Quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn ngoại (Chương III)

Chia sẻ: Kha Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
315
lượt xem
125
download

Quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn ngoại (Chương III)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích yêu cầu - Lợn mẹ đẻ an toàn không bị nhiễm trùng đường sinh dục. - Lợn con sinh ra khỏe mạnh và an toàn. - Giảm tỷ lệ hao hụt lợn con, tăng trọng lượng lợn cai sữa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn ngoại (Chương III)

  1. Quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn ngoại (Chương III) Chương III: Kỹ thuật chăm sóc lợn nái đẻ và nuôi con Mục đích yêu cầu - Lợn mẹ đẻ an toàn không bị nhiễm trùng đường sinh dục. - Lợn con sinh ra khỏe mạnh và an toàn. - Giảm tỷ lệ hao hụt lợn con, tăng trọng lượng lợn cai sữa. - Lợn mẹ khỏe tiết nhiều sữa, phẩm chất sữa tốt, giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ, sớm động dục trở lại sau cai sữa, tăng tỷ lệ quay vòng lứa đẻ/năm.
  2. - Giảm chi phí thức ăn để sản xuất ra 1 kg lợn con giống. - Tăng thời gian sử dụng lợn mẹ. 1. Kỹ thuật chăm sóc lợn nái đẻ 1.1. Công tác chuẩn bị trước khi đẻ 1.1.1- Chuẩn bị nơi đẻ cho lợn nái: - 5-7 ngày trước ngày dự kiến đẻ: phải chuyển lợn nái về ô chuồng đẻ để lợn làm quen với nơi đẻ. - Kỳ cọ, tẩy rửa, khử trùng bằng hóa chất toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng, thành chuồng lợn đẻ và lợn con, để trống 3-5 ngày trước ngày đưa lợn nái về nơi đẻ. - Vệ sinh tắm chải cho lợn nái: Trước khi lợn đẻ, lợn nái cần được lau rửa sạch đất hoặc phân bám dính trên người. Dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ tránh nguy cơ lây nhiễm sang lợn con. Chuẩn bị rơm rạ, cỏ khô, cắt ngắn, độn chuồng. Có hệ thống sưởi ấm chống lạnh cho lợn con toàn ô chuồng và ô lợn con sau khi đẻ ở riêng. Chuẩn bị ô tập ăn để tập cho lợn con ăn sớm sau này. 1.1.2- Chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn: * Dụng cụ đỡ đẻ cần có: - Vải màn hay giẻ sạch để lau mình cho lợn con. - Thùng gỗ hoặc thúng lót rơm, rạ mềm để đựng lợn con mới đẻ. - Bếp than hay bóng đèn điện để sưởi ấm (đẻ mùa đông). - Chỉ buộc rốn, kéo cắt rốn. - 1 lọ thuốc đỏ hay cồn iốt, 1 cuộn bông. - 1 cân đĩa để cân lợn con sơ sinh.
  3. - 1 phích nước sôi để sát trùng dụng cụ. - 1 bấm móng tay để cắt răng nanh và 1 kìm bấm, xăm số tai (cơ sở có nhiều nái). - Sổ sách ghi chép, theo dõi đời con. 1.2. Kỹ thuật đỡ đẻ 1.2.1- Triệu chứng sắp đẻ: - Tính ngày lợn đẻ: lấy tháng phối giống cộng thêm 3, ngày phối cộng thêm 24. - Trước ngày dự kiến đẻ từ 7-10 ngày: chuyển lợn nái đến ô đẻ đã được chuẩn bị. - Trước khi đẻ 2-3 ngày: vú căng to, âm hộ sựng đỏ, cào cấu nền chuồng. - Trước khi đẻ 1-2 giờ: lợn nái đứng nằm không yên, vú sưng to, chân dạng ra, âm hộ mọng đỏ hơi hé mở, vú bắt đầu tiết sữa. Khi âm hộ chảy nước nhờn, bọc nước ối đã vỡ là lúc lợn con sắp đẻ ra. 1.2.2- Kỹ thuật đỡ đẻ: - Lợn nái tơ đẻ khó hơn lợn nái rạ. Bình thường cứ mỗi cơn rặn mạnh, lợn nái co chân sau lên là lợn con được mẹ rặn đẩy ra ngoài. Trung bình 15-20 phút lợn nái đẻ ra được 1 con. Lợn đẻ 2-5 giờ là hết con, và sau 2-3 giờ nữa nhau thai phải ra hết. + Lợn con mới đẻ ra cần được lau sạch nhớt từ mũi, miệng, tai và toàn thân bằng giẻ sạch, mềm, rồi cắt cuống rốn (chừa lại khoảng 5 cm) sát trùng bằng cồn Iốt, sau đó bấm răng nanh, cắt đuôi, cắt hoặc xăm số tai cho lợn con (nếu cần) rồi đưa vào ổ đã chuẩn bị sẵn. + Nếu lợn đẻ bọc phải tiến hành xé bọc ngay, lợn con ngạt thì phải thổi hơi vào mũi, mồm làm hô hấp nhân tạo, nếu nặng hơn thì ngâm mình lợn con vào nước ấm
  4. (30 - 350C) trong 30-60 giây rồi đem ra hô hấp nhân tạo tiếp, lợn con có thể hồi phục lại nhanh. + Dùng thuốc sát trùng nhẹ rửa sạch phía ngoài âm hộ, dùng nước ấm rửa sạch bầu vú và núm vú. + Lợn con đẻ ra cần cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt (vì sữa đầu có kháng thể giúp cho lợn con có sức đề kháng phòng chống ngay được 1 số bệnh sau khi mới đẻ ra). Con nhỏ cho bú vú vùng ngực; con to, khoẻ bú vú vùng bụng, vú sau. + Lợn nái đẻ xong cho uống nước ấm có pha muối. Theo dõi lấy nhau thai ra không để mẹ ăn nhau thai (dễ sinh rối loạn tiêu hóa). + Tiến hành thụt rửa tử cung bằng dung dịch Lugol 1% mỗi ngày 1 lần, nhất là đối với lợn nái phải can thiệp kéo thai ra, lần thụt cuối cùng ta pha 1 gam Streptomycin và 1.000.000 UI Penicilin với 20 ml nước cất bơm vào dạ con. 1.2.3- Can thiệp khi lợn đẻ khó: có 2 cách kéo thai ra: - Nếu đầu lợn ra trước: đưa cả bàn tay (đã được cắt, dũa móng tay, rữa sạch bằng xà phòng, sát trùng bằng cồn Iốt và được bôi trơn bằng dầu ăn có pha Penicilin 1.000.000 UI/100ml) từ từ vào âm đạo lợn nái, dùng 2 ngón tay: ngón trỏ đệm dưới hàm, ngón cái đưa vào trong miệng, kẹp 2 ngón tay ép lấy hàm dưới để kéo thai ra ngoài. - Nếu 2 chân sau ra trước: dùng ngón tay giữa đưa vào giữa 2 chân của lợn con, còn ngón tay trỏ, tay út kẹp ép 2 chân lợn con vào ngón tay giữa và kéo ra theo nhịp rặn của lợn nái. Chú ý: - Chỉ nên dùng oxytoxin khi thấy lợn nái đẻ đã vỡ ối khá lâu (30-40 phút) hoặc sau khi đã đẻ 1 con đầu tiên và chắc chắn không có con lợn con nào bị kẹt trong dạ con. - Phải sưới ấm, cố định đầu vú, cho lợn con vào ổ sau khi bú và đi đại tiểu tiện trong 3 ngày đầu, để đề phòng lợn mẹ mới đẻ ra đang yếu, lợn con yếu, lợn mẹ đè chết lợn con.
  5. + Nhiệt độ thích hợp cho lợn con thời kỳ theo mẹ : - Ngày đầu (mới lọt lòng mẹ) = 35 0C - Ngày thứ 2 : = 33 0C - Ngày thứ 3 : = 31 0C - Ngày thứ 4 : = 29 0C - Ngày thứ 5 : = 27 0C - Ngày thứ 6 : = 25 0C - Ngày thứ 7 : = 23 0C - Ngày thứ 8 - cai sữa: = 21 0C. 2. Kỹ thuật chăm sóc lợn nái nuôi con 2.1. Nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn nái nuôi con Nhu cầu Lợn nái nuôi con - Năng lượng (Kcal/kg thức 3.200 ăn) - Protein thô ( % ) 15 - Ca % 0,9 -P % 0,45 - Chất béo % 5 - Xơ thô % < 10 2.2. Tiêu chuẩn và khẩu phần thức ăn - Ngày lợn đẻ: Không cho lợn nái ăn, nhưng cho uống nước tự do. - Ngày nuôi thứ nhất: Cho ăn 1kg/con mẹ/ngày
  6. - Ngày nuôi thứ 2: Cho ăn 2kg/con mẹ/ngày - Ngày nuôi thứ 3: Cho ăn 3kg/con mẹ/ngày - Ngày nuôi thứ 4-6: Cho ăn 4kg/con mẹ/ngày * Từ ngày thứ 7 trở đi: - Nái nuôi 6 con cho ăn : 2kg + (6 con x 0,3kg/con ) = 3,8kg - Nái nuôi 7 con cho ăn : 2kg + (7 con x 0,3kg/con ) = 4,1kg - Nái nuôi 8 con cho ăn : 2kg + (8 con x 0,3kg/con ) = 4,4kg - Nái nuôi 9 con cho ăn : 2kg + (9 con x 0,3kg/con ) = 4,7kg - Nái nuôi 10 con cho ăn : 2kg + (10 con x 0,3kg/con ) = 5,0kg * Nước uống tự do qua núm uống tự động. * Khẩu phần ăn quy định ở trên là thức ăn hỗn hợp tinh, phải cho lợn mẹ ăn hết để có nhiều sữa nuôi con. Vì vậy phải cho ăn 3-4 lần/ngày theo đúng giờ qui định. 2.3. Chăm sóc đối với lợn nái nuôi con - Phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, chậm nhất là 1 giờ sau khi đẻ. - Cố định đầu vú cho lợn con: + Cần cố định cho những con nhỏ, yếu, bú các vú vùng ngực, + Con lớn, khỏe, bú các vú vùng bụng. Cố định 1 số lần như vậy lợn con sẽ quen với những vú của nó. - Hạn chế dùng kháng sinh, tránh mất sữa. - Cho lợn con vào trong thùng sưởi ( nếu đẻ vào mùa đông ): + 10 ngày đầu x 100W x 15 giờ/ngày.
  7. + 20 ngày tiếp x 100W x 10 giờ/ngày. - Từ khi đẻ đến cai sữa, tuyệt đối không được dùng nước rửa chuồng, giữ khô khu vực lợn con nằm. - Về mùa hè, có thể tắm cho lợn nái (không tắm cho lợn con), để lợn nái khô người, mới cho tiếp xúc với lợn con. - Nền chuồng luôn khô ráo, không ẩm ướt. 2.4. Thú y đối với lợn con - Lợn con đẻ ra cần được tiêm bổ sung sắt: + Lần 1: vào 3 - 4 ngày tuổi: tiêm 1ml/con + Lần 2: vào 13 - 14 ngày tuổi: tiêm 2ml/con (1ml = 10 mg). - Đàn lợn con tuyệt đối phải được tiêm chủng các loại vác xin sau: + 21 ngày tuổi tiêm vác xin phòng phó thương hàn lần 1. + 28 ngày tuổi tiêm nhắc lại vác xin phó thương hàn lần 2 và vác xin tụ dấu + 35 ngày tuổi tiêm vác xin dịch tả. 2.5. Biện pháp và thời gian cai sửa cho lợn con - Tập cho lợn con ăn sớm thức ăn hỗn hợp từ ngày thứ 7-8 trở đi vừa tập ăn vừa bú mẹ. - Nhốt riêng lợn mẹ và con sau mỗi lần cho lợn con bú và ăn uống xong. - Kéo dài khoảng thời gian, cách quãng giữa các lần cho bú (giảm số lần bú). - Cho lợn con ăn trước khi cho bú.
  8. - Từ 28-35 ngày nếu thấy lợn con ăn mạnh thì tách riêng con mẹ sang chuồng khác. * Phương pháp tách mẹ chuẩn bị cai sữa Nếu dự kiến ngày thứ 32 cai sữa, thì phải tách dần lợn mẹ như sau : Thời gian ở chung với Ngày tuổi (lợn con) Thời gian tách mẹ mẹ 11giờ sáng- 7giờ Ngày thứ 25 Từ 7giờ - 11giờ sáng sáng hôm sau 11giờ sáng- 7giờ Ngày thứ 26 Từ 7giờ - 11giờ sáng sáng hôm sau Từ 7giờ - 13giờ 13giờ sáng- 7giờ Ngày thứ 27 chiều sáng hôm sau Từ 7giờ - 13giờ 13giờ sáng- 7giờ Ngày thứ 28 chiều sáng hôm sau Từ 7giờ - 14giờ 14giờ sáng- 7giờ Ngày thứ 29 chiều sáng hôm sau Từ 7giờ - 14giờ 14giờ sáng- 7giờ Ngày thứ 30 chiều sáng hôm sau Từ 7giờ - 15giờ 15giờ sáng- 7giờ Ngày thứ 31 chiều sáng hôm sau Cai sữa, chuyển Ngày thứ 32 chuồng Chế độ ăn đối với lợn con: + Ngày cai sữa giảm 1/2 lượng thức ăn so với ngày trước ngày cai sữa. + Ngày kế tiếp giảm 1/3 lượng thức ăn so với ngày trước ngày cai sữa. + Ngày kế tiếp giảm 1/4 lượng thức ăn so với ngày trước ngày cai sữa.
  9. + Ngày kế tiếp cho ăn bằng lượng thức ăn trước ngày cai sữa. Nếu đàn lợn con có rối loạn về tiêu hóa tiếp tục hạn chế thức ăn. Các ngày tiếp theo lượng thức ăn cứ tăng dần và đáp ứng nhu cầu của lợn con. - Nhiệt độ ô chuồng lợn con mới chuyển đến trong những ngày đầu phải đảm bảo nhiệt độ gần tương đương như nhiệt độ ô chuồng khi lợn con còn ở với mẹ. - Ô chuồng lợn con sau cai sữa cần giữ được khô ráo càng tốt. 2.6. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 2.6.1- Mục đích yêu cầu: - Bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trưởng phát triển của lợn con. - Rèn luyện bộ máy tiêu hóa sớm hoàn thiện về chức năng, kích thích bộ máy tiêu hóa phát triển về kích thước và khối lượng. - Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột. - Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ, giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ, sớm động dục trở lại sau khi cai sữa. - Tránh sự cắn xé bầu vú lợn mẹ, hạn chế bệnh viêm vú. - Có điều kiện để cai sữa sớm lợn con, tăng hệ số quay lứa đẻ/nái/năm. 2.6.2. Phương pháp tập ăn sớm. - Khi lợn con đã 8-10 ngày tuổi cần tiến hành cho lợn con làm quen với thức ăn, nấu chín bột thành hồ loãng bôi vào mép lợn con hay vú lợn mẹ để lợn con liếm láp quen dần với thức ăn. - Từ 11-15 ngày tuổi, nấu cháo sền sệt hay rang bột cho vào máng ăn hay rải lên nền chuồng sạch để cho lợn con tập ăn.
  10. - Từ 15-20 ngày, tăng lượng thức ăn bổ sung cho lợn con ăn theo từng bữa và tiến hành khống chế số lần bú của lợn con. Số lần bú sẽ được giảm dần theo ngày tuổi của lợn con như sau: Ngày tuổi của lợn con Số lần bú Số lần ăn bổ sung 8 - 10 ngày 12 3 - 4 lần 11 - 15 ngày 10 4 - 5 lần 15 - 20 ngày 8 4 - 5 lần 20 - 25 ngày 6 5 - 6 lần 25 - 30 ngày 5 5 - 6 lần 30 - 40 ngày 4 5 - 6 lần - Sau 21 ngày tăng số lượng thức ăn bổ sung căn cứ vào mức thiếu hụt của sữa mẹ. 2.6.3- Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn bổ sung của lợn con: Khẩu phần ăn bổ sung của lợn con Tuổi lợn con (ngày) Kg thức ăn Protein tiêu hóa (g) 10 - 20 0,1 12 21 - 30 0,2 24 31 - 45 0,25 30 46 - 60 0,35 40 Tiêu chuẩn dinh dưỡng của lợn con tập ăn Nhu cầu Lợn con dưới 5 kg trọng lượng Năng lượng Kcal/1kg TĂ 3000 Prôtêin thô (%) 24 Can xi % 1 Phốt pho % 0,5 Lisin % 1,2 Mêthiônin % 0,55
  11. Chất béo % 3 Chất xơ %
  12. 2.8. Chuồng nuôi 2.8.1. Yêu cầu kỹ thuật: - Chuồng sàn cách đất, ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, có hệ thống làm mát bằng hơi nước. - Chuồng cần có ánh nắng dọi vào buổi sáng, tránh mưa từ phía tây và gió bấc lùa vào mùa rét. - Kiểu chuồng một dãy: mặt trước hướng Đông Nam. - Kiểu chuồng hai dãy: xây trục theo hướng Nam - Bắc. Phần chuồng phía đông bố trí nuôi lợn nái nuôi con. - Ô sưởi ấm lợn con : Bằng gỗ (hoặc tôn) có kích thước: 0,6 m x 0,8 m x 0,5 m. - Máng ăn lợn mẹ: Bằng Inôc (hoặc bằng tôn 1 ly ), có cần xoay khi lợn nái ăn xong, kích thước: rộng 35 cm x dài 40cm x sâu 25 cm. - Máng ăn lợn con: Máng tròn bằng gang có chắn sắt thành 5 ô nhỏ. - Cũi lợn mẹ lắp vòi nước cao 80cm (hoặc 15-20 cm chung với lợn con ). - Ô lợn con (rộng 0,8 m) gắn vòi nước cao 15 cm. - Định mức chuồng nuôi: dài 2,2 m x rộng 1,7 m/1 con nái đẻ. - Định mức lao động: 1 lao động nuôi 30 nái .
Đồng bộ tài khoản