Sâu bệnh hại ca cao

Chia sẻ: Than Kha Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

0
189
lượt xem
95
download

Sâu bệnh hại ca cao

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây Ca cao (Theobroma cacao) thích hợp trồng ở Việt Nam. Theo dự án phát triển ca cao của Bộ Nông Nghiệp & PTNT diện tích trồng ca cao là 20.000 ha vào năm 2010 và tăng lên 100.000 ha vào năm 2020, gồm 4 khu vực tiềm năng là duyên hải Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Trung Nam bộ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sâu bệnh hại ca cao

  1. Sâu bệnh hại ca cao Nguồn: khuyennongvn.gov.vn Cây Ca cao (Theobroma cacao) thích hợp trồng ở Việt Nam. Theo dự án phát triển ca cao của Bộ Nông Nghiệp & PTNT diện tích trồng ca cao là 20.000 ha vào năm 2010 và tăng lên 100.000 ha vào năm 2020, gồm 4 khu vực tiềm năng là duyên hải Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Trung Nam bộ. Cây ca cao đáp ứng cho 3 chương trình lớn của quốc gia là phủ xanh đồi trọc, xóa đói giảm nghèo cho vùng sâu, vùng xa và đa dạng hóa hệ thống cây trồng. Ca cao có thể trồng xen canh với dừa, quế, điều, nhãn, sầu riêng, cà phê ...ở những vườn nhỏ hoặc chuyên canh ở nông trại. Tuy nhiên, là cây trồng mới, người trồng ca cao cần phải có những kiến thức về phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại để bảo vệ năng suất, bảo đảm được thu nhập khi trồng ca cao. I. CÔN TRÙNG GÂY HẠI CHÍNH 1. Mọt đục cành (Xyleborus morstatti) a. Hình thái : - Mọt trưởng thành là bọ cánh cứng nhỏ, dài khoảng 2 mm, màu nâu đen. Trên lưng và cánh cứng có nhiều lông ngắn thưa thớt và nhiều hàng chấm lõm. - Sâu non màu trắng sữa, không có chân, mình mập, đầu màu nâu nhạt, đẫy sức dài 3 mm. b. Triệu chứng gây hại : - Mọt đục vào cành ca cao, lỗ đục tròn, miệng lỗ quay xuống dưới, đẻ trứng trong lổ đục. - Sâu non đục thành đường ống dọc theo cành làm lá vàng héo, cành kéo chết khô. c. Phòng trừ :
  2. - Chặt bỏ các cây dại xung quanh vườn ca cao để giảm bớt ký chủ của mọt đục cành. - Cắt bỏ các cành khô và cành có lá héo để diệt sâu non. - Phun thuốc ướt đều cây khi có nhiều mọt trưởng thành phát sinh : + Mospilan 3EC : 10-15 ml/bình 8 lít ; Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít + Oncol 20EC ; Sumithion 50EC : 30-40 ml/bình 8 lít + Nurelle D 25/2.5EC : 30 ml/bình 8 lít 2. Bọ nâu (Adoretus sp.) a. Hình thái : - Bọ trưởng thành là loài cánh cứng, hình bầu dục, màu nâu sẫm, có nhiều lông nhỏ, chân rất phát triển, có tính giả chết, gặp động buông mình rớt xuống đất. - Sâu non màu trắng ngà, thân có nhiều lông nhỏ rải rác, uốn cong hình chữ C, đẫy sức dài 12-13 mm. b. Triệu chứng gây hại : - Bọ trưởng thành ban đêm cắn phá lá cây. Bọ ăn lá tạo thành những lỗ khuyết làm giảm diện tích quang hợp, bị hại nặng lá chỉ còn gân lá. - Sâu non sống trong đất, ăn xác thực vật và rễ cây. c. Phòng trừ : - Dọn sạch cỏ dại trong vườn và quanh bờ. - Dùng vợt bắt bọ trưởng thành vào chập tối. - Phun thuốc (các thuốc như mọt đục cành) vào buổi chiếu ướt đều tán lá. 3. Sâu hồng ( Zeuzera coffeae) a. Hình thái :
  3. - Bướm tương đối lớn, cánh màu trắng xám, có nhiều chấm nhỏ màu xanh đen óng ánh, thân có nhiều lông trắng. - Sâu non đẫy sức dài 40 mm màu đỏ vàng hoặc đỏ tươi, đầu màu đen. b. Triệu chứng gây hại : - Bướm đẻ trứng ở các kẽ nứt của vỏ cây, thân cành cây. - Sâu non đục thành một đường vòng dưới vỏ cây, sau đó đục lên phía trên ngọn thân và các cành tạo thành đường hầm rồi đùn phân và mạt cưa rơi xuống đất. - Cành bị sâu đục thường héo và dễ gãy, sâu tiếp tục sống trong cành khô và hóa nhộng trong cành. c. Phòng trừ : - Cắt bỏ đem đốt các cành bị sâu để diệt sâu non, nhộng. - Phun thuốc vào nơi sâu thích đục lỗ (đầu cành non, chồi non) hoặc bơm thuốc vào lỗ đục : + Fastac 5EC ; Cyper 5EC ; Sumi Alpha 5EC : 10 ml/bình 8 lít + Oncol 20EC ; Nurelle D 25/2.5EC ; Hopsan 75ND ; Ofunack 40EC ; Sumithion 50EC : 25-30 ml/bình 8 lít. 4. Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.) a. Hình thái : - Bọ trưởng thành giống con muỗi lớn, màu xanh, con cái dài 4-5 mm, con đực nhỏ hơn. - Bọ tuổi nhỏ màu vàng nhạt. b. Triệu chứng gây hại : - Hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, ngày âm u hoạt động cả ngày.
  4. - Đẻ trứng rải rác hoặc từng cụm 2-4 quả trên búp hoặc trên gân lá, trứng đẻ sâu trong biểu bì để lộ ra 2 sợi lông dài. - Bọ trưởng thành và bọ non chích hút chồi non, cành non và trái, các vết chích bị thâm đen. Bị hại nặng búp và lá non xoăn lại, khô héo, trái non kém phát triển bị héo khô, trái lớn phát triển dị dạng, ít hạt và dễ bị nấm hại xâm nhập. - Bọ xít muỗi thường gây hại nặng trong mùa mưa, vườn rợp bóng, ẩm thấp bị hại nặng hơn. c. Phòng trừ : - Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bỏ các cành nhánh vô hiệu. - Nuôi kiến đen (loài Dolichoderus thoradicus) trong vườn ca cao có khả năng làm giảm sự tác hại của bọ xít muỗi. - Phun thuốc vào sáng sớm khi cây ra lá non, chồi non mới nhú và đậu trái non : + Fastac 5EC ; Cyper 5EC ; Mospilan 3EC : 5-10 ml/bình 8 lít + Cori 23EC ; Hopsan 75ND : 20-25 ml/bình 8 lít + Nurelle D 25/2.5EC ; Ofunack 40EC : 20 ml/bình 8 lít + Oncol 20EC ; Sumithion 50EC : 30 ml/bình 8 lít + Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít + Sumi Apha 5EC : 5 ml/bình 8 lít 5. Bọ cánh tơ (Thrips sp.) a.Hình thái : - Còn gọi là bọ trĩ. Bọ trưởng thành nhỏ, mình thon dài khoảng 1 mm, màu xám đen, cánh dài và hẹp, có nhiều lông tơ. - Bọ non giống trưởng thành nhưng chưa có cánh, màu xanh vàng.
  5. b. Triệu chứng gây hại : - Bọ trưởng thành và bọ non sống tập trung mặt dưới lá hút nhựa, lá vàng có những vệt biến màu và rụng. - Sinh trưởng của cây bị ảnh hưởng. c. Phòng trừ : - Chăm sóc cây phát triển tốt, không để vườn bị khô hạn. - Phun thuốc ướt đều lá : + Mospilan 3EC : 10 ml/bình 8 lít ; Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít + Fastac 5EC ; Cyper 5EC : 5-10 ml/bình 8 lít + Hopsan 75ND ; Hoppecin 50EC ; Oncol 20EC ; Elsan 50EC ; Sumithion 50EC : 20-30 ml/bình 8 lít 6. Rệp sáp phấn (Planococcus citri) a. Hình thái : - Rệp cái hình bầu dục, không cánh, dài 2,5-5mm, thân có phủ lớp sáp trắng, quanh thân có các tua sáp. Rệp đực dài khoảng 1mm, màu xám nhạt, có một đôi cánh. - Rệp non mới nở màu hồng, hình bầu dục, chưa có sáp, di chuyển tìm nơi sống thích hợp, sau 2-3 ngày thì cố định nơi sống. b. Triệu chứng gây hại : - Xuất hiện nhiều trong mùa nắng là loại sâu hại nguy hiểm nhất đối với cây tiêu. - Rệp thường sống tập trung gây hại ở cuống, lá, thân, quả và cổ rễ. Rệp chích hút nhựa cây làm cây chậm phát triển, quả nhỏ. Chất bài tiết của rệp là môi trường cho nấm bồ hóng đen phát triển, bám đen cả cành lá và vỏ trái, làm giảm quang hợp và giảm giá trị sản phẩm.
  6. c. Phòng trừ : - Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành sát mặt đất, cành vô hiệu để giảm nơi sinh sống của rệp. - Dọn sạch cỏ rác, lá cây mục ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến. - Mùa nắng dùng vòi bơm nước phun vào chổ có nhiều rệp đeo bám có tác dụng rửa trôi bớt rệp, đồng thời tạo ẩm độ trên cây làm giảm mật số rệp. - Thường xuyên kiểm tra 10 ngày/lần để phát hiện sự xuất hiện của rệp sáp. Nếu thấy có rệp dù ở mật số thấp cũng phải diệt trừ ngay vì rệp sáp sinh sản rất nhanh. Trừ rệp sáp trên lá và quả : cần phun thuốc kỹ để thuốc bám và thấm qua lớp sáp, phải phun thuốc 2 lần cách nhau 7-10 ngày để diệt tiếp lứa rệp non mới nở từ trứng được che ở dưới bụng rệp mẹ. Có thể dùng nước xà bông rửa chén pha 15-20 ml/bình 8 lít phun ướt đều nơi rệp đeo bám, ngày hôm sau phun thuốc. + Oncol 20EC, Nurelle D 25/2.5EC : 25-30ml/ bình 8 lít + Cori 23EC: 20 ml/bình 8 lít + Mospilan 3EC: 15 ml/bình 8 lít nước ; Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít + Elsan 50EC: 30 ml/bình 8 lít + Applaud 10WP : 20-25 g/bình 8 lít nước ; Applaud 25SC : 8-12 ml/bình 8 lít + Dầu khoáng Citrole 96.3EC: 40 ml/bình 8 lít Trừ rệp sáp hại rễ : + Oncol 20EC: pha 40 ml/10 lít nước, tưới vào vùng rễ 3-5 lít dung dịch thuốc cho một gốc tùy theo cây lớn nhỏ. Nếu đất khô, tưới nước một ngày trước khi tưới thuốc để đất có đủ ẩm độ giúp cho thuốc dễ khuếch tán xuống tới vùng rễ bị rệp sáp gây hại.
  7. + Lorsban 15G : xới quanh gốc sâu 10 cm, rắc thuốc 20-30 g/gốc, sau đó phủ đất và tưới đẫm nước cho cây. 7. Rệp muội đen (Toxoptera aurantii) a. Hình thái : - Có 2 loại rệp không cánh và có cánh. Rệp trưởng thành không cánh cơ thể trần trụi, hình quả lê dài 1,5-2 mm, màu đen hoặc hơi đỏ. Trong một ổ rệp có vài con rệp có cánh, phần bụng màu đen, cánh mỏng và trong suốt, thường phát sinh khi mật độ rệp quá cao nó có chức năng bay đi tìm nơi sinh sống mới để tạo ra ổ rệp mới khi ổ rệp cũ gặp điều kiện bất thuận như nguồn thức ăn cạn kiệt. Rệp non màu hơi nâu. - Trong điều kiện nóng ẩm vùng nhiệt đới, rệp sinh sản theo kiểu đơn tính, đẻ ra con, một cái đẻ trung bình 30-50 con và chỉ sau 7-10 ngày rệp non lại trở thành rệp cái và đẻ con, cho nên ổ rệp hình thành rất nhanh chóng. b. Triệu chứng gây hại : - Rệp muội sống tập trung ở các chồi non, lá non, trái non hút nhựa làm và lá non xoăn lại, cây chậm phát triển, quả bị khô héo. Trong quá trình sinh sống, rệp tiết ra chất thải là môi trường phù hợp cho nấm bồ hóng phát triển và dẫn dụ kiến. c. Phòng trừ : - Vệ sinh vườn sạch sẽ, cắt bỏ các cành vô hiệu và chồi vượt. - Khi rệp phát sinh nhiều phun thuốc trừ rệp, chú ý phun ướt đều nơi rệp đeo bám. + Oncol 20EC, Hopsan 75ND : 25-30 ml/bình 8 lít + Fastac 5EC, Cyper 25EC, Mospilan 3EC : 10 ml/bình 8 lít + Lannate 40SP : 12-24 g/bình 8 lít + Sumi Alpha 5EC : 5 ml/bình 8 lít
  8. + Sumithion 50EC : 15-25 ml/bình 8 lít 8. Sâu khoang (Prodenia litura) a. Hình thái : - Bướm có kích thước trung bình, thân dài 17-20 mm, màu nâu vàng, cuối bụng con cái có túm lông. - Sâu non màu xám tro hoặc nâu đen, vạch lưng màu vàng, trên đốt bụng thứ nhất có một khoang đen lớn. Sâu đẫy sức dài 40-50 mm. b. Triệu chứng gây hại : - Sâu ban ngày ẩn nấp dưới đất, trong đám lá, cỏ dại, phá hại mạnh vào ban đêm. - Sâu non gặm chất xanh của lá chừa lại màng và gân lá, sâu lớn ăn khuyết lá, làm cây xơ xác ảnh hưởng đến sinh trưởng. c. Phòng trừ : - Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện kịp thời. - Phun thuốc khi sâu phát sinh nhiều, tuổi sâu còn nhỏ : + Oncol 20EC ; Cori 23 EC ; Nurelle D 25/2.5EC, Elsan 50EC : 25-30 ml/bình 8 lít + Lannate 40SP : 12-24 g/bình 8 lít + Ammate 150SC: 8 ml/bình 8 lít + Atabron 5EC : 10-15 ml/bình 8 lít + Fastac 5EC ; Cyper 5EC ; Sumi Alpha 5EC : 10 ml/bình 8 lít 9. Mối (Odontotermes sp.) a. Hình thái : - Mối chúa màu nâu, dài 40-50 mm, mối thợ và mối lính dài 3-4 mm.
  9. - Mối lính có hàm dưới phát triển, đầu có hạch độc tiết ra chất dịch có tính acid để đục gỗ. b. Triệu chứng gây hại : - Là côn trùng phá hại phổ biến vườn cây ca cao trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, nhất là ở những vùng mới khai hoang, gần rừng. - Mối sống quần thể trong tổ ngầm dưới đất, một bộ phận của mối thợ và mối lính đi kiếm ăn, khi đi chúng tạo thành đường ngầm nối từ tổ đến nơi lấy thức ăn. - Mối gặm rễ cây và biểu bì thân cây làm cây sinh trưởng kém, lá vàng úa, cây nhỏ có thể bị chết. c. Phòng trừ : - Trước khi trồng ca cao cần làm đất kỹ, dọn sạch tàn dư gốc rễ của cây trồng trước, tìm phát hiện phá các tổ mối. - Thường xuyên dọn sạch không để lá cây, cành cây mục ở trong vườn để làm giảm nguồn thức ăn của mối. - Trước khi trồng ca cao xử lý hố trồng : rải 20-30 g/hố thuốc Lorsban 15G. - Sau khi trồng xong phun trên mặt đất xung quanh gốc cây và toàn thân cây : + Nurelle D 25/2.5 EC : 30 ml/bình 8 lít + Mospilan 3EC : 15 ml/bình 8 lít II. BỆNH HẠI CHÍNH 1. Bệnh thối thân, cháy lá, thối trái a. Tác nhân : - Do nấm Phytophthora palmivora.
  10. - Nấm P.palmivora có nguồn gốc thủy sinh nên chúng ưa thích và rất cần sự ẩm ướt để sinh sản, phát triển và gây hại. Bệnh phát triển, lây lan mạnh trong mùa mưa, nhiệt độ không khí trên dưới 30ºC ở những vườn ẩm thấp, đọng nước. b. Triệu chứng gây hại : - Đây là bệnh quan trọng nhất trên cây ca cao. Bệnh xâm nhập và gây hại ở tất cả các bộ phận của cây từ thân, lá, trái. - Trên thân cách mặt đất khoảng 1 m, xuất hiện các vết bệnh sậm màu hơi ướt, sau chuyển sang nâu đỏ, vỏ bị bệnh nứt ra và chảy nhựa vàng. Lâu ngày, vết bệnh lan khắp vòng thân và ăn sâu vào phần gỗ, lá héo và rụng. Ở những cây nhiều tuổi, bệnh có thể hại cả trên cành. Cây bị bệnh lá héo, rụng, cành bị khô, cây có thể chết. - Trên lá, vết bệnh màu xanh tái hơi ướt xuất hiện đầu tiên trên mép và chóp lá, sau lan rộng vào phía trong phiến lá, chuyển màu nâu, lá bị cháy khô từng mảng.Trong điều kiện ẩm ướt trên vết bệnh có lớp tơ nấm màu trắng. - Trên vỏ trái xuất hiện những chấm màu nâu lan rất nhanh, sau chuyển qua đen và từ từ bao kín mặt trái. Trái non đen khô cứng và vẫn dính trên cây. Trái gần thu hoạch bị thối một phần hoặc cả quả, quả bị rụng, hạt lép, giảm sản lượng. c. Phòng trừ : - Trồng giống kháng bệnh. - Hái bỏ, chôn các trái bệnh để tránh bào tử phát tán do gió, nước mưa, côn trùng. - Tỉa cành hợp lý tạo thông thoáng, giảm độ ẩm dưới tán lá. - Tạo bóng râm thích hợp để đủ ánh sáng trong vườn ca cao. - Thường xuyên kiểm tra nhất là vào mùa mưa để phòng trừ bằng thuốc : + Acrobat MZ 90/600 WP, Polyram 80 DF : 20-25 g/bình 8 lít. Phun khi cây bắt đầu trổ hoa và sau đó phun 2-3 tuần/lần cho đến khi vỏ trái chín.
  11. + Acrobat MZ 90/600 : 20-25 g/8 lít nước. Bôi thuốc vào vết bệnh trên thân đã được nạo vỏ, cạo sạch, cách nhau 14 ngày/lần. 2. Bệnh thối khô quả a. Tác nhân : - Do nấm Diplodia theobromae. - Bệnh phát sinh quanh năm, phát triển mạnh trong điều kiện nóng và ẩm. b. Triệu chứng gây hại : - Trên vỏ trái vết bệnh lúc đầu là những đốm màu nâu hơi ướt, sau vết bệnh lan rộng rất nhanh trên bề mặt và ăn sâu vào bên trong trái, làm trái bị đen và khô cứng lại, có thể rụng hoặc dính lại trên cành một thời gian. - Nấm tấn công từ khi trái còn nhỏ đến trước khi chín, làm giảm sản lượng. c. Phòng trừ : - Tiêu hủy các trái bị bệnh. - Tỉa cành cho cây thông thoáng. - Phát hiện có quả bị bệnh phun thuốc : + Bemyl 50 WP : 20-25 g/bình 8 lít 3. Bệnh vệt sọc đen (khô ngược cành) a. Tác nhân : - Còn gọi là bệnh VSD (Vascular Streak Dieback) do nấm Oncobasidium theobromae. - Bệnh phát triển và phát tán chủ yếu khi mưa nhiều, ẩm độ không khí cao. Bào tử phát tán từ 3-9 giờ sáng. b. Triệu chứng gây hại :
  12. - Một hoặc nhiều lá bệnh nằm sau đợt lá cuối cùng kể từ ngọn đếm ngược vào có màu vàng với những đốm xanh.Thân cây sần sùi với những mụt nhỏ. Nhiều chồi nách phát triển nhiều nhưng không hoàn chỉnh. - Lột vỏ hoặc chẻ dọc đoạn cành nhiễm bệnh thấy có những sọc đen. - Cắt ngang bề mặt sẹo lá bị bệnh có 1-3 chấm đen. - Khi bệnh nặng cành khô và chết ngược dần từ ngọn vào. c. Phòng trừ : - Trồng giống kháng. - Tỉa cành thông thoáng để giảm ẩm độ không khí. - Cắt bỏ cành bệnh khoảng 30 cm về phía gốc cách nơi có triệu chứng bệnh (sọc đen trên mô mộc). - Nhổ bỏ cây con bị bệnh và thay cây khỏe mạnh khác. - Phun thuốc Bayfidan 1 tuần/lần : 2 ml/bình 8 lít 4. Bệnh khô vỏ thân a. Tác nhân : - Do nấm Colletotrichum gloeosporioides. - Nấm tồn tại trên các bộ phận cây bị bệnh. Bệnh xảy ra cả trong mùa khô và mùa mưa, phát triển nhiều trên những cây ca cao thiếu bóng che để ánh nắng chiếu trực tiếp vào thân cành trong một thời gian dài. b. Triệu chứng gây hại : - Nấm hại trên thân, cành và lá. - Trên thân và cành, nấm xâm nhập vào lớp tế bào dưới biểu bì tạo thành những vết sậm màu, sau đó vùng nhiễm bệnh xuất hiện bào tử màu vàng cam, vỏ
  13. thân bị khô từng mảng, nếu bị nặng cây sinh trưởng kém, lá vàng và rụng, một số cành bị khô. - Trên lá, vết bệnh là những đốm màu nâu, tròn, nhiều đốm liên kết nhau làm cháy lá. c. Phòng trừ : - Bón phân và tưới nước đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt. - Tạo vườn ca cao có đủ bóng che. - Phun hoặc bôi thuốc vào vết bệnh : + Bavistin 50FL, Carbenda 50SC : 10-15 ml/bình 8 lít + Polyram 80DF, Ridozeb 72WP, Bemyl 50WP : 25-30 g/bình 8 lít + Dithane xanh M-45 80WP, Manozeb 80WP : 30-40 g/bình 8 lít 5. Bệnh nấm hồng a. Tác nhân : - Do nấm Corticium salmonicolor. - Bênh thường xuất hiện vào mùa mưa, ở những vườn ca cao quá rợp bóng và ẩm thấp do tán lá dày và mật độ trồng cao. b. Triệu chứng gây hại : - Nấm phá hại ở những cành đã hóa nâu. - Các vết bệnh lúc đầu có lớp mốc trắng, sau chuyển màu hồng. Nấm mọc sâu vào phần gỗ cành, lá phần trên của cành nhiễm bệnh bị úa vàng và khô, nhưng vẫn lưu trên cành một thời gian. Vỏ cành khô nâu và bong ra từng mảng, bị nặng cành chết khô. c. Phòng trừ : - Tỉa cành thường xuyên, tăng độ thông thoáng cho vườn.
  14. - Cắt bỏ cành bệnh dưới vùng có nấm mọc 30 cm, đốt bỏ cành bệnh. - Phun khi bệnh chớm xuất hiện hoặc quét lên thân cành bệnh có đường kính lớn : + Bavistin 50FL ; Carbenda 50SC : 10-15 ml/bình 8 lít + Vali 3DD : 30 ml/bình 8 lít ; Vali 5DD : 20 ml/bình 8 lít 6. Bệnh lở cổ rễ a. Tác nhân : - Do nấm Rhizoctonia solani. - Hạch nấm sống hàng năm trong đất, gặp điều kiện thuận lợi mọc ra sợi nấm để xâm nhập gây bệnh. - Bênh phát triển mạnh trong mùa mưa, ẩm độ trong vườn cao. b. Triệu chứng gây hại : - Nấm xâm nhập vào chổ cổ rễ giáp mặt đất, thấy vỏ có vết nâu. Sau đó, vết nâu lan rộng bao quanh cổ rễ, vỏ gốc bị thối bong ra để trơ phần gỗ. Nấm dần dần ăn sâu vào trong làm cổ rễ bị thắt nhỏ lại. - Lá cây bị vàng héo, toàn cây chết khô. c. Phòng trừ : - Không để vườn đọng nước trong mùa mưa, cắm cọc giữ cây con không để gió lay gốc mạnh. - Đào bỏ cây bị bệnh nặng, thu gom hết rễ và đốt tiêu hủy. Trước khi trồng cây khác, bón 0,5 kg vôi bột cho một hố. - Phun thuốc kỹ vào cổ rễ và đất khi bệnh chớm xuất hiện : + Bavistin 50FL, Carbenda 50SC : 10-15 ml/bình 8 lít + Bemyl 50WP : 20-25 g/bình 8 lít
  15. + Vali 3DD : 30 ml/bình 8 lít ; Vali 5DD : 20 ml/bình 8 lít + Top 70WP : 7-10 g/bình 8 lít. 7. Bệnh thối rễ a. Tác nhân : - Do nấm Rigidoporus lignosus, Ganoderma pseudoferum, Phellinus noxius, Rossellinia bunodes. - Bệnh thường phát sinh trong điều kiện đất thường xuyên bị ẩm hoặc đọng nước trong mùa mưa. b. riệu chứng gây hại : - Nấm làm bộ rễ cây có thể bị trắng, bị hóa nâu, bị đen hoặc nứt cổ rễ. - Cây sinh trưởng chậm, lá vàng và rụng, bị hại nặng cây dần dần chết, nhổ lên dễ dàng. c. Phòng trừ : - Bón nhiều phân hữu cơ, giữ cho gốc được tơi xốp. - Không để gốc cây bị đọng nước. - Vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa phun hoặc tưới vào cổ rễ và đất dung dịch thuốc 1 lít/cây : + Sumi Eight 12.5 WP : 5-6 g/ 8 lít nước
Đồng bộ tài khoản