Quyết định số 3022/2006/QĐ-UBND

Chia sẻ: Truong Chi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
44
lượt xem
4
download

Quyết định số 3022/2006/QĐ-UBND

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quyết định số 3022/2006/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án "Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm của Thành phố Hà Nội đến 2010" do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quyết định số 3022/2006/QĐ-UBND

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHỐ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 3022/QĐ-UBND Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2006 QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN "CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TRỌNG ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN 2010" ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Căn cứ Quyết định số 51/2005/QĐ-UB ngày 20/04/2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc thành lập Quỹ xúc tiến thương mại Thành phố Hà Nội và ban hành quy chế hoạt động và điều hành Quỹ xúc tiến thương mại Thành phố Hà Nội; Căn cứ Quyết định số 3669/QĐ-UB ngày 31/5/2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đề cương chi tiết và dự toán Đề án "Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm của Thành phố Hà Nội đến 2010"; Xét đề nghị của Giám đốc Sở Thương mại Hà Nội tại tờ trình số 1332/TTr-STM ngày 30/6/2006 về việc xin phê duyệt Đề án "Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm của Thành phố Hà Nội đến 2010"; QUYẾT ĐỊNH Điều 1: Phê duyệt Đề án "Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm của Thành phố Hà Nội đến 2010" (phụ lục đính kèm). Điều 2: Giao giám đốc Sở Thương mại phối hợp với các Sở, Ngành, đơn vị liên quan triển khai, tổ chức thực hiện Đề án phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế xã hội của Thành phố nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trên địa bàn Thành phố, đảm bảo hiệu quả kinh tế, phù hợp với yêu cầu Hội nhập kinh tế quốc tế của Thủ đô. Điều 3: Chánh Văn phòng UBND Thành phố Hà Nội, Giám đốc, Thủ trưởng các Sở, Ngành: Thương mại, Kế hoạch và Đầu tư; Công nghiệp, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Lao động thương binh và xã hội, Tài chính, Du lịch, Giáo dục và Đào tạo, Bưu chính viễn thông, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, Cục Hải quan, Cục thuế, Cục Thống kê, các Quận Huyện, các Hiệp hội doanh nghiệp, Hiệp hội ngành nghề và Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Nơi nhận: TM. ỦY BAN NHÂN DÂN Như điều III KT. CHỦ TỊCH Chủ tịch UBNDTP (để báo cáo) PHÓ CHỦ TỊCH Phó Chủ tịch Nguyễn Thế Quang CPVP, các tổ CV, TH Lưu. Nguyễn Thế Quang ĐỀ ÁN: CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TRỌNG ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 3022/QĐ-UB ngày 30/6/2006 của UBND thành phố Hà Nội Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, xúc tiến thương mại (XTTM) giữ vai trò hết sức quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước, đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, thu hút các nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô và đất nước.
  2. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV, Chiến lược xuất khẩu của thành phố Hà Nội đến năm 2010, nhằm đưa ra định hướng dài hạn và chương trình tổng thể cho hoạt động XTTM của thành phố Hà Nội trong 5 năm 2006 – 2010, phục vụ mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, nhất là thị trường xuất khẩu, xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động XTTM, giúp tạo dựng thương hiệu, nâng cao năng lực của cộng đồng doanh nghiệp Thủ đô và quảng bá hình ảnh Hà Nội với bạn bè quốc tế, UBND Thành phố Hà Nội xây dựng Đề án "Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm của Thành phố Hà Nội đến năm 2010" với những nội dung chủ yếu sau: Phần 1: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIA ĐOẠN 2001 – 2005 I- TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2001 – 2005 1- Những thành tựu đạt được: - Trong giai đoạn 2001 – 2005, xuất khẩu của Hà Nội đã liên tục tăng trưởng, năm sau tăng cao hơn năm trước, đặc biệt tăng mạnh vào các năm cuối kỳ (năm 2001 tăng 7,2%; năm 2002 tăng 9,2%; năm 2003 tăng 10,9%; năm 2004 tăng 27,2%; năm 2005 tăng 23,6%). Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2001 – 2005 đạt 10,136 tỷ USD, tăng trưởng bình quân 15,3%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương Hà Nội đạt 4,084 tỷ USD, tăng trưởng bình quân 28,3%/năm. - Hà Nội vẫn duy trì 5 nhóm hàng xuất khẩu truyền thống, có lợi thế, đồng thời phát triển thêm một số mặt hàng xuất khẩu mới có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao (nhất là các mặt hàng điện tử, máy in phun). Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng nguyên liệu, chế biến thô, tăng dần tỷ trọng nhóm hàng có hàm lượng công nghệ, chế biến và giá trị gia tăng cao; xuất hiện một số mặt hàng mới có tốc độ tăng trưởng cao, đang và sẽ có đóng góp lớn trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Hà Nội những năm tới như điện tử và linh kiện máy tính, máy in, dây điện và cáp điện, sản phẩm cơ, kim khí, sản phẩm gỗ, thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa… Xuất khẩu dịch vụ đạt kết quả nhất định, đặc biệt là du lịch, xuất khẩu lao động, phần mềm,… và đây sẽ là tiềm năng lớn của xuất khẩu của Hà Nội trong thời gian tới. - Chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng và hoạt động ngày càng hiệu quả, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. - Thị trường xuất khẩu vừa mở ra những thị trường mới (Nam Phi, Trung Đông), vừa khai thác tốt hơn những thị trường đang có (Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, ASEAN). Hiện nay Hà Nội đã xuất khẩu đến 187 khu vực thị trường của các quốc gia và vùng lãnh thổ. - Tổng kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn Hà Nội cả giai đoạn 2001 – 2005 đạt 36,304 tỷ USD, tăng bình quân 23%/năm, gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trên địa bàn. Tổng kim ngạch nhập khẩu của địa phương giai đoạn 2001 – 2005 đạt 11,555 tỷ USD, tăng bình quân 35%/năm. Tỷ trọng nhập khẩu theo nhóm ngành hàng trên địa bàn Hà Nội tiếp tục chuyển biến theo hướng tích cực. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng cho sản xuất tăng từ 20,6% trong tổng giá trị nhập khẩu năm 2001 lên 30% năm 2005. Nhập khẩu vật tư nguyên liệu giảm từ 30,6% năm 2001 xuống còn 24,4% năm 2005. Nhập khẩu hàng tiêu dùng được duy trì ổn định ở tỷ lệ hợp lý, giữ ở mức 16 – 17% trong giai đoạn 2001 – 2005. - Hoạt động thương mại trên thị trường nội địa phát triển mạnh. Trong giai đoạn 2001 – 2005, tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn Hà Nội đạt bình quân 83.799 tỷ đồng/năm, tăng trưởng 17,4%/năm. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ ở Hà Nội bình quân đạt 32.440 tỷ đồng/năm, tăng trưởng 16,7%/năm. Hàng hóa, dịch vụ trên thị trường nội địa ngày càng dồi dào, phong phú, chất lượng và mẫu mã được cải tiến hơn, lượng tiêu thụ trong nước tăng. Mạng lưới bán lẻ phát triển cả về số lượng và chất lượng theo hướng văn minh, hiện đại, trải rộng ra nhiều địa điểm trong các quận/huyện, kích thích tiêu dùng của người dân Thủ đô. 2- Những hạn chế, yếu kém: - Quy mô xuất khẩu của Hà Nội còn nhỏ bé (tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội năm 2005 đạt 2,86 tỷ USD, đạt thấp so với mục tiêu Chiến lược và mục tiêu mà Nghị quyết Đại
  3. hội Đảng bộ thành phố lần thứ 13 đề ra là 3,1-3,5 tỷ USD). Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2005 chỉ đạt 15,3%/năm, không đạt yêu cầu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 13 (16 – 18%/năm). - Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Hà Nội có tốc độ tăng trưởng kim ngạch không đều. Tốc độ tăng trưởng của bốn nhóm hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn là nông sản (bình quân 6%/năm), dệt may (bình quân 11%/năm), da – giày (bình quân 12%/năm), thủ công mỹ nghệ (2%) thấp hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của toàn thành phố (bình quân 15,3%/năm). - Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Hà Nội còn lạc hậu, chủng loại hàng hóa xuất khẩu đơn điệu, ít xuất hiện những mặt hàng mới có đóng góp kim ngạch lớn. Khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu còn nhiều hạn chế. Chưa khai thác tốt tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nga, Úc… - Thị trường nội địa phát triển còn tự phát, thiếu bền vững. Có sự chênh lệch không nhỏ về phát triển thương mại giữa nội thành và ngoại thành. Sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của Hà Nội chưa được quảng báo rộng rãi, không ít sản phẩm chưa xây dựng và khẳng định được thương hiệu với người tiêu dùng trong nước. Các doanh nghiệp Hà Nội chưa phát huy tốt thế mạnh của mình để khai thác các thị trường trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. - Sự xuất hiện của phương thức kinh doanh (như Metro, Big C…) vừa là cơ hội cho sự phát triển thị trường nội địa nhưng cũng đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp thương mại trong nước cũng như các hộ kinh doanh. II- CÔNG TÁC XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2001 – 2005 1- Những kết quả đạt được: - Hoạt động XTTM của thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2001 – 2005 đã phối hợp và phát huy được tiềm năng và thế mạnh của các tổ chức, đơn vị xúc tiến thương mại trên địa bàn (các đơn vị của trung ương, các đơn vị của thành phố, hoạt động xúc tiến của các doanh nghiệp và hoạt động xúc tiến của các tổ chức xúc tiến nước ngoài), bao gồm rất nhiều nội dung: hội chợ - triển lãm; khảo sát thị trường trong và ngoài nước; cung cấp thông tin thương mại và xuất khẩu; quảng cáo, khuyến mại; đào tạo, tập huấn, hội nghị, hội thảo xúc tiến; hoạt động trưng bày và giới thiệu sản phẩm; các hoạt động tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp… - Nhận thức về công tác XTTM của lãnh đạo từ thành phố đến doanh nghiệp được nâng cao rõ rệt; hoạt động XTTM đã trở thành nhu cầu, một động lực quan trọng, không thể thiếu; việc tổ chức các hoạt động XTTM ngày càng bài bản hơn, kỹ năng được nâng cao, nội dung các hoạt động XTTM thiết thực, ngày càng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. - Công tác XTTM được triển khai mạnh qua các năm với nhiều hoạt động, đã có tác động lớn đến hoạt động thương mại của Hà Nội. Mặc dù không thể định lượng được cụ thể, song thực tế là nhờ có hoạt động XTTM mà khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, hàng hóa Hà Nội trên thị trường trong nước cũng như quốc tế được nâng cao. Nhờ có các hoạt động XTTM mà xuất khẩu của Hà Nội được mở rộng đến 187 khu vực thị trường trên thế giới; khẳng định được uy tín và thương hiệu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Hà Nội tại các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản; thâm nhập được các thị trường mới như Nam Phi, Angola, Australia,… Cũng nhờ các hoạt động XTTM mà thị trường trong nước phát triển sôi động, tăng cơ hội giao thương, hợp tác giữa các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiếp cận được trực tiếp với người tiêu dùng. - Hoạt động XTTM hỗ trợ tích cực trong việc mở rộng quan hệ thương mại của Hà Nội với các tỉnh bạn, đặc biệt là các tỉnh trong vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng đồng bằng sông Hồng; góp phần thể hiện rõ vai trò đầu tầu của Thủ đô trong hoạt động thương mại. - Việc xây dựng và thực hiện chương trình XTTM trọng điểm hàng năm của Thành phố với các đề án cụ thể trong chương trình đã từng bước đáp ứng đúng các vấn đề bức xúc trong nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu của Hà Nội. Thông qua chương trình mà các hoạt động xúc tiến được sắp xếp, bố trí hợp lý hơn, góp phần giảm chi phí, tăng hiệu quả. Kết quả và kinh nghiệm triển khai chương trình XTTM trọng điểm hàng năm đã tạo tiền đề tốt để tiến tới xây dựng một chương trình XTTM trọng điểm dài hạn cho các năm tiếp theo. Cũng từ kết quả thực hiện các chương trình XTTM trọng điểm trong những năm qua, Thành phố đã quyết định thành
  4. lập Quỹ XTTM của Hà Nội. Đây là điều kiện tốt để xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình XTTM trọng điểm trong những năm tới. - Trung tâm XTTM Hà Nội đã vươn lên, bước đầu thực hiện được vai trò "đầu mối" trong triển khai các hoạt động XTTM trên địa bàn. 2- Những hạn chế, yếu kém: - Quy mô, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động XTTM còn thấp. Các hoạt động XTTM chưa thực sự tác động mạnh đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và thúc đẩy xuất khẩu. Một số hoạt động XTTM còn mang tính hình thức, bề nổi. - Cơ chế quản lý các hoạt động XTTM chưa đầy đủ, dẫn đến việc quản lý, điều hành các hoạt động này trong thời gian qua có nhiều lúc, nhiều mặt bị buông lỏng, đặc biệt các hoạt động hội chợ, quảng cáo và khuyến mại. - Việc hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các đơn vị làm công tác XTTM còn hạn chế. Mạng lưới XTTM tuy đã được hình thành với các tổ chức XTTM của trung ương, Hà Nội, của các hiệp hội, doanh nghiệp,… nhưng các đơn vị này chưa được kết nối thành một hệ thống liên kết một cách chặt chẽ và hiệu quả. - Cơ sở vật chất phục vụ XTTM chưa được quan tâm đầu tư nên còn nghèo nàn, lạc hậu, Hà Nội chưa có địa điểm riêng để xây dựng trung tâm hội chợ, triển lãm, tổ chức phòng trưng bày sản phẩm. - Mỗi loại hoạt động XTTM đều tồn tại những hạn chế riêng: Công tác thu thập, xử lý, cung cấp thông tin cho doanh nghiệp còn mang tính bề nổi, chưa hỗ trợ được cho doanh nghiệp những thông tin quan trọng về thị trường; Tổ chức đào tạo, tập huấn, hội thảo chưa thực sự có hiệu quả, nội dung đào tạo thiếu chuyên sâu, chất lượng thấp; Tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước chưa có hiệu quả cao; Tổ chức khảo sát còn sơ sài, chưa chọn lọc kỹ, chưa chú ý đến hiệu quả thu được so với công sức và tiền bạc bỏ ra; Tổ chức phòng trưng bày giới thiệu sản phẩm kém hiệu quả, nội dung trưng bày nghèo nàn, hình thức đơn sơ,… - Sản phẩm xúc tiến còn đơn điệu, ít đổi mới qua các lần tổ chức. Nhiều hoạt động XTTM chuẩn bị không chu đáo, yếu kém cả về hình thức lẫn nội dung, gây phản cảm không chỉ cho doanh nghiệp tham gia mà cả khách tham quan. Nhiều lúc, nhiều nơi các hoạt động XTTM chưa thực sự vì doanh nghiệp, chưa đáp ứng được các yêu cầu mà doanh nghiệp đòi hỏi. - Trình độ của không ít đơn vị hoạt động trong lĩnh vực XTTM chỉ ở mức nghiệp dư. Đội ngũ cán bộ làm công tác XTTM còn ít và thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đào tạo chuyên sâu. - Sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau giữa các hoạt động xúc tiến thương mại – xúc tiến du lịch – xúc tiến đầu tư của thành phố Hà Nội chưa chặt chẽ và hiệu quả. Phần 2 CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TRỌNG ĐIỂM CỦA HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 I- MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG 1- Mục tiêu, định hướng phát triển thương mại Hà Nội đến năm 2010 Căn cứ Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố Hà Nội và Đề án Điều chỉnh Chiến lược xuất khẩu của thành phố Hà Nội giai đoạn 2001 – 2010, tầm nhìn đến năm 2015, mục tiêu, định hướng phát triển thương mại Hà Nội đến năm 2010 như sau: - Xây dựng Hà Nội thực sự là một trung tâm thương mại, trung tâm thị trường bán buôn của vùng và của cả nước. Phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại. Củng cố và phát triển hệ thống lưu thông phân phối hàng hóa và các dịch vụ sau bán hàng. Hình thành một số Tổng công ty lớn đa sở hữu kinh doanh thương mại. Phấn đấu tăng tổng mức lưu chuyển hàng hóa bình quân 18%/năm trong giai đoạn 2006 – 2010. - Xây dựng Hà Nội thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao của cả nước. Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, chú trọng phát triển các dịch vụ trình độ cao. Phấn đấu tăng giá trị gia tăng dịch vụ bình quân 10,5 – 11,5%/năm trong giai đoạn 2006 – 2010. Tập trung chỉ
  5. đạo phát triển các dịch vụ mang tính liên ngành có khả năng tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế khác,các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và đối ngoại (như khoa học – công nghệ - giáo dục – đào tạo, thông tin, viễn thông, tài chính – ngân hàng, du lịch, thương mại, tư vấn…). - Xây dựng Hà Nội thành trung tâm xuất nhập khẩu và giao dịch quốc tế lớn của cả nước. Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu dịch vụ làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố. Đồng thời với việc phát triển các sản phẩm xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, phải tập trung phát triển các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn Hà Nội đạt bình quân 18 – 20%/năm và kim ngạch xuất khẩu dịch vụ trên địa bàn đạt bình quân 14 – 16%/năm trong giai đoạn 2006 – 2010. Mục tiêu, định hướng phát triển thương mại là cơ sở để xây dựng định hướng và nội dung của Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010. 2- Định hướng Chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm Thành phố Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010 - Hỗ trợ đẩy mạnh lưu chuyển hàng hóa bán buôn, bán lẻ, thúc đẩy sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân Thủ đô, phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa, đặc biệt là thị trường khu vực vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng đồng bằng sông Hồng. - Phối hợp hiệu quả các nguồn lực, các hình thức XTTM của nhà nước, các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp trên địa bàn nhằm tập trung đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường trọng điểm, khai thác và phát triển các thị trường tiềm năng, xuất khẩu tại chỗ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, đạt chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 trên 6,5 tỷ USD. - Hỗ trợ doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn nâng cao năng lực cạnh tranh, quảng bá hình ảnh và uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp nhằm duy trì thị trường hiện có, phát triển thị trường mới mà doanh nghiệp có lợi thế. III- NỘI DUNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TRỌNG ĐIỂM 1) Chương trình thông tin hỗ trợ doanh nghiệp a) Mục tiêu của chương trình: - Thu thập, phân tích, xử lý các thông tin thị trường trong và ngoài nước để cung cấp cho lãnh đạo Thành phố, các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp của thành phố các thông tin liên quan đến việc hạch định chính sách thương mại; luật pháp quốc tế về thương mại và các thông tin dự báo, định hướng thị trường, hàng hóa. - Từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động cung cấp thông tin. b) Nội dung chương trình: (1) Xây dựng và quản lý các nguồn thông tin: lập Hồ sơ thông tin, phân tích thông tin, cung cấp thông tin thường xuyên, định kỳ, kịp thời, chính xác. Bao gồm: - Hồ sơ thông tin về thị trường: + Hệ thống các văn bản pháp luật và thủ tục (hải quan, thuế, visa,…) liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa, sở hữu trí tuệ, chống bán phá giá, các quy định về XTTM của Việt Nam và quốc tế tại các thị trường doanh nghiệp Hà Nội có quan hệ xuất nhập khẩu. + Thông tin dự báo về nhu cầu và xu hướng biến động trong tiêu dùng, giá cả (hàng hóa, dịch vụ) của thị trường trong nước và các thị trường xuất khẩu của Hà Nội. - Hồ sơ thông tin về sản phẩm: + Cơ sở dữ liệu về các sản phẩm thiết yếu sản xuất trong nước, sản phẩm nhập khẩu phục vụ cho sản xuất, đời sống và xuất khẩu của Hà Nội, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực của Hà Nội (hàng hóa và dịch vụ). - Hồ sơ thông tin về doanh nghiệp:
  6. + Các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội kinh doanh thương mại, dịch vụ, xuất khẩu: quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhu cầu mở rộng, phát triển thị trường,… - Hồ sơ thông tin về hoạt động XTTM: + Các hội chợ - triển lãm (bán buôn, bán lẽ, chuyên ngành) trong nước và tại các thị trường trọng điểm của Hà Nội (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN). + Các đoàn doanh nhân Hà Nội đi khảo sát thị trường nước ngoài; các đoàn doanh nhân nước ngoài khảo sát thị trường tại Hà Nội. + Các chương trình hội nghị, hội thảo, đào tạo, tập huấn tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, nước ngoài của Hà Nội, của Bộ Thương mại, Bộ Ngoại giao,… (2) Quản trị trang web về XTTM của Hà Nội: các website "www.hatrade.com" và "www.hanoitrade.com.vn", cổng giao tiếp điện tử của Thành phố, nối với các cổng giao tiếp điện tử các Bộ, ngành và các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài trở thành kênh thông tin hữu ích cho doanh nghiệp; phát triển mảng thông tin XTTM Hà Nội bằng tiếng nước ngoài trên các trang web. (3) Xuất bản các ấn phẩm xúc tiến thương mại: + Xuất bản tập san và các ấn phẩm giới thiệu doanh nghiệp, sản phẩm tiềm năng, các dự kiện kêu gọi đầu tư của Hà Nội. + Xuất bản Sổ tay doanh nghiệp thương mại Hà Nội. (4) Thiết lập đường dây nóng giải quyết vướng mắc của doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước, đối với các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu. c) Kế hoạch thực hiện (triển khai hàng năm): + Lập ngân hàng thông tin và triển khai cung cấp thông tin về thị trường nội địa (tập trung là thị trường Hà Nội, thị trường các tỉnh lân cận) và các thị trường xuất khẩu trọng điểm của Hà Nội (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN), các thị trường mới, thị trường tiềm năng (Trung Đông, Châu Phi, Nam Mỹ, Australia,…). + Hoàn thành việc nâng cấp các website "www.hatrade.com" và "www.hanoitrade.com.vn", tạo đường kết nối trực tuyến với các doanh nghiệp thông qua các website. + Xây dựng Đề án xuất bản Tập san thông tin XTTM, xuất bản Tập san thông tin XTTM và Sổ tay giới thiệu doanh nghiệp xuất nhập khẩu Hà Nội. + Xây dựng hồ sơ thông tin thị trường, sản phẩm, các hoạt động XTTM, các doanh nghiệp thương mại Hà Nội. + Thiết lập đường dây nóng phục vụ doanh nghiệp. d) Tổ chức thực hiện: + Giao Sở Thương mại Hà Nội căn cứ các nội dung của chương trình để xây dựng kế hoạch, các đề án triển khai hàng năm. + Tuyển chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực thông tin có trình độ chuyên môn sâu. + Kinh phí: Ngân sách thành phố hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng đường truyền nâng cấp trang web, hỗ trợ chi phí duy trì nghiên cứu thị các trường; nguồn thu được thông qua cung cấp thông tin dự báo cho doanh nghiệp, thông qua phát hành tập san thông tin xúc tiến thương mại được sử dụng để đầu tư lại cho chương trình. 2) Chương trình đào tạo, tập huấn, hội nghị hội thảo a) Mục tiêu của chương trình: - Đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng, kiến thức cho cán bộ quản lý và cán bộ trong các doanh nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
  7. - Phổ biến, cung cấp thông tin; quảng bá sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp; thiết lập, duy trì mối quan hệ thông tin, kinh doanh với các đối tác nước ngoài thông qua các hội nghị, hội thảo. b) Nội dung chương trình: (1) Tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng, kiến thức thương mại cho doanh nghiệp: + Các kỹ năng về quản trị doanh nghiệp: tổ chức, tài chính,… và nghiệp vụ nghiên cứu thị trường. + Thương hiệu và quy trình xây dựng thương hiệu; chiến lược quản trị và phát triển thương hiệu. + Nghiệp vụ ứng dụng và phát triển thương mại điện tử. + Nghiệp vụ quản lý và điều hành hệ thống kênh phân phối hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị, chợ,…). + Nghiên cứu, thiết kế sản phẩm. + Tập huấn nghiệp vụ tổ chức và tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế. + Hệ thống rào cản kỹ thuật, bán phá giá và biện pháp chống các rào cản trên các khu vực thị trường. + Các quy định đối với hàng hóa xuất khẩu vào các thị trường trên thế giới. + Xây dựng chuỗi liên kết: nguyên vật liệu - sản xuất – tiêu thụ (nội địa hoặc xuất khẩu) các sản phẩm may mặc, thủ công mỹ nghệ, nông - thủy sản,… (2) Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng xúc tiến thương mại chuyên nghiệp cho các doanh nghiệp. (3) Tổ chức các hội nghị, hội thảo, các cuộc giao lưu doanh nghiệp, các cuộc đối thoại trực tiếp giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước. + Tổ chức các cuộc gặp gỡ định kỳ giữa lãnh đạo thành phố với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về thuế, hải quan, đất đai (định kỳ hoặc đột xuất). + Tổ chức các cuộc gặp gỡ doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, giữa doanh nghiệp với các hiệp hội, các công ty tư vấn. (4) Thực hiện hợp tác quốc tế trong đào tạo, tập huấn: nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; thông qua các nguồn tài trợ mời các chuyên gia quốc tế tham gia đào tạo cho doanh nghiệp trong nước. c) Kế hoạch thực hiện: + Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ XTTM chuyên nghiệp. + Tổ chức đào tạo nâng cao kỹ năng, kiến thức thương mại cho doanh nghiệp. + Tổ chức các hội nghị, hội thảo, các cuộc giao lưu, các cuộc đối thoại trực tiếp giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước. + Triển khai mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, cung cấp thông tin. d) Tổ chức thực hiện: + Sở Thương mại chủ trì, phối hợp với các sở/ ngành liên quan xây dựng và tổ chức các chương trình đào tạo. + Sở Thương mại chủ trì chương trình đào tạo nâng cao tại nước ngoài (kinh phí doanh nghiệp tự trang trải và Thành phố hỗ trợ một phần). + Các Hiệp hội liên kết với các trường nghiệp vụ, các cơ sở đào tạo tổ chức đào tạo theo các ngành nghề. 3) Chương trình khảo sát thị trường kết hợp với tham gia hội chợ triển lãm; tổ chức trưng bày sản phẩm
  8. a) Mục tiêu của chương trình: - Nghiên cứu, khảo sát thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu, quảng bá sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của Hà Nội nhằm thúc đẩy tăng trưởng thương mại, giữ vững các thị trường xuất khẩu trọng điểm (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN) và mở rộng, phát triển thêm các thị trường Châu Phi, Đông Âu và Liên Xô cũ, Nam Mỹ,… Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh. Xây dựng và phát triển phòng trưng bày sản phẩm xuất khẩu Hà Nội. b) Nội dung chương trình: (1) Nghiên cứu, khảo sát thị trường xuất khẩu: tập trung nghiên cứu sâu đặc điểm, tập quán, cơ cấu tiêu dùng, quy định pháp lý của các thị trường xuất khẩu trọng điểm; khảo sát, nghiên cứu tiềm năng xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Hà Nội vào các thị trường mới. (2) Tổ chức, tham gia các hội chợ, triển lãm trong nước: phối hợp với các Hiệp hội ngành hàng, các trung tâm XTTM, các doanh nghiệp tổ chức và tham gia các hội chợ triển lãm trong nước có hiệu quả. (3) Tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế: tập trung vào các hội chợ chuyên ngành lớn. Xúc tiến nhập khẩu, xúc tiến du lịch và xúc tiến đầu tư khi tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế. (4) Tổ chức lại và xây dựng cơ chế hoạt động của các phòng Trưng bày sản phẩm xuất khẩu tại Hà Nội và tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm của Hà Nội theo nguyên tắc ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí ban đầu, doanh nghiệp trưng bày và duy trì hoạt động phòng trưng bày sản phẩm. c) Kế hoạch thực hiện: + Xây dựng kế hoạch hàng năm và tổ chức các đoàn doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm truyền thống tại nước ngoài. + Tổ chức hội chợ thương mại Hà Nội vào tháng 10 hàng năm và tổ chức cho doanh nghiệp tham gia các hội chợ chuyên ngành lớn tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. + Tổ chức lại và xây dựng cơ chế hoạt động phòng trưng bày sản phẩm tại Hà Nội và các thị trường trọng điểm. d) Tổ chức thực hiện: + Các hội chợ, triển lãm ở thị trường truyền thống, các hội chợ, triển lãm truyền thống do Hiệp hội ngành hàng tự tổ chức hoặc các doanh nghiệp lớn tổ chức. + Trung tâm Xúc tiến thương mại là đầu mối tổ chức một số hội chợ nước ngoài và hội chợ trong nước theo kế hoạch thành phố phê duyệt hàng năm. 4) Chương trình xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp hà nội a) Mục tiêu của chương trình: - Xây dựng và phát triển lòng tự hào của người dân với hàng hóa, dịch vụ thương hiệu Việt Nam. - Hỗ trợ xây dựng, quảng bá và phát triển thương hiệu cho các doanh nghiệp và làng nghề Hà Nội. - Xây dựng thương hiệu Hanoi Top Brand. b) Nội dung chương trình: (1) Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và phát triển thương hiệu: + Tổ chức đào tạo trực tiếp về nội dung, phương thức, nghiệp vụ thiết kế, xây dựng thương hiệu cho các doanh nghiệp được lựa chọn hỗ trợ. + Thực hiện các hoạt động hỗ trợ, tư vấn cho doanh nghiệp trong xây dựng và phát triển thương hiệu. (2) Hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá thương hiệu: + Xây dựng kế hoạch quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp trong tổng thể chương trình hỗ trợ quảng bá chung của Thành phố.
  9. + Hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá thương hiệu tại các hội chợ, triển lãm, tại các showroom, trung tâm mua bán, hội nghị hội thảo, trên các phương tiện thông tin, trong các chương trình quảng cáo, quảng bá, các đợt tổ chức sự kiện… trong nước cũng như quốc tế. + Hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá thông qua công cụ truyền thông tĩnh như các văn bản, giấy tờ của doanh nghiệp và thành phố. + Thực hiện quảng bá trên trang web, trên trang chính của tờ thông tin xúc tiến cũng như trên tất cả các ấn phẩm mà thành phố phát hành. (3) Xây dựng và quảng bá thương hiệu làng nghề Hà Nội: + Lựa chọn làng nghề Hà Nội cần xây dựng thương hiệu. + Xây dựng, quảng bá và phát triển thương hiệu làng nghề. (4) Xây dựng thương hiệu chứng nhận cho sản phẩm Hà Nội: HaNoi Top Brand. Thương hiệu sản phẩm Hà Nội là nhãn chứng nhận cấp cho những sản phẩm của Hà Nội đạt tiêu chuẩn chất lượng theo hệ thống các tiêu chuẩn mà chương trình đặt ra. Các công việc cần làm trong 5 năm (2006 – 2010): + Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn lựa chọn sản phẩm Hà Nội được cấp nhãn chứng nhận. + Thiết kế và đăng ký, quảng bá thương hiệu Hanoi Top Branch trên phạm vi quốc gia và quốc tế. + Xây dựng kế hoạch xét duyệt hàng năm. c) Kế hoạch thực hiện: + Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chọn sản phẩm Hà Nội và hỗ trợ quảng bá, đăng ký bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp làng nghề. + Mở rộng hoạt động quảng bá thương hiệu doanh nghiệp. + Tuyển chọn, quảng bá cho các sản phẩm mang nhãn chứng nhận Hanoi Top Branch tại thị trường trong nước cũng như các khu vực thị trường xuất khẩu trọng điểm. Đây là một chương trình lớn quảng bá cho chất lượng, uy tín của sản phẩm mang biểu tượng chung của Hà Nội. d) Tổ chức thực hiện: + Ban Chỉ đạo xây dựng và phát triển thương hiệu thành phố Hà Nội phối hợp với các Hiệp hội và các tổ chức XTTM trên địa bàn thực hiện hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu. + Sở Thương mại phối hợp với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp tiến hành điều tra, đánh giá để lựa chọn các làng nghề, xây dựng bước đi cụ thể trong việc hỗ trợ xây dựng và quảng bá làng nghề Hà Nội. + Sở Thương mại và các Hiệp hội tập hợp tiêu chí đánh giá và tuyển chọn các sản phẩm thương hiệu đạt chất lượng để hỗ trợ quảng bá. 5) Chương trình tổ chức các sự kiện xúc tiến a) Mục tiêu của chương trình: - Quảng bá các thương hiệu doanh nghiệp, các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của Hà Nội; phối hợp các hoạt động xúc tiến thương mại với xúc tiến du lịch và xúc tiến đầu tư thông qua các sự kiện được tổ chức trong và ngoài nước. b) Nội dung chương trình: (1) Tổ chức mùa khuyến mại Hà Nội "Mùa Sale Hanoi": tổ chức trên địa bàn Hà Nội vào những tháng có ngày lễ kỷ niệm lớn như 30/4, ngày Quốc khánh 2/9, ngày giải phóng Thủ đô 10/10 hoặc Tết Trung thu, Tết Nguyên đán. (2) Nhân dịp các sự kiện quốc tế lớn được tổ chức tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài, tổ chức các hoạt động xúc tiến xuất khẩu các sản phẩm Hà Nội ra thị trường nước ngoài. (3) Sự kiện tôn vinh doanh nghiệp và sản phẩm Hà Nội: Sự kiện Hanoi Top Branch.
  10. c) Kế hoạch thực hiện: + Xây dựng kế hoạch tổ chức sự kiện Hà Nội với các sản phẩm xuất khẩu (phối hợp với các tỉnh thành phố khu vực phía Bắc). + Xây dựng kế hoạch tổ chức các tháng khuyến mại. + Xây dựng cơ chế, chính sách và kế hoạch tôn vinh doanh nghiệp và sản phẩm Hà Nội. + Xây dựng Đề án tổ chức sự kiện "1000 năm hàng hóa và doanh nhân Hà Nội" nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vào năm 2010. d) Tổ chức thực hiện: + Thành phố Hà Nội phối hợp với các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp tổ chức (tổ chức các sự kiện xúc tiến đòi hỏi phải phối hợp tất cả các lực lượng, đặc biệt là các đơn vị XTTM, Hiệp hội doanh nghiệp mới đảm bảo sự thành công). + Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động quảng bá sự kiện do ngân sách nhà nước chi và kinh phí tham gia của doanh nghiệp. 6) Chương trình xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng xttm a) Mục tiêu của chương trình: - Xây dựng cơ sở hạ tầng XTTM Hà Nội đảm bảo hoạt động XTTM phục vụ tốt doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. b) Nội dung chương trình: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: (1) Trung tâm tổ chức hội chợ, triển lãm của Hà Nội. (2) Phòng Trưng bày sản phẩm xuất khẩu Hà Nội. (3) Trung tâm nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm của Hà Nội. (4) Trung tâm mua bán nguyên phụ liệu cho xuất khẩu của doanh nghiệp Hà Nội (trước mắt là nguyên phụ liệu ngành may). (5) Trung tâm hội nghị hội thảo, đào tạo tập huấn Hà Nội. (6) Trung tâm giao dịch, sàn đấu giá sản phẩm. c) Kế hoạch thực hiện: Lập dự án đầu tư xây dựng hệ thống trung tâm, cơ sở trên. Đầu tư xây dựng theo thứ tự ưu tiên: + Phòng Trưng bày sản phẩm xuất khẩu Hà Nội. + Trung tâm mua bán nguyên phụ liệu cho xuất khẩu của doanh nghiệp Hà Nội (trước mắt là nguyên phụ liệu ngành may). + Trung tâm giao dịch, sàn đấu giá sản phẩm. + Trung tâm tổ chức hội chợ, triển lãm của Hà Nội. + Trung tâm nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm của Hà Nội. d) Tổ chức thực hiện: + Sở Thương mại Hà Nội lập dự án, xây dựng cơ chế chính sách kêu gọi đầu tư. III- CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU 1- Hoàn thiện bộ máy tổ chức làm nhiệm vụ xúc tíên của Thành phố: Bộ máy tổ chức làm nhiệm vụ xúc tiến của Thành phố được hoàn thiện trên cơ sở kiện toàn Trung tâm XTTM trực thuộc Sở Thương mại Hà Nội để thực hiện vai trò đầu mối tổ chức thực hiện các chương trình XTTM trọng điểm của Hà Nội thời gian tới, nhất là các chương trình có
  11. quy mô triển khai lớn, đòi hỏi sự phối hợp rộng. Vì vậy, cần nới rộng phạm vi, chức năng, quyền hạn cho Trung tâm XTTM để Trung tâm kết nối các đơn vị trên địa bàn thành phố cũng như trong khu vực thuận lợi hơn, tổ chức và hỗ trợ các hoạt động XTTM hiệu quả hơn. 2- Xây dựng cơ sở vật chất xúc tiến trên địa bàn Thành phố: Tổ chức thực hiện tốt Chương trình 6 nhằm sớm xây dựng cơ sở vật chất XTTM Hà Nội đủ mạnh phục vụ cho nhiệm vụ XTTM trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập. Cần sớm xây dựng, hoàn thiện một số hạng mục sau trong giai đoạn 2006 – 2010: + Phòng Trưng bày sản phẩm xuất khẩu Hà Nội. + Trung tâm mua bán nguyên phụ liệu ngành may. + Trung tâm giao dịch, sàn đấu giá sản phẩm. + Trung tâm tổ chức hội chợ, triển lãm của Hà Nội. + Trung tâm nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm của Hà Nội. Khi đầu tư xây dựng các thiết chế hạ tầng XTTM trên cần đầu tư tập trung, dứt điểm để công trình sớm hoàn thành và phát huy tác dụng, tránh đầu tư dàn trải, cần dứt điểm trong triển khai dự án. 3- Xây dựng cơ chế phối hợp Trung ương, địa phương, Hiệp hội, doanh nghiệp: - Trên cơ sở các quy định của Chính phủ và các ban, ngành trung ương, tập trung xây dựng cơ chế phối hợp Trung ương, địa phương, Hiệp hội, doanh nghiệp trong phối hợp thực hiện các hoạt động XTTM. - Lồng ghép các hoạt động XTTM của từng doanh nghiệp với Chương trình XTTM của Thành phố; gắn kết Chương trình XTTM của Thành phố với Chương trình XTTM của Bộ Thương mại và các Bộ/Ngành Trung ương nhằm tránh sự chồng chéo, trùng lắp, dàn trải; nâng cao vai trò tổ chức, phối hợp của Trung tâm XTTM Thành phố với các tổ chức liên quan thuộc các cấp, các ngành, tranh thủ sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố đối với hoạt động XTTM, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của các doanh nghiệp trong hoạt động XTTM. - Chương trình XTTM trọng điểm sau khi được duyệt cần cho công bố trên các phương tiện thông tin để doanh nghiệp, các hiệp hội, các tổ chức XTTM của Trung ương và địa phương biết và cùng phối hợp thực hiện. Cần tuyên truyền, phổ biến và công khai các mục tiêu, nội dung Chương trình cùng các đề án triển khai cụ thể hàng năm để tranh thủ ý kiến rộng rãi của các đối tác liên quan nhằm đảm bảo tính hiệu quả và hiệu lực thực thi của các đề án và tổng thể chương trình. 4- Tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp cho cán bộ làm công tác XTTM: - Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp cũng như các nhà quản lý về vị trí, vai trò của hoạt động XTTM. - Hình thành một đội ngũ cán bộ XTTM có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi và có tính chuyên nghiệp cao. Chú trọng đào tạo lực lượng nòng cốt XTTM trong số những cán bộ có kinh nghiệm thực tế thị trường quốc tế từ các doanh nghiệp. - Đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực ngoại thương và cán bộ XTTM theo yêu cầu nhiệm vụ của công tác xuất khẩu trong thời gian tới dựa trên chiến lược phát triển xuất khẩu quốc gia và chiến lược phát triển xuất khẩu của Hà Nội, các quy hoạch ngành hàng cụ thể cũng như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. - Đa dạng hóa loại hình và phương pháp đào tạo về XTTM, áp dụng các phương pháp đào tạo tiên tiến. Phần 3: TỔ CHỨC THỰC HIỆN
  12. Phân công thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại trọng điểm giai đoạn 2006 – 2010 như sau: - Sở Thương mại: Là cơ quan chủ trì thực hiện Chương trình, chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc triển khai các chương trình, kế hoạch cụ thể hàng năm; phối hợp với các ngành liên quan, các hiệp hội, các tổ chức xúc tiến và doanh nghiệp trên địa bàn tổ chức thực hiện các hoạt động thuộc nội dung Chương trình. - Sở Kế hoạch và Đầu tư: cân đối, bố trí kế hoạch vốn ngân sách hỗ trợ cho các hoạt động XTTM theo quy định; tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư vào những ngành sản xuất sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phục vụ xuất khẩu. - Sở Tài chính: phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư bố trí kinh phí cho các hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch, đầu tư của Thành phố. - Sở Du lịch: chủ trì các Chương trình xúc tiến du lịch của Thành phố; phối hợp với Sở Thương mại và các sở ngành liên quan tổ chức các sự kiện xúc tiến. - Các Sở: Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lựa chọn các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ để tổ chức quảng bá tại thị trường trong nước và các khu vực thị trường xuất khẩu trọng điểm; phối hợp với Sở Thương mại và các sở ngành hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp và sản phẩm của Hà Nội. - Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: chủ trì các hoạt động xúc tiến xuất khẩu lao động của Thành phố; xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động. - Sở Bưu chính viễn thông: phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì hướng dẫn thực hiện Chương trình Chính phủ điện tử, thương mại điện tử trên địa bàn; hướng dẫn các hoạt động quảng bá qua các cổng giao tiếp điện tử, các website của Thành phố. - Các Quận Huyện: thực hiện phối hợp liên ngành và liên vùng nhằm triển khai các hoạt động XTTM của Thành phố. - Các Hiệp hội: phát huy vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước; chủ trì, tham gia chủ trì và tham gia vào các hoạt động XTTM của Thành phố; là hạt nhân tập hợp các doanh nghiệp, tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm hàng hóa của Hà Nội trên thị trường quốc tế. - Các doanh nghiệp: chủ động tham gia vào các chương trình, hoạt động XTTM của Thành phố; chủ động đào tạo cán bộ, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và sản phẩm của mình.
Đồng bộ tài khoản