Sản xuất gang thép

Chia sẻ: ngochoa123

Mặc dù liên tiếp có báo động sẽ có thừa công suất gang thép, việc cấp phép đầu tư nhiều khu gang thép vẫn được nhà nước trung ương và địa phương rất "ưu ái". Trong bài này tác giả trình bày những cơ sở lý luận dẫn tới một chiến lược sản xuất gang thép ở Việt Nam. Những vấn đề của ngành gang thép Việt Nam Đặng Đình Cung Kỹ sư tư vấn.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Sản xuất gang thép

Ngành gang thép Việt Nam




Mặc dù liên tiếp có báo động sẽ có thừa công suất gang thép, việc cấp phép
đầu tư nhiều khu gang thép vẫn được nhà nước trung ương và địa phương rất
"ưu ái". Trong bài này tác giả trình bày những cơ sở lý luận dẫn tới một
chiến lược sản xuất gang thép ở Việt Nam.



Những vấn đề của
ngành gang thép Việt Nam

Đặng Đình Cung

Kỹ sư tư vấn (*)



Từ một năm nay liên tiếp có tin nhiều khu gang thép được cấp phép đầu tư
và liên tiếp có báo động sẽ có thừa công suất gang thép. Trong bài này
chúng tôi xin trình bày những cơ sở lý luận dẫn tới một chiến lược sản xuất
gang thép ở Việt Nam.


Một chút kỹ thuật
Để có thép sản phẩm cuối cùng1 từ quặng sắt có hai cách : chế tạo gang từ
quặng sắt trong lò cao hay khử oxy trực tiếp.

Nếu chế tạo thép từ quặng sắt thì phải nghiền quặng và than thành bột, trộn
quặng với than coke rồi đốt than trong một lò cao ở nhiệt độ trên 2.000°C. Ở
nhiệt độ đó, sắt chảy lỏng thành gang, nghĩa là sắt với một dung dịch cacbon
của than. Để khử cacbon xuống tới độ cacbon của thép thì người ta đổ gang
lỏng vào một nồi lò và thổi khí oxy để đốt cacbon có thừa. Mặc dù đã có
nhiều tiến bộ, nhưng phương pháp này tiêu thụ than và sinh ra xỉ, khí dioxyd
cacbon và nhiều bụi.

Nếu chế tạo thép bằng phương pháp khử oxy trực tiếp thì người ta gây ra
một hồ quang để nung chảy trong một nồi lò quặng sắt có hàm lượng sắt trên
60 phần trăm hay sắt vụn. Quy ra sản lượng thép phương pháp này ô nhiễm
tương đối ít hơn và dùng tương đối ít năng lượng hơn vì không có những
khâu nghiền quặng và nghiền than. Ngoài ra phần lớn năng lượng tiêu thụ là
điện năng.

Cả hai phương pháp tạo ra thép lỏng thô.

Người ta đổ thép lỏng vào một lò phản ứng ở nhiệt độ 1.200°C đến 1.800°C,
trộn với những kim loại phụ gia để có hợp kim thép đúng theo yêu cầu của
khách hàng. Khâu này gọi là khâu tinh luyện. Sau khi đạt được hợp kim có
đặc tính hóa học thích hợp người ta đúc liên tục hợp kim hãy còn lỏng vào
khuôn để có những phôi với mặt cắt hình chữ nhật hay hình tròn. Khâu này ô
nhiễm khí quyển khá nhiều và tiêu thụ nhiều năng lượng dưới dạng điện và
khí đốt hay dầu. Nhưng quy ra sản lượng thép thì gây ra ít ô nhiễm và tiêu
thụ ít năng lượng hơn là khâu chế tạo thép lỏng thô.

Khi thép nguội tới nhiệt độ khoảng 800°C, người ta cán những phôi thành
những tấm hay những thanh có hình dáng và kích thước gần bằng những sản
phẩm cuối cùng. Khâu này gọi là khâu cán nóng. Trong quy trình cán nóng
hay sau quy trình đó, người ta có thể nung ram lại những phôi để thép đạt
được những đặc tính cơ học mong muốn. Khâu này gây ra ô nhiễm khí
quyển và tiêu thụ năng lượng dưới dạng điện và khí đốt hay dầu. Quy ra sản
lượng thép thì gây ra ít ô nhiễm và tiêu thụ ít năng lượng hơn là khâu tinh
luyện.

Sau khi để phôi thép nguội tới nhiệt độ chung quanh, người ta cán lại thành
những tấm hay thanh sản phẩm cuối cùng. Khâu này gọi là khâu cán nguội.
Thực ra khâu này thuộc ngành cơ khí. Do đó, quy ra sản lượng thép khâu
này tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm tương tự như một quy trình cơ khí.

Người ta có thể xây dựng một tổ hợp gang thép bao gồm tất cả những khâu
kể trên. Nhưng người ta cũng có thể :

 mua thép thô rồi làm lỏng lại để sản xuất những tấm và thanh thép sản
phẩm cuối cùng từ khâu tinh luyện thép,
 mua những thoi thép đã được tinh luyện để sản xuất những tấm và
thanh thép sản phẩm cuối cùng từ khâu cán nóng,
 mua những phôi thép để cán nguội thành những tấm và thanh thép sản
phẩm cuối cùng.

Khởi đầu sản xuất từ dạng thép gần sản phẩm cuối cùng bao nhiêu thì, quy
ra sản lượng thép, sẽ ô nhiễm và tiêu thụ năng lượng ít bấy nhiêu. Vì thế mà
khi nghiên cứu một dự án thì phải biết sẽ khởi đầu sản xuất thép kể từ khâu
nào. Cộng công suất thép của những dự án khác nhau là không có ý nghĩa gì
cả khi thiết kế một chiến lược cho ngành gang thép.


Những lý do phải sản xuất thép ở Việt Nam



(a) Thỏa mãn nhu cầu quốc nội

Chính phủ Việt Nam và Hiệp hội Thép dự báo nhu cầu thép sẽ là như sau2 :

(triệu tấn \ năm) 2010 2015 2020 2025

Chính phủ 10 - 11 24 - 25

Hiệp hội Thép 10 15 20



Theo USGS (U.S. Geological Survey, Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa kỳ)3
thì sản lượng do những cơ sở gang thép ở nước ta là :
(tấn) 2002 2006
Gang 146.000 300.000

Thép thỏi 409.000 1.000.000

Thép cán 2.503.000 4.000.000



Theo những số liệu đó thì sản lượng gang thép nội địa chưa thỏa mãn được
nhu cầu của kinh tế. Nếu kết cấu kinh tế tương lai sẽ tạo ra nhu cầu dự báo
và nếu nhất thiết phải dùng thép sản xuất ở Việt Nam thì chúng ta cần phải
tăng cường mạnh khả năng sản xuất.

(b) Tận dụng tài nguyên mỏ

Nguyên liệu cơ bản của ngành gang thép là quặng sắt, than coke và năng
lượng điện.

Về điện thì hiện nay chúng ta thiếu công suất. Trước mắt chúng ta đang phải
nhập khẩu điện và không có tài chính để lắp ráp thêm công suất đáp ứng nhu
cầu. Trừ khi doanh nghiệp nước ngoài đầu tư ồ ạt vào những cơ sở sản xuất
điện, những nhà máy gang thép tương lai sẽ không có điện để chạy.

Về than thì ở miền Bắc và miền Trung có lải rải vài mỏ than và mỏ sắt. Mỏ
sắt và mỏ than không xa nhau mấy. Tỉnh Quảng Ninh là vùng mỏ than lớn,
nhưng đó là than anthracit chỉ dùng để đốt thành năng lượng nhiệt. Một bể
mỏ than ở Hưng Yên vừa được khám phá, nhưng chưa biết rõ trữ lượng và
loại than nào. Ở Thái Nguyên và gần biên giới Việt Trung có một vài mỏ
than coke nhỏ.

Về quặng sắt thì cũng lải rải có vài mỏ sắt. Mỏ tương đối quan trọng ở Thái
Nguyên. Ở Thạch Khê, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng mỏ có vẻ quan trọng vừa
được phát hiện. Thỉnh thoảng một vài địa phương phát hiện thêm một mỏ
khoáng vật cần được định giá thêm4.

Bờ bể nước ta có nhiều nơi để xây hải cảng đủ sâu để tàu mang nhiên liệu,
than coke và quặng sắt từ nước ngoài cập bến. Vậy chúng ta có thể tận dụng
những tài nguyên mỏ eo hẹp của chúng ta và bổ túc bằng cách mua từ nước
ngoài những nguyên liệu chúng ta thiếu để chạy những nhà máy gang thép
xây trên lãnh thổ nước ta.

(c) Tận dụng nguồn nhân lực

Điểm tới hạn của một nhà máy gang thép5 phải tính đến một triệu tấn mỗi
năm. Nhưng điểm tới hạn của một nhà máy chỉ cán thép theo nhu cầu có thể
xuống tới 20.000 tấn mỗi năm.

Một nhà máy gang thép cần đến rất nhiều nhân công. Có tổ hợp lên đến một
hai vạn người. Nhưng số nhân công lớn đó là do tầm vóc của nhà máy. Nếu
lấy tỷ lệ một nhân công của một nhà máy gián tiếp mang lại việc làm cho
mười người khác và một người đi làm nuôi hai người khác thì một tổ hợp
gang thép sẽ nuôi sống hai mươi vạn đến hơn nửa triệu người.

Nhưng một tổ hợp lớn cũng chỉ cần đến khoảng một trăm cán bộ quản lý và
kỹ thuật còn những người khác chỉ cần biết đọc biết viết và một vài ngày
huấn luyện là đủ. Như vậy có nghĩa là một nhà máy gang thép tạo ra nhiều
công ăn việc làm nhưng tham gia ít vào việc thành lập một xã hội tri thức.


Những cản trở của ngành gang thép Việt Nam



(a) Ô nhiễm

Trong số những ngành công nghiệp, ngành gang thép là ngành ô nhiễm môi
trường và tiêu thụ năng lượng nhiều nhất.

Chọn khai triển ngành gang thép là chọn gia tăng ô nghiễm môi trường và
gia tăng nhu cầu năng lượng. Một tổ hợp sản xuất càng sáp nhập nhiều khâu
sản xuất ở mạn ngược chu trình chế biến bao nhiêu thì càng ô nhiễm môi
trường và càng tiêu thụ năng lượng bấy nhiêu.

(b) Thiếu vốn đầu tư

Công nghiệp gang thép thuộc loại công nghiệp nặng nên có cường độ tư bản
cao6, có thể nói là cường độ tư bản cao nhất trong số những ngành công
nghiệp nặng. Như viết ở trên, so với những cơ sở công nghiệp khác, nhà
máy gang thép khác có điểm tới hạn cao. Suy ra ngành gang thép cần đến rất
nhiều vốn.

Về vốn đầu tư thì chúng ta vẫn đang phải gọi vốn nước ngoài dưới mọi hình
thức để khai triển mọi ngành công nghiệp. Ngành gang thép tiêu thụ nhiều
điện. Hiện nay chúng ta vẫn phải chịu cảnh bị cắt điện tràn lan mà Tổng
công ty Điện lực Việt Nam thiếu vốn để đầu tư giải quyết nạn này7. Chúng
ta không có vốn để xây những nhà máy điện dành riêng cho ngành gang
thép. Đó là chưa kể đến những hạng mục nghiền quặng, nghiền than, lò cao,
lò luyện thép, các xưởng cán nóng cán nguội và các phương tiện thuyên
chuyển.

Vậy nếu muốn khai triển ngành gang thép thì chúng ta không có cách nào
khác hơn là phải kêu gọi những xí nghiệp gang thép và ngân hàng quốc tế
đầu tư. Có người chê rằng có những tập đoàn tài chính không có kinh
nghiệm về gang thép cũng đệ đơn8. Điểm này không quan trọng mấy. Nếu
có tiền thì thuê chuyên gia cần thiết. Những ngân hàng đầu tư quốc tế quen
làm như vậy và đã thành công.

(c) Thị trường bất ổn

Thép là một sản phẩm cơ bản (commodity) thiết yếu cho mọi ngành công
nghiệp. Như mọi sản phẩm thiết yếu giá thị trường quốc tế lên xuống mau vì
đầu cơ. Như mọi sản phẩm cơ bản, nhu cầu và khả năng sản xuất của thế
giới biến đổi theo chu kỳ. Trong số những ngành công nghiệp, ngành gang
thép là ngành có thị trường bất ổn nhất, bất ổn hơn là thị trường dầu khí.

Với một điểm tới hạn cao, với cường độ tư bản cao, một tổ hợp gang thép
chỉ có thể là một cơ sở lớn với vốn cố định khổng lồ. Ngoài ra, một khi đã
đầu tư rồi thì vốn sẽ bị cầm chân trong cả chục năm, có thể đến hơn nửa thế
kỷ. Bây giờ giá thép niêm yết cao. Nhưng nếu thị trường thế giới đổi chiều
một chút là sẽ có nhiều xí nghiệp gang thép gặp khó khăn. Theo các chuyên
gia về thị trường gang thép thì những công ty sản xuất dưới 10 triệu tấn thép
mỗi năm sớm muộn sẽ phá sản hay sáp nhập vào một tập đoàn lớn hơn.


Những chọn lựa chiến lược


Khi thiết kế một chiến lược kinh tế thì phải đặt hai câu hỏi :
(a) khai triển ngành kinh tế này để làm gì ?

(b) nếu không khai triển ngành đó thì có thể làm gì khác có lợi hơn hay
không ?

Nói rằng mỗi người Việt Nam chúng ta bình quân mỗi năm tiêu thụ ngần
này cân thép hay nói rằng nước Việt nam xếp hạng này hạng nọ về gang
thép chỉ là những nhận xét chứ không thể là những chỉ tiêu để lập ra một kế
hoạch kinh tế được.

(a) Kết cấu công nghiệp quốc gia

Nhu cầu một nguyên liệu của một nước tùy ở kết cấu kinh tế của nước đó.
Trung Quốc là nước tiêu thụ than và thép nhiều nhất vì nước này là một
quốc gia công xưởng sản xuất hơn nửa sản lượng thiết bị gia dụng của thế
giới (tủ lạnh, máy giặt, máy truyền hình, máy vi tính,…). Người Singapore
không cần đến nhiều thép vì kinh tế nước họ dựa trên dịch vụ tài chính, kho
chứa phi hải quan và các công nghệ cao.

Nếu chúng ta muốn trở thành một quốc gia công xưởng cạnh tranh với
Trung quốc thì nhu cầu năng lượng và thép dự báo sẽ cao và rất có thể
những dự báo của Chính phủ và Hiệp hội Thép nêu trên là những dự báo
khiêm tốn. Ngược lại, nếu chúng ta tập trung vào những ngành kinh tế khác
như là nông nghiệp, công nghiệp lắp ráp, công nghệ cao, dịch vụ,… thì nhu
cầu về năng lượng và thép sẽ khiêm tốn hơn là những dự báo trên.

Nếu tham vọng của chúng ta chỉ vĩnh viễn là một quốc gia công xưởng thì
có thể phải khai triển một ngành gang thép vững mạnh thuộc hạng nhất nhì
thế giới. Nhưng nếu chúng ta coi tình trạng một quốc gia công xưởng chỉ là
một giai đoạn tạm thời trước khi trở thành một quốc gia công nghệ tiên tiến
thì không nên đầu tư nhiều vào những tổ hợp gang thép. Theo kinh nghiệm
các nước Bắc Mỹ và Âu châu, một khi đã đặt chân vào ngành này thì phải
mấy chục năm mới rút khỏi được.

(b) Kim ngạch xuất khẩu và môi trường

Nhiều người đề nghị phải khai triển ngành gang thép để tạo công ăn việc
làm cho dân, để có thép mà xuất khẩu và gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
Chúng ta không có nguyên liệu thì xây hải cảng nước sâu để nhập khẩu
quặng và than chạy nhà máy. Chúng ta không có vốn thì kêu gọi nước ngoài
đầu tư.
Xây một tổ hợp gang thép mà không có quặng và than coke là một việc rất
dễ : chỉ cần xây một hải cảng nước sâu để tàu chở những nguyên liệu đó có
thể cập bến. Nhiều tổ hợp gang thép đang vận hành có hiệu quả như vậy. Về
vốn đầu tư thì, hiện nay, xu hướng những xí nghiệp xuyên quốc gia các nước
hậu công nghiệp là chuyển tiềm năng sản xuất sang những nước ổn định về
chính trị, có giá lương thấp và dễ dãi về bảo vệ môi trường. Việt Nam là
nước lý tưởng trên ba phương diện đó nên họ đang ồ ạt lập hồ sơ xin xây
những tổ hợp gang thép khổng lồ.

Nếu tham vọng của chúng ta chỉ là để có công ăn việc làm cho một số lớn
công nhân không có tay nghề thì phải kêu gọi đầu tư nước ngoài vào ngành
gang thép. Nhưng giá phải trả là môi trường sẽ bị xâm phạm nghiêm trọng
và người lao động được tuyển sẽ không có triển vọng tiến thân thành lao
động chuyên môn.

(c) Mua hay tự sản suất

Một bài toán mà mọi kỹ sư phải giải thường ngày là mua những gì mình cần
dùng hay tự sản xuất lấy. Nếu tự sản xuất mà đắt hơn giá thị trường thì nên
mua lại của những xí nghiệp có khả năng sản xuất rẻ hơn.

Những ngành công nghiệp đang phát triển mạnh ở nước ta như là xây dựng,
đóng tàu, cơ khí ô tô, cơ điện thiết bị gia dụng,… cần đến rất nhiều thép. Với
xu hướng toàn cầu hóa, đâu cần phải có nhà máy đặt trên lãnh thổ mình thì
mới có thể bảo đảm an ninh cung ứng một sản phẩm thiết yếu. Hiện nay
chúng ta có khả năng sản xuất để xuất khẩu với những tỷ số lề lớn như là cơ
khí, hàng may mặc, thực phẩm, thiết bị gia dụng,… Chúng ta có thể khai
triển những ngành đó để xuất khẩu và có ngoại tệ mua thép mà công nghiệp
chúng ta cần đến. Ngoài ra chúng ta chỉ cần nhập khẩu những phôi thép để
cán lại. Như thế chúng ta ô nhiễm môi trường và tiêu thụ năng lượng ít hơn.

Ngành đóng tàu cần đến rất nhiều thép và Vinashin tìm liên doanh để xây
nhà máy gang thép là một việc có thể hiểu được. Nhưng Vinashin đang phải
đi vay vốn lưu hành để đóng tàu và thi hành những hợp đồng đã ký. Trên
phương diện công nghiệp, xây một nhà máy cán những thỏi thép mua từ
những xí nghiệp khác là đủ rồi. Tại sao lại chi vốn để lao vào một nghề mà
Vinashin không chuyên ?


Những dự án đã được cấp phép hay đang xét duyệt (**)
Với tình trạng lạm phát hai số chính phủ đã phải rà xét lại những dự án đầu
tư và ngưng hay hủy bỏ nhiều dự án để giữ lại những dự án thực sự cần thiết
và khả thi. Đây là một dịp để xét lại những dự án gang thép và Phó thủ
tướng Hoàng Trung Hải đã ra chỉ thị thẩm định các dự án đang hoặc sắp đầu
tư vào ngành thép9.

Đọc trên mạng Internet những bản tin trong nước từ đầu năm 2008 cho đến
nay, trong chín tháng, ngoài những dự án nhà máy cán thép và những dự án
mở rộng những tổ hợp gang thép sẵn có, chúng tôi kiểm kê được :

 hai dự án tổ hợp gang thép cùng với những bến cảng và nhà máy điện
phụ trợ đã được cấp phép, một ở Ninh Thuận, một ở Hà Tĩnh, tổng
cộng 17,7 tỷ Mỹ kim, công suất 29,4 triệu tấn/năm, 4.850 ha mặt đất
và mặt biển,
 một dự án ở Khánh Hòa đang được xét duyệt, 5 tỷ Mỹ kim, công suất
10 triệu tấn/năm,
 một dự án ở Quảng Ngãi đối tác nước ngoài tuyên bố dự định lập hồ
sơ xin đầu tư, 5 tỷ Mỹ kim, công suất 6 đến 10 triệu tấn/năm, 1.000 ha
đất, 2.000 tới 3.000 lao động,
 một dự án đối tác nước ngoài tuyên bố dự định lập hồ sơ xin đầu tư, ở
một địa điểm chưa xác định, tổng cộng 5 tỷ Mỹ kim, công suất 10
triệu tấn/năm.

Tổng cộng năm dự án này là vốn đầu tư 32,7 tỷ Mỹ kim, công suất 55,4 đến
59,4 triệu tấn/năm, ít nhất 5.850 ha mặt đất và mặt biển, nhưng chúng tôi
ước lượng khoảng 10.000 ha.

Chúng tôi không có cơ sở gì để nghi vấn năm dự án trên và các chủ đầu tư
thiếu nghiêm túc. Posco, chủ đầu tư dự án ở Vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh
Hòa, là một tập đoàn gang thép Hàn Quốc lớn với khả năng sản xuất 30 triệu
tấn/năm. Những consortium khác gồm bới một số tập đoàn công nghiệp và
tài chính có tên tuổi. Như viết ở một phần trên, không có kinh nghiệm trong
ngành gang thép không phải là một trở ngại để đầu tư có hiệu quả vào ngành
này. Vì dự án cần nhiều vốn quá họ phải hùn vốn trong một consortium để
chia sẻ rủi ro. Trong consortium họ sẽ chỉ định một hội viên đóng nhiếu vốn
hay có tay nghề làm hội viên dẫn đầu (chef de file). Nếu cần, họ sẽ thuê một
công ty thiết kế tư vấn cho họ.

Những lo âu của chúng tôi là như sau :
1. Những con số về vốn đầu tư và công suất cho thấy rằng cả năm dự án đều
mang vốn 5 tỷ Mỹ kim và xin từ 1.000 đến 2.000 ha đất và mặt biển cho mỗi
công suất 10 triệu tấn/năm. Những tỷ số đó tương xứng với những tỷ số
đăng trên sách báo chuyên môn quốc tế. Chúng tôi không được đọc chi tiết
những hồ sơ xin phép đầu tư. Nhưng những tỷ số trùng nhau như vậy cho
phép chúng tôi nghi rằng một số hồ sơ sẽ không được dẫn tới cùng vì chỉ là
những quả bong bóng người ta tung ra để thử.

Thực vậy, trong giới tài chính đầu tư quốc tế, người ta thường tung ra một số
hồ sơ để thử xem có đối tác nào phản ứng không. Nếu có đối tác phát tín
hiệu thuận thì họ đi tiếp và sẽ đi tiếp cho tới thực hiện dự án nếu đối tác liên
tục phát tín hiệu mong muốn dự án được thực hiện. Nhiều khi có một tay,
không ai biết tông tích từ đâu, "đi một tua", nghĩa là tung ra một hồ sơ rất
hấp dẫn rồi biến đi mất sau khi nước chủ nhà động viên tất cả quan chức để
nghiên cứu dự án. Năm ngoái, chúng tôi được tin dự án Nghi Sơn, tỉnh
Thanh Hóa, vốn đầu tư 26 tỷ Mỹ kim, công suất 150 tấn/năm, 50.000 lao
động10. Trước những con số vĩ đại như vậy, chúng tôi nghi hồ sơ không
nghiêm túc. Với sự giúp sức của một số Việt-Kiều bên Mỹ, chúng tôi có thử
tìm xem tập đoàn Eminence, chủ đầu tư, là những ai. Nhưng chúng tôi
không gom được một tý thông tin nào cả.

2. Với nhu cầu gang thép lớn như hiện nay, nhiều công ty và ngân hàng đổ
vốn vào ngành này. Họ thấy Việt Nam là một nơi làm ăn dễ dãi thì họ đến
đầu tư. Nhưng, nếu một chục năm nữa gió đổi chiều, giá thép trên thị trường
quốc tế giảm xuống, thì họ không ngần ngại rút lui để đầu tư vào ngành khác
hay/và ở nước khác. Như viết ở một phần trên, triển vọng những tổ hợp gang
thép này sẽ ngưng hoạt động không phải là một giả thuyết có tính cách hàn
lâm. Đó chỉ là hậu quả của xu hướng toàn cầu hóa.

Lúc đó khí quyển xung quanh nhà máy sẽ trong sạch hơn, nhưng vẫn còn cả
nghìn hecta đất và mặt biển đã bị ô nhiễm mà không biết bao giờ mới hồi
phục. Lúc đó ai sẽ nghĩ tới số phận những công nhân cũ của nhà máy ? Dù
đã được tuyển từ tuổi rất trẻ, sau nhiều năm lao động, những người này sẽ là
những người cao tuổi. Sau khi bị khai thác với đồng lương rẻ mạt vì nhà
máy không đòi hỏi phải có kỹ năng cao và sau nhiều năm không có dịp
luyện tập trí não, khả năng chuyển nghề của những người này sẽ là như thế
nào ?


Kết luận
Mọi việc đều có khía cạnh thuận và nghịch. Không khai triển nhiều ngành
gang thép không có nghĩa là không quan tâm đến ngành đó.

Dù sao chúng ta cũng có một số mỏ sắt mặc dù trữ lượng những mỏ đó
không lớn mấy. Xuất khẩu quặng sắt thì không có lợi bằng xuất khẩu thép.
Vậy chúng ta cũng phải kêu gọi nước ngoài đầu tư vào tối đa hai tổ hợp
gang thép. Nhưng không cho phép họ đầu tư vào những dự án phải nhập
khẩu quặng sắt và khi nào những mỏ sắt cạn hết thì tìm cách mời họ dời cơ
sở sản xuất của họ sang nước khác.

Ngành luyện kim tiến bộ mau : những đặc tính của thép và hợp kim thép về
sức bền và kháng hoen rỉ được cải tiến liên tục. Những ngành công nghiệp
của chúng ta phát triển mạnh. Do đó nhu cầu thép tăng mạnh cùng với đòi
hỏi sử dụng hữu hiệu thép và hợp kim thép. Nếu chúng ta muốn chất lượng
sản phẩm công nghiệp của chúng ta được cải thiện liên tục thì phải có một
đội ngũ kỹ sư am hiểu những vấn đề sản xuất và sử dụng kim loại và những
vật liệu mới. Vật liệu mới là một ngành ưu tiên của chính phủ. Nhưng đặt
vào danh sách ưu tiên một một công nghệ thì chưa đủ. Chúng tôi đề nghị lập
một trung tâm nghiên cứu trung ương về sản xuất và sử dụng kim loại.

Trở thành số một hay số hai thế giới trong một ngành công nghiệp không
phải là một vinh quang. Vinh quang là trở thành một quốc gia giàu mạnh,
dân sống ấm no trong một môi trường tự nhiên lành mạnh. Với mục đích đó,
khai triển ngành gang thép không phải là một việc cốt yếu.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản