SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SOẠN - GIẢNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

Chia sẻ: akura123

Quá trình dạy học bao gồm hệ thống những tác động từ phía người dạy (giáo viên) đến người học (học sinh), nhằm làm cho học sinh tích cực và chiếm lĩnh tri thức, hình thành những phẩm chất nhân cách và năng lực phù hợp với nhu cầu ngày một cao của xã hội hiện đại. Thiết kế nội dung (Soạn giáo án) và cách thức dạy học là một khâu đột phá quan trọng để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Để việc dạy học có hiệu quả, người...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SOẠN - GIẢNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

SÁNG KIẾN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG SOẠN - GIẢNG Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC



Phần thứ nhất

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình dạy học bao gồm hệ thống những tác động từ phía
người dạy (giáo viên) đến người học (học sinh), nhằm làm cho học sinh tích
cực và chiếm lĩnh tri thức, hình thành những phẩm chất nhân cách và năng lực
phù hợp với nhu cầu ngày một cao của xã hội hiện đại.

Thiết kế nội dung (Soạn giáo án) và cách thức dạy học là một
khâu đột phá quan trọng để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy. Để việc dạy học có hiệu quả, người giáo viên
bao giờ cũng dành một thời gian thích đáng để thiết kế bài. Muốn dạy học có
kết quả cần thiết kế chu đáo bài học. Khi thiết kế bài học cần chú trọng đến
nhiều khía cạnh tác động đến quá trình dạy học như: Đặc điểm lứa tuổi học
sinh, nhu cầu, hứng thú, các phương tiện kỹ thuật đồ dùng trực quan, cơ sở vật
chất trường lớp... Từ đó có định hướng rõ rệt để xác định những tiêu chí cụ
thể cần đạt cũng như cách thức (sự lựa chọn phương pháp phù hợp) để đạt
được mục tiêu bài dạy.




0
Kết quả một giờ dạy không những phụ thuộc khá nhiều vào sự
chuẩn bị bài dạy mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác nhau
cũng như yếu tố chủ quan không thể tránh khỏi. Đó chính là phụ thuộc vào
năng lực sư phạm, sự tự tin, tính sáng tạo trong sử lý các tình huống sư
phạm...

Trong một vài năm trở lại đây xu hướng đổi mới công tác soạn
giảng ngày càng trở nên bức xúc và cần thiết. Một trở ngại không nhỏ cản trở
quá trình đổi mới việc soạn giáo án và thực thi giờ dạy trên lớp chính là do
thói quen ngại đổi mới của một bộ phận không nhỏ giáo viên. Thực tế cho
thấy nhiều giáo viên muốn giữ nề nếp soạn giáo án theo cách truyền thống mà
ở đó giáo án chỉ là sự ghi chép lại nội dung đã có ở sách giáo khoa mà không
đưa ra các phương pháp dạy học thích ứng với từng giai đoạn học tập của học
sinh. Sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn do thói
quen dễ dãi trong soạn giảng, trình độ giáo viên còn nhiều bất cập. Hiện tượng
thầy giảng trò nghe, trò chép vẫn là hiện tượng phổ biến, từ đó chất lượng giờ
giảng cho hiệu quả thấp, không gây được hứng thú cũng như óc sáng tạo, tích
cực hoạt động của trò.

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy đã đặt ra nhiệm vụ tìm ra
những giải pháp nào để nâng cao chất lượng Thiết kế kế hoạch bài học và giờ
dạy là vấn đề cấp bách phải giải quyết, giúp cho anh chị em giáo viên ở
trường Tiểu học đổi mới tư duy vào việc làm trong công tác soạn giảng của
mình đem lại hiệu quả thiết thực phù hợp với trình độ nhận thức của tập thể
giáo viên trong đơn vị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giáo dục. Chính vì
lý do đó tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng soạn giảng ở
trường tiểu học” để nghiên cứu, áp dụng vào công tác quản lý của đơn vị,
mong góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục ở địa phương.




1
Phần thứ hai

NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

1. Cơ sở khoa học:

Soạn bài là việc chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên cho giờ lên lớp.
Đồng thời với việc soạn bài là sự chuẩn bị đồ dùng dạy học, thí nghiệm. Đó là
hai loại công việc chủ yếu trước giờ lên lớp của giáo viên.

Hoạt động dạy và học trong trường tiểu học hiện nay được thực hiện
chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định
chất lượng dạy học. Vì vậy dễ hiểu rằng vì sao cả hiệu trưởng và giáo viên
đều tập trung sự chú ý, mọi cố gắng của mình vào giờ lên lớp với một mục
đích là nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp nhưng mỗi người có vai trò
riêng đối với giờ lên lớp. Trực tiếp quyết định kết quả giờ lên lớp là người
giáo viên. Quản lý thế nào để các giờ lên lớp của giáo viên có kết quả tốt là
việc làm của hiệu trưởng.

Nhiệm vụ của hoạt động dạy và học ở trường tiểu học của người
giáo viên là làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ
thống, cơ bản, có những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong học tập, trong lao động
và trong cuộc sống của trẻ. Trong những kĩ năng cần được rèn luyện cho học
sinh thì quan trọng nhất là làm cho học sinh có được kĩ năng học tâp để thực
hiện “Hình thành hoạt động học tập” - Hoạt động chủ đạo của các em trong
thời kỳ này.

Phát triển trí tuệ học sinh trong quá trình nắm tri thức, trước hết
là phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hoạt
động của học sinh. Ở học sinh tiểu học, trí tưởng tượng rất phong phú nhưng

2
trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt trí tuệ (hoạt động tư duy) cho học tập chưa
phát triển đến mức cần thiết. Cho nên dạy học chẳng những phải phát triển trí
tưởng tượng của các em mà còn phải rèn luyện các thao tác tư duy để phát
triển năng lực nhận thức, năng lực hoạt động khoa học, sáng tạo.

Những nhiệm vụ dạy và học nói trên được thực hiện đồng thời và
thống nhất với nhau trong quá trình dạy hoc. “Quá trình dạy và học là tập hợp
những hành động liên tiếp của giáo viên và học sinh, được giáo viên hướng
dẫn. Những hành động này nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống
kiến thức, kĩ năng, kĩ sảo và trong quá trình đó, phát triển được năng lực
nhận thức, nắm được các yếu tố của văn hoá, lao động trí óc và chân tay,
hình thành những cơ sở của thế giới quan và hành vi cộng sản chủ nghĩa ”
(ÊXiPôp).

Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động
trung tâm của một quá trình dạy học và là hai hoạt động mang tính chất khác
nhau. Song thống nhất với nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò,
dạy và học cùng lúc diễn ra trong những điều kiện vật chất - kĩ thuật nhất
định.

Toàn bộ những vấn đề nêu trên đều liên quan chặt chẽ với nhau một
cách biện chứng. Trong đó điều kiện tiên quyết để dạy tốt – học tốt là vấn để
thiết kế kế hoạch bài học một cách chuẩn xác về kiến thức, tường minh về
phương pháp, cách thức dạy học của người giáo viên; đồng thời với công việc
đó là thi công bài giảng một cách linh hoạt, đảm bảo nội dung kiến thức và
phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Để tổ chức tốt khâu thiết kế và
thi công của người giáo viên, vai trò hết sức to lớn của người cán bộ quản lý
nhà trường là nắm bắt xu thế, khơi dậy tiềm năng và chỉ đạo có hiệu quả công
việc hàng ngày của giáo viên.

2. Cơ sở thực tiễn:

3
a) Vài nét về đặc điểm chung của nhà trường:

Trường Tiểu học Hoà Sơn A được tách ra từ trường Tiểu học
Hoà Sơn, từ tháng 8 năm 1997, trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, kế
thừa phát huy truyền thống nhiều năm liền là trường tiên tiến, Trường đã được
công nhận là Trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia năm 2006.

Trường Tiểu học Hoà Sơn A đóng trên địa bàn xã Hoà Sơn nằm
giáp danh tỉnh Hà Tây, là địa phương có nhiều mặt thuận lợi về giao lưu kinh
tế với đồng bằng Bắc bộ. Tuy vậy kinh tế của địa phương còn chậm phát triển,
trình độ dân trí thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của mình. Điều đó
ảnh hưởng không nhỏ tới sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học
nói riêng.

Quy mô nhà trường vào loại trung bình so với các đơn vị bạn:
Với tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên trong năm học 2007 - 2008 là 31
người, trong đó: - Cán bộ quản lý: 02 người (01 nữ).

- Nhân viên hành chính: 03 người (02 nữ).

- Giáo viên: 26 người (có 02 giáo viên tiếng Anh, 01 giáo viên
Hát nhạc, 01 giáo viên Mỹ thuật, 01 giáo viên thể dục).

Trong đó:

- Trình độ Đại học: 09 cán bộ giáo viên.

- Trình độ Cao đẳng: 09 giáo viên.

- Còn lại 100% đạt trình độ trung cấp sư phạm.

* Phân loại giáo viên năm học 2006 - 2007 như sau:

- Giáo viên giỏi cấp tỉnh: 0

4
- Giáo viên giỏi cấp huyện: 04

- Giáo viên giỏi cấp trường: 12

* Xếp loại thi đua năm học 2006 - 2007 như sau:

- Chiến sỹ thi đua cơ sở: 02

- Lao động giỏi: 13

Năm học 2006 – 2007 có 10 lớp và 265 học sinh trong đó
130/265 học sinh là dân tộc. Nhìn chung điều kiên học tập của học sinh khá
tốt, chỉ có một bộ phận nhỏ còn gặp khó khă do phụ huynh chưa quan tâm
đúng mức vì nhà nghèo. Tuy vậy đa số học sinh ngoan ngoãn, lễ phép có ý
thức học tập tốt.

Với tình hình như trên đã nêu nhà trường đứng trước những thử
thách vô cùng to lớn: Đó là làm gì và làm như thế nào để việc soạn giảng của
giáo viên đạt được kết quả cao, đáp ứng được ngày một cao của xã hội.

Qua kiểm tra hồ sơ giáo án và dự giờ giáo viên, chúng tôi thấy
tuy có nhiều cố gắng nhưng kết quả chưa được là bao. Trước hết xin nêu thực
trạng thiết kế kế hoạch bài học của giáo viên.

b) Thực trạng thiết kế kế hoạch bài học (soạn bài):

Trong năm học 2006 – 2007 qua kiểm tra kế hoạch bài học hàng
tuần và đột xuất cũng như tổng kiểm tra hồ sơ bốn lần trong năm học, chúng
tôi nhận thấy có sự khác biệt ở các nhóm giáo viên khác nhau. Đối với giáo
viên tuổi cao hoặc hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn thì sự đầu tư cho
soạn bài rất hạn chế. Việc lập kế hoạch bài học chỉ như là chép lại sách giáo
viên mà không có sự đầu tư nào khác, không chú ý đến đối tượng học sinh
cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho bài giảng. Đặc biệt có trường hợp mượn

5
giáo án cũ rồi chép lại. Những điều đó làm cho chất lượng giảng dạy kém hiệu
quả. Đối với những giáo viên có trình độ chuyên môn vững thì đã có sự đầu tư
nhất định. Khi lập kế hoạch bài học họ đã có sự lựa chọn phương pháp giảng
dạy cũng như tính đến các yếu tố: Học sinh, phương tiện dạy học, mày mò các
tài liệu tham khảo, chú trọng tới việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học
sinh. Tuy nhiên số giáo viên này chưa nhiều.

Sau đây là kết quả phân loại hồ sơ giáo viên trong năm học 2006
– 2007.

Tổng số hồ sơ được xếp loại: 26

- Xếp loại A: 14 hồ sơ.

- Xếp loại B: 10 hồ sơ.

- Xếp loại C: 02 hồ sơ

Việc phân loại kế hoạch bài học mới chỉ dừng ở mức những tiêu
chí sau:

- Loại A: Đủ bài soạn, không nhầm lẫn kiến thức, không cắt xén
chương trình, đủ các bước lên lớp, trình bày sạch sẽ, có hệ thống câu hỏi gợi
mở hướng dẫn học sinh.

- Loại B: Như các tiêu chí của loại A nhưng còn một số bài soạn
sơ lược.

- Loại C: Bài soạn sơ lược nhiều, trình bày chưa khoa học.

Tóm lại: Thực trạng việc thiết kế kế hoạch bài học là: Đủ bài,
đúng phân phối chương trình. Một bộ phận giáo viên nòng cốt có ý thức trách
nhiệm tốt đầu tư nhiều cho bài soạn. Song song với những thiết kế tốt vẫn


6
còn nhiều giáo án sơ lược, chưa chú ý dúng mức đến phương pháp dạy học
đặc thù đối với từng đối tượng học sinh, những giáo án này thể hiện trình độ
chuyên môn hạn chế của giáo viên, năng lực sư phạm yếu hoặc bị ảnh hưởng
của lối làm việc được chăng hay chớ, thiếu đầu tư suy nghĩ tìm tòi.

c. Thực trạng về thi công bài giảng trên lớp.

Việc thực hiện giờ lên lớp của giáo viên là công việc hàng ngày
của mỗi cán bộ giáo viên cần phải nghiêm túc thực hiện:

Về giờ giấc 100% giáo viên thực hiện lên lớp đúng giờ, đảm bảo
thời gian các tiết học. Tư cách tác phong đĩnh đạc, trang phục gọn gàng, lịch
sự. Việc này có tác dụng tới công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tạo cho
các em có nề nếp, tác phong nhanh nhẹn, làm việc có giờ giấc.

Đối với nội dung bài giảng, trong quá trình kiểm tra giờ dạy của ban
giám hiệu cũng như qua các biên bản nhận xét giờ dạy của các tổ khối chuyên
môn có thể nhận định như sau.

Số lượng giờ lên lớp đảm bảo được mục tiêu đề ra chiếm khoảng
80%. Số giờ dạy không sử dụng đồ dùng trực quan chiếm 20%, số giờ tổ chức
tốt lớp học chiếm 75%. Số giờ dạy học chỉ chú ý đến phương pháp mà không
chú nhiều đến nội dung chiếm 20%. Số giờ áp dụng các phương pháp thuyết
trình một cách đơn thuần chiếm tới 25%.

Từ những số liệu nêu trên cho thấy việc thực hiện tốt cả 3
phương diện: Mục tiêu, nội dung, phương pháp chiếm tỉ lệ còn thấp. Đặc biệt
các giờ dạy chay chiếm quá nhiều cho thấy việc đầu tư tìm tòi, tận dụng khả
năng hiện có của cơ sở vật chất nhà trường cũng như bản thân giáo viên còn
nhiều hạn chế. Điều này một mặt do tâm lý ngại chuẩn bị đồ dùng dạy học,
mặt khác cũng cho thấy bộc lộ rõ nét việc sử dụng trang thiết bị dạy học còn
nhiều lúng túng ở nhiều giáo viên. Bên cạnh đó việc thực hiện giờ lên lớp đối

7
với giáo viên có thâm niên công tác lâu năm thì thường chú ý đến nội dung
bài là chính sao cho chuyền đạt hết nội dung bài là được, còn việc sử dụng các
phương pháp dạy học tích cực thì thực hiện chậm. Còn các giáo viên trẻ lại
theo xu hướng ngược lại, nghĩa là chú ý quá nhiều đến phương pháp mà
không mở rộng, làm rõ nội dung cần lĩnh hội cho học sinh.

Từ thực trạng như vậy dẫn đến chất lượng học tập của học sinh
chưa được cao, học sinh tiếp nhận tri thức một cách thụ động, kiến thức không
sâu, thiếu tính bền vững.

Chung quy lại cho thấy thực trạng giờ lên lớp của giáo viên trong
nhà trường là: Tác phong mẫu mực, ở mức độ nhất định đã làm chủ được giờ
giảng song bên cạnh đó còn nhiều khiếm khuyết như: Một số ít giáo viên chưa
thực sự vững về kiến thức và phương pháp, đặc biệt việc sử dụng các phương
tiện dạy học còn hạn chế, việc phối kết hợp các phương pháp dạy học trong
một giờ sao cho hiệu quả nhất chưa được tốt. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
thực trạng nêu trên là: Một số giáo viên chưa được đào tạo chính quy mà được
đạo tạo theo hệ trung học hoàn chỉnh nên năng lực có nhiều hạn chế, việc tự
học và tự bồi dưỡng chưa thường xuyên và gặp không ít khó khăn do điều
kiện gia đình không cho phép. Do vậy có giáo viên chưa bắt kịp với đà đổi
mới hiện nay. Điều đáng mừng là từ năm học 2005 - 2006 đến nay, phòng
học, bàn ghế đã được đầu tư mới, đầy đủ đúng quy cách, đủ điều kiện cho dạy
và học 2 buổi/ngày.

II. NỘI DUNG.

1. Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giảng dạy hàng tuần.

Tổ, khối chuyên môn ở trường Tiểu học là đơn vị trực tiếp quản
lý hoạt động chuyên môn của mỗi thành viên trong khối. Để tiện cho việc chỉ
đạo chuyên môn của tổ trưởng nhà trường đã biên chế mỗi khối lớp một tổ


8
chuyên môn. Việc chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giảng dạy được triển
khai trược tiếp từ ban giám hiệu tới tổ trưởng tổ chuyên môn. Trong quản lý
chỉ đạo xây dựng kế hoạch giảng dạy một mặt phải phát huy vai trò tự chủ
sáng tạo của tổ đồng thời phải chỉ đạo sát sao theo kế hoạch chung của toàn
trường. Căn cứ để xây dựng kế hoạch giảng dạy là phân phối chương trình và
thời khoá biểu hàng ngày trong tuần. Bên cạnh đó là các hoạt động ngoài giờ
lên lớp của nhà trường hoặc các nội dung khác do phòng Giáo dục chỉ đạo
như kế hoạch bồi dưỡng thay sách, bồi dưỡng sử dụng đồ dùng dạy học... Từ
đó các tổ chuyên môn sẽ bàn bạc và xây dựng kế hoạch lên lớp hàng ngày sao
cho đúng chương trình và thời khoá biểu, đồng thời vạch kế hoạch sử dụng đồ
dùng dạy học cho từng tiết học căn cứ vào danh mục đồ dùng dạy học hàng
tuần do cán bộ thiết bị trường lập. Những vấn đề đó (sau khi lập xong kế
hoạch) được Ban giám hiệu ký duyệt trước một tuần và các thành viên trong
tổ thực hiện. Đó chính là sơ sở pháp lý để kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế
hoạch bài học một cách chính xác, đảm bảo tính hệ thống kiến thức, đảm bảo
mục tiêu từng bài học, tìm ra những phương pháp giảng dạy thích hợp cho
từng nội dung bài học, có tính định hướng trước cho học sinh chuẩn bị học
tập.

2. Biện pháp chỉ đạo công tác soạn bài để nâng cao chất lượng
giảng dạy.

a) Nghiên cứu và xác định mục tiêu bài giảng.

Tổ chuyên môn được giao nhiệm vụ nghiên cứu, vạch kế hoạch
bàn bạc thống nhất cách xác định mục tiêu cho các môn học sao cho phù hợp
với đối tượng học sinh và đảm bảo sát với yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ
năng chung do bộ giáo dục ban hành. Trước hết các tổ chuyên môn sinh hoạt
ít nhất tháng 3 lần, ở đó tài liệu về yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng của
các môn học được triển khai đến từng thành viên, các cuộc họp này bao giờ


9
cũng có đại diện ban giám hiệu dự để có ý kiến chỉ đạo cụ thể và kịp thời. Từ
đó giúp giáo viên chỉnh lại mục tiêu trong sách giáo viên để phù hợp với tình
hình học sinh trong lớp mình và đảm bảo yêu cầu cơ bản tối thiểu so với mặt
bằng chung. Có thể lấy ví dụ như sau: Một số bài chính tả so sánh phân biệt
các phụ âm v/d ở địa phương học sinh thường không mắc lỗi thì đồng thời
chỉnh cả nội dung và mục tiêu để dạy cho học sinh những cặp phụ âm hay
mắc lỗi hơn như tr/ch, s/x... ( hay gặp ở lớp 4,5).

b) Thống nhất cách trình bày bài soạn.

Thống nhất về nội dung và hình thức thể hiện các loại bài soạn. Với
những giáo viên khá giỏi, dạy lâu năm thì yêu cầu bài soạn khác với những
giáo viên mới ra trường. Hình thức trình bày bài soạn phải phù hợp với nội
dung bài dạy. Từ đầu năm học nhà trường phân công một số giáo viên có kinh
nghiệm như tổ trưởng chuyên môn, giáo viên dạy giỏi tham gia vào việc xây
dựng cấu trúc bài soạn cho từng môn học. Sau đó đưa ra lấy ý kiến tham khảo
rộng rãi và thống nhất chung, in thành tài liệu phát cho từng giáo viên để thực
hiện. Nhờ đó mọi bài soạn của giáo viên trong trường đều theo một cấu trúc
thống nhất, chất lượng bài soạn được nâng lên một bước góp phần vào nâng
cao chất lượng dạy học.

c) Kiểm tra việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên.

Kiểm tra việc thống nhất cách soạn của từng môn học ở từng
khối lớp. Các dạng bài soạn giờ ôn tập, kiểm tra, thực hành. Yêu cầu về giáo
án của giáo viên mới ra trường, của giáo viên giỏi, của giáo viên cần cố gắng.
Chọn câu hỏi phát vấn, xác định kiến thức trọng tâm của bài cần khắc sâu, rèn
kỹ năng gì? Và đồ dùng dạy học phải chuẩn bị.

Để quản lý tốt việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo
viên, Ban giám đã chọn các hình thức kiểm tra:


10
- Kiểm tra đột xuất.

- Kiểm tra trước giờ lên lớp.

- Kiểm tra sau dự giờ.

- Kiểm tra định kỳ cùng khối trưởng chuyên môn.

- Kiểm tra chéo trong buổi sinh hoạt chuyên môn.

- Kiểm tra đồ dùng trực quan cho giờ dạy.

- Trang thiết bị cho giờ dạy.

- Giờ học ngoài trời ( Địa điểm học, kế hoạch quản lý học sinh).

3. Các biện pháp tổ chức chỉ đạo nâng cao chất lượng giờ dạy.

a) Xây dựng các giờ dạy mẫu.

Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên cốt cán, thông thường là tổ
trưởng tổ chuyên môn cùng xây dựng các giờ dạy có chất lượng, làm mẫu cho
giáo viên dự giờ. Tiến hành rút kinh nghiệm, đánh giá những mặt tích cực về
phương pháp dạy học, về nội dung và phong thái của giáo viên. Từ những giờ
dạy mẫu này, sau khi đã thử nghiệm thì tiến hành nhân rộng ra toàn khối, toàn
trường. Việc xây dựng giờ dạy mẫu được tiến hành công phu, từ việc chọn bài
dạy, tổ chức thiết kế bài soạn, cân nhắc phương pháp giảng dạy nào phù hợp
với từng giai đoạn nào, cách sử dụng đồ dùng trực quan... Có như vậy giờ dạy
mẫu mới thành công và đem lại hiệu quả khi triển khai đại trà.




b) Tăng cường dự giờ thăm lớp, bồi dưỡng giúp đỡ giáo viên.



11
Để nâng cao chất lượng giờ dạy một công việc quan trọng của
nhà trường là tăng cường công tác thanh kiểm tra chuyên môn. Trong đó dự
giờ thường xuyên các đối tượng giáo viên đặc biệt là những giáo viên yếu tay
nghề là công việc có ý nghĩa quyết định. Việc dự giờ được tiến hành theo kế
hoạch hàng tháng, hàng tuần một cách thường xuyên sẽ giúp giáo viên đứng
lớp trước hết có tâm thế vững vàng, bởi không ít giáo viên khi có người dự thì
dễ bị lúng túng, quan trọng hơn là giúp giáo viên có ý thức chuẩn bị bài tốt
hơn, tự tin và có cố gắng hơn trong việc áp dụng các phương pháp mới tích
cực hơn hoạt động của học sinh. Vì sau dự giờ đều có rút kinh nghiệm để chỉ
rõ nhược điểm để khắc phục sửa chữa.

c) Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và trang thiết bị
dạy học trong giờ lên lớp.

Việc đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện ghế ngồi, ánh
sáng... cho học sinh góp phần quan trọng không nhỏ giúp nâng cao chất lượng
giảng dạy nói chung và từng bài học nói riêng. Từ năm học 2005 - 2006 nhà
trường đã có đủ số phòng học đạt quy cách về diện tích, ánh sáng. Nhờ đó
việc triển khai học nhóm, học các nhân trong các giờ dạy rất thuận lợi góp
phần nâng cao chất lượng giảng dạy nhưng mặt khác việc mua sắm thêm thiết
bị đồ dùng dạy học và sử dụng đồ dùng trực quan trong từng tiết học được chỉ
đạo sát sao. Trước hết cần sử dụng có hiệu quả đồ dùng sẵn có, hàng tuần
nhân viên thiết bị đều có thông báo rõ ràng môn tiết, tên đồ dùng để giáo viên
nắm được và có kế hoạch mượn để sử dụng. Mặt khác mỗi giáo viên đều có từ
1 - 2 đồ dùng tự làm có giá trị đóng góp vào kho đồ dùng để dùng chung. Nhà
trường định kỳ và đột xuất kiểm tra việc sử dụng đồ dùng trên lớp. Tuy nhiên
việc phát huy ý thức trách nhiệm của các cá nhân và vai trò giám sát, chỉ đạo
của tổ chuyên môn mang tính quyết định. Bên cạnh đó các lớp học được trang
bị đầy đủ mỗi lớp một tủ tường để giáo viên để đồ dùng dạy học, theo phương
châm “ Dễ tìm, dễ thấy và dễ lấy” để sử dụng hiệu quả nhất.


12
d) Tổ chức các phong trào thi đua, phát huy vai trò của các
đoàn thể trong việc nâng cao chất lượng dạy học.

Công đoàn và Đoàn thanh niên có vai trò rất lớn trong việc động
viên các đoàn viên của mình tham gia xây dựng tập thể và nâng cao chất
lượng chuyên môn. Thông qua các đợt thi đua, nhà trường phối hợp với Công
đoàn – Chi đoàn tạo ra những đợt thi đua sôi nổi, tạo không khí phấn khởi hào
hứng trong cán bộ giáo viên, qua đó ý thức chuẩn bị bài dạy, ý thức trách
nhiệm trong giờ dạy được nâng lên rõ rệt đã có tác động to lớn đến chất lượng
chuyên môn nói chung và chất lượng từng giờ dạy nói riêng. Tiếng nói chung
của tập thể bao giờ cũng lôi cuốn được mọi người tham gia khi đó trở thành
phong trào tốt thì hiệu quả là rất lớn.

4. Các biện pháp tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra.

a) Tăng cường kiểm tra để từng bước nâng cao chất lượng Dạy
và Học.

- Để thực hiện tốt mục tiêu đào tạo và giáo dục tiểu học phải
đảm bảo cho học sinh nắm vững kỹ năng đọc, viết, tính toán, có hiều biết cần
thiết về thiên nhiên, xã hội, con người.

- Hoạt động dạy và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường.
Trẻ em được trở thành con người nhờ có giáo dục, nếu không được học và dạy
bảo con người sẽ sống hoang dã , mọi hoạt động đều mang tính bản năng.
Trong phạm trù giáo dục thì giáo dục trí tuệ là khâu quan trọng nhất. Nó bao
gồm việc tiếp thu tri thức và hình thành thế giới quan khoa học, phát triển các
năng lực nhận thức sáng tạo. Trong nhà trường hoạt động dạy và học là con
đường quan trọng nhất để giáo dục trí tuệ.

- Hoạt động dạy và học tô đậm chức năng xã hội của nhà trường
đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động trung tâm, là cơ cở

13
khoa học của các hoạt động giáo dục khác. Nhiệm vụ của hoạt động dạy và
học là làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách cơ bản, có
những kỹ năng, kỹ xảo trong học tập, lao động, trong cuộc sống. Phát triển trí
tuệ học sinh trong quá trình nắm tri thức trước hết là phải phát triển tư duy,
độc lập sáng tạo, hình thành năng lực nhận thức và hành động của học sinh.
Thấy được tầm quan trọng dạy và học, tôi tự nhận thấy mình cần kết hợp với
Hiệu phó phụ trách chuyên môn tổ chức quản lý tốt hoạt động dạy và học.

* Mục đích của kiểm tra:

Kiểm tra việc thực hiện chương trình nhằm giúp giáo viên:

+ Thực hiện đúng , đủ Chương trình của từng môn học, ở từng
khối lớp .

+ Đảm bảo truyền thụ đủ, đúng nội dung kiến thức, kĩ năng cơ
bản của từng môn học ở từng khối lớp của từng dạng bài.

+ Có hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho từng môn học của
từng khối lớp .

+ Giúp giáo viên nắm vững chương trình của từng môn họ của
từng khối lớp mà mình phụ trách.

Để giáo viên thực hiện tốt chương trình Tôi cùng Ban giám hiệu
đã:

- Giúp giáo viên lập kế hoạch thực hiện chương trình thông qua
tổ nhóm chuyên môn .

* Kế hoạch kiểm tra việc thực hiện chương trình ở các môn học
gồm:



14
+ Kiểm tra kế hoạch giảng dạy 1 tuần một lần, trước buổi sinh
hoạt chuyên môn, Ban giám hiệu kiểm tra việc lên kế hoạch giảng dạy của
khối trưởng có đúng với kế hoạch giảng dạy do Bộ GD&ĐT quy định và chỉ
đạo của Phòng GD-ĐT không, sau đó mới cho phổ biến ở tổ.

+ Dự các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn: Phân công để trong một
tháng, sinh hoạt của một tổ chuyên môn có một đại diện giám hiệu vào dự,
cùng xây dựng và giải quyết những vấn đề còn mắc trong chuyên môn của
Khối.

+ Dự giờ thăm lớp: Để chọn giáo viên dạy giỏi các cấp, để kiểm
tra việc triển khai chuyên đề, để Thanh tra theo định kì và bồi dưỡng nâng cao
khả năng, nghệ thuật giảng dạy cho giáo viên dưới 2 hình thức: Báo trước và
đột xuất.

b) Kiểm tra giờ dạy trên lớp.

Mọi mặt của quá trình dạy học được phản ánh trong giờ lên lớp.
Từ một giờ lên lớp chúng tôi phát hiện ra nhiều mối liên hệ đến vấn đề học tập
của học sinh. Kinh nghiệm dạy và học và tình hình quản lý các bộ phận phục
vụ trong trường (Thư viện, phòng ĐDDH ).

Qua kiểm tra giờ lên lớp của giáo viên Ban giám hiệu nắm được
khả năng tổ chức điều khiển học sinh học tập, truyền thụ kiến thức, phương
pháp dạy và học phù với từng đối tượng của lớp, việc thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học. việc rèn kỹ năng và hướng dẫn học sinh phương pháp
học tập từng bộ môn, cách học ở nhà, cách học ở lớp của từng giáo viên.

Ban giám hiệu đã vận dụng nhiều hình thức dự giờ khác nhau:

+ Dự giờ các giáo viên khác nhau để kiểm tra chất lượng giảng
dạy, học tập của từng giáo viên trong lớp cụ thể.


15
+ Dự giờ các giáo viên cùng một bộ môn ở các lớp khác nhau để
so sánh trình độ của họ, rút ra ưu nhược điểm chính của mỗi người, phát hiện
ra những vấn đề cần điều chỉnh trong phương pháp dạy và học môn đó.

+ Dự giờ theo chuyên đề nắm chắc trình độ của một giáo viên
hay một lớp học sinh nhằm rút kinh nghiệm về 1 nội dung cần tập trung giải
quyết.

Ban giám hiệu đã thống nhất những việc cần làm khi dự giờ được
tiến hành theo một quy trình thống nhất: Chuẩn bị - Dự giờ - phân tích trao
đổi - Đánh giá- kiến nghị .

+ Chuẩn bị: Lập kế hoạch dự giờ, xác định vị trí của bài học
trong chương trình, mục đích của bài giảng và dự kiến hoạt động của thầy và
trò. Dự kiến nội dung cần quan sát và ước định những tiêu chuẩn đánh giá giờ
dự.

+ Dự giờ: Quan sát diễn biến thực tế của bài lên lớp, thu thập
thông tin phục vụ cho mục đích dự giờ.

Quá trình quan sát này thực hiện theo tiến trình các tình huống
dạy và học , theo các tuyến Thầy – Trò - Thiết bị dạy học và phản ánh các sự
kiện chính của quá trình lên lớp cùng những nhận xét tức thơì về các sự kiện
đó

+ Phân tích - trao đổi: Chế biến những thông tin có được từ giai
đoạn dự giờ trên cơ sở trình độ tư duy sư phạm của từng thành viên trong ban
giám hiệu. Phân tích giờ học không đơn giản là sắp xếp lại các nhận xét vụn
vặt về giờ học mà phải khái quát hoá sư phạm nâng những nhận xét này thành
nhận định tổng quát hơn và nêu lên những lý lẽ của những nhận định đó bằng
cách xác định tất cả các mối liên hệ của những hiện tượng quan sát được với
các căn cứ khoa học của tâm lý học và giáo dục học.

16
Công tác tổ chức giờ học xem việc chuẩn bị nề nếp lớp, không
khí sư phạm, phân phối thời gian.

- Nội dung của giờ học:

Tính khoa học, tính giáo dục, trọng tâm của bài học.

- Phương pháp dạy học:

Có phù hợp giữa giữa nội dung dạy học và phương pháp dạy học,
việc phát huy tính tích cực độc lập sáng tạo cho học sinh.

+ Đánh giá kết quả giờ học (mức độ đạt so với mục đích bài
giảng) và chỉ ra đặc điểm lao động của người dạy tổ chức hướng dẫn hoạt
động học tập của học sinh. Trình độ kiến thức khả năng giảng dạy, tinh thần
trách nhiệm cũng như lao động học tập của học sinh (kiến thức và kỹ năng,
năng lực nhận thức, thái độ học tập).

Trong mỗi năm giáo viên phải được kiểm tra toàn diện hoặc kiểm
tra theo chuyên đề ít nhất một lần. Đối với giáo viên dạy yếu kém hoặc giáo
viên mới ra trường cần kiểm tra giờ lên lớp nhiều hơn. Khi kiểm tra Ban giám
hiệu phải nói rõ được mục đích của việc dự kiểm tra và người được kiểm tra.
Đồng thời khi kiểm tra người cán bộ quản lý cần có thái độ đúng mực. Sau khi
kiểm tra có nhận xét đánh giá và giúp giáo viên khắc phục những tồn tại.

Ngoài việc kiểm tra giờ lên lớp kiểm tra khảo sát theo định kỳ
cũng rất quan trọng, đánh giá chất lượng dạy của giáo viên qua kết quả học
tập của học sinh . Khi kiểm tra khảo sát chất lượng nên tổ chức cho giáo viên
trông chéo lớp, chấm điểm tại trường,và chấm chéo. Sau khi kiểm tra có nhận
xét học sinh còn yếu về bộ môn nào? Toán yếu về thực hiện phép tính hay đọc
viết số về giải dãy tính , tìm X, toán có lời văn.



17
Tiếng Việt: Còn yếu về từ ngữ, ngữ pháp hay tập làm văn. Sau đó BGH
kiểm tra lại xem việc cho điểm của giáo viên đã chính xác chưa .

Qua kiểm tra sẽ đánh giá đúng chất lượng của từng lớp, có nhận
xét trong hội đồng sư phạm nhà trường.

c) Kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn.

Nội dung kiểm tra gồm:

*Kiểm tra tổ trưởng:

- Nhận thức về vai trò của tổ chuyên môn, của tổ trưởng
chuyên môn.

- Nhận định của tổ trưởng về từng tổ viên.

* Kiểm tra hồ sơ chuyên môn:

- Các kế hoạch năm học của tổ nhóm cá nhân.

- Các loại sổ biên bản sinh hoạt.

- Các kết quả điều tra cơ bản về học sinh và giáo viên.

* Nề nếp sinh hoạt tổ:

- Thông qua bài, nộp bài soạn.

- Thông báo việc thực hiện chương trình.

- Khối lượng dự giờ, việc chữa bài cho học sinh.

* Bồi dưỡng nghiệm vụ:

- Thực hiện cấc chuyên đề của nhà trường.

18
- Chuyên đề rút kinh nghiệm của tổ nhóm.

* Chỉ đạo phong trào học tập:

- Bồi dưỡng học sinh giỏi.

- Phụ đạo học sinh kém.

- Theo dõi học sinh yếu kém.

* Chất lượng dạy học:

- Trình độ kiến thức nghiệp vụ của tổ viên.

- Chất lượng học tập của tổ viên.

Ban giám hiệu thống nhất hình thức kiểm tra:

- Dự sinh hoạt tổ xem việc thống nhất nội dung sinh hoạt
tổ chuyên môn .

- Trao đổi, phỏng vấn tổ trưởng, giáo viên.

- Xem xét hồ sơ thi đua, chú ý tính hệ thống và tính thống
nhất của tài liệu.

- Xem giáo án sổ điểm lớp.

- Nghe báo cáo, dự các buổi rút kinh nghiệm dự giờ.

- So sánh các hồ sơ.

- Dự giờ, khảo sát chất lượng .




19
Thành phần kiểm tra tổ chuyên môn ngoài Ban giám hiệu còn
thêm cán bộ cốt cán như Chủ tich Công đoàn, tổ trưởng các tổ chuyên môn.
Khi kiểm tra xong phải có biên bản kiểm tra.

III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN

Từ thực trạng của việc soạn bài và thi công bài giảng trong
những năm học qua và việc áp dụng một số kinh nghiệm tổ chức, chỉ đạo
nâng cao chất lượng soạn - giảng đem lại một số kết quả như sau:

- Đánh giá phân loại hồ sơ cuối năm học 2007- 2008:

Tổng số hồ sơ giáo án được xếp loại: 26 hồ sơ.

+ Loại A: 20 hồ sơ; đạt 76,9 %

+ Loại B: 06 hồ sơ; đạt 23,1 %

+ Loại C: 0 hồ sơ; bằng 0 %

So với năm học 2006-2007, số hồ sơ xếp loại A tăng 6 hồ sơ,
bằng 23,1%; hồ sơ loại B giảm 15,4%; hồ sơ loại C không có, giảm 7,7%.

- Đánh giá xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên
cuối năm học 2007 - 2008:

Tổng số giáo viên được xếp loại: 26 giáo viên

+ Loại Xuất sắc: 16 giáo viên đạt 61,5% (tăng 2
giáo viên).

+ Loại Khá: 10 giáo viên đạt 38,5%.




20
Nhờ chất lượng công tác soạn giảng được nâng lên rõ rệt lên kết
quả xếp loại học lực của học sinh cũng được nâng lên đáng kể góp phần
không nhỏ vào việc hoàn thành nhiệm vụ năm học của đơn vị. Cụ thể chất
lượng giáo dục năm học 2007- 2008 như sau:

* Xếp loại học lực:

Học lực hai môn Toán và Tiếng Việt:

- Môn Tiếng Việt:


Giỏi Khá
Khối Học
TT
lớp sinh
SL % SL %


1 I 60 19 31,7 22 36,7


2 II 57 14 24,6 37 64,9


3 III 46 18 39,1 22 47,8


4 IV 48 7 14,6 15 31,3


5 V 58 12 20,7 22 37,9


Cộng 269 70 26,0 118 43,9




21
- Môn Toán:


Giỏi Khá
Khối Học
TT
lớp sinh
SL % SL %


1 I 60 31 51,7 20 33,3


2 II 57 11 19,3 39 68,4


3 III 46 7 15,2 19 41,3


4 IV 48 3 6,3 11 22,9


5 V 58 8 13,8 12 20,7


Cộng 269 60 22,3 101 37,5




* Xếp loại hạnh kiểm:


Chưa thực hiện
Thực hiện đầy đủ
Khối Số đầy đủ
TT
lớp học sinh c

Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ




22
lượng % lượng %


98,3
1 I 60 59 1 1,7
%


2 II 57 57 100 % 0 0


3 III 46 46 100 % 0 0


4 IV 48 48 100% 0 0


5 V 58 58 100 % 0 0


Cộng 269 268 99,6% 1 0,4%




* So với đầu năm học:

- Học lực Khá, Giỏi môn Toán tăng 13,5%, loại yếu giảm 9,5%.

- Học lực Khá, Giỏi môn Tiếng Việt tăng 15,5%, loại yếu giảm 7,5%.

* Học sinh giỏi cấp tỉnh: được công nhận 09 học sinh trong đó có 01
giải Nhì, 03 giải Ba và 01 giải Khuyến khích (Tăng 3 học sinh so với năm học
2006-2007).




23
24
Phần thứ ba

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

I. KẾT LUẬN CHUNG.

Tóm lại: Thực trạng soạn bài và thực hiện bài dạy ở trên lớp của giáo
viên những năm trước đây còn nhiều bất cập, đó là:

- Tính hình thức, soạn bài mà không có sự sáng tạo, linh hoạt
trong quá trình chuẩn bị bài dạy, ít được đầu tư công sức cho quá trình này...

- Việc lên lớp thực hiện bài dạy còn không chú ý đến các hình
thức dạy học, chưa coi trọng đổi mới phương pháp và ít sử dụng đồ dùng dạy
học làm cho giờ dạy tẻ nhạt thiếu sức hút, không phát huy hết tính tích cực
của các hoạt động của học sinh...

Từ khi nắm bắt được những tồn tại trên, đưa vào áp dụng một số
kinh nghiệm nhỏ để tổ chức khắc phục những nhược điểm đó đồng thời chỉ
đạo từng bước nâng cao chất lượng soạn bài và giờ học của giáo viên. Chất
lượng bài soạn, giờ dạy đã được nâng lên rõ rệt. Đây là bài học lớn trong khâu
tổ chức chỉ đạo chuyên môn của hiệu trưởng Trường Tiểu học, nhờ có những
giải pháp đồng bộ trong khâu thiết kế, thi công bài giảng và công tác kiểm tra
nội bộ trường học mà chất lượng toàn diện cũng như chất lượng mũi nhọn (
học sinh giỏi các cấp) được nâng lên vượt bậc.

Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu, cần có thêm thời gian để tiếp
tục kiểm chứng, cần được sự quan tâm hơn nữa của nghành trong công tác chỉ
đạo hoạt động chuyên môn nói chung và chỉ đạo công tác soạn giảng nói riêng
thì chắc chắn rằng chất lượng dạy và học của trường Tiểu học Hoà Sơn A sẽ
còn được nâng cao hơn nữa.



25
II. MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH KHÁI QUÁT VỀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG
SÁNG KIẾN.

Sau khi rút ra những biện pháp trong việc tổ chức chỉ đạo nâng
cao chất lượng công tác thiết kế và thi công bài giảng, công tác kiểm tra nội
bộ trường học và áp dụng vào thực tiễn của nhà trường tôi nhận thấy mọi cán
bộ quản lý đều có thể áp dụng kinh nghiệm này vào công tác tổ chức chỉ đạo
của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường. Việc áp
dụng kinh nghiệm không khó, có điều yêu cầu người cán bộ quản lý cần có
lòng kiên trì, tâm huyết với công việc khi tổ chức thực hiện. Tôi tin tưởng
rằng kinh nghiệm của mình có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao
chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung, việc thiết kế kế hoạch bài học
và thi công trên lớp nói riêngcho giáo viên. Kinh nghiệm này cũng có khả
năng áp dụng cho các đơn vị trường tiểu học ở các vùng miền khác nhau đều
mang lại hiệu quả. Tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan ở
từng địa phương mà hiệu quả đạt được cao hoặc thấp.

III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.

Để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục cần có sự quan
tâm hỗ trợ đúng mức của toàn xã hội đối với các nhà trường cùng với sự cố
gắng chung của tập thể cán bộ giáo viên trong nhà trường, trong đó vai trò tổ
chức chỉ đạo của người hiệu trưởng và Ban giám hiệu là một yếu tố quan
trọng. Để người cán bộ quản lý có khả năng áp dụng thành công kinh nghiệm
nêu trên vào công tác quản lý điều hành công việc của mình, chúng tôi có một
số đề xuất như sau:

- Đối với ngành : Đề nghị có cơ chế chính sách đào tạo đội ngũ giáo
viên phù hợp hơn nữa, có thể nghiên cứu để đào tạo giáo viên dạy chuyên một
số bộ môn.



26
- Đối với chính quyền các cấp: Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất
cho các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư CSVC với kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội ở địa phương.

- Đối với các đơn vị trường học: Cần coi trọng đúng mức công tác kiểm
tra, thanh tra chuyên môn, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng soạn bài và thi
công trên lớp của giáo viên, coi đây là biên pháp nâng cao chất lượng giáo
dục bởi hai vấn đề này thực chất có tác động tương hỗ lẫn nhau nếu không
muốn nói là một.

- Đối với giáo viên trực tiếp đứng lớp: Cần coi việc “Soạn bài” là một
công việc quan trọng không thể thiếu của người giáo viên. Tránh tư tưởng chỉ
cần làm chiếu lệ, có tính đối phó với các cấp quản lý với những lý do như “
Kết quả dạy trên lớp là trên hết”. Vì muốn dạy tốt trên lớp thì cần có sự chuẩn
bị kỹ lưỡng và chu đáo mọi vấn đề của bài giảng, các tình huống có thể xảy
ra... Đối với công tác dạy học trên lớp người giáo viên cần tập trung vào việc
đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các hình thức tổ chức học tập hợp lý,
sử dụng có hiệu quả đồ dùng trực quan.

Chung quy lại, Với thời gian và khả năng có hạn nên tôi chỉ nêu lên một
số biện pháp nhỏ trong công tác tổ chức, chỉ đạo giáo viên trong nhà trường
với mục đích góp một phần nhỏ bé vào công tác nâng cao chất lượng dạy học.
Những kiến nghị đề xuất chỉ mang tính chất khái quát những vấn đề chính
trọng tâm. Mong nhận được sự quan tâm của các cấp quản lý, đặc biệt là của
các đồng chí cùng làm công tác quản lý Trường Tiểu học.

Xin chân thành cảm ơn !




27
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản