Shockvertising - Quảng cáo gây sốc

Chia sẻ: Le Phuong Anh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
69
lượt xem
19
download

Shockvertising - Quảng cáo gây sốc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Quảng cáo gây sốc - shockvertising – là một thuật ngữ chỉ hình thức của chiến dịch quảng cáo gây ra cảm giác sốc cho con người. Như vậy, cần lưu ý là không phải quảng cáo nào cũng gây sốc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Shockvertising - Quảng cáo gây sốc

  1. Shockvertising - Quảng cáo gây sốc Quảng cáo gây sốc - shockvertising – là một thuật ngữ chỉ hình thức của chiến dịch quảng cáo gây ra cảm giác sốc cho con người. Như vậy, cần lưu ý là không phải quảng cáo nào cũng gây sốc. Trong quảng cáo gây sốc thường xuất hiện những yếu tố “khác người” như máu chảy, hình ảnh các cơ quan nội tạng của thân thể con người hoặc ảnh khiêu dâm…
  2. Người ta cho rằng, quảng cáo gây sốc được thực hiện nhằm thu hút sự chú ý của công chúng. Thời gian gần đây, sự quan tâm của công chúng đối với quảng cáo gây sốc đã trở nên phức tạp hơn. Nhiều người khẳng định rằng, trong nhiều trường hợp, hình thức quảng cáo này không hiệu quả nhưng phần lớn quảng cáo như thế này vẫn thường được coi là thành công và được công chúng biết đến. Chúng ta sẽ nói về quảng cáo xã hội trong bài viết này, nhưng cũng không nên bỏ qua phần quảng cáo thương mại. Shockvertising đã được sử dụng khá lâu. Trước đây, hình thức quảng cáo này tạo ra được rất nhiều sự quan tâm của công chúng. Đơn giản là bởi quảng cáo trên tivi thường bị kiểm duyệt, vì thế không phải quảng cáo nào cũng có thể được xuất hiện, đặc biệt là quảng cáo gây sốc. Vì thế, để thu hút khán giả, người ta sử dụng các yếu tố đơn giản của tranh ảnh khiêu dâm. Ngày nay, sự xuất hiện của các bức ảnh, clip quảng cáo bán khỏa thân phụ nữ không còn là điều gây ngạc nhiên nữa. Thập niên 80, clip quảng cáo gây sốc ấn tượng nhất có lẽ thuộc về quảng cáo của Benetton, khi các bức ảnh của nhiếp ảnh gia Oliver Toscani xuất hiện trên các tờ báo/tạp chí. Và hình ảnh của hãng thời trang này đã được công chúng biết đến rộng rãi nhờ những bức ảnh quảng cáo vô cùng ấn tượng của Oliver Toscani. Tuy nhiên, thời nay đã làm thay đổi nhiều thứ, còn các tác phẩm của Oliver Toscani được coi là khiêu khích. Cuối cùng,
  3. Benetton cũng hủy hợp đồng với nhiếp ảnh gia “ngôi sao”, còn các chiến dịch quảng cáo của hãng quần áo thời trang này trở nên ôn hòa hơn. Shockvertising thường được sử dụng trong quảng cáo thương mại. Và cách tiếp cận này tỏ ra thành công vì gần như lúc nào cũng tạo ra được sự quan tâm của công chúng. Hơn nữa, các vấn đề xã hội cũng gây ra sự chú ý của công chúng. Poster quảng cáo “Ruby” của chiến dịch The Body Shop được tung ra vào năm 1998. Trên poster chỉ xuất hiện hình ảnh của một con búp bê mập mạp như búp bê Barbie. Trong nhiều cửa hàng, hình thức quảng cáo này thường bị cấm. Hơn nữa, công chúng thường đưa ra nhiều ý kiến trái chiều nhau. Bản thân chiến dịch The Body Shop có ý định chỉ ra vẻ đẹp tự nhiên trong đó, rằng bất cứ người phụ nữ nào cũng tuyệt vời.
  4. Ngoài ra cũng cần hiểu điều đó liên quan đến vấn đề nào. Nếu chúng ta nói đến quảng cáo cho cửa hàng sex thì có lẽ người ta đã sử dụng một chút yếu tố gây sốc nhẹ. Bản thân đặc thù cửa hàng đã hỗ trợ cho điều này. Ví dụ, cửa hàng kinh doanh dụng cụ tình dục Coco de Mer đã cho treo khắp thành phố London và Paris các bảng hiệu quảng cáo với cách thể hiện những khuôn mặt đàn ông và đàn bà trong cơn mây mưa ngất ngây. Báo chí viết rằng chương trình quảng cáo này đã hoàn toàn thỏa mãn các khách hàng của họ. Nói chung, có thể rút ra một kết luận quan trọng về quảng cáo gây sốc. Nó hiệu quả trong trường hợp khi mà cú sốc của khách hàng gắn với vị thế thương hiệu. Nghĩa là phải có một mối quan hệ nhất định trong vị trí công ty và thông tin nào mà công ty cần chuyển tải với sự hỗ trợ của quảng cáo. Ví dụ, nếu trong quảng cáo có sự chỉ trích các hãng sản xuất quần áo từ da động vật, điều quan trọng là bản thân công ty không bán sản phẩm tương tự và phải hoàn toàn trong sạch trong những vấn đề dạng này.
  5. Điều quan trọng nữa là – với sự hỗ trợ của quảng cáo gây sốc, chúng ta sẽ không dễ dàng để bán hàng. Việc truyền bá shockvertising phổ biến nhất là trong lĩnh vực quảng cáo mang tính xã hội chứ không phải thương mại. Thử xem các ví dụ sau đây: Cần lưu ý rằng, quảng cáo gây sốc về nguyên tắc được sử dụng trên khắp thế giới theo nhiều mức độ khác nhau. Ví dụ, bạn có thể nhìn thấy shockvertising ở Mỹ ít hơn so với ở châu Âu. Nếu chính xác hơn thì chính thuật ngữ này lại có nguồn gốc từ Lục địa cũ. Ở đây, tính cách của người dân được bộc lộ rõ nét. Người châu Âu quen với việc khẳng định sự độc lập cá nhân hay quyền hạn của mình, vv…Tại đây, thậm chí shockvertising còn được các tổ chức tài chính sử dụng.
  6. Nói chung, các cuộc tranh cãi về tính hiệu quả của shockvertising đã, đang và sẽ xảy ra. Một mặt, các hãng quảng cáo ủng hộ cách thức này, đơn giản bởi điều đó mang lại lợi nhuận cho họ. Đơn vị đặt hàng thì không có ý kiến thống nhất. Mặt khác, nhiều người khẳng định rằng, quảng cáo kiểu này nói chung là hiệu quả (ví dụ, Constant – một công ty sản xuất đồ gỗ đã tung ra chiến dịch quảng cáo gây sốc với hiệu quả nằm ngoài sự mong đợi), trong khi nhiều người khác cho rằng, đây là một kiểu ném tiền qua cửa sổ. Trong nhiều trường hợp, quảng cáo gây sốc buộc người ta nói về mình. Mà điều đó cũng không phải là tồi. Như vậy, quảng cáo gây sốc có thể hiệu quả trong những trường hợp, khi mà: - Quảng cáo khiêu khích bằng cách nào đó phù hợp với nhãn hàng. Hãy xem ví dụ trên về cửa hàng kinh doanh dụng cụ tình dục. Trong trường hợp này, nếu như quan tâm đến quảng cáo mang tính xã hội, ví dụ đó cho thấy rằng nhãn hiệu là “trong sạch”. - Chúng ta nói đến quảng cáo xã hội; - Chúng ta nói đến một công ty nhỏ nào đó không đủ ngân sách cho một chiến dịch quảng cáo tốn kém.
  7. Nói chung, không có sự thống nhất trong các quan điểm liên quan đến quảng cáo gây sốc. Đối với người này, đó là một công cụ quảng cáo hữu hiệu, trong khi với người khác, đó chỉ là hành động ném tiền qua cửa sổ...
Đồng bộ tài khoản