Rối loạn chuyển hóa đường ở người cao tuổi (Kỳ I)

Chia sẻ: Ka Ka | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
100
lượt xem
21
download

Rối loạn chuyển hóa đường ở người cao tuổi (Kỳ I)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khi cơ thể bước sang tuổi già, mọi hoạt động của cơ thể đều bắt đầu có sự lão hóa, mỗi một con người lại có một quá trình thay đổi riêng tùy thuộc vào gen, cơ địa, lối sống... Trong các biến đổi đó, rối loạn chuyển hóa đường là một trong những mối nguy hiểm đến sức khỏe. Để phòng tránh bệnh và những biến chứng do rối loạn này gây ra, người cao tuổi cần có những hiểu biết cần thiết. Cân bằng giữa dung nạp và tiêu thụ Đường huyết là đường trong máu, chính xác...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Rối loạn chuyển hóa đường ở người cao tuổi (Kỳ I)

  1. Rối loạn chuyển hóa đường ở người cao tuổi (Kỳ I) Kỳ I: Những yếu tố giúp ổn định đường huyết Khi cơ thể bước sang tuổi già, mọi hoạt động của cơ thể đều bắt đầu có sự lão hóa, mỗi một con người lại có một quá trình thay đổi riêng tùy thuộc vào gen, cơ địa, lối sống... Trong các biến đổi đó, rối loạn chuyển hóa đường là một trong những mối nguy hiểm đến sức khỏe. Để phòng tránh bệnh và
  2. những biến chứng do rối loạn này gây ra, người cao tuổi cần có những hiểu biết cần thiết. Cân bằng giữa dung nạp và tiêu thụ Đường huyết là đường trong máu, chính xác là trong huyết thanh - biểu thị bằng đơn vị nồng độ g/l, hoặc bằng mg/dl (theo cách quen dùng), nhưng gần đây có xu hướng dùng mmol/l. Đường huyết bình thường (đo khi cơ thể nghỉ, xa bữa ăn) là 4,4 - 6,6 mmol/l). Loại đường có mặt thường trực trong máu là glucose. Mỗi ngày, cơ thể cần 250-300g glucose dưới dạng chất bột - đường (gọi chung là glucid) từ cơm, bánh, kẹo, trái cây, sữa... Thức ăn chứa glucid được tiêu hoá dễ dàng ở ruột non, trong đó các loại đường được tiêu hoá và hấp thu nhanh nhất, tiếp theo là chất bột, trong đó bột còn chứa trong hạt (chưa nghiền) tiêu hoá chậm nhất. Điều này được ứng dụng khi muốn làm tăng nhanh hay tăng chậm đường huyết sau khi ăn. Sau khi hấp thu, toàn bộ glucid đi qua gan và được gan giữ lại. Đây là nơi dự trữ glucid cho toàn cơ thể. Khi gan đã đầy ắp glucid (khoảng 100-120g), số thừa sẽ được máu chuyển tới cất giữ ở cơ bắp. Khối cơ bắp rất lớn nên có khả năng chứa tới 300g glucid. Nếu lượng đường được cung cấp ồ ạt (tạm thời vượt tốc độ thu nhận của cơ bắp) sẽ có một phần đường tạo thành mỡ. Nếu tốc độ tạo mỡ vẫn không kham nổi lượng đường bổ sung vào máu, ắt nồng độ đường huyết sẽ tăng nhanh; nếu đường huyết tăng tới 1,7 g/l (9,4 mmol/l), glucose sẽ bị thận đào thải.
  3. Trái lại, khi khẩu phần thiếu glucid so với nhu cầu sẽ dẫn đến hạ thấp đường huyết và hạ tới mức nào đó (từ mức 3,9mmol trở xuống), sẽ có một phần protein (chủ yếu lấy từ cơ) biến thành glucose để bù đắp năng lượng. Quá trình này xảy ra chậm chạp, do vậy, đường huyết thường chỉ tăng nhẹ đạt ngưỡng thấp của trị số bình thường (4,4mmol/l), khi đã tạm đủ glucid cơ thể sử dụng mỡ để trang trải nhu cầu năng lượng. Quá trình điều chỉnh đường huyết Adrenalin do tuyến thượng thận tiết ra có vai trò tăng đường huyết khi cơ thể thiếu. Các tín hiệu điều chỉnh đường huyết được chia thành hai nhóm tác dụng ngược chiều, nhưng cân bằng nhau: nhóm gây tăng và nhóm gây hạ đường huyết.
  4. Mất cân bằng của hai nhóm trên đưa đến tình trạng bệnh lý hạ và tăng đường huyết. Nhóm gây hạ đường huyết: Tuyến tụy tiết vào máu chất insulin có tác dụng làm hạ rất nhanh đường trong máu, vì nó giúp mọi tế bào cơ thể (gan, cơ, mỡ...) lấy được glucose từ máu. Bình thường, insulin chỉ được tiết vừa đủ để giúp các tế bào lấy được lượng glucose thích hợp theo đúng nhu cầu. Insulin tiết nhiều vào bữa ăn giúp cơ thể cất giữ nhanh (trong vài giờ) lượng glucid hàng trăm gam trong khẩu phần (đủ dùng cho cơ thể hàng chục giờ), nhờ vậy, cơ thể không bị mất glucose theo nước tiểu. Trường hợp tụy tiết quá ít chất insulin, hoặc khi tế bào giảm nhạy cảm với nó, hoặc khi insulin kém chất lượng... dẫn đến các tế bào của cơ thể bị đói glucose, đây là tình trạng gặp trong bệnh đái tháo đường. Bên cạnh nguyên nhân tế bào bêta tuyến tụy giảm tiết insulin thì các tế bào ở người già cũng giảm khả năng sử dụng tốt insulin nên gây ra tình trạng đái tháo đường. Nhóm gây tăng đường huyết: - Vai trò của thần kinh giao cảm: Thần kinh giao cảm đi từ não xuống, chi phối sự hoạt động của hầu hết cơ quan trong cơ thể. Đặc biệt, thần kinh giao cảm chỉ huy tuyến thượng thận khiến tuyến này tiết chất adrenalin, có tác dụng bắt gan khẩn trương "xuất kho" glucose. Đây là tác nhân gây tăng đường huyết mạnh mẽ nhất, sớm nhất, nhưng không kéo dài. Như vậy, adrenalin rất đắc dụng khi cơ thể đột ngột phải tăng sử dụng glucose (đột ngột dùng sức, đột ngột xúc động, phẫn nộ
  5. hay hốt hoảng). Nhờ nó, đường huyết tăng rất nhanh, giúp cơ thể có sẵn năng lượng chi dùng cho các trạng thái trên. Tuy nhiên, khả năng này ở người già thường suy giảm nhiều. - Chất glucagon: Cũng do tụy tiết ra với số lượng và tác dụng thường ngược chiều với insulin, nghĩa là có tác dụng huy động glucose từ gan - nếu gan chưa cạn glucose. Mỗi khi insulin tăng tiết (ví dụ, trong bữa ăn) thì glucagon tự động giảm tiết; trái lại khi xa bữa ăn (đói) thì glucagon tăng tiết, trong khi insulin tự nguyện giảm tiết. Glucagon cũng hay kế tiếp tác dụng của adrenalin. - Chất gluco-corticoid do tuyến thượng thận tiết ra rất có tác dụng nâng mức đường huyết khi kho gan đã cạn kiệt. Cụ thể, chất này giúp cơ thể huy động kho protein của cơ thể tới gan để gan tạo thành glucose, tránh cho cơ thể những hậu quả nặng nề (ví dụ, hôn mê do đường huyết thấp), đổi lại dự trữ protein của cơ thể bị hao hụt ít nhiều. Khi quá đói, ta thấy chân tay bủn rủn, hoa mắt, run rẩy, toát mồ hôi... (do đường huyết hạ thấp dưới 3,8mmol/l) sau đó cảm giác này sẽ qua khỏi, đó là nhờ gluco-corticoid kịp tiết ra.
Đồng bộ tài khoản