Sa mạc hóa

Chia sẻ: hcong91

Sa m c ạ hóa là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô cằn, gây ra bởi sinh hoạt con người và biến đổi khí hậu. Khuynh hướng sa mạc hóa gần đây đã tăng nhanh trên toàn thế giới phần vì áp lực dân số và nhu cầu trồng trọt và chăn nuôi. Ảnh hưởng lớn nhất của nạn sa mạc hóa là nét đa dạng sinh thái bị suy giảm và năng suất đất đai cũng kém đi.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Sa mạc hóa

Sa mạc hóa là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô cằn, gây ra bởi sinh
hoạt con người và biến đổi khí hậu. Khuynh hướng sa mạc hóa gần đây đã tăng nhanh
trên toàn thế giới phần vì áp lực dân số và nhu cầu trồng trọt và chăn nuôi.

Ảnh hưởng lớn nhất của nạn sa mạc hóa là nét đa dạng sinh thái bị suy giảm và năng
suất đất đai cũng kém đi.



Nguyên do
Một số nguyên do gây ra nạn sa mạc hóa, phần lớn là do tác động của con người từ
khoảng 10.000 năm nay (Thế Holocen). Việc lạm dụng đất đai trong các ngành chăn
nuôi gia súc, canh tác ruộng đất, phá rừng, đốt đồng, trữ nước, khai giếng, tăng lượng
thổ diêm (soil salinity) và biến đổi khí hậu toàn cầu đã góp sức làm sa mạc hóa nhiều
vùng trên trái đất.

Đất sa mạc thường có biên giới rõ rệt với miền kế cận nhưng cũng có khi vùng sa
mạc tiếp giáp một vùng chuyển tiếp rồi mới đến vùng đất ẩm nên miền ven sa mạc
khó ấn định hơn. Vùng chuyển tiếp ở ven sa mạc này thường có hệ sinh thái mong
manh. Đây cũng là nơi có nhiều tiểu khí hậu. Thí dụ như: cồn cát cao có thể che khuất
gió cho một thửa đất trũng, và từ đó tạo điều kiện cho cây cỏ mọc xen vào. Đến khi có
mưa thì vùng có thảo mộc sẽ có nhiệt độ mát hơn.

Hệ sinh thái ở vùng ven rất dễ bị giao động bởi sinh hoạt con người như trong trường
hợp chăn nuôi. Móng guốc của loài mục súc thường nện chặt các tầng đất, làm giảm
lượng nước thấm xuống các mạch nước ngầm. Những lớp đất trên thì chóng khô, dễ
bị gió mưa soi mòn. Con người còn gây nên nạn đốn cây lấy củi cùng động tác của các
loài gia súc gặm cỏ làm hư lớp rễ thảo mộc vốn quyện lớp đất xuống. Đất vì đó dễ
tơi lên, chóng bị khô và biến thành bụi. Hiện tượng này diễn ra ở những vùng ven sa
mạc khi con người chuyển từ lối sống du mục sang lối sống ngụ canh.

Các cồn cát sa mạc cũng có thể di chuyển góp phần vào hiện tượng sa mạc hóa. Gió là
động lực chính đẩy các cồn cát. Những hạt cát có thể lăn trên mặt đất hoặc tung lên
trên không rồi rơi xuống. Chính động tác tung lên sẽ làm giao động thêm, khuếch đại
lượng cát bị xô đẩy. Kết quả là lũ cát khi cả một cồn cát trườn vào. Khi có gió mạnh
làm bão cát thì lũ cát có thể làm cồn cát tiến lên hàng chục mét tương tự như hiện
tượng tuyết truồi (avalanche). Lũ cát còn có thể xảy ra khi cát dồn lên đến đỉnh cồn sẽ
trượt xuồng triền dốc bên kia, làm cồn cát tiến lên.

Hạn hán có khi bị ngộ nhận là nguyên do của tiến trình sa mạc hóa. Hạn hán phải nói
là góp phần trong tiến trình đó nhưng nguyên do chính là do áp lực sinh hoạt con người
trên môi trường thiên nhiên. Theo địa chất học thì trước thời kỳ văn minh nhân loại,
không có bằng chứng khoa học nào để nói rằng diện tích sa mạc đang lan rộng thêm.
Chỉ sau khi con người thay đổi môi sinh ta mới thấy hiện tượng sa mạc hóa.
Hạn hán là biến chuyển thường xuyên xảy ra ở những vùng khô cằn nhưng khi đã có
mưa thì môi sinh bình phục nhanh chóng. Chính là nạn lạm dụng đất đai làm suy thoái
chất đất như trong trường hợp chăn nuôi mục súc quá tải và nạn nhân mãn đã tăng
cường tốc độ sa mạc hóa ở vùng ven sa mạc. Dân du mục khi muốn thoát vùng sa mạc
khô cằn thường đưa đàn mục súc đến vùng ven để sinh sống nhưng chính động tác đó
đã làm sa mạc thêm rộng lớn và họ đã vô tình mang cái khô cằn của sa mạc theo với
họ.

Vùng khô cằn cũng có thể canh tác được nhưng khi áp lực của con người làm hư hại
lượng thảo mộc thiên nhiên thì đất khô dễ bị gió biến thành bụi. Thiếu bóng rợp,
nước trong lòng đất mau bốc hơi, lưu lại chất muối làm tăng độ thổ diêm (soil
salinity). Quá trình này làm đất thêm cằn cỗi, cây cỏ không mọc được và tốc độ suy
thoái càng nhanh khi khí hậu trong vùng bị biến đổi với lượng mưa càng ít đi.




Thời lịch sử
Những sa mạc lớn trên thế giới hình thành một cách tự nhiên qua hàng nghìn năm,
không do sinh hoạt con người. Diện tích sa mạc khi rộng, khi hẹp nhưng đã ổn định vì
khí hậu và thảm thực vật.

Sa mạc Sahara theo khảo cổ học thì từng là một bình nguyên cỏ mọc (savanna) rồi
biến thành sa mạc tùy theo vũ lượng. Tuy nhiên từ khi con người có mặt và thay đổi
môi trường thiên nhiên, các vùng sa mạc ngày càng lớn rộng với tốc độ nhanh chưa
từng có.




Hiện trạng
Vào thập niên 1930 tại Hoa Kỳ, vì quá tải chăn nuôi mục súc và canh nông ở vùng Đại
Bình nguyên Bắc Mỹ cùng với cơn hạn hán dài hạn, kết quả là trận "Dust Bowl" vĩ
đại làm hư hại đất canh nông và hàng chục nghìn người phải xiêu tán. Sau đó với
nhiều cải tiến về lối canh tác đất và sử dụng nước con người đã phản ứng kịp thời
nên vấn nạn Dust Bowl không còn tái diễn. Tuy vậy ở những quốc gia đang phát triển
nạn sa mạc hóa vẫn tiến hành, ảnh hưởng đến hàng chục triệu người.

Nạn nhân mãn và phép hỏa canh làm rẫy ở vùng nhiệt đới là nguyên do chính của nạn
phá rừng. Khi đã mất thảm thực vật, hậu quả là đất đai bị soi mòn, mất chất màu và
cuối cùng là biến thành sa mạc. Hiện tượng này rõ nhất ở vùng cao nguyên
Madagascar nơi 7% diện tích là đất cằn đồi trọc, không còn khả năng trồng cấy được
nữa.
Nạn quá tải mục súc là vấn nạn ở Phi châu như vùng núi Waterberg ở Nam Phi và dải
Sahel. Sa mạc Sahara hiện nay đang tiến dần về phía nam với tốc độ 45 km/năm.



Các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mông Cổ, Trung Hoa, Tajikistan,
Afghanistan, Turkmenistan, Iran và Uzbekistan cũng bị ảnh hưởng nặng. Riêng
Kazakhstan kể từ năm 1980, gần 50% diện tích trồng trọt đã bị bỏ hoang vì đất quá
cằn trong tiến trình sa mạc hóa.




Tàu mắc cạn vì biển Aral ở Trung Á cạn nước




Biện pháp
Vì nguy cơ thiệt hại đến hệ sinh thái, nhiều quốc gia có biện pháp chống sa mạc hóa
như Kế hoạch Hành động Bảo tồn Đa dạng Sinh thái (Biodiversity Action Plans). Các
biện pháp ứng dụng thường nhắm vào giảm thiểu tốc độ sa mạc hóa và tái tạo đất
màu nhưng động cơ nguyên thủy như chăn nuôi và canh tác đất quá lạm vẫn chưa
khắc phục được.

Các thảo mộc thuộc Họ Đậu vì có khả năng rút đạm khí từ không khí rồi châm xuống
đất nên thường được trồng để cải tạo địa chất. Những biện pháp khác phải kể việc
xếp đá quanh gốc cây để tụ sương và giữ độ ẩm, hay cào luống nhỏ để tích hột cây cỏ
khỏi bị gió thổi và hoãn nước mưa không tháo quá nhanh. Vùng Sahel ở Phi châu áp
dụng cách trồng cây xanh cản gió để giảm thiểu khả năng đất bị bốc bụi và nước bốc
hơi.

Với nhu cầu dùng củi làm nhiên liệu ở các nước đang phát triển khá cao, vấn đề dân
chúng đốn cây để lấy củi là một động lực gia tăng nạn sa mạc hóa. Một biện pháp là
phổ biến loại lò bếp dùng năng lượng mặt trời để nấu nướng hoặc những loại lò bếp
củi có hiệu suất cao (high efficiency).

Có địa phương cho đặt rào chắn cát để cản sức gió đồng thời trồng các loài thảo mộc
cho đất khỏi bị soi mòn. Bụi cây xanh trồng ở chân đụn cát có khả năng ổn định vị trí
của đụn và giảm lượng cát bị gió di chuyển.

Sa mạc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ốc đảo tại Texas
Để biết về hình thức hát, xem hát sa mạc.

Sa mạc là vùng có lượng mưa rất ít, môi trường hết sức khắc nghiệt.

Lượng mưa thường 0-25 mm/năm do vậy nước ở sa mạc rất hiếm, thường không có
sông và suối, sự sống hiếm hoi vì có rất ít loại động vật và thực vật có thể thích nghi
với môi trường khắc nghiệt này, chỉ có ít những cây bộ gai, họ xương rồng sống được
điều kiện khô cằn ít nước. Khí hậu thường nóng có thể tới 58°C như ở sa mạc
Mexico, Turfan (Thổ Nhĩ Kỳ) nhiệt độ ban ngày mùa hạ lên tới 82,3°C, có nơi lại lạnh
đến –45°C như ở sa mạc Gobi thuộc Châu Á. Ở vùng sa mạc Sinai, biên độ nhiệt độ
chênh lệch giữa ngày và đêm có thể đến hơn 80°C, đất đai cằn cỗi. Sa mạc thường có
lượng bức xạ mặt trời lớn, nhiều cát và gió nóng luôn thổi mạnh tạo ra rất nhiều trận
bão cát, hiện nay có khoảng 1/3 diện tích trái đất (lục địa) là sa mạc.

Người ta thường dùng lạc đà làm phương tiện di chuyển trong sa mạc.



Các loại sa mạc
Vào năm 1953 Peveril Meigs đã chia những sa mạc trên Trái Đất thành ba loại dựa theo
lượng mưa mà chúng nhận được. Trong hệ thống đã được chấp nhận rộng rãi này, các
hoang mạc có tối thiểu 12 tháng liên tiếp không mưa, những vùng sa mạc có lượng
mưa trung bình năm ít hơn 250mm. Những bán hoang mạc có lượng mưa vào khoảng
250mm đến 500mm. Các bán hoang mạc thương được coi như những đồng cỏ khô.
Phương pháp đo chỉ đơn giản dựa vào lượng mưa không thể cung cấp một định nghĩa
rõ ràng về việc một sa mạc là gì vì việc khô hạn cũng phụ thuộc vào sự bay hơi, một
phần phụ thuộc vào thời tiết




Các sa mạc lớn trên thế giới



• Great Victoria - tây nam Châu Úc 390.500 km²
• Gibson, Great Victoria, Simpson - trung tâm Châu Úc
• Tanami - Bắc Châu Úc
• Chihuahua, Mexico/tây nam nước Mỹ 360.000 km²
• Takla Makan Bắc Trung Quốc 360.000 km²
• Sonoran Mexico/tây nam nước Mỹ 310.000 km²
• Kalahari tây nam Châu Phi 260.000 km²
• Kyzyl Kum Uzbekistan 260.000 km²
• Thar Ấn Độ/Pakistan 260.000 km²
• Simpson Châu Úc 100.000 km²
• Mohave tây nam nước Mỹ 52.000 km²
• Atacama (Chile).
• Libyan, (Châu Phi).
• Al-Dahna, Ả Rập
• Nefud, Bắc Ả Rập
• Judean - Đông Israel và Khu Bờ Tây
• Negev - Nam Israel
• Kavir-e Lut, Đông Nam Iran.
• Dasht-e Kavir (Iran).
• Kara Kum (trung tâm Châu Á)
• Kyzyl Kum ( Kazakhstan và Uzbekistan.)
• Taklamakan - Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương (Trung Quốc)
• Tabernas, Almería, Tây Ban Nha

Việt Nam đối mặt với sa mạc hoá cục bộ
(Theo An ninh thủ đô )

Theo đó, Việt Nam hiện còn khoảng hơn 9 triệu ha đất đồi núi trọc, đồi cát có liên
quan tới sa mạc hoá, chiếm 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc.

Cũng theo trung tâm này, hiện Việt Nam đã xuất hiện sa mạc hoá cục bộ ở các dải cát
hẹp trải dài dọc theo bờ biển miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận là nơi có
diện tích sa mạc hoá lớn nhất cả nước.

Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi còn nhiều vùng đồi núi trọc đang bị mưa lũ làm lở
đất, xói mòn và suy thoái đến khô cằn hoang mạc.

Đây là những vấn đề đáng lo ngại, là thách thức lớn đối với nền nông
nghiệp của nước ta hiện nay. Việt Nam hiện là một trong những
quốc gia có ít đất nông nghiệp, đứng thứ 159 trên thế giới. Làm
gì khi Việt Nam bị sa mạc hóa

Sa mạc hóa tác động ảnh hưởng đến 9,3 triệu ha đất và 22 triệu người Việt Nam.
Việt Nam được nhận định là một trong năm nước chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc
biến đổi khí hậu toàn cầu.

Bất cứ ai khi nghe, đọc những thông tin này trên các phương tiện thông tin đại chúng
đều không khỏi ...giật mình lo lắng; và sự lo lắng càng tăng theo chiều hướng bất lợi
khi cuộc họp giữa 100 nước về vấn đề cắt giảm khí thải toàn cầu tại Copenhaghen -
Đan Mạch vừa qua đã không đi tới thỏa hiệp chung nhất.

An nguy cho bình yên xã hội
Biến đổi khí hậu toàn cầu đã ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt đến Việt Nam trong những
năm gần đây. Thực tế cho thấy những ngày này khi miền Bắc đang phải đứng trước
nguy cơ hạn hán kéo dài khi thước đo mực nước dự trữ tại thuỷ điện Hòa Bình đã
xuống ở mức “chạm đáy”, những vùng đất được coi là “đồng chiêm trũng” phải chịu
cảnh phơi mình nứt nẻ thì miền Nam lại đang phải hứng chịu cảnh triều cường, ngập
lụt. Còn miền Trung thì sao? khi theo con số thống kê những cơn bão càng ngày càng ở
mức năm sau ....mạnh hơn năm trước. Thiên tai, bão lụt đã phần nào làm đảo lộn sự
phát triển bình thường của xã hội bởi sự di dân của những cư dân vùng bão rời làng
quê đến làm ăn, sinh sống tại các đô thị lớn, các khu công nghiệp.... Sự phình to của
các đô thị quá tải, các khu công nghiệp đã làm nảy sinh những vấn đề tất yếu như : ô
nhiễm môi trường, rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp....cùng nhiều vấn đề an
sinh xã hội khác.



Bình yên xã hội đang trở thành điều quý giá hơn vàng trong một thế giới đầy biến
động khi mà loài người hàng ngày vẫn bị ám ảnh bởi chiến tranh, bạo lực bất công và
nghèo đói. Và như một quy luật tất yếu đã xảy ra từ khi hình thành xã hội loài người
cho đến nay những người nông dân cổ cày vai bừa, một nắng hai sương. những người
dân nghèo là những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc biến đổi khí hậu này.



Người ta cứ mải miết đi tìm những giải pháp mang tính vĩ mô, tầm nhìn chiến lược để
làm thay đổi diện mạo xù xì, gai góc, cái thân thể với những vết thương đang mưng
mủ, nứt toác của một thế giới cũ vốn đáng ghét mà người ta không chịu dừng lại để
quán chiếu bằng một tinh thần thực tiễn, bằng một ý niệm thiết thực hiện tại nghĩa là
không chịu dừng lại để giải phẫu chính thân thể của mình.



Cái này Đức Phật đã chĩ rõ từ cách đây trên 2500 năm rằng do Khái ái – Tanha đã dẫn
con người đến những nỗi khổ, nhưng sự khổ đau này thật trớ trêu và cũng thật nghiệt
ngã lại chụp lên đầu những người nông dân, những người dân lương thiện.



Bản chất khái ái có năng lực biến một con người bình thường trở thành loài quỷ đói
luôn luôn chạy theo những xu hướng tiện nghi vật chất : xe hơi, máy lạnh, nhà cao
tầng, nhà máy điện nguyên tử, khai thác khoáng sản và mạch nước ngầm...
Việc xây dựng những khu công nghiệp, những tập đoàn kinh tế lớn... sẽ dẫn đến tình
trạng phải giải phóng một phần lớn diện tích đất đai, hệ sinh thái môi trường và như
thế việc mất cân bằng hệ sinh thái đương nhiên sẽ dẫn đến những hậu quả khôn
lường mà sự biến đổi khí hậu toàn cầu là cái chết đã được báo trước qua thảm họa
sóng thần năm 2004. Thế nhưng bất cứ quốc gia nào cũng đều biện hộ rằng nghành
công nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn không chỉ sản xuất để thụ hưởng mà còn xem
đó như một cứu cánh cho việc tăng trưởng GDP cho quốc gia của mình. Năm 2007
Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng mười năm trở lại đây đạt 8,4%
tổng thu nhập quốc dân, GDP 1144 tỷ đồng tương đương 71,3 tỷ USD. GDP bình quân
đầu người đạt 835 USD cao hơn kế hoạch 15 USD, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam lên
tới 20 tỷ USD.




Cần lắm những đại sứ thiện chí cho môi trường



Phải thừa nhận rằng con người có một đời sống cao hơn xã hội thời xưa về hai
phương diện chính: Công cụ lao động và sở hữu vật chất. Hai thành quả to lớn này
đạt được do kết quả lao động sáng tạo của những bộ óc thông minh siêu tuyệt, những
bộ óc siêu truyệt ấy hy vọng rằng những phát minh, phát kiến của họ sẽ dập tắt
những nỗi thống khổ của nhân loại. Tuy nhiên, ngày nay con người vẫn chưa hết
những nỗi khổ về sinh, già, bệnh, chết... mà càng ngày con người càng phải oằn mình
lên, vắt kiệt sức mình để chống chọi với những thảm họa mới: Siêu vi trùng gây ung
thư gan, H5N1, HIV/AIDS ở người và bệnh dịch lở mồm, long móng ở hàng đàn gia
súc trâu, bò, lợn, gà ...trên thế giới. Nỗi đau khổ của con người còn bị chồng chất bởi
các cơ sở sản suất chế biến thực phẩm, đồ gia dụng đã lạm dụng các chất hóa học
trong quá trình sản suất đưa đến tình trạng người tiêu dùng phải mang nhiều mầm
bệnh ung thư.



Ô nhiễm môi sinh bởi chất thải công nghiệp, khiến sức khỏe con người bị đe dọa và
chất lượng cuộc sống bị giảm thiểu một cách tiêu cực. Diện tích đất sạch, đất canh
tác bị thu hẹp dẫn đến tình trạng một bộ phận lao động không có nguồn thu nhập ổn
định bị cuốn theo những cám dỗ vật chất và luôn phải đứng trước những nguy cơ tội
phạm như mại dâm, ma túy, cướp của, giết người....Như vậy thì việc tăng trưởng
tổng sản phẩm quốc nội GDP không phải là thước đo chính xác cho sự phát triển của
xã hội; khi mà chiếc vòng kim cô luôn siết chặt sự phát triển đó bằng một vòng luẩn
quẩn bởi thiên tai, dịch bệnh, mất cân bằng sinh thái, động đất, sóng thần, hay băng
tan ở Bắc cực... Nhưng xem ra lời cảnh báo đó chưa đủ giúp con người dừng lại tham
vọng – Khát ái của mình, khi mà nước nào cũng muốn mình là một “tiểu vũ trụ”, khi
mà chính những quần chúng trong nước đó luôn bị khuấy đảo và kích động bởi lòng
khao khát, nhưng thực tế không ai có thể đạt được điều mình khao khát một cách toàn
vẹn vì thế những hành động vi phạm xảy ra, công đức thiện pháp bị mất đi để đạt cho
bằng được cái cuối cùng được khao khát và cứ thế con người bị kéo theo cơn lốc khát
ái một cách điên cuồng trong vòng xoáy bản ngã bất tận và từ đó mọi thảm họa cá
nhân và xã hội từ đó phát sinh.



Đến đây chúng ta có thể nhận thức được rằng: Không xây thêm những lò phản ứng
hạt nhân - giảm bớt khí thải, hạn chế việc khai thác khoáng sản - giảm bớt động đất,
sóng thần, tiết kiệm nước - tránh nguy cơ hạn hán, mở rộng diện tích đất canh tác,
trồng rừng - tránh thảm họa bão lụt, lũ quét, xử lý chất thải công nghiệp độc hại theo
quy trình khép kín - đảm bảo nguồn không khí môi sinh trong lành... là những việc làm
thiết thực hiện tại mà bất cứ một quốc gia nào, một công dân nào cũng có thể thực
hành một cách tích cực bằng chính ý thức tự giác của mình.



Thiết nghĩ, đã đến lúc không chỉ các nhà lãnh đạo mà tất cả mọi công dân chúng ta đều
phải tự biến mình trở thành những nhà “đại sứ” thiện chí cho hòa bình và môi trường
nhằm hạn chế tối đa quá trình “sa mạc hóa” tại Việt Nam.



Theo số liệu thống kê của Myanmar tổn thất do cơn bão Nargis gây ra đã khiến 77.738
người chết, 19.359 người bị thương, 55.917 người mất tích

Chắc hẳn trong chúng ta không ai mong muốn lịch sử sẽ lặp lại như thế với con dân
đất Việt.

Sa mạc hóa tác động ảnh hưởng đến 9,3 triệu ha đất và 22 triệu người Việt
Nam. Việt Nam được nhận định là một trong năm nước chịu sự ảnh hưởng trực
tiếp từ cuộc biến đổi khí hậu toàn cầu.
Bất cứ ai khi nghe, đọc những thông tin này trên các phương tiện thông tin đại
chúng đều không khỏi ...giật mình lo lắng và sự lo lắng càng tăng theo chiều
hướng bất lợi khi cuộc họp giữa 100 nước về vấn đề cắt giảm khí thải t oàn cầu
tại Copenhaghen - Đan Mạch vừa qua đã không đi tới thỏa hiệp chung nhất.



Sa mạc hoá đe doạ đẩy hàng triệu người ra khỏi nhà của họ vào những
thập kỷ tới trong khi các cơn bão bụi lớn ở lục địa này có thể gây hại cho
con người tại lục địa khác. Thông tin trên được công bố hôm 16/6 trong
một báo cáo quốc tế của 1.360 nhà khoa học ở 95 quốc gia.
Theo Zafar Adeel, PGĐ Viện nước của ĐH LHQ đồng thời là tác giả chính của
báo cáo, sa mạc hoá là một vấn đề toàn cầu, ảnh hưởng tới tất cả mọi nguời.
Có hai tỷ người đang sống tại các vùng đất khô, có nguy cơ bị sa mạc hoá.
Những vùng này trải dài từ Bắc Phi tới những dải đất ở Trung Á. Ngoài ra, các
cơn bão có thể cuốn bụi từ sa mạc Sahara và gây bệnh hô hấp cho những
người dân ở tận Bắc Mỹ. Chăn thả quá nhiều gia súc và canh tác quá nhiều cây
trồng, bùng nổ dân số và tưới tiêu không hợp lý đang góp phần gây sa mạc hoá.
Ước tính 10-20% đất khô trên thế giới đã bị thoái hoá.

Ấm hóa toàn cầu, do khí thải từ xe cộ, nhà máy và nhà máy điện, chắc chắn sẽ
làm cho những vấn đề nêu trên ngày càng trầm trọng trong những thập kỷ tới do
gây ra nhiều lũ lụt hơn, hạn hán và các đợt nóng. Sa mạc hoá ngày cũng làm
cho hàng triệu người nghèo buộc phải tìm nơi ở và kế sinh nhai mới. Báo cáo có
đoạn: ""Sa mạc hoá là sự thay đổi sinh thái nguy hiểm nhất, tác động tới kế sinh
nhai của người nghèo"".

Sa mạc hoá còn đồng nghĩa với sự gia tăng bệnh tật, đói nghèo và sản lượng
lương thực giảm. Tỷ lệ tử vong trung bình của trẻ em tại vùng đất khô ở các
quốc gia đang phát triển là 54/1.000 ca sinh trong năm 2.000, gấp đôi so với các
vùng nghèo khác và gấp 10 tỷ lệ ở các nước công nghiệp. Sự gia tăng các cơn
bão bụi liên quan tới sa mạc hoá được coi là nguyên nhân gây bệnh: sốt, ho,
đau mắt trong mùa khô. Bụi từ sa mạc Gobi ở Mông Cổ có thể ảnh hưởng tới
người dân ở Nhật Bản hoặc Hawaii. Một số nhà khoa học ước tính 1 tỷ tấn bụi
có thể được mang từ vùng Sahara vào khí quyển mỗi năm.

Các hạt bụi cũng mang vi khuẩn và nấm. Các chuyên gia cho rằng vi sinh vật có
trong bụi từ châu Phi phá huỷ các rặng san hô ở Caribbean. Các cơn bão bụi ở
châu Phi có thể làm giảm khả năng sinh trưởng của cây tại Florida bằng cách
che khuất ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên, bụi cũng có thể mang theo chất dinh
dưỡng, giúp các cánh rừng sống sót ở Amazon. Báo cáo cho rằng quản lý cây
trồng tốt hơn, tưới tiêu hợp lý và các chiến lược tạo việc làm phi nông nghiệp
cho người dân ở vùng đất khô có thể giúp ngăn chặn sa mạc hoá.

Sa mạc hóa tác động ảnh hưởng đến 9,3 triệu ha đất và 22 triệu người Việt
Nam. Việt Nam được nhận định là một trong năm nước chịu sự ảnh hưởng trực
tiếp từ cuộc biến đổi khí hậu toàn cầu.
Bất cứ ai khi nghe, đọc những thông tin này trên các phương tiện thông tin đại chúng
đều không khỏi ...giật mình lo lắng; và sự lo lắng càng tăng theo chiều hướng bất lợi
khi cuộc họp giữa 100 nước về vấn đề cắt giảm khí thải toàn cầu tại Copenhaghen -
Đan Mạch vừa qua đã không đi tới thỏa hiệp chung nhất.



Việt Nam đối mặt với sa mạc hóa cục bộ
ANTĐ
(ANTĐ) - Theo dự báo từ Trung tâm Tư vấn môi trường - Tài nguyên và giảm nghèo
nông thôn, hoang mạc hóa đang là vấn đề rất phức tạp của Việt Nam hiện nay.



Theo đó, Việt Nam hiện còn khoảng hơn 9 triệu ha đất đồi núi trọc, đồi cát có liên
quan tới sa mạc hóa, chiếm 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc.

Cũng theo trung tâm này, hiện Việt Nam đã xuất hiện sa mạc hóa cục bộ ở các dải cát
hẹp trải dài dọc theo bờ biển miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận là nơi có
diện tích sa mạc hóa lớn nhất cả nước.

Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi còn nhiều vùng đồi núi trọc đang bị mưa lũ làm lở
đất, xói mòn và suy thoái đến khô cằn hoang mạc.

Đây là những vấn đề đáng lo ngại, là thách thức lớn đối với nền nông nghiệp của
nước ta hiện nay. Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có ít đất nông nghiệp,
đứng thứ 159 trên thế giới.

Sa mạc hoá - thuận lợi và thách thức đối với chúng ta

Cộng đồng quốc tế từ lâu đã nhận thấy sa mạc hoá là một vấn đề rất rộng liên
quan đến cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường của nhiều quốc gia trên
thế giới. Năm 1977, Hội nghị về Sa mạc hoá của Liên hợp quốc (UNCOD) đã
thông qua một Kế hoạch hành động chống sa mạc hoá (PACD). Tuy nhiên, theo
đánh giá của Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) vào năm
1991, thoái hoá đất vẫn gia tăng ở các khu vực khô hạn, bán khô hạn và vùng
ẩm nửa khô hạn, dù đã có một số "thành công mang tính cục bộ".
Vì vậy chống sa mạc hoá vẫn là một vấn đề chính tại Hội nghị thượng đỉnh
về Môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (UNCED) tại Rio de Janeiro -
Brazil năm 1992. Hội nghị đã nhất trí thông qua một phương pháp tiếp cận đa
ngành mới, tập trung vào các hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển bền vững ở
cấp cộng đồng. Hội nghị cũng yêu cầu Đại hội đồng Liên hợp quốc thành lập
một Uỷ ban đàm phán liên chính phủ (INCD) để chuẩn bị văn kiện Công ước
chống sa mạc hoá (UNCCD). Tháng 12 năm 1992, Đại hội đồng Liên hợp quốc
đã thống nhất thông qua Nghị quyết 47/188 về UNCCD và sau 5 cuộc họp của
Uỷ ban đàm phán liên chính phủ, Công ước UNCCD đã được phê chuẩn tại
Paris ngày 17 tháng 6 năm 1994 và để các bên ký kết vào ngày 14-15 tháng 10
năm 1994. Công ước có hiệu lực vào ngày 26 tháng 12 năm 1996. Đây là một
trong 3 công ước Rio về môi trường quan trọng nhất của Liên hợp quốc
(UNCCD, UNFCCC, UNCBD). Cho đến nay, Công ước đã tròn 10 năm tuổi, với
gần 200 thành viên. Hội nghị các bên tham gia Công ước lần thứ 5, tháng 10
năm 2001 tại Geneva, Thuỵ Sỹ đã quyết định lấy Ngày 17/6 hàng năm là ngày
quốc tế chống sa mạc hoá. Chủ đề của ngày quốc tế chống sa mạc hóa năm
nay, 17/6/2007, là “Sa mạc hóa và biến đổi khí hậu - Một thách thức toàn cầu ”.
Thông điệp này nhắc nhở chúng ta rằng biến đổi khí hậu và sa mạc hóa có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau ở rất nhiều cấp độ. Đây là hai khía cạnh của cùng
một vấn đề. Sa mạc hóa cùng với biến đổi khí hậu đang đe dọa nghiêm trọng
đến khả năng hoàn thành các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc vào
năm 2015.
Sa mạc hóa không chỉ là một thách thức lớn về môi trường của thế giới mà
còn là một trong những trở ngại chính trong việc đảm bảo các nhu cầu tối thiểu
của con người tại những vùng khô hạn. Sa mạc hóa đe dọa đến sức khỏe và
cuộc sống của khoảng 1,2 tỷ người ở trên 100 quốc gia trên thế giới.
Nhận thức rõ ý nghĩa quan trọng của Công ước, Việt Nam đã ký kết tham gia
UNCCD ngày 25/8/1998 và chính thức trở thành thành viên thứ 134 của
UNCCD, vào ngày 23/11/1998.
Đối với Việt Nam, khái niệm "chống sa mạc hóa” có nghĩa là "chống hoang
mạc hóa, chống thoái hóa đất và hạn chế ảnh hưởng của hạn hán". Khái niệm
này cần được hiểu một cách nhất quán trong quá trình thực hiện UNCCD tại
Việt Nam. Theo cách hiểu này, tất cả các hoạt động chống thoái hóa đất và hạn
chế ảnh hưởng của hạn hán như chống xói mòn đất, ngăn mặn, ngăn phèn, bảo
vệ và phát triển rừng, chống cát di động, quản lý nguồn nước... cần được gắn
kết chặt chẽ với xóa đói giảm nghèo trong một chương trình hành động quốc gia
chung thông qua các chương trình/dự án đa mục tiêu với các giải pháp cụ thể,
có sự tham gia tích cực của nhân dân. Đó là lý do cho sự ra đời của Chương
trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa 2006-2010 và định hướng tới 2020,
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 204/2006/QĐ-TTg
ngày 2/9/2006 (tên tiếng Anh gọi tắt là NAP 2006).
Hiện nay, Việt Nam vẫn còn khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hóa
(chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc), trong đó có 5,06 triệu
ha đất chưa sử dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng đã bị thoái hóa
nặng và hơn 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao. Độ phì nhiêu của đất
đang bị giảm xuống do xói mòn, rửa trôi, đá ong hoá, chua mặn hoá. Tài nguyên
rừng cũng bị suy giảm đáng kể. Nếu như năm 1943 Việt Nam có tỷ lệ che phủ
của rừng là 43% thì sau nhiều nỗ lực khắc phục các nguyên nhân mất rừng suốt
60 năm qua, tỷ lệ che phủ hiện nay mới chỉ là 37,6% (Số liệu công bố tháng
12/2006). Rừng bị tàn phá đặc biệt nghiêm trọng vào hai thời kỳ: 1960 - 1970 và
1976- 1990. Rừng bị mất đã làm tăng diện tích đất hoang hoá, kéo theo sự giảm
sút đáng kể các hệ sinh thái, làm suy thoái vùng đầu nguồn. Bên cạnh đó, ô
nhiễm nguồn nước ngày càng tăng do tình trạng lạm dụng hoá chất trong nông
nghiệp, do quản lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh
môi trường. Tài nguyên nước ngầm đang bị cạn kiệt dần về số lượng, suy giảm
về chất lượng. Nguy cơ thiếu nước trong những thập kỷ tới rất cao. Trong 10
năm gần đây, do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng và khô hạn, nạn hạn hán
đã hoành hành ở một số nơi, nhất là ở miền Trung, Tây Bắc và Tây Nguyên.
Đặc biệt, đợt hạn hán kéo dài 9 tháng liền trong năm 2004-2005 trên diện rộng
đã gây ra hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa
phương, trong đó địa bàn bị ảnh hưởng nhiều nhất là miền Trung và Tây
Nguyên. Sự cố nứt đất và trượt lở đất cũng xảy ra ngày một nghiêm trọng hơn,
nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc và miền Trung. Các kết quả khảo
sát đã ghi lại 51 điểm sụt lở làm mất hàng năm 350 ha đất với thiệt hại ước tính
hàng ngàn tỷ đồng. Theo dự báo thì số lượng sụt lở còn tiếp tục gia tăng và
tổng diện tích đất bị mất có thể lên tới 10.000 ha. Bên cạnh đó, việc khai thác tài
nguyên biển, phát triển nuôi trồng thuỷ sản không có sự kiểm soát chặt chẽ ở
một số địa phương cũng là yếu tố gây mất rừng phòng hộ ven biển, làm suy
thoái đất đai và nguồn nước. Nước và đất ven biển đã bắt đầu bị ô nhiễm với
mức độ ngày càng tăng.
Việt Nam có sa mạc cục bộ, đó là các dải cát hẹp trải dài dọc theo bờ biển
miền Trung, tập trung ở 10 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận với diện tích
khoảng 419.000 ha và ở Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 43.000 ha.
Theo thống kê trên bản đồ của FAO và UNESCO, Việt Nam có khoảng 462.000
ha cát ven biển (chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc) và
87.800 ha trong số này là các đụn cát, đồi cát lớn di động. Trong gần 40 năm
qua, quá trình hoang mạc hoá do cát di động rất nghiêm trọng. Mỗi năm có
khoảng 10-20 ha đất canh tác bị lấn bởi cát di động. Ở các tỉnh Duyên hải Nam
Trung bộ, thời tiết đặc biệt khô nóng vào mùa khô, lượng mưa trung bình hàng
năm ở một số nơi chỉ đạt khoảng 700 mm (như Ninh Thuận và Bình Thuận).
Những nhiệm vụ chính của Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc
hóa giai đoạn 2006-2010 và Định hướng tới 2020 được chia làm năm nhóm, cụ
thể là:
a) Hoàn thiện cơ sở pháp lý bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên rừng và tài
nguyên nước để phòng, chống sa mạc hóa, đáp ứng kịp thời những yêu cầu
mới.
b) Nâng cao nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường cơ sở vật
chất kỹ thuật, cơ sở nghiên cứu phục vụ công tác phòng, chống sa mạc hóa.
c) Điều tra, đánh giá thực trạng sa mạc hóa và nghiên cứu xác định nguyên
nhân chủ yếu gây sa mạc hóa, đề xuất giải pháp phòng, chống sa mạc hóa tại
Việt Nam.
d) Tổ chức các hoạt động kinh tế, chuyển giao công nghệ để bảo vệ, quản lý
và phát triển tài nguyên đất, tài nguyên rừng và tài nguyên nước góp phần phát
triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo vùng đất bị ảnh hưởng bởi sa mạc
hóa.
đ) Hợp tác quốc tế để thực hiện Công ước chống sa mạc hóa.
Việt Nam đã và đang tiến hành hai chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng
nhất liên quan tới chống hoang mạc hóa giai đoạn 2000-2010, đó là Dự án trồng
mới 5 triệu ha rừng và Chương trình quốc gia về tăng trưởng toàn diện và giảm
nghèo. Cả hai chương trình mục tiêu này đều đang hướng tới bốn vùng ưu tiên
chống sa mạc hóa, đó là Duyên hải miền Trung, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tứ
giác Long Xuyên. Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể về xóa đói giảm
nghèo. GDP tăng bình quân 7-8%/năm, xuất khẩu gạo luôn đứng thứ hai thế
giới trong vòng 5 năm qua. Sản xuất nông nghiệp đã có những bước tiến vượt
bậc về đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi, góp phần quan trọng đảm bảo an
ninh lương thực, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và phát triển nông thôn. Dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã có những kết quả đáng khích lệ. Bình quân
mỗi năm Việt Nam đã đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng cho Dự án này. Hàng năm
trồng được khoảng 200.000 ha rừng. Độ che phủ rừng đã tăng từ 28,3% năm
1995 lên 37,6% năm 2006, giúp tăng cường đáng kể năng lực phòng hộ quốc
gia, bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo an ninh môi trường và góp phần phát
triển bền vững đất nước. Hoạt động lâm nghiệp đang chuyển từ nền lâm nghiệp
nhà nước sang nền lâm nghiệp xã hội với sự tham gia ngày càng tăng của khu
vực tư nhân.
Việt Nam đang xây dựng Chương trình đối tác quản lý đất lâm nghiệp bền
vững - đối tác đầu tiên dành cho việc thực hiện NAP 2006, do Ngân hàng thế
giới - Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Uỷ thác ngành lâm nghiệp (TFF)
đồng tài trợ. Đây được coi là mốc quan trọng để tăng cường sự hỗ trợ của cộng
đồng quốc tế, đặc biệt là Quỹ Môi trường toàn cầu, trong các hoạt động chống
hoang mạc hóa tại Việt Nam. Kể từ năm 2003, GEF đã chính thức coi chống
thoái hoá đất và mất rừng là một trong 6 lĩnh vực ưu tiên của GEF và trở thành
cơ chế tài chính chủ yếu của UNCCD thông qua OP12 và OP15 .
Các dự án chính đang được triển khai liên quan tới chống sa mạc hóa có thể
kể đến là: Dự án Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng dải đất ven bờ vùng Khu
bốn cũ (gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên-Huế), Dự án Điều tra đánh giá nước dưới đất một số vùng thuộc 7
tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai,
Hà Giang, Bắc Cạn), Dự án Điều tra đánh giá nước dưới đất một số vùng trọng
điểm thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đắc
Nông, Dự án phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên, Dự
án cải tạo rừng tự nhiên vùng phòng hộ đầu nguồn bị suy thoái tại miền bắc
Việt Nam, Dự án trồng rừng tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú
Yên, Dự án trồng rừng chống cát bay ven biển miền trung, Dự án Phát triển
ngành lâm nghiệp, Các dự án nhỏ do UNDP-GEF tài trợ để chống sa mạc hóa,
và hàng loạt các dự án nghiên cứu KHCN của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ
Tài nguyên Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Trung tâm Khoa học Tự nhiên
và Công nghệ quốc gia và của các cơ quan nghiên cứu khác.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày quốc tế chống sa mạc hoá, hàng năm Bộ Nông
nghiệp và PTNT đã phối hợp cùng các Ban Ngành, địa phương và các tổ chức
trong và ngoài nước tổ chức mít tinh. Trong hai năm gần đây, Bộ Nông nghiệp
và PTNT đã phối hợp với UBND tỉnh Ninh Thuận tổ chức phổ biến chủ trương
của Liên hợp quốc về phát động kỷ niệm Năm quốc tế chống sa mạc hóa 2006
(17/6/2005), tổ chức Hội nghị quốc gia chống sa mạc hóa tại Hà Nội với sự
tham dự đông đảo của đại diện các tổ chức trong và ngoài nước, đại diện các
Bộ/ngành và các địa phương, với các thông điệp khác nhau như "Đừng từ bỏ
những vùng đất khô cằn", "Nếu không hành động, hoang mạc hóa sẽ tấn công
chúng ta", "Hãy làm tất cả để trả lại màu xanh cho vùng đất trắng"...
(l7/6/2006), phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tập huấn cho cán
bộ và người dân địa phương về chống hoang mạc hóa tại Quảng Trị (5/2006).
Bộ Nông nghiệp và PTNT thông qua Cục Lâm nghiệp - Văn phòng Công ước
UNCCD cũng đã phối hợp với Cơ quan hợp tác phát triển Thuỵ Điển (SIDA), Tổ
chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), xây dựng tờ rơi "Chống hoang mạc
hóa ở Việt Nam", phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam, Chương trình phát
triển của Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng một số bộ phim tài liệu về chống
hoang mạc hóa ở Việt Nam và phối hợp cùng các cơ quan thông tấn báo chí để
tuyên truyền về thực trạng sa mạc hóa-hoang mạc hóa tại Việt Nam, phổ biến
các mô hình chống hoang mạc hóa thành công tại một số địa phương thuộc bốn
địa bàn ưu tiên chống sa mạc hóa.
Về hợp tác quốc tế và khu vực, Việt Nam đã đề cử các cơ quan khoa học kỹ
thuật tham gia các mạng lưới chuyên đề khu vực Châu Á như Mạng lưới chuyên
đề về điều hành đánh giá quá trình hoang mạc hóa, Mạng lưới nông lâm kết
hợp và chống thoái hoá đất, Mạng lưới về thảo nguyên và chống cát bay, Mạng
lưới về tăng cường năng lực dự báo hạn hán và chống sa mạc hóa và Mạng lưới
về các chương trình phát triển lồng ghép tại địa phương. Việt Nam cũng là nước
tích cực trong việc xây dựng Chương trình hành động chống sa mạc hóa khu
vực Đông Nam Á (viết tắt là SEA-SRAP) và đăng cai tổ chức thành công Hội
nghị khởi động SEA-SRAP tại Bình Thuận tháng 12/2005. Việt Nam cũng là
nước tham gia tích cực các hội nghị và hội thảo khu vực và quốc tế về chống sa
mạc hoá.
Chống sa mạc hóa là quá trình phức tạp và lâu dài, đòi hỏi phải có sự phối
hợp tích cực của các Bộ/ngành, địa phương, và sự ủng hộ quý báu của các tổ
chức trong nước và quốc tế. Khó khăn, thách thức còn nhiều, sự phối hợp giữa
các Bộ/ngành và địa phương còn thiếu chặt chẽ, nguồn lực cả về vật chất và kỹ
thuật còn rất hạn chế; nhận thức của các cấp các ngành và người dân địa
phương về hoang mạc hóa tại Việt Nam chưa thật đầy đủ... Tuy nhiên, chúng ta
cũng có nhiều cơ hội, đó là sự cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh hợp
tác toàn diện của chính phủ Việt Nam; hệ thống pháp luật đã và đang tiếp tục
được tăng cường; kinh nghiệm và thành quả của công cuộc đổi mới, nhất là đổi
mới trong nông nghiệp, nông thôn đã và đang được phát huy; chủ trương xã hội
hoá công tác bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên bền vững gắn với giảm
nghèo đang được nhân dân hết sức hoan nghênh.
Để triển khai thực hiện thành công Chương trình hành động quốc gia chống
sa mạc hóa - một chương trình mang tính đa ngành, đa lĩnh vực, Lãnh đạo Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện
Công ước chống sa mạc hóa đã đề ra một số nhiệm vụ cụ thể như sau:
1. Nắm chắc tình hình sa mạc hoá ở Việt Nam, bao gồm: a) Điều tra đánh giá
hiện trạng và nguyên nhân sa mạc hóa; b) Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất
và cơ chế quản lý cơ sở dữ liệu về chống sa mạc hóa; c) Cải tiến chế độ báo
cáo.
2. Rà soát lại các cơ chế, chính sách liên quan đến sa mạc hoá, nghiên cứu
xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung cơ chế chính sách cho phù hợp với NAP 2006
và chủ trương, chiến lược khác
3. Xây dựng bộ sổ tay hướng dẫn kỹ thuật cho từng vùng ưu tiên chống sa
mạc hóa, đảm bảo sử dụng bền vững tài nguyên đất, nước và rừng đồng thời
góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân địa bàn bị ảnh
hưởng bởi sa mạc hóa.
4. Từng địa phương xây dựng chương trình hành động cụ thể, để xuất nhu
cầu đầu tư cho các chương trình/dự án mang tính đa ngành, đa lĩnh vực (lâm
nghiệp, nông nghiệp, thuỷ lợi, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường);
5. Tăng cường công tác tuyên truyền vận động - kiểm tra, giám sát của các tổ
chức nhà nước, của Ban điều phối quốc gia, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên
liên tục và phải được xã hội hoá.
6. Lồng ghép các nhiệm vụ/dự án chống sa mạc hóa với nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội và các nhiệm vụ khác có liên quan trên cùng một địa bàn.
7. Trình ngay các dự án đã xây dựng để huy động nguồn kinh phí triển khai.
8. Tiếp tục xây dựng các chương trình dự án cho từng vùng và cho cấp quốc
gia, lập danh mục chương trình/dự án và lên kế hoạch cân đối, bố trí vốn để
thực hiện.
 Sa mạc hoá và các vùng đất khô cằn là chủ đề của Ngày Môi trường Thế giới năm nay
QUẢNG TRỊ, ngày 2 tháng 6 năm 2006 ­­ Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan nói: “Đất khô 
cằn có ở tất cả các khu vực trên thế giới, chiếm hơn 40% diện tích bề mặt trái đất và là nơi sinh 
sống của gần hai tỷ người ­ một phần ba dân số thế giới. Đối với hầu hết người dân sống ở các 
vùng đất khô cằn, cuộc sống rất vất vả và tương lai thường rất bấp bênh. Điều quan trọng là 
chúng ta không bỏ rơi họ hay môi trường sống mỏng manh của họ”. 

“Đừng bỏ rơi đất khô cằn” là khẩu hiệu của Ngày Môi trường Thế giới năm nay. Hôm nay, Bộ Tài 
nguyên và Môi trường cùng với Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức lễ kỷ niệm 
Ngày Môi trường Thế giới với chủ đề “sa mạc và sa mạc hoá”.

Ông Kooes Neefjes, Trưởng Phòng Môi trường của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc 
(UNDP), cho biết: “Theo ước tính, có tới 9,34 triệu hecta đất đai ở Việt Nam bị thoái hoá, rộng 
hơn 5 lần Nghệ An ­ tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam. Ở các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, 
hơn một phần ba diện tích đất đai sẽ bị sa mạc hoá nếu không tiến hành các giải pháp sau đây: 
sống chung với hạn hán; áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp lưu vực sông và bảo tồn tài 
nguyên nước; chuyển sang các hệ sinh thái nông nghiệp mang tính lồng ghép; và cải thiện việc 
cấp nước, đặc biệt cho người nghèo nông thôn”.

Quảng Trị được chọn là nơi tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Môi trường Thế giới năm nay để thu hút sự 
quan tâm của các cơ quan Chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam tới vùng duyên hải miền 
Trung, vì người dân nơi đây đang phải vật lộn với các vấn đề như hạn hán, sự di chuyển của các 
đụn cát, thoái hoá đất và nghèo đói.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực nói: “Việc quản lý đất đai bất hợp lý và 
không phù hợp đã dẫn đến tình trạng thoái hoá và sa mạc hoá ở nhiều vùng của Việt Nam. Hậu 
quả là khoảng 50% trong tổng diện tích 33 triệu hecta đất tự nhiên của Việt Nam đã nảy sinh 
vấn đề. Chúng ta cần đề ra các biện pháp cụ thể để đảm bảo quản lý đất bền vững, trước hết 
bằng việc triển khai và thực thi đầy đủ Luật Đất đai. Tôi đề nghị tất cả các cấp, các ngành, các 
đoàn thể, các doanh nghiệp và mọi cá nhân có các hoạt động thiết thực nhằm chấm dứt tình 
trạng thoái hoá đất và sa mạc hoá”. 

Hàng năm, các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc tổ chức kỷ niệm Ngày Môi trường Thế 
giới vào mồng 5 tháng 6 nhằm khẳng định lại cam kết của thế giới đối với việc thực hiện mục tiêu 
phát triển công bằng và bền vững về môi trường. Đây là cơ hội cho mỗi người trong chúng ta tiến 
hành những hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề và thách thức về môi trường trong bối cảnh 
và điều kiện cụ thể của mình. 

Năm nay, An­giơ, Thủ đô của An­giê­ri được chọn là nơi đăng cai tổ chức lễ kỷ niệm của thế giới. 
Đây là sự lựa chọn đúng đắn để nêu bật mọi khía cạnh của vấn đề môi trường phức tạp này, vì 
các đặc điểm địa lý, lịch sử và văn hoá của An­giê­ri gắn liền với vùng đất Sahara, sa mạc lớn 
nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới. 
LHQ: 50 triệu người mất chỗ ở do sa mạc hóa


Theo một báo cáo mới đây của Liên hiệp quốc, hàng chục triệu người có thể bị
mất chỗ ở do quá trình sa mạc hóa, đặc biệt tại vùng hạ Sahara và Trung Á.

Báo cáo cho biết thay đổi khí hậu đang biến vấn đề sa mạc hóa thành “thách thức môi
trường lớn nhất trong thời đại chúng ta”, và nếu không có những hành động thích hợp,
khoảng 50 triệu người có thể bị mất chỗ ở trong vòng 10 năm tới.

Cũng theo báo cáo, được thực hiện dưới sự hợp tác của hơn 200 chuyên gia đến từ 25
nước trên thế giới, “sa mạc hóa hiện đang ảnh hưởng đến 100-200 triệu người, và đe
dọa đến cuộc sống và kế sinh nhai của hàng trăm triệu người khác”. Trong khi đó,
việc khai thác quá mức đất trồng và tưới tiêu không phù hợp đang làm cho vấn đề tồi
tệ thêm. Các thay đổi khí hậu cũng là nhân tố chính dẫn đến suy giảm chất lượng đất.

“Sẽ có một phản ứng dây chuyền, dẫn đến bất ổn trong xã hội”, Zafaar Adeel, tác giả
đứng đầu nghiên cứu, chuyên gia về y tế, nguồn nước và môi trường của LHQ nhận
xét. Những người bị mất chỗ ở do sa mạc hóa sẽ đặt gánh nặng mới lên các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và các cộng đồng xã hội khác, đe dọa đến sự bền vững quốc tế.

Theo báo cáo, việc thực hiện các biện pháp canh tác mới như khuyến khích trồng rừng
ở những khu vực khô hạn có thể giúp loại bỏ carbon ra khỏi bầu khí quyển, cũng như
ngăn ngừa sự mở rộng các sa mạc.


(Tin VietNamNet) - Mất rừng ở Việt Nam là nguyên nhân chủ
yếu dẫn tới hoang mạc hoá, gây suy thoái môi trường, lũ lụt và
hạn hán. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
(NN&PTNT) Hứa Đức Nhị cho biết như vậy tại Hội thảo thực
hiện Công ước chống sa mạc hoá (UNCCD) khai mạc sáng nay
(8/9) tại Hà Nội.

Theo Thứ trưởng Hứa Đức Nhị, mặc dù một loạt chương trình như Chương trình
327 phủ xanh đất trống đồi trọc, và Dự án trồng mới năm triệu hecta rừng đã
nâng độ che phủ lên 36% song việc phục hồi rừng vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu phát triển đời sống kinh tế-xã hội của nhân dân địa phương, yêu cầu phòng
hộ và chưa hạn chế tích cực quá trình hoang mạc hoá.

Sa mạc hoá có nghĩa là sự suy thoái của đất đai tại các vùng khô hạn, bán khô
hạn, vùng ẩm nửa khô hạn, do các nguyên nhân khác nhau như thay đổi khí
hậu và hoạt động của con người. Quá trình sa mạc hoá và thoái hoá đất ở Việt
Nam là kết quả của xói mòn đất, đá ong hoá, hạn hán, cát bay/cát chảy, đất
nhiễm mặn, nhiễm phèn. Việt Nam có sa mạc cục bộ. Trong tổng số khoảng
9,34 triệu hecta đất hoang hoá, 7.550.000ha đang chịu tác động mạnh bởi sa
mạc hoá. Ước tính quá trình sa mạc hoá mỗi năm làm mất khoảng 20ha đất
nông nghiệp do nạn cát bay, cát chảy và hàng trăm nghìn hecta đất tiếp tục bị
thoái hoá. Tại Quảng Trị, 20-30ha đất ruộng vườn và cây ăn quả bị cát phủ dày
thêm 2m mỗi năm.

Chống sa mạc hoá: Thiếu đồng bộ!

Việc chống sa mạc hoá ở Việt Nam đã được tiến hành trước khi tham gia
UNCCD năm 1998, chẳng hạn thông qua việc kết hợp xoá đói giảm nghèo, phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Ngọc Bình - cục
trưởng Cục Lâm nghiệp, còn nhiều kết quả nghiên cứu chống sa mạc hoá
chưa được áp dụng trong thực tiễn vì nghiên cứu chưa đi liền với chuyển
giao công nghệ, thiếu truyền bá kiến thức và thông tin, hoặc không gắn
với yêu cầu đời sống xã hội. Hiện tại còn tình trạng thiếu sự liên kết giữa cơ
quan ban hành chính sách và người thực hiện ở địa phương. Sự phối hợp giữa
các ngành, cơ quan nhà nước các cấp và chương trình dự án cũng chưa chặt
chẽ.

Diện Hiện chúng ta để sa mạc hoá xảy ra rồi
Loại đất tích Phân bố mới... chống. Do vậy, các nhà hoạch định
(ha) chính sách phải hạn chế và ngăn chặn trước,
không để hiện tượng này xảy ra. Đây là vấn đề
Đất trống
do ông Sâm thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp
bị thoái 7 triệu Toàn quốc
nêu lên và được nhiều đại biểu quan tâm. Ông
hoá mạnh
nói: Trước đây, khi cà phê lên giá, chúng ta
Đụn và bãi Ven biển miền chặt nhiều khu rừng tốt ở Tây Nguyên để mở
400.000
cát di động Trung rộng diện tích. Hậu quả hiện giờ là hạn hán
Đất bị xói Tây Bắc, Tây nghiêm trọng. Phá rừng ngập mặn nuôi tôm
120.000
mòn Nguyên diễn ra trong nhiều năm tại miền Nam và hiện
Đất nhiễm Đồng bằng tượng này vẫn còn tiếp diễn ở miền Bắc. Như
30.000 vậy, chúng ta chỉ chống mà không phòng.
mặn, phèn sông Cửu Long
Đất khô Nam Trung bộ
Ông Pak Sum Low, đại diện Uỷ ban Kinh tế-Xã
hạn theo (Bình Thuận,
300.000 hội LHQ tại châu Á (UNESCAP), hoàn toàn
mùa hoặc Ninh Thuận và
đồng ý với ý kiến trên: Chúng ta đã rút ra nhiều
vĩnh viễn Khánh Hoà)
bài học kinh nghiệm và thấy được tầm quan
trọng của quy hoạch kinh tế. Khi lập quy hoạch kinh tế, chúng ta phải đánh giá
tác động của nó, chẳng hạn xem xét lợi ích của việc mở rộng diện tích cà phê
có bù đắp được hậu quả nó gây ra hay không. Tôi cho rằng vấn đề ở đây là cần
có phương thức tiếp cận tổng hợp để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội đi đối
với bảo vệ môi trường.

Liên quan tới vấn đề này, bà Lê Bích Thắng thuộc Cục Bảo vệ Môi trường cho
rằng chống sa mạc hoá cần sự phối hợp đồng bộ của nhiều ngành. Sẽ chẳng
có hiệu quả nếu một ngành cứ chống sa mạc hoá trong khi ngành khác cứ tiếp
tục thu hẹp diện tích rừng để nuôi tôm hoặc trồng cà phê. Phòng ngừa có ý
nghĩa quan trọng. Một trong các biện pháp chống sa mạc hoá là quy hoạch hợp
lý việc sử dụng tài nguyên đất và rừng. Nếu không có rừng, sẽ không giữ được
nước cũng như chắn cát.

Thách thức và cơ hội

Tham gia UNCCD là một cơ hội để Việt Nam liên kết chặt chẽ với các quốc gia
thành viên, tổ chức quốc tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm, các giống cây chịu hạn
tốt cũng như thu hút được nguồn tài trợ để thực hiện các dự án chống sa mạc
hoá.

Bà Nguyễn Ngọc Lý, trưởng Phòng Phát triển Bền vững thuộc Chương trình
Phát triển LHQ (UNDP) tại Việt Nam, lưu ý rằng xây dựng những dự án xin tài
trợ như vậy hoàn toàn khác dự án ODA, đòi hỏi Việt Nam phải hiểu và đáp ứng
các yêu cầu khắt khe của nhà tài trợ, cụ thể là Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF)
- một trong những cơ chế tài chính quốc tế chính của UNCCD. Bà nói: Việt Nam
đi chậm hơn so với các nước khác trong việc đưa ra cơ chế khung để huy động
nguồn tài chính quốc tế, so với Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ. Do vậy, ngay
từ bây giờ chúng ta phải chuẩn bị năng lực trình bày cũng như dự án thuyết
phục với dữ liệu chính xác để cạnh tranh.

Cũng theo bà Lý, thông tin kỹ thuật của chúng ta thì nhiều song không
chính xác, gây khó khăn cho việc huy động vốn và để các nước khác
cạnh tranh mất. Do vậy, Ban điều phối quốc gia thực hiện UNCCD nên hợp tác
với Ban điều phối quốc gia GEF để tìm hiểu rõ quy định của các nhà tài trợ
trong việc xây dựng dự án chống sa mạc hoá. Ngoài ra, các cơ quan nghiên
cứu cũng nên tập trung vào những nghiên cứu mang tính phát triển, không
nên thiên quá về kỹ thuật. Hiện có nhiều nghiên cứu song chưa đi sâu vào
vấn đề tại sao lại xảy ra sa mạc hoá ngay trong những vùng đất màu mỡ.

Một thách thức nữa trong công tác phòng và chống sa mạc hoá ở Việt Nam là
nâng cao năng lực quản lý tài nguyên bền vững của các cơ quan cấp tỉnh,
huyện, xã. Trình độ nhận thức của cả cấp Trung ương và địa phương về
vai trò của quản lý bền vững tài nguyên trong bảo vệ môi trường và giảm
nghèo còn hạn chế. Sa mạc hoá diễn ra bởi còn tồn tại nạn chặt phá rừng
trái phép, canh tác không bền vững, di cư bất hợp pháp, cháy rừng, khai
thác quá mức tài nguyên nước...

Nhận thức và trình độ dân trí thấp cũng là một nguyên nhân cơ bản dẫn tới thoái
hoá đất. Vì thiếu nhận thức, hiểu biết nên người dân địa phương còn phá rừng
bừa bãi, canh tác không hợp lý, tham gia thiếu nhiệt tình các hoạt động quản lý
tài nguyên, chỉ quan tâm tới lợi ích trước mắt, quên mất mục tiêu lâu dài. Đó
không chỉ là nguyên nhân dẫn tới suy thoái môi trường mà còn dẫn tới đói
nghèo.
Theo bà Lý, Việt Nam cần tổ chức các hội thảo quốc gia về chống sa mạc hoá
để tổng kết những việc đã làm và tìm cách giải quyết các tồn tại cũng như thách
thức trong tương lai.

Ưu tiên chống sa mạc hóa ở 4 vùng

Từ hàng thập kỷ nay, các nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo rằng, những đồi
cát trùng điệp, sa mạc mênh mông và mặt trời rực lửa là những cảnh quan thiên
nhiên hùng vĩ, “hút hồn” du khách, nhưng đồng thời cũng là những dấu hiệu rõ
ràng nhất về sự suy thoái môi trường. Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Đầu tháng 9 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số
204/2006/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc
hóa giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020.

Mục tiêu của Chương trình hành động là đến năm 2010 hoàn thành những
nhiệm vụ chống sa mạc hóa cấp bách, trước hết ở 4 vùng ưu tiên là Tây Bắc,
duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và tứ giác Long Xuyên.

Đến năm 2020, khắc phục được về cơ bản các nguyên nhân do hoạt động của
con người gây ra, phục hồi tối đa các vùng đất đã bị sa mạc hóa trước đây,
hoàn thành vững chắc nhiệm vụ định canh định cư ở các vùng đất đã được
phục hóa bằng việc đổi mới phương thức sử dụng đất, xóa đói, giảm nghèo,
bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng bị ảnh hưởng bởi sa mạc
hóa.

Theo thống kê mới nhất, Việt Nam còn khoảng 9,3 triệu ha đất bị hoang hóa,
trong đó có 7,3 triệu ha đất trống, đồi núi trọc và 2 triệu ha đất đang được sử
dụng nhưng đã bị thoái hóa nặng. 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây
hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc
biệt là miền Trung và Tây Nguyên.

Sự cố nứt đất, trượt lở đất cũng xảy ra ngày một nghiêm trọng hơn, nhất là ở
đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc và miền Trung. Các tổ chức quốc tế FAO
và UNESCO cũng có một con số: Việt Nam có khoảng 462.000 ha cát ven biển,
87.800 ha trong số này là các đụn cát, đồi cát lớn di động!

Trên thực tế, ngay từ trước khi trở thành thành viên của Công ước quốc tế về
chống sa mạc hóa (UNCCD), Việt Nam đã có nhiều chương trình kế hoạch
chống sa mạc hóa được thực hiện. Đó là Tết trồng cây hàng năm do Bác Hồ
phát động và hiện vẫn được duy trì, phong trào khai hoang phục hóa, Chương
trình 327 phủ xanh đất trống đồi trọc, Chương trình trồng rừng chắn cát...

Hàng loạt văn bản pháp luật liên quan tới chống sa mạc hóa cũng đã được xây
dựng và điều chỉnh như Luật Tài nguyên nước 1999, Luật Đất đai 2003, Luật
Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật Bảo vệ môi trường 2005; gần đây nhất là
Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn 2002-2010.
Ngoài ra, trên 50 chương trình, dự án khác liên quan tới chống sa mạc hóa đang
được thực hiện với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế.

Theo bà Phạm Minh Thoa, phụ trách Văn phòng Công ước chống sa mạc hóa,
sắp tới Việt Nam sẽ xây dựng Chương trình đối tác quản lý đất lâm nghiệp bền
vững, do Ngân hàng Thế giới - Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Ủy thác
ngành lâm nghiệp (TFF) tài trợ...

Tuy nhiên, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chương trình là
nâng cao nhận thức cộng đồng. Không ai muốn biến hành tinh xanh thành một
hành tinh... cát (!), thế nhưng trong rất nhiều trường hợp, chúng ta đang thúc
đẩy quá trình không mong muốn đó một cách vô thức! Bên cạnh nạn phá rừng,
khai thác nước ngầm bừa bãi thì tình trạng khai thác tài nguyên biển, phát triển
nuôi trồng thủy sản không có sự kiểm soát chặt chẽ (tưởng như không có gì liên
quan) cũng gây mất rừng phòng hộ ven biển, làm suy thoái đất đai và nguồn
nước.

Nguy cơ hoang mạc hóa

(ANTĐ) - Bên cạnh những vùng thường xuyên bị ảnh hưởng nặng nề của ngập lụt,
bão lũ, thì lại có những vùng hàng năm cũng đang phải gánh chịu hậu quả của quá trình
hoang mạc hóa. Hoang mạc hóa làm mất đi diện tích lớn đất nông nghiệp, lâm
nghiệp..., và kéo theo đó, là tình trạng đói nghèo...

22 triệu người bị ảnh hưởng bởi hoang mạc hóa

Theo thống kê của Cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT, Việt Nam hiện có khoảng 9,3
triệu ha đất liên quan tới sa mạc hóa, chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất đai trên
toàn quốc. Trong đó, có hơn 5 triệu ha đất chưa sử dụng, 2 triệu ha đất đang sử dụng
bị thoái hóa nặng và 2 triệu ha đất đang có nguy cơ thoái hóa cao. Diện tích trên đã và
đang làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của 22 triệu người.

Bên cạnh đó, tại nhiều vùng độ phì nhiêu của đất đang có nguy cơ bị giảm xuống
hoặc bị thoái hóa nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi hay đá ong hóa. Tài nguyên rừng
mặc dù đã được phục hồi đáng kể so với giai đoạn trước nhưng tỷ lệ che phủ cũng
mới chỉ đạt 38%.

Cùng với sự suy giảm của rừng, ô nhiễm nguồn nước, nạn hạn hán đã hoành hành ở
một số nơi, nhất là ở miền Trung, Tây Bắc và Tây Nguyên. Sự cố nứt đất và trượt lở
đất cũng xảy ra ngày một nghiêm trọng. Các kết quả khảo sát của Bộ NN&PTNT ghi
lại, trung bình hàng năm có khoảng 51 điểm sạt lở, gây thiệt hại mỗi năm hàng nghìn
tỷ đồng. Và theo dự báo, số lượng sạt lở còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới và
diện tích đất mất có thể lên tới 10.000ha.
Ngoài ra, phải kể đến việc khai thác tài nguyên biển, phát triển nuôi trồng thủy sản
không có sự kiểm soát chặt chẽ ở một số địa phương là yếu tố gây mất rừng phòng
hộ ven biển, làm suy thoái đất đai và nguồn nước. Về vấn đề này, bà Phạm Minh
Thoa - Phó cục trưởng Cục Lâm nghiệp cho biết: “Việc mất rừng là nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến hoang mạc hóa, làm suy thoái môi trường sinh thái, gây ra thiên tai lũ lụt
và hạn hán, do địa hình dốc và phức tạp rất dễ gây xói mòn, sạt lở đất. Bên cạnh đó,
dân số đông nhưng khung pháp lý và năng lực còn hạn chế nên việc phá rừng, đốt rừng
làm nương rẫy vẫn diễn ra phức tạp”.

Việt Nam là một trong những nước có hiện tượng sa mạc hóa cục bộ, đó là các dải cát
hẹp trải dài dọc theo bờ biển miền Trung, tập trung ở 10 tỉnh từ Quảng Bình đến Bình
Thuận với diện tích khoảng 419.000ha và đồng bằng sông Cửu Long với diện tích
43.000ha. Theo thống kê của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc tại Việt Nam, Việt
Nam có khoảng 462.000ha cát ven biển (chiếm 1,4% diện tích tự nhiên toàn quốc).

Trong khi đó, quá trình hoang mạc hóa ở Việt Nam diễn biến phức tạp, các tỉnh duyên
hải Nam Trung bộ thời tiết đặc biệt khô nóng vào mùa khô, lượng mưa trung bình
hàng năm ở một số nơi chỉ đạt 700mm khiến cho những vùng cát trắng càng có nguy
cơ rộng ra. Ước tính, hàng năm quá trình hoang mạc hóa ở nước ta làm mất khoảng
10-20ha đất nông nghiệp do nạn cát bay, cát nhảy. Chưa dừng lại ở đó, mỗi năm hàng
nghìn hécta đất tiếp tục bị thoái hóa, xói mòn, nhiễm mặn, nhiễm phèn và hạn hán.

Sự thờ ơ đáng lo ngại

Một trong những hậu quả nặng nề nhất của hoang mạc hóa là tình hình hạn hán ở một
số tỉnh ven biển miền Trung, trong đó nghiêm trọng nhất phải kể đến 3 tỉnh: Khánh
Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Tại 3 tỉnh này, hạn hán thường diễn ra vào tất cả
các mùa trong năm khiến đất nông nghiệp giảm hoặc gần như mất năng suất, tình
trạng thiếu đói thường xuyên xảy ra.

Mặc dù chưa có chứng minh cụ thể sự liên quan trực tiếp giữa hoang mạc hóa và đói
nghèo nhưng không ít tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến vấn đề
này. Đánh giá về tốc độ hoang mạc hóa tại Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Mạnh Cường -
Phòng Quản lý rừng, Cục Lâm nghiệp cho biết: “Việt Nam là một trong những quốc
gia có tốc độ hoang mạc hóa tương đối lớn, quá trình này vẫn diễn ra hàng năm bởi:
vùng rừng núi thì người dân đốt nương, phá rừng làm rẫy..., vùng ven biển thì cát xâm
lấn, còn vùng Tứ giác Long Xuyên do việc phá rừng tràm đã dẫn đến mặn hóa, phèn
hóa đất. Trong đó, nhiều diện tích đất không còn khả năng canh tác nông nghiệp”.

Mặc dù hoang mạc hóa đã và đang mang lại hậu quả nặng nề nhưng theo ông Cường,
đến nay vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành. Sự thiếu
phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan dẫn đến việc phòng, chống và khắc phục hoang
mạc hóa còn chậm và vướng mắc.

Theo Quyết định 204 của Thủ tướng, Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc
hóa tập trung vào hai nhóm giải pháp cơ bản: nhóm giải pháp kỹ thuật và nhóm giải
pháp phi công trình. Tuy nhiên, việc thực hiện đến nay vẫn còn khá khó khăn vì nguồn
ngân sách chưa có. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hứa Đức Nhị nhấn mạnh: “Giải pháp
quan trọng nhất là phải phát triển rừng bền vững, để tránh cát bay cần tiếp tục nghiên
cứu quy luật di chuyển của cát, đồng thời trồng cây lâm nghiệp phòng hộ...”.

Như vậy, ngoài ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đang ngày càng ảnh hưởng đến Việt
Nam một cách rõ nét thì hoang mạc hóa cũng trở thành một yếu tố đe dọa tới tài
nguyên đất ở Việt Nam. Bên cạnh đất, cuộc sống của người dân tại những vùng bị
hoang mạc hóa cũng bị ảnh hưởng theo, và hoang mạc hóa vẫn tiếp tục đe dọa tới
cuộc sống của không ít người dân.

Việt Nam hưởng ứng Ngày quốc tế chống sa
mạc hóa

Hội nghị quốc gia chống sa mạc hóa đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn phối hợp cùng Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Tổ
chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tổ chức ngày 17/6/2006, vào đúng
Ngày quốc tế chống sa mạc hóa và nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Công
ước Chống sa mạc hoá (UNCCD), tại Hà Nội.



Năm 2006 được Liên hợp quốc lấy là Năm quốc tế chống sa mạc hóa - hoang mạc hóa
với thống điệp “Vẻ đẹp của sa mạc – thách thức của hoang mạc hóa”, nhằm muốn
cảnh tỉnh toàn nhân loại rằng sa mạc tuy có đẹp với những đồi cát trùng điệp và mặt
trời rực lửa nhưng hoang mạc hóa lại là một thách thức vô cùng to lớn đối với nhân
loại. Theo ước tính, ở Việt Nam có tới 9,34 triệu hecta đất đai bị thoái hóa, rộng hơn 5
lần Nghệ An – tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước và một phần trong đó là những khu
vực hoang mạc hóa rộng lớn. Trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành và gây
hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông, lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt
là miền Trung và Tây Nguyên. Một số liệu thống kê nữa của tổ chức FAO và
UNESCO cũng cho thấy, có khoảng 462.000 ha cát ven biển và 87.800ha trong số này
là các đụn cát, đồi cát lớn di động. “ Sa mạc hóa là một vấn đề về kinh tế, xã hội và
môi trường mang tính toàn cầu. Chống sa mạc hóa phải được coi là nhiệm vụ chung
của toàn nhân loại, là nỗ lực hợp tác quốc tế lâu dài. Nâng cao nhận thức của mỗi cá
nhân về nguy cơ của sa mạc hóa, từ đó có những hành động cụ thể để ngăn chặn nguy
cơ này là điều mỗi quốc gia phải làm ngay, trước khi qúa muộn”, ông Bernard
O”Callaghan, Quyền trưởng đại diện Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế phát biểu.
Để triển khai thành công Công ước Chống sa mạc hóa, Việt Nam đã xây dựng Chương
trình Hành động Quốc gia Chống sa mạc hóa (NAP) giai đoạn 2002-2010, gắn liền với
Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam về định hướng phát triển bền vững, Chiến
lược quốc gia về bảo vệ môi trường, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia, Chiến lược
quốc gia về tăng trưởng toàn diện và giảm nghèo. Mục tiêu chủ yếu của NAP là: nâng
cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng; tăng cường quản lý sử dụng đất đai; đẩy mạnh
quản lý nguồn nước, hạn chế ảnh hưởng của hạn hán; đáp ứng các nhu cầu cấp bách
của nhân dân địa bàn bị ảnh hưởng. Bốn vùng NAP ưu tiên chống sa mạc hóa là duyên
hải miền Trung, Tây Bắc, tứ giác Long Xuyên và Tây Nguyên. Hiện đang có trên 50
chương trình, dự án được thực hiện ở cấp thực địa ở trong nước. Sắp tới, Việt Nam
sẽ xây dựng Chương trình đối tác quản lý đất lâm nghiệp bền vững do Ngân hàng Thế
giới, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) và Quỹ Uỷ thác ngành lâm nghiệp (TFF) tài trợ.
Kể từ tháng 3/2003, GEF đã chính thức quyết định vấn đề chống thoái hóa đất là một
trong 6 lĩnh vực ưu tiên của quỹ và trở thành cơ chế tài chính chủ yếu của UNCCD.
Ông Subinay Nandy, Quyền Trưởng đại diện của Chương trình Phát triển Liên hợp
quốc cho biết UNDP cam kết sẽ tiếp tục và củng cố các nỗ lực hỗ trợ chống hoang
mạc hóa và rủi ro do hạn hán gây ra, đồng thời sẽ tham gia tích cực vào triển khai
UNCCD và NAP tại Việt Nam. Dự kiến đợt kỷ niệm này sẽ bắt đầu từ ngày
17/6/2006-17/6/2007./. Mỹ Hạnh (Tạp chí Lao động và Xã hộ

a mạc hóa - thảm trạng lớn trong thế kỷ XX Lưu để đọc sau
7:40 PM, 11/12/2009 Email bài này
In trang này
In bài này
Theo con đường thẳng dẫn từ trung tâm Sahara tới ven Ý kiến của bạn
bờ sông Niger, hàng đoàn người đang lặng lẽ bước. Đó
là dòng người bất tận hàng ngày đi lấy nước nhằm thỏa Liên hệ đăng lại bài
mãn nhu cầu tồn tại tối thiểu.
10 bài được đọc nhiều nhất
Bị sa mạc "xua đuổi", hàng triệu người trên hành tinh đã
phải rời bỏ nhà cửa nơi chôn nhau cắt rốn tới sống đâu
đó gần các nguồn nước. Khắp nơi đang diễn ra thảm cảnh tương tự: từ Sahel ở châu
Phi tới vùng đông bắc Brazil; từ các khu vực khô hạn tại Peru và Chile đến bang
Rajasthan ở Ấn Độ...

Sự bành trướng của sa mạc đang gặm nhấm dần trái đất, hay như lời tiên đoán của
nhà văn Pháp René Daumal (1908-1944), thì đó chính là: "Thảm trạng lớn trong thế kỷ
XXI!".

Những luồng gió khô và nóng từ Sahara thổi thấu tới tận cực nam châu Phi. Sự sa mạc
hóa gần đây ở Sahel cho thấy rõ sức bành trướng của sa mạc Sahara. Làm sao để chặn
đứng tiến trình này lại được - mỗi năm "biển cát" lại lấn thêm 10km tại các vùng cận
nhiệt đới trên cả 5 châu lục của hành tinh?

Và làm sao để chặn đứng làn sóng dân tị nạn - những người chạy trốn khỏi bệnh tật
và đói kém do sa mạc mang lại? Rất nhiều các hội nghị quốc tế trong vòng 2 thập niên
qua đã đưa ra các lời khuyên cùng nhiều giải pháp. Nhưng để giải quyết tận gốc rễ
vấn đề "sa mạc hóa" thật không đơn giản và tình hình thực tế cứ ngày một tồi tệ hơn.
Một phần ba diện tích mặt đất là sa mạc.

Nhưng những giới hạn lịch sử về địa chất luôn bị phá vỡ, sa mạc cứ dần "lấn lướt"
các diện tích đất canh tác còn lại của địa cầu. Tiến sĩ Harold Dreen, chuyên gia nổi
tiếng về hiện tượng "sa mạc hóa" của Đại học Tổng hợp tiểu bang Texas (Mỹ), nói:
"Hàng ngàn năm trước, ngay cả các vùng cao thuộc Sahara cũng phủ dày cây cối xanh
tươi. Các tranh vẽ trên vách đá vẫn còn mục kích được là những bằng chứng cho thấy:
vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên đã từng có một nền văn minh phồn thịnh nơi
đây.

Sau đó, quá trình sa mạc hóa lan khắp vùng Bắc Phi, khiến những "vựa lúa dồi dào"
của Đế chế La Mã biến mất theo. Còn vào khoảng 2000 năm trước, xứ Tunisia đã mất
đứt một nửa đất canh tác của mình. Tiến trình này vẫn đang tiếp tục và mỗi khi có
điều kiện như khí hậu thay đổi do trái đất nóng dần lên chẳng hạn - sa mạc lại càng
bành trướng mạnh hơn!".

Vào năm 1968, đột nhiên "mọc" lên một sa mạc mới - Sahel - vùng đất trải dài giữa hai
nước Senegal và Somalia. Tai họa này là nguyên nhân gây ra cái chết của 250 nghìn
người và hơn 1 triệu đầu gia súc từng là sức kéo chủ yếu cho nhà nông - sau một thời
kỳ dài không có mưa, đất đai nứt nẻ và "biển cát" lan tới.

Lượng mưa sau năm 1974 trở lại bình thường được vài năm, tới năm 1978 lại giảm
dần và dẫn tới thảm kịch mới, đe dọa trực tiếp cuộc sống của cả 200 triệu con người.
Trong thời kỳ này, sa mạc cũng bành trướng ở những phần đất khác trên thế giới, nhất
là tại vùng đông bắc Brazil khiến 3 triệu người phải di cư và hàng chục ngàn người
khác chết đói. Rồi phía bắc Ấn Độ, Chile và châu Úc...

Nhiều vùng phía tây của nước Mỹ bây giờ cũng có nguy cơ bị sa mạc hóa - nơi vốn
được coi là có hệ thống tưới nước bảo đảm nhất. "Hàng năm - ông Bradford Morz,
nguyên Tổng điều hành Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), nói - sự
sa mạc hóa làm thế giới thiệt hại 30 tỉ USD. Theo đánh giá của chúng tôi, cần phải
mất tới 4 thập niên với khoản kinh phí cả trăm tỉ USD để giành lại những miền đất bị
sa mạc lấn từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước trở lại đây".

Nhưng đó là mới chỉ nói về đất đai, còn phải có những nguồn tài chính lớn hơn để cứu
hàng chục triệu người tị nạn khỏi bị chết đói, dựng nhà cửa mới cho họ - Những thử
nghiệm bất thành trong lĩnh vực này là một trong những nguyên nhân khiến nhiều
quốc gia kém phát triển lâm vào cảnh nợ nần, không thể trả nổi những khoản vay tín
dụng khổng lồ kéo dài từ nhiều thập niên nay.

Ví như tại Nouakchott, thủ đô xứ Mauritania thuộc châu Phi đã bị sa mạc "bủa vây",
mùa mưa gần đây nhất kéo dài đúng... 10 phút. Tình hình thật đáng báo động. Thành
phố Nouakchott trước đây chỉ có 12 nghìn dân, bây giờ là 20 vạn và đa phần họ đều
suy dinh dưỡng. Ngoài những nguyên nhân do khí hậu và hạn hán ra, sự sa mạc hóa
cũng là hệ quả trực tiếp do sức tàn phá của con người.

Như ở các làng mạc ven sườn nam Sahara, sự triệt hạ cây xanh còn lớn gấp bội phần
do khô hạn làm cây chết. Giống như tại các nước đang phát triển khác, hơn 90% dân
trong vùng lấy gỗ làm củi đun. Sự bùng nổ dân số cũng là một nguyên nhân nữa kích
thích sự sa mạc hóa.

Những sai lầm kỹ thuật cũng "giúp" cho sự bành trướng của sa mạc. Như ở thung lũng
Imperial (tiểu bang California, Hoa Kỳ), do sơ suất khi thiết kế một hệ thống thủy lợi,
đã làm nhiễm mặn hàng ngàn mẫu Anh đất canh tác.

Các biện pháp ngăn chặn thường đòi hỏi khoảng thời gian dài, với nguồn kinh phí quá
sức chịu đựng đối với nhiều nước, chưa kể nhiều dự án còn mang tính chất viển vông
phi thực tế nữa. Như tại Ai Cập, hàng nghìn đàn ông cường tráng được huy động dọn
cát phủ trên mặt các quốc lộ, nhưng chỉ sau 10 ngày thì... đâu lại vào đấy.

Người ta phải làm lại đường mới lấn qua đất nông nghiệp, chịu "nhường bước" trước
sa mạc và cứ vậy cho đến... hết! Hay ở Algeria từng thực thi một chương trình của
chính phủ có sự tài trợ từ các tổ chức quốc tế, hàng chục ngàn thanh niên lao động
trồng cây chắn cát. Kết quả đem lại thật khả quan.

Nhưng để trồng đủ cây "rào" Sahara lại, đòi hỏi sức lao
động khổng lồ của hàng triệu người trong nhiều năm
ròng. Riêng tại châu Úc, ven rìa sa mạc trung tâm
người ta trồng sồi sa mạc - một loài cây được tạo
giống trong phòng thí nghiệm với sự trợ giúp của
máy điện toán, có sức chịu đựng cao.
Phòng chống sa mạc hóa khu vực Nam Trung bộ và Tây
Nguyên

Hoang mạc hóa, sa mạc hóa là vấn đề toàn cầu, đang diễn biến phức tạp ở
nhiều khu vực trên thế giới. Với điều kiện khí tượng, địa hình, địa chất, thủy văn,
Việt Nam tiềm ẩn nhiều nguy cơ sa mạc hóa, hoang mạc hóa, biểu hiện qua
diễn biến xói mòn, rửa trôi, đá ong hóa, chua mặn hóa... Trong các khu vực
nguy cơ cao thì vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên là đáng quan tâm hơn cả.
Một số chuyên gia môi trường khi đến thăm đã ví khu vực Nam Trung bộ như
một "châu Phi thu nhỏ".


Những nguy cơ tiềm ẩn

Vào mùa khô mực nước sông ở khu vực này rất thấp, thậm chí nhiều sông suối
nhỏ khô kiệt hoàn toàn trở thành những dòng sông chết, "Lòng Sông" là một ví
dụ điển hình. Hiện tượng Elnino cùng với bão, lũ, khô hạn xảy ra thường xuyên
và ác liệt, dẫn đến nguồn nước suy giảm.

Trong khi đó, nhu cầu về nước lại tăng nhanh. Bên cạnh đó, tình trạng suy thoái
và ô nhiễm nguồn nước đang diễn biến rất nhanh, ảnh hưởng đến đời sống kinh
tế, xã hội của khu vực này. Sự phát triển kinh tế thiếu quy hoạch, không đồng
bộ ở nhiều vùng, việc di dân khó kiểm soát, việc phát triển đàn gia súc: bò, dê,
cừu trong khi chưa chủ động được nguồn thức ăn chăn nuôi là những nguyên
nhân gây ra nguy cơ sa mạc hóa, hoang mạc hóa, đe dọa sự phát triển bền
vững.

Những giải pháp khoa học công nghệ

Phòng chống hoang mạc hóa, sa mạc hóa là một vấn đề mang tính chiến lược
vừa cấp bách, vừa lâu dài, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực. Trong đó giải pháp khoa học công nghệ (KHCN) thủy lợi là trung tâm,
các giải pháp về đất, rừng... là phối hợp. Tại Hội thảo khoa học về Nâng cao
hiệu quả sử dụng tài nguyên nước và chống sa mạc hóa khu vực Nam Trung bộ
và Tây Nguyên, một số giải pháp khoa học đã được đề xuất, căn cứ theo đặc
thù của vùng núi cao, vùng đồng bằng và vùng ven biển.

Ở vùng núi cao, diện tích rừng ít, cần làm các đập ngăn để giữ được lượng
nước mưa, tích cực trồng rừng và bảo vệ rừng để chống nhiễm mặn và chắn
cát di động, bảo vệ rừng đầu nguồn, tăng lưu lượng nước của các hệ thống
sông suối hiện tại và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt, phấn đấu nâng độ che phủ lên
42% vào năm 2010. Ngoài ra, việc trồng rừng cũng sẽ hạn chế độ bốc hơi và
giữ được lượng nước mưa khá lớn, bổ sung được lượng nước cho đất, tái tạo
môi trường. Cần trồng các loại cây mới như cây trôm, cây cóc hằn... sống được
trên núi đá, chống cháy rừng.

Ở vùng đồng bằng và ven biển, cần đầu tư xây dựng các công trình hồ chứa lớn
dạng tổng hợp phục vụ đa mục tiêu vừa cắt lũ trong mùa mưa, tăng nguồn nước
trong mùa khô, vừa phát điện, khai thác du lịch...; triển khai xây dựng các hồ ao
nhỏ để trữ nước tại chỗ với quy mô phù hợp, áp dụng giải pháp che phủ hạn
chế bốc hơi tạo nguồn nước mặt và tăng nước ngầm; tiếp tục thực hiện chương
trình kiên cố hóa kênh mương, giảm tổn thất nước trong quá trình truyền dẫn,
ứng dụng những kỹ thuật tưới hiện đại, tiết kiệm nước như: phun mưa, nhỏ giọt
cho những cây trồng có giá trị kinh tế cao, chọn các loại giống cây trồng phù
hợp, sử dụng ít nước với thời gian gieo trồng thích hợp; xây dựng các đập ngầm
dọc ven biển nhằm hạn chế thoát nước ngọt ra biển, tăng trữ lượng nước ngầm.


Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh cũng cần chú trọng tới công tác
phòng chống sa mạc hóa và sử dụng hiệu quả nguồn nước trong điều kiện biến
đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. Với sự hợp tác của Bộ KH&CN, các địa phương
cần tăng cường việc huy động cộng đồng dân cư tham gia vào các dự án, thu
hút các nguồn vốn, đảm bảo kinh phí thực hiện được hiệu quả, khắc phục tình
trạng sa mạc hóa và khan hiếm nguồn nước, đảm bảo được đời sống kinh tế,
xã hội trong vùng.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản