Sáng kiến kinh nghiệm " Giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn vật lí THPT "

Chia sẻ: titihaudau

Quá trình dạy học tích hợp được hiểu là một quá trình dạy học trong đó toàn thể các hoạt động học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động (Xavier Roegiers (1996)). Mục tiêu cơ bản của tư tưởng sư phạm tích hợp là nâng cao chất lượng giáo dục học sinh phù hợp các mục tiêu giáo dục của...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm " Giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn vật lí THPT "

Giáo dục bảo vệ môi trường
trong dạy học môn vật lí THPT
(Nguyễn Văn Khải)

I.- Phương pháp tích hợp GDMT

qua dạy học môn vật lí ở THPT

1.1.- Khái niệm về dạy học tích hợp




Quá trình dạy học tích hợp được hiểu là một quá trình dạy học trong đó toàn thể các
hoạt động học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước
những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc
nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động (Xavier Roegiers (1996)). Mục tiêu cơ bản
của tư tưởng sư phạm tích hợp là nâng cao chất lượng giáo dục học sinh phù hợp các mục
tiêu giáo dục của nhà trường.

Dạy học tích hợp hướng tới việc tổ chức các hoạt động học tập trong đó học sinh học
cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng trong các tình huống gần với cuộc
sống và có ý nghĩa. Cụ thể là cần kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái
niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối
liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó.

Dạy học tích hợp hướng tới thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau của
cùng một môn học cũng như của các môn học khác nhau, hướng tới đào tạo học sinh có năng
lực đáp ứng được thách thức lớn của xã hội ngày nay là có được khả năng huy động có hiệu
quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống
xuất hiện, hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp.Tư
tưởng sư phạm đó gắn liền với việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề, phát triển năng lực
sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.

Từ những lý do trên, việc vận dụng tư tưởng dạy học tích hợp vào quá trình dạy học là
rất cần thiết, là một xu hướng của dạy học được nhiều nước trên thế giới quan tâm thực hiện
. ở Việt Nam, dạy học tích hợp cũng đ ã được nghiên cứu và vận dụng từ những năm 60
nhưng đến nay vẫn chưa trở thành phổ biến. Hiện nay dạy học tích hợp cũng đ ã được nghiên
cứu vận dụng ở nhiều môn học như Ngữ Văn, Sinh học, Hóa học…trong đó có việc tích hợp
các nội dung GDMT vào dạy học các bộ môn ở trường phổ thông.

Các dạng vận dụng dạy học tích hợp GDMT vào các môn học ở trường phổ thông hiện
nay thường là:

Hình thức liên hệ ( permeation): là hình thức tích hợp khi các kiến thức GDMT
-
không được nêu rõ trong sách giáo khoa (SGK), nhưng dựa vào kiến thức của bài
học, giáo viên có thể bổ xung các kiến thức về môi trường ( như các hiện tượng, số
liệu về tình trạng môi trường, sử dụng môi trường…) vào bài giảng trên lớp dưới
hình thức các ví dụ , cũng có thể tổ chức các tình huống học tập ở đó học sinh vận
dụng kiến thức vào thực tế có liên quan tới vấn đề môi trường sinh thái;

Hình thức lồng ghép (infusion): Với hình thức này, trong chương trình và SGK có
-
các kiến thức môn học cũng chính là kiến thức về môi trường được tích hợp với nhau
ở các mức độ khác nhau.




1.2. Giáo dục môi trường qua dạy học môn vật lí ở bậc THPT

Ngày nay vấn đề ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái đ ã là vấn đề quan tâm
chung của nhân loại. Vì vậy, người ta coi vấn đề môi trường là một trong các "vấn đề toàn
cầu".
Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường đã được xác định chủ yếu là do các hoạt động
của con người: phá rừng, sản xuất công, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt, dân số
tăng nhanh… Trong b ối cảnh phát triển của xã hội loài người, bài toán:"phát triển bền vững"
đã được đặt ra để giải quyết. Phương châm của phát triển bền vững được nêu lên là: "Sự phát
triển thỏa mãn những nhu cầu trong hiện tại không làm xâm phạm đến khả năng làm thỏa
mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai".




ở bậc THPT, mỗi môn học có vị trí khác nhau trong vấn đề thực hiện GDMT. Có nhiều
môn học có thuận lợi do đối tượng bộ môn liên quan nhiều đến vấn đề môi trường sinh thái
như: sinh học, địa lý, hóa học, giáo dục công dân. Các môn học khác như vật lý, mặc dù
không có các chủ đề nghiên cứu riêng về vấn đề môi trường sinh thái, song đều có thể tìm
được cơ hội đưa vấn đề GDMT vào nội dung bài học. Điều quan trọng GV phải được chuẩn
bị các hiểu biết về vấn đề môi trường, hiểu sâu kiến thức bộ môn.




- Một số định hướng nội dung GDMT khi dạy học vật lý ở trường THPT:

Theo định nghĩa về môi trường của Chương trình môi trường Liên Hiệp quốc (United
Nation Enviroment Program (UNEP)): "Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học,
sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng". Việc phân tích cấu trúc
môi trường theo khoa học môi trường cho thấy các yếu tố vật lý có vai trò rất quan trọng.
Như vậy, môn vật lý ở trường phổ thông có thể khai thác nhiều cơ hội để tích hợp các nội
dung GDMT, có thể nêu ra một số trường hợp như:

+ Khai thác từ nội dung môn học vật lý;

+ Tích hợp các nội dung của các môn học khác như: hóa học, sinh học,... (vì nhiều quá
trình hóa học, sinh học,... chịu tác động của yếu tố vật lý).

Để định hướng cho việc lựa chọn nội dung GDMT phù hợp, có thể nêu lên một số vấn đề
môi trường dang được quan tâm hiện nay có liên quan trực tiếp tới các quá trình vật lý;
1 - Tài nguyên rừng bị suy giảm:

- Trước hết phải làm rõ được vai trò của rừng đối với cuộc sống con người:

+ Rừng - nguồn gien quý giá (động, thực vật);

+ Cung cấp lâm thổ sản;

+ Điều hòa lượng nước trên mặt đất;

+ Rừng ="lá phổi xanh";

+ Rừng  chống xói mòn đất,...

Dưới góc độ khoa học vật lý, có thể nêu lên các quá trình vật lý như: hiện tượng mao
dẫn của đất, quá trình quang hợp, thế năng, động năng d òng chảy của nước gây ra sự bào
mòn đất...

- Các giải pháp bảo vệ rừng, phát triển rừng nhìn từ góc độ vật lý (chống sói mòn đất, hạn
chế khí nhà kính…);

2 - Ô nhiễm nước:

Vai trò của nước đối với sự sống trên Trái Đất, các quá trình lý hóa khi nước bị ô
nhiễm,... các biện pháp bảo vệ nước, chu trình nước trong tự nhiên ( liên quan tới các hiện
tượng chuyển thể của nước…)

3 - Suy thái và ô nhiễm đất

4 - Ô nhiễm không khí: khí quyển, quá trình suy giảm tầng ôzôn, chất phóng xạ, hóa chất;

5 - Ô nhiễm tiếng ồn: liên quan trực tiếp tới các quá trình vật lý như sóng âm:

* Khái niệm: ô nhiễm môi trường do tiếng ồn (tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số
và chu kỳ khác nhau, nói cách khác : là những âm thanh chói tai, gây những tác động không
mong muốn, có hại cho sức khỏe con người,, cơ thể sống.
* Các nguồn ô nhiễm: tiéng máy bay, xe cộ, karaokê quá giới hạn cho phép,... , (âm
thanh  80 dB).

6 - Ô nhiễm ánh sáng: sự chiếu sáng gây tác hại đến con người và sinh vật.

7 – Sản xuất , truyền tải và sử dụng điện năng nhìn nhận dưới góc độ bảo vệ môi trường .

8 – Ô nhiễm phóng xạ: Các tia phóng xạ, an toàn hạt nhân,…

Về phương tiện dạy học:
-

Phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng nâng cao chất lượng dạy học nói chung, chất
lượng GDMT nói riêng. Ví vậy trong các bài học có tích hợp các nội dung GDMT giáo viên
nên tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các phương tiện nghe nhìn

Chẳng hạn, sử dụng các video clip (từ 3 - 5 phút) để giới thiệu về các yếu tố môi
trường và sử dụng hợp lý năng lượng, như: cọn nước, cối giã gạo nước, trạm thủy điện nhỏ,
trạm pin mặt trời (năng lượng sạch), ô nhiễm không khí và tiếng ồn giao thông ; từ trường
trái đất, năng lượng nguyên tử, ...

Để khai thác và cập nhật các tư liệu phục vụ GDMT, giáo viên có thể chủ động sử dụng
phương tiện internet khai thác các Website về môi trường và GDMT bổ ích.




1.3- Hai kiểu triển khai GDMT :

a./ Kiểu 1: thông qua dạy học các bộ môn ở phổ thông:

ở đây có 2 dạng bài học có thể khai thác cho GDMT:

Dạng 1: nội dung chủ yếu của bài học, hoặc có nội dung môn học trùng hợp với nội dung
môi trường ( hình thức lồng ghép).

Dạng 2: một số nội dung của bài học có liên quan với nội dung GDMT song không nêu rõ trong
sách giáo khoa (hình thức liên hệ).
Khi khai thác cơ hội GDMT dù theo hình thức nào cũng cần tuân theo 3 nguyên tắc sau:

1./ . Không làm mất tính đặc trưng của môn học. Không biến bài học

bộ môn thành bài học môi trường;

2./. Khai thác nội dung chọn lọc, tập trung, không tràn lan, tùy tiện;

3./. Phát huy tích cưc nhận thức của HS, khai thác kinh nghiệm thực tế của HS, tận
dụng cơ hội để HS tiếp xúc trực tiếp với môi trường.

Có thể nêu lên một số cách thức tổ chức hoạt động GDMT qua dạy học bộ môn như sau:

. Phân tích vấn đề môi trường liên quan nội dung môn học;

. Khai thác thực trạng môi trường làm nội dung GDMT;

. Xây dựng bài tập môn học từ thực tế môi trường địa phương;

. Sử dụng phương tiện dạy học hỗ trợ GDMT;

. Sử dụng tài liệu tham khảo (tranh, ảnh, sách, báo...)

. Thực hiện bài học tại thực địa.




- Các hoạt động của GV khi xác định nội dung GDMT và xây dựng giáo án khai thác GDMT

Các hoạt động của GV khi định hướng tổ chức quá trình dạy học tích hợp GDMT, theo
chúng tôi sẽ bao gồm:

Hoạt động 1: Nghiên cứu chương trình, SGK để xây dựng mục tiêu dạy học, trong đó
có các mục tiêu GDMT. Việc nghiên cứu chương trình, nội dung SGK cho phép GV xây
dựng kế họach dạy học phù hợp cho toàn bộ chương trình bộ môn, cho từng phần của môn
học, từng chương cũng như từng bài học. Nhờ việc phân tích chương trình, SGK GV có
được cái nhìn tổng thể về các đơn vị kiến thức, kĩ năng, thấy được mối liên hệ giữa chúng và
dễ phát hiện các cơ hội tích hợp nội dung GDMT vào từng đơn vị kiến thức một cách hợp lí,
từ đó lập kế hoạch khai thác các nội dung GDMT trong suốt quá trình dạy học mà không sa
vào tình huống ngẫu nhiên, tu ỳ tiện làm quá tảI bài học, hoặc trùng lặp, hoặc không đưa ra
được các tình huống GDMT thực sự có ý nghĩa thuyết phục. Kết thúc quá trình này GV có
thể đưa ra một sơ đồ lôgic xây dựng kiến thức một cách phù hợp. Việc làm này sẽ cho cái
nhìn trực quan về mối liên hệ giữa các kiến thức, cho phép xác định hợp lí các tình huống sử
dụng phương pháp và phương tiện dạy học thích hợp. Nó cũng cho phép xác định hợp lí các
cơ hội tích hợp nội dung GDMT vào bài học.

Hoạt động 2: Xác định các nội dung GDMT cần tích hợp:

Căn cứ vào mối liên hệ giữa kiến thức bộ môn và nội dung GDMT, GV cần làm rõ sẽ
tích hợp nội dung GDMT nào là hợp lí, thời lượng dành cho nó là bao nhiêu.

Theo các nguyên tắc chung về GDMT thì các nội dung môi trường càng gần với kinh
nghiệm sống của HS thì càng tốt, đặc biệt có ý nghĩa là các nội dung đề cập tới vấn đề môi
trường sinh thái của địa phương. Vì vậy, với cùng một nội dung tri thức vật lí trong SGK,
song khi dạy cho HS ở các vùng miền khác nhau, GV cần có cách khai thác nội dung GDMT
khác nhau. Nói một cách khác, căn cứ vào đối tượng HS khác nhau, GV sẽ xây dựng các tình
huống tích hợp nội dung GDMT khác nhau.

Hoạt động 5: Lựa chọn và vận dụng các phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp: ở
đây, trứơc hết phải vận dụng các phương pháp dạy học tích cực .

Hoạt động 4: Xây dựng tiến trình dạy học dạy học cụ thể: ở hoạt động này GV thiết kế cụ
thể các yêu cầu đối với HS, các hoạt động trợ giúp của GV đối với HS và phối hợp các hoạt
động đó để đạt được mục đích dạy học.




Cấu trúc một giáo án khai thác GDMT có thể như sau :
Trường ………..

Tên bài học ..............

Ngày .... tháng ... năm ...

Lớp: ….. Tiết thứ ......................

I.- Mục tiêu:

- Kiến thức:

- Kỹ năng

- Thái độ

( trong đó có mục tiêu GDMTđã được tích hợp ).




II. - Kiến thức trọng tâm:

( trong đó có chỉ rõ các nội dung GDMT đá được tích hợp vào ).

III. Phương pháp / phương tiện dạy học

IV. Hoạt động dạy học :

1. Hoạt động 1 (…phút). ổn định lớp và kiểm tra bài cũ .



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- (Nêu các hoạt động cụ thể của học sinh) - (Nêu cụ thể các hành động trợ giúp của
giáo viên)
2. Hoạt động 2 (…phút): …(Nêu tên của đơn vị kiến thức cần nắm vững)



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- (Nêu các hoạt động cụ thể của học sinh) - (Nêu cụ thể các hành động trợ giúp của
giáo viên)




.. Hoạt động … (…phút): …(Nêu tên của đơn vị kiến thức cần nắm vững)



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- (Nêu các hoạt động cụ thể của học sinh) - (Nêu cụ thể các hành động trợ giúp của
giáo viên)




.. Hoạt động … (…phút): ….Vận dụng, củng cố bài / đánh giá



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- (Nêu các hoạt động cụ thể của học sinh) - (Nêu cụ thể các hành động trợ giúp của
giáo viên)




... Hoạt động tiếp nối ( Bài tập , câu hỏi tự học ) .
V. Phụ lục: ( Các tư liệu về môi trường và GDMT ).




b./ Kiểu 2: GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập:

Các hoạt động độc lập này hoàn toàn phù hợp với các hình thức tổ chức dạy học bộ môn,
như: tham quan, ngoại khóa, tuần lễ môi trường... Nội dung của các hoạt động này chủ yếu là
nội dung môn học, các nội dung GDMT sẽ đ ược tích hợp vào các hoạt động cung. Tuy
nhiên, vì đây là các hoạt động ngoài giờ lên lớp, gắn với thực tế môi trường sống, môi trường
lao động sản suất nên có nhiều điều kiện tích hợp sâu sắc các nội dung GDMT. Song do thực
tế kế hoạch dạy học hiện nay là rất chặt chẽ, nên GV phải nghiên cứu lựa chọn chủ đề phù
hợp và có kế hoạch sớm để nhà trường tạo điều kiện. Dưới đây là một gợi ý cho việc xây
dựng một kế hoạch hoạt động.

- Xây dựng kế hoạch hoạt động GDMT ngoài giờ lên lớp :


 Chọn chủ đề môi trường : ( ô nhiễm nước ... )


 Hình thức của hoạt động : ( Tham quan, câu lạc bộ , dã ngoại , bài tập khảo sát
môi trường, thi tái chế, thi tìm hiểu môi trường gắn với môn học, các trò chơi và
sự mô phỏng; ... )

 Thiết kế hoạt động :

+ Chương trình , kế hoạch chi tiết các bước .

+ Cách thức thực hiện .

+ Nhân sự ( nhóm công tác , phân công ...)

+ Chuẩn bị CSVC / tài chính ( nếu có ) .
+ Thời gian . Địa điểm .Sự cho phép .


 Thực hiện hoạt động :

( Giám xát , giúp đỡ , điều chỉnh , đánh giá ...)

 Kết thúc hoạt động :

( Đánh giá kết quả , nhận xét , bài học , báo cáo , kiến nghị thực tiễn ).




III.- Một số bàI soạn vật lí tích hợp GDMT
BàI 26: Thế Năng

(SGS cơ bản)




A. Sơ đồ lôgic xây dựng kiến thức Thế năng

có tích hợp GDMT



Thế năng



Thế năng trọng Thế năng đàn hồi
trường


Trọng
trường



Thế năng trọng
trường

Định nghĩa Biểu thức
thế năng wt = mgz
trọng trường



Biến thiên thế năng và công của
GDMT:
trọng lực
Nước chảy ở nơi đất dốc
wt (M) - wt (N)
AMN Sinh công bào mòn đất,
=
gây sạt lở (sói mòn và làm
đất bạc mầu). Trồng cây
chống sói mòn,…
B. Bài soạn




I.Mục tiêu

1.Kiến thức:

Hiểu khái niệm trọng trường và biểu hiện của trọng trường. Khái niệm trọng
-
trường đều;

Phát biểu được định nghĩa thế năng trọng trường của một vật và viết được công
-
thức thế năng này. Liên hệ giữa biến thiên thế năng và công của trọng lực;

Nêu được đơn vị đo thế năng;
-

Hiểu được công thức công của lực đàn hồi, công thức tính thế năng đàn hồi.
-

Hiểu đượớc sự biến thiên thế năng của nước trong tự nhiên có thể sinh công có
-
ích song cũng có thể gây ra tác động có hại .

2. Kĩ năng:

Vận dụng được các khái niệm trọng trường, thế năng trọng trường, công của
-
trọng lực, thế năng đàn hồi để giải thích các hiện tượng trong đời sống và tự
nhiên;


AMN
Vận dụng được các công thức tính thế năng trọng trường, công thức
- =


wt (M) - wt (N), công thức tính thế năng đàn hồi ;
Giáo dục môi trường: Giải thích tác động làm sói mòn đất khi nước chảy và biện
-
pháp khắc phục. Giải thích vai trò của cây cối trong việc chống sói mòn đất.

3. Thái độ:
Quan tâm trồng cây, ý thức bảo vệ rừng.




II. Chuẩn bị

1. Giáo viên

Biên soạn nội dung câu hỏi 1-4 SGK thành các câu trắc nghiệm;
-

Dụng cụ thí nghiệm về thế năng của trọng trường, của lực đàn hồi.
-

Chuẩn bị các hình ảnh về sói mòn đất, hình ảnh về tác dụng chống sói mòn đất
-
của rừng (có được một đoạn video ngắn về lũ thì tốt).

2. Học sinh

Làm thí nghiệm về thế năng của lực đàn hồi;
-




3. Gợi ý ứng dụng CNTT

- Hình ảnh thế năng của nước trong nhà máy thuỷ điện, búa máy,…Hình ảnh về sói
mòn đất, về sự tàn phá của nước lũ, về tác dụng cản lũ của rừng…

Hình ảnh thế năng vật đàn hồi.
-

III. Tổ chức các hoạt động dạy học

Hoạt động 1 (… phút): Kiểm tra bài cũ.



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên
-Đ ộng năng là gì? Công của lực tác dụng và -Nêu câu hỏi và yêu cầu HS trả lời
độ biến thiên động năng?
- Nhận xét đánh giá
- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Cho nhận xét: Biến thiên động năng của
một vật đang rơi?




Hoạt động 2 (…phút): Tìm hiểu khái niệm trọng trường



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- Đọc mục 1. Trọng trường và cho nhận xét - Yêu cầu HS đọc mục 1.
về biểu hiện của trọng trường.
-Hướng dẫn HS tìm hiểu các khái niệm trọng
- Lấy các ví dụ thực tế về biểu hiện của trọng lực, trọng trường, trọng trường đều;
trường, sự sinh công của trọng lực
- Yêu cầu HS lấy ví dụ và nhận xét




Hoạt động 3 (…phút): Thế năng trọng trường. Biểu thức tính thế năng trọng trường.



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- Đọc ví dụ về sự sinh công của búa máy. -Yêu cầu và hướng dẫn HS đọc SGK , đưa ra
Tìm các ví dụ tương tự và khái quát, tự nêu các câu hỏi gợi ý.
được kháI niệm thê năng trọng trường.
-Hướng dẫn HS đọc SGK và rút ra công thức
- Đọc SGK và nêu lên biểu thức tính thế tính thế năng trọng trường
năng trọng trương
wt = mgz. Nhận xét câu trả lời của HS. Kết
- Nhận xét câu trả lời của bạn. Trả lời câu hởi
luận về thế năng trọng trường
C3.




Hoạt động 4 (…phút): Liên hệ giữa biến thiên thế năng và công của trọng lực



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- Sử dụng công thức (26.2) để tính công của - Yêu cầu HS đọc mục 3. và cho nhận xét;
trọng lực khi một vật có khối lượng m rơi tử Hướng dẫn HS thảo luận.

zM
điểm M có độ cao tới điểm N có độ cao
- Nhận xét các câu trả lời của HS, đưa ra kết

zN. Phát biểu kết luận khái quát và các hệ luận

quả. Trả lời câu hỏi C4, C5




Hoạt động 5 (…phút):Tích hợp GDMT sói mòn đất, sự tàn phá của nước lũ..



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên
- Nêu các ví dụ lợi dụng thế năng dòng nước, -Nhận xét câu trả lời của HS, giới thiệu hình
các tác động có hại của thế năng của nước ( ảnh nhà máy thu ỷ điện, sói mòn đất, ruộng
cối giã gạo nước, cọn nước, nhà máy thu ỷ bậc thang , vai trò của rừng. Hướng dẫn HS
điện; sói mòn đất, sự tàn phá của nước lũ, tự tìm hiểu thêm
biện pháp chống sói mòn đất và hạn chế tác
hại của lũ…)




Hoạt động 6 (…phút): Thế năng đàn hồi. Công của lực đàn hồi. Thế năng đàn hồi



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



-Nhắc lại các hiểu biết về thế năng đàn hồi - Đặt câu hỏi để kiểm tra hiểu biết của HS về
đã học ở lớp 8. Cho các ví dụ thực tế khi một thế năng đàn hồi đã học ở lớp 8, yêu cầu HS
vật biến dạng thì sinh công. cho ví dụ.

-Đọc SGK, phát biểu công thức tính công -Yêu cầu HS phân tích hình vẽ 26.4, đọc
của lực đàn hồi. SGK và giảI thích ý nghĩa của công thức
26.6.
- Phát biểu định nghĩa về thế năng đàn hồi,
nêu biểu thức - Yêu cầu HS khát quát, phát biểu thế năng
đàn hồi và đưa ra biểu thức tính.




Hoạt động 7 (…phút): Vận dụng, củng cố



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên
-Nêu định nghĩa và ý nghĩa của thế năng: a. - Nhận xét, đánh giá câu trả lời của HS. Phát
trọng trường; b. đàn hồi. biểu kết luận.

- Nhận xét câu trả lời của bạn




Hoạt động 8 (…phút):Hướng dẫn về nhà



Hoạt động của học sinh Sự trợ giúp của giáo viên



- Ghi câu hỏi và bài tập về nhà - Nêu câu hỏi và bài tập về nhà

- Những chuẩn bị cho bài sau. - Yêu cầu HS chuẩn bị bài sau.




IV. Giới thiệu một số tài liệu phục vụ GDMT




1. Công thức đơn giản tính công suất của nhà máy thu ỷ điện:

công xuất của một máy thủy điện được xác định bởi chiều cao của thác nước h, lưu lượng của

m mgh
dòng chảy trong một đơn vị thời gian : N = .
t
t
3.Tài liệu đọc thêm




Thuỷ điện và các vấn đề môi trường sinh thái

Sự phát điện của nhà máy điện cũng có thể ảnh hưởng đến môi trường của dũng sụng
bờn dưới. Thứ nhất, nước sau khi ra khỏi turbine thường chứa rất ít cặn lơ lửng, có thể gây ra
tỡnh trạng xối sạch lũng sụng và làm sạt lở bờ sụng. Thứ hai, vỡ cỏc turbine thường mở
không liên tục, có thể quan sát thấy sự thay đổi nhanh chóng và bất thường của dũng chảy.
Tại Grand Canyon, sự biến đổi dũng chảy theo chu kỳ của nú bị cho là nguyờn nhõn gõy nờn
tỡnh trạng súi mũn cồn cỏt ngầm. Lượng oxy hoà tan trong nước có thể thay đổi so với trước
đó. Cuối cùng, nước chảy ra từ turbine lạnh hơn nước trước khi chảy vào đập, điều này có
thể làm thay đổi số lượng cân bằng của hệ động vật, gồm cả việc gây hại tới một số lo ài. Các
hồ chứa của các nhà máy thu ỷ điện ở các vùng nhiệt đới có thể sản sinh ra một lượng lớn khí
methane và carbon dioxide. Điều này bởi vỡ cỏc xỏc thực vật mới bị lũ quột và cỏc vựng tỏi
bị lũ bị tràn ngập nước, mục nát trong một môi trường kỵ khí và tạo thành methane, một khí
gây hiệu ứng nhà kính mạnh. Methane bay vào khí quyển khí nước được xả từ đập để làm
quay turbine. Theo bản báo cáo của Uỷ ban Đập nước Thế giới (WCD), ở nơi nào đập nước
lớn so với công suất phát điện (ít hơn 100 watt trên mỗi km2 diện tích bề mặt) và không có
việc phá rừng trong vùng được tiến hành trước khi thi công đập nước, khí gas gây hiệu ứng
nhà kớnh phát ra từ đập có thể cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường. Ở các hồ
chứa phương bắc Canada và Bắc Âu, sự phát sinh khí nhà kính tiêu biểu chỉ là 2 đến 8% so
với bất kỳ một nhà máy nhiệt điện nào.

Một cái hại nữa của các đập thuỷ điện là việc tái định cư dân chúng sống trong vùng hồ
chứa. Trong nhiều trường hợp không một khoản bồi thường nào có thể bù đắp được sự gắn
bú của họ về tổ tiờn và văn hoá gắn liền với địa điểm đó vỡ chỳng cú giỏ trị tinh thần đối với
họ. Hơn nữa, về mặt lịch sử và văn hoá các địa điểm quan trọng có thể bị biến mất, như dự
án Đập Tam Hiệp ở Trung Quốc, đập Clyde ở New Zealand và đập Ilisu ở đông nam Thổ
Nhĩ Kỳ.Một số dự án thuỷ điện cũng sử dụng các kờnh, thường để đổi hướng dũng sông tới
độ dốc nhỏ hơn nhằm tăng áp suất có được. Trong một số trường hợp, toàn bộ dũng sụng cú
thể bị đổi hướng để trơ lại lũng sụng cạn. Những vớ dụ như vậy có thể thấy tại Sụng Tekapo
và Sụng Pukaki. Những người tới giải trí tại các hồ chứa nước hay vùng xả nước của nhà
máy thu ỷ điện có nguy cơ gặp nguy hiểm do sự thay đổi mức nước, và cần thận trọng với
hoạt động nhận nước và điều khiển đập tràn của nhà máy. Việc xây đập tại vị trí địa lý khụng
hợp lý cú thể gõy ra những thảm hoạ như vụ Đập Vajont tại í, gõy ra cỏi chết của 2001 người
năm 1963.




Canh tỏc ở vựng đất dốc
Ruộng bậc thang ở Sa Pa . (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia ).




Bài 60. Nguyên tăc hoạt động

của động cơ nhiệt và máy lạnh.

Nguyên lí II nhiệt động lực học

( Vật lí 10 nâng cao)
A. Mục tiêu:

1. Kiến thức

Biết được nguyên tăc hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh; hiểu về nguồn nóng,
-
nguồn lạnh, tác nhân cùng bộ phận phát động, sinh công hay nhận vào ở một số máy
thường gặp;

Hiểu được nguyên lí II NĐLH và chiều diễn biến của các quá trình trong tự nhiên, bổ
-
xung cho nguyên lí I NĐLH như thế nào. Phát biểu được nguyên lí II NĐLH;

GDMT: HS hiểu được các chất thải và tác nhân của động cơ nhiệt và máy lạnh gây ô
-
nhiễm môi trường.

2. Kĩ năng

Nhận biết và phân biệt được nguồn nóng, nguồn lạnh, tác nhân cùng bộ phận phat
-
động, sinh công ra hay nhận vào ở một số máy hay gặp trong thực tế;

GDMT: biết phân tích các tác động gây ô nhiễm môi trường từ các động cơ nhiệt và
-
máy làm lạnh, các biện pháp khác phục (tiếng ồn, hiệu ứng nhà kính, vai trò của cây
xanh…).

3. Thái độ

B. Chuẩn bị

1. Giáo viên

Một số hình vẽ trong SGK. Các tư liệu về ô nhiễm môi trường: ô nhiễm tiếng ồn, ô
-
nhiễm không khí, hiệu ứng nhà kính,..

Gợi ý ứng dung CNTT: Các loại động co nhiệt, máy lạnh .
-

Một số máy nhiệt trong thực tế.
-
2. Học sinh

Ôn lại các kiến thức về động cơ nhiệt ở lớp 8.
-

C. Sơ đồ xây dựng kiến thức

1. Động cơ nhiệt
Động cơ nhiệt


Hiệu suất
Nguyên
tắc hoạt A Q1 Q2
H 
động Q1 Q1

Khí thải gây
Nguồn nóng T1
ô nhiễm môi
trường
Sinh
Tác nhân công A


Nguồn lạnh T2




2. Máy lạnh
Máy lạnh


Nguyên tắc Hiệu năng
hoạt động Q2 Q2
 
A Q1  Q2


Nguồn nóng T1


Nhận
Tác nhân công
Môi chất lạnh
gây ô nhiễm
môi trường
Nguồn lạnh T2
d.Tổ chức các hoạt động dạy học

(Học viên nghiên cứu SGK và biên soạn)

E. Tư liệu GDMT




Hiệu ứng nhà kớnh

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Hiệu ứng nhà kớnh

Hiệu ứng nhà kớnh, xuất phỏt từ effet de serre trong tiếng Phỏp, do Jean Baptiste
Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của
tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở
lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian b ên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không
gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ đ ược chiếu sáng.Hiệu ứng này đó được sử
dụng từ lâu trong các nhà kính trồng cây. Ngoài ra hiệu ứng nhà kớnh cũn được sử dụng
trong kiến trúc, dùng năng lượng mặt trời một cách thụ động để tiết kiệm chất đốt sưởi ấm
nhà ở.

Hiệu ứng nhà kớnh khớ quyển

Các tia bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua bầu khí quyển đến mặt đất và được
phản xạ trở lại thành cỏc bức xạ nhiệt súng dài. Một số phõn tử trong bầu khớ quyển, trong
đó trước hết là điôxít cacbon và hơi nước, có thể hấp thụ những bức xạ nhiệt này và thông
qua đó giữ hơi ấm lại trong bầu khí quyển. Hàm lượng ngày nay của khí đioxit cacbon vào
khoảng 0,036% đó đủ để tăng nhiệt độ thêm khoảng 30 °C. Nếu không có hiệu ứng nhà kính
tự nhiên này nhiệt độ trái đất của chúng ta chỉ vào khoảng –15°C.
Có thể hiểu một cách sơ lược như sau : ta biết nhiệt độ trung bỡnh của bề mặt trỏi đất
được quyết định bởi cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và lượng bức xạ
nhiệt của mặt đất vào vũ trụ. Bức xạ nhiệt của mặt trời là bức xạ có sóng ngắn nên dễ dàng
xuyên qua tầng ozon và lớp khí CO2 để đi tới mặt đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ trái đất vào
vũ trụ là bước sóng dài, không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 dày và bị CO2 + hơi
nước trong khí quyên hấp thụ. Như vậy lượng nhiệt này làm cho nhiệt độ bầu khí quyển bao
quanh trái đất tăng lên. Lớp khí CO2 có tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa
ngược vào vũ trụ của trái đất trên quy mô toàn cầu. Bên cạnh CO2 cũn cú một số khớ khỏc
cũng được gọi chung là khí nhà kính như NOx, Metan, CFC.

Ở thời kỳ đầu tiên của lịch sử trái đất, các điều kiện tạo ra cuộc sống chỉ có thể xuất
hiện vỡ thành phần của điôxít cacbon trong bầu khí quyển nguyên thủy cao hơn, cân bằng lại
lượng bức xạ của mặt trời lúc đó yếu hơn đến khoảng 25%. Cường độ của các tia bức xạ tăng
lên với thời gian. Trong khi đó đó cú đủ cây cỏ trên Trái Đất, thụng qua sự quang hợp, lấy đi
một phần khí điôxít cacbon trong không khí tạo nên các điều kiện khí hậu tương đối ổn định

Khớ nhà kớnh

Khí nhà kính là những khí có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng d ài (hồng ngoại)
được phản xạ từ bề mặt trái đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán
nhiệt lại cho trái đất, gây nên hiệu ứng ấm. Các khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nước,
CO2, CH4, N2O, O3, các khí CFC.

T ỷ lệ phần trăm các khí gây hiệu ứng nhà kính:

CO2: 50%



CFC: 20%



CH4: 16%



O3: 8%



N2O: 6%

T ỷ lệ phần trăm các hoạt động của loài người làm tăng nhiệt độ trái đất:

Sử dụng năng lượng:50%



Cụng nghiệp: 24%



Nụng nghiệp:13%



Phỏ rừng: 14%



Hiệu ứng nhà kớnh nhõn loại

Từ khoảng 100 năm nay con người tác động mạnh vào sự cân bằng nhạy cảm này
giữa hiệu ứng nhà kính tự nhiên và tia bức xạ của mặt trời. Sự thay đổi nồng độ của các khí
nhà kính trong vũng 100 năm lại đây (điôxít cacbon tăng 20%, mêtan tăng 90%) đó làm tăng
nhiệt độ lên 2°C.

Khụng nờn nhầm lẫn hiệu ứng nhà kớnh nhõn loại với việc làm tổn thất đến lớp khí
ụzụn ở tầng bỡnh lưu cũng do loài người gây ra.

Những ảnh hưởng có thể xảy ra do hiệu ứng nhà kính nhân loại

Phần lớn các nhà khoa học ủng hộ giả thuyết cho rằng việc tăng nồng độ các khớ nhà
kớnh do loài người gây ra, hiệu ứng nhà kính nhân loại, sẽ làm tăng nhiệt độ trên toàn cầu
(sự núng lờn của khớ hậu toàn cầu) và như vậy sẽ làm thay đổi khí hậu trong các thập kỷ và
thập niên kế đến.

Giả thuyết này bị phủ nhận bởi một số người gọi là nhà phê bỡnh khớ hậu mà con số
cỏc nhà khoa học trong họ đó giảm đi rừ rệt trong những năm vừa qua.

Sau đây là một số hậu quả liên đới với việc thay đổi khí hậu do hiệu ứng này có thể
gây ra:

- Các nguồn nước: Chất lượng và số lượng của nước uống, nước tưới tiêu, nước cho kỹ nghệ
và cho các máy phát điện, và sức khỏe của các loài thủy sản có thể bị ảnh hưởng nghiêm
trọng bởi sự thay đổi của các trận mưa rào và bởi sự tăng khí bốc hơi. Mưa tăng có thể gây
lụt lội thường xuyên hơn. Khí hậu thay đổi có thể làm đầy các lũng chảo nối với sụng ngũi
trờn thế giới.

- Cỏc tài nguyờn bờ biển: Chỉ tại riờng Hoa Kỳ, mực nước biển dự đoán tăng 50 cm vào năm
2100, có thể làm mất đi 5.000 dặm vuông đất khô ráo và 4.000 dặm vuông đất ướt.

- Sức khỏe: Số người chết vỡ núng cú thể tăng do nhiệt đ ộ cao trong những chu kỡ d ài hơn
trước. Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ có thể đẩy mạnh các bệnh truyền nhiễm.

- Nhiệt độ tăng lên làm tăng các quá trỡnh chuyển húa sinh học cũng như hóa học trong cơ
thể sống, gây nên sự mất cân bằng.

- Lâm nghiệp: Nhiệt độ cao hơn tạo điều kiện cho nạn cháy rừng dễ xảy ra hơn.

- Năng lượng và vận chuyển: Nhiệt độ ấm hơn tăng nhu cầu làm lạnh và giảm nhu cầu làm
nóng. Sẽ có ít sự hư hại do vận chuyển trong mùa đông hơn, nhưng vận chuyển đường thủy
có thể bị ảnh hưởng bởi số trận lụt tăng hay bởi sự giảm mực nước sông.

- Xa hơn nữa nếu nhiệt độ của quả đất đủ cao thỡ cú thể làm tan nhanh băng tuyết ở Bắc Cực
và Nam Cực và do đó mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến nạn hồng thủy.

Các nỗ lực hiện tại để giảm trừ Hiệu ứng nhà kính nhân loại

Một trong những cố gắng đầu tiên của nhân loại để giảm mức độ ấm dần do khí thải
kỹ nghệ là việc cỏc quốc gia đó tham gia bàn thảo và tỡm cỏch kớ kết một hiệp ước có tên là
Nghị định thư Kyoto. Tuy nhiên, hiệp ước này không được một số nước công nhận, trong đó
quan trọng nhất là M ỹ với lí do là hiệp định này có khả năng gây tổn hại cho sự phát triển
kinh tế của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, về phía nội bộ nước Mỹ và các nước tiên tiến khác, nhiều nỗ lực để giảm
khí độc mà chủ yếu thải ra từ xe máy nổ và các nhà máy kỹ nghệ đó được áp dụng khá mạnh
mẽ. Ở Hoa Kỳ, hầu hết các tiểu bang đều có luật bắt buộc các phương tiện giao thông dùng
động cơ nổ phải có giấy chứng nhận qua đ ược các thử nghiệm định kỡ về việc đạt tiêu chuẩn
nhả khói của hệ thống xe.
Sự suy giảm ụzụn (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)




Hỡnh chụp
lỗ thủng
ụzụn lớn
nhất ở Nam
Cực từ
trước đến
nay vào
tháng 9
năm 2000.




Sự suy giảm tầng ụzụn là hiện tượng giảm lượng ụzụn trong tầng bỡnh lưu. Từ năm
1979 cho đến năm 1990 lượng ôzôn trong tầng bỡnh lưu đó suy giảm vào khoảng 5%. Vỡ
lớp ụzụn ngăn cản phần lớn cỏc tia cực tớm có hại không cho xuyên qua bầu khí quyển Trái
đất, sự suy giảm ôzôn đang được quan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đó
trở thành một mối quan tõm toàn cầu, dẫn đến việc cụng nhận Nghị định thư Montreal hạn
chế và cuối cựng chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất cỏc hợp chất cỏcbon của clo
và flo (CFC - chlorofluorocacbons) cũng như các chất hóa học gây suy giảm tầng ôzôn khác
như tetraclorit cỏcbon, cỏc hợp chất của brụm (halon) và methylchloroform.

Sự suy giảm ôzôn thay đổi tùy theo vùng địa lý và tựy theo mựa. Lỗ thủng ụzụn dựng
để chỉ sự suy giảm ôzôn nhất thời hằng năm ở hai cực Trái đất, những nơi mà ôzôn bị suy
giảm vào mùa Xuân (cho đến 70% ở 25 triệu km2 của Nam Cực và cho đến 30% ở Bắc Cực)
và được tái tạo trở lại vào mùa hè. Nồng độ clo tăng cao trong tầng bỡnh lưu, xuất phát khi
các khí CFC và các khí khác do loài người sản xuất ra bị phân hủy, chính là nguyên nhân gây
ra sự suy giảm này.

Trong các thảo luận chính trị công khai "suy giảm tầng ôzôn" đồng nghĩa với lý
thuyết cho rằng xu hướng suy giảm ôzôn toàn cầu, được gây ra vỡ thải cỏc khớ CFC, sẽ tạo
điều kiện cho các bức xạ cực tím đến mặt đất nhiều hơn.

Cường độ gia tăng của các bức xạ cực tím đang đ ược nghi ngờ chính là nguyên nhân
gây ra nhiều hậu quả trong sinh học, thí dụ như gia tăng các khối u ỏc tớnh, tiờu hủy cỏc sinh
vật phự du trong tầng cú ỏnh sỏng của biển.

Tạo thành ụzụn

Ôzôn trong bầu khí quyển được tạo thành khi các tia cực tớm chạm phải cỏc phõn tử
ụxy (O2), chứa hai nguyên tử ôxy, tạo thành hai nguyên tử ôxy đơn, được gọi là ụxy nguyờn
tử. ễxy nguyờn tử kết hợp cựng với một phõn tử ụxy tạo thành ụzụn (O3). Phõn tử ụzụn cú
hoạt tớnh cao, khi bị tia cực tớm chạm phải, lại tỏch ra thành phõn tử ụxy và một ụxy
nguyờn tử, một quỏ trỡnh liờn tục gọi là chu kỳ ụxy-ụzụn.

Trước khi bắt đầu xu hướng suy giảm ôzôn, lượng ôzôn trong tầng bỡnh lưu được giử
ổn định nhờ vào cân bằng giữa tạo thành và phân hủy các phân tử ôzôn nhờ vào tia cực tím.

Phõn hủy ụzụn

ễzụn cú thể bị phỏ hủy bởi cỏc nguyờn tử clo, flo hay brụm trong bầu khí quyển. Các
nguyên tố này có trong một số hợp chất bền nhất định, đặc biệt là chlorofluorocacbon (CFC),
đi vào tầng bỡnh lưu và được giải phóng bởi các tia cực tím.

Quan trọng nhất là các nguyên tử clo được tạo thành như thế sẽ trở thành chất xúc tác
hủy diệt các phân tử ôzôn trong một chu kỳ khép kín. Trong chu kỳ này, một nguyên tử clo
tác dụng với phân tử ôzôn, lấy đi một nguyên tử ôxy (tạo thành ClO) và để lại một phân tử
ôxy bỡnh thường. Tiếp theo, một ôxy nguyên tử tự do sẽ lấy đi ôxy từ ClO và kết quả cuối
cùng là một phân tử ôxy và một nguyên tử clo, bắt đầu lại chu kỳ. Một nguyên tử clo đơn
độc sẽ phân hủy ôzôn mói mói nếu như không có các phản ứng khác mang nguyên tử clo ra
khỏi chu kỳ này bằng cách tạo nên các nguồn chứa khác như axớt clohydric và clo nitrat
(ClONO2).

Phản ứng của nguyên tử clo trong các nguồn chứa này thông thường chậm nhưng
được gia tăng khi có các đám mây tầng bỡnh lưu ở địa cực, xuất hiện trong mùa Đông ở
Nam Cực, dẫn đến chu kỳ tạo thành lỗ thủng ôzôn theo mùa.

Cỏc nguyờn nhõn của lỗ thủng ụzụn

Lỗ thủng ụzụn Nam Cực là phần của tầng bỡnh lưu Nam Cực mà mức độ ôzôn hiện
tại đó giảm xuống chỉ cũn 33% so với cỏc trị trước năm 1975. Lỗ thủng ôzôn xuất hiện vào
mùa xuân ở Nam Cực, từ tháng 9 cho đến đầu tháng 12, khi gió tây mạnh bắt đầu thổi tuần
hoàn trên lục địa và tạo thành bầu chứa khí quyển. Trong các "gió xoáy địa cực" này, hơn
50% ôzôn vùng phía dưới của tầng bỡnh lưu bị phân hủy trong mùa xuân.

Ánh sỏng mặt trời ở các vùng địa cực dao động nhiều hơn ở các nơi khác và trong ba
tháng mùa Đông hầu như là tối tăm không có bức xạ mặt trời. Nhiệt độ không khí ở vào
khoảng -80°C hay lạnh hơn gần như trong suốt mùa Đông đó tạo nờn cỏc đám mây ở tầng
bỡnh lưu trên địa cực. Các phần tử của những đám mây này bao gồm axít nitric hay nước
đóng băng tạo nên bề mặt cho các phản ứng hóa học gia tăng tốc độ phân hủy các phân tử
ôzôn.

Như đó giải thớch ở phần trờn, nguyờn nhõn chớnh của giảm sỳt ụzụn ở Nam Cực và
cỏc nơi khác là sự hiện diện của các khí gốc có chứa clo (trước nhất là các CFC và các hợp
chất clo với các bon liên quan) bị phân giải khi có tia cực tím tạo thành các nguyên tử clo trở
thành chất xúc tác phân hủy ôzôn. Sự giảm sút ôzôn do clo là chất xúc tác có thể xảy ra ở
trạng thái khí nhưng sẽ tăng đột ngột khi có sự hiện diện của các đám mây tầng bỡnh lưu trên
địa cực. Các quá trỡnh quang húa tham gia tuy phức tạp nhưng đó được tỡm hiểu tốt. Quan
sỏt chủ yếu là thụng thường phần lớn các clo trong tầng bính lưu ở trong cỏc "hợp chất chứa"
bền, chủ yếu là cỏc hydro clorua (HCl) và clo nitrat (ClONO2). Mặc dù vậy trong mùa Đông
và Xuân Nam Cực các phản ứng trên bề mặt của các phần tử mây chuyển hóa các hợp chất
chứa này trở lại thành các gốc tự do có hoạt tính cao, Cl và ClO. Các đám mây cũng có thể
lấy đi NO2 từ khí quyển bằng cách biến đổi chúng thành axít nitric, ngăn không cho ClO vừa
được tạo thành có thể bị biến đổi trở lại ClONO2. Ánh sáng cực tím gia tăng trong mùa xuân
tạo cho các hợp chất clo phản ứng hủy diệt trờn 17% ụzụn trong khi cỏc hợo chất brụm làm
giảm sỳt thờm 33%. Vai trũ của ỏnh sỏng mặt trời trong giảm sỳt ụzụn chớnh là lý do tại sao
giảm sỳt ụzụn ở Nam Cực lớn nhất vào mựa xuõn. Trong mựa Đông, mặc dù có nhiều mây
nhất, không có ánh sáng trên đ ịa cực để thúc đẩy các phản ứng hóa học. Phần lớn các ôzôn bị
phá hủy ở phía dưới của tầng bỡnh lưu đối ngược với việc giảm sút ôzôn ít hơn rất nhiều
thông qua các phản ứng thể khí đồng nhất xảy ra trước hết là ở phía trên của tầng bỡnh lưu.
Nhiệt độ sưởi ấm vào cuối Xuân phá vỡ các gió xoáy vào trung tuần tháng 12. Khi ấm lên,
không khí giàu ôzôn bay về các vĩ độ thấp, các đám mây tầng bỡnh lưu bị phá hủy, các quá
trỡnh làm giảm sỳt ụzụn ngưng lại và lỗ thủng ôzôn được hàn gắn trở lại.

Hậu quả của giảm sỳt ụzụn

Vỡ tầng ụzụn hấp thụ tia cực tớm từ mặt trời, giảm sỳt tầng ụzụn dự đoán sẽ tăng
cường độ tia cực tím ở bề mặt Trái Đất, có thể dẫn đến nhiều thiệt hại bao gồm cả gia tăng
bệnh ung thư da. Đấy là lý do dẫn đến Nghị định thư Montreal. Mặc dự cỏc giảm sỳt của
ụzụn ở tầng bỡnh lưu gắn liền với các CFC và có nhiều lý lẽ trờn lý thuyết để tin rằng giảm
sút ôzôn sẽ dẩn đến tăng tia cực tím trên bề mặt Trái Đất, chưa có nhiều quan sát trực tiếp
chứng minh liên hệ giữa giảm sút ôzôn và gia tăng tỷ lệ phát bệnh ung thư da ở con người.

Gia tăng tia cực tím vỡ lỗ thủng ụzụn

Mặc dầu chỉ là một thành phần nhỏ của khớ quyển, ụzụn cú vai trũ chớnh trong việc
hấp thụ phần lớn tia bức xạ cực tím. Lượng bức xạ cực tím xuyên qua lớp ôzôn giảm theo
hàm mũ với độ dầy đặc của lớp ôzôn. Do đó việc giảm ôzôn trong không khí đ ược dự đoán
sẽ cho phép tăng mức độ các tia cực tím ở gần mặt đất một cách đáng kể.

Việc tăng các bức xạ của tia cực tím trên bề mặt Trái Đất vỡ lỗ thủng ụzụn chỉ cú thể
suy ra một phần từ cỏc mụ hỡnh tớnh toỏn di chuyển nhưng chưa có thể tính toán từ các đo
lường trực tiếp vỡ thiếu cỏc dữ liệu lịch sử (thời kỳ trước lỗ thủng) đáng tinh cậy của tia cực
tím mặc dù có nhiều chương trỡnh mới đo lường quan sát tia cực tím trên bề mặt.
Bởi vỡ cũng chớnh những tia cực tớm chiếm vị trớ đầu tiên trong việc tạo thành ôzôn
trong lớp ôzôn ở tầng bỡnh lưu bằng ôxy, giảm bớt ôzôn ở tầng bỡnh lưu sẽ tạo ra xu hướng
gia tăng các quá trỡnh quang hóa sản xuất ôzôn ở tầng thấp hơn (tầng đối lưu).

Các tác động sinh học do tăng cường tia cực tím

Mối quan tâm chính của dư luận về lỗ thủng ôzôn là các tác động của ôzôn đến sức
khỏe con người. Khi lỗ thủng ôzôn trên Nam Cực tăng to đến mức bao phủ các phần phớa
nam của Úc và New Zealand, những người bảo vệ môi trường lo rằng các tia cực tím trên bề
mặt Trái Đất có thể gia tăng đáng kể.

Các tia bức xạ cực tím có năng lượng cao được hấp thụ bởi ôzôn được công nhận
chung là một yếu tố tham gia tạo thành các khối u ỏc tớnh (ung thư da). Thí dụ như theo một
nghiên cứu, tăng 10% các tia cực tím có năng lượng cao được liên kết với tăng 19% các khối
u ác tính ở đàn ông và 16% ở phụ nữ.

Cho đến nay thâm thủng ôzôn ở phần lớn các địa điểm tiêu biểu chỉ vào khoảng vài
phần trăm. Nếu sự thâm thủng ở mức độ cao đ ược quan sát thấy ở lỗ thủng ôzôn trở thành
chung cho toàn cầu, các tác động thực chất có thể sẽ tăng nhiều hơn nữa. Thí dụ như một
nghiên cứu mới đây đó phõn tớch cho thấy việc tiờu hủy rộng lớn các phiêu sinh vật 2 triệu
năm trước đây trùng khớp với một sao băng đến gần. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự hủy
diệt được gây ra bởi vỡ lớp ụzụn suy yếu đi trong thời gian này khi các bức xạ từ sao băng
tạo thành các ôxít của nitơ làm chất xúc tác phá hủy ôzôn (các phiêu sinh vật đặc biệt rất
nhạy đối với tác động của tia cực tím và rất quan trọng trong dây chuyền thức ăn d ưới biển.

Tăng cường bức xạ tia cực tím có thể cũng ảnh hưởng đến mùa màng. Sản lượng
nhiều loại cây trồng có tầm quan trọng về kinh tế như lúa phụ thuộc vào quỏ trỡnh cố định
nitơ của vi khuẩn lam cộng sinh ở rễ cõy. Mà vi khuẩn lam rất nhạy cảm với ánh sáng cực
tím và có thể bị chết khi hàm lượng tia cực tím gia tăng.

Bên cạnh các ảnh hưởng trực tiếp của bức xạ cực tím đối với sinh vật, gia tăng tia cực
tím trên bề mặt sẽ làm gia tăng lượng ôzôn ở tầng đối lưu. Ở mặt đất ôzôn thông thường
được công nhận là một yếu tố gây nguy hiểm đến sức khỏe vỡ ụzụn cú độc tính thể theo tính
chất ôxy hóa mạnh. Vào thời điểm này ôzôn trên mặt đất được tạo thành chủ yếu qua tác
dụng của bức xạ cực tím đối với các khí thải từ xe cộ.




Bài 22

dòng điện trong chất khí

( Vật lí 10 nâng cao)




I. Mục tiêu:

Kiến thức: Học sinh cần phải:

Phân biệt được sự dẫn điện tự lực và không tự lực trong chất khí.
-

Phân biệt được 3 quá trình dẫn điện tự lực trong chất khí: Phóng điện ẩn, hồ
-
quang điện và tia lửa điện.

Kỹ năng: Học sinh vận dụng được kiến thức vào các ứng dụng của quá trình phóng
điện trong chất khí.

Thái độ: Thận trọng trong quá trình sử dụng các dụng cụ ứng dụng trong thực tế,
mong muốn tìm hiểu cách phòng tránh tai nạn, bảo vệ môi trường. Có tinh thần hợp
tác trong nhóm, chú ý lắng nghe ý kiến người khác.




II. Chuẩn bị:
Giáo viên: Chuẩn bị thí nghiệm phóng điện trong chất khí, phóng tia lửa điện (nếu
có).

Học sinh: Ôn lại kiến thức cũ: Dòng điện trong các môi trường, quan hệ giữa mật độ
hạt tải điện và điện dẫn suất.




III. Sơ đồ lô gic hình thành kiến thức của bài “Dòng điện trong chất khí”
N hậ n
G
xét thực
tế ổ
điện,

dây dẫn
Bật đèn ga
Hai lá kim loại
kim quay
dần cụp lại



Nếu có hạt tải điện và điện trường chất khí dẫn
đ iệ n

Bản chất dòng điện trong chất khí:
dòng e và ion âm ngược chiều điện
trường, ion dương cùng chiều điện
trường

I C
Dòng điện trong
A
Quá trình dẫn chất khí có tuân
B
điện xảy ra như theo định luật
U
thế nào? Ôm không?
0




Quá trình dẫn điện không tự
Quá trình dẫn điện tự
lực lực

Các kiểu phóng Hiện tượng nhân
Cá số hạt tải điện
ch tạo điện tự lực



Hồ quang
Tia lửa
điện
điên

Ứng dụng Ứng dụng


GDMT: Hồ quang điện có lợi song
GDMT:
Giới thiệu ảnh hưởng của tia lửa điện cũng có hại với con người
tới cuộc sống con người và động vật.
Cách hạn chế tác hại
IV. Tiến trình dạy học:

1. Hoạt động 1: ổn định tổ chức lớp, kiểm tra bài cũ, đặt vấn đề vào bài mới.

Kiểm tra bài cũ




Sự trợ giúp của GV Hoạt động của HS



+ Muốn có dòng điện chạy qua một chất cần - Phải có hạt tải điện và có độ chênh lệch
có điều kiện gì? điện thế



+ Hạt tải điện trong kim loại, chất bán dẫn, - Electron; electron với lỗ trống; electron
chân không là loại nào? phát ra từ ca tốt.




Không khí là môi trường quen thuộc với con người. Trong không khí ở điều kiện thường có
dòng điện đi qua không? Liệu có thể tạo ra đ ược dòng điện trong chất khí không? cơ chế
phát sinh dòng điện đó thế nào?

2. Hoạt động 2: Nghiên cứu quá trình dẫn điện trong chất khí

I.Chất khí là môi trường cách điện.
Sự trợ giúp của GV Hoạt động của HS



+ ở điều kiện bình thường chất khí có dẫn - Chất khí không dẫn điện. Nếu chất khí dẫn
điện không? làm thế nào để biết điều đó? điện thì mạch điện, ổ điện đã không an toàn
với con người.



+ Vì sao ở điều kiện thường chất khí không - Vì các phân tử chất khí đều ở trạng thái trung
dẫn điện? hòa về điện trong chất khí không có hạt tải
điện



Có thể làm cho chất khí dẫn điện không?




II. Sự dẫn điện của chất khí trong điều kiện thường




Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



+Liệu chất khí có phải tuyệt đối cách điện Tích điện cho điện nghiệm, quan sát
không? làm thế nào để biết điều đó? khoảng cách giữa hai lá điện nghiệm
 khoảng cách đó giảm dần theo
thời gian  Chất khí có dẫn điện



Có thể đo dòng điện trong chất khí không?
Hãy quan sát thí nghiệm
Đ




Đèn ga Đ, nguồn điện, ampe kế nhạy, tụ điện.




+ Hãy mô tả các dụng cụ và vai trò của nó
trong thí nghiệm?




+ Khi không đốt đèn ga, quan sát kim điện Kim không lệch  không có dòng điện qua
kế và cho nhận xét? chất khí



Kim quay  có dòng điện qua
+ Đốt đèn ga, cho nhận xét?



Đèn ga làm chất khí bị ion hóa  tạo ra các
+ Vì sao đốt đèn ga lại có dòng điện?
hạt tải điện trong chất khí.



+ Kéo đèn ra xa, quạt khí nóng vào giữa 1 Kim vẫn lệch vẫn có hạt tải điện
bản cực, hiện tượng thế nào?



Kim không quay  chất khí không dẫn điện
+ Tắt đèn ga hiện tượng ra sao?



+ Thay đèn ga bằng đèn thủy ngân, kết quả Khi chiếu đèn thủy ngân có dòng điện, tắt đèn
thế nào? kim không quay
Kết luận Ngọn lửa ga và bức xạ đèn thủy ngân làm tăng
mật độ hạt tải điện trong chất khí



Tại sao khi có ngọn lửa ga hay có bức xạ của đền thủy ngân thì có dòng điện trong chất khí?
Bản chất của dòng điện này là gì?




3.Hoạt động 3: Nghiên cứu bản chất của dòng điện trong chất khí

III. Bản chất dòng điện trong chất khí

1. Sự ion hóa chất khí và tác nhân ion hóa



Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



Hãy đọc SGK và cho biết các hạt Do có tác nhân ion hóa  e trong phân tử khí tách ra
mang điện trong chất khí xuất hiện thành e tự do, phân tử lúc đầu thành ion dương, e có
như thế nào? thể kết hợp với phân tử khác thành ion âm



Bản chất dòng điện trong chất khí là Là dòng chuyển rời có hướng của e, ion âm ngược
chiều điện trường; ion dương cùng chiều điện trường
gì?



Khi không có tác nhân ion hóa thì Các ion trao đổi điện tích cho nhau  chất khí trung
sao? hòa về điện
2. Quá trình dẫn điện không tự lực của chất khí




Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



I C
A
B
U
0
Hãy quan sát đồ thị biểu diễn liên hệ
giữa I và U




Đoạn 0A: I tăng khi U tăng

+ Hãy nhận xét sự phụ thuộc của I
Đoạn AB: I không tăng khi U vẫn tăng
vào U?

Đoạn BC: I tăng đột ngột khi U ≥ UB



Dòng điện trong chất khí không tuân theo định luật
+ Từ nhận xét trên hãy kết luận?
Ôm.



Tại sao ở đoạn BC trên đồ thị I có giá trị rất lớn?
3.Hiện tượng nhân số hạt tải điện trong chất khí trong quá trình dẫn điện không tự lực



Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



+ Thế nào là hiện tượng nhân số hạt HS đọc SGK  Là hiện tượng tăng số hạt tải điện
tải điện? trong môi trường do dòng điện chạy qua gây ra



+ Quá trình nhân số hạt tải điện diễn Khi U lớn, e chuyển động nhanh hơn va chạm với
ra như thế nào? phân tử khác tạo ra e mới và ion + làm tăng số hạt tải
điện kiểu tuyết lở.



+ Dòng điện trong mạch có liên
I phụ thuộc vào số hạt đầu
quan đến số hạt đầu không?



Dòng điện chưa chắc đã duy trì được nếu U không đủ
+ Hãy trả lời câu hỏi C4?
lớn.



Trong chất khí liệu có xảy ra quá trình dẫn điện tự lực hay không?




4.Hoạt động 4: Nghiên cứu quá trình dẫn điện tự lực trong chất khí



Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



+ Thế nào là quá trình dẫn điện Là quá trình dẫn điện xảy ra và duy trì mà ta không cần
tự lực chủ động tạo ra hạt tải điện.
+ Làm thế nào để thực hiện quá Phải có cách tạo ra hạt tải điện mà không phải phun vào
trình dẫn điện tự lực? chất khí.



Có những cách nào tạo ra được 1. Dòng điện qua chất khí làm nhiệt độ của khí tăng rất
quá trình dẫn điện tự lực? cao khiến phân tử bị ion hóa.

2. Điện trường trong chất khí rất lớn khiến phân tử khí bị
ion hóa ngay khi nhiệt độ thấp.

3. Ca tốt bị dòng điện nung nóng đỏ làm cho nó có khả
năng phát ra e (phát xạ nhiệt e)

4. Ca tốt không nóng đỏ nhưng bị các ion dương dập vào
làm bật ra các e.




5.Hoạt động 5: Nghiên cứu tia lửa điện

V. Tia lửa điện và điều kiện tạo ra tia lửa điện



Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



Là quá trình phóng điện tự lực khi điện trường đủ
+ Thế nào là tia lửa điện?
mạnh làm chất khí bị đánh thủng.



+ Hã y quan sát hiện tượng phóng tia Tia lửa rích rắc, tiếng nổ lách tách, mùi khét
lửa điện và mô tả hiện tượng?
(ôzôn )
+ Trong tự nhiên có tia lửa điện Sấm, sét khi có mưa giông, thường xảy ra giữa 2
không? nó xuất hiện khi nào? thường đám mây, giữa đám mây với chỗ cao hơn bình
ở chỗ nào? thường: ngọn cây, mô đất…



+ Tia lửa điện dùng làm gì? Dùng trong động cơ xăng để đốt cháy nhiên liệu.



+ Tia lửa điện có hại không? Làm thế Sét làm chết người đổ nhà…Dùng cột thu lôi. Khi
nào để tránh? có mưa không trú dưới gốc cây…




6. Hoạt động 6: Nghiên cứu sự phóng điện hồ quang và ứng dụng

VI. Hồ quang điện và điều kiện tạo ra hồ quang điện



Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



Là quá trình phóng điện tự lực trong chất khí ở áp suất
+ Thế nào là phóng điện hồ
thường hoặc áp suất thấp đặt giữa hai điện cực có hiệu
quang?
điện thế không lớn



U giữa hai cực không lớn nhưng dòng có tác dụng đốt
+ Muốn có hồ quang điện cần
nóng ca tốt làm e bật ra, nhiệt độ ca tốt lớn làm chất khí
phải làm thế nao?
bị đốt nóng  bị ion hóa trở nên dẫn điện.



+ Hãy quan sát thí nghiệm hồ
Có một cung lửa sáng chói nối từ ca tốt sang anốt, cực
quang điện (nếu có). Hãy mô tả
hiện tượng hồ quang điện? dương bị lõm.




+ Hồ quang điện dùng làm gì? Làm đèn chiếu sáng, nung chảy vật liệu, hàn điện.



Điện áp cỡ vài chục von, điện trở nội nhỏ  dòng cữ vài
trăm am pe. Một cực nối với vật cần hàn, cực còn lại là
que hàn. Đặt 2 vật tiếp xúc với nhau, nhấc que hàn ra 
dòng bị nối tắt  chỗ tiếp xúc bị đốt nóng làm chảy que
+ Hãy mô tả quá trình hàn điện?
hàn.

GDMT: ánh sáng hồ quang rất nguy hiểm cho mắt (khi
hàn cần mặt mạ),…




7.Hoạt động 7: Củng cố, hướng dẫn học ở nhà



Trợ giúp của GV Hoạt động của HS



Không tự lực: chỉ có dòng điện khi phun hạt tải điện vào chất
+ Hãy phân biệt sự phóng
khí.
điện tự lực và không tự lực?

Tự lực: dòng điện được duy trì không cần phun hạt tải điện
vào chất khí



Hồ quang điện: U không cần cao nhưng I lớn, áp suất khí
+ Hãy phân biệt 2 loại dẫn bình thường, e phát xạ nhiệt từ ca tốt bị nung nóng.
điện tự lực?
Tia điện: U rất cao, có sự đánh thủng




V. Tư liệu GDMT




Tia sột

Sột hay tia sột là hiện tượng phóng điện trong khớ quyển giữa các đám mây và đất
hay giữa các đám mây mang các điện tích khác dấu. Trong cơn mưa dụng do cú giú mạnh
xáo trộn các đám mây, làm cho các đám mõy tích điện. Khi hai đám mây tích điện trỏi dấu
lại gần nhau, hiệu điện thế giữa chúng có thể lên tới hàng triệu von. Giữa hai đám mây có
hiện tượng phóng tia lửa điện và ta trông thấy một tia chớp. Vài giây sau ta mới nghe thấy
tiếng nổ, đó là “sấm” (vận tốc ỏnh sỏng nhanh hơn vận tốc của tiếng động nên ta trông thấy
tia chớp trước). Nếu có đám mây dông tích điện đi gần mặt đất tới những khu vực trống trải,
gặp một vật có độ cao như cây cối, người cầm cuốc xẻng... thỡ sẽ cú hiện tượng phóng tia
lửa điện giữa đám mây và mặt đất. Đó là hiện tượng sét đánh.

Hậu quả do sét tác động lên con người

Sét có thể gây thương tích bằng những cách thức sau:

Sét đánh thẳng vào vị trí nạn nhân từ trên đám mõy xuống.

Khi nạn nhõn đứng cạnh vật bị sét đánh. Sét có thể phóng qua khoảng cách không khí


giữa người và vật. Trong trường hợp này gọi là sét đánh tạt ngang.

Sét đánh khi nạn nhân tiếp xúc với vật bị sét đánh.



Điện thế bước. Khi người tiếp xúc với mặt đất ở một vài điểm. Sét lan truyền trên


mặt đất.

Sét lan truyền qua đường dây cáp tới các vật như điện thoại, tivi (vụ tuyến), ổ cắm.



Theo thống kờ thỡ sột đánh thẳng là nguy hiểm nhất, cứ 10 người bị sét đánh thẳng thỡ 8
người chết. Sét đánh tiếp xúc hay tạt ngang cũng rất nguy hiểm. Khi sét đánh xuống cây, thỡ
1 tia sột cú thể giết chết ngay vài người xung quanh. Độ nguy hiểm phụ thuộc vào bản chất
của vật bị sét đánh và vị trí tương đối với nạn nhân. Thương vong do điện thế bước nhẹ hơn.
Trong một số trường hợp năng lượng tia sét không tiêu tán ngay tại chỗ mà truyền theo mặt
đất và khi nạn nhân đứng trên đường truyền đó có thể bị liệt. Trong một số trường hợp tồi tệ
nạn nhân sẽ bị vấn đề với việc đi lại sau này. Thường thị điện thế bước chỉ gây những hiệu
ứng tạm thời và ít khi để lại hậu quả sau này. Trong thực tế sét lan truyền xuất hiện khi nạn
nhân nói chuyện điện thoại, cầm vào các dây cáp, dây anten dẫn từ ngoài vào.

Theo thống kờ ở Hoa Kỳ, ngoài 40% nạn nhân bị sét đánh không đ ược biết rừ nguyờn
nhõn, 27 % là khi họ đang ở khu vực trống trải, 19% ở gần cây, 8% đang b ơi hay ở khu vực
gần nước, 3% khi đúng gần máy móc, 2,4% khi đang nói điện thoại, 0 .7% liên quan đến đài,
tivi, anten...

Các biện pháp chống sét bảo vệ con người

Vỡ sột là hiện tượng ngẫu nhiên cho nên không có vị trí an toàn tuyệt đối. Tuy nhiên việc
chủ động đề phũng trỏnh sột tỡm nơi an toàn hơn có thể làm giảm đáng kể khả năng bị sét
đánh. Cần phải hướng dẫn giáo dục phũng chống sột an to àn cho con người.

Lên kế hoạch trước



Nghe dự báo thời tiết. Khi nghe bản tin dự báo thời tiết lên kế hoạch làm việc để đề
phũng. Khi làm ở khu vực nào đó, để ý trước các nơi có thể trú mưa và tránh sét an toàn.
Phải tính được thời gian từ chỗ làm việc đến nơi an toàn. Thường thỡ cơn dông kéo đến rất
nhanh trong vũng 15 phỳt và di chuyển với vận tốc 40km/giờ. Núi chung khi đang ở nơi
không an toàn thỡ cần phải để ý đến các dấu hiệu của dông như mây đen, không khí lạnh, gió

 Thực hiện quy tắc nhỡn-nghe:

Khi sét xảy ra, thoạt tiên ta thấy tia chớp loé lên và sau đó là có tiếng sấm kèm theo. Nếu
bạn tính khoảng thời gian từ lúc tia chớp loé lên và lúc nghe thấy tiếng sấm thỡ có thể xác
định được khoảng cách tới nơi sét xảy ra. Chia số giây cho 3 ta được khoảng cách đến tia sét.
Ví dụ đếm được 3 giây thỡ sột cỏch vị trớ đứng là 3/3= 1km. Nên nhớ rằng nếu như khoảng
thời gian bạn đếm được từ khi thấy chớp và nghe tiếng sấm nhỏ hơn 30 giõy, thỡ bạn đó nằm
trong tầm ngắm của tia sột rồi và phải cẩn thận. Nếu thời gian này nhỏ hơn 20 giây thỡ phải
di chuyển đến nơi an toàn hơn. Khi nghe thấy tiếng sấm đầu tiên bất kể là gỡ cũng cần phải
thấy nguy hiểm đó đến. Sét có thể đánh cách xa nơi có mưa tới 15-20km.

Trỏnh sột trong nhà



Khi trời sắp xảy ra dụng, thỡ biện phỏp trỏnh sột tốt nhất là nờn về nhà. Chỗ an toàn để
tránh sét là toà nhà, hay công sở có lắp đặt hệ thống chống sét (đ ơn giản nhất là cột thu lôi
Franklin).. Khi ở trong nhà thỡ nờn đứng xa cửa sổ, cửa ra vào, các đồ dùng điện, tránh các
chỗ ẩm ướt như buồng tắm, bể nước, vũi nước, không nên dùng điện thoại trừ trường hợp rất
cần thiết. Nên rút phích cắp các thiết bị điện trước lúc có dông gần xảy ra. Với các đ ường
dây điện thoại hay dây điện vỡ nối với lưới bên ngoài nên rất có thể bị ảnh hưởng sét đánh
lan truyền. Nên tránh xa các dây này và các vật dùng điện với khoảng cách ít nhất là 1m. Vô
tuyên nối với dây anten để ngoài trời cũng rất cần rút ra khi có dông.

Tránh sét đánh ngoài trời



Trong trường hợp không kịp chạy tỡm nơi ẩn náu an toàn, tuyệt đối không dùng cây cối
làm chỗ trú mưa, tránh các khu vực cao hơn xung quanh, tránh xa các vật dụng kim loại như
xe đạp, máy, hàng rào sắt...Tỡm chỗ khụ rỏo, nếu xung quanh cú cõy cao hơn thỡ nờn tỡm
chỗ thấp, tỡm vị trớ cõy thấp.Người ở vị trí càng thấp càng tốt, tay ôm cổ. Phần tiếp xúc của
người với mặt đất là ít nhất. Nhón chân, không được nằm xuống đất.Đứng xa các vật cao, ra
ngay khỏi những nơi chứa nước như bói biển, ao, hồ, mương. Các vùng đỉnh núi ha y sườn
núi nhô cao cũng rất nguy hiểm. Nếu ở trong rừng thỡ tỡm những nơi cây thấp hơn và thưa
để tránh.Không đứng thành nhóm người gần nhau. Nếu như bạn cảm thấy tóc bị dựng lên
(như cảm giác điện khi sờ tay trước mặt tivi) thỡ điều đó có nghĩa là có thể bị sét đánh bất cứ
lúc nào. Lập tức cúi ngồi xuống và lấy tay che tai, không nằm xuống đất hay đặt tay lên
đất.Đối với các vật có bề mặt kim loại như xe buýt, tàu hoả, ụ tụ, ...nếu khụng thũ người ra
ngoài và không chạm đến vỏ bọc thỡ ở những chỗ này là an toàn. Ngược lại đối vơi các ô tô,
tàu thu ỷ để hở hay không có vỏ bọc kim loại thỡ lại nguy hiểm. Sau khi nghe thấy tiếng sột
30 phỳt thỡ cú thể trở lại làm việc bỡnh thường.

Một số thống kờ

Thống kê tại Việt Nam về các vụ sét đánh chết người trong vài ngà y đầu mùa mưa giông
2006 và giữa tháng cuối 6 năm 2007:

Khoảng 12 giờ ngày 26 thỏng 3, mưa giông kèm sét đánh chết hai anh em ruột người


Cơ tu đang tỉa lúa trên rẫy, tại địa bàn thôn A Dinh 2 (thị trấn P’Rao, Đông Giang,
Quảng Nam).

Khoảng 18 giờ ngày 9 thỏng 6, sét đánh chết năm người ở bốn xó thuộc huyện Ân


Thi (Hưng Yên). Nạn nhân là ba trẻ em, hai phụ nữ đi chăn bũ và gặt lỳa.

Cũng khoảng giờ này cùng ngày, sét đánh chết hai bà cháu đang gặt lúa ở cánh đồng


Trong Chuôm (thôn Yên Ngô, An Bỡnh, Thuận Thành, Bắc Ninh).

Trước đó, khoảng 16 giờ cùng ngày, sét đánh chết một khách du lịch Thùy Vân (TP


Vũng Tàu).

L ỳc 7 giờ 20 sỏng ngày 1 thỏng 7, tại cánh đồng hai xó Hồng Minh và Minh Húa


(Hưng Hà, Thỏi Bỡnh), sét đánh chết hai người và làm bị thương năm người đều
đang làm đồng.

Hồi 7 giờ 45 sỏng ngày 2 thỏng 7 , mưa kèm sấm sét đánh chết hai người và làm bị


thương ba người cánh đồng thôn Văn (xó Song Lóng, Vũ Thư, Thỏi Bỡnh).
Cấp cứu người bị sét đánh:


Ngoài làm chỏy, bỏng, sột gõy tỏc hại hệ thần
kinh, góy xương, mất thính giác, thị giác, hay trí
nhớ. Người bị sét đánh cần được cứu trợ ngay
tức khắc. Nếu người bị sét đánh bị ngất (tim
ngừng đập, tắt thở) phải thực hiện khẩn cấp các
động tác hô hấp, trợ tim nhân tạo. Tỡm những
nơi bị góy, đặc biệt cẩn thận không di dời những
nạn nhõn nếu nghi ngờ bị góy cột sống. Để
những nơi bị bỏng khô và tỡm cỏch nhanh nhất
để nhân viên y tế đến.

Khụng nờn làm gỡ:


Sột chẻ một cõy tại
Đứng gần vật cao, gần nước, gần cây, gần xe cộ,
gần nhà, tại các nơi cánh đồng trống trải, anten,
cột cao, gần những đường dây dẫn.

Nờn làm gỡ:


1.Nhỡn dấu hiệu bỏo dụng (mõy đen, gió
lạnh...),

2. Nghe dự báo thời tiết khi có ý định đi ra
ngoài.

3. Hạ thấp vị trí để hai chân chụm. Không nằm
trên đất.

4. Đi vào nhà lớn hay vào xe cộ có mái kim loại
(nhớ là không được động tay lên vỏ kim loại).

5. Biết trước nơi an toàn gần nhất và thời gian
đi tới đó.
Ảnh tia sét đánh vào
thỏp Eiffel năm 1902
Bản đồ mật độ sét thế giới theo vùng

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)




BàI 72-73: phản ứng hạt nhân

(Vật lí 12 SGK thí điểm, ban khoa học tự nhiên)

I. Mục tiêu.

1. Kiến thức:

- Vận dụng được các định luật bảo toàn vào hiện tượng phóng xạ, phát biểu được qui
tắc dịch chuyển.

- Biết cách xác định hạt nhân con khi biết phân rã của hạt nhân mẹ.
- Nắm được năng lượng trong phản ứng hạt nhân và dạng của năng lượng ấy.

2. Kĩ năng: vận dụng kiến thức trước vào bài học, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích;
Vận dụng kiến thức khoa học vào kĩ thuật, đời sống, bảo vệ môi trường.

3. Thái độ: Nghiêm túc, thận trọng trong nghiên cứu; Giáo dục kĩ thuật tổng hợp, lòng say
mê, yêu thích môn học; Trách nhiệm bảo vệ môi trường.

II. Chuẩn bị cho bài giảng.

1. Giáo viên: Bảng hệ thống tuần hoàn, phiếu học tập.

2. Học sinh:

- Ôn lại: Cấu tạo nguyên tử, hiện tượng phóng xạ, phản ứng hạt nhân và các
định luật bảo toàn

- Mang theo bảng hệ thống tuần hoàn

III. Tiến trình dạy học

1. Kiến thức:

- Các qui tắc dịch chuyển trong sự phóng xạ

- Năng lượng trong phản ứng hạt nhân.

2. Sơ đồ lô gíc xây dựng kiến thức.




sơ đồ logic xây dựng đơn vị kiến thức:

4. năng lượng trong phản ứng hạt nhân
- Trong phản ứng hạt nhân,
chuyển hóa năng lượng
diễn ra như thế nào?
- Có tận dụng được năng
lượng đó không?


A+BC+D
M0 = mA + mB
M = mC + mD



M < M0 M > M0
Phản ứng tự xảy ra và tỏa Phản ứng không tự xảy ra
ra năng lượng: Q = (M0 - cần phải cung cấp năng
M)C2 lượng:
Năng lượng đó có dạng W = (M0 - M)C2 + Ed
động năng của hạt C, D Năng lượng đó có dạng động
hoặc năng lượng của  năng của hạt A bằn phá B

Sử dụng năng lượng hạt nhân:
- SX điện năng
- Năng lượng nhiệt,…
- Tàu phá băng


M < M0 M > M0
Phản ứng hạt nhân tỏa Cần cung cấp cho các hạt tham gia
ra năng lượng gọi là phản ứng một năng lượng dạng
năng lượng hạt nhân động năng ban đầu của các hạt



GDMT: Năng lượng hạt nhân và bảo vệ môi
trường
2. Hoạt động dạy học

(Học viên nghiên cứu SGK và biên soạn)




IV. Tư liệu phục vụ GDMT

( Tư liêu này có thể sử dụng khi dạy các nội dung: Hiện tượng phóng xạ, đồng vị
phóng xạ và năng lượng hạt nhân)




Phúng xạ

Phúng xạ là hiện tượng một số hạt nhõn nguyờn tử không bền tự biến đổi và phát ra
các bức xạ hạt nhân (thường được gọi là các tia phúng xạ). Cỏc nguyờn tử cú tớnh phúng xạ
gọi là cỏc đồng vị phóng xạ, cũn cỏc nguyờn tử khụng phúng xạ gọi là cỏc đồng vị bền. Cỏc
nguyờn tố húa học chỉ gồm các đồng vị phóng xạ (không có đồng vị bền) gọi là nguyờn tố
phúng xạ.

Tia phúng xạ cú thể là chựm cỏc hạt mang điện dương như hạt anpha, hạt proton;
mang điện âm như chựm electron (phúng xạ beta); không mang điện như hạt nơtron, tia
gamma (có bản chất giống như ỏnh sỏng nhưng năng lượng lớn hơn nhiều). Sự tự biến đổi
như vậy của hạt nhân nguyên tử, thường được gọi là sự phõn ró phúng xạ hay phõn ró hạt
nhõn.

Sự phúng xạ tự nhiờn

Năm 1896, nhà vật lý người Phỏp Henri Becquerel và sau đó là ông bà Pierre Curie và
Marie Curie phát hiện ra rằng các hợp chất của uranium có khả năng tự phỏt ra những tia
khụng khụng nhỡn thấy được, có thể xuyên qua những vật mà tia sáng thường không đi qua
được gọi là các tia phúng xạ. Dưới tác dụng của điện trường tia phúng xạ bị tỏch làm 3 tia:
Tia anpha lệch về phía cực âm của điện trường, gồm các hạt anpha mang điện tích


dương (gấp 2 lần điện tích của proton), cú khối lượng bằng khối lượng của nguyên tử
heli.

Tia beta lệch về phía cực dương của điện trường gồm cỏc hạt electron.



Tia gamma không lệch về cực nào của điện trường, có bản chất như tia sáng.





Tia phúng xạ




Dũng tia alpha cú thể dễ dàng chặn lại bởi một tờ giấy; tia beta cần
miếng kim loại để chặn; cũn tia gamma cần một khối vật chất cú mật độ
dày đặc chặn lại.
Tia phúng xạ theo nghĩa gốc là cỏc dũng hạt chuyển động nhanh phóng ra từ các
chất phúng xạ (cỏc chất chứa cỏc hạt nhõn nguyờn tử không ở trạng thái cân bằng bền). Các
hạt phóng ra có thể chuyển động thành dũng định hướng.

Cú nhiều loại dũng hạt phỏt ra từ cỏc chất phúng xạ. Cụ thể:

Tia alpha: gồm cỏc hạt alpha cú điện tích gấp đôi điện tích proton, tốc độ của tia là khoảng
20.000 km/s.

Tia beta: gồm cỏc electron tự do, tương tự tia õm cực nhưng được phóng ra với vận tốc lớn
hơn nhiều, khoảng 100.000 km/s.

Tia gamma: là dũng cỏc hạt photon, không mang điện tích, có bản chất gần giống ỏnh sỏng
nhưng bước sóng nhỏ hơn, chuyển động với tốc độ ánh sỏng.

Dũng cỏc neutron không có điện tích.

Dũng cỏc hạt neutrino không có điện tích, chuyển động với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng
(phỏt ra cựng với cỏc hạt beta trong phõn ró beta).

Ngoài sự phõn ró tự nhiờn của cỏc chất phúng xạ, tia phúng xạ cũng cũn đ ược quan sát từ
các nguồn khác như các lũ phản ứng hạt nhõn, mỏy gia tốc hay va chạm của cỏc tia vũ trụ
trong khí quyển Trái Đất. Cỏc lũ phản ứng hạt nhõn cú thể tạo ra dũng hạt neutron mạnh.
Cỏc mỏy gia tốc cú thể sinh ra dũng cỏc hạt tổ hợp có khối lượng cao hơn. Cũn tia vũ trụ cú
thể sản sinh muon và meson. Thuật ngữ tia phúng xạ cũng có thể mở rộng, để bao gồm các
dũng hạt chuyển động nhanh phát ra từ các nguồn này.

Tương tác với vật chất

Cỏc hạt alpha cú thể dễ dàng chặn lại bởi một tờ giấy. Tia beta cần miếng kim loại để chặn.
Trong khi đó, dũng tia gamma có khả năng xuyên qua vật chất cao; cần một khối vật chất có
mật độ dày đặc chặn lại.

Cỏc hạt neutrino hầu như không tương tác với vật chất và cú thể xuyên qua tất cả và đi ra
ngoài vũ trụ.
nguy cơ từ những ngôi nhà kín

Báo Giáo dục & thời đại

Số 113, ngày 20 / 09/2003

Xã hội phát triển, dân số càng sinh sôi thì những ngôi nhà hình ống mọc lên ngày
càng nhiều. Và khi diện tích thu hẹp lại, hệ quả tất yếu là không gian càng trở nên ngột ngạt.
Cùng với nhiều vấn đề phát sinh từ cuộc sống hiện đại, nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là ung
thư phổi từ những ngôi nhà kín đã đến lúc cần cảnh báo.

Rađôn là một loại khí có tính phóng xạ tự nhiên, không màu, không mùi sinh ra từ sự phân rã
phóng xạ của uran, có ở hầu khắp mọi nơi trong không khí. Rađôn thoát qua các vết rạn và lỗ
trống rất nhỏ trên mặt đất rồi khuếch tán vào không khí, từ đó con người hít phải. Đó là hiện
tượng tự nhiên trong cuộc sống.

* Vì sao nhà kín nguy hiểm ?

Trong lượng chất phóng xạ mà con người nhận vào cơ thể thì 65% là phóng xạ tự nhiên,
trong đó khí rađôn chiếm tới 47%. Mặt khác, khi phân rã, rađôn phóng ra một lượng phóng
xạ dưới dạng các hạt alpha mà nếu cùng hít một lượng như nhau thì các hạt alpha sẽ gây tổn
thương về mặt sinh học gấp 20 lần các hạt khác (như hạt bêta, tia gama, tia X). Và như thế,
nếu nồng độ khí rađôn trong không khí càng cao và thời gian chúng ta hít thở bầu không khí
chứa rađôn càng dài thì nguy cơ bị ung thư phổi càng lớn. Cơ chế gây ra ung thư phổi là :
Khi chúng ta hít phải khí rađôn và các hạt nhân con của nó, một số phân rã phóng xạ sẽ xảy
ra ở trong phổi của chúng ta. Các hạt alpha đ ược sinh ra có thể gây tổn hại đến mô của phổi,
phá hu ỷ các DNA, tức làm biến đổi các gene sản xuất ra tế bảo phổi, từ đó dẫn đến ung thư
phổi.

Theo nghiên cứu của Ban an toàn bức xạ và Hạt nhân - Bộ Khoa học & Công nghệ, trong
những ngôi nhà kín, nồng độ khí rađôn cao gấp nhiều lần so với không khí ngo ài trời. Bình
10 Bq/m 3, nghĩa là nếu ta tập hợp một
thường, nồng độ rađôn trong không khí khoảng
trăm triệu triệu triệu (1020) phân tử không khí (khoảng một thìa càphê đầy) mới có thể tìm
thấy khoảng 10 nguyên tử rađôn trong đó. Còn trong nhà, nồng độ rađôn có thể từ 20 lên tới
10.000 Bq/m3, thậm chí còn cao hơn nữa do hiệu ứng "bẫy rađôn". Với những ngôi nhà
"hộp" xuất hiện ngày càng nhiều ở các đô thị như hiện nay, cộng thêm với việc sử dụng điều
hoà không khí trở nên phổ biến thì không khí trong các căn phòng càng khó lưu thông, đặc
biệt việc hút thuốc lá trong phòng kín là điều kiện để nồng độ rađôn tăng cao. Nồng độ khí
rađôn trong nhà cao còn do nhà được xây từ vật liệu lấy từ nguồn có chất phóng xạ, hoặc xây
trên nền đất có nguồn phóng xạ. Nhiều nước đã khuyến cáo rằng, nồng độ rađôn trung b ình
hàng năm trong một ngôi nhà không nên vượt quá 200 Bq/m3 (mức can thiệp).

* Có hay không nguy cơ từ khí rađôn ?

Tuy nhiên, nếu bình thường, nồng độ khí rađôn ở trong nhà chưa đủ để gây nguy cơ ung
thư phổi cho con người. Bởi nếu sống trong không khí có nồng độ rađôn khoảng 150 Bq/m3
trong một năm thì có khoảng 28 người chết vì ung thư phổi trên 1 triệu dân. Vậy nếu sống
trong một ngôi nhà có nồng độ rađôn khoảng 20Bq/m3 trong 1 năm, nguy cơ bị chết vì ung
thư phổi chỉ khoảng 4/1.000.000. Theo một cuộc điều tra do Ban an to àn bức xạ và hạt nhân
- Bộ Khoa học & Công nghệ và Trung tâm kỹ thuật An toàn bức xạ và Môi trường - Viện
khoa học kỹ thuật hạt nhân tiến hành với 300 nhà dân ở HN năm 1995, nồng độ khí rađôn
trong nhà trung bình kho ảng 27 Bq/m3, chỉ có 1- 2 nhà có nồng độ rađôn cao hơn mức bình
thường : khoảng 130-140 Bq/m3 do những ngôi nhà làm bằng gạch xỉ than. Một điều tra khác
do Cục Địa chất tiến hành cho thấy một số nơi ở nước ta có nồng độ rađôn cao bất thường
như ở thị trấn Triệu Phong - Đông Hà - Quảng Trị có nồng độ rađôn 171 -249 Bq/m3 do trong
vật liệu xây dựng có chứa phóng xạ cao ; nồng độ rađôn ở công ty khai thác khoáng sản
137-145 Bq/m3 do ở đây dùng đất thải của xưởng tuyển sa khoáng để
Thừa Thiên Huế là
đắp nền, một số nhà dân, quán nước khu vực bãi tắm Hội An có nồng độ rađôn khoảng 155
Bq/m3 do nền nhà dùng cát chứa sa khoáng có nhiều phóng xạ…

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hào Quang - Trung tâm kỹ thuật An toàn bức xạ và Môi
trường - Viện Khoa học kỹ thuật hạt nhân, nồng độ rađôn trong nhà ở các thành phố lớn hơn
trong những năm gần đây chắc chắn sẽ tăng lên đáng kể do sự xuất hiện ngày càng nhiều của
kiểu nhà hộp, kín cổng cao tường, xây trên diện tích chật hẹp, những ngôi nhà luôn luôn
đóng kín vì sử dụng điều hoà. Trong khi đó, Việt Nam hiện nay lại chưa hề chú ý đến nguy
cơ tiềm ẩn của khí rađôn.

Không chỉ có nguy cơ từ những ngôi nhà kín, không thông thoáng mà nguy cơ từ việc sử
dụng nguồn nước chưa qua xử lý cũng rất cao (trong khi ở vùng sâu, vùng xa nước ta, ở
những nơi thiếu nước sinh hoạt thì điều này rất dễ xảy ra) mà chỉ cần áp dụng cách xử lý đơn
giản nhất, lượng rađôn trong nước đã có thể giảm tới 90-95%. Đo nồng độ rađôn trong suối
nước khoáng ở Thanh Thuỷ (Phú Thọ) thấy nồng độ này trong nước lên tới 100.000-130.000
Bq/m3 ( thông thường nồng độ rađôn trong nguồn nước khoảng 4.000-5.000 Bq/m3). Tuy
vậy, khi đánh giá nguồn nước hiện chúng ta mới chỉ chú ý đến nồng độ rađium (đ ược coi là
"mẹ" của khí rađôn).

* làm thế nào để giảm nộng độ khí rađôn ?

Ông Đặng Thanh Lương - Ban An toàn bức xạ và hạt nhân - Bộ Khoa học và Công nghệ
cho biết: Hầu hết các ngôi nhà có nồng độ rađôn cao thì phần lớn lượng rađôn đều phát ra từ
nền nhà. Vì vậy một phương pháp để giảm mức rađôn trong nhà là tăng cường thông gió cho
không gian dưới nền nhà. Điều đó có thể thực hiện bằng cách mở rộng các ô thông gió trên
các bức tường, như thế sẽ cho phép sự dịch chuyển không khí tự nhiên được dễ dàng (trong
trường hợp các tường chịu lực thì phải tuân theo các qui phạm xây dựng thích hợp). Những
ngôi nhà được xây dựng trên các tấm sàn bêtông cần có nhiều cửa sổ thông gió, trong nhiều
trường hợp phải sử dụng thông gió cưỡng bức (cần biện pháp cải tạo riêng và phù hợp). Bên
cạnh đó, việc lựa chọn vật liệu xây dựng cũng rất quan trọng vì nếu sử dụng vật liệu xây
dựng (đất, đá, cát…) lấy từ nguồn có chất phóng xạ, không qua kiểm định thì nồng độ rađôn
trong nhà chắc chẵn sẽ rất cao. Đặc biệt nhà càng kín (như những ngôi nhà sử dụng điều hoà
không khí), lại thêm hút thuốc ở trong nhà thì nguy cơ bị ung thư phổi của những người sống
trong căn nhà đó sẽ tăng lên rõ rệt.

Sống trong một ngôi nhà gỗ hoặc một ngôi nhà được xây dựng trên các cột (nhà sàn)
được thông gió tốt, chúng ta sẽ không phải lo lắng về ảnh hưởng của khí rađôn đối với sức
khoẻ.
Nhà máy điện nguyên tử

Nhà máy điện nguyên tử hay nhà máy điện hạt nhân là một nhà mỏy tạo ra điện năng ở
quy mụ cụng nghiệp, sử dụng năng lượng thu được từ phản ứng hạt nhõn




Nhà máy điện nguyên tử ở Cattenom, Phỏp. Cỏc ống khúi đang nhả ra hơi nước
khụng phúng xạ từ thỏp làm nguội. Lũ phản ứng hạt nhõn được đặt trong các
ngôi nhà hỡnh ống trũn.
Các loại máy điện nguyên tử phổ biến hiện nay thực tế là nhà máy nhiệt điện, chuyển
tải nhiệt năng thu được từ phản ứng phõn hủy hạt nhõn thành điện năng. Đa số thực hiện
phản ứng dõy chuyền có điều khiển trong lũ phản ứng nguyờn tử phõn hủy hạt nhõn với
nguyên liệu ban đầu là đồng vị Uran 235 và sản phẩm thu được sau phản ứng thường là
Pluton, cỏc neutron và năng lượng nhiệt rất lớn. Nhiệt lượng này, theo hệ thống làm mát
khép kín (để tránh tia phúng xạ rũ rỉ ra ngoài) qua cỏc máy trao đổi nhiệt, đun sụi nước, tạo
ra hơi nước ở ỏp suất cao làm quay cỏc turbine hơi nước, và do đó quay máy phát điện, sinh
ra điện năng.

Khi quỏ trỡnh sản xuất vả xử lý chất thải được bảo đảm an toàn cao, nhà máy điện nguyên tử
sẽ có thể sản xuất năng lượng điện tương đối rẻ và sạch so với các nhà máy sản xuất điện
khác, đặc biệt nó có thể ít gây ô nhiễm môi trường hơ n các nhà máy nhiệt điện đốt than hay
khớ thiờn nhiờn.

Thảm họa Chernobyl

Thảm hoạ nguyờn tử Chernobyl xảy ra vào ngày 26 thỏng 4 năm 1986 khi nhà máy
điện nguyên tử Chernobyl ở Pripyat, Ukraina (khi ấy cũn là một phần của Liờn bang Xụ viết)
bị nổ. Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhõn trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân.
Do khụng cú tường chắn, đám mây bụi phúng xạ tung lờn từ nhà mỏy lan rộng ra nhiều vựng
phớa tõy Liờn bang Xụ viết, Đông và Tõy Âu, Scandinav, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ.
Nhiều vựng rộng lớn thuộc Ukraina, Belarus và Nga bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn tới việc
phải sơ tán và tái định cư cho hơn 336.000 người. Khoảng 60% đám mây phóng xạ đó rơi
xuống Belarus. Theo bản báo cáo năm 2006 của TORCH, một nửa lượng phóng xạ đó rơi
xuống bên ngoài lónh thổ ba nước cộng hoà Xô viết . Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ
lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima.

Vũ khớ hạt nhõn

Vũ khớ hạt nhõn (tiếng Anh: nuclear weapon) là loại vũ khớ hủy diệt hàng loạt mà
năng lượng của nú do cỏc phản ứng phõn hạch hoặc/và nhiệt hạch gây ra. Một vũ khí hạt
nhân nhỏ nhất cũng có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí quy ước nào. Vũ khí có sức công
phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố. Nếu sức
công phá là 100 triệu tấn (mặc dù hiện nay chưa thể thực hiện được) thỡ cú thể phỏ hủy một
vựng với bỏn kớnh 100 - 160 km. Cho đến nay, mới chỉ có hai quả bom hạt nhân được dùng
trong Đệ nhị thế chiến: quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6
tháng 8 năm 1945 cú tờn là Little Boy và được làm từ uranium; quả sau cú tờn là Fat Man và
được ném xuống Nagasaki, cũng ở Nhật Bản ba ngày sau đó, được làm từ plutonium.

Hơn hai ngàn vụ nổ hạt nhõn sau đó là do việc thử nghiệm hạt nhõn, chủ yếu là do các quốc
gia sau đây thực hiện: Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan




Đám mây hỡnh nấm do quả bom nguyờn tử nộm xuống Nagasaki,
Nhật Bản vào năm 1945 cao đến 18 km..
Các nước hiện nay công bố có vũ khí hạt nhõn là Hoa K ỳ, Nga, Phỏp, Anh, Trung
Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Thêm vào đó, Israel có nhiều dấu hiệu chứng tỏ sở hữu bom hạt
nhân mặc dù chưa bao giờ chính thức thừa nhận. Gần đây, CHDCND Triều Tiờn cũng công
bố đó chế tạo được vũ khí hạt nhân. Ukraina cũng cú thể sở hữu một quả bom hạt nhõn cũ từ
thời Liờn Xụ do sai lầm của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Việc phi quõn sự húa năng lượng
hạt nhân đó được đề xuất cho rất nhiều các ứng dụng dân sự.

Ảnh hưởng của vụ nổ hạt nhân

Năng lượng từ vụ nổ vũ khí hạt nhân thoát ra ở bốn loại sau đây:

Áp lực — 40-60% tổng năng lượng

Bức xạ nhiệt — 30-50% tổng năng lượng

Bức xạ ion — 5% tổng năng lượng

Bức xạ dư (bụi phóng xạ) — 5-10% tổng năng lượng

Năng lượng được giải thoát bởi vụ nổ bom hạt nhân đ ược đo bằng kiloton hoặc
megaton - tương đương với hàng ngàn và hàng triệu tấn thuốc nổ TNT (tri-nitro-toluen). Vũ
khí phân hạch đầu tiên có sức công phá đo được là vài ngàn kiloton, trong khi vụ nổ bom
khinh khí lớn nhất đo được là 10 megaton. Trên thực tế vũ khí hạt nhân có thể tạo ra các sức
công phá khác nhau, từ nhỏ hơn một kiloton ở các vũ khí hạt nhân cầm tay như Davy
Crockett của Hoa K ỳ cho đến 54 megaton như Bom Sa hoàng (Tsar-Bomba) của Liờn Xụ (
vào ngày 30/10/1961 ).

Hiệu ứng quan trọng nhất của vũ khí hạt nhân là áp lực và bức xạ nhiệt có cơ chế phá
hủy giống như các vũ khí quy ước. Sự khác biệt cơ bản là vũ khí hạt nhân có thể giải thoát
một lượng lớn năng lượng tại một thời điểm. Tàn phá chủ yếu của bom hạt nhân không liên
quan trực tiếp đến quá trỡnh hạt nhõn giải thoỏt năng lượng mà liên quan đến sức mạnh của
vụ nổ.
Mức độ tàn phá của ba loại năng lượng đầu tiên khác nhau tùy theo kích thước của bom. Bức
xạ nhiệt suy giảm theo khoảng cách chậm nhất, do đó, bom càng lớn thỡ hiệu ứng phỏ hủy
do nhiệt càng mạnh. Bức xạ ion bị suy giảm nhanh chúng trong khụng khớ, nờn nú chỉ nguy
hiểm đối với các vũ khí hạt nhân hạng nhẹ. Áp lực suy giảm nhanh hơn bức xạ nhiệt nhưng
chậm hơn bức xạ ion

(Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )




IV.- hướng dẫn thực hành, ngoại khoá tích hợp

nội dung GDMT trong dạy học vật lí ở THPT




Bài 1

Tổ chức ngoại khoá sau chương VII

Chất rắn và Chất lỏng. Sự chuyển thể




I. Mục đích:

1. Kiến thức:

- Nắm vững hơn kiến thức đã học trong hai chương: Chất lỏng- Hơi khô và hơi bão
hoà: Đặc điểm chất lỏng, hiện tượng mao dẫn, độ ẩm của không khí.

- ảnh hưởng của những yếu tố trên đối với cuộc sống con người và mọi sinh vật khác.
- Hoạt động của con người ảnh hưởng tích cực, tiêu cực tới môi trường xung quanh ta
như thế nào.

2. Kỹ năng :

- Rèn luyện khả năng quan sát các hiện tượng liên quan đến các vấn đề trên.

- Khả năng phân tích, tổng hợp để thấy đ ược những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của con
người tới môi trường xung quanh.

3. Thái độ:

- Thấy rõ trách nhiệm của bản thân nhằm góp phần ngăn chặn những tác động xấu đến môi
trường, giữ gìn và bảo vệ môi trường sống lành mạnh và tươi đẹp.

4. Hành vi :

Từ những hiểu biết trên, từ ý thức trách nhiệm của bản thân có những cách cư xử, những hành
động và việc làm thiết thực để góp phần giữ gìn và bảo vệ môi trường sống lành mạnh.




II. Phương pháp

- Toạ đàm, đối thoại trực tiếp giữa thầy (cô) giáo với học sinh, học sinh với học sinh.

III. Chuẩn bị

- Các tờ rơi với những thông tin cần thiết về tác dụng của nước sạch đối với cuộc
sống sinh vật và tình trạng ô nhiễm nguồn nước; Tác dụng của rừng và diện tích rừng bị chặt
phá ở Việt Nam cũng như ở địa phương nơi trường đóng; Độ ẩm của không khí.

- Phiếu yêu cầu học sinh tự trả lời ngắn gọn sau khi tham gia thảo luận.
- Chia lớp thành 3 nhóm để các em trình bày ý kiến về ba vấn đề:

* Vai trò của nước đối với sự sống và tình trạng ô nhiễm nước hiện nay? Biện
pháp khắc phục.

*Vai trò của rừng, thực trạng về việc bảo vệ rừng ở địa phương em.

*Những hiểu biết về độ ẩm không khí.

- Mỗi nhóm chuẩn bị các câu hỏi để hỏi lẫn nhau.




IV. Tổng quan về hoạt động:

1. Giáo viên giới thiệu mở đầu:

Hiện trạng môi trường sống của chúng ta hiện nay: chúng ta đang sống trong một
môi trường ngày càng bị ô nhiễm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống hàng ngày của
chúng ta cũng như các thế hệ tương lai sau này. Vậy vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay là rất
quan trọng nó là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người. Đặc biệt là học sinh chúng ta được
trang bị các kiến thức khoa học, do vậy các em cần phải suy nghĩ vận dụng những kiến thức
đã học vào làm các công việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

2. Hoạt động của học sinh:

* GV gọi nhóm 1 đọc vấn đề về thực trạng nước hiện nay và đặt câu hỏi cho cả lớp
( có hình minh hoạ).

- Hãy nêu biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm nước ở địa phương em?

HS - Tuyên truyền để mọi người có hành động bảo vệ nguồn nước: không đổ chất thải ra
sông, suối, đánh bắt cá bằng thuốc nổ, bao b ì thuốc trừ sâu phải để đúng nơi quy định, hạn
chế tối đa việc dùng hoá chất độc hại, sử dụng nguồn nước ở vùng núi, máng nước cần làm
như thế nào để đảm bảo vệ sinh...
- Cần xây dựng các nhà máy nước sạch, ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để triển khai
các dự án cung cấp nước sạch cho vùng nông thôn, miền núi...

- Tích cực hoạt động dọn vệ sinh tập thể...

* GV gọi nhóm 2 trình bày vai trò của rừng trong cuộc sống và đặt các câu hỏi.

- Tác dụng của rừng đối với đời sống con người?

+ Rừng là nơi có rất nhiều cây cối, chim, thú...Những tán cây xanh khổng lồ
bao phủ mặt đất tránh ánh nắng Mặt trời trực tiếp dọi vào đất. Do đó làm giảm sự thoát hơi
nước để giữ nước và độ ẩm cho đất, tránh hạn hán.

+ Rễ cây rừng bám vào đất, giữ đất không bị xói mòn rửa trôi, làm tăng lượng
màu mỡ của đất khi lá cây rụng xuống.

+ Nhờ có cây cối làm cản sức tàn phá của dòng nước, lũ quét, lụt lội hàng
năm.

+ Rừng là lá phổi xanh điều hoà khí hậu Trái đất,cung cấp lượng oxi khổng lồ
cho Trái đất...

+ Làm nguyên liệu trong các ngành sản xuất công nghiệp phục vụ cuộc sống,
cung cấp chất đốt...

- Tại sao rễ cây, thân cây lại hút được nước giúp cây sinh trưởng và phát triển?

HS: Nước rất cần cho cây cối. Cây cối sinh trưởng và phát triển được là do cấu tạo đặc biệt
của rễ cây,thân cây. Chúng được cấu tạo bởi hệ thống các ống dẫn có đ ường kính rất nhỏ ở
rễ cây và thân cây. Đó là hiện tượng mao dẫn, nhờ hiện tượng này mà cây được cung cấp
chất lỏng: nước, muối khoáng và các chất hữu cơ khác để nó có thể sinh trưởng và phát triển
được.

Tại sao chỗ có nhiều giun đất thì cây cối xanh tốt và ngược lại ?
-
HS: Giun đất là loài sinh vật có ích và ở nơi đất ẩm. Chúng di chuyển trong đất làm cho đất
tơi xốp nhờ đó rễ cây dễ d àng bám sâu vào đất để hút nước qua ống rất nhỏ để phát triển
xanh tốt. Còn những chỗ đất cằn, đất khô thì ít giun, cây không có đủ chất dinh dưỡng nên
không xanh tốt.

- Khi trồng những cây lâu năm tại sao người ta hay trồng xen những cây thấp trên
mặt đất?

HS: Người ta trồng xen những cây thấp trên mặt đất để phủ xanh mặt đất nhanh. hạn chế sự
bay hơi nước, giữ độ ẩm cho đất, tránh không bị xói mòn và rửa trôi bởi nước mưa (VD:
Rừng cà phê hay trồng cỏ).

- Hiện trạng rừng hiện na y trên Trái đất và cụ thể hơn ở địa phương em?

+ Rừng bị tàn phá nặng nề, diện tích ngày càng thu hẹp, diện tích rừng
HS:

được trồng bù lại quá ít, chất lượng cây rừng không được tốt. Ví dụ ở Việt Nam :

Năm 1943 có 21 triệu người, 14 triệu ha rừng, che phủ 43,7% mặt đất.

Năm 1975 có 47 triệu người, 9,5 triệu ha rừng, che phủ 29,1% mặt đất.

Năm 1993 có 72 triệu người, 8,6 triệu ha rừng, che phủ 27,7% mặt đất.

Tỉnh Lai Châu trước đây diện tích rừng là 94% , nay chỉ còn khoảng 8%.

- Hậu quả của việc phá rừng?

+ Gây ra lũ lụt, xói mòn đất đai.

+ Tăng nhiệt độ Trái đất, gây hiệu ứng nhà kính.

+ Giảm lượng nước ngầm trên Trái đất.

- Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay cần phải làm gì để bảo vệ rừng?
+ Có ý thức bảo vệ rừng.

+ Tham gia các phong trào trồng cây xanh.

+ Tuyên truyền cho mọi người biết về tác dụng của cây xanh nói chung hay rừng nói
riêng đối với cuộc sống con người.

* GV gọi nhóm3 trình bày vấn đề của mình và đặt câu hỏi.

- GV: Nước ta là một nước miền nhiệt đới, sự thay đổi độ ẩm trong không khí rất dễ nhận
thấy. Vào những ngày ẩm độ ẩm lên tới 80% có lúc tới 90%. Những ngày khô, nắng độ ẩm
có thể dưới 70%. Vậy độ ẩm tương đối có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người như thế nào ?

- Tác dụng của độ ẩm không khí đối với con người và sinh vật.

+ Tạo điều kiện sống để con người tồn tại và phát triển.

+ Độ ẩm phù hợp sẽ là điều kiện thuận lợi để các loài sinh vật sinh sôi phát triển. +
Độ ẩm thích hợp và ổn định sẽ ít gây ra những tác động xấu đến sức khoẻ của con người
như: bệnh hô hấp, huyết áp...

- Hiện trạng độ ẩm không khí hiện nay:

+ Hiện nay độ ẩm không khí có sự biến đổi lớn theo thời gian trong ngày cũng như
theo mùa.

+ Độ ẩm không khí có xu hướng ngày càng giảm xuống do hiện tượng hiệu ứng nhà
kính.

- Hậu quả của việc thay đổi độ ẩm không khí:

+ ảnh hưởng tới sức khoẻ con người dễ gây ra các bệnh về đường hô hấp, tim mạch.

+ Điều kiện sống khắc nghiệt gây ra những xáo động lớn về môi tr ường. Thảm hoạ
về môi trường.
- Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay:

+ Tự ý thức bảo vệ sức khoẻ, tránh các tác động xấu của môi trường.

+ Duy trì nhịp sống điều hoà, chọn nơi ở thoáng mát, thông gió, tránh ở nhà kín trong
thời gian dài.

+ Có ý thức bảo vệ môi trường vì sức khoẻ của bản thân và cả cộng đồng.

3. Giáo viên kết luận.

Như vậy các em thấy được những vấn đề rất gần xung quanh chúng ta rất đáng đ ược
quan tâm tìm hiểu. Qua buổi học hôm nay tôi muốn các em hiểu biết thêm về vai trò của
nước, cây cối, không khí. Từ đó các em có ý thức bảo vệ, giữ gìn môi trường xung quanh ta,
để cho cuộc sống quanh ta ngày càng tươi đẹp hơn. Chúng ta hãy hành động vì một môi
trường xanh sạch đẹp, vì hôm nay và ngày mai.

V. Đánh giá.

Yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi trong phiếu yêu cầu hoặc viết bài phân tích sâu
hơn về những tác động tiêu cực của con người đến môi trường sống xung quanh ta, xác định
trách nhiệm của mỗi người trong việc bảo vệ môi trường, kể cả những việc đơn giản nhất
trong cuộc sống.




VI. TàI LIệU GDMT

Vũng tuần hoàn nước

(Nguồn:Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )

Vũng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trờn mặt đất, trong lũng đất và
trong bầu khớ quyển của Trái Đất. Nước trái đất luôn vận động và chuyển từ trạng thái này
sang trạng thái khác, từ thể lỏng sang thể hơi rồi thể rắn và ngược lại. Vũng tuần hoàn nước
đó và đang diễn ra từ hàng tỉ năm và tất cả cuộc sống trên Trái Đất đều phụ thuộc vào nó,
Trái Đất chắc hẳn sẽ là một nơi không thể sống được nếu không có nước.

Sơ lược

Vũng tuần nước không có điểm bắt đầu nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ các đại
dương. Mặt Trời điều khiển vũng tuần hoàn nước bằng việc làm nóng nước trên những đại
dương, làm bốc hơi nước vào trong không khí. Những dũng khớ bốc lờn đem theo hơi nước
vào trong khí quyển, gặp nơi có nhiệt độ thấp hơn hơi nước bị ngưng tụ thành những đám
mây. Những dũng khụng khớ di chuyển những đám mây khắp to àn cầu, những phân tử mây
va chạm vào nhau, kết hợp với nhau, gia tăng kích cỡ và rơi xuống thành giáng thủy (mưa).
Giỏng thuỷ




Sơ đồ vũng tuần hoàn nước, do Cục Địa chất Hoa Kỳ vẽ




dưới dạng tuyết được tích lại thành những núi tuyết và băng hà có thể giữ nước đóng băng
hàng nghỡn năm. Trong những vùng khí hậu ấm áp hơn, khi mựa xuõn đến, tuyết tan và chảy
thành dũng trờn mặt đất, đôi khi tạo thành lũ. Phần lớn lượng giáng thuỷ rơi trên các đại
dương; hoặc rơi trên mặt đất và nhờ trọng lực trở thành dũng chảy mặt. Một phần dũng chảy
mặt chảy vào trong sụng theo những thung lũng sụng trong khu vực, với dũng chảy chớnh
trong sụng chảy ra đại dương. Dũng chảy mặt, và nước thấm được tích luỹ và được trữ trong
những hồ nước ngọt. Mặc dù vậy, không phải tất cả dũng chảy mặt đều chảy vào các sông.
Một lượng lớn nước thấm xuống dưới đất. Một lượng nhỏ nước được giữ lại ở lớp đất sát
mặt và được thấm ngược trở lại vào nước mặt (và đại đương) dưới dạng dũng chảy ngầm.
Một phần nước ngầm chảy ra thành các dũng suối nước ngọt. Nước ngầm tầng nông được rễ
cây hấp thụ rồi thoát hơi qua lá cây. Một lượng nước tiếp tục thấm vào lớp đất dưới sâu hơn
và bổ sung cho tầng nước ngầm sâu để tái tạo nước ngầm (đá sát mặt bảo hoà), nơi mà một
lượng nước ngọt khổng lồ được trữ lại trong một thời gian d ài. Tuy nhiên, lượng nước này
vẫn luân chuyển theo thời gian, có thể quay trở lại đại d ương, nơi mà vũng tuần hoàn nước
“kết thúc”... và lại bắt đầu.

Thành phần

Cục Địa chất Hoa Kỳ đó định nghĩa 15 thành phần của vũng tuần hoàn nước như sau:




Phân bổ nước trên Trái Đất
Nước đại dương

Một lượng nước khổng lồ được trữ trong các đại dương trong một thời gian dài hơn
là được luân chuyển qua vũng tuần hoàn nước. Ước tính có khoảng 1.338.000.000 km3 nước
được trữ trong đại dương, chiếm khoảng 96,5%, và đại dương cũng cung cấp khoảng 90%
lượng nước bốc hơi vào trong vũng tuần hoàn nướ c.

Cú những dũng chảy trong đại d ương di chuyển một khối lượng lớn nước khắp thế
giới. Những sự di chuyển này có ảnh hưởng lớn đến vũng tuần hoàn nước và khí hậu. Dũng
Gulf Stream được biết đến nhiều như là một dũng biển núng trong vựng Đại Tây Dương, vận
chuyển nước từ vùng Vịnh Mexico ngang qua Đại Tây Dương hướng đến nước Anh. Với tốc
độ 60 dặm (97 km) một ngày, dũng Gulf Stream đem theo một lượng nước nhiều bằng 100
lần tất cả các sông trên trái đất. Xuất phát từ những vùng khí hậu ấm, dũng Gulf mang theo
nước ấm hơn đến Bắc Đại Tây Dương, làm ảnh hưởng đến khí hậu của một vài vùng, như
phía tây nước Anh.

Bốc hơi

Bốc hơi nước là một quỏ trỡnh nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi hoặc khí. Bốc
hơi nước là đoạn đường đầu tiên trong vũng tuần hoàn mà nước chuyển từ thể lỏng thành hơi
nước trong khí quyển. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các đại dương, biển, hồ và sụng cung
cấp gần 90% độ ẩm của khí quyển qua bốc hơi, với 10% cũn lại do thoát hơi của cây.

Nhiệt (năng lượng) là nhân tố cần thiết cho bốc hơi xuất hiện. Năng lượng được sử dụng để
bẻ góy những liờn kết giữa cỏc phõn tử nước, nó là nguyên nhân tại sao nước có thể dễ dàng
bốc hơi tại điểm sôi (212°F, 100°C) nhưng bốc hơi rất chậm tại điểm đóng băng. Khi độ ẩm
tương đối không khí đạt 100%, tức là ở trạng thái bóo hoà hơi nước, bốc hơi không thể tiếp
tục diễn ra. Quỏ trỡnh bốc hơi nước tiêu thụ nhiệt năng từ môi trường, đó là nguyên nhân tại
sao nước bốc hơi từ da làm bạn mát.

Bốc hơi nước từ các đại dương là cách chính để nước được luân chuyển vào trong khí
quyển. Diện tớch rất lớn của các đại dương (trên 70% diện tích bề mặt của Trái Đất được bao
phủ bởi các đại dương) cung cấp những cơ hội lớn cho quá trỡnh bốc hơi diễn ra. Trên phạm
vi toàn cầu lượng nước bốc hơi cũng bằng với lượng giáng thủy. Mặc dù vậy, tỉ lệ giữa lượng
nước bốc hơi và lượng giáng thu ỷ biến đổi theo vùng địa lý. Thụng thường trên các đại
dương lượng bốc hơi nhiều hơn lượng giáng thủy, trong khi đó trên mặt đất, lượng giáng
thủy vượt quá lượng bốc hơi. Phần lớn lượng nước bốc hơi từ các đại dương rơi ngay trên đại
dương qua quá trỡnh giỏng thrủy. Chỉ khoảng 10% của nước bốc hơi từ các đại dương được
vận chuyển vào đất liền và rơi xuống thành giáng thu ỷ. Khi bốc hơi, một phân tử nước tồn
tại trong khí quyển khoảng 10 ngày.

Nước khí quyển

Mặc dự khớ quyển không là kho chứa khổng lồ của nước, nhưng nó là một “siêu xa
lộ” để luân chuyển nước khắp toàn cầu. Trong khí quyển luôn luôn có nước: những đám mây
là một dạng nhỡn thấy được của nước khí quyển, nhưng thậm chí trong không khí trong cũng
chứa đựng nước - những phần tử nước này quá nhỏ để có thể nhỡn thấy được. Thể tích nước
trong khí quyển tại bất kỳ thời điểm nào vào khoảng 12.900 km3. Nếu tất cả lượng nước khí
quyển rơi xuống cùng một lúc, nó có thể bao phủ khắp bề mặt trái đất với độ d ày 2,5 cm.

Sự ngưng tụ hơi nước là quá trỡnh hơi nước trong không khí được chuyển sang thể
nước lỏng. Ngưng tụ hơi nước rất quan trọng đối với chu trỡnh tuần hoàn nước bởi vỡ nú
hỡnh thành nờn cỏc đám mây. Những đám mây này có thể tạo ra mưa, nó là cách chính để
nước quay trở lại trái đất. Ngưng tụ hơi nước là quá trỡnh ngược với bốc hơi nước.

Sự ngưng tụ hơi nước cũng là nguyên nhân của hiện tượ ng sương, hoặc nước trên
mắt kính khi ta đi từ một phũng lạnh đi ra ngo ài trong một ngày nóng, ẩm ướt, cũn trong một
ngày lạnh nước có thể nhỏ giọt bên ngoài cốc uống nước hay có nước ở phía bên trong cửa
sổ.

Sự ngưng tụ hơi nước

Thậm chớ trờn những bầu trời trong xanh khụng một gợn mõy, thỡ nước vẫn tồn tại
dưới hỡnh thức hơi nước và những giọt nước li ti không thể nhỡn thấy được. Những phân tử
nước kết hợp với những phân tử nhỏ bé của bụi, muối, khúi trong khí quyển để hỡnh thành
nờn cỏc hạt nhõn mõy (giọt mõy nhỏ, đám mây nhỏ), nó gia tăng khối lượng và phát triển
thành những đám mây. Khi những giọt nước kết hợp với nhau, gia tăng về kích thước, những
đám mây có thể phát triển và mưa có thể xóy ra.
Các đám mây hỡnh thành trong khớ quyển do khụng khớ chứa hơi nước bốc lên cao và lạnh
đi. Phần quan trọng của quá trỡnh này là khụng khớ sỏt mặt đất ấm lên do bức xạ mặt trời.
Nguyên nhân lớp khí quyển phía bên trên mặt đất lạnh đi là do áp lực không khí. Không khí
có trọng lượng và tại mực nước biển trọng lượng của một cột không khí nén xuống trên đầu
bạn khoảng 32 kg trờn mỗi inch vuông, áp lực này, được gọi là khí áp, nó là kết quả của mật
độ không khí trong cột khụng khớ phớa trờn. Càng lờn cao càng ớt khụng khớ phớa bờn
trờn, và vỡ thế càng ớt ỏp lực. Khớ ỏp thấp hơn và mật độ không khí giảm theo độ cao. Điều
này làm cho không khí trở nên lạnh hơn.

Giỏng thủy

Giỏng thủy là nước thoát ra khỏi những đám mây d ưới các dạng mưa, mưa tuyết,
mưa đá, tuyết. Nó là cách chính để nước khí quyển quay trở lại Trái Đất. Phần lớn lượng
giáng thu ỷ là mưa. Các hạt mưa hỡnh thành như thế nào?

Những đám mây trên bầu trời chứa hơi nước và những hạt nhân mây nhỏ, các hạt
nhân mây này quá nhỏ để có thể rơi xuống thành mưa, nhưng nó cũng đủ lớn để hỡnh thành
nên các đám mây có thể nhỡn thấy được. Nước vẫn tiếp tục bốc hơi và ngưng tụ hơi nước
trong bầu trời. Nếu nhỡn gần một đám mây, ta có thể nhỡn thấy những phần đang biến mất
(đang bốc hơi) trong khi những phần khác đang phát triển (ngưng tụ). Phần lớn lượng nước
được ngưng tụ trong các đám mây không rơi xuống thành giáng thu ỷ. Vỡ để giáng thuỷ xảy
ra, trước tiên những giọt nước nhỏ phải được ngưng tụ. Những phân tử nước có thể kết hợp
với nhau thành những giọt nước lớn hơn và đủ nặng để rơi thành mưa. Cần tới hàng triệu hạt
mây để hỡnh thành chỉ một hạt mưa nhỏ.

Lượng giáng thủy phân bố không đều trên thế giới, trong một nước hoặc thậm chí
trong một thành phố. Vớ dụ, tại Atlanta, Georgia, M ỹ, một trận mưa giông mùa hè có thể sản
sinh ra một lớp nước mưa dày 2,5 cm hoặc nhiều hơn trên một con đường, trong khi đó ở
một vùng khác cách đó vài km thỡ vẫn khụ rỏo. Nhưng, tổng lượng mưa một tháng tại
Georgia thường nhiều hơn tổng lượng mưa năm tại Las Vegas, Nevada. Kỷ lục thế giới về
lượng mưa năm trung bỡnh thuộc về Đỉnh Waialeale, Hawaii với lượng mưa trung bỡnh là
1.140 cm. Đặc biệt, tại Arica là 1.630 cm trong mười hai tháng (nghĩa là gần 5 cm mỗi
ngày). Tương phản với lượng nước mưa dồi dào tại Arica, ở Chile đó từng khụng cú mưa
trong 14 năm.

Nước băng và tuyết

Nước được giử lâu dài trong băng, tuyết, và các sông băng là một thành phần của
vũng tuần hoàn nước toàn cầu. Vùng Nam cực chiếm 90% tổng lượng băng của trái đất, các
đỉnh núi băng ở Greenland chiếm 10% tổng lượng băng toàn cầu. Băng và sông băng đến và
đi.Trên phạm vi toàn cầu, khí hậu luôn luôn thay đổi một cách chậm chạp mà con người khó
nhận biết. Đó từng cú những thời kỳ ấm thuộc kỷ khủng long cỏch đây 100 triệu năm, v à
những thời kỳ lạnh, như kỷ băng hà cuối cùng cách đây 20.000 năm. Trong k ỷ băng hà cuối
cùng này nhiều nơi của bắc bán cầu bị bao phủ trong băng và những dũng sụng băng. Gần
hết Canada, nhiều vùng phía Bắc Châu Á và Châu Âu, một vài vùng ở nước Mỹ cũng bị
những dũng sụng băng bao phủ. Bản đồ thế giới trỡnh b ày những vựng sụng băng tồn tại
cách đây 20.000 năm

Dũng chảy tuyết tan

Trờn toàn bộ thế giới dũng chảy tuyết là phần chớnh của sự luân chuyển nước toàn
cầu. Trong thời kỳ mùa xuân ở những vùng khí hậu lạnh hơn, nhiều dũng chảy mặt và dũng
chảy sụng ngũi xuất phỏt từ tuyết và băng. Bên cạnh việc gây ra lũ lụt, tuyết tan nhanh có thể
gây ra sạt lở đất và dũng chảy bựn đá.Để hiểu được dũng tuyết tan ảnh hưởng như thế nào
đến dũng chảy sụng ngũi cú thể dựa vào biểu đồ đường quá trỡnh lưu lượng trung bỡnh ngày
trong 4 năm của sông North Fork American tại đập North Fork ở California. Các đỉnh cao
trong biểu đồ phần lớn là do dũng tuyết tan. So sỏnh cỏc giỏ trị nhận thấy dũng chảy ngày
trung bỡnh nhỏ nhất trong thỏng 3/2000 là 1.200 feet khối trờn giõy, trong khi đó lưu lượng
trong tháng 8 là 55 - 75 feet khối trên giây..

Dũng chảy mặt

Nhiều người chỉ nghĩ đơn giản rằng mưa rơi, chảy tràn trên mặt đất (dũng chảy mặt)
và chảy vào sụng, sau đó đổ ra các đại d ương. Đó là sự đơn giản hoá, bởi vỡ cỏc sụng cũn
nhận và mất nước do thấm. Tuy nhiên, lượng lớn nước trong sông là do dũng chảy trực tiếp
trờn mặt đất cung cấp và được định nghĩa là dũng chảy mặt.
Thông thường, một phần nước mưa rơi thấm ngay vào đất, nhưng khi đất đạt tới trạng
thái bóo hoà hay khụng thấm, thỡ bắt đầu chảy theo sườn dốc thành dũng chảy. Trong một
trận mưa lớn, bạn có thể nhỡn thấy cỏc dũng nước nhỏ chảy xuôi sườn dốc. Nước sẽ chảy
theo những kênh trên mặt đất trước khi chảy vào trong các sông lớn. Hỡnh vẽ biểu diễn dũng
chảy mặt (dũng chảy ra từ con đ ường) chảy vào một con lạch nhỏ như thế nào. Trong trường
hợp này dũng chảy mặt chảy trờn những vựng đất trống và lắng đọng bùn cát vào trong sông
(không tốt cho chất lượng nước). Dũng chảy mặt chảy vào sụng, lại bắt đầu hành trỡnh quay
trở về đại dương.Cũng giống như tất cả các thành phần khác trong vũng tuần ho àn nước,
quan hệ giữa mưa và dũng chảy cũng biến đổi theo thời gian và không gian. Những trận mưa
tương tự nhau xuất hiện trong vùng rừng rậm Amazon và trong vùng sa mạc tây bắc nước
M ỹ sẽ sản sinh những dũng chảy mặt khỏc nhau. Dũng chảy mặt bị chi phối bởi cỏc nhõn tố
khớ tượng địa vật lý và địa hỡnh. Chỉ khoảng 1/3 lượng nước mưa rơi trên bề mặt đất chảy
vào sông suối và quay trở lại đại dương. 2/3 cũn lại bị bốc thoỏt hơi hoặc thấm vào nước
ngầm. Con người thường sử dụng nước cho các mục đích khác nhau từ dũng chảy nước mặt.

Dũng chảy sụng ngũi

Cục Địa chất Mỹ định nghĩa “dũng chảy” là lượng nước chảy trong sông, suối, hoặc
lạch nước.Sông ngũi rất quan trong khụng chỉ đối với con người mà đối với cuộc sống khắp
mọi nơi. Sông ngũi khụng chỉ là một nơi rộng lớn cho con người và những con vật của họ
hoạt động, con người cũn sử dụng nước sông cho nhu cầu nước uống và nước tưới, sản xuất
ra điện, làm sạch chất thải (xử lý nước thải), giao thông thuỷ, và kiếm thức ăn. Sông ngũi cũn
là mụi trường sống chính cho tất cả các lo ài động và thực vật nước. Sông ngũi bổ sung cho
tầng ngậm nước ngầm dưới mặt đất qua lũng sụng, và tất nhiờn cả đại dương.

Một điều rất quan trọng khi nghiên cứu về sông ngũi là phải xem xột cỏc lưu vực
sông. Lưu vực sông là gỡ? Nếu bạn đang đứng tr ên mặt đất ngay bây giờ, hóy nhỡn xuống.
Bạn và tất cả mọi người đang đứng trên một lưu vực sông. Một lưu vực sông là vùng mà tại
đó tất cả nước rơi và tiêu thoát chảy theo cùng một dũng. Lưu vực sông có thể chỉ nhỏ bằng
một vết chân trên bùn hoặc đủ rộng để bao phủ to àn bộ vùng thoát nước vào trong sông
Mississippi ở đó nước chảy vào Vịnh Mexico. Các lưu vực nhỏ hơn được chứa trong những
lưu vực lớn hơn. Các lưu vực sông rất quan trọng vỡ dũng chảy và chất lượng nước của một
con sông chịu tác động của nhiều thứ, có ảnh hưởng của con người hay không có ảnh hưởng
của con người, xuất hiện trong những vùng phía trên mặt cắt cửa ra của lưu vực. Dũng chảy
sụng ngũi luụn luụn biến đổi. Dũng chảy sụng ngũi luụn thay đổi từng ngày thậm chí từng
phút. Tất nhiên, mưa tác động chính tới dũng chảy trờn cỏc lưu vực. Mưa rơi làm tăng mực
nước sông, và mực nước sông có thể tăng ngay cả khi mưa ở rất xa trên lưu vực sông. Ghi
nhớ rằng nước mưa rơi trên lưu vực cuối cùng phải chảy ra ở mặt cắt cuối lưu vực. Độ lớn
của sông phụ thuộc vào độ lớn của lưu vực. Sông lớn có lưu vực sông rộng, sông nhỏ có lưu
vực sông nhỏ hơn. Tương tự như vậy, sông có kích thước khác nhau tác động khác nhau
lượng mưa rơi. Trong các sông lớn mực nước lên xuống chậm hơn các sông nhỏ. Trong lưu
vực nhỏ, mực nước sông có thể lên xuống tính theo phút và giờ. Những sông rộng có thể mất
vài ngày để biến đổi mực nước lên xuống và thời gian lũ lên có thể kéo dài vài ngày.

Lượng trữ nước ngọt

Nước ngọt trên mặt đất, một thành phần của chu trỡnh nước, yếu tố cần thiết cho mọi
sự sống trên trái đất. Nước mặt bao gồm nước trong cỏc dũng sụng, ao, hồ, hồ nhõn tạo, và
cỏc đầm lầy nước ngọt.

Lượng nước trong các sông và hồ luôn luôn thay đổi phụ thuộc vào lưu lượng vào và
ra. Dũng chảy vào từ mưa, dũng chảy tràn trờn mặt đất, lượng nước ngầm dưới đất, và lượng
nước gia nhập từ cỏc sụng nhỏnh. Dũng chảy ra khỏi cỏc hồ và sụng bao gồm lượng bốc hơi
và dung tích nước bổ sung cho nước ngầm. Con người cũng sử dụng nước mặt cho các nhu
cầu thiết yếu của mỡnh. Lượng và vị trí của nước mặt thay đổi theo thời gian và không gian,
một cách tự nhiên hay dưới sự tác động của con người. Nước mặt duy trỡ sự sống

Trong vựng chõu thổ sụng Nile ở Ai Cập, cuộc sống có thể sinh sôi tại những vùng sa
mạc nếu được cung cấp đủ lượng nước (mặt hoặc ngầm). Nước trên mặt đất thực sự giúp duy
trỡ cuộc sống. Nước ngầm tồn tại thông qua sự di chuyển của nước mặt vào trong tầng nước
ngầm dưới mặt đất. Nước ngọt trên bề mặt trái đất tương đối khan hiếm. Chỉ khoảng 3% của
tổng lượng nước trái đất là nước ngọt, các hồ nước ngọt và các đầm (nước) ngọt chiếm
0,29% tổng lượng nước ngọt trên trái đất, hồ BaiKal ở Châu Á chiếm 20% tổng lượng nước
ngọt trên trái đất, Hồ Lớn (Huron, MichiGan, và Superior) cũng chiếm 20% tổng lượng nước
ngọt trên trái đất. Các sông chỉ chiếm khoảng 0,006% tổng lượng nước ngọt trên trái đất. Ta
có thể nhận thấy rằng nước ngọt, yếu tố cần thiết cho sự tồn tại cuộc sống trên trái đất, chỉ
chiếm một phần cực nhỏ “một giọt nước trong biển cả mênh mông” của tổng lượng nước
trên trái đất.

Thấm

Bất cứ nơi nào trên thế giới, một phần lượng nước mưa và tuyết đều thấm xuống lớp
đất và đá dưới bề mặt. Lượng thấm bao nhiêu phụ thuộc vào một số các nhân tố. Trên đỉnh
băng của Greenland lượng nước mưa thấm xuống là rất nhỏ, ngược lại, một dũng sụng chảy
vào trong hang động ở vùng Georgia, M ỹ, cho thấy sông cũng có thể chảy trực tiếp vào trong
nước ngầm.

Một phần lượng nước thấm xuống sẽ được giữ lại trong những tầng đất nông, ở đó nó
có thể chảy vào sông nhờ thấm qua bờ sông. Một phần nước thấm xuống sâu hơn, bổ sung
cho các tầng nước ngầm. Nếu tầng nước ngầm nông hoặc đủ độ rỗng để cho phép nước chảy
tự do qua nó, con người có thể khoan các giếng trong tầng nước ngầm này và sử dụng nước
cho những mục đích của mỡnh. Nước ngầm có thể di chu yển được những khoảng cách dài
hoặc được trữ lại trong tầng nước ngầm trong một thời gian dài trước khi quay trở lại bề mặt
hoặc qua thấm vào các thu ỷ vực khác, như thấm vào các sông và đại dương.

Khi nước mưa thấm vào trong tầng đất sát mặt, nó hỡnh thành vựng khụng bóo hoà
và vựng bóo hoà. Trong vựng khụng bóo hoà, nước tồn tại trong các lỗ rỗng của lớp đá b ên
dưới mặt đất, nhưng tầng đất chưa đạt tới trạng thái bóo hoà. Phần phớa trờn của tầng khụng
bóo hoà là vựng đất. Vùng đất này có không gian phân bố được tạo ra từ rễ cây trồng, nước
mưa có thể thấm vào tầng này. Cây trồng sử dụng nước trong tầng đất này. Bên dưới vùng
không bóo hoà là vựng bóo hoà, ở đây nước chứa đầy trong các khe rỗng giữa các phần tử
đất và đá. Có thể khoan giếng trong vùng này và bơm nước lên.

Lưu lượng nước ngầm

Lượng nước mà ta không thể nhỡn thấy được - nước ngầm (nước tồn tại và di chuyển
trong lũng đất) - chiếm một lượng rất lớn so với lượng nước ta cú thể nhỡnh thấy được.
Nước ngầm đóng góp lớn cho dũng chảy sụng ngũi của nhiều con sụng. Con người đó sử
dụng nước ngầm từ hàng ngàn năm nay và vẫn đang tiếp tục sử dụng nó hàng ngày, phần lớn
cho nhu cầu nước uống và nước tưới. Cuộc sống tr ên trái đất phụ thuộc vào nước ngầm cũng
giống như là nước bề mặt. Nước ngầm chảy bên dưới mặt đất.

Một phần lượng mưa rơi trên mặt đất và thấm vào trong đất trở thành nước ngầm.
Phần nước chảy sát mặt sẽ lộ ra rất nhanh khi chảy vào trong lũng sụng, nhưng do trọng lực,
một phần lượng nước tiếp tục thấm sâu vào trong đất.

Trong sơ đồ này, hướng và tốc độ di chuyển nước ngầm được tính thông qua các đặc trưng
của tầng nước ngầm và lớp cản nước (ở đây nước khó chảy qua). Sự chuyển động của nước
bên dưới mặt đất phụ thuộc vào độ thấm (nước thấm khó khăn hay dễ dàng) và khe rỗng của
đá bên dưới mặt đất (số các khe hở trong vật liệu). Nếu các lớp đá cho phép nước chảy qua
nó tương đối tự do thỡ nước ngầm có thể di chuyển được những khoảng cách đáng kể trong
thời gian vài ngày. Nhưng nước ngầm cũng có thể thấm sâu hơn vào các tầng nước ngầm sâu
ở đó nó sẽ mất hàng ngàn năm để di chuyển trở lại vào môi trường.

Suối

Một tầng nước ngầm liên tục được bổ sung nước đến khi nước chảy tràn trên mặt đất, kết quả
là hỡnh thành cỏc con suối. Các con suối có thể rất nhỏ, chỉ có nước chảy khi có một trận
mưa đáng kể, đến các dũng suối lớn chảy với hàng trăm triệu gallon nước mỗi ngày.

Cỏc con suối cú thể hỡnh thành trong bất kỳ loại đá nào, nhưng phần lớn chúng hỡnh
thành trong cỏc loại đá vôi và đolomit, dễ dàng rạn nứt và hoà tan do mưa axit. Khi đá bị phá
hu ỷ và hoà tan, các khoảng trống hỡnh thành cho phộp nước chảy qua. Nếu dũng chảy theo
phương ngang, nó có thể chảy tới mặt đất, hỡnh thành cỏc con suối. Nước suối không phải
bao giờ cũng sạch.

Cỏc suối nước nóng vẫn chỉ là suối thông thường nhưng nước tại đó ấm, một vài chỗ
cũn núng như các con suối bùn đang sôi sùng sục ở Công Viên Quốc Gia Yellowstone,
Wyoming, M ỹ. Nhiều suối nước nóng xuất hiện ở những vùng gần núi lửa hoạt động, được
bổ sung nước nóng do tiếp xúc với đá nóng sâu dưới bề mặt đất. Càng dưới sâu các tảng đá
càng nóng hơn, và nếu nước dưới sâu bề mặt đất chảy tới một khe nứt rộng nó có thể tạo ra
một dũng chảy lờn lớp đất trên mặt, và tạo ra một suối nước nóng. Các suối nước ấm nổi
tiếng vùng Georgia và suối nước nóng vùng Arkansas của Hoa Kỳ là các loại điển hỡnh.
Sự thoát hơi

Thoát hơi là quá trỡnh nước được vận chuyển từ các rễ cây đến các lỗ nhỏ b ên dưới
bề mặt lá, ở đây nước chuyển sang trạng thái hơi và thoát vào khí quyển. Do đó, thoát hơi
thực chất là bốc hơi của nước từ lá cây. Lượng nước bốc thoát hơi từ cây trồng ước tính
chiếm khoảng 10% của hàm lượng nước trong khí quyển.

Thoát hơi thực vật là một quá trỡnh khụng nhỡn thấy đ ược, khi nước đang bốc hơi
trên bề mặt các lá cây, bạn không thể đi ra ngo ài và nhỡn thấy cỏc lá cây đang bốc thoát hơi.
Trong mùa phát triển của cây trồng, một lá cây sẽ bốc thoát hơi nước nhiều lần hơn trọng
lượng của chính nó. Một mẫu Anh trồng ngô có thể bốc thoát hơi được khoảng 11.400 -
15.100 lít nước/ngày, và một cây sồi lớn có thể bốc hơi được 151.000 lít nước/năm.

Lượng nước bốc thoát hơi từ cây cối biến đổi lớn theo thời gian và không gian. Một số
nhân tố tác động đến tốc độ bốc thoát hơi nước:

Nhiệt độ:Tốc độ bốc thoát hơi tăng lên khi nhiệt độ tăng, đặc biệt trong mùa phát


triển của cây trồng khi nhiệt độ không khí ấm hơn.

Độ ẩm tương đối: Khi độ ẩm tương đối của không khí xung quanh cây trồng tăng thỡ


tốc độ bốc thoát hơi giảm. Nghĩa là nước bốc hơi khi không khí khô d ễ dàng hơn là
trong không khí bóo hoà ẩm.

Giú và sự di chuyển của không khí: Sự di chuyển của các lớp không khí xung quanh


một cây tăng lên làm cho bốc thoát hơi cũng tăng cao.

Loại cây: Loại cây khác nhau sẽ thoát hơi nước với tốc độ khác nhau. Các loại cây


sống trong vùng khô cằn thỡ thoỏt hơi ít hơn các loại cây khác. Ví dụ cây xương rồng
để giữ lại lượng nước quý bỏu bằng cỏch giảm bớt sự thoỏt hơi hơn các cây trông
khác.

C. Lượng trữ nước ngầm

Một lượng lớn nước được trữ trong đất. Nước này vẫn tiếp tục chuyển động, có thể rất
chậm, và nó vẫn là một phần của vŨNG TUẦN hoàn nước. Phần lớn nước ngầm là do mưa
và lượng nước thấm từ lớp đất mặt. Tầng đất phía trên là vùng không bÓO HOà, TRONG
TẦNG NàY Lượng nước thay đổi theo thời gian, mà không làm bÓO HOà TẦNG đất. Bên
dưới lớp đất này là vùng bÓO HOà, TẤT CẢ CỎC KHE NỨT, các ống mao dẫn, và các
khoảng trống giữa các phân tử đá được lấp đầy nước. Thuật ngữ “nước ngầm” được dùng để
mô tả cho khu vực này. Một thuật ngữ khác của nước ngầm là “bể nước ngầm”. Bể nước
ngầm là kho chứa nước ngầm khổng lồ và con người khắp nơi trên thế giới phụ thuộc vào
nước ngầm trong cuộc sống hàng ngày.

Cách hay nhất để hiểu được khái niệm đất bÓO HOà Nước tại một độ sâu nhất định nào
đó là đào một cái hố tại một bÓI BIỂN, NẾU SỰ THẤM DIỄN RA VỪA đủ để cŨN GIỮ
LẠI Nước. Mực nước trong hố là mực nước ngầm. Biển ở phía phải của hố, mực nước trong
hố bằng với mực nước biển. Tất nhiên, mực nước trong hố đào cũng lên xuống từng phút
theo sự lên xuống của thuỷ triều.

Tham khảo: Nội dung bài này được lấy từ trang Vũng tuần hoàn nước là gỡ? của Cục
Địa chất Hoa Kỳ, thuộc phạm vi công cộng. Bản tiếng Việt đ ược dịch bởi PGS. TS. Trần
Thục và đồng sự tại Viện Khí tượng Thủy Văn Việt Nam.




Bài 2

hiệu ứng nhà kính. hiện tượng nóng

lên toàn cầu. thủng tầng ôzôn




i - mục đích

1. Kiến thức :
- Hiểu bản chất của hiện tượng "Hiệu ứng nhà kính" và "lỗ thủng tầng ôzôn".

- Tác hại của hai hiện tượng đó đối với đời sống và sản xuất.

- Những hoạt động sản xuất và phương tiện sử dụng trong đời sống hàng ngày góp phần gây ra
hai hiện tượng trên.

2. Kỹ năng :

- Rèn luyện khả năng quan sát các hiện tượng liên quan đến các vấn đề trên.

- Khả năng phân tích, tổng hợp tác hại hai hiện tượng trên.

3. Giá trị đạo đức:

- Thấy rõ trách nhiệm của bản thân nhằm góp phần ngăn chặn hai hiện tượng trên, giữ gìn và
bảo vệ một môi trường sống lành mạnh và tươi đẹp.

4. Hành vi :

Từ những hiểu biết trên, từ ý thức trách nhiệm của bản thân có những cách cư xử, những hành
động và việc làm thiết thực để góp phần ngăn chặn hai hiện tượng trên.

Đồng tình với những việc làm đúng, phản đối những việc làm sai trong sản xuất,
tuyên truyền thông tin về những vấn đề hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ôzôn.

ii - phương pháp

Đóng vai, phân tích hiện trạng, thảo luận nhóm.

iII - nội dung

Học sinh phải nắm được hiện tượng "Hiệu ứng nhà kính", những nguyên nhân và tác hại của
"Hiệu ứng nhà kính" trong điều kiện môi trường bị ô nhiễm, dẫn đến sự nóng lên toàn cầu.
Học sinh cần phải hiểu vai trò của tầng ôzôn một thành phần quan trọng của môi trường sống
trên hành tinh và trách nhiệm của con người trong việc gây ra "Hiệu ứng nhà kính" và tạo ra
những lỗ thủng tầng ôzôn.

Từ nhận thức cần phải có những hành động thiết thực trong hoạt động sản xuất và đời sống
hàng ngày để ngăn chặn "Hiệu ứng nhà kính" và "lỗ thủng tầng ôzôn" trên hành tinh của chúng ta.

v - chuẩn bị

- Tờ rơi với những thông tin cần thiết về "Hiệu ứng nhà kính" và "lỗ thủng tầng ôzôn", giáo
trình có liên quan.

- Phiếu yêu cầu học sinh tự trả lời ngắn gọn sau khi tham khảo tài liệu và thảo luận.

- Phiếu nhận vai.




vi - tổng quan về hoạt động

1.Giáo viên mở đầu:

Hiện trạng môi trường sống hiện nay: chúng ta đang sống trong một môi tr ường ngày càng bị
ô nhiễm, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng như các thế hệ
tương lai sau này. Các nhà khoa học đã cảnh báo: Sự ô nhiễm môi trường làm cho Trái đất đang
nóng dần lên gây nên sự biến đổi phức tạp của khí hậu, thời tiết; lũ lụt, hạn hán xảy ra liên tục...
Vậy nguyên nhân chính của các hiện tượng đó là gì? Trách nhiệm của mỗi chúng ta ngăn chặn
những biến đổi xấu đó và bảo vệ môi trường hiện nay ra sao?

2. Phát tờ rơi để học sinh nắm được những thông tin cần thiết về hai hiện tượng: ''Hiệu ứng nhà
kính" và "lỗ thủng tầng ôzôn".

3. Học sinh trao đổi theo nhóm và phải trả lời được những câu hỏi : nguyên nhân và bản chất
của hai hiện tượng trên.
4. Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích những ảnh hưởng do các hoạt động sản xuất của các
nhà máy, xí nghiệp tạo ra các hoá chất, phế thải và các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày của
con người đã gây nên những hậu quả gì ?

5. Sau khi thảo luận, phân tích học sinh có thể nhập vai của mình để vẽ nên bức tranh về "Hiệu
ứng nhà kính" và "lỗ thủng tầng ôzôn" sẽ gây hậu quả nặng nề cho con người nếu con người
không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Từ đó xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân và của các cấp quản lí nhà nước, các cấp
quản lí chuyên môn có một biện pháp cụ thể để bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta.

6. Phân vai: 4 học sinh đóng các vai:

A - "Hiệu ứng nhà kính"

B - "Lỗ thủng tầng ôzôn"

C - Khí CO2

D - Đại diện cho con người.

7. Nhập vai:

A - Tôi được mọi người đặt cho tên gọi là tầng ôzôn. Tôi nằm cách Trái đất 20 - 30 km và
dày 3 km. Nhiệm vụ của tôi là che chắn tia tử ngoại lọt vào Trái đất và hấp thụ nhiệt Mặt trời góp
phần giữ cho Trái đất ấm lên. Do tác động nhiều mặt của con người, tôi đã bị "thủng vài ba lỗ".

Qua "lỗ" đó, tia tử ngoại lọt xuống Trái đất gây ra một số bệnh hiểm nghèo cho con người như
ung thư da, các bệnh về mắt, làm giảm sức đề kháng của con người, giảm năng suất cây trồng, phá
hoại cân bằng sinh thái.

B - Hiệu ứng nhà kính là tôi. Hiện nay mọi người đều nhắc đến tôi như một tên tội phạm.
Nhưng mặt tích cực của tôi họ đâu có biết, chính tôi đã giữ nhiệt sưởi ấm cho Trái đất (150C) nếu
không có tôi thì Trái đất đã bị lạnh cóng rồi (-180C). Chỉ biết hiện nay họ cứ đổ tại tôi làm Trái đất
nóng lên, băng ở hai cực sẽ tan và gây lụt lội ở nhiều nơi trên thế giới. Họ đâu có biết trong " Hiệu
ứng nhà kính" khí CO2 đóng vai trò chủ yếu, khi nồng độ CO2 tăng, nó giữ nhiệt làm Trái đất nóng
lên. Vậy CO2 từ đâu bay lên ? CO2 đâu rồi?

C - Tôi đây, tôi được sinh ra do con người đốt than, dầu, củi trong hoạt động hàng ngày;
Do các khí thải của các nhà máy, các phương tiện giao thông đã làm nồng độ của tôi tăng từ
275ppm lên đến 355ppm. Do tôi tăng nhanh làm cho nhiệt độ Trái đất tăng lên. Khi nhiệt độ tăng
1,20C đến 1,50C thì 30 triệu km3 băng ở hai cực tan ra làm mực nước biển dâng cao 20cm tạo ra
ngập lụt ở các nước: Hà Lan, Inđônêxia, Ai Cập…Nhưng tôi đâu có muốn như vậy, tôi muốn tất
cả chúng ta sống trong môi trường cân bằng sinh thái như xưa chúng ta đã từng sống. Chính con
người, chính lòng tham của con người về nhu cầu hưởng thụ đã làm cho mật độ của tôi tăng dày
trong khí quyển.

D- Học sinh thứ 4 đại diện cho con người - Vâng chính chúng tôi - con người đã gây ra
"Hiệu ứng nhà kính" và "Lỗ thủng tầng ôzôn", nhưng chúng tôi hiểu rõ trách nhiệm của mình và
cần hành động kiên quyết:

Hiện nay các cấp lãnh đạo đã họp bàn để cứu nguy cho tầng ôzôn và làm giảm tác hại do hiệu
ứng nhà kính gây ra.

Thoả thuận Kiôtô đưa ra mục tiêu giảm lượng khí thải 1996. Các nước phát triển và đang phát
triển phải giảm 5,2% số lượng 6 loại khí thải: CO2, CH4, NO2…trên phạm vi toàn cầu trong giai
đoạn 2008 - 2012. Một số quốc gia phải giảm lượng khí thải trong thời gian tới, bao gồm Liên
minh châu Âu, Pháp giảm 6% khí thải gây " Hiệu ứng nhà kính ".

Vấn đề bảo vệ tầng ôzôn cũng được đề ra cấp bách năm 1987 các nước đã đưa
ra biện pháp cụ thể nhằm thực hiện Công ước về bảo vệ tầng ôzôn, đưa ra danh mục
các chất bị kiểm soát.

8. Giáo viên tổng kết và gợi ý học sinh tìm hiểu một số nhà máy, xí nghiệp trong thành phố có
khả năng gây ảnh hưởng như thế nào đến hai vấn đề trên.

vii - mở rộng :
- Tìm hiểu hoạt động của các nhà máy lớn trên toàn đất nước, xác định những nhà máy đã gây
ảnh hưởng xấu đến tầng ôzôn, đến " Hiệu ứng nhà kính ".

- Chỉ ra những hướng cụ thể để giảm bớt ảnh hưởng xấu đến môi trường.

viiI - đánh giá :

Yêu cầu học sinh viết bài phân tích tác hại do những chất phế thải của một số nhà máy, xí
nghiệp gây hậu quả tiêu cực cho môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và hệ sinh
thái như: xí nghiệp gạch, xí nghiệp đông lạnh, xí nghiệp nhuộm…




IX.- TÀI LIỆU GDMT

1. Hiệu ứng nhà kớnh ( Xem ở bài Nguyên tắc hoạt động của động cơ nhiệt và máy
lạnh).

2. Sự núng lờn của khớ hậu toàn cầu

( Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )




Sự núng lờn của khớ hậu toàn cầu (tiếng Anh: global warming) là hiện tượng tăng
nhiệt độ trung bỡnh của khụng khớ và cỏc đại dương trờn Trái đất mà người ta đó quan sỏt
được trong các thập kỷ gần đây. Trong thế kỉ 20, nhiệt độ trung bỡnh của khụng khớ gần mặt
đất đó tăng 0,6 ± 0,2 °C (1,1 ± 0,4 °F) [1].

Nguyờn nhõn

Một trong những nguyên nhân chính là sự tăng lên không ngừng của các loại khí gây
hiệu ứng nhà kớnh được tạo ra do quá trỡnh sản xuất cũng như sinh hoạt của con người. Với
sự tăng lên không ngừng của các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, Trái đất trở thành một quả
cầu giữ nhiệt, và từ đó nhiệt độ của nó không ngừng tăng lên theo thời gian
Các nhiệt độ mặt đất trung bỡnh bất thường trong thời gian từ
1995 đến 2004 đối với các nhiệt độ trung bỡnh từ 1940 đến
1980




Hậu quả

Sự núng lờn của khớ hậu toàn cầu có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Dưới đây là
một số ví dụ:

Băng tan tại hai cực làm nước biển dâng cao, dẫn đến nguy cơ mất đi vĩnh viễn của


những đảo quốc có độ cao xấp xỉ mực nước biển và những vùng đất thấp ven biển.

Nguy cơ tuyệt chủng của nhiều loài động thực vật trước giờ chỉ quen sống trong khớ


hậu lạnh giỏ,....

Nhiệt độ tăng từ 0,1-0,2oC mỗi 10 năm,làm cho các quốc gia Châu Phi sẽ rơi vào


tỡnh trạng thiếu nước ngọt trầm trọng
Hướng giải quyết

Đây là vấn đề nhân loại đó nhận thấy và tỡm hướng giải quyết cách đây vài chục
năm. Nhưng đến nay những biện pháp mà nhõn loại đưa ra để giải quyết vấn đề nói trên vẫn
chưa đem lại kết quả, mặc dầu có hẳn một nghị định thư được thông qua với sự tham gia của
nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có những nước đóng vai trũ quan trọng trong việc làm
cho khớ hậu toàn cầu nóng lên. Một khi mà các nước lớn do những quyền lợi về kinh tế của
mỡnh mà khụng thực hiện theo đúng những gỡ mà Nghị định thư Kyoto đó đề ra là cắt giảm
phần lớn lượng khí gây hiệu ứng nhà kớnh, thỡ các nước đang phát triển- những nước đang
và sẽ đóng góp vào quá trỡnh làm núng lờn của khớ hậu toàn cầu vỡ những yờu cầu phỏt
triển cũng như phải đuổi kịp sự phát triển chung thế giới ( phát triển ở đây gần như là phát
triển không bền vững) mà gần như phớt lờ đi những gỡ mà nhõn loại cho rằng vấn đề cấp
bách. Như vậy, nếu ngay từ bây giờ con người không có những giải pháp và nhưng kế hoạch
mang tính thực tế và nghiêm khắc hơn thỡ vấn đề được nêu ra ở trên khó mà giải quyết được.




Bài 3: THAM QUAN

HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ TRUYỀN TẢI

ĐIỆN NĂNG Ở NHÀ MÁY ĐIỆN

I- Mục tiờu

a. Kiến thức

- Giỳp HS hiểu và nắm chắc cỏc nội dung đó học về: cảm ứng điện từ, mỏy biến thế,
mỏy phỏt điện xoay chiều và hệ thống truyền tải điện năng.

- Học sinh hiểu những ảnh hưởng của việc sản xuất điện đến mụi trường xung quanh
và biện phỏp xử lớ của nhà mỏy.
b. Kĩ năng

Qua buổi tham quan thực tế tại nhà mỏy đó bồi dưỡng, hỡnh thành ở cỏc em một số
kĩ năng như: điều khiển hoạt động tập thể; kĩ năng giao tiếp; kĩ năng xử lớ cỏc tỡnh huống
phỏt sinh trong quỏ trỡnh tham quan.

c. Thỏi độ

Giỏo dục học sinh tỡnh yờu đối với lao động, tạo hứng thỳ học tập và niềm tin vào
khoa học, cú ý thức tổ chức kỉ luật lao động.

Giỏo dục cỏc em cú ý thức bảo vệ và trỏch nhiệm với mụi trường sống xung quanh.

II. Chuẩn bị

1. Giỏo viờn

- GV dự kiến mục tiờu mà HS cần đạt được qua chuyến tham quan; chuẩn bị tốt cơ sở
vật chất và những điều kiện cần thiết phục vụ cho chuyến tham quan.

- Lập kế hoạch tham quan (lựa chọn địa điểm, khối lớp HS đi tham quan; thời gian
tiến hành tham quan…); xỏc định cỏc lực lượng tham gia tổ chức cho HS đi tham quan; xõy
dựng những nội dung HS cần quan sỏt; trao đổi với cơ sở sẽ đến tham quan kế hoạch thực
hiện chuyến tham quan; phổ biến mục đớch, yờu cầu và phõn cụng nhiệm vụ cho từng nhúm
HS,…

2. Học sinh

Chuẩn bị đầy đủ cỏc điều kiện cần thiết cho buổi tham quan như: trang phục bảo hộ,
b ỳt, vở, mỏy ảnh, sưu tầm và nghiờn cứu cỏc tài liệu cú liờn quan đến nội dung tham quan,
thảo luận nhiệm vụ được phõn cụng,…




II. Cỏc hoạt động dạy học cơ bản
* Hoạt động 1(…phỳt)

- Tập trung học sinh, quỏn triệt cỏc yờu cầu về kỉ luật, ý thức giữ gỡn trật tự khi tham
quan, đảm bảo khụng ảnh hưởng đến hoạt động lao động sản xuất của cụng nhõn nhà mỏy.
Giỏo viờn bộ mụn cựng giỏo viờ n chủ nhiệm lớp, đại diện hội cha mẹ HS (nếu tham gia) cử
người quản lý phụ trỏch ở từng xe, kiểm diện HS và cụng tỏc chuẩn bị.

- Trong quỏ trỡnh di chuyển từ trường tới nơi tham quan, những HS được giao phụ
trỏch văn nghệ, trũ chơi sẽ cho cỏc bạn hỏt tập thể những bài hỏt truyền thống về Đo àn, về
thanh niờn và chơi một số trũ chơi đơn giản, dễ chơi.

* Hoạt động 2 ( … phỳt)

- Khi đến địa điểm tham quan, GV tập trung HS, nghe cỏn bộ hướng dẫn tham quan
phổ biến cỏc yờu cầu và nội quy của nhà mỏy, trỡnh tự cỏc nơi sẽ tham quan.

- Tham quan phũng truyền thống, cỏc em đ ược nghe giới thiệu về truyền thống của
nhà mỏy từ khi được thành lập đến nay, tỡnh hỡnh phỏt triển của nhà mỏy cũng như ngành,
nghề học cú thể tham gia vào làm việc tại nhà mỏy…

* Hoạt động 3 (… phỳt)

- Tham quan nơi cung cấp nhiờn liệu, hệ thống băng truyền, hệ thống nghiền than, lũ
hơi, tua bin.

- Tham quan phũng điều khiển và phõn phối điện, hệ thống mỏy biến ỏp truyền tải
điện năng, đưa điện từ nhà mỏy tới nơi tiờu thụ (HS được nghe cỏn bộ, cụng nhõn của nhà
mỏy đang trực ca thụng bỏo một số thụng số kĩ thuật quan trọng như: ỏp suất hơi, cụng suất
phỏt điện của cỏc tua bin…)

- Tỡm hiểu hồ chứa nước thải, cỏch xử lớ tro xỉ than, khúi bụi…HS ghi chộp, chụp
ảnh tư liệu những vấn đề cần tỡm hiểu.

* Hoạt động 4( … phỳt)
- HS tiến hành đàm thoại, trao đổi với cỏn bộ và cụng nhõn nhà mỏy về vấn đề xử lớ
khúi bụi, tro xỉ than, nước thải, vận chuyển nhiờn liệu…

- Vớ dụ:

+ HS: Nhà mỏy đó xử lớ những vấn đề gõy ảnh hưởng tới mụi trường như khúi bụi, tro xỉ
than như thế nào?

+ HS: Tro xỉ than của nhà mỏy cú thể được tận dụng làm vật liệu xõy dựng khụng? tận dụng
như thế nào?

+ HS: Hệ thống nước ngầm xung quanh hồ chứa nước thải của nhà mỏy cú bị ảnh hưởng
khụng? Hướng khắc phục ảnh hưởngnày như thế nào?

* Kết thỳc hoạt động ( … phỳt)

Giỏo viờn tặng hoa lónh đạo nhà mỏy. Ổn định lớp, núi lời cảm ơn tới toàn thể ban
lónh đạo nhà mỏy đó tạo điều kiện cho hoạt động tham quan học tập của HS đ ược tốt (lờn kế
hoạch cho hoạt động tham quan lần sau), chụp ảnh lưu niệm…

Lưu ý: Trong quỏ trỡnh tham quan, để trỏnh gõy mệt mỏi cho HS, ảnh hưởng tới kết
quả học tập. Giỏo viờn bố trớ thời gian nghỉ giải lao hợp lớ.




IV - Tổng kết – đỏnh giỏ

* Tổng kết chuyến tham quan

Giỏo viờn tổng kết lại toàn bộ cỏc hoạt động tham quan (từ khõu chuẩn bị đến khõu
triển khai thực hiện). Nhận xột về ý thức, thỏi độ tham gia học tập của HS, biểu d ương đối
với những em cú ý thức học tập tốt. Nhắc nhở, phờ bỡnh đối với một số em chưa thực hiện
tốt cỏc yờu cầu đặt ra.

* Đỏnh giỏ kết quả học tập
- GV yờu cầu HS trong lớp viết bỏo cỏo thu hoạch theo cỏc cõu hỏi như: trỡnh bày
những nội dung đó được phõn cụng tỡm hiểu sõu? Em hóy viết túm tắt cảm nghĩ của em sau
buổi tham quan? Trỡnh bày ngắn gọn quy trỡnh sản xuất điện của nhà mỏy nhiệt điện? Em
cú thể núi về dự định nghề nghiệp của em sau này?

- GV tập hợp cỏc nội dung chớnh mà cỏc em thu nhận được sau buổi tham quan, lựa
chọn và hướng dẫn lớp tổng kết, bỏo cỏo kết quả tham quan (ở lớp, khối hoặc toàn trường).




* Hướng dẫn học tập về nhà

Giỏo viờn hướng dẫn HS tỡm hiểu thờm về quy trỡnh làm việc của cỏc loại hỡnh sản
xuất điện khỏc như: thủy điện, điện nguyờn tử, nhà mỏy điện dựng sức giú…

- Lờn kế hoạch cho hoạt động ngoại khúa lần sau: thảo luận về sản xuất điện với mụi
trường. Sử dụng điện an toàn và tiết kiệm điện năng.




V. T Ư LI ẸU GDMT

Sản xuất điện năng

(Nguồn:Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)




Điện năng (toàn cầu) từ: nhiờn liệu húa thạch 64%, năng lượng hạt nhân 17%, thủy
điện 18%, năng lượng tái tạo 1%

Sản xuất điện năng là giai đoạn đầu tiên trong quỏ trỡnh cung cấp điện năng đến
người tiêu dùng, các giai đoạn tiếp theo là truyền tải và phân phối điện năng. Thực chất của
sản xuất điện năng là sự biến đổi các dạng năng lượng khác sang năng lượng điện hay điện
năng, dũng điện xuất hiện sau khi lưới điện được nối với mạng tiêu thụ.
Điện năng được sản xuất ra theo nhiều cách khác nhau, phần lớn đ ược sản xuất bởi
các máy phát điện tại các nhà máy điện, chúng có chung nguyên tắt hoạt động là các nguyên
lý động điện (định luật cảm ứng điện của Michael Faraday), cỏc hỡnh thức khác như trong
pin, ắc quy, tế bào nhiờn liệu hay từ năng lượng mặt trời,.

Cỏc hỡnh thức sản xuất điện năng

Với tuabin :Phần lớn điện năng được sản xuất bởi máy phát điện tại các nhà máy điện, máy
phát điện được nối với tuabin, chuyển động quay của tuabin dẫn đến chuyển động quay của
máy phát điện và tạo ra điện. Tuabin có thể được vận hành qua:
- hơi nước: năng lượng nhiệt qua quá trỡnh đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (như than, khớ
thiờn nhiờn hay dầu mỏ tại cỏc nhà mỏy nhiệt điện) hay từ phản ứng hạt nhõn (như trong các
nhà máy điện nguyên tử) làm nước bốc hơi, dưới áp suất cao làm quay tuabin
- nước: tại các nhà máy thủy điện, nươc được tụ lại với thế năng lớn, năng lượng dũng chảy
của nước làm quay tuabin
thể trực tiếp làm
- gió: gió có quay tuabin
- khí nóng: tuabin có thể đựoc vận hành trực tiếp từ các khí nóng trong quá trỡnh đốt cháy
khí thiên nhiên hay d ầu

Với động cơ pít tông:Các máy phát điện nhỏ hoạt động với động cơ pít tông (động cơ đốt
trong), nhiờn liệu dầu diesel, khớ sinh học , khớ thiờn nhiờn.

Bảng tế bào quang điện voltaic:Các tế bào này chuyển đổi năng lượng mặt trời trực tiếp
thành dũng điện, các vật liệu bán dẫn khi nhận năng lượng ánh sáng mặt trời giải phóng
electron và tạo ra dũng điện

Phản ứng húa học:Trong cỏc pin, ắc quy hay tế bào nhiên liệu năng lượng hóa được lưu
bên trong qua các phản ứng hóa học biền đổi thành điện năng.

Lượng điện sản xuất tại Việt Nam:Theo tập đoàn điện lực Việt Nam, tính đến tháng 12
năm 2006, tổng sản lượng điện cung cấp 46,972 tỉ kWh, trong đó công nghiệp và xây dựng
chiếm 46,97 %, quản lý-tiờu dựng-dõn cư 47,14 %.

Ghi chỳ: Tham kh ảo th ờm t ư li ệu ở b ài Th ế n ăng
V. Gợi ý kiểm tra, đánh giá về GDMT




Việc kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá tr ình dạy học nói
chung. Trong dạy học tích hợp GDMT việc kiểm tra, đánh giá lại càng cần thiết. Kiểm tra,
đánh giá trong hoạt động GDMT trước hết nó khẳng định mục tiêu giáo dục tích hợp GDMT
là cần thiết, là một bộ phận của học vấn phổ thông , đóng góp vào việc hình thành nhân cách
cuả HS và ý thức của HS tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Mặt khác , kiểm tra,
đánh giá cũng giúp cho việc củng cố kiến thức, kĩ năng đ ã đạt được của HS, giúp cho GV
đánh giá kết quả dạy học của mình, đặc biệt là đánh giá hiệu quả của việc tích hợp các nội
dung GDMT vào bài học.

Nội dung kiểm tra, đánh giá đ ược xác định trên cơ sở mục tiêu GDMT đã được xác
định khi xây dựng kế hoạch dạy học và mục tiêu dạy học của bộ môn. Nó có thể là mục tiêu
dạy học chung của môn học, của một phần của chương trình, của một chương hoặc của một
bài học.

Về hình thức tích hợp GDMT trong các bài kiểm tra có thể có hai dạng:

Những câu hỏi, bài toán độc lập đề cập đến các hiện tượng, quá trình vật lí đồng
-
thời là các nội dung môi trường ;

Những câu hỏi, bài toán vật lí có tích hợp các hiện tượng liên quan tới môi
-
trường.

Các câu kiểm tra có thể là các câu hỏi định tính, cũng có thể là các bài toán đòi hỏi
phải tính toán định lượng.

Hình thức viết các câu kiểm tra có thể là trắc nghiệm khách quan hoặc trắc nghiệm tự
luận tuỳ thuộc vào bài kiểm tra được tiến hành vào lúc nào và mục đích của kiểm tra .

Các câu kiểm tra có nội dung GDMT được tích hợp vào các dạng bài kiểm tra với
nhiều mục đích khác nhau: kiểm ta vấn đáp b ài học trước khi vào bài mới, kiểm tra viết 15
phút, 1 tiết khi kết thúc một chương, học kì hoặc cuối năm học.
Dưới đây chúng tôi đưa ra một vài ví dụ về các câu kiểm tra có tích hợp nội dung
GDMT.

Ví dụ viết các câu kiểm tra liên quan tới thế năng của nước:

1.- Câu hỏi định tính

Em hãy nêu một số hiện tượng trong tự nhiên thể hiện tác dụng có hại của thế năng
dòng nước và nêu cách khắc phục tác dụng có hại đó?




2. - Câu hỏi định tính dạng trắc nghiệm khách quan:

Những hiện tượng nào nêu dưới đây không phải do thế năng của nước gây ra ?

A. Sự nhiễm nặm tăng cường khi mực nước ngầm vùng ven biển bị hạ thấp.

B. Mưa.

C. Sương mù.

D. Hiện tượng sói mòn đất.




3. Bài tập định lượng:

Hãy tính công suất sinh ra do một dòng chảy của nước khi mưa từ một sườn đồi dốc
có độ cao 150 m xuống mặt đất, biết lưu lượng dòng chảy là


m3 /s ? Hãy cho biết năng lượng đó của nước đã gây ra những tác dụng gì?
0,5
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản