Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

SÁCH THẾ GIỚI PHẲNG

Chia sẻ: Do Thanh Thao Thao | Ngày: | Loại File: doc | 835 trang

0
112
lượt xem
65
download

Tôi nghĩ cuốn sách rất bổ ích cho các nhà chính trị, các nhà hoạch định chính sách, vì nó trình bày những thách thức của thế giới phẳng đối với Mĩ, với thế giới đang phát triển, với các công ti, nên các loại độc giả này sẽ có thể thấy thông tin và ý tưởng của Freedman gây kích thích. Các học giả chắc sẽ học được cách trình bày đơn giản nhiều vấn đề phức tạp. Tôi nhiệt thành khuyên giới trẻ và các doanh nhân hãy đọc cuốn sách này, vì nó sẽ bổ ích cho...

SÁCH THẾ GIỚI PHẲNG
Nội dung Text

  1. Thế giới Phẳng  TÓM TẮT LỊCH SỬ  THẾ KỈ HAI MƯƠI MỐT  LỜI GIỚI THIỆU  Bạn đọc cầm trên tay cuốn thứ mười ba* của tủ sách SOS2,  cuốn Thế giới Phẳng của Thomas L. Freedman. Cuốn sách được  in và phát hành lần đầu vào tháng 4­2005. Đây là cuốn sách thứ  tư của Freedman, cuốn thứ hai, Xe Lexus và Cây Ôliu, vừa được  Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội xuất bản bằng tiếng Việt. T. L.  Freedman là nhà báo nổi tiếng của tờ New York Times, đi nhiều,  gặp gỡ với rất nhiều nhân vật nổi tiếng, với con mắt hết sức sắc  sảo, ông trình bày những vấn đề toàn cầu hoá rất súc tích và  sinh động, ông trình bày những vấn đề khô khan, khó hiểu một  cách sáng sủa, dí dỏm, dùng nhiều ẩn dụ giúp bạn đọc lĩnh hội  vấn đề một cách dễ dàng.  Tôi nghĩ cuốn sách rất bổ ích cho các nhà chính trị, các nhà  hoạch định chính sách, vì nó trình bày những thách thức của thế 
  2. giới phẳng đối với Mĩ, với thế giới đang phát triển, với các công ti,  nên các loại độc giả này sẽ có thể thấy thông tin và ý tưởng của  Freedman gây kích thích. Các học giả chắc sẽ học được cách  trình bày đơn giản nhiều vấn đề phức tạp. Tôi nhiệt thành khuyên  giới trẻ và các doanh nhân hãy đọc cuốn sách này, vì nó sẽ bổ  ích cho họ để xác định lại mình trong học tập, khởi nghiệp, học  và làm việc suốt đời. Tất nhiên cuốn sách cũng bổ ích cho tất cả  những ai quan tâm đến tương lai, việc làm, công nghệ, khoa học,  và sáng tạo.  Người dịch đã cố hết sức để làm cho bản dịch được chính xác và  dễ đọc, song do hiểu biết có hạn nên khó thể tránh khỏi sai sót.  Phần chỉ mục nội dung, ở mỗi mục chính (và cả ở mục phụ nếu  chúng tôi thấy thuật ngữ có thể là lạ), có kèm theo thuật ngữ  tiếng Anh để bạn đọc tiện tham khảo; tác giả dùng nhiều từ mới,  một số từ được để nguyên bằng tiếng Anh, phần giải thích nghĩa  có thể tìm thấy ở Chỉ mục.  Những người dịch cuốn sách này gồm: Cao Việt Dũng (các  Chương 9, 10, 11, 12) và Nguyễn Tiên Phong (Chương 13), phần  còn lại tôi dịch và đảm đương việc hiệu đính chung. Tôi thành  thật xin lỗi các cộng sự vì đã soát lại và sửa từng câu của các  chương đó. Làm vậy có thể mất cái hay của bản dịch ban đầu,  kể cả cách viết chính tả nhưng để cho bản dịch được nhất quán 
  3. tôi đã sửa rất nhiều, phần hay là của họ, các lỗi và thiếu sót là  của tôi. Tôi chịu trách nhiệm về mọi lỗi và sai sót của toàn bộ  bản dịch.  Mọi chú thích của tác giả được đánh bằng số. Tất cả các chú  thích đánh dấu sao (*) ở cuối trang là của người dịch. Trong văn  bản đôi khi người dịch có đưa thêm từ hay cụm từ để cho câu  được rõ nghĩa, phần đó được đặt trong dấu [như thế này]. Bản  dịch chắc còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng  thứ, và chỉ bảo; xin liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời  sống, 54 Hoàng Ngọc Phách Hà Nội [25/B7 Nam Thành Công],  hoặc qua điện thư thds@hn.vnn.vn hay nqa@netnam.vn  09­2005  Nguyễn Quang A  Thế giới 
  4. Trở thành Phẳng  Thế nào  MỘT  Khi Tôi Còn Đang Ngủ  Tâu các Hoảng tử, với tư cách những người Công giáo Cơ đốc,  và các hoàng tử những người yêu mến và thúc đẩy niềm tin Công  giáo linh thiêng, và là những kẻ thù của học thuyết Mohamet, và  của mọi sự sùng bái thần tượng và dị giáo, đã quyết định cử tôi,  Christopher Columbus, đi đến các miền nói trên của Ấn Độ, để  xem các hoàng tử, nhân dân, và các vùng đất ấy, và để tìm hiểu  tính khí của họ và phương pháp thích hợp nhằm cải biến họ theo  niềm tin linh thiêng của chúng ta; và hơn nữa đã chỉ dẫn rằng tôi  không được đi bằng đường bộ theo hướng Đông, như lệ thường,  mà bằng đường phía Tây, theo hướng mà đến nay chúng ta  không có bằng chứng chắc chắn nào rằng đã có bất cứ ai đi. 
  5. ­ Từ nhật kí của Christopher Columbus về chuyến đi 1492 của  ông  C  hẳng ai đã từng chỉ hướng cho tôi như thế này trên một sân golf  trước đây: "Hãy nhắm vào hoặc Microsoft hay IBM". Tôi đứng ở  điểm phát bóng đầu tiên tại sân golf KGA Golf Club ở khu trung  tâm thành phố Bangalore, miền nam Ấn Độ, khi bạn chơi của tôi  trỏ vào hai cao ốc bằng kính­và thép bóng loáng nổi bật lên ở  đằng xa, đúng sau thảm cỏ xanh đầu tiên. Cao ốc Goldman  Sachs vẫn chưa xong; nếu không thì anh ta đã có thể trỏ vào cái  đó nữa và biến nó thành bộ ba. HP và Texas Instrument có văn  phòng của họ ở sau lỗ thứ chín, dọc theo lỗ thứ mười. Đó không  phải là tất cả. Các mốc phát bóng là của Epson, công ti máy in,  và một trong những người xách gậy của chúng tôi đội mũ 3M.  Bên ngoài, một số biển hiệu giao thông cũng do Texas  Instrument tài trợ, và bảng quảng cáo Pizza Hut trên đường trưng  một miếng pizza bốc hơi, dưới đầu đề "Các miếng giga đầy  Hương vị!"  Không, đấy dứt khoát không phải Kansas. Thậm chí không có vẻ  giống Ấn Độ. Đấy là Thế giới Mới, Thế giới Cũ, hay Thế giới tiếp? 
  6. Tôi đã đến Bangalore, Silicon Valley của Ấn Độ, bằng hành trình  khám phá của riêng tôi giống của Columbus. Columbus đã đi  thuyền buồm với các tàu Niña, Pinta, và Santa María trong một  nỗ lực để khám phá ra một đường ngắn hơn, trực tiếp hơn đến  Ấn Độ bằng hướng về phía tây, qua Đại Tây Dương, mà ông cho  là đường biển khơi đến Đông Ấn ­ hơn là đi xuống phía nam và  đông vòng qua châu Phi, như những người khai phá Bồ Đào Nha  thời ông đã thử đi. Ấn Độ và các Hòn đảo Gia Vị phương Đông  nổi tiếng một thời về vàng, ngọc, đá quý, và tơ lụa của họ ­ một  nguồn vật báu không kể xiết. Tìm đường tắt qua biển này đến Ấn  Độ, ở thời khi các thế lực Hồi giáo ngày đó đã chặn các đường bộ  từ châu Âu, đã là một cách cho cả Columbus và nền quân chủ  Tây Ban Nha trở nên giàu có và hùng mạnh. Khi Columbus căng  buồm, hiển nhiên ông đã cho rằng Trái đất tròn, đó là vì sao ông  lại tin chắc rằng ông có thể đến Ấn Độ bằng cách đi về phương  tây. Tuy nhiên, ông đã tính sai quãng đường. Ông nghĩ Trái Đất  là một quả cầu nhỏ hơn. Ông cũng đã không dự kiến gặp một  vùng đất rộng trước khi ông đến được Đông Ấn. Tuy nhiên, ông  đã gọi các thổ dân mà ông đã gặp ở thế giới mới là các "Indian­ dân da đỏ" [những người Ấn Độ]. Quay về nhà, tuy thế,  Columbus đã có thể nói cho những người đỡ đầu ông, Vua 
  7. Ferdinand và Hoàng hậu Isabella, rằng mặc dù ông không thấy  Ấn Độ, ông có thể xác nhận rằng thế giới quả thực tròn.  Tôi bắt đầu đi Ấn Độ theo đúng hướng đông, qua Frankfurt. Tôi  dùng Lufthansa với vé hạng thương gia. Tôi biết chính xác hướng  mình đi nhờ bản đồ GPS hiện trên màn hình thòi ra từ ngăn của  ghế ngồi trên máy bay. Tôi hạ cánh an toàn và đúng giờ. Tôi  cũng đã gặp những người được gọi là Indian. Tôi cũng đã đi tìm  nguồn giàu có của Ấn Độ. Columbus đã tìm phần cứng ­ các kim  loại quý, tơ lụa, và gia vị ­ nguồn giàu có trong thời ông. Tôi đã  tìm phần mềm, năng lực trí óc, các thuật giải phức tạp, các công  nhân tri thức, các call center [trung tâm phục vụ khách hàng qua  điện thoại], các giao thức truyền, những đột phá về kĩ thuật  quang học ­ các nguồn giàu có của thời chúng ta. Columbus đã  vui sướng biến những người Indian ông gặp thành các nô lệ, một  quỹ lao động chân tay tự do.  Tôi chỉ muốn hiểu vì sao những người Indian tôi gặp lại lấy việc  làm của chúng ta, vì sao họ trở thành một quỹ quan trọng như  vậy cho outsourcing [thuê làm ngoài] dịch vụ và việc làm công  nghệ thông tin (CNTT) từ Hoa Kì và các nước công nghiệp khác.  Columbus có hơn một trăm người trên ba tàu của ông; tôi có một  nhóm nhỏ từ kênh Discovery Times vừa thoải mái trong hai xe tải  dã chiến, với các lái xe Ấn Độ đi chân trần. Khi căng buồm, ấy là 
  8. nói vậy, tôi cũng đã cho rằng thế giới là tròn, song cái tôi bắt gặp  ở Ấn Độ thật đã hết sức làm lung lay niềm tin của tôi vào ý niệm  đó. Columbus tình cờ gặp châu Mĩ song ông nghĩ mình đã khám  phá ra một phần Ấn Độ. Tôi thực sự thấy Ấn Độ và nghĩ nhiều  người tôi gặp ở đó là những người Mĩ. Một số đã thực sự lấy tên  Mĩ, và những người khác bắt chước rất cừ giọng nói Mĩ ở các call  center và các kĩ thuật kinh doanh Mĩ ở các phòng thí nghiệm  phần mềm.  Columbus tâu lên vua và hoàng hậu của mình rằng thế giới tròn  và ông đã đi vào lịch sử như người đầu tiên khám phá ra điều  này. Tôi quay về nhà và chia sẻ sự phát hiện chỉ với vợ, và chỉ  thì thầm.  "Em yêu", tôi thủ thỉ, "anh nghĩ thế giới là phẳng".  L  àm sao tôi đã đi đến kết luận này? Tôi nghĩ bạn có thể nói tất cả  bắt đầu trong phòng họp của Nadan Nilekani ở công ti Infosys  Technologies Limited. Infosys là một trong các báu vật của thế  giới CNTT Ấn Độ, và Nilekani, CEO [Tổng điều hành] của công  ti, một trong những thuyền trưởng chín chắn và được kính trọng  nhất của nền công nghiệp Ấn Độ. Tôi đi xe với nhóm Discovery 
  9. Times đến khu Infosys, khoảng bốn mươi phút từ trung tâm  Bangalore, để thăm cơ sở và phỏng vấn Nilekani. Đến khu  Infosys bằng con đường sứt sẹo, với các chú bò linh thiêng, các  xe ngựa kéo, và các xe kéo có động cơ tất cả cùng chen lấn sát  cạnh xe chúng tôi. Tuy nhiên, một khi bước vào cổng Infosys bạn  ở trong một thế giới khác. Một bể bơi lớn cỡ khu nghỉ mát nép  mình gữa các tảng đá mòn và những dải cỏ được cắt tỉa, sát kề  một bãi cỏ khổng lồ như một sân golf nhỏ. Có vô số quán ăn và  một câu lạc bộ sức khoẻ tuyệt vời. Các cao ốc kính­và­thép  dường như mọc lên giống cỏ dại mỗi tuần. Trong một số cao ốc  đó, các nhân viên Infosys đang viết các chương trình phần mềm  cụ thể cho các công ti Mĩ hay châu Âu; trong các cao ốc khác,  họ thực hiện những công việc hậu trường của các công ti siêu  quốc gia lớn đặt cơ sở ở Mĩ và châu Âu ­ mọi thứ từ bảo trì máy  tính đến các đề án nghiên cứu cụ thể đến trả lời các cuộc gọi của  khách hàng từ khắp nơi trên thế giới. An ninh là chặt, các camera  theo dõi các cửa, và nếu anh làm việc cho American Express,  anh không thể đi vào cao ốc quản lí các dịch vụ và nghiên cứu  cho General Electric. Các kĩ sư Ấn Độ trẻ, nam và nữ, đi nhanh  nhẹn từ cao ốc này sang cao ốc kia, lủng lẳng các thẻ ID [nhận  dạng]. Một người có vẻ như có thể lo các khoản thuế của tôi.  Người khác có vẻ như cô có thể tháo rời máy tính của tôi. Và 
  10. người thứ ba có vẻ như cô ta đã thiết kế nó!  Sau khi ngồi cho một cuộc phỏng vấn, Nilekani đã dẫn nhóm TV  chúng tôi dạo quanh trung tâm hội nghị toàn cầu của Infosys­  tầng zero của công nghiệp outsourcing Ấn Độ. Nó là một phòng  sâu thẳm lát ván ô gỗ nhìn giống một phòng học được xếp thành  dãy từ một trường luật Ivy League. Ở một đầu có một màn hình  đồ sộ cỡ bức tường và ở trên cao có các camera trên trần cho hội  nghị từ xa. "Đây là phòng hội nghị của chúng tôi, đây có lẽ là  màn hình lớn nhất châu Á ­ gồm bốn mươi màn hình số [gộp  lại]," Nilekani tự hào giải thích, chỉ lên màn hình TV lớn nhất tôi  đã từng thấy. Infosys, ông nói, có thể tổ chức một cuộc hội nghị  ảo của những người chơi chủ chốt của toàn bộ chuỗi cung ứng  toàn cầu của nó cho bất cứ dự án nào vào bất cứ lúc nào trên  màn hình siêu cỡ đó. Như thế các nhà thiết kế Mĩ của họ có thể  nói chuyện trên màn hình với các nhà viết phần mềm Ấn Độ và  các nhà sản xuất Á châu của họ cùng một lúc. "Chúng tôi có thể  ngồi ở đây, ai đó từ New York, London, Boston, San Francisco,  tất cả đều trực tiếp [live]. Và có thể việc thực hiện là ở Singapore,  cho nên người ở Singapore cũng có thể trực tiếp ở đây... Đó là  toàn cầu hoá," Nilekani nói. Phía trên màn hình có tám chiếc  đồng hồ tóm tắt rất khéo ngày làm việc của Infosys: 24/7/365 [24  giờ một ngày; 7 ngày một tuần; 365 ngày một năm]. Các đồng hồ 
  11. được gắn nhãn Tây Mĩ, Đông Mĩ, GMT, Ấn Độ, Singapore, Hong  Kong, Nhật Bản, Úc.  "Outsourcing chỉ là một chiều của một thứ cơ bản hơn nhiều  đang xảy ra hiện nay trên thế giới," Nilekani giải thích. "Cái xảy  ra [vài] năm vừa qua là đã có một sự đầu tư ồ ạt vào công nghệ,  đặc biệt trong thời đại bong bóng, khi hàng trăm triệu dollar được  đầu tư để thiết lập kết nối khắp nơi trên thế giới, cáp biển, và tất  cả các thứ đó". Đồng thời, ông nói thêm, máy tính đã trở nên rẻ  hơn và phân tán khắp thế giới, và đã có một sự bùng nổ về phần  mềm ­ e­mail, các phương tiện tìm kiếm như Google, và phần  mềm sở hữu riêng, có thể chẻ bất cứ công việc nào và gửi một  phần đến Boston, một phần đến Bangalore, và một phần đến  Bắc Kinh, tạo dễ dàng cho bất cứ ai để phát triển từ xa. Khi tất cả  các thứ này đột nhiên xảy ra cùng lúc vào khoảng năm 2000,  Nilekani nói thêm, chúng "đã tạo ra một nền nơi việc làm tri thức,  vốn trí tuệ, có thể được giao từ bất cứ đâu. Nó có thể được chia  nhỏ, giao, phân phối, sản xuất và ráp lại cùng nhau lần nữa ­ và  điều này đã cho cách làm việc của chúng ta một độ tự do hoàn  toàn mới, đặc biệt việc làm có tính chất trí tuệ... Và cái mà anh  đang nhìn thấy tại Bangalore ngày nay thực sự là đỉnh điểm của  tất cả những điều trên kết hợp lại."  Chúng tôi ngồi trên đi văng bên ngoài văn phòng của Nilekani, 
  12. đợi đội TV dựng các camera. Tại một điểm, tóm tắt các ẩn ý của  tất cả điều này, Nilekani đã thốt ra một cụm từ cứ lảng vảng  trong đầu tôi. Ông nói với tôi, "Tom, sân chơi đang được san  phẳng". Ý ông muốn nói là các nước như Ấn Độ bây giờ có khả  năng cạnh tranh vì lao động tri thức toàn cầu như chưa từng bao  giờ có ­ và rằng Mĩ tốt hơn hãy sẵn sàng cho điều này. Mĩ bị  thách thức, nhưng, ông nhấn mạnh, sự thách thức sẽ là tốt cho  Mĩ bởi vì chúng ta luôn sung sức nhất khi bị thách thức. Khi tôi rời  khu Infosys về Bangalore tối hôm ấy và bị xóc suốt dọc đường ổ  gà, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về cụm từ đó: "Sân chơi đang được san  phẳng".  Cái Nandan nói, tôi nghĩ, là sân chơi đang được san phẳng...  Được san phẳng? Được san phẳng? Trời ơi, ông ta nói với tôi thế  giới là phẳng!"  Tôi ở đây, ở Bangalore ­ hơn 500 năm sau khi Columbus vượt  qua đường chân trời, dùng công nghệ hàng hải thô sơ của thời  ông, và trở về an toàn để chứng minh dứt khoát rằng thế giới tròn  ­ và một trong những kĩ sư tinh nhanh nhất Ấn Độ, được đào tạo  tại học viện kĩ thuật hàng đầu của Ấn Độ và được hỗ trợ bởi công  nghệ hiện đại nhất hiện nay, về cơ bản đã nói với tôi là thế giới  này phẳng, phẳng như màn hình mà trên đó ông ta có thể chủ trì  cuộc họp toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu của mình. Thậm chí lí 
  13. thú hơn, ông biểu dương sự phát triển này như một điều tốt, như  cột mốc mới trong sự phát triển của loài người và một cơ hội lớn  cho Ấn Độ và thế giới ­ một sự thực đã khiến thế giới chúng ta  phẳng!  Ngồi đằng sau chiếc xe đó, tôi đã viết vội vàng bốn từ đó vào sổ  tay của mình: "Thế giới là phẳng". Ngay khi viết chúng, tôi nhận  ra rằng đấy là thông điệp cơ bản của mọi thứ tôi đã thấy và đã  nghe ở Bangalore trong hai tuần làm phim. Sân chơi cạnh tranh  toàn cầu được san bằng. Thế giới được san phẳng.  Khi tôi nhận rõ điều này, cả hứng khởi và sự kinh hãi tràn đầy tôi.  Nhà báo trong tôi hứng khởi khi đã tìm thấy một khung khổ để  hiểu kĩ hơn các tin chính buổi sáng và để giải thích cái xảy ra  trên thế giới ngày nay. Rõ ràng, hiện nay là có thể cho nhiều  người hơn bao giờ hết để hợp tác và cạnh tranh trong thời gian  thực với nhiều người hơn về nhiều loại việc làm khác nhau hơn từ  nhiều ngõ ngách của hành tinh hơn và trên cơ sở bình đẳng hơn  bất cứ thời gian nào trước đây trong lịch sử loài người ­ dùng máy  tính, e­mail, mạng, hội nghị từ xa, và phần mềm mới năng động.  Đó là cái Nandan đã nói cho tôi. Đó là cái tôi đã khám phá ra  trong hành trình của tôi đến Ấn Độ và xa hơn. Và đó là cái cuốn  sách này nói về. Khi bạn bắt đầu nghĩ về thế giới như là phẳng,  rất nhiều thứ có ý nghĩa theo những cách chúng không có trước 
  14. đây. Nhưng đích thân tôi cũng hứng khởi, bởi vì sự san phẳng thế  giới có nghĩa là bây giờ chúng ta đang kết nối tất cả các trung  tâm tri thức trên hành tinh lại thành một mạng toàn cầu đơn nhất,  mà ­ nếu hoạt động chính trị và chủ nghĩa khủng bố không cản  đường ­ thì sẽ có thể mở ra một kỉ nguyên thịnh vượng và đổi mới  gây sửng sốt.  Nhưng suy ngẫm thế giới phẳng cũng làm tôi tràn đầy kinh hãi,  về mặt nghề nghiệp và cá nhân. Sự kinh sợ riêng của tôi xuất  phát từ sự thực hiển nhiên rằng không chỉ những người viết phần  mềm và các geek [các tay cự phách về] máy tính được trao  quyền để cộng tác trong công việc ở một thế giới phẳng. Nó  cũng là al­Qaeda và các mạng lưới khủng bố khác. Sân chơi  không được san bằng chỉ theo cách thu hút và siêu trao quyền  một nhóm hoàn toàn mới của những người đổi mới sáng tạo. Nó  được san bằng theo cách lôi kéo và siêu trao quyền một nhóm  hoàn toàn mới của những người đàn ông và đàn bà giận dữ, nản  chí, và bị làm nhục.  Về nghề nghiệp, sự nhận ra thế giới là phẳng làm căng thẳng  thần kinh vì tôi nhận ra rằng sự san bằng này đã xảy ra khi tôi  còn đang ngủ, và tôi đã bỏ quên nó. Tôi thực sự không ngủ, mà  đã bận việc khác. Trước 11 tháng 9 (11/9), tôi đã tập trung theo  dõi toàn cầu hoá và khai thác sự căng thẳng giữa các lực "Lexus" 
  15. của sự hội nhập kinh tế và các lực "Cây Ô liu" của bản sắc và  chủ nghĩa dân tộc ­ do đó cuốn Xe Lexus và Cây Ô liu của tôi ra  đời 1999. Song sau 11/9, các cuộc chiến tranh cây ô liu đã ám  ảnh tôi hoàn toàn. Tôi dành hầu hết thời gian của mình chu du  trong các thế giới Ả Rập và Hồi giáo. Vào các năm đó tôi đã mất  dấu vết toàn cầu hoá.  Tôi đã lại tìm thấy vết đó trên hành trình của tôi đến Bangalore  tháng 2 năm 2004. Một khi đã tìm thấy, tôi nhận ra rằng có cái gì  đó thật sự quan trọng đã xảy ra trong khi tôi gắn bó với các lùm  cây ô liu của Kabul và Baghdad. Toàn cầu hoá đã đi đến một  mức mới hoàn toàn. Nếu bạn đặt cuốn Xe Lexus và Cây Ô liu và  cuốn sách này lại với nhau, bạn sẽ đi đến kết luận lí lẽ lịch sử  khái quát là đã có ba kỉ nguyên lớn của toàn cầu hoá. Thời đại  đầu kéo dài từ 1492­ khi Columbus dương buồm, mở ra sự giao  thương giữa Thế giới Cũ và Thế giới Mới ­ cho đến khoảng 1800.  Tôi sẽ gọi thời đại này là Toàn cầu hoá 1.0. Nó đã làm thế giới co  lại từ một kích thước lớn thành cỡ trung bình. Toàn cầu hoá 1.0 là  về các nước và sức mạnh cơ bắp. Tức là, trong Toàn cầu hoá 1.0  tác nhân then chốt của sự thay đổi, động lực thúc đẩy quá trình  hội nhập toàn cầu đã là nước bạn có bao nhiêu cơ bắp ­ bao  nhiêu sức cơ bắp, bao nghiêu sức ngựa, sức gió, hay, muộn hơn,  sức hơi nước ­ và bạn đã có thể triển khai nó sáng tạo đến thế 
  16. nào. Trong kỉ nguyên này, các nước và các chính phủ (thường  được tôn giáo hay chủ nghĩa đế quốc hay sự kết hợp của cả hai  xúi giục) đã dẫn đường phá bỏ các bức tường và nối chặt thế giới  lại với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu. Trong Toàn cầu hoá  1.0, các câu hỏi chủ yếu là: Nước tôi hợp với sự cạnh tranh và  các cơ hội toàn cầu ở chỗ nào? Làm sao tôi có thể đi toàn cầu và  cộng tác với những người khác thông qua nước tôi?  Kỉ nguyên lớn thứ hai, Toàn cầu hoá 2.0, kéo dài từ 1800 đến  2000, bị gián đoạn bởi Đại Khủng hoảng và Chiến tranh Thế giới  I và II. Thời đại này làm thế giới co từ cỡ trung bình xuống cỡ  nhỏ. Trong Toàn cầu hoá 2.0, nhân tố then chốt của thay đổi,  động lực thúc đẩy hội nhập toàn cầu, đã là các công ti đa quốc  gia. Các công ti đa quốc gia này tiến hành toàn cầu hoá vì thị  trường và lao động, đầu tiên do sự bành trướng của các công ti  cổ phần Hà Lan và Anh và Cách mạng Công nghiệp làm mũi  nhọn. Trong nửa đầu của thời đại này, hội nhập toàn cầu được  cấp lực bởi sự sụt giảm chi phí chuyên chở, nhờ động cơ hơi  nước và đường sắt, và trong nửa sau bởi sự sụt giảm các chi phí  liên lạc ­ nhờ sự phổ biến của điện tín, điện thoại, PC, vệ tinh,  cáp quang, và phiên bản ban đầu của World Wide Web (WWW).  Chính trong thời đại này mà chúng ta thực sự thấy sự ra đời và  trưởng thành của một nền kinh tế toàn cầu, theo nghĩa rằng đã 
  17. có sự dịch chuyển đủ của hàng hoá và thông tin từ lục địa này  sang lục địa khác để ở đó có một thị trường toàn cầu, với sự  chênh lệch giá về các sản phẩm và lao động. Các động lực ở  đằng sau kỉ nguyên toàn cầu hoá này là các đột phá về phần  cứng ­ từ tàu hơi nước và đường sắt lúc ban đầu đến điện thoại  và các máy tính lớn vào lúc cuối. Và câu hỏi lớn trong thời đại  này đã là: Công ti tôi hợp với nền kinh tế toàn cầu ở chỗ nào? Nó  tận dụng các cơ hội thế nào? Làm sao tôi có thể đi toàn cầu và  cộng tác với những người khác qua công ti của tôi? Cuốn Xe  Lexus và Cây Ô liu chủ yếu là về đỉnh điểm của kỉ nguyên này,  một thời đại khi các bức tường bắt đầu sụp đổ trên khắp thế giới,  và sự hội nhập, và sự phản ứng dữ dội với nó, lên một mức mới  hoàn toàn. Nhưng ngay cả khi các bức tường sụp đổ, vẫn còn  nhiều rào cản đối với sự hội nhập toàn cầu suôn sẻ. Hãy nhớ, khi  Bill Clinton được bầu làm tổng thống năm 1992, hầu như không  ai ngoài chính phủ và giới hàn lâm có e­mail, và khi tôi viết Xe  Lexus và Cây Ô liu năm 1998, Internet và thương mại điện tử vừa  mới cất cánh.  Phải, chúng đã cất cánh ­ cùng với nhiều thứ khác nữa đã cùng  đến trong khi tôi ngủ. Và đó là lí do vì sao tôi lí lẽ trong cuốn  sách này rằng vào khoảng năm 2000 chúng ta đã bước vào một  kỉ nguyên mới hoàn toàn: Toàn cầu hoá 3.0. Toàn cầu hoá 3.0 
  18. làm thế giới co từ cỡ nhỏ xuống cỡ bé tí và đồng thời san bằng  sân chơi. Và trong khi động lực trong Toàn cầu hoá 1.0 là các  nước tiến hành toàn cầu hoá và động lực trong Toàn cầu hoá 2.0  là các công ti tiến hành toàn cầu hoá, động lực trong Toàn cầu  hoá 3.0 ­ thứ cho nó đặc trưng độc nhất vô nhị ­ là năng lực mới  tìm thấy cho các cá nhân để cộng tác và cạnh tranh toàn cầu. Và  cái đòn bẩy cho phép các cá nhân và các nhóm đi toàn cầu dễ  đến vậy và suôn sẻ đến vậy không phải là sức ngựa, không phải  là phần cứng, mà là phần mềm­ tất cả các loại ứng dụng mới ­  cùng chung với sự sáng tạo ra một mạng cáp quang toàn cầu  biến tất cả chúng ta thành láng giềng sát vách. Bây giờ các cá  nhân phải, và có thể, hỏi, Tôi hợp với cạnh tranh và các cơ hội  toàn cầu ngày nay ở chỗ nào, và làm sao tôi có thể, tự mình,  cộng tác với những người khác một cách toàn cầu?  Song Toàn cầu hoá 3.0 không chỉ khác các kỉ nguyên trước ở  chỗ nó làm thế giới co lại và phẳng thế nào và nó trao quyền cho  các cá nhân ra sao. Nó khác ở chỗ Toàn cầu hoá 1.0 và Toàn  cầu hoá 2.0 chủ yếu do các cá nhân và doanh nghiệp Âu Mĩ dẫn  dắt. Tuy Trung Quốc thực sự là nền kinh tế lớn nhất thế giới trong  thế kỉ mười tám, chính các nước, các công ti, những người thăm  dò phương Tây tiến hành phần lớn việc toàn cầu hoá và định  hình hệ thống. Nhưng về sau này, điều này sẽ ngày càng ít đúng 
  19. hơn. Bởi vì nó làm thế giới co lại và phẳng, Toàn cầu hoá 3.0  ngày càng nhiều sẽ được dẫn dắt không chỉ bởi các cá nhân mà  cũng bởi các nhóm cá nhân ­ phi Tây phương, không da trắng ­  đa dạng hơn nhiều. Các cá nhân từ mọi nơi của thế giới phẳng  đều được trao quyền. Toàn cầu hoá 3.0 biến thành có thể cho rất  nhiều người để cắm và chơi [plug and play], và bạn sẽ thấy mọi  sắc cầu vồng con người tham gia.  (Trong khi sự trao quyền cho các cá nhân để hành động toàn  cầu là đặc tính mới quan trọng nhất của Toàn cầu hoá 3.0, các  công ti­ to và nhỏ­ cũng được trao quyền một cách mới nữa trong  kỉ nguyên này. Tôi thảo luận chi tiết cả hai muộn hơn trong cuốn  sách này).  Không cần phải nói, tôi đã chỉ có sự đánh giá lờ mờ nhất về tất  cả điều này khi tôi rời văn phòng của Nandan ngày ấy ở  Bangalore. Nhưng khi tôi ngồi suy ngẫm những thay đổi này ở  ban công của phòng khách sạn của tôi tối hôm đó, tôi đã biết  một thứ: tôi muốn bỏ mọi thứ và viết một cuốn sách có thể cho  phép tôi hiểu quá trình làm phẳng này đã diễn ra thế nào và các  hệ luỵ của nó có thể là gì đối với các nước, các công ti, và các cá  nhân. Cho nên tôi nhấc điện thoại gọi cho vợ tôi, Ann, và bảo cô,  "anh sẽ viết một cuốn sách nhan đề Thế giới là Phẳng". Cô vừa  buồn cười vừa tò mò ­ ờ, có thể buồn cười hơn là tò mò! Cuối 
  20. cùng, tôi đã có khả năng thuyết phục được cô, và tôi hi vọng sẽ  có khả năng làm thế với bạn, bạn đọc thân mến. Hãy để tôi đưa  bạn quay về lúc đầu của hành trình của tôi đến Ấn Độ, và các  điểm phương đông khác, và chia sẻ với bạn một số cuộc gặp tình  cờ đã dẫn tôi đến kết luận rằng thế giới không còn tròn ­ mà  phẳng.  J  aithirth "Jerry" Rao là một trong những người đầu tiên tôi gặp ở  Bangalore­ và tôi gặp anh chưa hơn vài phút ở khách sạn Leela  Palace trước khi anh bảo tôi rằng anh có thể xử lí các tờ khai  thuế của tôi và các yêu cầu kế toán khác tôi cần ­ từ Bangalore.  Không, cảm ơn, tôi đã có một kế toán viên rồi ở Chicago. Jerry  chỉ mỉm cười. Anh ta quá lịch sự để nói ­ rằng anh ta có thể là kế  toán viên của tôi rồi, hay đúng hơn kế toán viên của của kế toán  viên của tôi, nhờ sự bùng nổ về outsourcing việc chuẩn bị thuế.  "Điều này xảy ra như chúng ta nói", Rao bảo, anh quê ở Mumbai,  trước là Bombay, hãng của anh, MphasiS, có một đội các kế  toán viên Ấn Độ có khả năng làm công việc kế toán được  outsource từ bất cứ bang nào của Mĩ và chính phủ liên bang.  "Chúng tôi liên kết với nhiều hãng CPA [kiểm toán viên (công) có 
Đồng bộ tài khoản