày càng trở nên
quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị
trí không thể thiếu được trong công tác quản lý
và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.


2. Vai trò của Thuế trong nền kinh tế
thị trường:


Sử dụng cơ chế thị trường để giải quyết 3
vấn để cơ bản của nền kinh tế (sản xuất cái gì,
như thế nào, cho ai) là phát kiến vĩ đại của
nhân loại, cơ chế thị trường thông qua những yếu
tố của nó đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất
phát triển, kích thích tăng năng suất lao động,


Trang 11
nâng cao chất lượng hiệu quả, thúc đẩy quá trình
xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ
và tập trung hoá sản xuất.
Bên cạnh những ưu điểm đó, cơ chế thị
trường có nhược điểm là gây cho xã hội những
lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến
độc quyền thủ tiêu cạnh tranh. Với cơ chế phân
phối qua thị trường thường khoét sâu hố ngăn
cách giữa người giầu và người nghèo, tạo sự bất
ổn định về kinh tế xã hội.
Từ những ưu, nhược điểm đó cần thiết
phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình
kinh tế -xã hội để phát huy những mặt tích cực
của cơ chế thị trường và hạn chế tối đa những
nhược điểm của chúng. Để quản lý, điều hành vĩ
mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều
công cụ như: Kế hoặch hoá, pháp luật, các chính
sách tài chính tiền tệ..vv.. Trong các công cụ
trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai
trò quan trọng nhất và Thuế là một công cụ quan
trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế
được nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản
lý vĩ mô kinh tế xã hội.
Có thể thấy rõ vai trò của Thuế nổi
bật ở các mặt sau:


* Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách
Nhà nước:


Trang 12
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh
phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền
kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ
thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay
mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc
gia, thu khác..vv.. Song thực tế các hình thức
thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng
buộc bởi nhiều điều kiện. Do đó thuế được coi
là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này
mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng
phát triển thì khoản thu này càng tăng. ở nước
ta, Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu
của Ngân sách Nhà nước từ năm 1990. Điều này
được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng
thu ngân sách .
Biều 1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí
trong tổng thu ngân sách nhà nước ta trong thời
gian qua ( Tài liệu của Tổng cục thuế ).


Năm Tổng số thuế % So với % So với
và phí ( tỷ tổng thu GDP
đồng) NSNN
1990 5906 73.7 14.0
1991 9844 92.7 12.83
1992 18514 88.0 16.75
1993 28695 90.5 21.0
1994 36629 89.6 21.51



Trang 13
Qua biểu trên ta thấy số thu thuế và phí đã
chiếm phần chủ yếu trong tổng thu NSNN và tăng
nhanh qua các năm, đã bảo đảm về cơ bản yêu cầu
chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm
bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp
phần ổn định trật tự xã hội, giành một phần để
tăng chi cho tích luỹ. Như vậy, chứng tỏ thuế là
nguồn thu quan trọng nhất của NSNN.


* Thuế, một công cụ góp phần điều
chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước:


Chính sách thuế được đặt ra không chỉ
nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà
yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện
chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý
hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất,
mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần
kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà
nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các
mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục
tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm
của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại
của việc quản lý Nhà nước, nền kinh tế là giải
quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Trong nền
kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác




Trang 14
định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi
chính phủ phải theo đuổi. Bốn mục tiêu đó là:
- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh
tế một cách hợp lý .
- Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho
người lao động.
- ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm
phát.
-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán
quốc tế.


Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế
là một công cụ hết sức quan trọng nhằm biến 4
mục tiêu đó thành hiện thực.


1. Thuế kích thích sự tăng trưởng
kinh tế, tạo công ăn việc làm:


Để thực hiện các mục tiêu này, một
trong những công cụ quan trọng mà nhà nước sử
dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của
thuế gồn hai mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà
nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh
hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác
động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh
doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị
trường.




Trang 15
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi
đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều
giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu
tư và khuyến khích tiêu dùng.
- Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất,
giảm thuế đối với hàng sản xuất ra để
khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích
việc đầu tư vào sản xuất.
- Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng
nhằm khuyến khích tiêu dùng.
- Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu
giữ vốn không đưa vào đầu tư, có thể tăng
thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết
kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó
sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư,
sản xuất kinh doanh.
Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn
chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển
dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà
nước dùng thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và
giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội. Song việc
tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn
cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN
vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý.
Như vậy, có thể thấy sự tác động của
thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến
việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước.
Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng


Trang 16
phát triển sản xuất. Chính sách thuế có định
hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát
triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu
vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi
phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ
kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về
mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định
nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn
việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu
nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ
kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định.


2. Thuế thực hiện vai trò tái phân
phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công
bằng xã hội:


Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân
hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có những khi bất
hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội.
Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối
lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá
này, làm lành mạnh xã hội.
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần
chênh lệch giữa người giàu và người nghèo,
thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá
công cộng. Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước


Trang 17
thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh
vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá
giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội. Một
khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều
chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu
dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia
tăng.
Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu
việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và
sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt.
Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng
thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu
nhập của người giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi
sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập,
mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng
điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu
của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng
kinh tế của đất nước.


3. Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát:


Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu
làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí
đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh
lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ
hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điều chỉnh
bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản
xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư


Trang 18
sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều
hơn. Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu
dùng để giảm bớt cầu. Nếu lạm phát do chi phí
tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc
độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà
nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách
cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng
năng suất lao động.


4. Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong
nước và tạo điều
kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới:


Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước
tránh khỏi sự cạnh tranh khốc kiệt từ bên ngoài
được coi là hết sức cần thiết đối với các nước.
Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế
xuất nhập khẩu. Để kích thích sản xuất trong
nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá
xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc
không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích
xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất
khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế nhập khẩu thấp
đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước
chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao
đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã
sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.




Trang 19
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế
đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu vực và trên
thế giới. Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính
thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm
gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc
gia với khu vực và cộng đồng quốc tế.
Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế
thị trường đòi hỏi hàng loạt các chính sách kinh
tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong
đó có chính sách thuế khoá. Kỳ họp thứ XI Quốc
hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
nam đã thông qua hai luật thuế quan trọng là
Luật thuế Giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập
doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay
thế cho Luật thuế doanh thu, lợi tức. Vấn đề
đặt ra là ngành thuế cũng như các đối tượng sản
xuất kinh doanh phải nắ m vững và thực hiện
nghiêm chỉnh 2 luật thuế này giúp cho Thuế ngày
càng có sức khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh
tế thị trường.


II. Sự cần thiết phảI áp dụng thuế thuế
Giá trị gia tăng ở nước ta hiện nay:


1. Sự cần thiết phải áp dụng thuế
Giá trị gia tăng thay cho thuế Doanh
thu:


Trang 20
Chỉ có sản xuất mới tạo ra của cải vật
chất cho xã hội và nguồn thu cho NSNN. Do đó,
Nhà nước có trách nhiệm quan tâm, tạo môi
trường thuận lợi cho sản xuất phát triển, lưu
thông được thông suốt. Một môi trường đầu tư
được coi là thuận lợi nếu trong đó, những cơ
chế chính sách được quy định phù hợp, rõ ràng,
ổn định, ít có biến động để tạo cho doanh nghiệp
yên tâm bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh
doanh.
ở nước ta, đến thời điểm này, Nhà
nước thấy cần thiết phải áp dụng thuế Giá trị
gia tăng để thay thế cho thuế doanh thu vì các
lý do sau:
Với Việt Nam, Thuế doanh thu đã
được áp dụng từ rất lâu, trước đây có tên là
Thuế doanh nghiệp, từ khi cải cách thuế bước
một (từ năm 1990) được đổi tên là Thuế doanh
thu. Thuế doanh thu có đặc trưng cơ bản là có
nhiều mức thuế suất, phân biệt theo nghành hàng
và mặt hàng. Thuế thu hàng tháng và tính trên
tổng doanh thu bán hàng, không có khấu trừ thuế
đã nộp ở khâu trước. Thuế suất được quy định
thấp.
Thuế doanh thu có ưu điểm là tính
toán đơn giản, thu dứt điểm từng lần bán hàng
mà không phải theo dõi thoái trả số thuế đã nộp


Trang 21
ở khâu trước. Vì vậy, nguồn thu của các cấp
ngân sách và giữa các địa phương cũng tương đối
ổn định.
Tuy nhiên, thuế doanh thu có nhiều
nhược điểm, trong đó, nhược điểm lớn nhất là
thu thuế trùng lắp. Thuế doanh thu quy định cứ
mỗi lần bán hàng là một lần phải nộp Thuế doanh
thu nên càng chuyên môn hoá sâu thì càng phải
nộp nhiều thuế. Ngược lại, nếu tổ chức sản xuất
khép kín kiểu tự cấp tự túc thì phải nộp ít
thuế hơn. Do đó, thuế doanh thu không phù hợp
với yêu cầu Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá. Mặt
khác, cơ chế thuế có nhiều mức thuế suất để bảo
hộ đến từng ngành hàng, mặt hàng chỉ phù hợp với
thời kỳ kế hoặch hoá, thời kì mà giá cả đại bộ
phận hàng hoá đều do Nhà nước thống nhất quản
lý.Việc quy định quá nhiều thuế suất làm cho sắc
thuế phức tạp, tạo kẽ hở để trốn thuế, lách
thuế. Mặt khác thuế Doanh thu quy định quá nhiều
các trường hợp miễn giảm thuế, nhiều khi không
đúng tính chất của thuế gián thu, gây phức tạp
cho quá trình thực hiện, quản lý.
Sang cơ chế kinh tế thị trường, giá
cả hàng hoá do cung- cầu trên thị trường quyết
định, nếu vẫn duy trì cơ chế nhiều thuế suất thì
chỉ làm tăng thêm khó khăn, phức tạp trong quản
lý và tạo nhiều kẽ hở cho trốn lậu thuế... Chính
vì vậy, trong cải cách thuế bước II này, Quốc


Trang 22
hội đã quyết định ban hành thuế Giá trị gia tăng
để áp dụng từ 1/1/2003 thay thế cho thuế doanh
thu.


2. Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm
nổi bật:


Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên
khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ
phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Vì chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hoá, dịch vụ ở từng khâu bán hàng, không
đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước,
cho nên cách tính thuế Giá trị gia tăng là rất
khoa học, rất cần thiết đối với phát triển sản
xuất theo hướng Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá và
phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Với bản chất đó, Thuế Giá trị gia tăng có
nhiều ưu điểm hơn so với thuế doanh thu, như
sau:


+ Thuế Giá trị gia tăng không thu trùng lắp
cho nên góp phần khuyến khích chuyên môn hoá,
hợp tác hoá để nâng cao năng suất, chất lượng,
hạ giá thành sản phẩm.
+ Thuế Giá trị gia tăng chỉ tính trên phần
giá trị tăng thêm, không tính vào vốn, nên góp

Trang 23
phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phù hợp
với định hướng phát triển kinh tế ở nước ta
trong thời gian tới.
+ Thuế Giá trị gia tăng góp phần khuyến
khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng xuất khẩu, vì
hàng hoá xuất khẩu chẳng những không phải chịu
thuế Giá trị gia tăng ở khâu xuất khẩu mà còn
được thoái trả lại toàn bộ số thuế đã thu ở các
khâu trước.
+ Thuế Giá trị gia tăng được thu tập trung
ngay ở khâu đầu tiên là khâu sản xuất hoặc khâu
nhập khẩu hàng hoá và thu ở mỗi khâu đều có thể
kiểm tra được việc thu nộp thuế ở khâu trước,
cho nên hạn chế được thất thu hơn so với thuế
doanh thu.
+ Thuế Giá trị gia tăng được thực hiện
thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứ
vào hoá đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã
nộp ở khâu trước. Điều đó có nghĩa là, nếu không
có hoá đơn mua hàng ghi rõ số thuế Giá trị gia
tăng đã nộp ở khâu trước thì không được khấu
trừ thuế. Vì vậy, Thuế Giá trị gia tăng khuyến
khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh khi mua
hàng phải đòi hoá đơn, và khi bán hàng phải có
hoá đơn theo đúng quy định. Với nguyên tắc thuế
thu ở khâu sau được khấu trừ số thuế đã nộp ở
khâu trước, Thuế Giá trị gia tăng sẽ góp phần


Trang 24
hạn chế được những sai sót, gian lận trong việc
ghi chép hoá đơn. Hoạt động mua-bán hàng hoá,
cung ứng lao vụ, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ
được đưa vào nề nếp thành thói quen trong nền
kinh tế sẽ là tiền đề cho việc tin học hoá quá
trình quản lý sản xuất kinh doanh, hạn chế bớt
những sai sót, tiêu cực và mang lại nhiều lợi
ích cho nền kinh tế.
+ Thuế Giá trị gia tăng phù hợp với thông
lệ quốc tế, tạo điều kiện cho Việt nam hội nhập
kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế
giới.
Rõ ràng, thuế Giá trị gia tăng có nhiều ưu
điểm nổi trội hơn thuế doanh thu. Mục đích chủ
yếu của việc áp dụng thuế Giá trị gia tăng là
tạo thêm thuận lợi cho các cơ sở sản xuất, kinh
doanh phát triển, chứ không nhằm tăng mức động
viên, càng không phải là làm cho doanh nghiệp
khó khăn.


2. Nội dung cơ bản của Luật thuế
Giá trị gia tăng:


Theo luật thuế Giá trị gia tăng đã
được quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ
11.
Nghị định số 28/2003/NĐ-CP.
Thông tư số 89/2003/TT-BTC.


Trang 25
• Phạm vi áp dụng :


a. Đối tượng chịu thuế : Hàng hoá, dịch vụ
dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở
Việt nam là đối tượng chịu thuế Giá trị gia tăng,
trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế đã
quy định trong luật.
Do những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định
trong từng thời kỳ, luật thuế Giá trị gia tăng
quy định 26 nhóm, mặt hàng không thuộc diện chịu
thuế Giá trị gia tăng. Đặc điểm của những hoạt
động không phải chịu thuế Giá trị gia tăng là:
- Những hoạt động nhà nước cần khuyến khích
phát triển nhưng đang gặp khó khăn. Ví
dụ: Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do nhà
nước bán cho người đang thuê.
- Những hoạt động liên quan đến vốn đầu tư.
Ví dụ: Dịch vụ tín dụng và quỹ đầu gồm
hoạt động cho vay vốn, cho thuế tài
chính..
- Những hoạt động sản xuất hàng hoá dịch vụ
thiết yếu. Ví dụ: Sản phẩm trồng trọt,
chăn nuôi chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ
chế..
- Những hoạt động không mang tính kinh
doanh. Ví dụ: Vũ khí, khí tài phục vụ
quốc phòng an ninh..

Trang 26
- Những hoạt động cần ưu đãi nhưng ở mức độ
vừa phải. Ví dụ: Hàng miễn thuế bán tại
cảng, ga, sân bay..
- Những hàng hoá mang tính chất xử lý về
mặt kĩ thuật đánh thuế. Ví dụ: Hàng hoá
dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt.
- Những hàng hoá không mang tính chất gia
tăng, tiêu dùng tại Việt nam hoặc theo
những quan hệ kinh tế đối ngoại. Ví dụ:
Hàng chuyển khẩu, quá cảnh..
Những hàng hoá thuộc diện chịu thuế Giá trị
gia tăng không phải nộp thuế Giá trị gia tăng
đầu vào, nhưng không được khấu trừ, hoàn thuế
GTGT đầu ra.


b. Đối tượng nộp thuế: Các tổ chức cá nhân,
sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế
Giá trị gia tăng (gọi chung là cơ sở kinh
doanh) và tổ chức cá nhân khác nhập khẩu hàng
hoá chịu thuế Giá trị gia tăng ( gọi chung là
người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế Giá trị
gia tăng.




Trang 27
• Căn cứ tính thuế và phương pháp
tính thuế:


a. Căn cứ tính thuế Giá trị gia tăng : là
giá tính thuế và thuế suất:


- Giá tính thuế :
Nguyên tắc chung: Giá tính thuế là giá chưa
có thuế Giá trị gia
tăng
+ Đối với hàng hoá dịch vụ do cơ sở sản xuất
kinh doanh bán ra hoặc cung ứng cho đối tượng
khác, giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá bán
chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập
tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu.
+ Đối với hàng hoá dịch vụ để trao đổi sử
dụng nội bộ biếu tặng, giá tính thuế Giá trị gia
tăng được xác định theo giá tính thuế của từng
hàng hoá dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại
thời điểm phát sinh các loại hoạt động này.
+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản, giá
tính thuế Giá trị gia tăng là tiền cho thuê
trong từng kỳ.
+ Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế
Giá trị gia tăng là giá gia công chưa có thuế




Trang 28
bao gồm: Tiền công, tiền nhiên liệu, động lực
vật liệu phụ và chi phí khác để gia công.
+ Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt giá
tính thuế Giá trị gia tăng là giá xây dựng, lắp
đặt chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ hưởng
tiền công hoặc tiền hoa hồng, giá tính thuế Giá
trị gia tăng là tiền công hoặc tiền hoa hồng
đựơc hưởng chưa trừ khoản phí tổn nào.
+ Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp giá
tính thuế Giá trị gia tăng là giá cước vận tải,
bốc xếp chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ đặc thù được xác
định như sau:
Giá tính
Giá thanh toán
thuế =
-------------------------------------
giá trị gia tăng 1+ Thuế
suất(%) thuế GTGT


- Thuế suất:


Luật thuế Giá trị gia tăng quy định 4 mức
thuế suất: 0%,5%,10%,20%.
Mục đích của việc quy định 4 mức thuế suất
này là nhằm khắc phục nhược điểm của thuế Doanh
thu, là một bước giảm bớt đáng kể sự phức tạp


Trang 29
và kém hiệu quả của cơ chế đa thuế suất. Đồng
thời thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và
hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ
của nhà nước.


+ Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá
xuất khẩu.
+ Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá
và dịch vụ thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sản
xuất và tiêu dùng.
+ Mức thuế suất 10% là thuế suất phổ thông
áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ thông thường
nhằm đảm bảo số thu cho NSNN.
+ Mức thuế suất 20% áp dụng đối với hàng
hoá dịch vụ không thiết yếu mà nhà nước cần điều
tiết:
. Vàng bạc đá quý do cơ sở
kinh doanh mua vào bán ra.
. Khách sạn du lịch ăn uống
. Xổ số kiến thiết.
. Đại lý tàu biển.
. Dịch vụ môi giới.


b. Phương pháp tính thuế:
Có 2 phương pháp tính thuế Giá
trị gia tăng:
Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính
trực tiếp trên Giá trị gia tăng.


Trang 30
@ Phương pháp khấu trừ thuế:
- Đối tượng và điều kiện áp dụng: Phương
pháp khấu trừ thuế được áp dụng cho tất cả các
cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ các yêu
cầu về mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ
các quy định của chế độ hoá đơn, chứng từ.
- Cách tính thuế GTGT phải nộp:
Thuế Giá trị gia tăng Thuế GTGT
Thuế GTGT
phải nộp =
đầu ra - đầu vào


Thuế Giá trị gia tăng Giá tính
thuế của Thuế suất thuế
đầu ra =
HH,DV bán ra x gtgt HH,DV đó.


Thuế Giá trị gia tăng Tổng thuế
GTGT đã thanh toán ghi trên
= hoá đơn
GTGT mua hàng hoá dịch vụ
đ ầu vào
hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá,


nhập khẩu




Trang 31
@ Phương pháp tính trực tiếp trên
GTGT:


- Đối tượng và điều kiện áp dụng: Là các
cá nhân, tổ chức kinh doanh chưa thực hiện đầy
đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ
để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu
trừ, các cơ sở kinh doanh mua bán vàng, bạc, đã
quý, ngoại tệ. Giá bán hàng hoá, dịch vụ ghi
trên hoá đơn bán hàng là giá đã có thuế GTGT.
- Cách tính thuế :
Số thuế GTGT GTGT của hàng hoá
Thuế suất GTGT
phải nộp = dịch vụ chịu
thuế x của hàng hoá DV


Trong đó:
GTGT của hàng hóa Giá thanh toán của
Giá TT của hàng hoá
=
-
dịch vụ hàng hoá
DV bán ra DV mua vào tương ứng


c. Khấu trừ thuế Giá trị gia tăng đầu
vào:




Trang 32
+ Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ
dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ
chịu thuế Giá trị gia tăng thì được khấu trừ
toàn bộ .
+ Thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ
dùng đồng thời cho sản xuất kinh doanh hàng hoá
dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng và không chịu
thuế giá trị gia tăng thì chỉ được khấu trừ số
thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ dùng cho sản
xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá
trị gia tăng.
+ Thuế đầu vào phát sinh trong
tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số
thuế phải nộp của tháng đó.
+ Thuế đã trả cho hàng hoá, vật
tư, tài sản cố định, dịch vụ mua vào để sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc
diện chịu thuế Giá trị gia tăng thì không được
khấu trừ.
+ Riêng với tài sản cố định, nếu
có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được
phép khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế.


d. Hoàn thuế:
Việc hoàn thuế Giá trị gia tăng chỉ áp dụng
cho các đối tượng nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế trong các trường hợp sau:




Trang 33
+ Được xét hoàn thuế khi cơ sở
kinh doanh có số thuế Giá trị gia tăng đầu vào
được khấu trừ lớn hơn số thuế Giá trị gia tăng
đầu ra phát sinh 3 tháng liên tục.Việc hoàn
thuế Giá trị gia tăng đầu vào được thực hiện
trong đầu quý tiếp theo.
+ Được hoàn thuế Giá trị gia tăng theo
từng kỳ hoặc theo tháng khi cơ sở kinh doanh
xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặc xuất khẩu
theo từng lần với số lượng lớn phát sinh số
thuế đầu vào được khấu trừ lớn.
+ Cơ sở kinh doanh thuộc đối
tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
có đầu tư, mua sắm tài sản cố định có số thuế
Giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ lớn thì
được xét hoàn thuế:
. Cơ sở đầu tư mới, đã đăng ký
nộp thuế Giá trị gia tăng nhưng chưa có phát
sinh doanh thu bán hàng để tính thuế Giá trị gia
tăng đầu ra. Nếu thời gian đầu tư từ một năm
trở lên, thuế Giá trị gia tăng đầu vào sẽ được
xét hoàn thuế theo từng năm. Trường hợp cơ sở
kinh doanh xác định số thuế phải hoàn có số thuế
Giá trị gia tăng đầu vào của tài sản đầu tư được
hoàn lớn, thuế Giá trị gia tăng đầu vào sẽ được
xét hoàn thuế theo từng quý.
. Cơ sở kinh doanh đầu tư mở rộng,
đầu tư theo chiều sâu, có số thuế Giá trị gia


Trang 34
tăng đầu vào của tài sản đầu tư đã được khấu
trừ trong 3 tháng ( kể từ tháng phát sinh thuế
đầu vào của tài sản đầu tư) mà vẫn chưa được
khấu trừ hết thì số thuế Giá trị gia tăng đầu
vào chưa được khấu trừ sẽ được hoàn lại.
+ Cơ sở kinh doanh quyết toán
thuế khi sát nhập, chia tách, giải thể, phá sản
có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa.
+ Cơ sở kinh doanh có quyết định
xử lý hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật.


e. Miễn giảm thuế:


Đơn vị những cơ sở sản xuất, vận
tải, xây dựng, thương mại, du lịch, ăn uống
trong những năm đầu áp dụng thuế Giá trị gia
tăng mà bị lỗ do số thuế GTGT phải nộp lớn hơn
số thuế tính theo mức thuế doanh thu trước đây
thì được xét giảm thuế GTGT phải nộp. Mức thuế
được xét giảm đối với từng cơ sở kinh doanh
tương ứng với số lỗ do nguyên nhân nêu trên
nhưng tối đa không quá số thuế GTGT mà cơ sở
kinh doanh phải nộp của năm được xét giảm thuế.
Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
dưới đây khi tính thuế
GTGT đầu ra được giảm 50% mức thuế quy
định:


Trang 35
- Than đá.
- Máy cày, máy kéo, máy bơm nước, máy công
cụ, máy động lực.
- Một số chất hoá học được quy định rõ tại
Thông tư 175/1998 TT-BTC.
- Hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của các
cơ sở kinh doanh thương mại nộp thuế theo
phương pháp khấu trừ thuế mua vào, bán
ra.
- Khách sạn, du lịch, ăn uống.
- Dịch vụ, phần mềm và sản phẩm phần mềm
Cơ sở kinh doanh khi bán hàng hoá, dịch
vụ phải ghi thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ này
trên hoá đơn GTGT theo mức thuế đã được giảm.
Thực hiện giảm ngay 50% mức thuế GTGT
phải nộp khi nhập khẩu đối với các sản phẩm
nhập khẩu:
- Than đá.
- Máy kéo, máy bơm nước, máy công cụ, máy
động lực.
- Một số chất hoá học được quy định rõ tại
Thông tư số 20/1999 TT/BTC.
- Dịch vụ phần mềm và sản phẩm phần mềm.
Thuế GTGT phải nộp kê khai trên tờ khai
hải quan và thông báo thuế của cơ quan HảI quan
là số thuế GTGT tính theo mức thuế đã giảm 50%.




Trang 36
III. ý nghĩa của công tác quản lý thu thuế
Giá trị gia tăng đối với khu vực kinh
tế cá thể :


1. Vị trí, vai trò của kinh tế cá thể
trong nền kinh tế thị trường:


Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ tiến
lên chủ nghĩa xã hội đã được Đại hội lần thứ VI
chỉ rõ: “ Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành
phần, kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực
quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế gia đình và
các thành phần kinh tế khác gồm kinh tế tiểu sản
xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân”. Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VII tiếp tục khẳng định “
Thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ
ở nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân,
kinh tế tư bản Nhà nước”. Trong đó, kinh tế cá
thể gồm những đơn vị kinh tế và những hoạt động
sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động
chủ yếu.
Hộ kinh tế cá thể kinh doanh cố định
là những hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ ( những
hoạt động kinh doanh mà pháp luật cho phép ) có
địa điểm kinh doanh cố định ở một nơi nào đó,
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế



Trang 37
cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạt
động trong mọi ngành nghề sản xuất, giao thông
vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ..
Đặc điểm của kinh tế cá thể là tính
tư hữu về tư liệu sản xuất người chủ kinh doanh
tự quyết định từ quy trình sản xuất kinh doanh
đến phân phối tiêu thụ sản phẩm. Do đó hoạt
động của kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao,
tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, tự lo
về phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Kinh
tế cá thể rất linh hoạt, nhạy bén trong kinh
doanh, tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế
gây lộn xộn cho thị trường như: Kinh doanh trái
phép, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế nhằm thu
lợi nhuận cao.
Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh
chiếm vai trò chi phối nền kinh tế, thì thành
phần kinh tế cá thể nói riêng và thành phần kinh
tế ngoài quốc doanh nói chung, tuy chiếm tỷ
trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng phát triển và
chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế
quốc dân. Khu vực kinh tế này không những chiếm
một khối lượng sản phẩn tương đối trong tổng
sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh
tế này cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn
trong tổng thu Ngân sách Nhà nước. Đồng thời còn
thu hút một lực lượng lao động lớn mà thành
phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết. Kinh


Trang 38
tế cá thể đã tận dụng được lực lượng dồi dào,
nhất là lao động có tay nghề cao, đồng thời giải
quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động
dư thừa, tạo thu nhập và từng bước góp phần
nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư.
Phương pháp kinh doanh của hộ cá thể cũng rất
phong phú và đa dạng, thu hút nhiều thành phần
xã hội tham gia, do đó trình độ chuyên môn, tay
nghề của họ cũng rất đa dạng.
ở nước ta hơn 10 năm mở cửa phát triển
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa đã khẳng định được vai trò của thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và kinh tế cá
thể nói riêng.Thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh bổ sung hỗ trợ cho thành phần kinh tế quốc
doanh, nhất là khu vực thành phần kinh tế chưa
thực sự chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân.
Thực tế, trong những năm gần đây số thuế
thu được từ kinh tế cá thể có tỷ trọng theo xu
hướng tăng lên trong tổng thu ngân sách Nhà
nước. Theo số liệu của Tổng cục Thuế thì:
+ Năm 1992 tổng thu nộp vào ngân sách
Nhà nước là 21.023 tỷ thì thuế đạt 16.074 tỷ
đồng; trong đó thu từ thành phần kinh tế cá thể
là 589 tỷ (chiếm 2,8% trong tổng thu Ngân sách
và chiếm 3,7% so với tổng thu thuế).




Trang 39
+ Năm 1993 tổng thu nộp vào ngân sách
Nhà nước là 31.840 tỷ thì thuế đạt 25.572 tỷ
đồng; trong đó thu từ thành phần kinh tế cá thể
là 893 tỷ(chiếm 2,8% trong tổng thu Ngân sách và
chiêm 3,5% so với tổng thu thuế).
Tóm lại, hoạt động kinh tế ngoài quốc
doanh nói chung và hoạt động kinh tế cá thể nói
riêng là hoạt đọng tồn tại khách quan do đòi hỏi
của sản xuất và đời sống xã hội. Với quan điểm
đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày
càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân cả trong hiện tại và trong tương lai.




2. ý nghĩa của việc tăng cường quản lý
thuế Giá trị gia tăng đối với khu vực
kinh tế cá thể:


Thuế GTGT là một sắc thuế quan trọng trong
hệ thống thuế nước ta. Việc áp dụng thuế GTGT
thay cho thuế doanh thu sẽ đảm bảo tập trung một
số thu lớn cho NSNN. Hơn nữa, trong điều kiện
kinh tế nước ta hiện nay, do nhu cầu chi tiêu
phát triển kinh tế rất lớn nên đã xẩy ra tình
trạng thiếu hụt ngân sách. Do vậy chúng ta phải


Trang 40
tìm mọi biện pháp để tăng thu ngân sách Nhà
nước.Với đường lối đổi mới kinh tế tạo điều
kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển,
cùng bình đẳng trước pháp luật thì việc quản lý
khu vực kinh tế nào cũng quan trọng. Thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và kinh tế cá
thể nói riêng lại đang phát triển cả về qui mô
và số lượng, khả năng thu nhập tăng nhanh thì
việc tăng cường quản lý thu thuế khu vực kinh
tế này là rất cần thiết.
Mặt khác, đảm bảo sự công bằng xã
hội là một yêu cầu đặt ra với chính sách thuế và
bản thân với chính sách thuế cũng phải đảm bảo
sự công bằng xã hội, vì có công bằng xã hội thì
mới có thể động viên số thu lớn nhất trong thời
gian ngắn nhất.Tăng cường quản lý thuế Giá trị
gia tăng đối với kinh tế cá thể một cách chặt
chẽ chính là biện pháp để đảm bảo tính công bằng
xã hội, từ đó sẽ giảm tối đa hiện tượng trốn
lậu thuế, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa
các thành phần kinh tế.
Ngoài ra, thông qua quản lý thuế
GTGT đối với hộ kinh doanh cá thể sẽ tạo điều
kiện cho Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế
thông qua:
+ Kiểm tra, kiểm soát các ngành
nghề, mặt hàng kinh doanh, từ đó giúp cho các cơ




Trang 41
quan quản lý kinh tế có định hướng phát triển
ngành nghề phù hợp.
+ Nắm được mức độ tiêu dùng, cơ cấu
tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ, từ đó giúp Nhà nước
có cơ sở định hướng tiêu dùng trong dân cư phù
hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế cá thể.


Trong những năm qua, việc quản lý
thu thuế nói chung và thuế Doanh thu nói riêng
đối với khu vực kinh tế cá thể còn rất nhiều
thiếu sót, dẫn đến kết quả cuối cùng là thất thu
thuế, Nhà nước bị chiếm dụng vốn gây tác động
xấu đối với nền kinh tế. Việc áp dụng thuế GTGT
thay thế cho thuế Doanh thu sẽ tạo ra khả năng
kiểm tra, kiểm soát tốt hơn đối với công tác
quản lý. Tuy nhiên sẽ gây khó khăn :
Do thuế GTGT đòi hỏi phải thay đổi một
thói quen vốn đã ăn sâu trong cách nghĩ và cách
làm của mỗi người. Một trong những thói quen đó
là: Mua bán hàng không cần hoá đơn, linh hoạt
đến mức tuỳ tiện trong ghi chép chứng từ, sổ kế
toán, tính thuế trên tổng doanh thu, không phân
biệt giữa doanh nghiệp có nhiều và doanh nghiệp
có ít giá trị tăng thêm..mà thay đổi một thói
quen thì bao giờ cũng hết sức khó khăn.
Do thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị
tăng thêm nên để bảo đảm mức động viên ngang
bằng với Thuế doanh thu thì thuế suất thuế GTGT


Trang 42
phải cao hơn thuế suất thuế doanh thu. Điều này
dễ gây tâm lý cho rằng Nhà nước tăng thuế và dẫn
đến tác động làm tăng giá, cho nên cùng với việc
giải thích, cần áp dụng biện pháp quản lý chặt
chẽ và phải có các biện pháp kinh tế để kiềm
chế, ngăn ngừa lợi dụng tăng giá.
Thành phần kinh tế cá thể phần lớn là
những hộ quy mô nhỏ, hoạt động phân tán rất khó
khăn cho công tác quản lý.
Cũng bởi những lý do đó mà bài viết
sau đây xin đề cập đến thực trạng quản lý công
tác thu thuế Giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế
cá thể trên địa bàn quận Ba đình. Từ đó, nghiên
cứu tìm ra nguyên nhân của mặt yếu, cũng như ưu
điểm của mặt mạnh để đưa ra một số biện pháp
tăng cường công tác quản lý thu thuế Giá trị gia
tăng nhằm làm cho bộ máy hành thu của quận ngày
càng có hiệu quả hơn.




Trang 43
P
hần II
Tình hình quản lý thu thuế giá trị
gia tăng ở khu vực Kinh tế cá thể
trên địa bàn Quận Ba Đình quý I năm
1999.

I. Đặc điểm kinh tế- xã hội và tình hình
quản lý thu thuế trên địa bàn quận Ba
Đình:


1. Một số nét về đặc điểm kinh- tế xã hội:

Quận Ba Đình là một trong 7 quận nội thành
của thủ đô Hà nội. Trên địa bàn quận Ba Đình gồm 15
phường ( hiện nay là 12 phường), đây là một quận có
nhiều cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ, các
cơ quan ngoại giao, đại sứ, đồng trụ sở. Cùng với sự
phát triển của kinh tế toàn thành phố và nền kinh tế
thị trường thì các thành phần kinh tế trên địa bàn
quận cũng phát triển mạnh mẽ. Ngoài ra, do nguyên
nhân thiếu việc làm mà một số lượng không nhỏ cán bộ
công nhân viên chức ra buôn bán ngày càng tăng và có
sự biến động liên tục.



Trang 44
Trên địa bàn quận Ba Đình không có các
trung tâm thương mại lớn, chỉ có một số chợ ở tầm cỡ
trung bình như chợ Long Biên, chợ Ngọc Hà.., một số
chợ xanh ở các khu nhà cao tầng, các khu vực đông
dân cư. Các hộ buôn bán cá thể còn tập trung ở các
dãy phố chính như trục đường Nguyễn Thái Học- Kim
Mã, Giảng Võ- Đường La Thành.. Các hộ cá thể kinh
doanh ở quận Ba Đình chủ yếu là những hộ nhỏ. Các hộ
sản xuất tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là các hộ được
phát triển từ kinh tế phụ gia đình dần dần trở thành
nghề kiếm sống của cả gia đình nhưng đây cũng chỉ là
những hộ vừa và nhỏ.
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế,
quận Ba Đình cũng đã đóng góp không nhỏ vào nền kinh
tế quốc dân. Quý I năm 1999 toàn quận đã đạt được
những thành tích sau:
Sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh:
giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 19.083 triệu
đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,12%, trong đó
khối HTX tăng 19,18%, khối cá thề tăng 7,45%, khối
công ty TNHH tăng 48,88% .
Hoạt động kinh doanh của khối chợ khá ổn
định và có hiệu quả. Cải tạo nâng cấp chợ Châu Long
và chợ Thành Công A chuẩn bị đưa vào hoạt động kinh
doanh. Triển khai các thủ tục xây dựng trung tâm
thương mại dịch vụ Cống Vị.
Công tác thu thuế: Tập trung chỉ đạo thực
hiện hai luật thuế mới. Tăng cường công tác kiểm


Trang 45
tra, rà soát chống sót hộ để tăng nguồn thu. Quý I
năm 1999 Chi cục thu được 11.241 triệu đồng đạt
92,08% kế hoặch quý, đạt 22,10% so với kế hoạch năm,
tăng 1,14% so với cùng kỳ( trong đó thu phí và lệ
phí tăng 32% so với kế hoạch quý, tăng 35,97% so với
cùng kỳ ).
Cũng như tình hình chung của các chi cục
thuế, việc phân cấp quản lý, thu thuế của chi cục
thuế Ba Đình được dựa trên Thông tư 110/2000/TT/BTC.
Cụ thể, Chi cục thuế được quyền quản lý các đối
tượng :


- Hộ cá thể kinh doanh công thương
nghiệp ngoài quốc doanh nộp thuế Giá trị gia tăng
theo phương pháp trực tiếp.
- Hộ nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Hộ nộp thuế nhà đất.


Theo tinh thần của thông tư này thì tất
cả các hộ nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp
trực tiếp sẽ do Chi cục thuế Quận Ba Đình quản lý.
Còn những công ty, tập thể trên địa bàn quận trước
đây nộp thuế tại Chi cục thuế Ba Đình, nay đăng ký
nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
sẽ do Cục thuế Hà nội trực tiếp quản lý, nhưng số
thuế thu vẫn nộp vào kho bạc Nhà nước Quận Ba Đình.
Như vậy, xét về khía cạnh sổ sách, báo cáo chi cục
thuế Ba Đình vẫn gián tiếp quản lý loại đối tượng


Trang 46
này thông qua giấy nộp tiền vào kho bạc được phô tô
chuyển về kế toán kho bạc tại Chi cục hàng ngày.


2. Công tác tổ chức bộ máy thu thuế trên địa bàn Quận Ba
Đình:


Chi cục thuế quận Ba Đình được thành lập
theo quyết định 315 TC/QĐ/TCCB ban hành ngày
21/8/1999 của Bộ Tài chính. Từ đây Chi cục chính
thức đi vào hoạt động, thay thế cho tên gọi Phòng
thuế Công Thương Nghiệp trước đây. Trong những năm
gần đây được sự chỉ đạo của Cục thuế Hà nội và sự
nhất trí trong lãnh đạo chi cục và cán bộ nhân viên
trong toàn Chi cục, đồng thời cùng với sự thay đổi
về việc phân cấp quản lý do áp dụng hai luật thuế
mới nên bộ máy của cơ quan thuế Ba Đình được tổ chức
như sau:
Tổng số cán bộ công nhân viên chi cục là
140 người, trong đó có 131 biên chế, còn lại 9 hợp
đồng được sắp xếp :
- Ban lãnh đạo:
1 Chi cục trưởng Phụ trách chung.
1 Chi cục phó Phụ trách khối cá
thể.
1 Chi cục phó Phụ trách về đất +
phí.
1 Chi cục phó Phụ trách vấn đề
nghiệp vụ.


Trang 47
- Các bộ phận trực thuộc chi cục được tổ
chức :
+ Phòng thanh tra, kiểm tra
10 người
+ Phòng ngiệp vụ
11 người
+ Phòng hành chính, tổ chức 5
người
+ Đội thuế Điện Biên- Kim Mã 13
người
+ Đội thuế Thành công-Giảng Võ 14
người
+ Đội thuế Ngọc khánh-Ngọc Hà 10
người
+ Đội thuế Đội Cấn-Cống Vị 14
người
+ Đội thuế Quán Thánh-Trúc Bạch 13
người
+ Đội thuế Trung trực-Phúc Xá 7
người
+ Đội thuế Chợ Long Biên
8 người
+ Đội thu khác
11 người


Với việc tổ chức bộ máy thu thuế như
vậy trong những năm qua Chi cục thuế Quận Ba Đình đã
đạt những thành tích đáng khích lệ trong việc quản


Trang 48
lý thu thuế đối với thành phần kinh tế cá thể. Tuy
nhiên vẫn còn có nhiều những hạn chế và thiếu sót
cần được khắc phục.


II. Tình hình quản lý thu thuế Giá trị gia
tăng đối với các hộ kinh tế cá thể trên
địa bàn quận Ba Đình trong những tháng đầu
thực hiện luật thuế mới:


1. Quản lý đối tượng nộp thuế:


Theo luật thuế Giá trị gia tăng quy định
thì tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có
trách nhiệm kê khai đăng ký thuế với cơ quan thuế
theo quy định của Nhà nước. Qua đó cơ quan thuế có
thể nắm được số hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn,
phân loại hộ và phân nghành nghề để có thể quản lý
một cách chặt chẽ đối tượng nộp thuế.
Đồng thời theo quyết định số 75/1998/QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính Phủ thì mọi tổ chức, cá nhân
có hoạt động kinh doanh chịu thuế đều phải kê khai
đăng ký thuế để được cấp mã số thuế và hệ thống mã
số này được ứng dụng kể từ ngày 1/1/1999. Theo
quyết định trên, cơ quan thuế có trách nhiệm sử dụng
mã số đối tượng nộp thuế để quản lý đối tượng nộp
thuế , theo dõi số liệu nộp thuế của đối tượng nộp
thuế và ghi mã số đối tượng nộp thuế trên mọi giấy


Trang 49
tờ giao dịch với đối tượng nộp thuế như: thông báo
nộp thuế, thông báo phạt, lệnh thu, các quyết định
phạt hành chính thuế, biên bản kiểm tra về thuế..
Như vậy việc quản lý đối tượng nộp thuế
trên mã số đã đem lại hiệu quả rõ rệt cho các cấp
quản lý thuế và cho Chi cục thuế Quận Ba Đình nói
riêng. Kể từ đây cán bộ thuế có thể ứng dụng máy vi
tính vào công tác quản lý đối tượng nộp thuế, giúp
việc quản lý được chặt chẽ hơn, đỡ vất vả vì phải
theo dõi ghi chép bằng tay trên sổ bộ hàng tháng.
Tuy nhiên, do tình hình chung về sự
thiếu tự giác của các hộ nộp thuế nên các cán bộ
thuế quản lý địa bàn đã liên hệ phối hợp với UBND các
phường, công an, quản lý thị trường và nhiều ngành
liên quan khác để nắm vững các cơ sở sản xuất kinh
doanh trên địa bàn các phường, các chợ. Các bộ thuế
thuộc các đội lập danh sách các cơ sở kinh doanh mà
mình phụ trách quản lý, thông qua điều tra doanh
thu, phân loại nghành nghề, quy mô để quản lý cho
phù hợp. Sau khi đã thông qua Hội đồng tư vấn thuế
phường đưa số hộ đó vào bộ để quản lý thu thuế Giá
trị gia tăng nộp hàng tháng.
Hàng tháng vào ngày 5 các cán bộ quản lý phải
lập được danh sách hộ nghỉ kinh doanh trên địa bàn,
hộ mới ra kinh doanh và làm tổng hợp ghi thu phân
loại hộ nhằm áp dụng chế độ thu thích hợp. Cũng từ
số liệu này của cán bộ quản lý mà văn phòng chi cục




Trang 50
thuế mới có điều kiện để lập bộ quản lý các hộ kinh
doanh.
Vậy nhìn chung việc quản lý kiểm tra số
hộ sản xuất kinh doanh tương đối sát. Sau đây là
biểu số hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn ghi theo
bậc môn bài:




Biểu 2: Số hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn
ghi theo bậc môn bài.




    N ¨m  
     1998 Q uý  
In¨m  
1999
Di gi
Ôn  ¶i Sè hé % Sè hé %
Tæng  è 
s hé 3679 100 4159 100
BËc 1 148 4,023 200 4, 8
BËc 2 109 2,96 130 3, 12
BËc 3 439 11,93 584 14, 04
BËc 4 973 26,45 1441 34, 65
BËc 5 1573 42,76 1804 43, 39
BËc 6 437 11,877


Với biểu số liệu trên, ta nhận thấy:




Trang 51
1. Số hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn của
năm 1999 đã tăng so với năm 1998 là: 480 hộ,
tương ứng 13%.
2. Trong tổng số hộ tư nhân sản xuất kinh doanh
trên địa bàn quận số hộ bậc 5 chiếm tỉ trọng
cao nhất : Năm 1998 chiếm 42,76%, năm 1999
chiếm 43,39%.
3. Mức độ kinh doanh của các hộ có xu hướng
tăng ở tất cả các bậc
so với năm 1998:
Bậc 1: tăng 52 hộ tương ứng 35%
Bậc 2: tăng 21 hộ tương ứng 19%
Bậc 3: tăng 145 hộ tương ứng 33%
Bậc 4: tăng 468 hộ tương ứng 48%
Bậc 5: tăng 231 hộ tương ứng 14%
Riêng bậc 6 giảm 100%, như vậy các
hộ đã chuyển hướng nâng cấp dần tình trạng kinh
doanh của mình ổn định hơn, có sự đầu tư và thu nhập
khá hơn.
Qua biểu trên có thể thấy các hộ cá thể
trên địa bàn đã phát triển cả về số lượng và quy mô
sản xuất kinh doanh. Nguyên nhân của sự phát triển
trên là do chính sách của nhà nước đã tạo cho môi
trường kinh doanh thuận lợi hơn. Cơ chế thị trường
kết hợp với các chính sách của Đảng và Nhà nước đã
giúp cho thành phần kinh tế này phát triển.
Để phân tích rõ hơn ta xét biểu quản lý
cơ cấu các hộ tư nhân trên địa bàn quận Ba Đình.


Trang 52
Biểu số 3: Cơ cấu hộ kinh doanh trên địa bàn
Quận Ba Đình theo ngành nghề


        ¨m  
      N 1998 Q uý /1999

H é  nh 
ki doanh  Sè hé % Sè hé %
Tæng è 
s hé 3679 100 4159 100
N gµnh ¶n 
s xuÊt 309 8,4 328 7,89
N gµnh  ch 
dÞ vô 514 14 546 13,1
N gµnh h­ ¬ng 
t nghiÖp 1792 48, 7 1904 45, 78
N gµnh  uèng
¨n  1064 28, 9 1162 27, 93
N gµnh  t
vËn ¶i 219 5,
3


Qua biểu trên ta thấy:
1. Với ngành sản xuất: Số hộ thuộc ngành này tăng
đáng kể: năm 1999 tăng so với năm 1998 là 19 hộ
tương ứng 6,1%. Nhưng xét về tỷ trọng số hộ trong
ngành ta thấy tỷ trọng của ngành này năm 1998 giảm
đi. Năm 1998 chiếm tỷ trọng 8,4% nhưng đến năm 1999
lại chỉ chiếm 7,89%.
Mặt hàng chủ yếu của ngành này là sản
xuất cơ kim khí, sản xuất các mặt hàng công nghiệp
thực phẩm như: sản xuất bánh kẹo, sản xuất bánh cốm,
sản xuất bún bánh.. Những mặt hàng này việc kinh
doanh còn tương đối ổn định nhưng sản xuất cơ khí
tiêu dùng thì ngày càng bị thu hẹp do sự tác động của
nhiều mặt hàng trên thị trường.
Nhìn vào cơ cấu ngành ta thấy tỷ trọng
số hộ sản xuất chiếm trong tổng số ngày càng giảm


Trang 53
mặc dù số hộ vẫn tăng. Điều này nói lên rằng sản
xuất tiểu thủ công nghiệp khu vực cá thể ở địa bàn
Quận Ba Đình là không thuận lợi bằng các nghành
khác.


2. Đối với hoạt động dịch vụ: Số người hoạt động
trong ngành dịch vụ tăng về số tuyệt đối nhưng về số
tương đối lại giảm. Năm 1998 có 514 hộ chiếm 14%.
Năm 1999 có 546 hộ chiếm 13,1%. Từ đó ta thấy rằng
hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ này không hiệu quả
mặc dù số hộ có tăng lên về số tuyệt đối, bởi vì
trong năm 1999 do thay đổi lại điều kiện cấp phép
kinh doanh cho các hộ cho thuê băng hình mà nhiều hộ
kinh doanh loại này đã phải chuyển hoặc thôi không
kinh doanh nữa.
Các hộ tư nhân sửa chữa lặt vặt và nhất
là sửa chữa điện lạnh ở trên địa bàn Quận Ba Đình
kinh doanh không ổn định và kém hiệu quả nên một số
đã xin chuyển sang bán thương nghiệp, một số phải
chuyển đi kinh doanh ở các nơi khác có hiệu quả hơn.
Số hộ tăng lên tuyệt đối của ngành dịch
vụ chủ yếu là loại hình rửa xe máy, photocopy, chụp
ảnh nhưng không phải là sự tăng lên đáng kể.


3. Hai nghành ăn uống và thương nghiệp: đều có xu
hướng giảm mặc dù số hộ kinh doanh ở hai ngành này
đều tăng lên về số tuyệt đối.




Trang 54
Ngành thương nghiệp là ngành có số hộ
kinh doanh cao nhất và tỷ trọng của nó là lớn nhất
trong tổng số hộ kinh doanh.
Ngành thương nghiệp: Năm 1998 có 1792 hộ
chiếm 48,7%. Năm 1999 có 1904 hộ chiếm 45,78%. So
sánh về số tuyệt đối thì tăng nhưng về số tương đối
lại giảm, năm 1999 giảm so với năm 1998 là 2,92%.
Điều đó chứng tỏ rằng ngành thương nghiệp kinh doanh
có hiệu quả hơn các ngành khác, tuy nhiên có quá
nhiều hộ kinh doanh nên số tăng không lớn.
Mặt hàng chủ yếu của các hộ kinh doanh
thương nghiệp là bán tạp hoá, đồ điện dân dụng, ở
các chợ là các mặt hàng thực phẩm thiết yếu đối với
đời sống của nhân dân. Đặc biệt trên địa bàn Quận Ba
Đình không có hộ kinh doanh điện máy, kinh doanh xe
máy, kinh doanh các mặt hàng điện tử cao cấp. Trong
số hộ kinh doanh thương nghiệp này chỉ có 20 hộ kinh
doanh vàng bạc nằm rải rác trên toàn địa bàn. Các hộ
kinh doanh vàng bạc này hàng tháng nộp thuế bình
quân là 15.000.000 đ.


Ngành ăn uống: Số hộ kinh doanh ăn uống
tăng lên về số tuyệt đối nhưng lại giảm về số tương
đối. Cụ thể năm 1998 có 1064 hộ chiếm tỷ trọng
28,9%, năm 1999 có 1162 hộ chiếm tỷ trọng 27,93% tuy
tăng số hộ tuyệt đối là 98 hộ. Số hộ tăng này chủ
yếu là những hộ kinh doanh ăn uống nhỏ bình dân,
không phải là những nhà hàng, ăn uống cao cấp.


Trang 55
4. Ngành vận tải: Sang năm 1999 Chi cục thuế mới đưa
ngành này vào quản lý tuy nhiên số hộ quản lý chưa
phải là nhiều, mới được 219 hộ chiếm tỷ trọng 5,3%.
Các hộ vận tải này chủ yếu là xe tải, xích lô còn
loại xe vận chuyển khách là không đáng kể.
Qua biểu 2 và 3, ta có thể nắm được số
lượng và cơ cấu hộ kinh doanh trên địa bàn và từ đó
có phương hướng quản lý các hộ kinh doanh từ khâu ra
thông báo, điều chỉnh doanh thu tính thuế tới khâu
thu nộp. Song chỉ qua biểu này chúng ta không thể nắm
được thực trạng quản lý về hộ kinh doanh ở khu vực
này ra sao.
Để thấy được tình hình quản lý đối tượng
nộp thuế trên địa bàn ta xét đến biểu quản lý hộ kinh
doanh




Biểu 4: Quản lý hộ kinh doanh trên địa bàn Quận
Ba Đình:




Trang 56
 N¨m  1998 Q uý    
In¨m 1999
H é hùc  H é 
t cã  H é qu¶n H é hùc H é 
t cã  H é  qu¶n
t ki
Õ  nh  ®¨ng  ký l tªn  t ki
ý r Õ  nh  ®¨ng  ký  l tªn 
ý r
doanh kinh  bé doanh kinh bé
Ngµnh 
nghÒ doanh doanh
Tæng è 
s hé 3930 3679 3631 4530 4159 4109
Ngµnh ¶n 
s xuÊt 320 309 309 342 328 328
Ngµnh  ch 
dÞ vô 522 514 505 574 546 540
Ngµnh h­ ¬ng 
t nghi
Öp 1976 1792 1785 2064 1904 1880
Ngµnh  uèng
¨n  1122 1064 1032 1320 1162 1142
Ngµnh  t
vËn ¶i 230 219 219


Với kết quả như vậy có thể thấy rằng, Chi cục
và các cán bộ quản lý đã có những cố gắng rất tích
cực trong việc nắm bắt các hộ kinh doanh để đưa vào
quản lý. Qua mỗi năm số hộ kinh doanh ngày càng tăng
lên, công việc của các cán bộ quản lý ngày càng nặng
nề, họ phải đi sâu đi sát đến từng ngóc nghách trên
địa bàn mình quản lý nhằm thâm nhập một cách cặn kẽ
tình hình thực tế, đưa các hộ mới ra kinh doanh vào
diện quản lý.
Tuy nhiên, số hộ chưa quản lý được vẫn còn lớn
hầu như ở ngành nào, năm nào cũng có số lượng hộ
chưa quản lý được.
Theo số liệu năm 1998 thì số lượng hộ
chưa quản lý được là 299 hộ với tỷ lệ 7,6%. Ta thấy
hộ chưa quản lý được chủ yếu tăng ở ngành thương
nghiệp (184 hộ), sản xuất (11 hộ), dịch vụ (17 hộ),
ăn uống (90 hộ).
Đến năm 1999, số hộ chưa đưa vào sổ bộ
thực tế là 421 hộ với tỷ lệ hộ chưa quản lý là 9,3%
và cũng tập trung ở ngành thương nghiệp (184 hộ),


Trang 57
sản xuất (18 hộ), dịch vụ (34 hộ), ăn uống (178 hộ)
và vận tải (11 hộ).
Qua bảng số liệu đó chúng ta thấy được
công tác quản lý của các cán bộ thuế thực tế chưa có
hiệu quả lắm, số hộ chưa quản lý được tương đối lớn
mặc dù các cán bộ thuế đã cố gắng hết sức để làm
giảm được số lượng hộ chưa quản lý được này. Tuy
nhiên, trong công tác này các cán bộ quản lý thuế
của chi cục thuế Quận Ba Đình cũng đã có những nỗ
lực và thu được các kết quả nhất định:
Tuy số hộ chưa đưa vào quản lý năm 1999
cao hơn số hộ chưa đưa vào quản lý năm 1998 (từ 7,6%
lên 9,3%) nhưng thực chất cán bộ quản lý đã có nhiều
tích cực bám sát địa bàn, thường xuyên kiểm tra số
hộ nhưng cũng không thể kiểm tra hết được những hộ
buôn bán lặt vặt, ngồi vỉa hè, cán bộ công nhân viên
nhà nước đi làm ban ngày sớm tối ra bán hàng thêm.
Đồng thời với số liệu điều tra của cơ
quan thống kê là cao hơn so với số được cấp phép
đăng ký kinh doanh. Cụ thể, năm 1999 theo số liệu
điều tra của cơ quan thống kê trên địa bàn Quận Ba
Đình hiện có 4530 hộ nhưng được cấp giấy đăng ký
kinh doanh là 4159 hộ và số hộ đã đưa vào diện quản
lý là 4109 hộ. Như vậy so sánh giữa số hộ hiện kinh
doanh và số hộ đã đưa vào quản lý thu thuế thì chênh
lệch là 421 hộ nhưng nếu so sánh giữa số hộ đã cấp
đăng ký kinh doanh và hộ đã đưa vào quản lý thu thuế
chênh lệch là 50 hộ, điều này chứng tỏ cán bộ quản


Trang 58
lý thuế đã hết sức cố gắng trong công tác quản lý về
hộ kinh doanh.
Còn có sự chênh lệch 421 hộ khi so sánh
giữa hộ thực tế kinh doanh và hộ đã đưa vào quản lý
là do có nhiều hộ buôn bán kinh doanh nhỏ, thu nhập
thấp và theo luật định thì cơ quan thuế cùng các cơ
quan hữu quan đang xem xét giải quyết miễn thuế.
Đồng thời trong số hộ này còn có những hộ kinh doanh
sớm, tối mà thực sự ngành thuế đã có cố gắng trong
công tác quản lý nhưng vẫn không quản lý được hết.
Tuy đã có rất nhiều cố gắng như vậy
nhưng nhìn chung hiệu quả của công tác quản lý đối
tượng nộp thuế của các cán bộ quản lý chưa cao. Số
lượng hộ chưa quản lý còn nhiều nên còn dẫn đến thất
thu thuế. Có thể chia ra làm 2 dạng thất thu ở những
hộ đã quản lý được và thất thu ở những hộ chưa quản
lý được.


A. Thất thu ở những hộ đã quản lý được:


Những hộ đã quản lý được là những hộ có
cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh cố định tại các địa
điểm cố định và có hoạt động kinh doanh. Trên thực
tế những hộ đã quản lý được chiếm một tỷ lệ rất lớn
cho nên nếu thất thu ở những hộ này là thất thu lớn
nhất.
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thất thu
thuế ở những hộ đã quản lý được là do nhiều lý do :


Trang 59
- Do có nhiều hộ núp dưới hình thức bên ngoài là
nộp đơn xin nghỉ kinh doanh tạm thời hoặc lâu
dài nhưng trên thực tế vẫn kinh doanh. Hình
thức nghỉ giả này là do tinh thần trách nhiệm
chưa cao của các cán bộ thuế nên đã không kiểm
soát thường xuyên hoặc do cán bộ thông đồng tiêu
cực với chủ kinh doanh.
- Do có những hộ mới ra kinh doanh được cán bộ
thuế đưa vào bộ quản lý nhưng những tháng đầu
được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế. Nhưng trên
thực tế những hộ mới ra kinh doanh lại là những
hộ cũ nhưng đã đổi tên, chuyển địa điểm, thay
đổi quy mô. Tuy nhiên số lượng hộ này rất ít.
- Do công tác thanh tra, kiểm tra của phòng thanh
tra chưa thường xuyên sâu sát, đồng thời thủ
tục chấp nhận cho nghỉ kinh doanh chưa chặt chẽ
nên các hộ kinh doanh vẫn dựa vào đó nhằm trốn
thuế.
Tuy vậy nguyên nhân nghỉ giả của các hộ kinh
doanh nhằm trốn thuế là vấn đề nan giải nhất.Thực tế
cho thâý những hộ nghỉ giả đều thuộc các ngành
thương nghiệp, ăn uống bởi lẽ kinh doanh ở các ngành
này không phức tạp như các ngành khác, lại dễ di
chuyển địa điểm kinh doanh, số hộ của 2 ngành này
lớn nên gây khó khăn phức tạp cho quản lý.
Xảy ra tình trạng trên là do việc lấn
chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh, bộ máy nhà nước có
sự biên chế lại dẫn đến nhiều người bị thiếu việc


Trang 60
làm buộc họ phải ra đường tham gia vào kinh doanh và
cạnh tranh trên thị trường. Hiện tượng người người
kinh doanh, nhà nhà kinh doanh đã trở nên phổ biến
cho số lượng người bán nhiều lên, giá cả lại đắt đỏ,
hàng ngoại tràn ngập lại rẻ nên muốn bán được hàng
phải hạ giá dẫn đến xu hướng muốn kinh doanh có lãi
thì người kinh doanh phải trốn lậu thuế.


B. Thất thu đối với những hộ chưa quản lý
được:


Hộ chưa quản lý được là những hộ chưa có
đăng ký kinh doanh nhưng lại vẫn kinh doanh. Những
hộ này thường không thu được thuế, nếu có thu được
chủ yếu vẫn ở các khoản tiền phạt, và số thu này
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số thuế.
Những hộ thuộc loại này là những hộ hoạt
động trong ngành thương nghiệp, ngành ăn uống nhỏ,
buôn bán ở vỉa hè, bán hàng rong, người sửa chữa lặt
vặt.. Theo tính chất nghề nghiệp những người này
thường không ngồi cố định để kinh doanh và thời gian
kinh doanh không thường xuyên. Thông thường những hộ
này thường có thu nhập thấp, cũng có một số hộ kinh
doanh có quy mô lớn song những trường hợp này mới ra
kinh doanh chưa có đăng ký kinh doanh hoặc đã xin
thôi kinh doanh nhưng vẫn còn nấn ná hoạt động thêm.
Xét về mặt khách quan là như vậy nhưng
xét về mặt chủ quan thì việc thất thu thuế từ những


Trang 61
hộ chưa quản lý là do cán bộ thuế chưa quản lý chặt
chẽ, không kiểm tra đều đặn thường xuyên và còn quá
nhiều hiện tượng tiêu cực trong một số cán bộ thuế.
Nói tóm lại, nguyên nhân việc không quản
lý hết hộ kinh doanh ngoài nguyên nhân khách quan
còn có nguyên nhân chủ quan sau: Các cán bộ thuế
chưa bám sát địa bàn, đa số mới chỉ quan tâm ở những
ngành hàng, mặt hàng lớn mà quên mất những ngành
hàng, mặt hàng nhỏ. Các cán bộ thuế mới chỉ làm trong
giờ hành chính mà chưa quan tâm tới ngoài giờ hành
chính. Việc đôn đốc thu nộp chưa linh hoạt, dồn vào
cuối tháng nên còn mang tính quan liêu. Chưa có biện
pháp xử lý kiên quyết với những hộ cố ý trây ỳ, còn
mang nặng tính doạ nạt, thiếu tuyên vận động.
Mặt khác số lượng hộ kinh doanh trên địa
bàn lớn nhưng với số lượng cán bộ thuế ít ỏi chưa
đủ để quản lý hết nếu như chưa nói đến trình độ
chuyên môn chưa cao, chưa có sự quan tâm đúng mức
của ngành, các cấp. Việc phối hợp giữa các ban ngành
còn mang tính bị động, công tác tuyên truyền chưa
cao.
Có thể nói, thất thu về hộ hiện nay còn
rất lớn trong khi đó để đảm bảo nguồn thu cho NSNN
thì ngoài việc phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát
các hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn thì ta còn
phải quản lý chặt chẽ đối với những hộ đã quản lý
được và không có biện pháp nào khác là phải tăng
cường công tác quản lý căn cứ tính thuế.


Trang 62
2. Quản lý căn cứ tính thuế:


Theo luật thuế Giá trị gia tăng các hộ
nộp thuế theo phương pháp trực tiếp có thể đăng ký
nộp thuế theo 1 trong 3 phương pháp sau:
- Phương pháp kê khai trực tiếp trên Giá
trị gia tăng.
- Phương pháp trực tiếp trên doanh thu.
- Phương pháp khoán.
Để được nộp thuế theo phương pháp trực
tiếp trên Giá trị gia tăng các hộ phải thực hiện
việc mua, bán có đầy đủ hoá đơn chứng từ ghi chép sổ
sách kế toán.


Theo phương pháp này :


Giá trị gia tăng Giá thực tế của
hàng Giá thực tế hàng hoá
của hàng hoá, dịch vụ = hoá, dịch vụ bán ra -
dịch vụ mua vào tương ứng


Đối với hộ đã thực hiện đầy đủ hoá đơn
bán hàng( bán hàng lập đầy đủ hoá đơn bán hàng) xác
định đúng doanh thu bán hàng nhưng không có đủ hoá
đơn mua hàng hoá, dịch vụ thì có thể nộp đăng ký nộp
thuế theo pháp trực tiếp trên doanh thu.




Trang 63
Giá trị gia tăng Doanh thu hàng
Tỷ lệ giá trị gia tăng
Của hàng hoá, dịch vụ= hoá, dịch vụ bán ra x
(%) theo quy định


Đối với hộ chưa thực hiện hoặc thực hiện
chưa đủ việc mua, bán hàng có hoá đơn. Cơ quan thuế
căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ ấn định
mức doanh thu tính thuế ( phương pháp khoán)
Giá trị gia tăng Doanh thu
ấn định x Tỷ lệ giá trị gia tăng
Của hàng hoá, dịch vụ =
(%) theo quy định
Trong thực tế, do đặc điểm tình hình
kinh doanh trên địa bàn quận Ba Đình phần lớn là kinh
doanh nhỏ nên hầu hết các hộ đăng ký nộp thuế theo
phương pháp khoán, còn số lượng hộ đăng ký nộp thuế
theo phương pháp kê khai là rất nhỏ.


Biểu số 5: Quản lý doanh thu tính thuế
đối với hộ cá thể trên địa bàn Quận Ba Đình:
Đơn vị tính:
1.000 đồng




Trang 64
      N¨m  
       1998 Q uý    
In¨m 1999
DT  t
6 h¸ng DT  t 6 h¸ng So  DT  t3 h¸ng DT  t
3 h¸ng So
Ngµnh  nghÒ ®Çu n¨m cuèin¨m
  s¸nh ®Çu n¨m    
cuèi1998 s¸nh
S¶n xuÊt 2.
123. 668 2.456. 434 116 1.
830. 141 1.
228.217 149
DÞ vô
ch  5.
694. 438 9.928. 980 174 9.
145. 687,5 4. 964.490 184
Th­ ¬ng nghi 16.
Öp 260.774 19. 190.122 118 13.326.742 9.
595.061 138
¡ n uèng 5.
272. 773 6.579. 616 124 3.
420. 605,5 3. 289.808 103
V Ën ¶i
t 1.
186. 169

Tæng 
céng 29.351.653 38.
155.
152 130 28.
909.
345 19.
077.
576 151


Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy doanh
thu tính thuế tăng. Năm 1999 doanh thu tính thuế 3
tháng đầu năm so với 3 tháng cuối năm 1998 tăng là:
28.909.345 - 19.077.576 = 9.831.769 nghìn đồng( tăng
51%).
Cụ thể:
Ngành sản xuất tăng: 601.924 nghìn đồng,
tương đương 49%
Ngành dịch vụ tăng: 4.181.197,5 nghìn
đồng, tương đương 84%
Ngành thương nghiệp tăng: 3.731.681
nghìn đồng, tương đương 38%
Ngành ăn uống tăng: 130.797,5 nghìn
đồng, tương đương 3%
Ngành vận tải: 1.186.169 nghìn đồng,
tương đương 100%
Việc tăng doanh thu là do tăng
về số hộ và quy mô kinh doanh.
Nhìn vào số liệu đã tính toán ở trên trong 2 năm
1998 và 1999 ta thấy doanh thu ở các ngành đều tăng
nhưng tốc độ tăng không đồng đều, tập trung vào các

Trang 65
ngành ăn uống, thương nghiệp sau đó đến dịch vụ và
cuối cùng là ngành sản xuất. ở Quận Ba Đình trong
một vài năm gần đây có thêm loại dịch vụ cho người
nước ngoài thuê nhà ở và do vậy ngành dịch vụ có
diễn biến tăng một cách đáng kể. Ngoài ra cơ quan
thuế đã có sự điều chỉnh doanh thu kịp thời trước sự
biến động của thị trường.
Mặc dù doanh thu tính thuế qua các năm đều
tăng nhưng không phải là không xảy ra hiện tượng
thất thu thuế ở Chi cục thuế Quận Ba Đình. Có thể
quy về do các nguyên nhân chủ yếu sau:


+ Trường hợp 1: Thất thu do không điều
chỉnh doanh thu kịp thời so với tốc độ trượt giá dẫn
tới mức thuế thu được ở giai đoạn sau lạc hậu so với
mức thuế thu ở giai đoạn trước về giá trị. Xảy ra
tình trạng trên có thể do cán bộ chưa bám sát sự
biến động của giá cả, hoạt động kinh doanh của các
hộ.
+ Trường hợp 2: Thất thu về doanh thu
do việc định doanh thu tính thu tính thuế chưa phù
hợp với mức độ kinh doanh thực tế. Với hộ áp dụng
doanh thu tính thuế là doanh thu khoán: Mức khoán
doanh thu được xác định trên cơ sở đIều tra và hiệp
thương giữa cán bộ thuế và người kinh doanh. Trong
trường hợp cơ sở kinh doanh không chấp nhận hiệp
thương thì cán bộ thuế có quyền ấn định doanh thu
khoán trên cơ sở đã điều tra. Như vậy không có một


Trang 66
cơ sở nào để xác định một cách chính xác doanh thu
tính thuế là phù hợp với thực tế kinh doanh mà hoàn
toàn tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của cán bộ thuế.
Chính vì mức doanh thu khoán không được xác định
chính xác nên đã làm thất thoát tiền thuế. Để khắc
phục việc này tại các phường đã có các hội đồng tư
vấn thuế giám sát, đồng thời Chi cục cũng thường
xuyên cho đội kiểm tra rà soát doanh thu tính thuế
nhưng cũng không làm được một cách chính xác với tất
cả các hộ.


Tóm lại, có thể nhận thấy rất rõ thất thu doanh
số là do các nguyên nhân:
- Khách quan:
+ Số hộ kinh doanh lớn, qui mô vốn nhỏ, nằm rải rác
dẫn đến việc khó quản lý trong khi đội ngũ cán bộ
thuế mỏng, một cán bộ quản lý quá nhiều đối tượng
( có cán bộ quản lý ở khu vực chợ Long Biên quản lý
đến 106 hộ) vì vậy chưa thể sâu sát, nắm được hoạt
động kinh doanh thực tế tại địa bàn.
+ Doanh thu khoán mang tính chủ quan nên chưa phản
ánh đúng thực tế kinh doanh của đối tượng nộp thuế,
thường thấp hơn nhiều so với doanh thu thực tế.
+ ý thức chấp hành luật thuế của các đối tượng chưa
cao, thường có phản ứng chống đối khi cơ quan thuế
điều chỉnh doanh thu khoán.


- Chủ quan:


Trang 67
+ Tuyên truyền, giải thích nội dung luật thuế cho
các đối tượng thực hiện chưa tốt.
+ Công tác giám sát địa bàn thực hiện chưa đồng đều,
thường xuyên.
+ Còn có sự thoả hiệp giữa cán bộ thuế và đối tượng
nộp thuế nhằm thương lượng để 2 bên cùng có lợi và
chỉ có nhà nước là chịu thiệt thòi.
+ Công tác điều chỉnh doanh thu tiến hành chưa kịp
thời, chưa bám sát sự biến động của thị trường..vv..


• Với phương pháp quản lý doanh thu tính thuế của
các hộ kê khai, việc tính thuế có cơ sở chính xác
hơn nên việc xác định doanh số tương đối sát với
thực tế phát sinh. Doanh thu tính thuế đã được nâng
lên rõ rệt. Tuy nhiên việc áp dụng thu thuế theo kê
khai là phương pháp mới nên không tránh khỏi những
tồn tại mà một sớm một chiều chưa thể khắc phục được
ngay. Với phương pháp này số lượng các hộ đăng ký
nộp thuế trên địa bàn quận tương đối ít, chỉ chiếm
khoảng 30% tổng số hộ quản lý trên sổ bộ.


Biểu số 6: Quản lý doanh thu một số hộ điển
hình.
Đơn vị tính: 1.000 đồng.


STT Tên hộ DT kê khai DT Tính thuế DT điều tra Tỷ lệ %
1 Ngành sản xuất
Lê Mai Anh 6300 7800 1200 65

2 Ngành thương




Trang 68
nghiệp
Trần Minh Tâm 32000 3800 65517 58

3 Ngành ăn uống
Đặng Anh Thư 10200 15193 24500 62


Qua biểu số liệu trên ta thấy doanh thu thực tế
qua điều tra cao hơn so với doanh thu tính
thuế( doanh thu tính thuế chỉ đạt 58% đến 65%
doanh thu thực tế) và doanh thu thực tế vượt xa
doanh thu kê khai.Việc thất thu trong quản lý
doanh thu tính thuế đối với hộ kê khai còn là vấn
đề nan giải vì bản thân nền kinh tế nước ta nói
chung và khu vực kinh tế cá thể nói riêng đang ở
giai đoạn chuyển đổi, phức tạp.


Nguyên nhân của tình trạng trên có thể do:
- Việc thực hiện chế độ sổ sách , hoá đơn
chứng từ mới chỉ là hình thức chưa theo đúng quy
định pháp lệnh kế toán thống kê ( chưa ghi chép
đầy đủ kịp thời chính xác những doanh thu ,chi phí
hàng ngày).
- Vì mới áp dụng nên hầu hết các cơ sở kinh
doanh này chưa có kế toán được đào tạo cơ bản nên
trình độ kế toán non yếu còn hạch toán sai
- Công tác thanh tra kiểm tra của Chi cục chưa
thường xuyên và kịp thời để phát hiện uốn nắn
những sai sót.




Trang 69
- Khi đối tượng nộp thuế vi phạm chế độ hoá
đơn chứng từ thì Chi cục chưa xử lý nghiêm theo
quy định.
- Cán bộ thuế được giao quản lý đối tượng, hiểu
biết về kế toán chưa sâu, việc tuyên truyền giải
thích kém thuyết phục cũng là một nguyên nhân cho
những tồn tại trên


3. Quản lý khâu thu nộp tiền thuế:


Việc quản lý khâu thu nộp tiền thuế
cũng được chia ra làm 2 chế độ thu cho thích hợp:
- Đối với hộ thu theo hình thức kê khai thì
theo luật định cứ ngày 5 hàng tháng cơ sở phải nộp
tờ khai tính thuế Giá trị gia tăng cho cán bộ quản
lý. Sau đó cán bộ quản lý kiểm tra xem xét nếu
đúng ký xác nhận vào tờ khai và chuyển cho bộ phận
nghiệp vụ của Chi cục để tính toán số thuế phải
nộp của cơ sở. Sau khi tính toán số thuế phải nộp
bộ phận nghiệp vụ trình lãnh đạo chi cục duyệt rồi
ra thông báo cho cơ sở và yêu cầu cơ sở phải nộp
số tiền thuế đó vào kho bạc theo một hạn định nhất
định.
- Đối với hộ thu theo hình thức khoán doanh
thu: Cũng ngày 5 hàng tháng bộ phận kiểm tra sau
khi nhận đơn xin nghỉ kinh doanh của các hộ xin
nghỉ kinh doanh ở các địa bàn( các đơn này đều phải
có xác nhận của UBND phường hoặc Ban quản lý các

Trang 70
chợ) thì vào sổ và chuyển cho bộ phận nghiệp vụ để
chấm bộ những hộ nghỉ kinh doanh, bộ phận nghiệp
vụ cũng nhận được danh sách điều chỉnh doanh thu
của các hộ kinh doanh sau khi đã có có sự phê
duyệt của lãnh đạo chi cục để chấm vào bộ. Sau khi
bộ phận nghiệp vụ đã chấm bộ phải trình lãnh đạo
chi cục duyệt bộ và ra thông báo nộp thuế cho các
hộ kinh doanh. Cán bộ quản lý địa bàn nhận thông
báo nộp thuế ở bộ phận nghiệp vụ và phát cho các
hộ kinh doanh yêu cầu nộp thuế theo thông báo và
hạn nộp , địa điểm nộp đã được quy định. Nếu các hộ
trây ì không nộp thuế thì sẽ ra thông báo lần 2,
lần 3 hoặc nếu cần thiết có thể lập hồ sơ để thực
hiện cưỡng chế theo luật định.
Biểu hiện đầu tiên của khâu nộp tiền
thuế trước hết là ở số thuế thu được trong kỳ và số
nợ đọng trong kỳ.


Biểu số 7: Tình hình thực hiện kế hoạch thu
thuế Giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể
trên địa bàn Quận Ba Đình.




Đơn vị tính: 1.000 đồng




Trang 71
     ¨m  
   N 1998 Q uý /1999

Di gi
Ôn  ¶I Sè huÕ
t % Sè huÕ
t %
Sè  ho¹ch
kÕ  6.
000. 000 4.
000. 000
Sè hùc  Ön
t hi 6.
580. 000 3.
495. 581
Tû Ö 
l hoµn hµnh
t 109,67 87,39
Ph©n heo  cÊu hu 
t c¬  t 6.
580. 000 100 3.495. 581 100
*Thu huÕ 
t GTGT( DT) 4.317. 456 65, 2.
61 728. 300 78, 05
*§ ßinî huÕ 
  t GTGT( DT)2.
263. 183 34, 39 767. 281 21, 95



Dựa vào số liệu của biểu tình hình thực
hiện kế hoạch trên ta nhận thấy công tác thu thuế
GTGT của năm 1999 có phần giảm sút so với công tác
thu thuế Doanh thu năm 1998 trước đây.
Năm 1998 Chi cục thuế Ba Đình hoàn thành
vượt mức kế hoạch thu thuế doanh thu đối với hộ kinh
tế cá thể ( đạt 109,67%) .
Năm 1999 với 3 tháng đầu triển khai thu
thuế Giá trị gia tăng đơn vị lại không hoàn thành kế
hoạch ( chỉ đạt 87,39%) mặc dù số thuế thu được quý
I năm 1999 là 3.495.581.000 đồng, vượt hơn rất nhiều
so với số thuế Doanh thu thu được của 3 tháng đầu
năm 1998.
Nhưng xét về mặt kế hoạch thì đơn vị vẫn
không hoàn thành với kế hoạch được giao. Đó là do kế



Trang 72
hoạch đặt ra quá cao so với nguồn thu thực tế mà Chi
cục Ba Đình có khả năng, vấn đề này đã được kiểm
điểm rút kinh nghiệm. Mặt khác do mới đưa thuế Giá
trị gia tăng vào thực hiện nên Chi cục thuế còn gặp
rất nhiều khó khăn cả về phía chủ quan và phiá khách
quan.
Cũng nhìn vào biểu ta thấy số thu thuế Giá
trị gia tăng ngày càng cao so với thuế doanh thu.


Năm 1998 : số thu thuế doanh thu chiếm
65,61% .
Năm 1999 : số thu thuế Giá trị gia tăng
chiếm 78,05% trong tổng số thực thu thuế ở khu vực
kinh tế cá thể. Đây là một biểu hiện tốt do số nợ
giảm dần.
Năm 1998 đòi nợ được 2.263.183.000 đồng,
chiếm 34,39%
Năm 1999 đòi nợ được 767.281.000 đồng,
chiếm 21,95%
Kết quả này là do công tác quản lý tốt nên số thuế
thu được nhiều hơn, nhưng để có lời khẳng định chính
xác phải xem xét tình hình nợ đọng qua các năm.
Trước hết ta hãy để cập đến tình hình quản lý thu
nộp thuế đối với hộ kinh tế cá thể trên địa bàn Quận
Ba Đình.




Trang 73
Biểu số 8: Tình hình thu nộp thuế Giá trị
gia tăng của các hộ kinh tế cá thể trên địa bàn quận
Ba Đình.


Đơn vị tính: 1.000 đồng




Di gi
Ôn  ¶I N ¨m  
1998 Q uý /
I99
1.Sè huÕ  nép  kho 
  t ®∙  vµo  b¹c 6. 580.639 3.
495.581
2.Sè huÕ   hu
  t ph¶it 7. 104.051 3.
626.584
3.So  ¸nh    è   hu
  s víis ph¶it
      _  t
       Sè uyÖt®èi
  ­523.412 ­131.003
       Sè ­
      _  t ¬ng  ®èi _7,4% _3,
6%



Với số liệu trên ta thấy số thuế nộp vào
kho bạc so với số thuế ghi thu đạt chưa cao. Cụ thể:
Năm 1998 so với số thuế phải thu đạt
92,6%.
Năm 1999 so với số thuế phải thu đạt
96,4%.
Như vậy qua các năm số thuế thu được ngày
càng nhiều, tốc độ thu năm 1999 lớn hơn so với năm
1998. Điều này chứng tỏ các cán bộ thuế đã làm tốt
công tác đôn đốc thu nộp thuế, hoạt động ngày càng
có hiệu quả. Mặt khác các cán bộ thu thuế đã bám sát
địa bàn nhiều hơn, qua đó đã thu được nhiều hộ kinh


Trang 74
doanh sản xuất trên địa bàn nằm ngoài sổ bộ và có
biện pháp thu tốt hơn.
Qua các năm, số thuế thu được ngày càng
tăng. Nhìn vào số liệu so sánh giữa ghi thu và thực
thu cả về số tuyệt đối và số tương đối ta thấy số nợ
đọng hoặc không thu được hoặc ít ra là tạm thời chưa
thu được giảm đi rõ rệt. Số liệu đó ngày càng minh
chứng cho việc thu thuế có hiệu quả bởi khoảng cách
này đáng ra phải tăng lên do số hộ kinh doanh tăng
lên.
Cụ thể việc đưa kho bạc xuống tận địa
bàn để thu tiền thuế kết hợp với việc tách bộ phận
tính thuế và phát hành thông báo, bộ phận đôn đốc
thu nộp tiền thuế và bộ phận thanh tra xử lý đã phối
hợp ăn ý, hỗ trợ, kiểm tra lẫn nhau để đẩy nhanh
công tác thu nộp tiền thuế và hạn chế những tiêu cực
có thể phát sinh.
Hàng tháng vào những ngày quy định kho
bạc đến các điểm thu, Chi cục thuế cũng cử cán bộ ở
bộ phận nghiệp vụ viết ngay giấy nộp tiền cho các hộ
kinh doanh trực tiếp đến nộp thuế tại đIểm thu, đây
cũng là một biện pháp đẩy nhanh công tác thu nộp
thuế, hạn chế tiêu cực. Đồng thời Chi cục thuế cũng
phối hợp với UBND các phường, Ban quản lý các chợ và
các phương tiện thông tin đại chúng để đẩy nhanh tốc
độ thu nộp tiền thuế.
Quản lý thu nộp tiền thuế tốt sẽ giảm
được số nợ đọng, chính vì thế nợ đọng thuế nhiều hay


Trang 75
ít là biểu hiện của công tác quản lý thu nộp tốt hay
xấu.


Biểu số 9 : Theo dõi tình hình nợ đọng
thuế Giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên
địa bàn Quận Ba Đình.


Đơn vị tính: 1.000 đồng




N¨m  
1998  N¨m  
  1999

Ngµnh Ghit hu Thùc hu
t Nî ®äng Ghit hu  Thùc hu Nî 
t ®äng
S¶n xuÊt 790.52 680.
643 109.
877 279. 562 267.281 12. 281
DÞ vô
ch  2.
294. 2952.
246.
316 47.
979 2.
031.2602.008.
718 22. 542
T.Nghi Öp 2.
256. 1972.
036.
015 220.
182 825. 605 772.702 52. 903
¡ n uèng 1.
763. 0391.
617.
665 145.
374 396. 324 353.048 43. 276
V Ën ¶I
t 93.
831 93. 831 0

Tæng 
céng 7.
104.
0516.
580.
639 523.
412 3.
626.
582 3.
495.
580 131.
002


Nhìn vào biểu trên, có thể thấy rằng
tình hình nợ đọng qua các năm vẫn tồn tại và luôn là
một vấn đề nan giải trong công tác thu nộp thuế nói
chung và thuế Giá trị gia tăng nói riêng.




Trang 76
Qua 2 năm 1998 và 1999, ta có tỷ lệ nợ đọng
thuế Giá trị gia tăng
( thuế Doanh thu) sau:


Ngành Năm 1998 Quý I năm
1999
Sản xuất 13,9% 4,4%
Dịch vụ 2,1% 1,11%
Thương nghiệp 9,76% 6,4%
Ăn uống 8,25% 10,9%
Trung bình 7,4% 3,6%


Có thể thấy rõ số nợ đọng:


Năm 1998 chiếm 7,4% tương ứng với số
tiền là 523.412.000 đồng.
Quý I năm 1999 chiếm 3,6% tương ứng với
số tiền 131.002 đồng.


Như vậy qua các năm các hộ cá thể đã
chiếm dụng số vốn của Nhà nước là đáng kể, tập trung
hầu hết vào nghành thương nghiệp và ăn uống. Cho nên
kết hợp với khâu quản lý về số hộ và doanh thu thì
cán bộ thuế phải tập trung quan tâm chú ý hơn vào
hai ngành này bởi thất thoát tiền thuế và dây dưa
tiền thuế tập trung nhiều vào hai ngành này. Qua đó
ta cũng thấy biện pháp quản lý và thu nợ đọng qua
các năm của cán bộ thuế chưa thật tốt nên số nợ từ
năm này sang năm khác cứ chồng chất hơn.




Trang 77
Tóm lại qua việc phân tích tình hình
quản lý thu thuế Giá trị gia tăng, tình hình nợ đọng
qua các năm ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn
Quân Ba Đình có thể rút ra được một vài nhận xét về
công tác này:
Các cán bộ thuế đã có sự cố gắng nỗ lực
trong quản lý, Chi cục thuế Ba Đình đã tạo điều kiện
cho cán bộ thuế làm việc nhưng không làm giảm hiệu
quả làm việc của cán bộ thuế. Cán bộ thuế đã cố gắng
chuyên sâu vào việc đôn đốc thu nộp tiền thuế. Việc
nộp tiền thuế qua kho bạc đã làm giảm bớt khó khăn
cho cán bộ thuế, thủ tục đơn giản hơn nhiều. Tuy
nhiên, cần phải bồi dưỡng thêm trình độ cho các cán
bộ thu để tăng hiệu quả công việc.
Công tác quản lý thu có nhiều thay đổi với chiều
hướng tốt, cán bộ thuế năng động nhiệt tình tích cực
bám sát địa bàn và kiểm tra các hộ kinh doanh, phát
hiện nhiều vụ trốn thuế và có biện pháp tích cực để
nhanh chóng thu hồi lại cho NSNN. Các cán bộ thuế
bình quân mỗi người phải quản lý từ 60 đến 70 hộ
thậm chí có những người quản lý hơn 100 hộ (trong đó
có cả những hộ lớn) đều cố gắng hoàn thành nhiệm cụ
được giao, kịp thời phối hợp với các ban ngành có
liên quan như UBND phường, Ban quản lý chợ, công an,
quản lý thị trường..vv để nâng cao chất lượng và
hiệu quả công tác thu.
Các cán bộ thuế tự bồi dưỡng nâng cao
trình độ nghiệp vụ thực hiện việc tuyên truyền giải


Trang 78
thích phối hợp với các bộ phận tính và ra thông báo
thuế, bộ phận thanh tra để nâng cao chất lượng thu
thuế và chống tiêu cực. Thường xuyên họp bàn rút
kinh nghiệm để công tác quản lý thu thuế đạt kết quả
cao nhất.
Nhưng bên cạnh nhưng thành tích đó, công
tác quản lý thu thuế ở Chi cục thuế Ba Đình còn
những yếu kém sau:


• Về công tác quản lý đối tượng nộp thuế:


Quản lý chưa chặt, số hộ chưa quản lý
được còn nhiều. Năm 1998 còn 229 hộ chưa quản lý
được, năm 1999 còn 421 hộ chưa quản lý được. Ngoài
ra việc quản lý các hộ kinh doanh ngoài sổ bộ đã đưa
vào sổ chưa đạt kết quả cao, tỷ lệ thu được những hộ
này còn thấp.


Nguyên nhân thất thu là do công tác điều
tra hộ kinh doanh không được phối hợp chặt chẽ với
cơ quan thuế và các ngành có liên quan, việc phân
loại hộ chưa được tốt nên việc xác định biện pháp
thu không đạt kết quả cao. Việc xác định hộ kinh
doanh còn mang tính chất kế hoạch thu kiểu trên rót
xuống, dưới cố gắng thực hiện để lấy thành tích mà
không có sự quan tâm đúng mức.


• Về công tác quản lý căn cứ tính thuế:


Trang 79
Ta thấy dù năm 1999 triển khai luật thuế
Giá trị gia tăng Chi cục đã có sự điều chỉnh doanh
thu tính thuế nhưng vẫn chưa sát thực tế. Việc quản
lý những hộ lớn nói chung còn lỏng lẻo, đơn thuần,
mức thu còn thấp chủ yếu dựa vào kê khai sổ sách kế
toán để tính thuế, còn thiếu kiểm tra thường xuyên
nên còn để mất thuế.
Nguyên nhân là do các cán bộ thuế tuy có
bám sát địa bàn nhưng mới chỉ chú trọng vào lượng hộ
kinh doanh mà chưa thực sự quan tâm tới quy mô kinh
doanh. Không kiểm tra thường xuyên việc ghi chép sổ
sách nên dẫn đến ghi không đúng và còn làm thất
thoát hoá đơn. Không bám sát địa bàn và kịp thời điều
chỉnh doanh thu tính thuế theo sự biến động của giá
cả, thời vụ và qui mô kinh doanh nên cũng làm thất
thu thuế. Mặt khác cán bộ thuế nhiều khi còn thiếu
tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao cũng
làm thất thu tiền thuế.


• Trong khâu quản lý thu nộp:


Trong khâu quản lý thu nộp vẫn còn những hạn chế
nhất định, còn để tình trạng nợ đọng xảy ra nhiều và
kéo dài qua các năm. Số nợ đọng chiếm từ 3-8% tổng
số thuế ghi thu hàng năm.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là
do cán bộ thuế còn yếu về nghiệp vụ, không đủ khả


Trang 80
năng tuyên truyền, vận động, giải thích, còn lúng
túng khi đề ra mức thu và ghi thu. Còn gây nhiều
thắc mắc trong dân, công tác tuyên truyền chưa được
coi trọng đúng mức.
Ngoài ra việc thu nộp vẫn còn có các tồn tại là
do pháp luật thuế của chúng ta chưa nghiêm, nhiều
trường hợp vi phạm các chính sách thuế không được
xử lý thích đáng, trường hợp hành hung người thi
hành công vụ vẫn xảy ra dẫn đến tình trạng coi
thường pháp luật, mặt khác chưa có sự quan tâm đúng
mức của các ngành các cấp, chưa có sự phối hợp nhịp
nhàng giữa cán bộ thuế và UBND các phường, Ban quản
lý các chợ và cơ quan liên ngành khác. Công tác quản
lý thu thuế phần lớn còn mang tính bị động hơn là
chủ động. Việc sử dụng hình thức thu còn có lúc tuỳ
tiện dẫn đến thất thu thuế.
Chính vì các lý do nêu trên mà việc đòi
hỏi phải tăng cường quản lý thu thuế đối với khu
vực kinh tế cá thể trên địa bàn Quận Ba Đình, việc
vạch ra phương hướng để tăng cường quản lý thu thuế
là rất cần thiết với địa bàn Quận Ba Đình gồm rất
nhiều phường và các chợ.




Trang 81
Phần III

Một số phương hướng tăng cường công
tác quản lý thuế Giá trị gia tăng ở
khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn
Quận Ba Đình.

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước trong
cơ chế kinh tế thị trường nhằm đáp ứng yêu cầu vốn
cần thiết thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội của
nhà nước. Hàng năm nhà nước phải tiến hành xây dựng
và tổ chức thực hiện kế hoặch thuế. Kế hoặch thuế
xét về mặt lý luận là dự kiến quá trình phân phối và
tổ chức động viên một bộ phận GDP của xã hội cho nhà
nước thông qua thuế. Xét về mặt thực tiễn, kế hoặch
thuế là quá trình dự đoán, tính toán và tổ chức động
viên nguồn thu bằng thuế trên phạm vi cả nước Quá
trình xây dựng và quản lý kế hoặch thuế hết sức cần
thiết ở nước ta.
Trước hết để thực hiện các chương trình phát
triển kinh tế xã hội nhà nước đã hoặch định đòi hỏi
phải có lượng vốn cần thiết được huy động từ trong
nội bộ nền kinh tế. Do đó, cần thiết phải xác định
được khả năng tương đối chắc chắn về lượng vốn có
thể huy động được bằng thuế để nhà nước chủ động bố


Trang 82
trí sử dụng vốn. Đồng thời phối hợp với việc huy
động nguồn thu khác để giải quyết vấn đề cân đối
ngân sách một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi
quốc gia.Từ yêu cần tất yếu cấp thiết đó đòi hỏi
phải thực hiện kế hoặch thuế. Mặt khác trong cơ chế
thị trường nhà nước phát huy vai trò quản lý kinh tế
vĩ mô thông qua các công cụ hành chính, kinh tế,
pháp luật. Kế hoặch thuế là một trong những công cụ
quản lý của nhà nước vừa động viên từ hoạt động kinh
tế xã hội vừa phản ánh khả năng kinh tế và sự vận
động của kinh tế để có các biện pháp điều chỉnh kinh
tế hợp lý.
Từ sự cần thiết khách quan của kế hoặch thuế
đòi hỏi công tác quản lý thuế phải ngày càng được
nâng cao, ổn định, phát huy hết khả năng và tác dụng
của một bộ phận tài chính quan trọng của nước nhà.
Qua thời gian nghiên cứu phân tích tình hình
thực hiện thu thuế Giá trị gia tăng ở thành phần kinh
tế cá thể trên địa bàn quận Ba Đình trong 3 tháng đầu
năm 1999, chúng ta đã thấy được phần nào tình hình
chung cũng như ưu-nhược điểm trong quá trình thực
hiện luật thuế mới này. Với tình hình đó ta có thể
tìm ra những nguyên nhân tồn tại thuộc công tác quản
lý đối tượng nộp thuế, quản lý căn cứ tính thuế và
công tác thu nộp, quản lý cán bộ.
Sau thời gian nghiên cứu tình hình thực tế trên
địa bàn Quận Ba Đình, tôi xin nêu ra một số phương
hướng và biện pháp nhằm tăng cường quản lý thu thuế


Trang 83
Giá trị gia tăng đối với thành phần kinh tế cá thể
trên địa bàn Quận Ba Đình.


I . Quản lý đối tượng nộp thuế:


Để quản lý được đối tượng nộp thuế, đòi hỏi cán
bộ thuế phải tích cực bám sát địa bàn để quản lý
được hộ kinh doanh đã đưa vào sổ bộ, thường xuyên
phát hiện hộ mới ra kinh doanh để đưa vào quản lý.
Phối hợp với các cơ quan điều tra thống kê, cơ quan
cấp đăng ký kinh doanh để tạo điều kiện cho hộ kinh
doanh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình đối với
Nhà nước. Phải quy rõ trách nhiệm vật chất với từng
cán bộ quản lý, thường xuyên phối hợp với phường để
kiểm tra số hộ nghỉ kinh doanh, phát hiện hộ nghỉ
giả.. Có biện pháp thật cứng rắn với hộ cố tình vi
phạm như xử phạt hành chính, thậm chí truy tố trước
pháp luật. Với những hộ thường xuyên chấp hành tốt
nghĩa vụ nộp thuế thì các đội thuế phường phải tổng
kết hàng tháng để cuối năm trình lên Chi cục có hình
thức khen thưởng động viên kịp thời.


a A. Quản lý những hộ đã quản lý được:
b
1. Các hộ kinh doanh được theo dõi trên sổ bộ
phải được xắp xếp theo mã số từng địa bàn, ngành
nghề, phương pháp nộp thuế ( kê khai hay ấn định).
Các cán bộ thuế phải thường xuyên theo dõi tình hình


Trang 84
hoạt động kinh doanh của các hộ mà mình quản lý, khi
hộ có đơn xin nghỉ thì cán bộ thuế có thể cùng với cơ
quan liên ngành theo dõi, kiểm tra và cũng có thể để
tự các hộ theo dõi lẫn nhau. Điều này là rất có thể
thực hiện được vì trong cơ chế thị trường một hộ mới
ra kinh doanh hay nghỉ kinh doanh rất có tác động tới
các hộ khác khi họ cùng kinh doanh một ngành nghề.


2. Các hộ có đơn xin nghỉ kinh doanh này chỉ được
chấm nghỉ khi có lý do chính đáng và trong đơn phải
có mục “ Nếu vi phạm thì sẽ bị xử lý ra sao? ”. Đơn
này phải được UBND phường ký đóng dấu và phải được
chuyển về Chi cục thuế đúng thời hạn quy định để
kiểm tra một cách kịp thời. Đồng thời cán bộ quản lý
thu thuế tại địa bàn nào phải chịu trách nhiệm phát
hiện xử lý kịp thời những hộ xin nghỉ mà vẫn kinh
doanh.


4. Mỗi khi ban hành chính sách quy định mới phải
tuyên truyền giải thích rõ ràng, cụ thể để tránh gây
hiểu lầm dẫn đến xuất hiện hành vi chống đối. Khi có
biểu hiện này nên mời họ về đội hoặc chi cục để giải
thích.


5. Khi có xu thế chống đối hàng loạt ( với các hộ
kinh doanh trong các chợ), cần phải xử lý nghiêm
minh tránh tình trạng tràn lan. Mặt khác, phải xem




Trang 85
lại trong việc thực hiện có gì sai sót cần phải sửa
chữa kịp thời và sẵn sàng nhận lỗi.


6. Thực tế cho thấy nhiều hộ kinh doanh ít hiểu
biết vế thuế, nhất là thuế Giá trị gia tăng lại là
một luật thuế mới, có tính phức tạp hơn về phương
pháp tính thuế. Nhiều hộ cho rằng không cần biết
thuế là gì ?. Cán bộ thuế báo nộp bao nhiêu nếu cảm
thấy được thì nộp còn không thì chống đối, trây ì
không nộp, hoặc tìm cách móc ngoặc với cán bộ thuế
để được giảm thuế và chỉ nộp với mức thuế rất thấp,
gây tổn thất cho NSNN. Còn nhiều người khác lại cho
rằng tăng mức thuế hiện nay là không hợp lý vì buôn
bán ngày càng khó khăn, tiền kiếm được ngày càng vất
vả mà thuế thì mỗi ngày một tăng, kèm theo việc ban
hành những sắc thuế mới gây xáo động phần nào cho
hoạt động kinh doanh của họ.


Như vậy mới biết được tầm hiểu biết về thuế của
người dân còn quá ít, cần phải giải thích hướng dẫn
chính sách chế độ đến từng người dân qua các phương
tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa
phương. Mặt khác cũng phải chý ý đến mọi đề đạt của
dân, xem lại mức thuế cho phù hợp với thực trạng của
cơ sở sản xuất kinh doanh. Giữa từng khu vục trong
địa bàn phải xây dựng mức thuế hợp lý giữa các ngành
nghề, mặt hàng kinh doanh. Phải có sự phối hợp ăn ý
giữa các ban ngành để tạo điều kiện thu về cho ngân


Trang 86
sách trung ương và ngân sách địa phương nhưng mức
thu phải thoả đáng để các hộ kinh doanh có thể chấp
nhận được, có thể tiếp tục kinh doanh được, không
thể mạnh ai nấy làm, công an cũng thu, uỷ ban cũng
thu, thuế cũng thu.. Cuối cùng chỉ có người kinh
doanh chịu. Các ban ngành phải họp lại nhằm đề ra một
mức đóng góp hợp lý để người dân chịu được mà vẫn
đảm bảo thu ngân sách.




B. Đối với hộ chưa quản lý được:


1. Cơ quan thuế mà cụ thể là các cán bộ thuế phải
tích cực bám sát địa bàn phối hợp với cơ quan liên
ngành để điều tra xác định rõ số hộ kinh doanh mà
không có giấy phép kinh doanh.


Cụ thể: - Với hộ buôn bán ngay tại nhà, có cửa
hàng cửa hiệu, có chỗ ngồi cố định cần tiến hành
cấp ngay đăng ký kinh doanh, mã số thuế, tính toán
doanh thu và số thuế phải nộp để đưa vào quản lý
trong sổ bộ.


- Với hộ kinh doanh ở vỉa hè, vãng lai không
có chỗ ngồi cố định cũng như thời gian cụ thể thì
biện pháp trước mắt để nắm vững được những hộ này


Trang 87
là cần theo dõi thường xuyên và có thể tiến hành
thu thuế sau đó dần dần nếu đủ điều kiện thì đưa
vào sổ bộ quản lý.


2. Cần có những chế độ xử lý nghiêm minh với những
hộ cố tình chống đối hoặc núp bóng tập thể để kinh
doanh trốn thuế. Ngoài những biện pháp xử lý hành
chính thông thường, nếu vi phạm nhiều lần có thể bị
truy tố trước pháp luật.


3. Trong trường hợp các hộ quá khó quản lý do tính
chất và đặc điểm ngành như hộ bán hàng ăn sáng, hàng
hoa, thịt.. nên chăng có thể áp dụng chế độ thu góp
theo ngày kinh doanh.


II. Quản lý về căn cứ tính thuế:


Yêu cầu đầu tiên của các cán bộ thuế là phải
thường xuyên bám sát địa bàn, nắm vững sự biến động
của giá cả, sự thay đổi quy mô kinh doanh để có tính
toán, xác định căn cứ tính thuế sát với thực tế.
Bằng suy nghĩ trên ta có thể đưa ra một số phương
hướng sau:
1. Cần có sự điều chỉnh doanh thu tính thuế và
việc điều chỉnh này phải căn cứ vào sự biến động của
giá cả để thông báo kịp thời với bộ phận ra thông báo
và khi đó phải giải thích cụ thể với từng hộ kinh
doanh về lý do điều chỉnh và mức điều chỉnh. Khi điều


Trang 88
chỉnh doanh thu tính thuế phải làm đúng quy trình
nghiệp vụ của ngành đã đề ra đó là phải thông qua
Hội đồng tư vấn thuế phường và có sự phê duyệt của
lãnh đạo Chi cục thuế và thông báo cho hộ kinh doanh
về lý do điều chỉnh và mức thuế điều chỉnh. Việc điều
chỉnh doanh thu áp dụng cho ngành hàng nào, mặt hàng
nào phải áp dụng đồng loạt và công khai, trong
trường hơp không áp dụng cho hộ nào cần phải nêu rõ
lý do tại sao không điều chỉnh. Với những hộ có quy
mô kinh doanh như nhau, điều kiện kinh doanh như
nhau thì mức điều chỉnh cũng phải như nhau.Trong khâu
đều chỉnh tránh gây thắc mắc và tư tưởng chống đối
hàng loạt. Việc điều chỉnh giữa các khu vực phải
giống nhau và điều chỉnh đồng đều.


2. Với ngành ăn uống thì khâu quản lý căn cứ
tính thuế thường vấp phải khó khăn trong việc định
ra doanh thu hoặc nếu phải thực hiện sổ sách kế toán
cũng không có điều kiện. Biện pháp quản lý căn cứ
tính thuế của ngành này phải quản lý chặt chẽ, điều
tra hàng tháng điển hình tại các địa bàn khác nhau để
từ đó quyết định về việc tăng doanh thu tính thuế phù
hợp với từng hộ và từng vùng nhất định.


3. Mở các lớp kế toán tư nhân. Từ đó đối với
những hộ thực hiện sổ sách cho nghiêm chỉnh, cán bộ
thuế phải thường xuyên kiểm tra ghi sổ và việc sử
dụng chứng từ hoá đơn để có gì sai sót có thể sửa


Trang 89
chữa được ngay. Trong trường hợp hộ cố tình vi phạm
phải có biện pháp xử lý đích đáng hoặc có thể đưa ra
truy tố trước pháp luật.


4. Trong lĩnh vực quản lý hoá đơn cần có biện
pháp xửl ý thật nặng đối với người bán cũng như
người mua để mất hoá đơn một cách không chính đáng.
Cán bộ thuế phải mở sổ theo dõi tình hình sử dụng
hoá đơn của các hộ sử dụng hoá đơn trong địa bàn
mình phụ trách. Hàng tháng cùng với nhiệm vụ kiểm
tra doanh thu, cán bộ thuế có nhiệm vụ kiển tra tình
hình sử dụng hoá đơn theo quy định nếu để mất mát,
thất lạc thì sẽ bị xử phạt theo quy định quản lý sử
dụng hoá đơn của Bộ Tài chính ban hành.


5. Cần phải thực hiện nghiêm chỉnh quyết định số
1345/TCT/TCCB của Tổng cục thuế ban hành ngày
9/12/1998 về việc xác định doanh số ấn định đối với
hộ cá thể nộp thuế Giá trị gia tăng theo phương pháp
khoán. Thường xuyên kiểm tra xác định mức doanh thu
khoán cho phù hợp với thực tế kinh doanh của các hộ.


6. Cán bộ thuế phải thường xuyên kiểm tra các
hộ kinh doanh để phát hiện những mặt hàng mà hộ kinh
doanh thêm để tính lại mức thuế cho phù hợp tránh
thất thu về thuế. Trong trường hợp các hộ hiện đang
thu thuế theo doanh thu khoán mà có sử dụng hoá đơn
thì cán bộ thuế phải thường xuyên kiểm tra để phát


Trang 90
hiện và truy thu thêm ngay doanh thu chênh lệch giữa
doanh thu trên hoá đơn bán hàng và doanh thu khoán.


7. Hoạt động thanh kiểm tra phải thường xuyên
liên tục. Cần phải bổ xung các cán bộ thanh tra có
trình độ nghiệp vụ vững vàng có phẩm chất đạo đức
tốt xứng đáng với 1 trong 3 bộ phận của quy trình
thu thuế tách 3 bộ phận mà Tổng cục thuế đã ban
hành.


8. Để ngăn chặn việc thực hiện chế độ kế toán,
sử dụng hoá đơn chứng từ không theo quy định của
pháp lệnh kế toán thống kê thì các cán bộ thuế phải
thường xuyên kiểm tra với những nội dung sau:


- Kiểm tra xem cơ sở dùng mấy loại hoá đơn:
Việc sử dụng hoá đơn bán hàng nếu vi phạm như dùng
2 quyển một lúc, hoá đơn nhảy cóc, nội dung ghi
chép không rõ ràng, không đúng chỉ tiêu quy định
ghi trên hoá đơn thì phải lập biên bản xử lý ngay.
Việc phát hành, lưu hành những hoá đơn không phải
hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành phải được xử lý
như hành vi khai man trốn lậu thuế.


- Kiểm tra việc khoá sổ kế toán( cuối tháng,
cuối quý, cuối năm phải khoá sổ kế toán, lập bảng
kê khai tính thuế theo quy định).




Trang 91
- Đối với những hộ đăng ký thu thuế theo phương
pháp kê khai mà không thực hiện nghiêm chỉnh chế
độ sổ sách kế toán hoá đơn chứng từ theo quy định
thì Chi cục thuế nên phối hợp với các ngành chức
năng( đội liên ngành) xử lý bằng cách không thừa
nhận số liệu của hộ sản xuất kinh doanh và ấn định
mức thuế cao nhất cùng với việc xử phạt vi phạm
hành chính theo nghị định 22/CP của Chính
Phủ( điều 2 khoản I quy định xử phạt từ 20.000 đ
đến 200.000 đ có thể phạt đến 1.000.000 đ).
Bồi dưỡng, nâng cao trình độ ghi chép, mở sổ
sách kế toán của những đối tượng nộp theo hình
thức kê khai. Từng bước chuyển dần các đối tượng
này sang phương pháp tính thuế khấu trừ.


III. Một số biện pháp thu nộp tiền thuế:


Vấn đề chủ yếu ở khâu này là cần phải tìm ra
phương hướng để thúc đẩy nhanh việc nộp thuế ở các
hộ kinh doanh cá thể, hạn chế tối đa số nợ đọng cũng
như giải quyết số thuế tồn đọng.


Các cán bộ thuế phải đôn đố c thu nộp thuế
thường xuyên dứt điểm số thuế phải thu hàng tháng
không để các hộ dây dưa tiền thuế . Khoán mức thu
thuế cho từng cán bộ và gắn trách nhiệm vật chất với
từng cán bộ thuế. Theo dõi kết quả và số thuế nợ




Trang 92
đọng để cuối tháng, cuối quý có cơ sở bình xét thu
đua khen thưởng.


Trong trường hợp hộ kinh doanh cố tình vi phạm
không chịu nộp thuế cũng như không chịu trả tiền thuế
còn nợ thì phải phối kết hợp với các cơ quan có
trách nhiệm xử lý kịp thời như : xử lý hành chính,
tịch thu tài sản hay truy tố trước pháp luật..vv..
Phải thanh kiểm tra thường xuyên với tất cả các hộ
kinh doanh cũng như các cán bộ thuế để kịp thời phát
hiện những vụ vi phạm pháp luật thuế. Những cán bộ
thuế có biểu hiện tiêu cực như xâm tiêu tiền thuế ,
tư thông với hộ kinh doanh để tham ô tiền
thuế..vv..Đối với những cán bộ vi phạm 10 điều kỷ
luật của ngành thuế thì phải kiên quyết xử lý để lấy
lòng tin với dân chúng.


1.Công tác xây dựng kế hoạch :


Để đảm bảo tốt được công tác xây dựng kế hoặch
Chi cục thuế cần có biện pháp sau:


Cán bộ chuyên quản phải căn cứ vào tình hình
thực tế của từng hộ kinh doanh, căn cứ vào sự hướng
dẫn của Chi cục về khả năng phát triển kinh tế của
từng địa bàn, căn cứ vào số thu năm trước mà xây
dựng kế hoặch thu thuế Giá trị gia tăng theo quý,
tháng, năm.


Trang 93
Bố trí cán bộ có năng lực để làm công tác thu
thập tài liệu phối hợp chặt chẽ với các ngành hữu
quan để thu thập tài liệu một cách chính xác và kịp
thời. Tổ chức tập huấn cho cán bộ chuyên quản về tầm
quan trọng của công tác xây dựng kế hoặch.Coi việc
thực hiện công tác xây dựng kế hoặch là một mục tiêu
quan trọng để xác định chỉ tiêu thi đua của các tổ,
đội và các cán bộ chuyên quản.


2. Công tác đôn đốc thu nộp thuế:


Công tác đôn đốc thu nộp thuế có tác dụng rất
quan trọng trong công tác quản lý thu thuế Giá trị
gia tăng vì mục đích cuối cùng là số thuế nộp vào
Ngân sách Nhà nước . Muốn làm tốt công tác này thì
Chi cục cần có những biện pháp sau:


Chi cục phối hợp với kho bạc để bố trí thêm
những điểm thu thuận lợi khi cần thiết, đề nghị kho
bạc làm thêm giờ để đảm bảo cho các cơ sở kinh doanh
nộp thuế được thuận lợi.


Phải xử lý nghiêm minh, công bằng đối với những
trường hợp nợ nần dây dưa về thuế. Nếu vi phạm tiếp
lần sau sẽ phạt nặng hơn, từ đó khuyến khích và ý
thức được trách nhiệm của người nộp thuế.




Trang 94
Phải có chế độ thưởng phạt đối với cán bộ
chuyên quản trong việc đôn đốc thu nộp thuế. Nếu cán
bộ chuyên quản làm tốt công việc này thì phải có chế
độ khen thưởng ngay đối với cán bộ đó. Và ngược lại
cán bộ chuyên quản nào làm không tốt công việc của
mình, để sơ hở hộ nợ nần dây dưa thì phải có mức
phạt đối với cán bộ đó.


Đối với hộ đọng thuế, phải làm đủ căn cứ để có
cơ sở cho thanh tra của Chi cục hay đội liên ngành
xử lý( những hộ đề nghị xử lý phải là hộ điển hình
không làm tràn lan) chỉ làm thủ tục triệt tiêu hộ
đọng khi hộ đó thực sự nghỉ bỏ kinh doanh hay có lý
do chính đáng.


3. Công tác kiểm tra và thanh tra thuế:


Như ta đã biết mấy năm vừa qua, khu vực kinh tế
cá thể ngày càng phát triển và mở rộng. Việc dấu
doanh thu, trốn lậu thuế .. trở nên tinh vi và
nghiêm trọng hơn. Mặt khác, để thực hiện đúng luật
thuế là phải thu đúng, thu đủ và kịp thời vào Ngân
sách Nhà nước. Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra
phải tăng cường hoạt động tích cực hơn nữa để công
tác này đạt kết quả cao, nhằm hạn chế đến mức thấp
nhất về thất thu thuế. Do vậy để làm tốt được công
tác này chi cục cần phải:




Trang 95
Tiếp tục đào tạo nâng cao trình độ, ý thức
trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ làm công tác thanh
tra, kiểm tra. Tăng cường mở rộng và đạt hiệu quả
hơn nữa trong công tác thanh tra kiểm tra, đào tạo
bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho tổ thanh tra, kiểm
tra giúp cho tổ có được các cuộc thanh tra thường kỳ
đối với các đối tượng nộp thuế.


Chủ động trong công việc có kế hoạch công tác
cụ thể, từng ngày trong tuần trình lãnh đạo duyệt.
Có như vậy mới ngăn ngừa hạn chế được sai phạm
( trong và ngoài ngành thuế) từ trước khi sai phạm
phát sinh.


Cán bộ thanh tra kiểm tra phải xử phạt theo đúng
pháp luật đối với các cơ sở kinh doanh trái phép,
tránh hiện tượng chỉ lập biên bản mà không làm thủ
tục xử phạt.


Tăng cường công tác kiểm tra nộp thuế vào kho
bạc của cơ sở, các hộ và cán bộ chuyên quản. Tránh
tình trạng nợ đọng thuế, xâm tiêu tiền thuế của cán
bộ thuế. Thông qua biện pháp này sẽ có hiệu quả
trong việc đôn đốc thu nộp của cán bộ chuyên quản,
tránh việc tồn đọng thuế. Tăng cường công tác kiểm
tra ,thanh tra lập sổ thuế ở các phường xã. Kịp thời
phát hiện những hộ kinh doanh đã ổn định mà chưa đưa
vào quản lý trong sổ bộ.


Trang 96
Bên cạnh việc thanh tra, kiểm tra các đối tượng
nộp thuế cũng cần phải tiến hành thanh tra, kiểm tra
trong nội bộ ngành thuế để ngăn chặn và phát hiện xử
lý những trường hợp vi phạm của cán bộ thuế như
trong việc quản lý hoá đơn, biên lai thuế. Góp phần
làm trong sạch đội ngũ cán bộ thuế nói riêng và
trong ngành thuế nói chung.


Việc thực hiện thanh tra, kiểm tra cần có sự
phối hợp chặt chẽ với các ngành và các cấp. Nội dung
công việc thanh tra kiểm tra cần phải được tiến hành
cụ thể, sâu rộng và toàn diện.


Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để xử lý
nghiêm minh các trường hợp lợi dụng bán hàng giá cao
hơn giá bình thường nhằm mục đích kiếm lời..cũng như
việc các đối tượng bán hàng không xuất hoá đơn chứng
từ theo đúng quy định.


IV. Các biện pháp về tổ chức cán bộ:


1. Chấn chỉnh bộ máy hoạt động của Chi
cục thuế Quận Ba
Đình:




Trang 97
Với đặc điểm cơ bản của Chi cục thuế Ba Đình
hiện nay, số thu về cho NSNN chưa phải là lớn, cơ sở
vật chất không phải là nhiều nên chăng Chi cục nên
cải tiến tổ chức quản lý thu thuế và cải tiến tổ
chức bộ máy Chi cục theo biện pháp sau:


Các đội thuế cần căn cứ vào đặc điểm của phường
nơi chịu trách nhiệm quản lý để biên chế cán bộ một
cách thích hợp nhất, tránh tình trạng nơi thừa thì
ngồi chơi xơi nước, nơi thiếu thì làm không hết
việc.


Ngoài ra do Chi cục thuế Ba Đình có số đối tượng
nộp thuế không nhiều, số thu ít, biên chế cán bộ
không lớn thì có thể ghép các tổ như sau:


- Tổ kế hoạch, nghiệp vụ, tính thuế và kế toán
thuế.
- Tổ thanh tra và xử lý tố tụng về thuế.
- Tổ nhân sự, tài vụ, hành chính, quản trị.
- Các đội thuế phường, đội thuế liên phường.
- Các trạm thuế ở đầu mối giao thông.


Đặc biệt củng cố đội ngũ cán bộ, tăng cường cán
bộ có trình độ, năng lực bố trí tại các tổ chuyên
môn của Chi cục thuế, nhất là các tổ: Thanh tra và
xử lý tố tụng về thuế, Tổ kế hoạch, tính thuế, lập
bộ và kế toán thu, Tổ nghiệp vụ.


Trang 98
2.Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ một
cách có hệ thống:


Tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ thuế giỏi về
chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức tốt.
Trong tình hình hiện nay đào tào những cán bộ giỏi
về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt là
một việc làm hết sức cấp bách không chỉ riêng ngành
thuế mà đòi hỏi tất cả các ngành, các cấp cũng cần
phải có. Muốn vậy Chi cục cần phải có những biện
pháp sau đây:


+ Khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các cán
bộ theo học các lớp hệ tập trung dài hạn và ngắn hạn
với những người chưa qua đại học. Biện pháp để nâng
cao trình độ cho cán bộ là thông qua các lớp học tại
chức, lớp học tập trung dài hạn, Chi cục cần tạo mọi
điều kiện về cơ sở, vật chất cho cán bộ theo học.


+ Thường xuyên mở các lớp đào tạo bồi dưỡng
nâng cao cho cán bộ chuyên sâu theo từng loại nghiệp
vụ công tác của họ. Tăng cường phổ biến những kinh
nghiệm, những điển hình tốt trong công tác này. Hàng
tháng, hàng quý tổ chức các cuộc hội thảo, thảo luận
theo chuyên đề về thuế và các nghiệp vụ thu để cán
bộ có điều kiện trao đổi kinh nghiệm với nhau. Coi



Trang 99
đây là một trong những giải pháp nhằm nâng cao trình
độ quản lý cho cán bộ chuyên quản.


+ Đổi mới việc tuyển chọn cán bộ vào ngành
thuế , tuyển chọn theo phương thức thi tuyển các
sinh viên đã tốt nghiệp đại học đặc biệt là các đối
tượng đã tốt nghiệp chuyên ngành thuế của trường Đại
học Tài chính kế toán.


+Gắn chặt quyền lợi và trách nhiệm trong việc
thực hiện nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở đó mà kích
thích tinh thần phấn đấu công tác hoàn thành nhiệm
vụ được giao.


+ Cần có một qui chế định rõ quyền hạn và trách
nhiệm của cán bộ, nhân viên trong ngành thuế. Kiên
quyết đưa ra khỏi ngành những cán bộ yếu về năng
lực, thoái hoá biến chất để làm trong sạch và nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ thuế. Phải thường
xuyên liên tục bồi dưỡng giáo dục phẩm chất đạo đức,
tác phong cho cán bộ và thực hiện tốt 10 điều kỷ
luật của ngành thuế, tổ chức các đợt thi đua ( cán
bộ thuế giỏi) nhằm tác động tích cực đến việc hoàn
thành nhiệm vụ công tác.


3. Có chính sách về lương thoả đáng với
cán bộ thuế để tạo điều kiện làm việc
tốt hơn:

Trang 100
Ngành thuế là ngành có vị trí quan trọng trong
thu ngân sách nhà nước. Điều kiện làm việc của cán
bộ thuế không như các ngành khác phải đi lại nhiều,
thời gian thất thường nhiều khi phải làm thêm ngoài
giờ kể cả ngày chủ nhật, đối tượng tiếp xúc là nhiều
hạng người, vì thế gặp nhiều khó khăn trong công
tác. Môi trường làm việc và cuộc sống khó khăn sẽ
xảy ra tình trạng các cán bộ thuế lơ là trách nhiệm
của mình. Vì thế vừa để tạo điều kiện cho các cán bộ
thuế yên tâm công tác, vừa khuyến khích động viên
thì chế độ lương với cán bộ thuế mà cụ thể là các
cán bộ trực tiếp thu phải được nâng lên và nên chăng
có phụ cấp cao. Để tránh mọi hiện tượng tiêu cực có
thể xảy ra phải xây dựng một chế độ thưởng phạt
thích hợp.


4. Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ
quan thuế và các cấp, các ngành có liên
quan:


Trong công tác quản lý thuế nói chung và đẩy
mạnh thu thuế Giá trị gia tăng nói riêng cần phối hợp
chặt chẽ với các ngành có liên quan nhằm giúp đỡ Chi
cục thuế hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về thuế trong
công tác quản lý thu thuế. Chi cục thuế phải thường
xuyên thông báo với các cấp chính quyền địa phương

Trang 101
về tình hình kết quả thu thuế, thực trạng thất thu
thuế để từ đó tăng cường phối kết hợp quản lý thu
thuế và chống thất thu thuế.


Tăng cường phối kết hợp với các cơ quan báo
chí, phát thanh truyền hình đẩy mạnh công tác tuyên
truyền thuế một cách thường xuyên và liên tục. Đặc
biệt là phải tuyên truyền phổ biến chính sách chế độ
theo quý hoặc tháng ở các khu trung tâm chợ. Nâng
cao nhận thức vai trò của công tác tuyên truyền cho
mọi cán bộ công nhân viên trong ngành thuế . Mỗi cán
bộ trong ngành thuế là một tuyên truyền viên giỏi
trong quần chúng nhân dân, tăng cường đầu tư cho
công tác tuyên truyền bao gồm cả đào tạo cán bộ, sức
lực, trí tuệ, kinh phí và trang bị phương tiện.


V. Một số biện pháp khác:


1. Từng bước đưa khoa học kỹ thuật vào quản
lý thu thuế như ứng
dụng công nghệ tin học:


Trong những năm qua công tác tin học ngày càng
phát triển mạnh mẽ, có tác dụng quan trọng trong mọi
lĩnh vực. Vì vậy để giảm bớt lao động nặng nhọc cho
con người, tăng nhanh tốc độ và hiệu quả công việc
Tổng cục thuế đã phối hợp với Công ty đầu tư và phát



Trang 102
triển công nghệ (FPT) hoàn thiện phần mềm quản lý
thuế Giá trị gia tăng. Đây là một bước nhảy vọt
trong công tác tin học hoá ngành thuế của chúng ta.
Gần đây Chi cục thuế Ba Đình cũng đã được Tổng cục
thuế đầu tư một mạng máy vi tính hiện đại nhằm giúp
công tác quản lý thu thuế trên địa bàn quận được hoàn
thiện hơn.


Chi cục thuế Ba Đình cần xác định được tầm quan
trọng của công tác này để tuyển dụng, đào tạo các
cán bộ thuế có đủ trình độ năng lực ứng dụng kỹ
thuật hiện đại này vào công tác quản lý ở các tổ
đội, nghiệp vụ kế toán tính thuế, kế toán ấn chỉ
..vv. Có như vậy sẽ giảm bớt được ghi chép tính toán
trên sổ bộ của lao động thủ công, có thể tính toán
chính xác hơn, nhanh nhất và đạt hiệu quả cao nhất
trong mọi công việc.


2. Làm thay đổi thói quen của người dân
về việc sử dụng hoá đơn, chứng từ:


- Cần phải quản lý chứng từ hoá đơn ở các khâu mua
hàng, xuất hàng hoặc nhập nguyên vật liệu, bán sản
phẩm cũng như ở các nghiệp vụ hạch toán khác. Đây là
những điều mang tính chất quyết định đến việc có thể áp
dụng thuế Giá trị gia tăng hay không.




Trang 103
- Mặt khác cần phải thúc đẩy hệ thống kế toán tư
nhân áp dụng trên phạm vi cả nước và phải coi đó là
một sắc lệnh của Nhà nước đối với các hộ cá thể, có
như vậy mới áp dụng được thuế Giá trị gia tăng theo
đúng như tính chất của nó. Tâm lý chung của các hộ cá
thể là không muốn áp dụng chế độ sổ sách kế toán bởi
vì một phần do trình độ của nhiều người còn hạn chế,
phần nữa do sợ ghi chép phản ánh đầy đủ vào sổ sách kế
toán thì thuế sẽ phải nộp nhiều hơn. Do đó chúng ta
phải thực hiện tốt điều này bởi vì thuế Giá trị gia
tăng chỉ có tác dụng khi cơ sở kinh doanh nhận thức
được quyền lợi trong việc ghi chép được sổ sách cũng
như việc lưu trữ phát hành hoá đơn đầu vào, đầu ra.


3. Kiến nghị về văn bản luật, chính sách của
Nhà nước:


Qua 3 tháng thực thi thu thuế Giá trị gia tăng tại
Chi cục thuế Quận Ba Đình tôi thấy cần có một số
kiến nghị nhằm giúp các hộ kinh doanh có được điều
kiện buôn bán thuận tiện hơn, giảm bớt khó khăn
trong quá trình thực hiện loại thuế này:
* Lẽ ra khi thực hiện thuế Giá trị gia tăng sẽ
thúc đẩy việc mua bán có hoá đơn, chứng từ tốt hơn,
nhưng điều này chỉ cần thiết đối với các cơ sở sản
xuất kinh doanh được khấu trừ thuế, còn các cơ sở
nộp thuế trực tiếp thì không cần đến, bởi nếu có đủ



Trang 104
hoá đơn chứng từ thì rất có thể phải đóng thuế cao
hơn.
* Nhà nước cần có những giải pháp giúp cho các
hộ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ khi có quan hệ
bạn hàng với các hộ, cơ sở kinh doanh nộp thuế theo
phương pháp trực tiếp có thể được khấu trừ một phần
nào đó thuế giá trị gia tăng đầu vào đã nộp ở khâu
trước.
* Quy trình quản lý thuế hiện nay, không dựa
trên căn cứ tự tính thuế của các đối tượng nộp thuế.
Với số lượng các hộ kinh doanh quá lớn các cán bộ
thuế luôn luôn bận rộn với công việc đơn điệu :Chấm
nghỉ, kiểm tra doanh thu, xác định mức thuế, ra thông
báo v..v.. Số cán bộ làm công việc này tương đối
lớn, trong khi biên chế thì có hạn. Nên chăng luật
thuế giá trị gia tăng cần đưa ra những điều luật để
tiến hành công tác cưỡng chế thuế và tăng cường
công tác kiểm tra đối tượng nộp thuế. Đối với khu
vực kinh tế cá thể cần cải tiến quy trình quản lý
thuế sao cho đơn giản hoá nhất.
Nhìn chung việc thực thi thuế Giá trị gia tăng
chỉ có ý nghĩ thực chất khi được áp dụng theo phương
pháp khấu trừ hoặc trực tiếp trên Giá trị gia tăng.
Còn hiện nay ở Chi cục thuế Quận Ba Đình phần lớn
chỉ áp dụng phương pháp khoán nên cũng không có gì
thay đổi rõ rệt. Nên chăng các cấp, các ngành và
những cơ quan ban hành luật cần có những biện pháp
thích hợp hơn, hoàn thiện hơn trong công tác xây


Trang 105
dựng một luật thuế Giá trị gia tăng với đầy đủ bản
chất của luật thuế mang tính hiện đại, nhất là đối
với khu vực kinh tế cá thể.




Trang 106
Kết luận:

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá,
vai trò của chính sách tài chính cói chung và vai
trò của chính sách thuế nói riêng ngày càng trở nên
vô cùng quan trọng. Để đáp ứng nhiệm vụ được giao,
đòi hỏi ngành thuế phải cải cách hệ thống chính sách
thuế, đổi mới công tác quản lý hành chính, nhằm tăng
thu cho Ngân sách Nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát
triển, thực hiện công bằng xã hội: “ Thu đúng, thu
đủ, thu kịp thời cho ngân sách”.


Trong nền kinh tế thị trường, khu vực kinh tế cá
thể phát triển mạnh mẽ và đa dạng. Công tác thu
trong khu vực kinh tế này đã đảm bảo nguồn thu quan
trọng cho ngân sách Nhà nước phục vụ tốt nhiệm vụ
chính trị của từng giai đoạn cách mạng góp phần
thúc đẩy sản xuất phát triển.


Qua thời gian thực tập tại Chi cục thuế Quận Ba
Đình-Hà nội, tuy là một Chi cục nắm giữ việc thu
thuế trên địa bàn nhỏ, chưa được sự đầu tư lớn nhưng
với sự đoàn kết tìm tòi, áp dụng các quy trình biện
pháp thu thuế mới nên kết quả thu đã đạt được rất
đáng khích lệ. Song bên cạnh đó công tác quản lý
thuế Giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế này còn bộc



Trang 107
lộ những điểm tồn tại: hiện tượng thất thu về thuế
nói chung và thuế Giá trị gia tăng nói riêng, nợ đọng
vẫn còn nhiều, chậm được giải quyết.


Qua tìm hiểu thực trạng tôi đã mạnh dạn nêu lên
một số biện pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những tồn
tại để việc áp dụng thuế Giá trị gia tăng ngày một
hoàn thiện hơn, nhất là trên khu vực kinh tế cá thể.


Thuế Giá trị gia tăng là sắc thuế mới, có sự
thay đổi cơ bản về nội dung, phương pháp tính thuế
và biện pháp hành thu so với thuế doanh thu mà nó
thay thế. Vì vậy trong quá trình áp dụng sẽ không
tránh khỏi những khó khăn có thể giải quyết một sớm
một chiều được, nhưng với quyết tâm và biện pháp
thích hợp nhất định Chi cục thuế Ba Đình sẽ thực thi
luật thuế này như mong muốn. Hy vọng rằng những đề
xuất trên sớm được Chi cục xem xét, áp dụng đem lại
hiệu quả đối với công tác thu của Chi cục trong thời
gian tới.


Với trình độ lý luận hạn chế, thực tế công tác
chưa nhiều nên đề tài không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo, các cán bộ thuế và các bạn đọc quan tâm để
đề tài được hoàn thiện và có tính khả thi hơn.




Trang 108
Tôi xin trân thành cám ơn thầy cô giáo trong bộ
môn Thuế và các cán bộ thuế đã tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành đề tài này./.




Trang 109
PHụ lục

1. Giáo trình bài giảng về thuế nhà nước.
2. Các tạp chí thuế nhà nước.
3. Thời báo tài chính.
4. Diễn đàn doanh nghiệp.
5. Luật thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng
dẫn.
6. Các báo cảo tổng kết tháng, quý, năm của chi cục
thuế quận Ba đình.
7. TàI liệu hỏi đáp về pháp luật thuế.
8. Các văn bản quy định về quản lý ngoài quốc doanh.
9. Sổ tay nghiệp vụ quản lý thu thuế ngoài quốc
doanh.




Trang 110

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản