SO SÁNH NHỮNG ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÝ LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI VÀ CHƯƠNG TRÌNH CŨ

Chia sẻ: sang_som

Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới cùng với sự phát triển nhanh mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ, thể hiện qua các lý thuyết, thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao rộng, nhanh vào thực tế. Hoà chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới, sách giáo khoa cần được xem xét điều chỉnh và đổi mới....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: SO SÁNH NHỮNG ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÝ LỚP 10 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI VÀ CHƯƠNG TRÌNH CŨ

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM




Lý Thị Thanh Dung
Lớp DH3L - MSSV : DLY021306
Nguyễn Thị Kim Thoa
Lớp DH3L - MSSV : DLY021334

SO SÁNH NHỮNG ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM
CỦA SÁCH GIÁO KHOA VAÄT LYÙ LÔÙP 10
THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI VÀ
CHƯƠNG TRÌNH CŨ
( Bộ I BAN KHOA HỌC TỰ NHIÊN )


Giáo viên hướng dẫn:
Thầy: Trần Thể




AN GIANG - 7/2004
MỤC LỤC
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG…………………………….………………………………….. 1
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……………………………………..…………...…………………. 1
II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU………………………….……………………....………... 1
III.PHẠM VI NGHIÊN CỨU…………………………………………...…………………… 1
IV.NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI…………………………………………..…….…………….. 2
V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……………………………………….……….…..….. 2
VI.THỜI GIAN THỰC HIỆN………………………………………………..……………… 2
PHẦN II: CƠ SỞ LÍ LUẬN…………………………………………………………………………… 3
VII.Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục ở THPT………….. 3
VIII. Thực trạng dạy học của giáo viên và học sinh trong giai đoạn hiện nay……………… 3
IX. Tầm quan trọng của sách giáo khoa mới……………………………………………….. 4
X. Tầm quan trọng của sách giáo khoa môn Vật lý…………………………………………. 4
PHẦN III: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU………………………………………………………………. 6
A. PHẦN CƠ HỌC……………………………………………………………………………….. 6
I.Hình thức…………………………………………………………………………………… 6
II.Nội dung:………………………………………………………………………………….. 6
1.Chương I:ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM:…………………………………………………. 6
1.1.Cấu trúc:……………………………………………………………………………. 6
1.2. Nội dung:………………………………………………………………………….. 6
1.3. Nhận xét:………………………………………………………………………….. 10
2.Chương II:ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM. CÁC LỰC CƠ HỌC…………………… 10
2.1.Cấu trúc:……………………………………………………………………………. 10
2.2.Nội dung:…………………………………………………………………………… 10
2.3.Nhận xét:…………………………………………………………………………… 18
3.Chương III:CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN………………………………………….. 18
3.1.Cấu trúc…………………………………………………………………………….. 18
3.2.Nội dung……………………………………………………………………………. 18
3.3.Nhận xét…………………………………………………………………………….. 23
4.Chương IV:CƠ HỌC CHẤT LỎNG…………………………………………………… 24
4.1.Cấu trúc…………………………………………………………………………….. 24
4.2.Nội dung……………………………………………………………………………. 24
4.3.Nhận xét……………………………………………………………………………. 24
B. PHẦN NHIỆT HỌC………………………………………………………………………….. 24
I.Hình thức………………………………………………………………………………….. 24
II.Nội dung………………………………………………………………………………….. 25
5.Chương V:CHẤT KHÍ…………………………………………………………………. 25
5.1.Cấu trúc…………………………………………………………………………….. 25
5.2.Nội dung……………………………………………………………………………. 25
6.Chương VI:CÁC TRẠNG THÁI CƠ BẢN CỦA CHẤT………………………………. 30
6.1.Cấu trúc……………………………………………………………………………… 30
6.2.Nội dung…………………………………………………………………………….. 30
6.3.Nhận xét……………………………………………………………………………… 36
7.Chương VII:CƠ SỞ CỦA NHIỆT ĐỘNG LỰC HỌC………………………………….. 37
7.1.Cấu trúc……………………………………………………………………………… 37
7.2.Nội dung…………………………………………………………………………….. 37
7.3.Nhận xét……………………………………………………………………………... 43
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………………………… 43
A. Kết luận:………………………………………………………………………………………… 43
I.Ưu điểm của sách mới………………………………………………………………………. 43
II.Nhược điểm của sách mới………………………………………………………………… 44
B. Kiến nghị……………………………………………………………………………………. 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO



1) Dương Trọng Bái – Sách giáo khoa Vật lí 10 và Sách giáo viên Vật lí 10 – Nhà
xuất bản Giáo Dục - Năm 1998.

2) Nguyễn Văn Đồng – An Văn Chiêu - Ph ương pháp giảng dạy Vật lý ở
trường phổ thông - Nhà xuất bản Giáo Dục - Năm 1979.

3) Ê. E. ÊVENTRICH - Nhà xuất bản giáo dục – Năm 1978.
4) Paul Zitzewitz - Vật lí học: Các nguyên lí và bài toán - Xuất bản năm 1995 tại
Hoa Kỳ.
5) Hoàng Quý - Phạm Quý Tư dịch - Tính chất các định luật Vật lý - Nhà xuất
bản Giáo Dục .
6) Hoàng Quý – Cơ học - Nhà xuất bản giáo dục – Năm 1979.
7) Nguyễn Thế Khôi – Sách giáo khoa thí điểm Vật lí 10 (Ban khoa học tự nhiên)
bộ sách thứ nhất và sách giáo viên thí điểm Vật lí 10.
8)Phạm Hữu Tòng - Phương pháp dạy bài tập Vật Lý - Nhà xuất bản Giáo Dục
- Năm 1989
9) Bùi Trọng Tuân - Vật lí phân tử và Nhiệt học.
10) Phạm Hồng Tuất – Cơ học - Nhà xuất bản giáo dục – Năm 1981
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG




PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG


I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân
lực trong giai đoạn mới cùng với sự phát triển nhanh mạnh với tốc độ mang tính
bùng nổ của khoa học công nghệ, thể hiện qua các lý thuyết, thành tựu mới và khả
năng ứng dụng cao rộng, nhanh vào thực tế.
Hoà chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới, sách giáo khoa cần được
xem xét điều chỉnh và đổi mới.

Sách giáo khoa theo chương trình cũ đã được biên soạn cách đây hơn 25
năm. Mặc dù chương trình này đã góp phần tích cực vào việc giáo dục đáp ứng
được nhu cầu tiếp tục học tập của số đông học sinh, góp phần phát triển qui mô
giáo dục, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài…nhưng với nhu cầu hiện nay thì
chương trình cũ lại thể hiện nhiều điều bất cập, chưa đáp ứng tốt những mục tiêu
đào tạo con người Việt Nam trong giai đoạn mới.

Mặc dù hiện nay sách giáo khoa theo chương trình mới chỉ được thí điểm ở
một số trường phổ thông chứ chưa được phổ biến trên khắp cả nước nên chưa
thể nào đánh giá được một cách tổng quát ưu, khuyết điểm của nó. Vì vậy, chúng
tôi quyết định chọn đề tài này nhằm góp phần phát hiện ra được những ưu, khuyết
điểm của nó, từ đó đề xuất ý kiến của mình để bổ sung cho chương trình mới ngày
càng hoàn chỉnh hơn.
II. GIẢ THIẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI:

- Giả sử hiện nay trong giai đoạn thí điểm sách giáo khoa theo chương trình
mới không thấy được khuyết điểm cũng như sai sót của nó thì khi ban hành trên
phạm vi cả nước, nếu trong quá trình giảng dạy và học tập gặp một số vấn đề
chưa phù hợp, lúc đó việc sửa chữa sẽ hết sức khó khăn. Vì vậy, chúng ta chưa
thể đáp ứng được mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đề ra trong giai đoạn
hiện nay.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu các ưu và khuyết điểm của sách giáo khoa Vật lí lớp 10 theo
chương trình cũ và chương trình mới (Bộ I ban Khoa học tự nhiên ).

IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Sách giáo khoa, sách giáo viên Vật lí lớp 10 theo chương trình mới và chương
trình cũ.
Trang 1
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG

V. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

So sánh sự khác biệt của sách giáo khoa Vật lí lớp 10 theo chương trình cũ và
chương trình mới từ đó rút ra được ưu và khuyết điểm.

Nhận định được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giảng dạy.

Thông qua những ưu, khuyết điểm của sách giáo khoa mới từ đó đề xuất ý
kiến và phương pháp giảng dạy để khắc phục được những hạn chế đó.

VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1. Phương pháp đọc sách và tài liệu tham khảo:

Chúng tôi tiến hành đọc hai bộ sách giáo khoa lớp 10 theo chương trình cũ
và chương trình mới (bộ 1) đồng thời chúng tôi cũng kết hợp đọc một số tài liệu
tham khảo khác để làm nền tảng cho đề tài. Từ đó so sánh, rút ra kết luận để thực
hiện được nhữngmục tiêu mà đề tài đã đặt ra.

2. Phương pháp trò chuyện phỏng vấn:

Chúng tôi trò chuyện với giáo viên hướng dẫn, giáo viên giảng dạy vật lý ở
trường phổ thông để biết được trong quá trình dạy học (chương trình cũ) có gặp
phải những nhược điểm và ưu điểm nổi bật gì? Từ đó bổ sung ý kiến của chúng
tôi vào công tác giảng dạy để phục vụ cho công tác dạy học ngày một tốt hơn.

VII. THỜI GIAN THỰC HIỆN:

Chúng tôi bắt đầu làm đề tài từ ngày 1/02/2004 đến ngày 30/6/2004.




Trang 2
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN


I. Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục ở
THPT:
Nghị quyết số 40 năm 2000 Quốc Hội khoá X, ngày 19 tháng 12 năm 2000
của Quốc Hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đã khẳng định
mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là: “Xây dựng nội dung
chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới, nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện. Thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn
nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với thực tiễn
và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước trong
khu vực và trên thế giới” (Nghị quyết 40).
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 của nước ta đã đề ra nhiệm
vụ “Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước, bộ chương
trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới” và chiến
lược phát triển giáo dục năm 2001-2010 cũng đã cụ thể hoá yêu cầu này.
Thủ tướng chính phủ đã có chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về việc đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông thực hiện nghị quyết số 40/2000 của Quốc Hội
khoá X và chỉ thị số 30/1998/CT-TTg về điều chỉnh chủ trương phân ban và đào
tạo hai giai đoạn ở đại học nêu rõ các yêu cầu, các công việc mà bộ giáo dục và
đào tạo và các cơ quan có liên quan phải khẩn trương tiến hành trong thời gian
tới.
II. Thực trạng dạy học của giáo viên và học sinh trong giai đoạn hiện nay:
Về chất lượng giáo dục:

Hầu hết giáo viên các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh An
Giang đều có trình độ Đại học Sư phạm. Tính đến năm 2000-2001 đã có 93,7%
đạt chuẩn (tốt nghiệp Đại Học) và 1,7% giáo viên đạt tiêu chuẩn (Thạc Sĩ). Với một
số tuổi nghề nhất định đa số giáo viên có thể đảm đương được các yêu cầu dạy
học mà chương trình đặt ra. Tuy nhiên đội ngũ giáo viên trung học phổ thông hiện
nay còn có những hạn chế về trình độ ngoại ngữ, tin học, về ý thức và khả năng
đổi mới phương pháp dạy học, sự say mê nâng cao hiểu biết và tay nghề , trình độ
sử dụng thiết bị dạy học, còn thiếu hiểu biết cơ sở khoa học và kỹ năng đánh giá
theo xu thế, kỹ thuật hiện đại. Ngoài ra, một số giáo viên còn có những biểu hiện
chưa thật sự đúng với đạo đức của người thầy làm ảnh hưởng đến uy tín chung
của đội ngũ giáo viên.




Trang 3
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
Về chất lượng giáo dục:
Chất lượng giáo dục trung học phổ thông cũng như chất lượng giáo dục
của các cấp bậc học khác đã có những chuyển biến đáng kể trong mấy năm qua.
Trên phạm vi toàn quốc, các tỷ lệ bỏ học và lưu ban đều giảm, tỷ lệ tốt nghiệp
tăng, do đó tỷ lệ hoàn thành cấp học của toàn quốc đã tăng từ 82,5% (năm
học1997-1998) lên 85,1% (năm học 2001-2002). Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong
đó có sự chênh lệch về trình độ kinh tế xã hội nên giữa các vùng còn có sự khác
biệt về chất lượng, đặc biệt là đối với những vùng mà tốc độ tăng học sinh quá
mất cân đối so với hệ điều kiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng (thiếu nhiều giáo
viên, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn…).
III. Tầm quan trọng của sách giáo khoa mới:
Để hiểu tầm quan trọng của sách giáo khoa ta phải biết được trong sách giáo
khoa bao gồm những gì?
Nội dung chương trình được thể hiện cụ thể, chi tiết, tính hệ thống trong
sách giáo khoa. Cấu trúc và nội dung của sách giáo khoa được quy định bởi nội
dung và cấu trúc của chương trình môn học đó. Sách giáo khoa trình bày cụ thể
nội dung các tri thức, kỹ năng kỹ xảo giúp cho học sinh dễ dàng lĩnh hội được.
Có tính liên thông kiến thức ở bậc trung học cơ sở với lớp 10 của chương
trình giáo khoa thí điểm ở bộ môn vật lý như khái niệm về lực, khối lượng.
Đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, phù hợp với xu thế thời đại, gắn
với cuộc sống và thực tiễn.
Giảm kiến thức lý thuyết, tăng kiến thức thực tế, thực hành ứng dụng: có
nhiều thí nghiệm thực tế cũng như số liệu của các bài tập được cập nhật gần gũi
với thực tế.
Thích hợp với điều kiện giáo viên và thiết bị dạy học của nhà trường trong
giai đoạn hiện nay. Tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học
cũng như sử dụng nhiều hình thức tổ chức dạy học hơn so với sách cũ.
Với khung chương trình sách giáo khoa mới tạo điều kiện học sinh phát triển
năng lực tự học, phát huy tính tích cực tư duy của học sinh trong từng tiết học qua
các tiết thực hành vận dụng kiến thức đã học. Vì mỗi bài chúng liên kết lẫn nhau
yêu cầu học sinh thường xuyên cũng cố kiến thức đã học ở bài trước.
Phân hoá dạy học theo hướng phân ban là một nguyên tắc sư phạm, tính
đến sự khác biệt của cá nhân học sinh và đặc điểm tâm sinh lý, tạo sự hứng thú,
phù hợp hoàn cảnh và điều kiện sống.
IV. Tầm quan trọng của sách giáo khoa môn vật lý:
Vật lý học là một trong những môn khoa học tự nhiên, giải thích những gì
xảy ra trong thế giới chung quanh. Nó nói về các màu sắc trong một cầu vồng, về
ánh sáng lóng lánh và tính cứng rắn của một viên kim cương... Nó có liên quan
đến việc đi bộ, chạy, đi xe đạp, lái ôtô và cả điều khiển một con tàu vũ trụ... Các
nguyên lý vật lí hiện diện rõ ràng trong các trò chơi, trong các trò đấu bóng, trong
các nhạc cụ và cả trong những máy phát điện khổng lồ. (trích tài liệu, “Vật lý học:

Trang 4
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG

các nguyên lý và bài toán” xuất bản năm 1995 tại Hoa Kỳ, giáo sư Paul
Zitzewitz của trường Đại học Michigan – Dearborn đã viết).

Khi học vật lý bạn sẽ khám phá ra rằng: Vật lý học có quan hệ chặt chẽ với
tự nhiên (các định luật của tự nhiên…). Nhiều tiến bộ công nghệ của nền văn minh
là kết qủa của sự hiểu biết các định luật đó. Học Vật lí bạn có thể góp phần vào sự
tiến bộ của cả khoa học và công nghệ. Bạn cũng có thể tìm được cho mình một
nghề nghiệp có vận dụng các kết quả của Vật lí học. Và dù thế nào đi nữa thì với
tư cách là một công dân thông hiểu Vật lí học bạn sẽ có nhiều khả năng để giải
quyết những vấn đề khó khăn mà nền công nghệ đặt ra cho xã hội chúng ta…
Muốn làm được điều đó thì chúng ta đều phải học Vật lý, những kiến thức Vật lý
học căn bản nhất mà chúng ta cần phải nắm được thể hiện thông qua sách giáo
khoa môn Vật lý và các tài liệu tham khảo có liên quan.




Trang 5
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG

PHẦN III
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung nghiên cứu bao gồm hai phần: Cơ học và Nhiệt học.
A. PHẦN CƠ HỌC :
I. Hình thức:
Song hành giữa lý thuyết chung và minh họa - vận dụng cho thấy rõ mối
quan hệ giữa học và hành.
Tóm tắt chương có phân ra từng mục ta có thể biết đã học những gì? Và
nhận ra phần trọng tâm của chương. Sách cũ viết từng ý nhưng không phân ra
mục như sách mới.
Trước khi vào chương có nêu mục tiêu giúp học sinh biết được sắp tới mình
sẽ học gì? Và trong quá trình học cần phải nắm vấn đề gì là chủ yếu?
Có thêm hình ảnh của nhà bác học, tóm tắt tiểu sử về nhà bác học làm cho
quyển sách thêm phong phú.

II. Nội dung:
1.Chương 1: ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM
1.1. Cấu trúc:
Sách mới trình bày các phần chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng
biến đổi đều, và chuyển động tròn đều thành từng bài riêng biệt chỉ trình bày trong
phạm vi một chương, thay vì sách cũ trình bày ba chương.

1.2. Nội dung:
1.2.1 Chuyển động cơ học:
- Cách định nghĩa chuyển động cơ học của hai sách khác nhau.

Sách cũ Sách mới

Chuyển động của vật là sự thay Chuyển động cơ học là sự
đổi vị trí của vật này so với vật khác dời chỗ của vật thể.
theo thời gian.

• Nhận xét:
Sách cũ đã định nghĩa rõ và cụ thể hơn so với sách mới bởi vì sách
mới định nghĩa rồi kèm theo giải thích nghĩa của định nghĩa đó.


Trang 6
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
1.2.2 Chất điểm:
Sách cũ Sách mới
Nêu lên được nguyên nhân và Chỉ nêu lên được điều kiện mà chưa
điều kiện để có thể coi vật là chất nêu lên nguyên nhân vì sao coi vật
điểm. là chất điểm.


• Nhận xét:
Sách cũ trình bày hoàn chỉnh hơn sách mới.
Sách mới chưa nêu lên nguyên nhân để coi vật là chất điểm.
1.2.3 Hệ quy chiếu:

Sách cũ Sách mới

Trình bày hợp chất điểm Trình bày hợp chất điểm
chuyển động trong mặt phẳng để chuyển động trên đường cong
xác định hệ qui chiếu. (được sách mới bổ sung).

Trình bày chuyển động tịnh tiến Từ thực tế sinh động để phân
và nêu ra ví dụ mà không phân tích biệt thế nào là chuyển động tịnh tiến
rõ. và chuyển động của một vật xoay
quanh trục.
• Nhận xét:
Sách mới bổ sung và phân tích rõ kiến thức, giúp học sinh dể hiểu
hơn.
1.2.4 Khái niệm vận tốc, gia tốc trong chuyển động thẳng đều và
chuyển động thẳng biến đổi đều:
Sách cũ Sách mới
Khái niệm vận tốc theo quãng Khái niệm vận tốc trung bình
đường đi, được xây dựng qua việc dựa trên độ dời và thời gian.
quan sát chuyển động thẳng đều
của ôtô và xe đạp.
Vận tốc tức thời được định
Vận tốc tức thời được định
nghĩa bằng thương số giữa quãng
nghĩa xuất phát từ định nghĩa vận
đường đi rất nhỏ tính từ thời điểm
tốc trung bình ứng với khoảng thời
đã cho và khoảng thời gian rất nhỏ
gian rất bé gần bằng không.
để vật đi hết quãng đường đó.
Vectơ gia tốc trình bày trong
Vectơ gia tốc trình bày trong
chuyển động biến đổi đều.
chuyển động tròn đều.



Trang 7
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
• Nhận xét:
Sách mới đưa vào khái niệm độ dời, khái niệm này sẽ tổng quát và
chính xác hơn so với quãng đường đi được. Vì vậy, khái niệm vận
tốc theo độ dời sẽ tổng quát hơn.
1.2.5 Vận tốc và gia tốc trong chuyển động tròn đều:
Vectơ vận tốc được hai sách trình bày như sau:
Sách cũ Sách mới

Trong chuyển động cong, Trong chuyển động tròn, vận tốc
vectơ vận tốc tức thời tại mỗi điểm của chất điểm là một vectơ trùng
trên quỹ đạo có phương trùng với phương với tiếp tuyến với vòng tròn
phương của tiếp tuyến với quỹ đạo tại điểm đang xét và có chiều của
tại điểm đó. chuyển động.

Chỉ nhận xét mà không nêu ra Nêu định nghĩa gia tốc của một
định nghĩa gia tốc. chất điểm.


• Nhận xét:
Trong khái niệm vectơ vận tốc sách mới đã nêu thêm chiều của
chuyển động.
Định nghĩa gia tốc giúp cho học sinh dễ hiểu hơn, là cơ sở để làm bài
tập tốt hơn.
1.2.6 Định nghĩa chuyển động thẳng đều và chuyển động thẳng biến
đổi đều:
a/ Chuyển động thẳng đều:
Sách cũ Sách mới
Khái niệm: Chuyển động thẳng Khái niệm: Chuyển động thẳng
đều là chuyển động trên một đường đều là chuyển động thẳng trong đó
thẳng, trong đó vật đi được những vận tốc không đổi.
quãng đường bằng nhau trong
những khoảng thời gian bằng nhau
bất kì.
Xây dựng phương trình xuất Xây dựng phương trình xuất phát
phát từ việc tìm tọa độ. định nghĩa chuyển động thẳng đều.
• Nhận xét:
Sách mới trình bày logic, thiết lập phương trình ngắn gọn, dễ hiểu.

Trang 8
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
b/ Chuyển động thẳng biến đổi đều:
Sách cũ Sách mới
Thiết lập công thức đường đi Thiết lập phương trình chuyển
trong chuyển động thẳng biến đổi động thẳng biến đổi đều dựa trên lập
đều cũng bằng đồ thị vận tốc theo luận vận tốc là một hàm bậc nhất theo
thời gian. thời gian.

x = x0 + v0t +1/ 2at2
Cách thứ hai thiết lập phương
trình qua công thức cộng vận tốc
bằng phép tính đại số và nhờ đồ thị
vận tốc.
• Nhận xét:
Ưu điểm của sách mới là đưa ra hai cách thiết lập phương trình mà
trình bày thì ngắn gọn để lúc nhìn vào mỗi cách ta nhận biết được nó
xuất phát từ đâu. Mỗi cách thiết lập phương trình của sách mới đều
thỏa mãn với các khái niệm mà sách đã xây dựng trước đó.
1.2.7 Vận tốc góc và chu kì quay:
- Hai đại lượng đặc trưng cho chuyển động tròn đều là vận tốc góc và
chu kì quay.
+ Sách mới: “ Vận tốc trung bình của một chất điểm trong chuyển động
tròn trong khoảng thời gian ∆ t = t 2 − t1 bằng thương số của độ biến thiên
∆ ϕ = ϕ 2 − ϕ1 với khoảng thời gian đó “. ( ω tb = ∆ϕ / ∆t )
+ Sách cũ: “ Vận tốc góc là đại lượng đo bằng thương số giữa góc
quay của bán kính nối vật chuyển động với tâm quay và thời gian để quay góc đó.
(ω = ϕ / t )
Với cách định nghĩa của sách cũ giúp ta xác định dễ dàng vị trí của
góc quay trên hình vẽ còn định nghĩa như sách mới thì không xác định được
nhưng lại tổng quát hơn sách cũ vì tính theo độ biến thiên của hai đại lượng
∆ϕ , ∆t .
- Đại lượng đặc trưng thứ hai là chu kì quay :
+ Sách mới : “Thời gian chất điểm đi hết một vòng trên đường tròn gọi
là chu kì quay“.
+ Sách cũ : “Khoảng thời gian trong đó một điểm chuyển động quay
được một vòng gọi là chu kì“.
Khái niệm như sách mới ngắn gọn hơn so với sách cũ. Cả hai đều làm
rõ chu kì là đại lượng đặc trưng cho chuyển động tuần hoàn, sau một thời gian thì
chuyển động lặp lại như cũ. Mối liên hệ giữa vận tốc dài và vận tốc góc trong
chuyển động tròn mà cả hai sách nêu ra v = R. ω

Trang 9
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
1.2.8 Công thức cộng vận tốc:
Sách cũ Sách mới
Thí nghiệm để xây dựng công Thí nghiệm để xây dựng công
thức vận tốc là xe lăn chạy trên mặt thức cộng vận tốc là chuyển động của
phẳng nghiêng. người đi trên bè gỗ.

• Nhận xét:
Mức độ thí nghiệm trong sách mới khó khăn và phức tạp hơn sách cũ
do ta phải xét hai trường hợp:
Trường hợp người đi dọc từ cuối về phía đầu bè
Trường hợp người đi ngang trên bè từ mạn này sang mạn kia.
Có hai trường hợp đặc biệt tính véctơ tổng của vận tốc mà sách mới
không trình bày nhưng đã được trình bày cụ thể trong sách cũ. Đó là:
Hai chuyển động theo phương vuông góc với nhau
Hai chuyển động cùng phương cùng chiều.
1.3 Nhận xét:
Ưu và khuyết điểm của chương I: Động học chất điểm
Ưu điểm:
- Phần lớn sách mới có bài tập định tính và định lượng nhiều hơn sách cũ
giúp rèn luyện kỹ năng phân tích và giải toán cho học sinh.
- Có những số liệu thực tế, cụ thể.
- Đưa vào khái niệm độ dời và vectơ gia tốc.
Hạn chế:
- Hạn chế của sách mới là nội dung cần truyền đạt thì nhiều mà thời gian
diễn đạt thì không đủ.
- Sách mới chưa nêu lên nguyên nhân vì sao coi vật là chất điểm.
2. Chương II : ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM. CÁC LỰC CƠ HỌC
(PHẦN II : Động lực học SGK lớp 10 cũ)
2.1 Cấu trúc:
Sách mới trình bày chương II qua 11 bài dạy trong 19 tiết thay thế cho sách cũ
gồm 18 bài dạy trong 29 tiết. Như vậy số tiết lên lớp lẫn số lượng bài học giảm
đáng kể.
2.2 Nội dung: nội dung trọng tâm của chương này là:
- Ba định luật Niutơn
- Khái niệm về những loại lực thường gặp trong cơ học : lực hấp dẫn, lực
đàn hồi, lực ma sát, lực quán tính.

Trang 10
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
- Vận dụng các định luật Niutơn để khảo sát chuyển động của vật trên mặt
phẳng nghiêng và chuyển động của hệ vật. Kết hợp với những hiểu biết về trọng
lực để khảo sát chuyển động của vật bị ném xiên, ném ngang.
2.2.1 Ba định luật Niutơn:
a. Định luật I Niutơn:
Sách cũ Sách mới
Giải thích các câu hỏi: Vì sao Sau khi nhắc lại quan niệm từ xa
vật đứng yên? Vì sao vật chuyển xưa của Arixtôt, mô tả lại thí nghiệm
động thẳng điều? Rồi đi đến phát lịch sử của Galilê và chốt lại ở định
biểu định luật I Niutơn. luật thứ I Niutơn.
Định luật I Niutơn: “Một vật sẽ Định luật I Niutơn: “Nếu một vật
đứng yên hay chuyển động thẳng không chịu tác dụng của các vật khác
đều nếu không chịu một lực nào tác thì nó giữ nguyên trạng thái đứng yên
dụng, hoặc nếu các lực tác dụng hoặc chuyển động thẳng đều”.
vào nó cân bằng nhau”.
Trường hợp vật chịu tác dụng
Sách cũ có vế “hoặc nếu có lực của nhiều lực cân bằng nhau sẽ được
tác dụng vào nó cân bằng nhau”. đề cập ở §14 như là trường hợp riêng
Định luật I Niutơn khẳng định: của định luật II.
nguyên nhân làm cho các vật tiếp
tục chuyển động thẳng đều, khi lực Quán tính trong sách mới được
tác dụng vào vật mất đi là một tính trình bày trong ý nghĩa định I Niutơn.
chất của bản thân vật. Tính chất đó
gọi là quán tính.
“Quán tính là tính chất của mọi “Định luật này nêu lên một tính
vật bảo toàn vận tốc của mình khi chất quan trọng của vật, đó là xu
không chịu lực nào tác dụng hoặc hướng bảo toàn vận tốc của mọi vật.
khi chịu tác dụng của những lực cân Tính chất đó gọi là quán tính.”
bằng.”
• Nhận xét:
Sách cũ trình bày cách dẫn vào định luật I Niutơn giúp học sinh hiểu
dễ dàng và sâu sắc.
Sách mới thể hiện được ý nghĩa độc lập khi phát biểu định luật I
Niutơn đồng thời giúp học sinh nhận biết nội dung chính của định
luật I Niutơn.
Định luật I Niutơn ở sách mới không nêu trường hợp hai. Nên trong
khái niệm quán tính cũng không có trường hợp hai.
b. Định luật II Niutơn:
Sách cũ Sách mới
Ôn tập khái niệm về lực bằng Nhắc lại một số kiến thức cơ bản
cách giải thích nguyên nhân làm cho

Trang 11
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
vật chuyển động có gia tốc. về lực: phương, chiều, độ lớn.
Định nghĩa: “Lực là đại lượng
đặc trưng cho tác dụng của vật này Sách mới không có định nghĩa cụ
vào vật khác, kết quả là truyền gia thể về lực nhưng lại trình bày rất kỹ
tốc cho vật hoặc làm cho vật biến trong phép tổng hợp và phân tích lực.
dạng.”
Tổng hợp và phân tích lực trình
bày riêng ở hai bài khác nhau. Các định nghĩa phép tổng hợp
lực, qui tắc hợp lực và phép phân tích
lực được thể hiện trong một bài.
Từ mối liên hệ giữa ba đại
lượng: lực, khối lượng và gia tốc đã Quan sát quá trình xe đứng yên,
nêu lên định luật II Niutơn. chuyển động sau đó nêu lên định luật
II Niutơn
“Gia tốc của một vật tỉ lệ thuận
với lực tác dụng và tỉ lệ nghịch với “Gia tốc của một vật luôn cùng
khối lượng của nó.” chiều với lực tác dụng lên vật. Độ lớn
của gia tốc tỉ lệ thuận với lực tác dụng
lên vật và tỉ lệ nghịch với khối lượng
của nó.”
Thí nghiệm minh hoạ định luật
II Niutơn chứ không phảI là thí Thí nghiệm kiểm chứng định luật
nghiệm kiểm chứng. II Niutơn được sách mới trình bày
trong bài 20.
• Nhận xét:
Cả hai sách điều kế thừa sự hình thành mặt định tính của khái niệm
lực ở cấp THCS để hoàn thành khái niệm này.
Nếu nắm được các quy tắc hợp lực và phân tích lực thì học sinh sẽ
thuận lợi hơn trong quá trình làm bài tập.
Định luật II Niutơn cho thấy lực là nguyên nhân làm vật biến đổi
chuyển động (chuyển động có gia tốc), chứ không phải là nguyên
nhân của chuyển động.
Cách phát biểu định luật II Niutơn ở sách cũ không nói rõ như sách
mới là: lực cùng phương chiều với gia tốc tác dụng lên vật.
Lần đầu tiên hai sách đưa ra định nghĩa chính thức của đơn vị Niutơn.
c. Định luật III Niutơn:
Sách cũ Sách mới
Nhận xét thí dụ để rút ra sự tác
Xét sự tương tác giữa hai vật,
dụng tương hỗ giữa các vật. Tiếp theo
tính toán trên công thức để rút ra kết
là quan sát thí nghiệm tương tác giữa
luận: “Trong tương tác giữa hai vật
hai lò xo rồi đến nhận xét về lực trực
nhất định, gia tốc mà chúng thu
được bao giờ cũng ngược chiều đối. “ FAB & FBA luôn nằm trên cùng
nhau và có độ lớn tỉ lệ nghịch với một đường thẳng (cùng giá) ngược

Trang 12
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
khối lượng của chúng”. chiều nhau và có cùng độ lớn. Ta gọi
hai lực như thế là lực trực đối”.
a1 m2
=
a m1
Định luật III Niutơn được phát
Xuất phát từ biểu thức trên, biểu dựa vào lực trực đối: “Hai vật
sách cũ đã phát biểu định luật III tương tác với nhau bằng những lực
Niutơn: “Những lực tương tác giữa trực đối”
hai vật là hai lực trực đối, nghĩa là
cùng độ lớn, cùng gia nhưng ngược FAB = − FBA
chiều.”
Thí nghiệm về tương tác giữa hai
Thí nghiệm về sự tương tác
lực kế đứng yên, về sự tương tác
giữa hai vật.
giữa hai lực kế chuyển động.
• Nhận xét:
Kết luận rút ra trong sách cũ và nhận xét về lực trực đối trong sách
mới, nếu xét về nộI dung thì cả hai không khác nhau mà chỉ là hai
cách phát biểu.
Định luật III Niutơn trong sách mới ngắn gọn do dựa vào lực trực đốI
và đồng thời làm rõ đặc điểm của lực là luôn xuất hiện từng cặp. Ví
dụ: người đang bơi lấy tay và chân đẩy nước ra phía sau ngược lại
nước đẩy người đó về phía trước. Khi đi chân ta đạp vào đất, ngược
lại đất đẩy ta làm ta di chuyển được.
Định luật II, III Niutơn góp phần quan trọng vào việc hình thành trọn
vẹn khái niệm lực và ta nhận thấy không thể bỏ qua khái niệm khối
lượng nếu muốn biết khái niệm lực.
Sách mới và sách cũ: “ Khối lượng của vật là đại lượng đặc trưng
cho mức quán tính của vật.”
Đó là ý nghĩa của vật lý thực sự của khái niệm khối lượng. Cho ta
thấy vật nào có khối lượng lớn hơn thì càng khó thay đổi vận tốc hơn, tức là có
mức quán tính lớn hơn.
Trong bài lực hấp dẫn ta thấy mối liên hệ giữa khối lượng và khả
mm
năng hấp dẫn của một vật Fhd = G 1 2 2 . Đến lúc này thì sự hiểu biết của học sinh
r
về khái niệm lực và khối lượng sẽ được hoàn thiện thêm.
Kết quả khi xét về mặt định lượng, hai khái niệm và khối lượng chỉ
được hình thành trong mối liên hệ với ba định luật Niutơn. Không thể hình thành
được khái niệm lực mà không cần đến khái niệm khối lượng. Ngược lại, cũng
không thể hình thành được khái niệm khối lượng nếu bỏ qua khái niệm lực. Dưới
đây là sơ đồ cấu trúc logic giữa lực và khối lượng và ba định luật Niutơn:


Trang 13
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG

Định nghĩa Định Định Định
định tính luật I luật II luật III
của lực.Cân Niutơn Niutơn Niutơn
bằng lực



Khái niệm Định nghĩa định Khái niệm
lực lượng của lực F= m.a khối lượng

Trực giác về
khối lượng

2.2.2. Các loại lực thường gặp trong cơ học:
a. Lực hấp dẫn:
Sách cũ Sách mới
Nhắc sơ qua về sự nghiên Sách mới cũng nhắc lại cơ
cứu của chuyển động của Mặt Trăng sở để Niutơn nghiên cứu: Là sự rơi
quanh Trái Đất và các hành tinh của các vật cũng như chuyển động
quanh Mặt Trời. Sau đó là phát biểu của Mặt Trăng quanh Trái Đất và các
định luật vạn vật hấp dẫn: “ Hai chất hành tinh khác: “ Hai vật (coi như chất
điểm bất kỳ hút nhau với một lực tỷ điểm) bất kỳ hút nhau bằng một lực tỉ
lệ thuận với tích của hai khối lượng lệ thuận với tích của hai khối lượng
của chúng và tỷ lệ nghịch với bình của chúng và tỉ lệ nghịch với bình
phương khoảng cách giữa chúng”. phương khoảng cách giữa chúng:
m1m2 m1 m 2
Fhd = G Fhd = G
r2 r2
Khái niệm về trọng lực: “Ở Khái niệm về trọng lực: “Lực hấp
cùng một nơi trọng lực truyền cho dẫn do trái đất đặt lên một vật được
mọi vật một gia tốc rơi tự do g như gọi là trọng lực của vật đó”.
nhau”.
Có một vấn đề về cách hướng “Trọng lực tác dụng lên một vật “
dẫn trong sách giáo viên “Trọng lực hay “trọng lực của vật” thì đó cũng
tác dụng lên vật” chứ không nên nói chỉ là hai cách nói khác nhau để diễn
“trọng lực của vật”. tả cùng một lực, đó là lực hấp dẫn.


• Nhận xét:
Cách phát biểu định luật của sách mới có thể xét hai vật (coi như chất
điểm) không nhất thiết là phải hai chất điểm như trong sách cũ.
Khái niệm trọng lực trong sách mới có tính liên tục hơn.


Trang 14
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
Trong tất cả các loại lực không riêng trọng lực thường thì ta nói “lực
tác dụng lên một vật”. Vì vậy trong cách nói “trọng lực tác lên một
vật” thì đúng hơn và hợp lý hơn.

b. Lực đàn hồi:

Sách cũ Sách mới

“Khi một vật bị biến dạng thì ở “Lực đàn hồi là lực xuất hiện
vật xuất hiện một lực có xu hướng khi một vật bị biến dạng và có xu
làm cho vật lấy lại hình dạng và kích hướng chống lại nguyên nhân gây ra
thước cũ. Loại lực ấy gọi là lực đàn biến dạng”.
hồi”.


Quan sát thí nghiệm về lò xo rút
Định luật Hook: “Trong giới hạn ra: “Trong giới hạn đàn hồi, lực đàn
đàn hồi, lực dàn hồi tỷ lệ với độ biến hồi của lò xo tỷ lệ với độ biến dạng
dạng của vật đàn hồi”. của lò xo”.

• Nhận xét:
Khái niệm lực đàn hồi trong sách mới trình bày đầy đủ hơn.
Với cách phát biểu của sách mới chỉ là trường hợp riêng của sách cũ
vì ngoài lò xo có thể biến dạng còn các vật đàn hồi khác như thanh
cao su, quả bóng, chì…

Sách mới không thực hiện thí nghiệm để nêu ra đặc điểm của lực đàn
hồi và thay vào đó là lực căng dây.
c. Lực ma sát
- Trình bày cụ thể rõ ràng về sự xuất hiện của lực ma sát, nhằm
giúp học sinh thuận lợi hơn trong việc chuẩn bị bài trước, tiếp thu kiến thức mới.
- Tách ra phương, chiều và độ lớn của lực ma sát.
- Sự xuất hiện lực ma sát trượt ở sách mới đúng và chính xác hơn.
Do lực ma sát trượt chỉ phát sinh khi có chuyển động tương đối của hai vật ép lên
nhau (vật A và mặt bàn).
- Phương, chiều của lực ma sát trượt được xác định theo hai
hướng khác nhau. Sách cũ xác định theo phương chiều chuyển động của vật còn
sách mới xác định theo phương chiều của vận tốc tương đối của vật ấy.
2.2.3. Vận dụng các định luật của Niuton:


Trang 15
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
a. Chuyển động của vật bị ném:
Sách cũ Sách mới
Sau khi tìm phương trình chuyển Chuyển động của vật bị ném xiên
động bằng công thức tổng quát thế và chuyển động của vật bị ném ngang
lần lượt các số liệu cụ thể để tìm toạ đều giải một cách tổng quát công thức
độ. Đồng thời đưa ra thí nghiệm kiểm bằng chữ. Từ đó nêu ra hai cách xác
chứng lại kết quả vừa tìm được. định tầm bay cao và tầm bay xa.

• Nhận xét:
Cách trình bày chuyển động bị ném của sách mới thì không cần đưa
phương pháp toạ độ.
Sách mới bổ sung thêm hai đại lượng đặc trưng quan trọng trong
chuyển động của vật bị ném là tầm bay cao và tầm bay xa.
Chuyển động của vật bị ném ngang là trường hợp riêng của vật bị
ném xiên.
b. Chuyển động của vật trên mặt phẳng nghiêng, hệ vật:
Sách cũ Sách mới
Khi phân tích lực tác dụng lên Sách mới phân tích lực tác
vật chuyển động trên mặt phẳng dụng lên vật chuyển động trên mặt
nghiêng, theo cách giải của sách cũ phẳng nghiêng. Sau đó vẽ hệ trục toạ
thì chọn chiều dương là chiều độ Oxy gắn liền với vật để chiếu các
chuyển động rồi chiếu lên chiều đó lực đã phân tích lên từng hệ trục.
để tính toán.
• Nhận xét:
Với cách này sẽ nâng cao hơn so với cách tính các lực trong sách cũ
nhưng lại giúp cho học sinh làm quen với cách giải mà có hệ trục toạ
độ vì nó giúp học sinh rất nhiều về cách xác định dấu của lực.
c. Phương pháp động lực học:
Cả hai đều nêu ra hai phương pháp để giải các loại toán cơ học và vận
dụng các kiến thức về ba định luật. Sách mới nêu ngắn gọn còn sách cũ thì nêu
rất chi tiết phù hợp với học sinh trung bình. Nhưng bài tập thí dụ nhiều hơn giúp
học sinh làm quen với cách làm bài tập bằng phương pháp động lực học.
2.2.4 Lực quán tính:
a. Hệ qui chiếu có gia tốc - Lực quán tính:
- Sách mới đưa vào một số thí dụ minh họa để đưa học sinh vào tình
huống có vấn đề là những hiện tượng trên, các định luật Niuton có còn nghiệm
đúng không? đến đây học sinh có thể tự nhận xét và nêu lên khái niệm về hệ qui
chiếu phi quán tính dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Trang 16
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
- Những lực xuất hiện do hệ qui chiếu không quán tính gọi là lực quán
tính. Trong khái niệm lực quán tính đã thể hiện tính chất đặc trưng của lực quán
tính là:
+ Lực quán tính tỷ lệ với khối lượng của vật mà chúng tác dụng.
Chính vì đặc tính này mà lực quán tính giống lực hấp dẫn. Qua đây, khi xét chuyển
động trong hệ quy chiếu phi quán tính, ngoài các lực thường ta phải kể thêm lực
quán tính tác dụng lên vật.
+ Lực quán tính là những lực thật sự, tác dụng thật sự trong hệ quy
chiếu phi quán tính. Chúng truyền gia tốc cho vật mà chúng tác dụng, sinh công và
được đo bằng lực kế. Chúng tác dụng hằng ngày trong đời sống, lúc ta đi tàu
xe,…Chúng chỉ khác các lực thường là chúng không có phản lực, nghĩa là ta
không chỉ ra được cụ thể và trực tiếp chúng từ vật thứ hai nào tác dụng đến. Đặc
điểm khác biệt này cũng đã được sách mới trình bày đầy đủ.
Đây là bài tương đối khó và phức tạp, học sinh cần tìm hiểu bài trước
khi lên lớp vì hệ quy chiếu lúc này là hệ quy chiếu có gia tốc. Sách mới trình bày
khá rõ ràng và kèm theo những ví dụ để làm rõ hơn trong cách giải những bài toán
trong hệ quy chiếu không quán tính. Trong quá trình giải cần có sự giúp đỡ nhiều
của giáo viên.
b. Lực hướng tâm và lực quán tính li tâm:

Sách cũ Sách mới

Nhắc lại gia tốc hướng tâm rồi Nhận xét về thí nghiệm để dẫn
suy ra lực gây ra gia tốc hướng tâm, tới khái niệm lực hướng tâm. Xét thí
gọi là lực hướng tâm. Nêu ví dụ để dụ về một vật đặt trên một bàn quay
chứng tỏ khi một vật chuyển động để thấy sự xuất hiện của lực quán tính
tròn đều, một lực hay hợp lực của li tâm từ đó xác định hướng và độ lớn
tất cả các lực tác dụng lên vật là lực của lực quán tính li tâm.
hướng tâm.
Khái niệm: “Trọng lượng của
Khái niệm: “Trọng lượng của một vật trong hệ qui chiếu mà vật
một vật là lực được đo bằng bởi lực đứng yên là hợp lực của các lực hấp
kế “. dẫn và quán tính“.

Hiện tượng tăng, giảm và mất
trọng lượng được trình bày trên cơ sở
Dựa vào ví dụ mà giải thích lý thuyết và các lực.
hướng tâm tăng hoặc giảm và mất
trọng lượng.
• Nhận xét:
Sách mới trình bày lực quán tính li tâm rõ ràng, giúp cho học sinh xác
định được lúc nào thì có lực quán tính li tâm trong chuyển động tròn
đều.
Khái niệm trọng lượng được sách mới trình bày rõ ràng hơn sách cũ.
Trang 17
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
2.3 Nhận xét :
Ưu diểm của sách mới là:
- Những bài tập ứng dụng định luật II Niuton nhiều hơn.
- Thể hiện được ý nghĩa độc lập của định luật I Niuton.
- Có nhiều kiến thức mới được bổ sung:
+ Thí nghiệm kiểm chứng định luật II Niuton.
+ Hệ qui chiếu có gia tốc. Lực quán tính.
- Có sự liên thông nội dung chương trình của bậc THCS và bậc THPT là
khái niệm lực, khối lượng.
- Phân tích hay tổng hợp lực trên hình vẽ to và rõ ràng.
- Các khái niệm về lực và độ lớn đã khá hoàn chỉnh sau khi học qua ba
định luật Niutơn.
Hạn chế của sách mới là:
- Có một số nội dung mà sách mới đã không làm rõ:
+ Đặc trưng của trọng lực.
+ Cân bằng lực.
+ Chưa nêu thí nghiệm để chứng tỏ lực ma sát trượt không phụ thuộc
vào diện tích mặt tiếp xúc.
+ Cả hai sách trình bày định luật II Niuton dưới dạng nguyên lí không
phải dạng định luật.
3. Chương III: CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN
(Phần IV: Các định luật bảo toàn - SGKcũ)
3.1. Cấu trúc:
- So với SGK cũ sự sắp xếp thứ tự và nội dung của chương III có một số
thay đổi. Trong SGK mới các định luật bảo toàn được tập trung vào một chương
như tên gọi, trong đó bao gồm định luật bảo toàn động lượng, định luật bảo toàn
năng lượng. Còn sách cũ phân thành hai chương nhỏ.

- Nội dung cụ thể có một số điểm khác: Bài thế năng được trình bày riêng
sau bài động năng và thêm bài mới là thế năng đàn hồi. Sau khi học định luật bảo
toàn cơ năng và bảo toàn năng lượng, học sinh được học một bài riêng về va
chạm như là một vận dụng của cả hai định luật bảo toàn động lượng và định luật
bảo toàn cơ năng. Cuối cùng là một bài có nội dung hoàn toàn mới không có trong
sách giáo khoa cũ, bài các định luật Kêple và chuyển động của vệ tinh. Mặc dù
sách cũ không có bài các định luật Kêple và chuyển động của vệ tinh nhưng đã
trình bày thêm vào bài định luật Becnuli là ứng dụng của định luật bảo toàn năng

Trang 18
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
lượng. Định luật Becnuli sách mới cũng có đề cập đến nhưng lại được trình bày
trong chương IV cơ học chất lỏng.
3.2Nội dung:
3.2.1 Các khái niệm:
a. Động lượng:
Sách cũ Sách mới
Xuất phát từ tư tưởng của các Xuất phát từ sự tương tác giữa
nhà bác học muốn tìm xem có cái gì hai vật trong hệ kín. Sau đó dựa vào
không đổi trong thiên nhiên liên tục định luật II Niutơn để tìm ra biểu thức
r
biến đổi này. Sau đó khảo sát va p= mv . Từ biểu thức này phát biểu
chạm giữa hai vật, quan sát để tìm định luật bảo toàn động lượng. Cuối
đại lượng được bảo toàn trong hệ cùng là thí nghiệm kiểm chứng.
kín. Xây dựng định luật bảo toàn từ
Xây dựng định luật bảo toàn từ định luật II Niutơn.
thực nghiệm.
• Nhận xét:
Sách cũ xây dựng định luật bảo toàn từ thực nghiệm nhấn mạnh được
tính độc lập của nó đối với các định luật Niutơn.
Hạn chế trong cách thiết lập định luật bảo toàn ở sách mới là khi vật
chuyển động với vận tốc lớn vào bậc vận tốc truyền ánh sáng ( v ≈ c )
thì khối lượng của nó không còn là hằng số nữa, nghĩa là định luật
bào toàn động lượng không còn nghiệm đúng nữa.
b. Công:
Sách cũ Sách mới
Trình bày định bảo toàn công Nhắc lại một cách ngắn gọn
và năng lượng. định luật bảo toàn công và năng
lượng.
Định nghĩa công: “Công của Định nghĩa công: “Công A do
lực F trên đoạn đường S là đại lực thực hiện là một đại lượng bằng
lượng A đo bằng tích số: tích của độ lớn F của lực với độ dài S
A=F.S.cosα của điểm đặt của lực (có cùng
Công là đại lượng vô hướng phương với lực)”
(biểu diễn bằng một số dương hoặc A=F.S.
âm)”. Sách mới cho chúng ta quan
Như vậy: Công được định sát một thí dụ người kéo vật nặng lên
nghĩa trực tiếp bằng biểu thức cao. Từ đó dẫn đến công thức tính
A=F.S.cosα sau đó mới trở lại công trên cơ sở từng trường hợp
trường hợp riêng A=F.S. riêng A=F.S suy ra trường hợp tổng
quát A=F.S.cosα.
Công của trọng lực được tính Công của trọng lực được tính
theo độ cao như cho vật rơi tự do và từ công nguyên tố rồi mới tính công
trượt trên mặt phẳng nghiêng. toàn phần bằng cách chia đường đi
thành những độ dời ∆S rất nhỏ đủ để
coi chúng như những đoạn thẳng.
Trang 19
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
• Nhận xét:
Định luật bảo toàn công và năng lượng là phần kiến thức mà sách
giáo khoa thí điểm viết theo tinh thần nối tiếp với chương trình
THCS mới.
Với cách trình bày kết hợp hình vẽ trực quan thuận lợi cho cả giáo
viên và học sinh trong quá trình dạy - học.

Cách tìm công của trọng lực mang tính tổng quát khi tìm công của lực
đàn hồi.
c. Động năng:
Sách cũ Sách mới
“Động năng của một vật là Từ thí dụ thực tế, nhận xét:
năng lượng mà vật có do nó chuyển Công phụ thuộc vào hai yếu tố là khối
động”. lượng và vận tốc từ đó định nghĩa
Định nghĩa của sách cũ chỉ có động năng: “Động năng của một vật là
một phần ý đầu trong định nghĩa của năng lượng do chuyển động mà có
sách mới chỉ sau khi xét thí nghiệm động năng bằng một nửa tích của
để tìm ra biểu thức động năng khối lượng và bình phương vận tốc
1 của vật
Wd= mv 2 mới phát biểu ý còn lại.
2 1
Wd= mv 2
2

Định lí động năng được thiết Xét thí nghiệm từ đó thiết lập
lập từ phân tích thí nghiệm và lập định lí động năng và thiết lập biểu
luận. thức của động năng.
• Nhận xét:
Hai sách trình bày định nghĩa động năng khác nhau.
Sách mới thiết lập định lí động năng ngắn gọn, dễ hiểu.
d Thế năng:
Sách cũ Sách mới
Dựa vào công thức và lập luận Xuất phát từ công thức công
để tìm ra biểu thức thế năng của vật của trọng lực để tìm biểu thức thế
chịu tác dụng của trọng lực. năng trong trọng trường.
Định nghĩa thế năng: “Thế
năng là năng lượng mà một hệ vật Khái niệm thế năng luôn gắn
(một vật) có do tương tác giữa các với lực thế: “Thế năng là năng lượng
vật của hệ (các phần của vật) và dự trữ của một hệ có được do tương
phụ thuộc vào vị trí tương đối của tác giữa các phần của hệ (Thí dụ: Trái
các vật (các phần ấy)”. đất và vật) thông qua lực thế. thế
năng phụ thuộc vị trí tương đối của
các phần ấy”.

Trang 20
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
• Nhận xét:
Khái niệm thế năng được hai sách trình bày đầy đủ.
Cách tìm thế năng của vật chịu tác dụng của trọng trường ở sách mới
rõ ràng hơn.
Các bài mới bổ sung:
a/ Va chạm đàn hồi và va chạm không đàn hồi:
- Sách mới trình bày bài va chạm như là một vận dụng của định luật
bảo toàn động lượng và định luật bảo toàn cơ năng. Trong sách giáo khoa cũ thì
va chạm được nói đến trong hai bài khác nhau, va chạm đàn hồi chỉ nhắc tới trong
một thí dụ của định luật bảo toàn động lượng, còn va chạm mềm xét trong ứng
dụng định luật bảo toàn cơ năng. Còn sách mới coi va chạm như là một hiện
tượng được khảo sát riêng nhờ áp dụng định luất bảo toàn.
- Học sinh sẽ hiểu thấu đáo và lĩnh hội tốt ý nghĩa các định luất bảo
toàn khi giải các bài toán cơ học quan trọng như các bài về va chạm. Va chạm là
một bài toán hay về động lực học, nó giúp việc lĩnh hội các định luật và khái niệm
quan trọng của cơ học. Mặt khác còn chuẩn bị cho học sinh lĩnh hội những vấn đề
khác của sách giáo khoa Vật lý ở các lớp sau.
- Vậy chương trình sách giáo khoa mới đã làm sáng tỏ một cách đầy
đủ về sự va chạm giữa các vật và áp dụng vào các định luật bảo toàn. Đặc điểm
hay trong sách mới là đã xét những dạng va chạm trong đó học sinh có thể thấy rõ
các trường hợp nào có thể áp dụng được cả hai định luật bào toàn (động lượng và
cơ năng) và khi nào áp dụng một định luật.
b/ Các định luật Keple-Chuyển động của vệ tinh:
- Định luật vạn vật hấp dẫn mà học sinh đã được học ở bài 16: Lực
hấp dẫn là sự khái quát hoá những dữ kiện thực nghiệm. Định luật này do Niuton
phát biểu năm 1687 trên cơ sở khái quát hoá định luật Keple về cơ học thiên thể.
Từ những tính chất chuyển động của hành tinh mà định luật Keple nêu ra, người
ta có thể suy ra được tính chất các lực chi phối chuyển động của các hành tinh.
Bài này giúp học sinh có những kiến thức cơ bản về các định luật mô tả quy luật
chuyển động của các hành tinh trong hệ mặt trời. Thông qua đó nâng cao sự hiểu
biết thực tế của học sinh đối với các hiện tương thiên thể và vũ trụ.
- Tuy sách cũ có tính vận tốc để đưa vệ tinh lên quỹ đạo quanh trái
đất mà không rơi trở về trái đất - được gọi là vận tốc vũ trụ cấp một trong bài:”Lực
tác dụng vào một vật chuyển động tròn đều” nhưng không nêu tiếp vận tốc vũ trụ
cấp hai, cấp ba để xem qũy đạo mà vệ tinh sẽ chuyển động như thế nào?
- Sách mới có nêu lên những qũy đạo của vệ tinh. Đặc biệt trong bài
này có phần ghi chú lịch sử bảng số liệu về chín hành tinh của hệ mặt trời và kích
thước của chín hành tinh này. Qua đây học sinh sẽ biết được số lượng hành tinh,
khoảng cách, thứ tự sắp xếp của các hành tinh.


Trang 21
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
c/ Thế năng đàn hồi:
- Trong sách giáo khoa cũ thế năng đàn hồi chỉ được nhắc đến trong
khái niệm chung về thế năng. Vì sao sách mới lại tách bài thế năng đàn hồi thành
một bài riêng biệt? Có hai điểm khác biệt:
Trọng lực là lực không đổi.
Lực đàn hồi là lực biến đổi.
- Thế năng đàn hồi có nhiều ứng dụng vì nó là năng lượng dự trữ
những vật bị biến dạng đàn hồi. Ví dụ: cánh cung bị uốn sẽ dự trữ năng lượng
dưới dạng đàn hồi.
- Lực đàn hồi xuất hiện khi lò xo biến dạng. Vì lực đàn hồi thay đổi
theo độ biến dạng nên chia nhỏ độ biến dạng toàn phần thành những đoạn biến
dạng vô cùng nhỏ ∆x sao cho tương ứng với độ biến dạng này lực đàn hồi xem
như không đổi. Sau đó tìm công nguyên tố, công toàn phần bằng tổng tất cả các
công nguyên tố hay đó chính là công của lực đàn hồi.
3.3.2 Các định luật bảo toàn:
a/ Định luật bảo toàn cơ năng:
- Qua định nghĩa thế năng ta đã biết qua lực thế. Khi đi thành lập
định luật cả hai sách đều xét hai trường hợp:
+ Trường hợp trọng lực.
+ Trường hợp lực đàn hồi.
Trong cả hai trường hợp đều dùng hai đẳng thức về độ tăng động
năng và độ giảm thế năng để suy ngay ra định luật bảo toàn cơ năng. Nhưng sách
mới có bổ sung những hình vẽ phân tích về quá trình chuyển động (dao động) vật
cũng như đồ thị biểu diễn định luật bảo toàn cơ năng trong cả hai trường hợp.
Như vậy sẽ làm tăng hiệu quả diễn đạt của sách mới.
+ Sách cũ: “Trong hệ kín không có lực ma sát thì có sự biến đổi qua
lại giữa động năng và thế năng, nhưng tổng của chúng, tức là cơ năng, được bảo
toàn. Định luật bảo toàn cơ năng chỉ đúng trong hệ kín và không có ma sát.
+ Sách mới: “Cơ năng của một vật chỉ chịu tác dụng của những lực
thế luôn được bảo toàn”.
• Nhận xét:
Do đưa vào lực thế mà phát biểu định luật bảo toàn cơ năng ngắn gon
hơn sách so với sách cũ.
Trong sách giáo viên mới: “ Định luật bảo toàn cơ năng đối với hệ vật -
trái đất cuối cùng cũng thống nhất với định luật bảo toàn cơ năng của
vật trong trường hợp trọng lực. Đó là hai cách diễn đạt cùng một vấn
đề. Nhưng phát biểu theo sách cũ sẽ rõ hơn do ở bài trước học sinh
học rất kỹ về hệ kín vì thế hiểu dễ dàng hơn so với phát biểu trong
sách mới.

Trang 22
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
b/ Định luật bảo toàn năng lượng:
Sách cũ Sách mới
Quan sát dao động của con lắc Nhận định goài lực thế còn có
đơn và dao động của một vật được công âm của lực ma sát và các loại
móc vào lò xo.Dùng lí luận phân tích lực cản khác.Dùng một số thí dụ để
rồi phát biểu định luật trong trường chứng tỏ những nhận định trên và
hợp kín. cuốI cùng là phát biểu định luật với
hai quan điểm khác nhau.
“Nếu một hệ đã mất (hoặc
“Trong một hệ kín có sự
nhận) một phần năng lượng, dù dưới
chuyển hóa năng lượng từ dạng này dạng sinh công hay các dạng khác, thì
nhất định có một hay nhiều hệ khác
sang dạng khác nhưng năng lượng
nhau đã nhận (hoặc mất) cùng một
tổng cộng được bảo toàn”. năng lượng đó, sao cho năng lượng
tổng cộng được bảo toàn.




Thực nghiệm cho thấy năng
lượng còn có thể chuyển đổI sang
một số dạng khác như điện năng,
nhiệt năng.
• Nhận xét:
Phát biểu định luật bảo toàn năng lượng trong sách cũ ngắn gọn hơn.
Nêu ra năng lượng còn có thể biến đổI thành các dạnh như sách cũ
học sinh có thể hiểu sâu sắc hơn.
3.3 Nhận xét:
- Số lượng kiến thức mới đưa vào chương III nhiều.
- Cách trình bày trong sách mới có trình tự sắp xếp rất logic, học sinh có
thể nắm được bài học một cách dễ dàng. Đó là quan sát, nhận xét, phân tích các
hiện tượng, sự việc rồi sau đó mới định nghĩa hay khái niệm một đại lượng vật lý
nào đó nhất là có hình vẽ kèm theo khi quan sát.

- Sau mỗi bài học đều có một hay hai bài tập vận dụng vừa giúp học sinh
thuộc công thức, vừa giúp học sinh cách làm bài tập để hiểu được bài học mà
mình đã được học. Do đó khả năng trả lời câu hỏi cũng như làm bài tập có tính
khả thi hơn.


Trang 23
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
4. Chương IV: CƠ HỌC CHẤT LỎNG
4.1 Cấu trúc:
Sách mới trình bày nội dung phần cơ học chất lỏng trong chương IV gồm
3 bài được dạy trong 4 tiết thay thế cho Phần III chương VII: “Cân bằng của vật
rắn” (Sách cũ dạy trong 10 tiết). Như vậy xét về thời lượng có sự chênh lệch rất
lớn, sách mới giảm được 6 tiết.
4.2 Nội dung:
- Phần nội dung này được sách mới đưa vào thay thế hoàn toàn cho phần
tĩnh học – Cân bằng vật rắn.
- Ở chương này sách mới trình bày hợp lí như: “cơ học chất lỏng học” sau
“các định luật bảo toàn (trong chương III)”.
- Sách mới có sự nâng cao kiến thức hơn so với sách cũ, vì phần này
chưa được trình bày trong các SGK lớp 10, 11 và cả 12 trước đó. Sự nâng cao
kiến thức này chỉ phù hợp với học sinh khá giỏi. Mặc dù các phần bài tập cũng
như lý thuyết, được đưa ra sát hợp với thực tế như: máy ép dùng chất lỏng, máy
nâng vật có trọng lực lớn, xác định số mao mạch của người… nhưng nó đòi hỏi
các em học sinh phải đầu tư nghiên cứu nhiều mới đạt được kết quả cao.
4.3 Nhận xét:
- Chương VII: Cân bằng vật rắn được thay thế bởi chương IV: Cơ học
chất lỏng.
- Vị trí sắp xếp của chương trong sach mới hợp lí.

B. PHẦN NHIỆT HỌC:
I. Hình thức:
- Sách mới nhiều hình ảnh sinh động hơn sách cũ.
- Có những phần in đậm, in nghiêng cho học sinh dễ dàng nhận ra
những từ chính cần nắm.
- Về cách trình bày của sách cũ có phần hợp lí hơn so với sách mới ở
chỗ:
- Mỗi ý chính đều được gạch đầu dòng giúp cho các em dễ quan sát
và biết được bao nhiêu ý chính trong lý thuyết, còn sách mới thì trình bày giống
như đoạn văn làm cho các em gặp khó khăn đề nhận biết được ý chính trong các
ý chính cần nắm.
- Tựa bài ngắn gọn hơn so với sách cũ. Ví dụ như trong tựa bài của
bài 53 (sách cũ) là “Hệ thức giữa thể tích và áp suất của chất khí khi nhiệt độ
không đổi.Vì thực chất của hệ thức giữa thể tích và nhiệt độ của chất khí khi nhiệt
độ không đổi chính là nội dung của định luật Bôilơ - Mariot cho nên chỉ cần tựa đề
Định luật Bôilơ-Mariot là đủ.
Trang 24
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
II Nội dung:
5. Chương V: CHẤT KHÍ
(Thuyết động học phân tử của chất khí chương X - SGK cũ)
5.1 Cấu trúc:
Nội dung trọng tâm ở sách mới. Đó là:
Hiểu được sơ bộ cấu trúc phân tử của chất khí.
Nắm được định luật Boilơ - Mariôt, Saclơ, Gay Luyxac về chất khí,
phương trình Clapêron-Menđêlêep và biết vận dụng.
Có khái niệm về khí lý tưởng, về nhiệt độ tuyệt đối.
5.2 Nội dung:
5.2.1 Cấu trúc phân tử của chất khí:
Có sự khác biệt trong nội dung ở một số ý sau đây:
- Sách mới xây dựng nên thuyết động học phân tử về cấu tạo chất cuối
cùng, trên cơ sở cấu trúc của chất khí và thuyết động học phân tử của chất khí.
- Trong sách mới thuyết động học phân tử của vật chất có phần được
trình bày như sau:
“ Trong chất khí, các phân tử gần như chuyển động tự do (không
tương tác với nhau) ngoài lúc va chạm”.
Trong khi đó sách cũ trình bày:
“ Các phân tử tương tác với nhau bằng lực hút và lực đẩy”.
∗ Nhận xét:
Sách cũ trình bày hợp lý hơn so với sách mới vì trong điều kiện bình
thường các phân tử tương tác với nhau bằng lực hút và lực đẩy. Còn nếu nói
chúng không tương tác với nhau trừ lúc va chạm thì trong điều kiện bình thường
nhờ vào cái gì để chuyển động và va chạm với nhau?
∗ Trong cách trình bày phần lượng chất và mol - Số Avôgadrô cũng có
sự khác biệt:
Ở sách mới phần này trình bày khá kỹ hơn so với sách cũ:
Đã đưa ra được cách xác định lượng chất trong một vật.
Khái niệm về mol cũng tương đối rõ ràng.
Có thêm phần khối lượng mol của một chất, thể tích mol của một
chất từ đó suy ta được công thức tính về khốI lượng mol của một phân tử,
số mol, số nguyên tử( hay phân tử), khối lượng m …
Trong phần này chúng tôi đề nghị:
Chú ý tính chính xác của tri thức.
Trình bày nên rõ ràng, ngắn gọn và chú ý nên gạch đầu dòng đối với
những phần có nhiều ý.
Trang 25
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
5.2.2 Các định luật :
a. Định luật Bôilơ-Mariot:
Sách cũ Sách mới
Xây dựng các nội dung của Dùng câu hỏi làm câu mở đầu
định luật bắt nguồn từ khái niệm các cho vấn đề.
thông số trạng thái, phương trình
trạng thái.
Bố trí thí nghiệm: nhận xét thí
nghiệm trên cơ sở những số liệu đã Bố trí thí nghiệm: Nhận xét thí
tính toán. Để rút ra định luật nghiệm trên số liệu cụ thể. Để rút ra
định luật
Cách vẽ đường đẳng nhiệt và
nhận xét định luật Bôilơ - Mariôt là Bài tập vận dụng.
định luật gần đúng.

∗ Nhận xét:
Cả hai sách đều có ưu và khuyết điểm riêng:
Sách cũ có hướng dẫn cách vẽ đường đẳng nhiệt, có phần mở rộng của
định luật Boilơ-Mariot, trình bày thêm các khái niệm cần thiết. Nhưng ngược lại thí
nghiệm không có số liệu rõ ràng để học sinh kiểm chứng, hình vẽ thô sơ thiếu
chính xác.
Sách mới có trình bày các thí nghiệm bằng số liệu cụ thể dễ dàng cho
học sinh trong việc kiểm tra tính đúng của định luật qua các tiết học thực hành, có
bài tập vận dụng, hình vẽ đẹp giúp các em rèn luyện thêm kỹ năng giải các bài tập
định lượng. Nhưng trong sách lại thiếu phần khái niệm cần thiết, phần hướng dẫn
cho các em cách vẽ các đường đẳng nhiệt, phần mở rộng định luật để các em
tham khảo và tự nghiên cứu ( nếu giáo viên không đủ thời gian trình bày trên lớp).
Vì vậy chúng tôi đề nghị trình bày lại phần này như sau:
I. Các khái niệm cần biết:
Trạng thái nhiệt của một lượng khí được xác định bằng thể
tích, áp suất và nhiệt độ của nó. Những đại lượng này được gọi là các thông số
trạng thái.
Phương trình thiết lập mối liên hệ giữa các thông số trạng thái
của chất khí được gọi là phương trình trạng thái. Để đơn giản ta lần lượt cho một
trong ba thông số trên không đổi để tìm mối liên hệ giữa hai thông số còn lại, từ đó
thiết lập phương trình trạng thái của chất khí.

Chất khí có tính chịu nén. Ở bài này ta sẽ khảo sát định lượng tính
chịu nén của chất khí thông qua nhận xét sự biến đổi của thể tích khi giữ nguyên
nhiệt độ và thay đổi áp suất tác dụng lên khí đó.

Trang 26
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
II. Bố trí thí nghiệm:
III. Định luật Boilơ – Mariôt:
IV. Cách vẽ đường đẳng nhiệt.


p
p



t1
t2

0 V 0 V
Lấy hai trục vuông góc để biểu diễn thể tích và áp suất của chất khí.
Đường biều diễn sự biến thiên của áp suất theo thể tích khi nhiệt độ không đổi gọi
là đường đẳng nhiệt.
Ứng với các nhiệt độ khác nhau của cùng một lượng khí có các đường
đẳng nhiệt khác nhau. Các đường đẳng nhiệt ở trên ứng với các nhiệt độ cao hơn
các đường đẳng nhiệt ở dưới ( t 2 > t 1 )
V. Định luật Boilơ-Mariot là định luật gần đúng:
Các thí nghiệm chính xác cho thấy các khí thực chỉ tuân theo gần đúng
Định luật Boilơ-Mariot. Đồ thị hàm số hình dưới đây cho thấy giá trị của tích p.V
thay đổi như thế nào theo áp suất và bản chất của chất khí. Ở những áp suất
không quá lớn thì định luật Boilơ-Mariot còn đúng. Ở những áp suất rất cao ( hàng
trăm atmotphe) thì định luật này không áp dụng được.
VI. Bài tập ứng dụng: (Trình bày như trong sách mới)
b. Định luật Saclơ. Nhiệt độ tuyệt đối.
Sách cũ Sách mới
Xuất phát từ thực nghiệm để Xuất phát từ thực nghiệm để xây
xây dựng định luật. dựng định luật.
Xây dựng trên trường hợp tổng Bố trí thí nghiệm; bằng các số
quát. liệu cụ thể mới suy ra trường hợp
tổng quát.
Nội dung định luật: Khi thể tích Nội dung định luật: Áp suất p của
không đổi áp suất của một khối khí một lượng khí có thể tích không đổi
xác định biến thiên theo hàm bậc thì phụ thuộc vào nhiệt độ của khí như
nhất đối với toạ độ: sau:
pt = po(1+γt) p = po(1+γt)

Trang 27
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
Trong đó:
1
γ: có giá trị như nhau đối với mọi khí, với mọi nhiệt độ và bằng
273
Sách mới giảm tải một số nội dung:
Đường đẳng tích.
Hệ thức giữa áp suất và nhiệt độ tuyệt đối.
Định luật Saclơ là định luật gần đúng.
Thay thế vào đó một số nộ dung:
Khí lý tưởng.
Nhiệt độ tuyệt đối.
Định nghĩa nhiệt độ.
∗ Nhận xét:
+ Về nội dung:
- Về cách phát biểu nội dung định luật Saclơ thì theo chúng tôi nên trình
bày theo sách cũ. Vì nó chỉ rõ cho ta thấy rằng áp suất p chỉ phụ thuộc bậc nhất
đối với nhiệt độ nên nó cụ thể và rõ ràng hơn.
Sách cũ Sách mới
Khí lí tưởng là khí tuân theo Khí lí tưởng là khí tuân theo đúng
đúng định luật Bôilơ- Mariôt. định luật Bôilơ-Mariôt và định luật
Saclơ.
- Trong phần nhiệt độ tuyệt đối thì hai sách gọi khác nhau:
Sách cũ: -273°C : độ không tuyệt đối.
Sách mới: -273°C : không độ tuyệt đối.
Việc thay đổi cách gọi không quan trọng, mà quan trọng là làm sao
cho các em thấy được là không thể thực hiện được nhiệt độ dưới -273°C.
- Nhiệt độ T trong nhiệt giai Kelvin:
Sách cũ: Nhà bác học người Anh Kelvin(1824-1907) đã đưa ra một
nhiệt giai bắt đầu từ độ 0 tuyệt đối. Các nhiệt độ trong nhiệt giai này
đều là tương đương và mỗi độ cũng bằng 1° của nhiệt giai Cenciut.
Nhiệt giai này được gọi là nhiệt giai tuyệt đối hay nhiệt giai kelvin.
Sách mới: Nhiệt độ T là đại lượng tỉ lệ thuận với áp suất p của một
lượng khí có thể tích không đổi ở áp suất thấp.
Sách cũ trình bày không kỹ bằng sách mới.
+ Về cách trình bày bài học này thì chúng tôi đề nghị nên trình bày như
sau:
Sách mới nên trình bày thêm phần đường đẳng tích để đầy đủ hơn:

Trang 28
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
Đường đẳng tích:

Lấy trục hoành để biểu diễn nhiệt độ. Trục tung để biểu diễn áp suất chất
khí. Đường biểu diễn định luật saclơ là đường thẳng cắt trục tung tại điểm p0
và cắt trục hoành tạo điểm -273° C. Đường này gọi là đường đẳng tích (hình a)

Với những thể tích khác nhau của cùng một khối lượng khí ta có những
đường đẳng tích khác nhau. Các đường đẳng tích ở hình b ứng với thể tích nhỏ
hơn các đường ở dưới (V10 hoặc ∆U 0 : Nội năng của vật tăng.
∆U < 0 : Nội năng của vật giảm.
Q > 0 : Vật nhận nhiệt lượng của vật khác.
Q < 0 : Vật truyền nhiệt lượng cho vật khác.
A > 0 : Vật thực hiện công.
A < 0 : Vật nhận công từ vật khác.

Trang 40
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
7.2.3 Khái niệm về nguyên lý thứ hai của nhiệt động lực học.
Trong phần này nội dung của nguyên lý thứ hai của nhiệt động lực học
tương đối dễ hiểu, nhưng nên bổ sung thêm từ “lạnh” vào cách phát biểu thứ nhất
như sau:
Nhiệt không thể tự động truyền từ vật lạnh sang vật nóng hơn
(Phát biểu của Claodiut)
Không thể chế tạo được động cơ vĩnh cửu loại hai (Phát biểu
của Tomxon)
Trong cách trình bày để dẫn đến nguyên lý thứ hai thì chúng tôi đề nghị
nên chỉnh sửa lại như sau:
- Trong tự nhiên, các quá trình diễn biến tuân theo định luật bảo toàn
năng lượng. Tuy vậy, không phải tất cả các quá trình đều có năng lượng được bảo
toàn.
- Các quá trình trong tự nhiên đều diễn biến theo chiều xác định (quá
trình không thuận nghịch), hoặc theo hai chiều (quá trình thuận nghịch).
- Rồi sau đó nêu ví dụ, trình bày nội dung nguyên lý thứ hai, nêu ứng
dụng.
7.2.4 Về kỹ năng tính nội năng, công, nhiệt lượng của một số quá
trình của khí lý tưởng:
Thông qua các công thức tính nội năng, công, nhiệt lượng được trình
bày trong sách giáo khoa, giáo viên nên nhấn mạnh những công thức trong yếu
giúp cho học sinh làm bài tập, phân tích hiện tượng. Đó là các công thức:
- Tính nội năng
∆U = Q – A
Trong đó: ∆U : là độ tăng nội năng của hệ.
Q : nhiệt lượng mà hệ nhận được.
A : công mà hệ sinh ra.
- Công thức tính công:
A = F.S
Với F là lực tác dụng lên vật làm vật dịch chuyển một quãng đường
S theo hướng của nó.
- Công thức tính nhiệt lượng:
Q = mC.∆t = mC (t2 – t1)
m: là khốI lượng của vật.
C : nhiệt dung riêng của chất cấu tạo nên vật.
t1,t2 : nhiệt độ ban đầu và cuối cùng của quà trình
truyền nhiệt.
- Và kết hợp bảng công thức trình bày trong sách giáo viên như sau:


Trang 41
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
Biểu thức
Quá trình Dữ kiện Tính ∆U Tính A Tính Q
Nl1
∆U = Q (do
V = const Q = mC∆t
Đẳng tích Q = ∆U truyền A=0
A=0 Q = ∆U
nhiệt)
P = const Q = mC∆t
A = P(V2-
Đẳng áp A≠0 Q= ∆U + A ∆U = Q - A Q = mL
V1)
Q≠0 Q = ∆U + A
Chưa học
công thức,
T = const Q=A
đoán biết
Đẳng nhiệt U = const Q=A ∆U = 0 (nếu cho
qua diện
A≠0, Q≠0 biết A)
tích ở đồ
thi P_V
Áp dụng cách tính A và
Trạng thái
Q=A Q của mỗi quá trình trên.
cuối cùng
Chu trình (của cả ∆U = 0 Tính A theo diện tích giới
với trạng
chu trình) hạn bởi đường cong kín,
thái đầu
vẽ chu trình

7.2.5 Kỹ năng nhận biết nguồn nóng, nguồn lạnh, tác nhân công sinh ra
hay nhận vào ở một vài động cơ nhiệt hay máy làm lạnh thông dụng.
Giáo viên cần nhấn mạnh các khái niệm nguồn nóng, nguồn lạnh đã được
trình bày trong sách giáo khoa như sau:

Nguồn nóng để cung cấp nhiệt lượng.

Nguồn lạnh để thu nhiệt lượng mà động cơ toả ra.

Một vật trung gian đóng vai trò nhận nhiệt, sinh công và toả nhiệt gọi
là tác nhân.




Trang 42
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG

PHẦN IV
KẾT LUẬN và KIẾN NGHỊ
Trong tình hình giáo dục hiện nay việc đổi mới chương trình SGK là hoàn
toàn phù hợp, phù hợp với thực tiễn của đất nước – đang thực hiện phong trào
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với xu thế phát triển trong khu vực và trên
thế giới. Tuy nhiên việc đổi mới chương trình giảng dạy, thông qua việc đổi mới
SGK thì phải dựa trên tình hình thực tế của đất nước ta mà xây dựng cho phù hợp
bằng cách so sánh nội dung chương trình SGK bộ môn Lý bộ mới do Ban khoa
học tự nhiên biên soạn so với chương trình SGK cũ. Từ đó chúng tôi rút ra nhận
xét như sau:
A. Kết luận:
I. Ưu điểm của sách mới:
Trong sách mới có nhiều hình ảnh thực tế, sinh động, có thêm hình của
các nhà khoa học làm cho quyển sách thêm sống động, kích thích tinh thần cũng
như thái độ học tập của các em.

Có trình bày mục tiêu trước từng chương, giúp cho các em dễ dàng xác
định những kiến thức trọng tâm, từ đó lập được kế hoạch học tập cho phù hợp, để
các em có thể ghi nhớ, củng cố kiến thức, vận dụng các kiến thức đã học một
cách linh hoạt, sáng tạo, vận dụng vào trong cuộc sống góp phần vào sự nghiệp
phát triển của đất nước.

Sử dụng nhiều kiểu chữ, to rõ làm nổi bật những kiến thức trọng tâm,
những từ ngữ quan trọng mà học sinh cần phải nhớ trong quá trình học tập. Qua
đó cũng góp phần thu hút sự chú ý của học sinh.

Bên cạnh các bài tập định tính, định lượng của sách giáo khoa mới còn có
thêm phần câu hỏi trắc nghiệm cho học sinh tự rèn luyện, tự kiểm tra kiến thức,
tuy số lượng câu trắc nghiệm không nhiều (mỗi bài trung bình có một câu) nhưng
nó là cơ sở cho học sinh làm quen với phương pháp trắc nghiệm.

Các thí nghiệm được thực hiện dưới dạng thực, bằng những công cụ hiện
đại, cụ thể, vấn đề nghiên cứu được coi như chưa biết cho học sinh đoán nguyên
nhân, bản chất, diễn biến...của hiện tượng, từ đó đề xuất phương án thí nghiệm.
Do đó, nó mang tính chất khám phá kiến thức mới.

Số tiết học thực hành thí nghiệm nhiều hơn so với trước đây (30% tổng số
tiết học) để học sinh thực hành phát huy được tính năng động sáng tạo của học
sinh (thông qua cách trình bày, bố cục, nội dung của sách).

Các bảng số liệu thực tế để minh họa cho các đề mục nhiều hơn sách cũ.

Trang 43
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG
Trong sách giáo viên được chia thành ba phần:
+ Mục tiêu : Nêu mục tiêu của tiết học mà học sinh cần đạt được.
+ Có những kiến thức bổ sung, mở rộng để giáo viên tham khảo.
+ Hướng dẫn câu hỏi và bài tập thông qua việc trình bày câu trả lời, đáp số
và hướng dẫn giải bài tập ở cuối tiết học.
Nhìn chung : Sách giáo khoa mới mang tính khoa học, trình bày những
kiến thức thực tế hơn so với chương trình cũ, tạo điều kiện cải tiến phương
pháp giảng dạy để chuyển mục tiêu học sinh trở thành chủ thể của quá trình
dạy học.
II. Nhược điểm của sách giáo khoa mới:
Nhược điểm lớn nhất của SGK mới là nội dung cần truyền đạt thì nhiều
nhưng thời gian truyền đạt thì ít. Môn Lý ở chương trình cũ có 3 tiết/tuần thì
chương trình mới còn 2,5 tiết/tuần. Cho nên muốn hoàn chỉnh được khối lượng
kiến thức theo qui định (đúng bài – đúng giờ) thì giáo viên phải dồn nén nội dung,
giảng thật nhanh và với điều kiện là học sinh phải chuẩn bị từ trước. Cách trình
bày bài học cho học sinh cũng như cách giảng dạy của giáo viên chỉ phù hợp với
học sinh khá, giỏi và những học sinh có năng lực tự học, biết sử dụng SGK ở nhà
là chính, vào lớp ít ghi chép bởi nội dung khá nặng so với đại đa số học sinh, có
yếu tố giảm tải, nhưng không đáng kể, ngược lại yêu cầu lại nặng hơn, nhiều kiến
thức từ lớp 11,12 đưa xuống (như phần chất lỏng, hiện tượng mao dẫn, căng mặt
ngoài, góc nhị diện,…) . Nhưng thực tế theo các giáo viên, cũng như đa số học
sinh hiện nay đều quen với kiểu học thụ động (đọc – chép) không có thói quen
chuẩn bị bài trước, chưa kể việc chuẩn bị bài cũ đã tốn hết thời gian ở nhà của
học sinh, (mà không phải các học sinh chỉ học có một môn học). Do đó, nếu vẫn
giữ nguyên nội dung trong chương trình SGK mới thì phải tăng thêm thời gian học
để giáo viên có thể chuyển tải hết nội dung cần truyền đạt và học sinh có thể lĩnh
hội được những kiến thức theo yêu cầu.
Ngoài những nhược điểm trên còn có những nhược điểm khác như là
sách mới trình bày một số phần quá gọn, đến mức làm cho câu văn rời rạc, lủng
củng, không mang tính logic, một số chỗ chưa hợp lý vận dụng trong các thuyết
chưa chia từng ý một cách cụ thể, riêng biệt làm cho học sinh khó hiểu.
Một số nội dung sách mới đã không làm rõ như :
+ Đặc trưng của trọng lực.
+ Khái niệm về biến dạng kéo và nén.
+ Chưa nêu thí nghiệm chứng tỏ lực ma sát trượt không phụ thuộc vào diện
tích mặt tiếp xúc.
B. Kiến nghị:
Vẫn giữ nguyên những nội dung cần truyền tải nhưng phải gia tăng thời gian
học, bên cạnh đó cần phải sữa chữa lại một số nội dung mà chúng tôi đã trình bày
trong phần nhận xét của các nội dung cần sữa chữa đó. Hoặc giảm tải nội dung,
cắt bớt những phấn ít liên quan (do mục tiêu của sách mới là giảm tải nhưng vẫn
chưa thực hiện được)

Trang 44
SVTH:NGUYỄN THỊ KIM THOA SVTH: LÝ THỊ THANH DUNG

Trong sách giáo khoa thì không nhất thiết phải trình bày theo hai cột (một
bên là lý thuyết, một bên còn lại là hình vẽ hoặc chú thích). Mặc dù nhìn bề ngoài
thấy có sự thống nhất trong cách trình bày nhưng không phải nội dung nào cũng
phù hợp khi trình bày như vậy. Điển hình như các thuyết, các tính chất vật lý của
một số chất thì cần phải trình bày theo chiều ngang tối đa bình thường của sách,
phân thành từng ý rõ ràng cho học sinh dễ quan sát và tiết kiệm khoảng không
gian của sách.
Câu cú trong sách cũng nên được xem xét lại kỹ càng, để giữa các câu có
sự liên kết chặt chẽ hơn, từ ngữ dễ hiểu hơn. Mặc dù là tập cho học sinh làm quen
dần với các từ ngữ khoa học nhưng chỉ nên xen vào thỉnh thoảng, vừa dễ hiểu
vừa có sự logic, chứ không nên trình bày toàn bộ nội dung bằng từ ngữ khoa học .
Ở bìa sách cũng nên trang trí lại để thể hiện được một phần nội dung môn
học ( các hình ảnh của môn lý).
Ngoài việc chỉnh lý tài liệu học tập thì trong phương pháp giảng dạy, người
giáo viên cũng phải lưu ý các điểm sau :
+ Phải có kiến thức sâu rộng về chuyên môn, nắm vững các phương pháp
lĩnh hội những kiến thức. Từ đó xây dựng cho học sinh phương pháp khoa học để
tự lực học tập và nghiên cứu tài liệu.
+ Vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy. Vì vật lý là một bộ môn
học hết sức phong phú, vận dụng linh hoạt cho từng bài dạy, từng đối tượng học
sinh. Việc lựa chọn các phương pháp dạy học trước hết phải xuất phát từ mục
đích bài dạy. Ví dụ nếu mục đích của bài học là làm cho học sinh lĩnh hội những tri
thức mới thì phải lựa chọn các phương pháp như kể chuyện, giảng giải, đàm
thoại. Còn nếu mục đích bài học là nhằm củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thì dùng
các phương pháp ôn tập, hệ thống hóa.
+ Phải phát huy được tính sáng tạo của học sinh, mà yếu tố quan trọng để
sáng tạo là hứng thú. Muốn rèn luyện cho học sinh tính sáng tạo thì giáo viên phải
giảng dạy và ra bài tập làm cho học sinh hứng thú. Ví dụ khi giải thích các cơ sở
vật lý học theo điểm duy vật biện chứng từ đó dẫn cho học sinh đến những khái
quát có tính triết học và dẫn đến những quan điểm cơ bản về bức tranh vật lý của
thế giới.
+ Trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh thấy được con đường đi đến
tri thức từ đó có những hiểu biết sâu sắc hơn về các sự vật hiện tượng giúp cho
học sinh thấy được mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các hiện tượng đồng
thời hình thành cho học sinh ngôn ngữ vật lý học .
+ Bên cạnh đó khuyến khích học sinh tự học, tự rèn luyện nhằm phát huy tính
độc lập của học sinh có tác dụng rất tốt trong việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo.
Với những đề nghị trên chúng tôi hy vọng có thể phần nào chỉnh sửa những
sai sót từ đó hoàn thiện chương trình mới, đáp ứng được mục tiêu giáo dục mà
Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Trang 45

Top Download Báo Cáo Khoa Học

Xem thêm »

Tài Liệu Báo Cáo Khoa Học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản