Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi Văn

Chia sẻ: Nhi Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:36

0
9
lượt xem
3
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi Văn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vấn đề xây dựng một nền giáo dục mới phù hợp với giai đoạn cách mạng mới đã trở thành vấn đề bức thiết được đặt ra cho toàn xã hội nói chung, cho ngành giáo dục-đào tạo nói riêng. Môn văn trong nhà trường THPT có một vai trò đặc biệt trong việc hình thành nhân cách và những phẩm chất tư duy cho học sinh nhằm đáp ứng những yêu cầu của thời đại trong mục tiêu đào tạo con người.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi Văn

  1. Tên đề tài: MỘT VÀI KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VĂN 1
  2. A/ PHẦN MỞ ĐẦU. I/BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI: Vấn đề xây dựng một nền giáo dục mới phù hợp với giai đoạn cách mạng mới đã trở thành vấn đề bức thiết được đặt ra cho toàn xã hội nói chung, cho ngành giáo dục-đào tạo nói riêng. Môn văn trong nhà trường THPT có một vai trò đặc biệt trong việc hình thành nhân cách và những phẩm chất tư duy cho học sinh nhằm đáp ứng những yêu cầu của thời đại trong mục tiêu đào tạo con người. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn cũng có một vị trí quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Do vậy, thời gian qua, việc đổi mới phương pháp dạy và học văn cũng như công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn văn đã được ngành giáo dục- đào tạo, các trường chuyên, các trường trung học phổ thông hết sức quan tâm. Bồi dưỡng nhân tài là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thiêng liêng mà đất nước và thời đại giao phó cho ngành giáo dục. Mỗi nhà trường, mỗi người thầy được nhận và phải nhận lấy nhiệm vụ đó như một vinh quang lại vừa như một thách thức lớn nhất trong nghề nghiệp của mình. II/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”- (Phạm Văn Đổng). Người giáo viên khi đã chọn nghề dạy học là đã thể hiện lòng yêu nghề, yêu người. Mục tiêu quan trong của ngành giáo dục là giáo dục nhân cách, đào tạo nhân tài cho đất nước. Một trong những niềm vui, niềm tự hào nhất của giáo viên là đào tạo và bồi dưỡng được những học sinh giỏi các cấp. Để có được những học sinh đạt giải trong các kì thi tuyển chọn học sinh giỏi thì ngoài năng lực, tố chất của học sinh thì công lao bồi dưỡng của người thầy là điều không thể phủ nhận được. 2
  3. Mỗi môn học trong nhà trường việc học và dạy đều có đặc thù riêng. Phương pháp dạy và học văn đã được nói và bàn luận rất nhiều từ trước đến nay. Học như thế nào cho tốt, dạy như thế nào cho thật sự có hiệu quả? Đó là điều băn khoăn trăn trở của mỗi giáo viên dạy văn khi đứng lớp. Một tiết dạy bình thường trên lớp cũng cần phải chuẩn bị kĩ lưỡng mới có thể dạy tốt và mang lại hiệu quả được. Nhưng một tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi còn có yêu cầu cao hơn nhiều. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ nặng nề nhưng cũng tất đỗi vinh dự cho người giáo viên khi tham gia bồi dưỡng. Câu hỏi mà bất cứ ai khi tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi cũng luôn đặt ra là làm thế nào cho thật sự đạt kết quả tốt nhất trong thời gian 7 tuần ôn luyện ngắn ngủi? Làm sao để các em phát huy hết năng lực của mình trong một thời gian làm bài 180 phút ấn định? Làm thế nào để công lao vất vả của thầy và trò không bị uổng phí? Làm sao để mang lại niềm vinh dự cho bản thân các em và thành tích trong nhà trường? Những câu hỏi ấy chính là động lực thúc đẩy người giáo viên phải luôn tìm tòi, học hỏi, sáng tạo để đạt được hiệu quả cao nhất trong điều kiện cho phép. Điểm khác biệt căn bản giữa dạy học sinh giỏi và dạy học sinh đại trà là ở chỗ: dạy học sinh giỏi phải sâu hơn, kĩ hơn; trong đó, cần giúp các em lí giải vấn đề một cách đầy đủ hơn. Như vậy điều quan trọng nhất trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi không phải chỉ là tăng thời lượng bài giảng, mà chủ yếu là ở chất lượng giảng dạy… Muốn dạy học sinh giỏi cần kiên trì, nỗ lực cập nhật kiến thức, không có kiến thức thì không thể dạy được học sinh giỏi. Dạy học sinh giỏi, phần lí luận văn học phải dạy kĩ hơn học sinh đại trà. Bởi lẽ, đây chính là kiến thức công cụ để học sinh có thể hiểu sâu hơn, lí giải xác đáng hơn các hiện tượng văn học. Dạy lí luân văn học cho học sinh theo hai hướng: Cung cấp 3
  4. thêm hoặc củng cố thêm một số khái niệm lí luận văn học; vận dụng những hiểu biết về lí luận để lí giải các hiện tượng văn học thường xuyên xuất hiện trong các bài học. Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong bồi dưỡng học sinh giỏi là bồi dưỡng phương pháp tư duy, phương pháp học văn, nói cụ thể hơn là phương pháp làm bài, cách vận dụng kiến thức…Đây là công việc khó khăn, không những đối với người học mà đối với cả người dạy. Bởi thế, kết quả dạy học sinh cách vận dụng kiến thức, cách làm bài là những căn cứ khá tin cậy để đánh giá trình độ và tay nghề của thầy giáo dạy học sinh giỏi. Để đạt được một số thành công trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn mỗi giáo viên lựa chọn những phương pháp phù hợp và vận dụng linh hoạt theo cách riêng của mình. 11 năm liền nhận nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi văn của trường THPT Long Thạnh là 11 năm tôi có học sinh giỏi đạt giải của tỉnh, trong đó có 2 năm có học sinh giỏi đạt giải quốc gia. Vì vậy, năm nay tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một vài kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi văn” để trao đổi cùng đồng nghiệp. III/ PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI Muốn bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả thì mỗi giáo viên cần nắm vững toàn bộ chương trình Ngữ văn THPT về : văn học sử, tiếng Việt, làm văn, lí luận văn học…nhưng điều quan trọng là phải giúp các em từ việc hiểu rộng, hiểu sâu vấn đề văn học, vấn đề của cuộc sống, biết cách vận dụng kiến thức vào việc lí giải các vấn đề cụ thể của đề bài. Do sự phong phú về nội dung cần ôn tập, sự vận dụng linh hoạt về phương pháp, trong bài viết này tôi chỉ trình bày một vài kinh nghiệm đã bồi dưỡng thành công đối với học sinh giỏi lớp 11, 12. IV/ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 4
  5. Bồi dưỡng học sinh giỏi không phải chỉ bó hẹp trong việc chuẩn bị để có học sinh đoạt giải trong các kì thi chọn học sinh giỏi mà việc thi học sinh giỏi và các kì thi này cũng là một căn cứ tin cậy để đánh giá chất lượng dạy và học. Chất lượng, kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi ít nhiều sẽ có ảnh hưởng tích cực tới chất lượng giảng dạy ở các lớp trong trường. Hơn nữa, trên cơ sở học vấn phổ thông, bồi dưỡng sâu thêm những năng lực về ngữ văn, tạo cho học sinh có những điều kiện thuận lợi để tiếp tục học lên và làm việc một cách sáng tạo, có hiệu quả trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Bồi dưỡng học sinh giỏi cũng là dịp để giáo viên thể nghiệm việc đổi mới phương pháp dạy học. Thước đo trình độ của một giáo viên dạy học sinh giỏi chính là phương pháp giảng dạy. Chọn viết về đề tài này, bản thân tôi muốn nâng cao hiệu quả giờ lên lớp, muốn trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với đồng nghiệp, muốn nhận được ở những đồng nghiệp tâm huyết với nghề sự góp ý chân thành. B.PHẦN NỘI DUNG I.CƠ SỞ LÍ LUẬN: Phương pháp dạy học hiện nay rất coi trọng chủ thể học sinh. Việc dạy học sinh giỏi cũng không nằm ngoài nguyên tắc ấy. Có điều là, để học sinh tự đi trên con đường tìm ra kiến thức và có khả năng làm việc tương đối độc lập, không quá phụ thuộc vào người thầy thì các em phải được trang bị một hệ thống kĩ năng cần thiết. Do đó, giúp học sinh có những kĩ năng cần thiết là đã trao cho các em chiếc chìa khóa để các em tự mở và khám phá những vẻ đẹp văn chương. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với đặc trưng bộ môn: vẻ đẹp của tác phẩm văn chương là vô tận, nhiều tầng, nhiều lớp. Người 5
  6. đọc tùy theo sở trường, vốn sống, vốn văn hóa mà phát hiện, cảm nhận ở những mức độ khác nhau. Bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc khó khăn và cũng là niềm say mê, hạnh phúc lớn đối với giáo viên văn. Nó đòi hỏi người thầy không chỉ có tầm mà còn có tâm. Và chính sự tâm huyết với nghề mới hi vọng đem lại những thành quả mong muốn. Bởi, học sinh giỏi văn thường là những em có năng khiếu: biết tự làm giàu vốn kiến thức, có khả năng cảm thụ, tư duy tốt, biết vận dụng các thao tác lập luận, các phương thức biểu đạt, kiến thức, kĩ năng để lí giải tốt một vấn đề, một hiện tượng văn học, đời sống. Như vậy, một tiết dạy học sinh giỏi đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị và đầu tư kĩ lưỡng, thậm chí giáo viên phải có vốn kiến thức vừa rộng vừa sâu thì giảng dạy mới đạt hiệu quả, mới thuyết phục được học sinh. Tiết dạy phải làm cho học sinh thực sự hứng thú, tin tưởng và có niềm vui đồng sáng tạo. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ. 1.Thuận lợi: -Là tổ trưởng chuyên môn, là giáo viên đứng lớp trên 30 năm, bản thân đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm giảng dạy để nâng cao hiệu quả giờ lên lớp; 11 năm bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 11, 12 của trường, tôi dành nhiều thời gian, tâm huyết nghiêm cứu chuyên môn, vừa dạy vừa rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng giờ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi. -Bản thân luôn chịu khó đọc các tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học, các vấn đề lí luận văn học, tham khảo, cập nhật đề thi học sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi quốc gia hàng năm. -Ban giám hiệu, hội khuyến học trường, một số đồng nghiệp tâm huyết thường có sự quan tâm, khen thưởng, động viên đúng mức, kịp thời đến công tác này. 6
  7. -Kết quả thi học sinh giỏi hàng năm của trường luôn là động lực thúc đẩy thầy và trò chúng tôi phải cố gắng nhiều hơn, không được bằng lòng với những gì đã đạt được. 2. Khó khăn. - Trường Trung học phổ thông Long Thạnh ở địa bàn vùng nông thôn, có quyết định thành trường THPT năm 2000, điểm tuyển học sinh vào học tại trường hàng năm rất thấp (thường tuyển hết), nhiều em học sinh giỏi hết cấp hai là ra tỉnh học trường chuyên, lớp chọn. Số học sinh giỏi văn hàng năm của trường không nhiều. Một số em được tuyển chọn bồi dưỡng đi thi HSG tỉnh chỉ là học sinh học khá môn văn. Hơn nữa, học sinh được chọn vào đội tuyển thường có trình độ không đều: một số em có khả năng hành văn thì vốn kiến thức văn học chưa được phong phú; một số em khác có vốn kiến thức văn học khá phong phú thì lại non về kĩ năng làm văn, nhất là dạng bài nghị luận, lí luận văn học. - Tài liệu, sách tham khảo ở thư viện trường còn hạn chế, chưa có đủ để giáo viên và học sinh đọc, nghiên cứu theo yêu cầu. - Những năm gần đây, việc khuyến khích học sinh giỏi đạt giải trong các kì thi HSG tỉnh, quốc gia chưa thật thỏa đáng, khiến một số phụ huynh, học sinh không mặn mà lắm với việc thi học sinh giỏi Văn. Vào đội tuyển văn của trường thường là những em chỉ học khá giỏi môn văn hoặc những học sinh giỏi không được tuyển vào các môn khoa học tự nhiên mới ôn môn văn. III. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Chọn học sinh giỏi. -Chọn học sinh từ lớp 10. Tìm hiểu kết quả học môn văn của học sinh ở THCS qua điểm tổng kết, điểm thi học sinh giỏi, điểm thi tuyển vào lớp 10 (môn văn), có thể 7
  8. tham khảo ý kiến của giáo viên đã trực tiếp dạy học sinh đó để nắm bắt mặt mạnh- mặt hạn chế của các em; đặc biệt chú ý đến điểm các bài làm văn, điểm kiểm tra học kì I môn văn lớp 10. -Học sinh giỏi văn phải đạt được những yêu cầu cơ bản như: có năng lực cảm thụ, say mê văn chương, có sự chủ động sáng tạo khi thực hành, có ý thức học tập nghiêm túc. Đội tuyển học sinh được hình thành, chọn lọc theo hướng loại dần qua quá trình ôn luyện, qua các đợt thi. Không đưa học sinh mới vào khi đang dạy, làm như vậy kiến thức của các em không đồng đều và việc tiến hành ôn luyện phải làm lại, vất vả, mất thời gian. Chúng ta đã biết mỗi một tác phẩm văn học đều là “con đẻ tinh thần” của nhà văn. Người nghệ sĩ khi viết tác phẩm phải dồn hết tâm huyết của mình vào việc sáng tạo. Họ quan sát thế giới hiện thực, nghiền ngẫm trước những vấn đề đời sống, lựa chọn đề tài và phương pháp sáng tác nhằm qua tác phẩm của mình gửi đến người đọc những thông tin thẩm mĩ và có giá trị để từ đó giáo dục, cảm hóa, bồi dưỡng năng lực nhận thức, năng lực thẩm mĩ của đông đảo bạn đọc. Vì thế, khi học văn học sinh phải có khả năng tìm ra cái hay, cái đẹp trong từng tác phẩm, hiểu rõ tình cảm của nhà văn gửi gắm vào trong tác phẩm từ đó biết phát huy cái hay, cái đẹp ấy một cách linh hoạt sáng tạo trong quá trình học tập và lĩnh hội tác phẩm. Sau đó, học sinh phải có khả năng tự “giãi bày” theo cách riêng của mình để qua đó biểu lộ được thế giới tâm hồn, tình cảm, trí tuệ phong phú đa dạng của chính mình. 2. Lập kế hoạch bồi dưỡng. -Về thời lượng: Đội văn được thành lập và bồi dưỡng từ học kì II lớp 11 đến giữa học kì I lớp 12. Mỗi học kì học sinh được bồi dưỡng 60 tiết. Tổng cộng khoảng 120 tiết. Giáo viên dạy bồi dưỡng lập kể hoạch, cụ thể nội dung ôn luyện từng học kì. 8
  9. -Về nội dung: căn cứ vào hường dẫn của Sở giáo dục và đào tạo. 3. Biện pháp thực hiện. a. Tiến hành bồi dưỡng học sinh giỏi từ những tuần cuối học kì 2 lớp 10. Đồng thời cho học sinh học trước trước chương trình lớp 11, tạo điều kiện cho những học sinh 11 tham dự thi học sinh giỏi cùng học sinh 12 và để lớp 11 sẽ có thời gian học trước chương trình 12. b. Dạy nền: * Giáo viên cung cấp tài liệu hay, bổ ích cho học sinh đọc thêm bằng cách phô tô rồi phát cho từng em; cho các em mượn tài liệu chuyền nhau đọc hay cung cấp tên sách để học sinh tìm đọc. * Bám sát chương trình, dạy thật kĩ, thật sâu, thật chu đáo từng bài trong chương trình quy định để các em có một mặt bằng kiến thức chắc chắn, tạo cơ sở cho học sinh có khả năng thẩm văn một cách chính xác và sáng tạo. Nghĩa là giáo viên phải phấn đấu để hướng dẫn học sinh “Phát hiện ra, bằng năng lực thẩm mĩ chất văn đích thực của tác phẩm” (Nguyễn Đăng Mạnh). Để phát huy được tính sáng tạo của học sinh, tôi áp dụng phương pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm”, nhằm làm cho học sinh thấy yêu tác phẩm, cảm phục tài nghệ của nhà văn mà thấy yêu văn học, yêu cuộc sống hơn. Kết quả là khi làm bài kiểm tra, học sinh có khả năng tự “giãi bày”, lúc đó thầy giáo không chỉ gặp lại mình mà còn được tiếp xúc với trò, với thế giới tâm hồn, tình cảm và trí tuệ phong phú, đa dạng của các em. c. Dạy tìm hiểu chiều sâu, mở rộng. * Theo sát các tác gia, tác giả, tác phẩm, các giai đoạn văn học mà đề ra những chuyên đề bổ trợ kiến thức cho học sinh nhằm cung cấp cho học sinh môt lượng kiến thức phong phú, toàn diện, sâu sắc và hệ thống. 9
  10. * Học đến đâu luyện tập đến đó. Một mặt là để củng cố kiến thức, mặt khác để rèn luyện kĩ năng cho học sinh. Yêu cầu của việc luyện tập là phải tạo được thói quen phân tích đề, lập dàn ý- đó là một thao tác hết sức cần thiết mà lâu nay học sinh ít chú ý và thường hay bỏ qua khi làm bài. Luyện tập còn là để bồi dưỡng kĩ năng nói và viết lưu loát cho học sinh để từ đó mà nâng lên thành kĩ năng diễn đạt sáng rõ, khúc triết, hàm súc và có sức truyền cảm cao. Qua luyện tập, một lần nữa giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách thức tiếp cận vấn đề, từ đó tạo thói quen cho học sinh cách thức khám phá, phát hiện vấn đề, dám giải quyết những vấn đề khó, dám đưa ra quan điểm riêng của mình tạo ra phong cách riêng, độc đáo của người viết. Từ những bài tập, học sinh phải có khả năng biến kiến thức của thầy, của tài liệu thành kiến thức của mình, có được những lí giải thuyết phục trước những vấn đề văn học. Học sinh có cảm thụ đúng là tốt nhưng phải tạo thói quen cho học sinh biết cách phân tích sâu sắc các hình tượng, các khía cạnh, các vấn đề văn học. d. Tìm hiểu đề. tìm ý và lập dàn ý cho đề bài. e. Giáo viên ra đề cho học sinh thực hành làm bài theo thời gian ấn định. 4. Những việc làm cụ thể. a. Giáo viên cung cấp tài liệu cho học sinh đọc tham khảo về các tác gia, tác giả, các tác phẩm của họ được dạy và học trong nhà trường như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,…Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Tản Đà, Nguyễn Bính,…Nguyễn Tuân, Thạch Lam,…Nam cao, Vũ Trọng Phụng,…Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh,…Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,…Học sinh tìm hiểu về các tác giả, hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm làm cơ sở cho việc lĩnh hội giá trị các tác phẩm. Trong việc tích lũy kiến thức, kĩ năng đọc có vai 10
  11. trò quan trọng. Một trong những “tiêu chuẩn” của học sinh giỏi là vốn kiến thức phải phong phú, sâu rộng, chắc chắn và có hệ thống. Những kiến thức mà các em thu lượm được trong nhà trường, trong bài giảng của thầy là không đủ. Vậy là các em phải tích lũy nó qua con đường: tự đọc sách. Nhưng sách vở, tài liệu tham khảo có thể gọi là “tràn lan” nếu không khéo sẽ rơi vào tình trạng “đa thư loạn mục”. Vì vậy, trang bị cho học sinh kĩ năng đọc là rất cần thiết. Học sinh phải đọc có hệ thống; đọc theo mục đích; đọc theo đề tài; đọc để mở rộng…Chẳng hạn như khi học Nam Cao, một học sinh giỏi không chỉ biết tác phẩm “Chí Phèo”, “Đời thừa”, “Lão Hạc” mà còn phải đọc rộng và am hiểu thêm nhiều truyện ngắn của Nam Cao trước và sau Cách mạng tháng Tám. Ngoài việc nắm và cảm thụ tác phẩm văn học, học sinh còn cần phải đọc các sách, các tài liệu lí luận văn học, nghiên cứu phê bình văn học mới thực sự có điều kiện thâm nhập một cách đầy đủ về tác phẩm. Ví dụ: khi học thơ mới với các bài thơ “Vội vàng”, “Đây mùa thu tới”, “Thơ duyên” của Xuân Diệu, “Tràng giang” của Huy Cận, “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử giáo viên phải hướng dẫn học sinh đọc thêm các tập thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, tập thơ “Lửa thiêng” của Huy Cận, các tập thơ của Hàn Mặc Tử, và đọc cuốn “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh- Hoài Chân để học tập, cảm nhận những lời bình giảng độc đáo, súc tích. Như vậy, đọc về tác giả, tác phẩm và các tài liệu nghiên cứu phê bình văn học là một hoạt đông rất quan trọng trong yêu cầu bồi dưỡng học sinh. Giáo viên phải thường xuyên quan tâm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra để các em có được những kiến thức cần thiết trong quá trình làm bài. Kiến thức văn học phong phú, vững vàng là cơ sở và nền tảng đầu tiên để học sinh viết một bài văn tốt. b. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tác gia, tác giả, tác phẩm. 11
  12. -Tìm hiểu về tác gia, tác giả, giúp học sinh hiểu sâu, hiểu kĩ về tiểu sử, sự nghiệp văn học của nhà văn đồng thời giúp các em có cái nhìn đối sánh về nét tương đồng và khác biệt trong phản ánh hiện thực đời sống của nhà văn. Thời đại, hoàn cảnh sống, học vấn, tuổi tác,…góp phần tạo nên nét riêng trong phong cách của nhà văn. -Tìm hiểu tác phẩm, trước hết các em phải tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của nó. Hoàn cảnh ra đời có tác động đến khuynh hướng tư tưởng. Những tác phẩm văn học ở những thời kì khác nhau thì khuynh hướng tư tưởng cũng khác nhau. Đọc những tác phẩm này, có thể thấy được dấu ấn khuynh hướng tư tưởng của từng thời kì văn học. Chúng ta thấy khuynh hướng tư tưởng của truyện ngắn “Một đám cưới” (1944) của Nam Cao khác với khuynh hướng tư tưởng truyện ngắn “Vợ nhặt” (in trong tập “Con chó xấu xí”, 1962) của Kim Lân. Tuy về đề tài hai tác phẩm này có phần gần gũi nhau. Tác phẩm của Nam Cao viết về một đám cưới chạy đói, qua đó thể hiện thấm thía và sâu sắc một nông thôn ảm đạm, đói nghèo xơ xác đang trên con đường bần cùng hóa không lối thoát. Qua từng trang văn có thể thấy rõ lòng xót thương chân thành của Nam Cao, nhưng cũng bộc lộ rõ cái nhìn nhuốm màu sắc bi quan của ông đối với tiền đồ của người nông dân lao động. Trang truyện khép lại rồi mà hình ảnh một đám cưới buồn thê thảm không hơn gì một đám ma nghèo cứ ám ảnh và day dứt mãi trong lòng người đọc…Sau Nam Cao, Kim Lân miêu tả cảnh lấy vợ có phần còn thê thảm hơn nhiều: Cảnh anh cu Tràng nhặt được vợ vào cái thời điểm nạn đói khủng khiếp mùa xuân năm Ất Dậu (1945) ở miền Bắc. Một thứ vợ nhặt được chỉ bằng vài câu nói đùa và mấy bát bánh đúc giữa đường giữa chợ (chứ không phải vợ cưới). Cái giá của con người thật rẻ rúng. Đêm tân hôn, hạnh phúc của vợ chồng Tràng bị bủa vây bởi không khí thê lương, ảm đạm, chết chóc: “Mùi đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”, “Giữa sự im lặng của đôi vợ chồng mới, có tiếng ai hờ khóc 12
  13. ngoài xóm lọt vào lúc to lúc nhỏ”…Cảnh tượng thật là thê thảm, có phần thê thảm hơn “Một đám cưới” của Nam Cao. Nhưng khuynh hướng tư tưởng của “Vợ nhặt” không hề có nét bi lụy. Những người đói trong tác phẩm của Kim Lân không nghĩ đến cái chết mà cứ nghĩ đến cái sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai…Cách kết thúc của “Vợ nhặt” cũng khác với “Một đám cưới”. Truyện ngắn “Một đám cưới” của Nam Cao khép lại bằng cảnh chia tay của bố con Dần trong tiếng khóc nức nở- đúng là cái kết thúc của một đám cưới không dẫn đến hạnh phúc mà đánh dấu một sự ly tán, chia lìa, và cùng với nó là một tương lai mù mịt. Còn truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân lại kết thúc bằng hình ảnh hiện lên trong óc Tràng: Đoàn người tấp nập đi phá kho thóc của Nhật cùng với lá cờ đỏ của Việt Minh bay phấp phới. Hình ảnh này đối lập với những hình ảnh về cuộc sống thê thảm của người nông dân được miêu tả ở phần trước của thiên truyện. Như vậy, truyện ngắn “Vợ nhặt” đã phản ánh hiện thực đời sống theo xu hướng vận động tích cực, mở ra hướng giải thoát cho số phận các nhân vật, chỉ ra con đường sống của người nông dân, và cho thấy khi bị đẩy vào tình trạng đói khát cùng đường thì những người nông dân nghèo khổ sẽ hướng tới Cách mạng. Có thể nói, đọc “Một đám cưới” và “Vợ nhặt”, có thể thấy được dấu ấn của hoàn cảnh lịch sử xã hội, khuynh hướng văn học và phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn. “Một đám cưới” viết trước Cách mạng (1943) trong hoàn cảnh đen tối của xã hội Việt Nam đương thời. Còn “Vợ nhặt” viết sau 1945 khi quần chúng đã được cách mạng giải phóng. “Một đám cưới” thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán chưa tìm thấy lối thoát, tương lai tươi sáng của người nông dân. Còn “Vợ nhặt” là tác phẩm của nền văn học cách mạng từ sau 1945 có khả năng và cần thiết phải chỉ ra chiều hướng phát triển tích cực của đời sống xã hội. 13
  14. - Tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm giúp học sinh nằm vững mối quan hệ giữa các tác phẩm văn học với hoàn cảnh xã hội, với tư tưởng và cuộc đời tác giả, nhất là mối quan hệ giữa tác phẩm văn học với đời sống hiện nay,…Học sinh lĩnh hội những điều đó làm cơ sở cho việc so sánh sự khác biệt trong việc phản ánh và lí giải hiện thực đời sống của các nhà văn như: nét riêng trong tiếng nói và vẻ đẹp của người phụ nữ ở hai bài thơ: “Tự tình” (bài 2) của Hồ Xuân Hương, “Sóng” của Xuân Quỳnh một phần được lý giải do thời đại, xuất thân, hoàn cảnh sống, học vấn, tuổi tác của mỗi nhà thơ; tiếng cười trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương khác nhau một phần là do Nguyễn Khuyến là người đỗ đạt, sống gắn bó với làng quê…còn Tú Xương là người sống ở thành thị trong xã hội thực dân nửa phong kiến, là người không đỗ đạt, sống trong cảnh nghèo, nợ nần chồng chất… c. Giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu chiều sâu của các tác phẩm: yêu cầu các em phải phân tích và cảm thụ các tác phẩm ấy trong thế đối sánh với nhau để chỉ ra sự độc đáo, vẻ đẹp riêng biệt của mỗi tác phẩm. Có thể so sánh các tác phẩm có cùng đề tài, cảm hứng, hình tượng trong một khuynh hướng văn học; trong một giai đoạn văn học; của một tác giả hoặc khác giai đoạn, khuynh hướng, tác giả. Chẳng hạn, so sánh nội dung nhân đạo của các tác giả văn học hiện thực phê phán (1930-1945) để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt. Từ chỗ chỉ ra sự khác biệt trong cái nhìn nhân đạo của Kim Lân, Tô Hoài, Nguyễn Khải so sánh với cái nhìn nhân đạo của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan. Ngoài tấm lòng yêu thương, khẳng định phẩm chất và khát vọng sống của những nhân vật bất hạnh, Kim Lân, Tô Hoài và Nguyễn Khải đều mở ra con đường tương lai tươi sáng để đưa những nạn nhân khốn khổ ấy đến với cuộc đời hạnh phúc. Vợ chồng Tràng, vợ chồng A Phủ, Đào được thoát khỏi cuộc sống cũ, trong lúc chị Dậu của Ngô Tất Tố vẫn bế tắc với 14
  15. “bầu trời tối đen như mực”, Chí Phèo của Nam Cao thì giết được kẻ thù rồi cũng tự đâm chết mình; đưa các em đến với khẳng định: sự khác biệt ấy là bước tiến quan trọng trong cái nhìn nhân đạo của các nhà văn cách mạng, được nảy sinh từ nền văn học mới (1945-1975) do cuộc sống mới tác động. Ta gọi giá trị nhân đạo trong ba tác phẩm “Vợ nhặt”, “Vợ chồng A Phủ”, “Mùa lạc” là giá trị nhân đạo mới của văn học cách mạng giai đoạn 1945-1975. Hay, học sinh có thể thấy được sắc thái nhân đạo riêng biệt của ba Tác phẩm “Vợ nhặt” (Kim Lân), “Chí Phèo” (Nam Cao), “Hai đứa trẻ”(Thạch Lam). Cùng nói lên nỗi thống khổ, tủi nhục của người dân trước Cách mạng tháng Tám 1945 nhưng mỗi nhà văn có một cách thể hiện riêng. Nói cách khác, cảm hứng nhân đạo của họ hướng tới những khía cạnh khác nhau của sự khốn cùng, khốn khổ của những kiếp người. + Với “Chí Phèo”, Nam cao tập trung hướng tới bi kịch không được làm người, bi kịch bị tước đoạt mọi quyền sống, quyền được lương thiện của con người. Con người ở đây không chỉ khốn khổ vì đói rét mà còn tủi nhục vì không được coi là người. Chí Phèo chỉ là con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Hãy cứu lấy nhân phẩm và nhân cách của con người, đó là tiếng nói tố cáo, tiếng nói thông cảm và cũng là tiếng nói khát khao, ước vọng. Đó là cảm hứng nhân đạo của Nam Cao ở tác phẩm này. + Ở truyện “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam lại tập trung thể hiện tấm lòng thương xót cảm thông với những con người nhỏ bé, dường như bị lãng quên trong một phố huyện nghèo nàn, xơ xác, một cuộc sống đơn điệu, buồn tẻ, nhàm chán u buồn và vô nghĩa. Con người ở đó chỉ là những cái bóng vật vờ, uể oải, leo lét như những đốm sáng yếu ớt trong màn đêm ở phố huyện nghèo. Ánh sáng rực rỡ của con tàu đêm đêm chỉ làm 15
  16. tăng thêm sự buồn chán cô đơn của con người và sự u tối nghèo nàn của phố huyện mà thôi. + Đọc truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân, người ta lại thấy con người ở đấy nghèo khổ, tủi nhục đến thế là cùng. Tác giả đã tạo dựng được một tình huống rất độc đáo trong tâm trạng của mẹ con bà cụ Tứ: vui mà tội nghiệp, mừng mà vừa tủi vừa lo. Tự nhiên nhặt được vợ ngoài đường, nhưng có vợ rồi liệu “chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”. Phải thông cảm và hiểu những con người khốn khổ ấy một cách sâu sắc lắm Kin Lân mới mô tả và thể hiện được một tâm trạng rất chân thực và xúc động này. Ý nghĩa nhân dạo ở “Vợ nhặt” còn thể hiện ở “con đường thoát cảnh đói nghèo” mà tác giả hé mở ra ở cuối thiên truyện bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trong tâm trí Tràng. Cùng viết về mùa thu nhưng mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi đều có sắc thái riêng: + Ở bài “Thu vịnh”, Nguyễn Khuyến lấy cảm hứng từ một vùng quê thôn dã- vùng quê Yên Đổ rất mực gắn bó và thủy chung với tâm hồn ông. Có thể nói mùa thu ở đây là một mùa thu tiêu biểu cho mùa thu của làng quê Việt Nam (đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ). Đó là một mùa thu thơ mộng, tĩnh lặng, trong trẻo và yên ả đến kì lạ…Trước cảnh thu ấy, tác giả vừa đắm say vừa buồn bã. Một nỗi buồn dịu nhẹ, bâng khuâng thấm đượm và bao phủ lên toàn bộ cảnh thu. Cuối bài thơ, nỗi buồn đã trở thành nỗi thẹn, nỗi đau man mác về khí tiết của chính bản thân mình. Chính điều này làm người đọc yêu mến và kính trọng ông hơn. + Bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu: khác với cảnh thu “cổ điển” tiêu biểu cho làng quê Việt Nam của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu lấy thu hứng từ cảnh sắc một mùa thu “hiện đại”, nơi phố phường thành thị. Những “rặng liễu đìu hiu”, những “màu 16
  17. áo mơ phai”và “ít nhiều thiếu nữ buồn không nói” cùng với cảnh sắc, âm hưởng, không gian, khí trời…đã nói lên điều đó. Trước cảnh thu này cũng là nỗi buồn nhưng nỗi buồn của Xuân Diệu khác với nỗi buồn Nguyễn Khuyến. Đây là nỗi buồn da diết, lắt lay, thấm đượm một nỗi lạnh lùng run rẩy, “cảnh vật như nhuốm màu tử khí” như có người đã nhận xét. Đó là một nỗi buồn rất thơ mới. + Bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi: tác giả không viết riêng về mùa thu như hai bài thơ tên. Tuy vậy, cảm hứng về mùa thu vẫn dạt dào trong bài thơ, bởi những sự kiện lớn lao của đất nước trong những năm tháng ấy luôn gắn với mùa thu. Mùa thu Cách mạng tháng Tám thành công (1945) rồi toàn quốc đứng dậy kháng chiến. Sau chín năm gian khổ, đất nước sạch bóng xâm lăng cũng đúng vào mùa thu tháng tám. Trong bài thơ có hai mùa thu, hay đúng hơn là có hai mùa thu trong tâm hồn Nguyễn Đình Thi. Mùa thu ra đi kháng chiến là mà thu chia tay với đất trời Hà Nội. Đó là một mùa thu đượm buồn, lạnh lẽo heo may, xao xác những phố dài lá rụng và những kỉ niệm buồn. Còn mùa thu kia là mùa thu kháng chiến thành công. Một mùa thu dạt dào vui sướng, trong biếc, thiết tha… Tóm lại: mùa thu trong tâm hồn Nguyễn Khuyến là mùa thu của một ông già tha thiết với quê hương xứ sở, nhưng chua chát, buồn chán trước thời cuộc, nhân thế. Mùa thu trong tâm hồn Xuân Diệu là mùa thu của lớp thanh niên tiểu tư sản chán nản trước thực tại xã hội, cô đơn, bế tắc không lối thoát. Mùa thu trong tâm hồn Nguyễn Đình Thi là mùa thu của những chàng trai Hà Nội, hăm hở đến với cách mạng, buồn bã mà vẫn kiên quyết ra đi kháng chiến và dạt dào niềm vui khi thắng lợi trở về. *Giáo viên hướng dẫn học sinh học kết hợp với luyện tập: theo các nhóm chuyên đề. 17
  18. -Giảng chuyên đề về tác gia, tác giả: trước hết, giáo viên hướng dẫn tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự nghiệp, quá trình sáng tác, đặc điểm nổi bật của quá trình sáng tác, phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác, quan điểm nghệ thuật, những thành công, tiến bộ, hạn chế, thi pháp đặc trưng của từng tác giả như: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Thạch Lam…sau đó hướng dẫn luyện tập để củng cố và nâng cao kiến thức. Ví dụ: học sinh tìm hiểu nét thống nhất và nét riêng trong phong cách nghệ thuật thuật của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám qua hai hình tượng nhân vật: Huấn Cao và ông lái đò sông Đà; nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh trong văn chính luận, truyện kí và thơ ca. -Giảng chuyên đề về nhóm tác phẩm, giai đoạn, trào lưu, xu hướng văn học: thơ mới, thơ kháng chiến chống Pháp, thơ 1945-1975, văn xuôi chống Mỹ, số phận người phụ nữ qua một số truyện kí 1945-1975,…Giáo viên cho học sinh luyện tập một số bài tập: “cái tôi” qua các bài thơ của các nhà thơ mới: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử; nét chung và nét riêng trong cảm hứng về đất nước qua các bài thơ “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi), “Bên kia sông Đuống”(Hoàng Cầm), “Việt Bắc”(Tố Hữu”, “Tiếng hát con tàu” (Chế Lan Viên)… -Chuyên đề về kĩ năng làm văn: thơ và phân tích thơ, truyện và phân tích truyện, bình luận văn học, nghị luận lí luận văn học, điều kiện để làm một bài văn hay, chi tiết nghệ thuật trong truyện kí… -Chuyên đề lý luận văn học: học sinh cần được trang bị những kiến thức cơ bản về: đặc trưng của văn học; mối quan hệ giữa văn học và hiện thực; thế giới quan và sáng tác nghệ thuật; nội dung và hình thức, quá trình sáng tác, giá trị văn học và tiếp nhận văn học, nhà văn, phong cách sáng tác, phong cách nghệ thuật điển hình…Những 18
  19. kiến thức này vừa được học thành bài cụ thể, vừa được học xen kẽ trong các giờ văn học sử, giảng văn; được vận dụng trong các bài làm và qua các tiết ôn tập, hệ thống hóa. Dạy lý luận văn học cho học sinh là khâu đặc biệt quan trọng. Học sinh học có ghi chép những kiến thức được xem như chìa khóa để đi vào khám phá tác phẩm văn học. Ví dụ dạy bài “Giá trị văn học”, cần cung cấp cho các em các kiến thức sau: + Giá trị văn học là gì? (Giá trị văn học chính là những tác động, những ảnh hưởng tốt đẹp của văn học đối với con người và cuộc sống). + Cơ sở của giá trị văn học và các giá trị văn học: Con người có ba nhu cầu cơ bản để sinh tồn và phát triển, để tạo thành một sinh thể màu nhiệm nhất của tạo hóa, vượt lên muôn loài. Đó là: hiểu biết, giáo dục và thẩm mĩ. Vì vậy, văn học- một hình thái ý thức cao nhất của con người cũng có ba giá trị cơ bản nhằm giúp con người hoàn thiện. Đó là nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ. Từ việc giáo dục con người hiểu biết về thế giới, về xã hội, về con người, về chính mình, văn học hướng đạo cho con người biết yêu, biết ghét, biết trách nhiệm và tình thương và hơn thế biết cảm nhận và thu nhận cái đẹp. + Thực hành tìm hiểu các giá trị văn học ở một vài tác phẩm cụ thể. Các chức Truyện ngắn “Chữ người tử Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”- năng văn tù”-Nguyễn Tuân Nguyễn Minh Châu. học Đọc tác phẩm, người đọc hiểu -Truyện ngắn cho biết thêm về cuộc thêm về nghệ thuật chơi chữ sống của người dân miền biển sau thanh cao, nho nhã của người chiến tranh, ở đó vẫn còn bao lam lũ, 19
  20. Giá trị xưa;tác phẩm cũng tái hiện vất vả, khó nhọc… nhận thức. được không gian và thời gian -Cho ta khám phá được thế giới tình lịch sử- xã hội của thời đại thương của người phụ nữ miền biển đó… với con cái, gia đình. Trên cơ sở ngợi ca và trân trọng -Phải biết nhìn sâu hơn vào cuộc sống: tài năng, nhân cách và khí đàng sau bức tranh toàn bích, tuyệt vời phách cao đẹp của Huấn Cao, kia là một nỗi đời của một người phải tác phẩm hướng người đọc đến cịu bao dữ dằn, khốn khổ, hung ác, tàn những giá trị đạo đức, nhân nhẫn. Đằng sau nỗi đời ấy là một triết cách tốt đẹp. lí mà ngay cả người cầm cán cân công Giá trị giáo lí cũng không hiểu được: người đàn bà dục. trên thuyền với bầy con gần chục đứa không thể thiếu người đàn ông. -Phải biết cảm thương lo âu cho số phận con người, cho xã hội. Chiến tranh kết thúc không có nghĩa là hạnh phúc , là sung sướng. Còn có bao nhiêu kẻ thù mà những cuộc chiến tranh không giải quyết được: đói nghèo, dốt nát, lạc hậu. - Nguyễn Tuân đen đến cho -Tác phẩm ca ngợi những thân phận chúng ta một quan niệm thẩm đàn bà vùng biển, họ sống cho chồng, mĩ thú vị, thấm đẫm tư tưởng cho con, cho thế hệ mai sau. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản