SỔ TAY THANH TRA MÔI TRƯỜNG

Chia sẻ: thuykute245

Công tác thanh tra nhà nước về bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong chu trình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Ra đời từ 1995, lực lượng thanh tra nhà nước về bảo vệ môi trường đã từng bước trưởng thành, góp phần quan trọng vào ngăn ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: SỔ TAY THANH TRA MÔI TRƯỜNG

SỔ TAY THANH TRA MÔI TRƯỜNG

I. Giới thiệu
II. Khung pháp luật của hoạt động thanh tra môi trường
II.1- Các văn bản pháp luật quy định chung về hoạt động thanh tra
II.1.1-Theo quy định tại Pháp lệnh thanh tra
II.1.2-Theo quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
II.1.3-Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường
II.2- Các cơ quan chịu trách nhiệm thanh tra về môi trường
II.2.1-Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường và các văn bản
hướng dẫn
II.2.2- Các văn bản quy phạm pháp luật khác
II.3- Tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam
II.4- Các quy định về bảo vệ môi trường là cơ sở cho công tác thanh tra
môi trường
II.4.1- Cơ sở nền tảng đầu tiên là Luật bảo vệ môi trường và các
văn bản hướng dẫn cụ thể
II.4.2- Các văn bản quy phạm pháp luật khác
II.5- Quyết định thanh tra
II.6- Các quy định về cưỡng chế trong hoạt động thanh tra
II.6.1- Thẩm quyền cưỡng chế thực hiện các yêu cầu thanh tra
II.6.2- Thẩm quyền đình chỉ các cơ sở gây ô nhiễm
II.7- Quyền được tiếp cận đối với những địa điểm có liên quan đến nội
dung và đối tượng thanh tra
II. 8- Quyền được thông tin trong hoạt động thanh tra
II.9- Các hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật
II.9.1- Các hình thưc xử lý đối với vi phạm
II.9.2- Những người có thẩm quyền quyết định các hình thức xử lý vi
phạm
II.10- Trách nhiệm của cơ sở trong việc tự kiểm tra/quan trắc môi trường
II.11- Khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường
II.11.1- Khiếu nại lại các quyết định
II.11.2- Tố cáo và giải quyết tố cáo về bảo vệ môi trường
II.12- Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
III. CÔNG TÁC THANH TRA MÔI TRƯỜNG
III.1- Các hình thức và trình tự thanh tra
III.1.1- Các hình thức thanh tra
III.1.2- Trình tự thanh tra
III.1.2.1- Quy trình thanh tra cơ bản
III.1.2.2- Một số ví dụ về việc tiến hành thanh tra trực tiếp tại cơ sở
III.2- Thanh tra lần đầu
III.2.1- Chuẩn bị trước khi thanh tra
III.2.2- Quá trình thanh tra
III.2.3- Kết thúc thanh tra
III.3. Thanh tra thường xuyên (Ðịnh kỳ)
III.4- Lập kế hoạch thang tra môi trường
III.4.1- Kế hoạch thanh tra định kỳ
III.4.1.1- Kế hoạch thanh tra theo báo cáo ÐTM
III.4.1.2- Kế hoạch thanh tra theo việc thực hiện kiểm soát ô nhiễm
III.4.1.3- Kế hoạch thanh tra theo giấy phép về môi trường
III.4.1.4- Kế hoạch thanh tra việc thực hiện các yêu cầu của lần
thanh tra trước
III.4.2- Kế hoạch tiến hành một cuộc thanh tra
III.5- Thu nhận các thông tin, chứng cứ đặc trưng tại hiện trường
III.6- Phân tích, tổng kết và lập báo cáo tại cơ sở được thanh tra
III.7- Ðánh giá và báo cáo
III. 8- Xây dựng và lưu trữ hồ sơ cuộc thanh tra
III.8.1- Xây dựng hồ sơ cuộc thanh tra
III.8.2- Lưu trữ hồ sơ cuộc thanh tra
III.8.3- Chế độ sử dụng hồ sơ lưu trữ
Phần phụ lục



LỜI NÓI ÐẦU

Công tác thanh tra nhà nước về bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong chu trình quản
lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Ra đời từ 1995, lực lượng thanh tra nhà nước về bảo vệ môi
trường đã từng bước trưởng thành, góp phần quan trọng vào ngăn ngừa và xử lý các vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường.

Trong hai năm 1999 và 2000, với sự hỗ trợ của dự án Tăng cường năng lực cơ quan quản lý môi
trường SEMA do Cơ quan Phát triển quốc tế Thuỵ Ðiển SIDA tài trợ, các chuyên gia về thanh tra
môi trường Việt Nam đã phối hợp với chuyên gia thanh tra môi trường Thuỵ điển xây dựng cuốn
"Sổ tay Thanh tra Môi trường". Cuốn Sổ tay được xây dựng lần đầu tiên với mục đích cung cấp
hướng dẫn pháp lý và kỹ thuật cho các thanh tra viên về bảo vệ môi trường thực hiện tốt các
cuộc thanh tra. Cuốn sách gồm BA PHẦN: GIỚI THIỆU, KHUNG PHÁP LUẬT CỦA HOẠT
ÐỘNG THANH TRA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC THANH TRA nhà nước về Bảo vệ môi
trường.

Cuốn sách đã nhận được sự ủng hộ và góp ý kiến của các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi
trường trong cả nước và của một số chuyên gia về môi trường và pháp lý. Chúng tôi xin trân
trọng cảm ơn ông Per Junker, chuyên gia thanh tra môi trường của Cục Môi trường Thuỵ Ðiển,
ông Lê Văn Kiều, Chánh Thanh tra Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, ông Phùng Văn Vui,
Chánh Thanh tra Cục Môi trường, các cán bộ Thanh tra Cục Môi trường và các Sở Khoa học,
Công nghệ và Môi trường đã tích cực góp ý xây dựng cuốn sổ tay này.

Vì đây là cẩm nang đầu tiên về một lĩnh vực khá mới và phức tạp, cuốn Sổ tay Thanh tra Môi
trường chắc sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của quí vị độc giả để chỉnh sửa hoàn thiện cho những lần xuất bản sau.
Hà Nội, tháng 10 năm 2000

Phó Cục trưởng Cục Môi trường

Giám Ðốc dự án SEMA

TS. Trương Mạnh Tiến




SỔ TAY THANH TRA VỀ BẢO VỆ MÔITRƯỜNG

I. GIỚI thiệu:

"Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp" (từ điển
Tiếng Việt - 1994); là điều tra, xác minh, đánh giá một cách khách quan, trung thực thực trạng
việc tuân thủ pháp luật của đối tượng thanh tra để xử lý đúng với bản chất của sự việc. Thanh
tra môi trường không ngoài nhiệm vụ đó. Nhằm trợ giúp cho công tác thanh tra về bảo vệ môi
trường, đặc biệt hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường của Thanh tra Sở Khoa học, Công
nghệ và Môi trường (Sở KH,CN&MT) các tỉnh/thành phố, cuốn Sổ tay thanh tra môi trường đã
được xây dựng. Cuốn sổ tay này được trình bày theo hình thức có giá trị thực hành để hướng
dẫn thực hiện việc thanh tra môi trường một cách thuận lợi. Sổ tay thanh tra phục vụ cho các
thanh tra viên tìm kiếm các thông tin một cách dễ dàng, các bảng liệt kê và các ví dụ về việc giải
quyết các tình huống chung. Song cũng không thay thế khi vận dụng các văn bản quy phạm
pháp luật cụ thể.

Cuốn sổ tay thanh tra chứa đựng các thông tin:

- Các văn bản pháp luật hiện hành cần thiết cho các hoạt động thanh tra;

- Kế hoạch thanh tra;

- Thu thập các thông tin tại hiện trường;

- Phân tích kết quả và đánh giá ở hiện trường;

- Ðánh giá thường xuyên và báo cáo về các hoạt động thanh tra;

Thanh tra viên cần phải biết nhiệm vụ và quyền hạn của mình, những vấn đề không thuộc
phạm vi thực hiện và việc sử dụng quyền hạn của mình trong hoạt động thanh tra như thế nào.
Hướng dẫn dưới đây gồm các thông tin thích hợp được cập nhật và giải thích đối với các chủ
thể khác nhau.

II. Khung pháp luật của hoạt động thanh tra môi trường

II.1- Các văn bản pháp luật quy định chung về hoạt động thanh tra:

Mục này chủ yếu giới thiệu những thông tin chung có tính bao trùm về toàn bộ hoạt động thanh
tra nói chung và thanh tra chuyên ngành về bảo vệ môi trường nói riêng. Qua đó các Thanh tra
viên nhận thức được vị trí, vai trò của hoạt động thanh tra trong hoạt động quản lý Nhà nước về
bảo vệ môi trường; nắm được chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Thanh tra cấp mình và của
Thanh tra viên; trách nhiệm phối hợp của các cơ quan có liên quan trong hoạt động thanh tra;
trách nhiệm và quyền hạn của đối tượng thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra nói
chung và thanh tra về bảo vệ môi trường nói riêng. Qua đó Thanh tra KH,CN&MT và các Thanh
tra viên hiểu được những vấn đề cơ bản trong hoạt động thanh tra của mình để vận dụng sáng
tạo, linh hoạt và đúng pháp luật trong các hoạt động thanh tra cụ thể.

II.1.1. Theo quy định tại Pháp lệnh Thanh tra:

Thanh tra Nhà nước về khoa học, công nghệ và môi trường. Do đó, Thanh tra Sở KH,CN&MT,
phải có đầhy Trước hết, Thanh tra Sở KH,CN&MT là một tổ chức thanh tra Nhà nước nằm trong
hệ thống đủ chức năng và quyền hạn của một tổ chức thanh tra Nhà nước theo quy định của
Pháp lệnh Thanh tra, được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 01/4/1990. Hơn nữa, hiện nay
Pháp lệnh Thanh tra là văn bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao nhất để điều chỉnh
chung cho lĩnh vực thanh tra và làm cơ sở pháp lý để quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra
trong các lĩnh vực cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật khác. Vì vậy, trong quá trình tiến
hành các hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường, khi không có các quy định cụ thể hoá các
hoạt động thanh tra trong các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, tổ chức Thanh
tra KH,CN&MT và các Thanh tra viên được quyền áp dụng các quy định của Pháp lệnh Thanh
tra và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh. Cụ thể tại các Ðiều 1, 3, 5, 6, 7, 8, 9 và 24:

lý Nhà - Tại Ðiều 1, Pháp lệnh Thanh tra đã xác định về vị trí, vai trò của hoạt động thanh tra
trong quản nước và trách nhiệm của các cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước:

"Thanh tra là một chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước. Là phương tiện đảm bảo pháp
chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa...
Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra
việc thực hiện các quyết định của mình và thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm
vụ, kế hoạch Nhà nước của cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức hữu quan và
cá nhân có trách nhiệm (gọi chung là cơ quan, tổ chức và cá nhân) nhằm phát huy nhân tố tích
cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ
chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân".

- Tại khoản 4, Ðiều 3 đã khẳng định Thanh tra Sở thuộc hệ thống tổ chức Thanh tra Nhà nước.
Ðiều này giúp Thanh tra tra Sở KH,CN&MT có chức năng, quyền hạn của tổ chức Thanh tra Nhà
nước.

- Ðiều 5 quy định về nguyên tắc hoạt động thanh tra:

"Hoạt động thanh tra chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân
chủ, kịp thời."

- Ðiều 6 đã quy định về trách nhiệm phối hợp, cộng tác trong hoạt động thanh tra của các cơ
quan, tổ chức, các nhân:

"Trong phạm vi trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, văn
hoá xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân phải thực hiện các yêu cầu liên quan
tới hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho tổ chức thanh tra và
thanh tra viên hoàn thành nhiệm vụ".

Quy định này là cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức và
cá nhân có liên quan đến hoạt động thanh tra hoặc đối tượng thanh tra phối hợp, cộng tác trong
việc: Cung cấp thông tin, giám định kỹ thuật, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành các
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của hoạt động thanh
tra liên quan đến trách nhiệm của mình hoặc buộc đối tượng thanh tra là đơn vị trực thuộc thực
hiện các yêu cầu, kiến nghị của kết luận thanh tra; có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi và
không có các hoạt động cản trở, gây khó khăn cho hoạt động thanh tra của tổ chức Thanh tra
KH,CN&MT và Thanh tra viên trong quá trình tiến hành công tác thanh tra của mình.

- Tại Ðiều 7 quy định trách nhiệm và quyền hạn của đối tượng thanh tra:

"Các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra phải thực hiện các yêu cầu, kiến nghị,
quyết định về thanh tra theo quy định của pháp luật; trong quá trình thanh tra, có quyền giải
trình, có quyền khiếu nại đối với kết luận, kiến nghị, quyết định về thanh tra."

- Nhiệm vụ, quyền hạn chung của tổ chức thanh tra Nhà nước được quy định tại Ðiều 8. Ðối với
Thanh tra Sở, nhiệm vụ, quyền hạn được cụ thể tại Ðiều 5, Nghị định 244/HÐBT ngày
30/6/1990:

"1. Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật đối với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,
văn hoá xã hội và công dân thuộc thẩm quyền quản lý Nhà nước của Sở.

2. Kiến nghị Giám đốc Sở giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền của Giám đốc Sở.

Giải quyết khiếu nại, tố cáo mà thủ trưởng cơ quan, đơn vị do Sở trực tiếp quản lý đã giải quyết,
nhưng đương sự còn khiếu nại hoặc phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

3. Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về công tác thanh tra và việc xem xét, giải
quyết khiếu nại, tố cáo đối với thủ trưởng cơ quan, đơn vị do Sở trực tiếp quản lý; tạm đình chỉ
những quyết định không đúng của thủ trưởng cơ quan, đơn vị nói trên về công tác thanh tra,
đồng thời kiến nghị Giám đốc Sở giải quyết.

4. Kiến nghị Giám đốc Sở giải quyết những vấn đề về công tác thanh tra; trường hợp kiến nghị
không được chấp nhận thì báo cáo Chánh Thanh tra tỉnh quyết định..."

Theo quy định trên, Thanh tra Sở KH,CN&MT có nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như sau:

1. Thanh tra việc thực hiện quy định của Luật bảo vệ môi trường đối với cơ quan Nhà nước, tổ
chức kinh tế, văn hoá xã hội và công dân trong phạm vi của tỉnh.

2. Kiến nghị Giám đốc Sở KH,CN&MT giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bảo vệ môi
trường theo thẩm quyền của Giám đốc Sở.

- Tại Ðiều 9 đã quy định về quyền của tổ chức thanh tra Nhà nước trong quá trình thanh tra (09
quyền). Cụ thể:

"1. Yêu cầu cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho việc
thanh tra; yêu cầu cơ quan, đơn vị hữu quan cử người tham gia hoạt động thanh tra;

2. Trưng cầu giám định;

3. Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tài liệu, báo cáo bằng văn bản, trả lời những chất vấn
của tổ chức thanh tra hoặc Thanh tra viên; khi cần thiết tiến hành kiểm kê tài sản;
4. Quyết định niêm phong tài liệu, kê biên tài sản, khi có căn cứ để nhận định có vi phạm pháp
luật; ra quyết định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp
hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật hoặc để
xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc két luận, xử lý;

5. Ðình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân;

6. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác người đang cộng tác
với tổ chức thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra, nếu xét thấy việc thi hành quyết định gây
trở ngại cho việc thanh tra;

7. Cảnh cáo, tạm đình chỉ công tác nhân viên Nhà nước cố ý cản trở việc thanh tra hoặc không
thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định của tổ chức thanh tra hoặc Thanh tra viên;

8. Kết luận, kiến nghị hoặc quyết định xử lý theo quy định của pháp luật;

9. Chuyển hồ sơ về việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền giải
quyết, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm..."

Thông tư 01-TT/TTR ngày 20/8/1992 của Thanh tra Nhà nước đã hướng dẫn cụ thể thực hiện
các quyền này.

Trong hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường, Thanh tra Sở KH,CN&MT được sử dụng đầy
đủ các quyền nêu trên. Tuy nhiên, Thanh tra Sở KH,CN&MT thường sử dụng các quyền 1, 2, 3,
5 và 8. Bộ luật hình sự (sửa đổi năm 1999) đã bổ sung chương XVII "Các tội phạm về môi
trường", khi Bộ luật này có hiệu lực (ngày 01/7/2000), thì quyền thứ 9 cũng sẽ được sử dụng
nhiều hơn.

Ðối với các Thanh tra viên, theo quy định của khoản 3, Ðiều 24 Pháp lệnh Thanh tra:

"Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, Thanh tra viên có quyền:

a) Thực hiện các quyền quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 8 Ðiều 9 của Pháp lệnh này;

b) Tạm đình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đồng thời báo cáo ngay cơ quan có thẩm
quyền giải quyết".

"Cơ quan có thẩm quyền giải quyết" mà Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên cần báo cáo, trước
hết phải là cơ quan ra quyết định thanh tra. Trên cơ sở báo cáo này, cơ quan ra quyết định
thanh tra sẽ xem xét cụ thể "việc làm" bị đình chỉ thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào? Có
thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình không? Nếu không thuộc thẩm quyền quản lý trực
tiếp của mình thì thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào hoặc thuộc lĩnh vực quản
lý Nhà nước của cơ quan, tổ chức nào (Cơ quan cấp giấy phép hoạt động của cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân có "việc làm" bị đình chỉ), để có hướng giải quyết cụ thể.

- Quy định chung về Thanh tra viên được quy định tại Ðiều 24 và đã được cụ thể tại Nghị định
191/HÐBT ngày 15/6/1991 ban hành Quy chế Thanh tra viên và việc sử dụng cộng tác viên
thanh tra.

II.1.2. Theo quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính:
- Tại Ðiều 34, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính của thanh tra chuyên ngành.

Tại Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường
(Khoản 1, 2 Ðiều 20), Thanh tra Sở KH,CN&MT có chức năng thanh tra chuyên ngành về bảo vệ
môi trường và Thanh tra viên thuộc Thanh tra Sở KH,CN&MT thực hiện chức năng thanh tra
chuyên ngành về bảo vệ môi trường. Do đó, Thanh tra Sở KH,CN&MT và Thanh tra viên thuộc
Thanh tra Sở KH,CN&MT có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Ðiều 34
(khoản 1 và 2) nêu trên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với các hành vi vi phạm theo quy
định của Nghị định 26/CP. Cụ thể:

- Thanh tra viên chuyên ngành KH,CN&MT đang thi hành công vụ có quyền: "Phạt cảnh cáo,
phạt tiền đến 200.000 đồng đối với những vi phạm hành chính thuộc địa bàn quản lý của mình,
tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để gây ô nhiễm môi trường có giá trị đến 500.000
đồng, được quyền buộc tổ chức, cá nhân vi phạm đình chỉ hành vi vi phạm, khôi phục tình trạng
ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm, khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, tiêu huỷ các
vật phẩm gây hại cho môi trường sống".

- Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT có quyền: "Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 10.000.000 đồng,
tước quyền sử dụng giấy phép môi trường do Sở KH,CN&MT cấp, tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để gây ô nhiễm môi trường, được quyền buộc tổ chức, cá nhân vi phạm bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra đến 1.000.000 đồng, buộc khôi phục tình trạng ban
đầu đã bị thay đổi do vi phạm, khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, tiêu huỷ các vật
phẩm gây hại cho môi trường sống".

II.1.3. Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường:

Luật bảo vệ môi trường là văn bản pháp lý cao nhất quy định cụ thể về hoạt động thanh tra về
bảo vệ môi trường. Các quy định chung về thanh tra theo quy định của Pháp lệnh Thanh tra và
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã được cụ thể trong văn bản Luật này và các văn bản
hướng dẫn thi hành luật. Do đó, các hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường chủ yếu dựa trên
các quy định của Luật này. Một số lĩnh vực có liên quan đến việc sử dụng và quản lý một số
thành phần môi trường đã được đề cập đến trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác (sẽ
đề cập tại mục 4.2). Luật Bảo vệ môi trường chủ yếu quy định "trách nhiệm của chính quyền
các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền
con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất
nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu".

Ðể hướng dẫn chi tiết một số điều khoản trong Luật bảo vệ môi trường, Chính phủ đã có Nghị
định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường (Nghị định
175/CP) và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ
môi trường (Nghị định 26/CP). Bộ KH,CN&MT cùng với một số Bộ, ngành có liên quan ban hành
các Thông tư, Quyết định để hướng dẫn chi tiết hơn một số điều, khoản trong Nghị định của
Chính phủ. Việc ban hành các văn bản dưới luật nhằm làm rõ hơn các điều khoản của luật và
không được trái với luật.

Trong Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn có các Ðiều quy định về hoạt động
thanh tra môi trường cụ thể như sau:

- Tại Ðiều 38 Luật Bảo vệ môi trường có quy định là Sở KH,CN&MT chịu trách nhiệm trước
UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương (nội
dung quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương đã được quy định cụ thể tại Ðiều
6, Nghị định 175/CP).
- Tại Ðiều 40 Luật Bảo vệ môi trường quy định: "Cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về bảo vệ môi trường và có trách nhiệm
phối hợp với thanh tra chuyên ngành của các Bộ, ngành hữu quan trong việc bảo vệ môi
trường...". Theo quy định này, Sở KH,CN&MT có trách nhiệm thực hiện chức năng thanh tra
chuyên ngành về bảo vệ môi trường. Có trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động thanh tra
về bảo vệ môi trường trên địa bàn của Tỉnh.

Thực hiện quy định tại Ðiều 38, Nghị định 175/CP hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường,
ngày 12/12/1994, Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT sau khi thống nhất với Thanh tra Nhà nước đã ban
hành Thông tư 1485/MTg Hướng dẫn tổ chức, quyền hạn và phạm vi hoạt động của Thanh tra
về bảo vệ môi trường. Cụ thể:

+ Phần 1: Tổ chức Thanh tra Nhà nước về bảo vệ môi trường: Ðược tổ chức hai cấp:

o Trung ương: Thanh tra Cục Môi trường có nhiệm vụ giúp Thanh tra Bộ
KH,CN&MT thực hiện chức năng thanh tra Nhà nước về bảo vệ môi trường
trong phạm vi cả nước;

o Ðịa phương: Thanh tra Sở KH,CN&MT tỉnh thực hiện chức năng thanh tra Nhà
nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường của UBND tỉnh.

+ Phần II: Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức Thanh tra Nhà nước về bảo vệ môi
trường:

o Ðối với Tổ chức Thanh tra Nhà nước: Dẫn chiếu quyền hạn quy định tại Ðiều 8,
9 Pháp lệnh Thanh tra (xem mục 1.1); Ðiều 40, Luật Bảo vệ môi trường (xem
phần trên của mục 1.3); Ðiều 37, Nghị định 175/CP (xem mục 2.1).
o Ðối với Thanh tra viên: Dẫn chiếu Ðiểm 3-Ðiều 24, Pháp lênh Thanh tra (xem
mục 1.1); Ðiều 41, Luật Bảo vệ môi trường (xem phần III của mục này) và được
quyền áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điều
11 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (xem cụ thể thẩm quyền quy định cho
Thanh tra viên tại khoản 1 Ðiều 34 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và cụ
thể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại khoản 1, Ðiều 20 Nghị định 26/CP tại
mục 1.2).

+ Phần III: Quy định về đối tượng, nội dung và phạm vi thanh tra:

Trong đó có quy định cho Thanh tra Sở KH,CN&MT thực hiện quyền thanh tra về bảo vệ môi
trường trong phạm vi địa phương với nội dung và đối tượng sau:

o Thanh tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường của các Sở, ngành
và việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND
quận, huyện, xã, phường;

o Thanh tra việc chấp hành các quy định, tiêu chuẩn về phòng, chống, khắc phục
suy thoái ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường khi sử dụng và khai thác các
thành phần về môi trường của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi địa phương
theo sự phân cấp của Cục môi trường;

o Phối hợp với các tổ chức thanh tra Sở, ngành hữu quan thanh tra việc chấp
hành pháp luật có liên quan về bảo vệ môi trường trong phạm vi địa phương;
o Xác định và lập báo cáo về các sự cố, ô nhiễm môi trường xảy ra ở địa phương
để Giám đốc Sở khoa học công nghệ và môi trường trình chủ tịch Uỷ ban nhân
dân Tỉnh xem xét quyết định;
o Giúp Giám đốc Sở KH,CN&MT giải quyết khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường và tranh chấp môi trường thuộc thẩm quyền giải
quyết của Giám đốc Sở, hoặc do Cục trưởng Cục môi trường uỷ nhiệm giải
quyết;

o Phối hợp với thanh tra Cục môi trường trong quá trình thanh tra về bảo vệ môi
trường ở địa phương.

- Tại Ðiều 41, Luật Bảo vệ môi trường đã quy định quyền hạn của Thanh tra viên hoặc Ðoàn
thanh tra về bảo vệ môi trường trong quá trình thanh tra (cụ thể quyền hạn theo Ðiều 24 và 31
Pháp lệnh Thanh tra) như sau:

"1. Yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu và trả lời những
vấn đề cần thiết cho việc thanh tra".

+ Các cơ quan liên quan ở đây không chỉ là đối tượng thanh tra, mà bao gồm cả
các cơ quan quản lý có liên quan đến đối tượng thanh tra (cơ quan quản lý cấp
trên), cơ quan quản lý Nhà nước những lĩnh vực mà đối tượng thanh tra hoạt
động và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan trực tiếp về bảo
vệ môi trường với đối tượng thanh tra (ví dụ: Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuê đối
tượng thanh tra gia công một số chế phẩm hoặc cung cấp nguyên liệu sản xuất
bị cấm ...).

+ Tài liệu được yêu cầy cung cấp ở đây được hiểu là các văn bản quản lý có liên
quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc quy định riêng theo thẩm quyền
về bảo vệ môi trường; các báo cáo số liệu có liên quan đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh hoặc số liệu kiểm soát về môi trường trong quá trình hoạt động của
đối tượng thanh tra, các chứng cứ hoặc các thông tin khác phục vụ cho hoạt
động thanh tra. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nêu trên có trách nhiệm cung cấp
đầy đủ, chính xác, kịp thời và chịu trách nhiệm về nội dung những thông tin, tài
liệu đã cung cấp. Những tài liệu "gốc" có một bản duy nhất của đối tượng thanh
tra cần có Biên bản giao nhận; khi khai thác xong hoặc kết thúc cuộc thanh tra,
Trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có trách nhiệm trả lại cho đối tượng
thanh tra và cũng phải có biên bản hoàn trả. Những tài liệu cần thiết có thể yêu
cầu bản sao có xác nhận để lưu hồ sơ thanh tra.

+ Việc trả lời những vấn đề cấn thiết được hiểu:

o Ðối với đối tượng thanh tra: Trả lời những chất vấn trực tiếp hoặc những vấn đề
được Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên yêu cầu bằng văn bản, đối tượng
thanh tra trả lời bằng văn bản hoặc có biên bản về sự trả lời này khi chất vấn
trực tiếp. Ðối tượng thanh tra chịu trách nhiệm về nội dung trả lời, báo cáo.

o Ðối với các cơ quan có liên quan thì trả lời bằng văn bản những vấn đề Ðoàn
thanh tra hoặc Thanh tra viên có văn bản yêu cầu.

"2. Tiến hành các biện pháp kiểm tra kỹ thuật tại hiện trường".

Ðoàn Thanh tra hoặc Thanh tra viên thực hiện các biện pháp kỹ thuật tại hiện
trường thông qua việc lấy mẫu, dùng các thiết bị hợp pháp và đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật để tiến hành đo các thông số về môi trường có liên quan theo quy trình
hoặc Tiêu chuẩn lấy mẫu hoặc phép đo. Những trường hợp cần thiết, nên dùng
quyền trưng cầu giám định để cơ quan, tổ chức có năng lực và trách nhiệm tiến
hành các biện pháp kỹ thuật tại hiện trường và Cơ quan, tổ chức giám định này
chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả số liệu thực hiện. Ðoàn thanh tra
hoặc Thanh tra viên căn cứ vào kết quả giám định để xử lý. Ðiều quan trọng
của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên là nghiên cứu xác định để có quyết định
nội dung trưng cầu giám định là gì.

"3. Quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp khẩn cấp các hoạt động có nguy
cơ gây sự cố nghiêm trọng về môi trường và phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về quyết định đó, đồng thời báo cáo ngay với cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền quyết định xử lý hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền để đình chỉ
các hoạt động có thể gây sự cố môi trường".

+ Khi ra quyết định này Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên cần cân nhắc và
phải có cơ sở chắc chắn là hoạt động đó có nguy cơ gây sự cố nghiêm trọng về
môi trường và cần phải làm đầy đủ thủ tục pháp lý cần thiết, như: Biên bản vi
phạm hành chính hoặc Biên bản thanh tra và pháp lý hoá các chứng cứ, tài liệu
(đưa các chứng cứ, tài liệu có liên quan vào Biên bản và có chữ ký của đối
tượng thanh tra - nếu từ chối phải có lý do) hoặc có người làm chứng, người bị
thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra...

+ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể là cơ quan ra quyết định thanh tra;
cơ quan có thẩm quyền có thể là cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của đối
tượng thanh tra hoặc chính quyền địa phương nơi đối tượng thanh tra có cơ sở
sản xuất - kinh doanh đang có các hoạt động có nguy cơ gây sự cố nghiêm
trọng.

"4. Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xử lý các vi phạm."

Nếu đã có căn cứ xác định được hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi
trường theo quy định của Nghị định 26/CP thì ngay trong Biên bản vi phạm hành
chính cần yêu cầu đình chỉ ngay hành vi vi phạm. Nếu thấy hành vi vi phạm
thuộc thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật (phù hợp mức xử phạt
vi phạm hành chính) có thể ra quyết định xử lý ngay nếu thấy cấp bách. Thông
thường nên cân nhắc và suy xét cho thấu đáo các vấn đề ngay trong Ðoàn
thanh tra và xin ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra để có quyết
định xử lý phù hợp. Nếu trường hợp không thuộc thẩm quyền của mình thì báo
cáo và chuyển toàn bộ hồ sơ vi phạm cho Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT để
xử lý theo thẩm quyền. Chánh Thanh tra xem xét báo cáo với Giám đốc sở và ra
quyết định xử phạt theo thẩm quyền. Nếu mức phạt lớn hơn thẩm quyền của
mình thì báo cáo Giám đốc Sở để làm thủ tục trình Chủ tịch UBND tỉnh xử lý
theo thẩm quyền.

II.2- Các cơ quan chịu trách nhiệm thanh tra về môi trường:

Mục này chỉ rõ các cơ quan có trách nhiệm thanh tra về môi trường và sự phối hợp giữa các cơ
quan này trong hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường.

Tại một số văn bản quy phạm pháp luật trong một số lĩnh vực cụ thể liên quan đến bảo vệ môi
trường, sức khoẻ con người, khai thác và sử dụng một số thành phần môi trường đã cụ thể hoá
quy định chung về hoạt đông thanh tra trong từng lĩnh vực của mình. Những quy định đó đã xác
định các cơ quan có trách nhiệm trong hoạt động thanh tra môi trường. Cụ thể như sau:

II.2.1- Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn:

- Theo Luật Bảo vệ môi trường tại các Ðiều 37, 38, 40 và 44 đã quy định:

+ Chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường có chức năng thanh tra, kiểm tra (khoản 7
Ðiều 37);

+ Trong đó Ðiều 38 quy định cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường,
gồm:

o Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả
nước.

o Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ KH,CN&MT) chịu trách nhiệm trước
Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Chức
năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ KH,CN&MT đã được quy
định nội dung cụ thể tại điều 4, Nghị định 175/CP. Trong điều này cũng đã quy
định cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT thực hiện chức năng này là Cục
Môi trường.

o Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ KH,CN&MT thực hiện bảo vệ môi
trường trong ngành và các cơ quan thuộc quyền quản lý thực tiếp và đã được cụ
thể tại Ðiều 5, Nghị định 175/CP. Trong đó có quy định: "...Giải quyết các tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định..."

o Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (UBND tỉnh) thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương. Chức năng
này đã được cụ thể tại khoản 1, Ðiều 6 Nghị định 175/CP, trong đó có quy định:
"đ) Phối hợp với các cơ quan Trung ương trong hoạt động kiểm tra, thanh tra,
xử lý các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại địa phương; đôn đốc các
tổ chức, cá nhân thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; e)
Tiếp nhận, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và các kiến nghị về bảo
vệ môi trường trong phạm vi quyền hạn được giao hoặc chuyển đến các cơ
quan có thẩm quyền để xử lý."

o "Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Sở KH,CN&MT) chịu trách nhiệm
trước UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường
tại địa phương" (Khoản 2, Ðiều 6 Nghị định 175/CP). Chức năng quản lý Nhà
nước về KH,CN&MT của Sở KH,CN&MT (trong đó có chức năng quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường) tại địa phương đã được quy định cụ thể tại Thông
tư liên tịch số 1450/LB-TT ngày 06/9/1993 của liên Bộ Bộ KH,CN&MT và Ban
Tổ chức và Cán bộ Chính phủ. Trong đó có quy định: "...8) Thanh tra Nhà nước
đối với các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc chấp
hành chính sách, luật pháp về Khoa học, Công nghệ và Bảo vệ môi trường..."

+ Tại Ðiều 40 đã quy định chức năng thanh tra Nhà nước về bảo vệ môi trường thuộc về cơ
quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. Theo quy định này thì các cơ quan có chức năng
quản lý Nhà nước nêu tại Ðiều 38 có trách nhiệm về hoạt động thanh tra môi trường. Tuy nhiên,
trách nhiệm này được thực hiện ở mức độ khác nhau. Song chủ yếu tập trung vào hai cấp:
Trung ương là Bộ KH,CN&MT (có tổ chức thanh tra chuyên trách là Thanh tra Bộ KH,CN&MT),
mà cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường là Cục
Môi trường (có tổ chức thanh tra chuyên trách là Thanh tra Cục Môi trường) và địa phương là
UBND tỉnh, mà cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh là Sở KH,CN&MT (có tổ chức thanh tra
chuyên trách là Thanh tra Sở KH,CN&MT).

+ Tại Ðiều 44 quy định thẩm quyền xác định trách nhiệm phải xử lý về môi trường tại vùng có
gây ra sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường. Cụ thể:

o Trong phạm vi một tỉnh: Thanh tra Sở KH,CN&MT xác định hoặc báo cáo, đề
nghị Chủ tịch UBND tỉnh xem xét quyết định. Nếu một hoặc các bên không
đồng ý với quyết định trên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT.
Quyết định của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT có hiệu lực thi hành.

o Trong phạm vi hai hoặc nhiều tỉnh: Thanh tra Bộ KH,CN&MT hoặc Thanh tra
Cục Môi trường xác định hoặc báo cáo, đề nghị Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT xem
xét quyết định. Nếu một hoặc các bên không đồng ý với quyết định trên có
quyền khiếu nại lên Thủ tướng Chính phủ quyết định.

- Theo quy định tại Nghị định 175/CP, tại Chương VI đã hướng dẫn trách nhiệm thanh tra về bảo
vệ môi trường theo quy định của Luật bảo vệ môi trường. Cụ thể tại các Ðiều:

+ Ðiều 37 đã quy định trách nhiệm của Bộ KH,CN&MT trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện
chức năng thanh tra về bảo vệ môi trường. Cụ thể:

o Thanh tra việc bảo vệ môi trường của các Bộ, ngành và việc thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại các địa phương của UBND các
cấp;

o Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của
tổ chức và cá nhân.

- Thực hiện quy định tại Ðiều 38, Nghị định 175/CP, ngày 12/12/1994, Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT
sau khi thống nhất với Thanh tra Nhà nước đã ban hành Thông tư 1485/MTg Hướng dẫn tổ
chức, quyền hạn và phạm vi hoạt động của Thanh tra về bảo vệ môi trường. Trong đó tại Phần
III: Quy định về đối tượng, nội dung và phạm vi thanh tra:

1. Thanh tra Cục Môi trường thực hiện quyền thanh tra về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả
nước với các nội dung và đối tượng sau:

o Thanh tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường của các Bộ, ngành
và việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND
tỉnh;

o Thanh tra việc chấp hành các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, các vụ việc
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường liên quan đến nhiều Bộ, ngành, nhiều
tỉnh, thành phố, tổ chức và cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam;

o Phối hợp với các tổ chức thanh tra chuyên ngành cấp trung ương trong việc
thanh tra chấp hành các quy định của pháp luật có liên quan về bảo vệ môi
trường;
o Xác định và lập báo cáo về sự cố, ô nhiễm, suy thoái môi trường xảy ra theo
quy định tại Ðiều 44 Luật Bảo vệ môi trường;

o Giúp Cục trưởng Cục Môi trường giải quyết khiếu nại, tố cáo các hành vi vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và tranh chấp môi trường thuộc thẩm
quyền của Cục trưởng;

o Phối hợp với Thanh tra Bộ KH,CN&MT giúp Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT giải quyết
các khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và
tranh chấp môi trường thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng.

2. Thanh tra Sở KH,CN&MT thực hiện quyền thanh tra về bảo vệ môi trường trong phạm vi địa
phương (xem mục II.1.3).

Thực hiện các quy định nêu trên, trong những năm qua, việc tổ chức hoạt động thanh tra về bảo
vệ môi trường trong phạm vi tỉnh/thành phố thường diễn ra như sau:

- Thanh tra Sở KH,CN&MT đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức các hoạt động thanh tra và
xử lý kết quả thanh tra theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý (Tuỳ mức độ có
thể cấp có thẩm quyền là Sở KH,CN&MT, UBND Tỉnh, Thanh tra Cục Môi trường, Cục Môi
trường, Thanh tra Bộ KH,CN&MT, Bộ KH,CN&MT).

- Trong các Sở có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường như: Sở Công nghiệp, Sở Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở thuỷ sản, Sở Y tế, Sở Xây dựng,... đều có tổ chức thanh tra
chuyên trách thực hiện chức năng thanh tra trong lĩnh vực quản lý Nhà nước của ngành đó.
Trong trường hợp cần thiết tiến hành thanh tra có liên quan đến việc bảo vệ môi trường, các Sở
có thể chủ động tổ chức thành lập đoàn thanh tra và Sở KH,CN&MT có thể tham gia phối hợp.
Khi Sở KH,CN&MT đóng vai trò chủ trì các cuộc thanh tra về bảo vệ môi trường, nếu xét thấy
đối tượng thanh tra có liên quan đến lĩnh vực quản lý Nhà nước của ngành nào hoặc là đơn vị
trực thuộc của Sở, ngành thì có thể phối hợp với các Sở, ngành đó. Sự phối hợp ở đây có thể
trên các vấn đề sau:

a) Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan;

b) Cử người có thẩm quyền tham gia trực tiếp trong đoàn thanh tra;

c) Xử lý kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.

d) Giúp nhau về nghiệp vụ chuyên ngành.

- UBND các cấp thực hiện chức năng quản lý hành chính toàn diện trên địa bàn được phân cấp.
Do đó, trong trường hợp cần thiết, các huyện, thị có thể tổ chức Ðoàn thanh tra và Sở
KH,CN&MT có thể tham gia phối hợp. Trong trường hợp ngược lại, khi UBND các huyện/thị phối
hợp với Sở trong hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường trên địa bàn quản lý của huyện, thị
thì cũng đảm bảo sự phối hợp trên các vấn đề như nêu tại phần trên, đặc biệt trong ba vấn đề
b, c và d.

- Thanh tra tỉnh cũng có thể tổ chức các đoàn thanh tra về bảo vệ môi trường khi có yêu cầu của
UBND tỉnh. Lúc này, Thanh tra tỉnh giữ vai trò chủ trì, các ngành có liên quan, đặc biệt là ngành
KH,CN&MT sẽ tham gia phối hợp trên 4 vấn đề nêu trên.

- Trong trường hợp cần thiết UBND Tỉnh có thể tổ chức những cuộc thanh tra liên ngành về bảo
vệ môi trường nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, đồng bộ trong địa bàn của tỉnh về bảo vệ
môi trường của tất cả các ngành, các cấp chính quyền ở Tỉnh. Ðặc biệt khi giải quyết một vấn
đề bức xúc tại một địa bàn trọng điểm trong một giai đoạn nhất định.

- Sự phối hợp giữa Sở KH,CN&MT với Bộ KH,CN&MT trong hoạt động thanh tra về bảo vệ môi
trường tại địa phương thường được thực hiện:

+ Phần nội dung được Bộ KH,CN&MT uỷ quyền trong chức năng quản lý Nhà nước của Bộ. Ví
dụ: Uỷ quyền thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ÐTM) các đối tượng thuộc diện
Bộ thẩm định. Sau đó Sở sẽ tiến hành thanh tra việc thực hiện quyết định phê chuẩn Báo cáo
ÐTM.

+ Thực hiện chỉ thị của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT (Ví dụ: Chỉ thị số 513/VP ngày 06/5/1997 về
việc triển khai Cuộc thanh tra diện rộng chuyên đề về bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn
quốc).

+Và 4 vấn đề (a, b,c, d) phối hợp nêu trên khi tiến hành các hoạt động thanh tra về bảo vệ môi
trường của cấp Bộ tại địa phương.

II.2.2- Các văn bản quy phạm pháp luật khác:

Ngoài Luật Bảo vệ môi trường còn một số văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh một số
lĩnh vực có liên quan đến việc sử dụng, khai thác một số thành phần môi trường cụ thể, tới sức
khoẻ của của nhân dân, như: Luật đất đai, Luật khoáng sản, Luật Bảo vệ và phát triển rừng,
Luật Tài nguyên nước, Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, Pháp lệnh Bảo vệ và
kiểm dịch thực vật, Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ, Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ
luật Lao động (xem mục 4.2). Việc quy định thanh tra trong các lĩnh vực cụ thể theo các văn bản
nêu trên cũng xác định trách nhiệm thanh tra liên quan đến bảo vệ môi trường. Do đó, hoạt động
thanh tra về bảo vệ môi trường không thể tách rời hoàn toàn với hoạt động thanh tra của các
Bộ, ngành khác.

Tại mục này chủ yếu giới thiệu Thanh tra Sở KH,CN&MT biết có các văn bản pháp luật khác
cũng điều chỉnh liên quan đến một số lĩnh vực có sử dụng thành phần môi trường, để khi tiến
hành thanh tra về bảo vệ môi trường đối với các đối tượng liên quan đến lĩnh vực quản lý Nhà
nước của các ngành cụ thể thì chủ động có sự phối hợp với ngành đó theo 4 vấn đề phối hợp
(nêu tại mục II.2.1) hoặc biết có văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng khi cần thiết.

Trên địa bàn của từng tỉnh, các ngành chủ động trong hoạt động thanh tra theo quy định của
các văn bản quy phạm pháp luật đã quy định. Khi có những vấn đề nảy sinh có tính liên ngành,
thì chủ động phối hợp thực hiện. Nếu không thể hợp tác được hoặc quá tầm của ngành mình
quyết định thì báo cáo UBND Tỉnh xem xét quyết định cụ thể.

Một số thí dụ về sự phối hợp:

- Phối hợp với Sở Thuỷ sản trong việc thanh tra việc đánh bắt thuỷ sản. Có thể Sở Thuỷ sản là
cơ quan chủ trì, Sở KH,CN&MT phối hợp.

- Sở KH,CN&MT phối hợp với Sở Công nghiệp trong việc thanh tra một số công ty khoáng sản
về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản của ở một số mỏ...

- Sở KH,CN&MT phối hợp với Sở Y tế tiến hành thanh tra các Bệnh viện trên dịa bàn của tỉnh về
bảo vệ môi trường...
- Sở KH,CN&MT phối hợp với Sở Nông nghiếp và Phát triển nông thôn (Chi cục Bảo vệ thực
vật) tiến hành thanh tra về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các kho
chứa và việc sử dụng các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)...




SƠ ÐỒ HOẠT ÐỘNG THANH TRA nhà nước

về bảo vệ môi trường




II.3- Tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam:

Mục này chủ yếu giới thiệu những tiêu chuẩn môi trường đã được công bố có tính pháp lý, đặc
biệt là những tiêu chuẩn thường được sử dụng trong hoạt động thanh tra hiện nay, bản chất của
các tiêu chuẩn này và việc áp dụng trong thực tế.

Trong quá trình thanh tra, việc sử dụng quyền trưng cầu giám định để yêu cầu cơ quan có năng
lực và tư cách pháp nhân xác định cụ thể những thông số môi trường cụ thể trong từng lĩnh vực.

Trên cơ sở kết quả giám định, Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên xem xét để xử lý cụ thể theo
quy định của pháp luật. Ðiều quan trọng là Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có sự am hiểu về
môi trường và nhạy cảm về nghề nghiệp để đi đến quyết định nội dung trưng cầu giám định phù
hợp đối với từng cơ sở cụ thể trong quá trình thanh tra.

Theo quy định tại Ðiều 22, Nghị định 175/CP, danh mục các loại tiêu chuẩn môi trường Việt nam
bao gồm:

1. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường đất;

2. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường nước;

3. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường không khí ;

4. Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực tiếng ồn;

5. Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực bức xạ và ion hoá;

6. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ khu vực dân cư;

7. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ khu sản xuất;

8. Tiêu chuẩn đánh giá môi trường trong lĩnh vực bảo vệ rừng;

9. Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực bảo vệ hệ sinh vật;

10. Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực bảo vệ hệ sinh thái;

11. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ biển;

12. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên và cảnh quan thiên nhiên;

13. Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng công nghiệp , đô thị và dân dụng;

14. Tiêu chuẩn môi trường liên quan tới việc vân chuyển , tàng trữ , sử dụng các chất độc hại,
phóng xạ;

15. Tiêu chuẩn môi trường trong khai thác các mỏ lộ thiên và khai thác các mỏ hầm lò;

16. Tiêu chuẩn môi trường đối với các phương tiện giao thông cơ giới;

17. Tiêu chuẩn môi trường đối với các cơ sở có sử dụng các vi sinh vật;

18. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ lòng đất;

19. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường khu du lịch;

20. Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực xuất nhập khẩu;

21. Tiêu chuẩn môi trường đối với các bệnh viện và các khu chữa bệnh đặc biệt;

Do đặc thù riêng về quản lý, các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam sau khi được Bộ trưởng Bộ
KH,CN&MT ký Quyết định ban hành được xếp vào loại các tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng. Việc
xây dựng và ban hành cá tiêu chuẩn môi trường là nhiệm vụ được Bộ KH,CN&MT thực hiện
hành năm, nhằm hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, bao gồm các tiêu chuẩn
về thuật ngữ, các tiêu chuẩn về phân loại, các tiêu chuẩn về phương pháp lấy mẫu và phân tích,
các tiêu chuẩn về chất lượng môi trường (quy định giá trị giới hạn cho phép của các thông số và
nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí, đất, nước mặt, nước ngầm, nước biển ven bờ), các
tiêu chuẩn về chất thải (giá trị giới hạn và nồng độ tối đa cho phép các chất ô nhiễm trong khí
thải, nước thải; phân loại chất thải rắn theo thành phần chất ô nhiễm để đưa xử lý), các tiêu
chuẩn về âm học (mức độ ồn tối đa cho phép).

Trong phụ lục kèm theo Sổ tay này có danh mục 97 tiêu chuẩn về môi trường được ban hành
theo quyết định số 2920-QÐ/MTg ngày 21/12/1996 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT. Các tiêu
chuẩn ban hành theo Quyết định 2920 nêu trên là các tiêu chuẩn quốc gia và được tập trung
chủ yếu vào 04 thành phần cơ bản của môi trường là: Ðất, nước, không khí và tiếng ồn. Cụ thể
như sau:

1. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường đất:

Gồm 11 tiêu chuẩn chất lượng đất (có phụ lục kèm theo).

Trong quá trình thanh tra các Thanh tra viên chú ý đến TCVN 5941 quy định mức tối đa cho
phép (giá trị giới hạn tối đa) của dư lượng một số hoá chất bảo vệ thực vật trong đất. Danh mục
giá trị giới hạn tối đa bao gồm 22 hoá chất.

2. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường nước;

Gồm 56 tiêu chuẩn chất lượng nước (có phụ lục kèm sau).

Trong quá trình thanh tra, Thanh tra viên chú ý đến một số tiêu chuẩn về nguồn thải và phương
pháp xác định một số thông số cơ bản. Cụ thể:

- TCVN 5945-1995 Quy định tiêu chuẩn nước thải công nghiệp:

+ Phạm vi áp dụng:

o Tiêu chuẩn này quy định giá trị giới hạn các thông số và nồng độ các chất thành
phần trong nước thải của các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh, dịch vụ ....
(gọi chung là nước thải công nghiệp).

o Tiêu chuẩn này dùng để kiểm soát chất lượng nước thải công nghiệp thước khi
đổ vào các vực nước.

+ Giá trị giới hạn:

o Giá trị giới hạn các thông số và nồng độ các chất thành phần của nước thải
công nghiệp khi đổ vào các vực nước phải phù hợp với quy định trong bảng 1
(phụ lục kèm sau).

o Nước thải công nghiệp có các thông số và nồng độ các chất thành phần bằng
hoặc nhỏ hơn giá trị quy định trong cột A có thể đổ vào các vực nước dùng làm
nguồn cấp nước sinh hoạt.
o Nước thải công nghiệp có các thông số và nồng độ các chất thành phần nhỏ
hơn hoặc bằng giá trị quy định trong cột B chỉ được đổ vào các vực nước dùng
cho mục đích giao thông thuỷ, tưới tiêu, bơi lội, nuôi thuỷ sản, trồng trọt...

o Nước thải công nghiệp có các thông số và nồng độ các chất thành phần lớn hơn
giá trị quy định trong cột B nhưng không vượt quá giá trị quy định trong cột C chỉ
được phép đổ vào các nơi quy định.

o Nước thải công nghiệp có các thông số và nồng độ các chất thành phần lớn hơn
giá trị quy định trong cột C thì không được phép thải ra môi trường.

o Ðối với nước thải của một số ngành công nghiệp đặc thù, giá trị các thông số và
nồng độ các chất thành phần được quy định trong các tiêu chuẩn riêng.

- TCVN 5992-1995 Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu và đặc biệt là TCVN 5999-1995 Hướng dẫn kỹ
thuật lấy mẫu nước thải.

Trong quá trình thanh tra, các Thanh tra viên chỉ nên lấy mẫu để xác định một số thông số đơn
giản và có thể tiến hành xác định bằng thiết bị đo nhanh. Thông thường, nên dùng quyền giám
định để cơ quan giám định cử người có chuyên môn sâu, kỹ thuật, thiết bị và dụng cụ lấy mẫu.
Tuy nhiên, Thanh tra viên cần biết kỹ thuật cơ bản theo quy định của tiêu chuẩn này như sau:

+ Phạm vi áp dụng:

o Tiêu chuẩn này quy định kế hoạch lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu về nước thải
công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Nó được dùng cho mọi loại nước thải, nghĩa
là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt thô hoặc đã xử lý. Không áp
dụng cho trường hợp có sự cố tràn.

+ Mục tiêu:

o Mục tiêu trong thanh tra chủ yếu là để xác định xem các giới hạn tải lượng thải
có được tuân thủ hay không? Ngoài ra có thể phục vụ cho các mục tiêu khác,
như: Xác đinh nồng độ các chất ô nhiễm trong dòng nước thải...

+ Cách lấy mẫu:

o Nơi lấy mẫu: Trong xí nghiệp công nghiệp (các dòng thải chưa xử lý); các điểm
thải của các xí nghiệp công nghiệp; trong các trạm xử lý; lối ra của các trạm xử
lý nước thải; hệ thống cống rãnh chung.

o Chọn phương pháp lấy mẫu: Thông thường, trong hoạt động thanh tra thường
sử dụng phương pháp lấy mẫu đơn để đánh giá sự tuân thủ các tiêu chuẩn tại
một thời điểm nhất định. Ðôi khi cũng sử dụng phương pháp mẫu tổ hợp khi xác
định sự tuân thủ một tiêu chuẩn dựa trên chất lượng trung bình.

o Bảo quản, vận chuyển và lưu giữ mẫu: Cách chung nhất để bảo quản mẫu
nước thải là làm lạnh đến khoảng giữa 0OC và 4OC và để ở chỗ tối. Tốt nhất là
bàn giao ngay cho phòng thí nghiệm trong vòng 24 giờ kể từ khi lấy mẫu.

+ An toàn lấy mẫu: Khi có quy tắc an toàn riêng thì phải tuân theo để đảm bảo an toàn cho
người và công trình trong quá trình lấy mẫu. Chú ý trong một số trường hợp khi làm việc ở các
cống, hố phân, trạm bơm và trạm xử lý nước thải cần phải cảnh giác và có biện pháp phòng
chống đối với những việc sau: Nguy hiểm nổ gây ra bởi hỗn hợp các khí nổ ở hệ thống cống;
nguy cơ ngộ độc do các khí độc như H2S và CO; nguy cơ bị ngạt do thiếu oxi; nguy cơ nhiễm
bệnh do các vi sinh vật mầm bệnh ở trong nước thải; nguy cơ bị thương do ngã hoặc trượt; nguy
cơ bị cuốn đi; nguy cơ do các vật rơi phải.

Hiện nay, trong công tác thanh tra đối với các loại hình sản xuất công nghiệp chỉ sử dụng chủ
yếu TCVN 5945-1995 đối với nước thải. Dựa vào mức thải cho phép trong Báo cáo ÐTM (loại A
hay B) để xem xét kết quả quan trắc nước thải sau khi xử lý đối với một số loại hình công
nghiệp. Thí dụ:

- Với công nghiệp thực phẩm thì việc quan tâm chủ yếu là chỉ tiêu BOD, COD, DO, pH, chất rắn
lơ lửng và EColiform....

- Với công nghiệp điện, điện tử thì cần chú ý đến kim loại nặng (Hg, Pb, Cr(VI), Cr(III) và một số
hoá chất đặc trưng khác cũng như các chất phóng xạ).

- Với công nghiệp giấy quan tâm đầu tiên đến các chỉ tiêu pH, COD, chất rắn lơ lửng, Clo hữu
cơ, dioxin,...

- Với công nghiệp dệt, nhuộm cần quan tâm đến màu, pH, COD, tổng Clo hữu cơ và một số hoá
chất khác được sử dụng trong quá trình sản xuất...

Ngoài ra, cần quan tâm đến lượng và thành phần bùn lắng đọng sinh ra trong quá trình xử lý
nước thải. Ðây là một trong những chất thải khó xử lý, vì bùn này thường hay chứa kim loại nặng
và các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ. Do vậy, nên chú ý đến phương án và cách xử lý bùn
thải của các nhà máy. Ðối với những bùn thải bị xếp vào loại chất thải nguy hại thì phải có biện
pháp lưu giữ, bảo quản cẩn thận theo quy chế quản lý chất thải nguy hại.

3. Tiêu chuẩn môi trường đối với bảo vệ môi trường không khí:

Gồm 25 tiêu chuẩn (có phụ lục kèm sau).

Trong quá trình thanh tra, Thanh tra viên chú ý đến một số tiêu chuẩn về nguồn thải và phương
pháp xác định một số thông số cơ bản. Cụ thể:

- TCVN 5939-1995 Chất lượng không khí-Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối
với bụi và các chất vô cơ:

+ Phạm vi áp dụng:

o Tiêu chuẩn này quy định giá trị nồng độ tối đa của các chất vô cơ và bụi trong
khí thải công nghiệp (tính bằng mg/m3 khí thải) khi thải vào không khí xung
quanh. Khí thải công nghiệp nói trong tiêu chuẩn này là khí và khí có chứa bụi
do các quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác tạo ra.

o Tiêu chuẩn này áp dụng để kiểm soát nồng độ các chất vô cơ và bụi trong
thành phần khí thải công nghiệp trước khi thải vào không khí xung quanh.

+ Giá trị giới hạn:
o Danh mục và giá trị giới hạn tối đa cho phép nồng độ của các chất vô cơ và bụi
trong thành phần khí thải công nghiệp khi xả vào khí quyển được quy định trong
bảng 1 của tiêu chuẩn (19 thành phần).

o Giá trị giới hạn ở cột A áp dụng cho các cơ sở đang hoạt động. Giá trị giới hạn ở
cột B áp dụng cho tất cả các cơ sở kể từ ngày cơ quan quản lý môi trường quy
định.

o Ðối với khí thải của một số hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đặc thù, khi
thải vào khí quyển phải theo quy định ở các tiêu chuẩn riêng.

- TCVN 5940-1995 Chất lượng không khí- Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp với
các chất hữu cơ:

+ Phạm vi áp dụng:

o Tiêu chuẩn này quy định giá trị nồng độ tối đa của các chất hữu cơ trong khí
thải công nghiệp (tính bằng mg/m3 khí thải) khi thải vào không khí xung quanh.
Khí thải công nghiệp nói trong tiêu chuẩn này là khí do các quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác tạo ra.

o Tiêu chuẩn này áp dụng để kiểm soát nồng độ các chất hữu cơ trong thành
phần khí thải công nghiệp trước khi thải vào không khí xung quanh.

+ Giá trị giới hạn:

o Tên, công thức hoá học và giá trị giới hạn tối đa cho phép nồng độ của các chất
hữu cơ trong khí thải công nghiệp khi xả vào khí quyển được quy định trong
bảng 1 của tiêu chuẩn (109 chất).

o Ðối với khí thải của một số hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đặc thù, khi
thải vào khí quyển phải theo quy định ở các tiêu chuẩn riêng.

Trong công tác thanh tra, đánh giá ô nhiễm không khí và vi phạm trong việc xử lý khí thải của
các nhà máy, khu công nghiệp có thể dựa trên các phương pháp sau:

- Ðánh giá nhanh lượng khí thải của Tổ chức y tế thế giới (WHO), 1982 (rapid of sources of air,
water and land pollution): Dựa trên nhiên liệu đầu vào, công nghệ sử dụng ta có thể đánh giá
được tổng lượng ô nhiễm của khí thải, nước thải của nhà máy. Ðây là phương pháp định tính,
giúp thanh tra có thể đánh giá nhanh khả năng gây ô nhiễm của nhà máy và kết quả monitoring
của nhà máy đó đối với khí thải.

- Tuỳ từng loại hình công nghiệp mà tập trung đánh giá vào yếu tố gây ô nhiễm mang tính độc
hại, khó xử lý. Thí dụ:

+ Với công nghiệp xi măng cần lưu ý đến bụi, các khí độc hại như SOx, NOx,
CO...

+ Với hệ thống xử lý chất thải bằng lò đốt cần lưu ý nồng độ dioxin, furan, PCB
trong khí thải, ngoài ra còn thuỷ ngân (đối với lò đốt chất thải rắn y tế) hay một
số kim lọai nặng (đối với lò đốt chất thải rắn nguy hại).
Do vậy, trước khi thanh tra một nhà máy, cần nghiên cứu trước báo cáo ÐTM của nhà máy, biết
được tính đặc hiệu của nhiên liệu đầu vào, công nghệ sản xuất, ta có thể dự báo được loại hình
khí thải gì cần quan tâm đối với nhà máy đó.

4. Tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực tiếng ồn:

Ðến cuối năm 1996 mới chỉ ban hành 04 tiêu chuẩn âm học (có phụ lục kèm sau). Trong đó 02
tiêu chuẩn liên quan đến việc đo tiếng ồn (TCVN 5964-1995 và 5965-1995) và 02 tiêu chuẩn liên
quan đến khu dân cư và phương tiện giao thông đường bộ.

Trong quá trình thanh tra, Thanh tra viên chú ý đến 02 tiêu chuẩn về mức ồn tối đa cho phép đối
với phương tiện giao thông vận tải đường bộ (khi phối hợp với ngành giao thông vận tải tiến
hành thanh tra) và khu vực công cộng và dân cư (rất cần thiết trong việc thanh tra giải quyết
khiếu nại, tố cáo của nhân dân về lĩnh vực này). Cụ thể:

- TCVN 5948-1995 Â m học - Tiếng ồn phương tiện giao thông vận tải đường bộ - Mức ồn tối đa
cho phép:

+ Phạm vi áp dụng:

o Tiêu chuẩn này quy định mức ồn tối đa cho phép đối với các phương tiện giao
thông vận tải đường bộ khi vận hành, hoạt động.

o Tiêu chuẩn này áp dụng để kiểm soát mức ồn do các phương tiện đường bộ tạo
ra khi vận hành.

+ Giá trị giới hạn:

o Mọi loại phương tiện giao thông vận tải đường bộ (09 loại) khi vận hành không
được tạo ra mức ồn vượt quá giá trị giới hạn nêu trong bảng (tuỳ từng loại mà
mức ồn tối đa là từ 80 đến 90 dBA).

- TCVN 5948-1995 Â m học - Tiếng ồn khu vực công cộng và dân cư - Mức ồn tối đa cho phép:

+ Phạm vi áp dụng:

o Tiêu chuẩn này quy định mức ồn tối đa cho phép tại các khu công cộng và dân
cư. Tiếng ồn nói trong tiêu chuẩn này là tiếng ồn do hoạt động của con người
tạo ra, không phân biệt loại nguồn gây ồn.

o Tiêu chuẩn này áp dụng để kiểm soát mọi hoạt động có thể gây ra ồn trong khu
công cộng và dân cư. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho mức ồn bên trong các
cơ sở sản xuất công nghiệp và phương tiện giao thông đường bộ.

+ Giá trị giới hạn:

o Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt... có nguồn ồn không
được gây ra cho khu vực công cộng và dân cư mức ồn vượt quá giá trị giới hạn
tối đa cho phép nêu trong bảng. Trong đó chú ý khi áp dụng mục 4 - Khu sản
xuất mằm xen kẽ trong khu dân cư: Do phạm vi áp dụng là các khu công cộng
và dân cư, nên chỉ áp dụng mức này cho khu dân cư nằm trong các khu công
nghiệp (tức là khu vực sản xuất chiếm tỷ lệ lớn, còn khu dân cư chiếm tỷ lệ
nhỏ). Còn khu công cộng và dân cư là chính (chiếm tỷ lệ lớn) thì tuỳ tính chất
khu vực mà áp dụng các mức quy định tương ứng tại mục 1, 2và 3.

Uỷ ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền ban hành các tiêu chuẩn về môi trường để áp dụng trong
Tỉnh, song các tiêu chuẩn về môi trường của Tỉnh không được thấp hơn (không được dễ dàng
hơn) mức tiêu chuẩn của quốc gia. Do đó, Thanh tra Sở KH,CN&MT và các Thanh tra viên khi
tiến hành thanh tra trên địa bàn của tỉnh cũng cần căn cứ vào tiêu chuẩn về môi trường của
Tỉnh (nếu có) để làm căn cứ xem xét, kết luận thanh tra cho phù hợp.

Do điều kiện trang thiết bị thử nghiệm còn hạn chế, nên khi tiến hành đo đạc các chỉ số về môi
trường chưa áp dụng đúng các tiêu chuẩn Việt Nam bắt buộc áp dụng về phương pháp đo. Các
trung tâm dịch vụ KH,CN& MT, khi tiến hành đo đạc số liệu để lập báo cáo Ðánh giá tác động
môi trường, hay đo đạc phục vụ cho công tác thanh tra đều sử dụng phương pháp đo nhanh.
Trong các trường hợp trên cần có sự thoả thuận bằng văn bản với cơ quan quản lý nhà nước về
Bảo vệ môi trường và chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý bằng văn bản.

Trong thực tế, khi các cơ sở không có khả năng thực hiện đúng theo tiêu chuẩn quy định, phải
gia hạn và yêu cầu mức giảm thiểu ô nhiễm cho cơ sở theo từng thời gian cụ thể.




II.4- Các quy định về bảo vệ môi trường là cơ sở cho công tác Thanh tra:

Mục này nhằm đưa ra những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Những quy định
này sẽ trở thành cơ sở cho công tác thanh tra, đặc biệt là những quy định đã được xác định
thành hành vi để chịu trách nhiệm hành chính, hình sự. Tất nhiên, ở đây chỉ đưa ra những quy
định có tính chất yêu cầu cơ bản, không thể thống kê đầy đủ trên các lĩnh vực quản lý các thành
phần môi trường được, mà tập trung chủ yếu vào văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường.

II.4.1- Cơ sở nền tảng đầu tiên là Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn cụ
thể:

Phần này không trích dẫn cụ thể các Ðiều mà chỉ giới thiệu những nội dung chính mà các Ðiều
điều chỉnh để giúp cho Thanh tra viên biết là có quy định của pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực
mình đang tiến hành thanh tra. Khi biết Ðiều khoản cụ thể điều chỉnh lĩnh vực mình đang quan
tâm, thì xem cụ thể điều, khoản đó trong phụ lục kèm theo. Một số nội dung quan trọng, thường
được đề cập đến trong quá trình thanh tra hiện nay của ngành KH,CN&MT sẽ được trích dẫn cụ
thể, cần thiết có thể được giải thích thêm cho rõ điều khoản được trích.

- Luật Bảo vệ môi trường:

Cụ thể các quy định từ Ðiều 12 đến Ðiều 29 có nội dung điều chỉnh như sau:

+ Ðiều 12 đã quy định về việc bảo vệ giống, loài động, thực vật hoang dã, bảo vệ tính đa dạng
sinh học, bảo vệ rừng, biển, các hệ sinh thái.

Trong hoạt động thanh tra chú ý đến nội dung quy định của Ðiều này như sau:

"Việc khai thác các nguồn lợi sinh vật phải theo đúng thời vụ, địa bàn, phương pháp và bằng
công cụ, phương tiện đã được quy định, đảm bảo sự hồi phục về mật độ và giống, loài sinh vật,
không làm mất cân bằng sinh thái.
Việc khai thác rừng phải theo đúng quy hoạch và các quy định của Luật bảo vệ và Phát triển
rừng...."

+ Ðiều 13 đã quy định về việc sử dụng khai thác khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên
và đã được cụ thể tại Ðiều 21, Nghị định 175/CP như sau:

"Việc sử dụng, khai thác các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di tích lịch sử, văn
hoá, cảnh quan thiên nhiên... phải được phép của cơ quan quản lý ngành hữu quan. Trước khi
cấp giấy phép cơ quan ngành hữu quan phải được sự thoả thuận bằng văn bản của cơ quan
quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường.

Sau khi nhận được các thủ tục cho phép khai thác, sử dụng, tổ chức, cá nhân đứng tên trong
giấy phép tiến hành các thủ tục đăng ký với chính quyền địa phương, nơi trực tiếp quản lý các
khu bảo tồn trên.

Giấy phép cần ghi rõ các nội dung sau: đối tượng, phạm vi xin được sử dụng, mục đích và thời
gian khai thác, các giải pháp bảo vệ môi trường trong khi khai thác".

Trong hoạt động thanh tra chú ý các nội dung sau:

o Khi cấp phép có văn bản thoả thuận của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ
môi trường có thẩm quyền không;

o Việc đăng ký với chính quyền địa phương;
o Việc thực hiện theo nội dung giấy phép và đặc biệt là việc thực hiện các giải
pháp về bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động;

o Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có gì gây ô nhiễm, nguy cơ gây
suy thoái môi trường.

Ðiều 7, Nghị định 26/CP đã quy định trách nhiệm hành chính để chế tài cho quy định tại Ðiều
12, 13 và khoản 7 Ðiều 29 Luật Bảo vệ môi trường.

+ Ðiều 14 đã quy định về việc khai thác và sử dụng đất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản, trong sản xuất, kinh doanh và trong xây dựng các công trình.

Trong hoạt động thanh tra chú ý vào các nội dung sau:

"Việc khai thác đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất sử dụng vào mục đích nuôi tròng thuỷ sản
phải tuân theo quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch cải tạo đất, bảo đảm cân bằng sinh thái. Việc
sử dụng chất hoá học, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, các chế phẩm sinh học khác phải
tuân thủ theo quy định của pháp luật".

(Quy định cụ thể sẽ được các Bộ: Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành).

+ Ðiều 15 đã quy định: "Tổ chức, cá nhân phải bảo vệ nguồn nước, hệ thống cấp nước, thoát
nước, cây xanh, công trình vệ sinh, thực hiện các quy định về vệ sinh công cộng ở đô thị, nông
thôn, khu dân cư, khu du lịch, khu sản xuất".

(ở đây chủ yếu nêu trách nhiệm chung của các cơ quan, tổ chức, cá nhân)
+ Ðiều 16 đã quy định trách nhiệm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác
trong việc phòng, chống suy thoái, ô nhiễm, sự cố môi trường và xử lý các nguồn thải đảm bảo
tiêu chuẩn môi trường.

Ðiều này cùng với khoản 2, 3 Ðiều 29 đã nêu rõ trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh
trong quá trình hoạt động. Ðiều quan trọng nhất là phải xử lý các chất thải được sản sinh trong
quá trình hoạt động và chỉ được thải ra môi trường xung quanh khi đạt tiêu chuẩn môi trường
cho phép. Do đó, trong hoạt động thanh tra chú ý đến nồng độ các thành phần chất thải và tải
lượng thải từ các nguồn thải trước khi thải ra môi trường phải đạt tiêu chuẩn cho phép (các tiêu
chuẩn xem mục 3). Chế tài cho quy định này được đề cập đến tại Ðiều 9, Nghị định 26/CP (tuỳ
theo hành vi và mức độ vi phạm có thể bị phạt từ cảnh cáo, phạt tiền đến 50.000.000 đồng và
áp dụng hình thức phạt bổ sung - Tước quyền sử dụng đến 6 tháng giấy phép và biện pháp
khác - Buộc đình chỉ vi phạm, khắc phục hậu quả xấu và bồi thường thiệt hại).

+ Ðiều 17 đã quy định về việc lập Báo cáo ÐTM đối với các cơ sở đã hoạt động trước khi có
Luật Bảo vệ môi trường và Ðiều 18 đã quy định về việc lập Báo cáo ÐTM đối với các dự án đầu
tư.

Theo quy định trên thì tất cả các đối tượng đều phải lập Báo cáo ÐTM nộp cho cơ quan quản lý
Nhà nước về bảo vệ môi trường thẩm định. Các đối tượng phải lập báo cáo ÐTM đã được quy
định rõ tại Ðiều 9, Nghị định 175/CP. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn quản lý danh mục các loại
hình sản xuất, kinh doanh yêu cầu phải lập báo cáo ÐTM hoặc các dạng khác đơn giản hơn
(Bản kê khai các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường) đã
được hướng dẫn cụ thể tại các Thông tư của Bộ KH,CN&MT: Số 1420/MTg ngày 26/11/1994, số
715/MTg ngày 03/4/1995, số 1100/TT-MTg ngày 20/8/1997 và số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày
29/4/1998.

Theo Thông tư 490/1998/TT-BKHCNMT hiện hành, thì hiện chỉ quy định các dự án đầu tư thành
02 loại:

o Loại I: Bao gồm các dự án có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng,
dễ gây ra sự cố môi trường, khó khống chế và khó xác định tiêu chuẩn môi
trường (danh mục các dự án có phụ lục kèm sau) thì phải lập và trình thẩm định
báo cáo ÐTM. Các dự án loại này nếu đầu tư tại các khu công nghiệp/ khu chế
xuất, mà các khu này đã có báo cáo ÐTM được cấp có thẩm quyền phê chuẩn
thì sẽ được đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường như loại II.

o Loại II: Tất cả các dự án còn lại sẽ được thực hiện theo phương thức đăng ký
đạt tiêu chuẩn môi trường trên cơ sở tự xác lập và phân tích báo cáo ÐTM của
mình. Cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường (Cục Môi trường hoặc
Sở KH,CN&MT) sẽ xem xét và cấp Phiếu xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn
môi trường và giám sát việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

Tại Chương III (từ Ðiều 9 đến Ðiều 20) Nghị định 175 đã hướng dẫn việc thực hiện và quản lý
đối với việc lập và thẩm định Báo cáo ÐTM theo quy định của Ðiều 17 và Ðiều 18 này của Luật.

Nội dung báo cáo ÐTM sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt trở thành yêu cầu cơ bản có
tính pháp lý, làm cơ sở cho hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường đối với các chủ thể của
báo cáo ÐTM.

Trong công tác thanh tra cần chú ý sử dụng những nội dung của báo cáo ÐTM như sau:
o Cung cấp các thông tin quan trọng về hoạt động của cơ sở và những yêu cầu
cơ bản về bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động của cơ sở và hiện trạng
môi trường xung quanh trước khi cơ sở đi vào hoạt động;

o Xác định loại và số lượng nguyên, nhiên liệu đầu vào; các loại chất thải được
sản sinh trong quá trình hoạt động; nồng độ và lưu lượng thải; các thành phần
của chất thải, giới hạn tối đa cho phép (cột A hay B); các biện pháp xử lý chất
thải được yêu cầu là những biện pháp nào, sử dụng những công nghệ cụ thể
gì....

o Ðối với cơ sở đang hoạt động theo quy định của Ðiều 17 Luật bảo vệ môi
trường thì vấn đề đầu tiên là cần xem xét việc lập và trình báo cáo ÐTM (hoặc
bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường) cho cơ quan quản lý Nhà nước về bảo
vệ môi trường để phê duyệt. Nếu đã trình và đã được phê duyệt (hoặc xác
nhận) thì cần xem xét việc thực hiện theo yêu cầu phê duyệt; nếu chưa thì phải
xử lý theo Ðiều 6 Nghị định 26/CP.

Ðiều 6, Nghị định 26/CP đã quy định việc xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm về phòng
ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường để chế tài cho quy định tại Ðiều 17, 18 Luật Bảo vệ môi
trường. Nội dung của điều này tập trung vào việc xử phạt khi cơ sở không tuân thủ việc lập báo
cáo ÐTM hoặc dạng khác theo quy định (Bản kê khai các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường,
Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường), không tuân thủ các yêu cầu ghi tại phiếu thẩm định
(Quyết định phê duyệt) báo cáo ÐTM, giấy phép chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường. Theo
quy định của điều này, tuỳ theo hành vi và mức độ vi phạm mà có thể bị phạt cảnh cáo hoặc
phạt tiền đến 5.000.000 đồng và áp dụng các hình thức phạt bổ sung và biện pháp khác: Tước
quyền sử dụng đến 6 tháng giấy phép về môi trường và buộc chấm dứt vi phạm.

+ Ðiều 19 quy định: "Việc nhập khẩu, xuất khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, các chế phẩm
sinh học hoặc hoá học, các chất độc hại, chất phóng xạ, các loài động vật, thực vật, nguồn
gien, vi sinh vật liên quan tới bảo vệ môi trường phải được phép của cơ quan quản lý ngành hữu
quan và cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường".

Nghị định 175/CP đã hướng dẫn cụ thể một số nội dung liên quan đến quy định này tại Ðiều 23:
"Tổ chức, cá nhân khi xuất khẩu, nhập khẩu các loài động vật, thực vật (kể cả hạt giống), các
chủng vi sinh vật, các nguồn gien, đều phải được phép của cơ quan quản lý ngành hữu quan và
cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường và phải có phiếu kiểm dịch của cơ quan kiểm
dịch có thẩm quyền của Việt Nam... Ðối với các loài động vật, thực vật quý, hiếm theo "Công
ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng"
(CITES)" và Ðiều 24: "Tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu các hoá chất độc, hại, các chế
phẩm vi sinh vật cơ quan quản lý ngành hữu quan và cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường và phải tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam. Trong đơn cần ghi cụ
thể mục đích sử dụng, số lượng, đặc tính kỹ thuật, thành phần và công thức nếu có, tên thương
mại, hãng và nước sản xuất...".

Ðiều 10, Nghị định 26/CP đã quy định trách nhiệm hành chính để chế tài cho quy định tại Ðiều
19 và khoản 6, Ðiều 29 của Luật Bảo vệ môi trường. Trách nhiệm hành chính tại điều này chủ
yếu quy định việc "Vi phạm về giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu công nghệ, thiết bị toàn bộ,
thiết bị lẻ quan trọng, hoá chất độc hại, chế phẩm vi sinh vật có liên quan đến bảo vệ môi
trường". Tuỳ theo hành vi và mức độ vi phạm có thể bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến
30.000.000 đồng và các hình thức phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng đến 6 tháng giấy phép về
môi trường, tịch thu tang vật hoặc buộc tiêu huỷ khối lượng sai khác so với giấy PHÉP; BUỘC
TÁI XUẤT.... Ở MỨC ÐỘ NGHIÊM TRỌNG CÒN PHẢI BỊ TRÁCH NHIỆM hình sự theo quy định
tại Ðiều 185 - "Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm
bảo tiêu chuẩn môi trường" và Ðiều 190 - "Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang
dã quý, hiếm" của Bộ Luật hình sự (sửa đổi) công bố ngày 04/01/2000.

+ Ðiều 20 đã quy định: "Tổ chức, cá nhân khi tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế
biến, cất giữ các loại khoáng sản và các chế phẩm, kể cả nước ngầm phải áp dụng công nghệ
phù hợp, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo đảm tiêu chuẩn môi trường."

+ Ðiều 21 quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận
chuyển, chế biến, tàng trữ dầu khí.

Ðể hướng dẫn cụ thể quy định trên, ngày 10/4/1998, Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT đã có Quyết
định số 395/1998/QÐ-BKHCNMT ban hành "Quy chế bảo vệ môi trường trong việc tìm
kiếm, thăm dò phát triển mỏ, khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến dầu khí và các
dịch vụ liên quan". Khi tiến hành thanh tra các hoạt động liên quan trong lĩnh vực này cần
nghiên cứu cụ thể quy định của Quy chế này.

Ðiều 12, Nghị định 26/CP quy định trách nhiệm hành chính đối với hành vi "Vi phạm về phòng
tránh sự cố môi trường trong tìm kiếm, thăm do, khai thác, vận chuyển dầu khí" để chế tài cho
quy định tại Ðiều 21 này. Nếu vi phạm Ðiều này, tuỳ mức độ vi phạm có thể bị phạt tiền từ
2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khác: Buộc khắc phục hậu
quả; buộc bồi thường thiệt hại.

+ Ðiều 22 đã quy định: "Tổ chức, cá nhân có phương tiện giao thông vận tải đường thuỷ, đường
không, đường bộ, đường sắt phải tuân theo các tiêu chuẩn môi trường và chịu sự giám sát, kiểm
tra định kỳ về việc đảm bảo tiêu chuẩn môi trường của cơ quan quản lý ngành hữu quan và cơ
quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường; không cho lưu hành các phương tiện không đảm
bảo tiêu chuẩn môi trường đã được quy định".

Ðiều 26, Nghị định 175/CP đã hướng dẫn việc thực hiện Ðiều này của Luật, trong đó có quy
định " Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm tổ chức việc kiểm tra và cấp giấy phép về việc
đạt tiêu chuẩn môi trường đối với các phương tiện giao thông và vận tải". Theo quy định này thì
Bộ Giao thông vận tải vừa là cơ quan quản lý Nhà nước về ngành và vừa thực hiện trách nhiệm
quản lý Nhà nước quy định tại Ðiều 22 này của Luật. Hiện nay chỉ có tiêu chuẩn cho các
phương tiện giao thông vận tải đường bộ (TCVN 5948-1995). Thanh tra viên thuộc Thanh tra Sở
KH,CN&MT hiện nay thường tham gia phối hợp với Sở Giao thông vận tải hoặc Sở Giao thông
công chính (đóng vai trò chủ trì) khi tiến hành các hoạt động thanh tra về lĩnh vực này.

+ Ðiều 23 đã quy định: "Tổ chức, cá nhân sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng, cất giữ,
huỷ bỏ các chất độc hại, chất dễ gây cháy, nổ phải tuân theo quy định về an toàn cho người,
sinh vật, không gây suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường".

Việc huỷ bỏ các chất độc hại, chất dễ gây cháy nổ thường có quy trình được ban hành riêng (Ví
dụ: huỷ bỏ các thuốc bảo vệ thực vật quá hạn hoặc không trong danh mục được sử dụng... đã
có quy định quy trình tiêu huỷ: Quyết định số 1970/1999/QÐ-BKHCNMT ngày 10/11/1999 của
Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT về việc ban hành Quy trình công nghệ tiêu huỷ thuốc bảo vệ thực vật
Phốtpho hữu cơ tồn đọng cấm sử dụng; Quyết định số 1971/1999/QÐ-BKHCNMT ngày
10/11/1999 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT về việc ban hành Quy trình công nghệ tiêu huỷ hoặc
tái sử dụng Xyanua; Quyết định số 1972/1999/QÐ-BKHCNMT ngày 10/11/1999 của Bộ trưởng
Bộ KH,CN&MT về việc ban hành Quy trình công nghệ tiêu huỷ thuốc bảo vệ thực vật Clo hữu
cơ tồn đọng cấm sử dụng). Trên cơ sở các quy định nói trên, Thanh tra Sở KH,CN&MT tiến
hành thanh tra, giám sát việc tuân thủ các quy định.
+ Ðiều 24 quy định về bảo vệ môi trường trong các hoạt động liên quan đến phóng xạ (thiết kế ,
xây dựng, vận hành các nhà máy hạt nhân...) và Ðiều 25 quy định về bảo vệ môi trường trong
các hoạt động liên quan đến bức xạ điện từ, bức xạ I-on hoá.

Ngày 25/6/1996, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức
xạ để điều chỉnh chi tiết về lĩnh vực này. Chế tài cho quy định tại 02 điều này của Luật Bảo vệ
môi trường đã có quy định tại Nghị định 26/CP. Cụ thể tại các Ðiều 13 - "Vi phạm quy định của
cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với chất phóng xạ" và Ðiều 14 - "Vi phạm
quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường khi sử dụng nguồn phát bức xạ".
Theo quy định này, nếu vi phạm, tuỳ hành vi và mức độ vi phạm có thể bị phạt tiền từ 200.000
đồng đến 10.000.000 đồng và áp dụng các hình thức phạt bổ sung và biện pháp khác: Tước
quyền sử dụng đến 6 tháng giấy phép liên quan và buộc khắc phục hậu quả, buộc bồi thường
thiệt hại. Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn và kiểm soát bức xạ khi được ban
hành sẽ chi tiết các hành vi vi phạm cụ thể trong lĩnh vực này. Hiện nay, trong quá trình thanh
tra vẫn áp dụng 02 điều nêu trên của Nghị định 26/CP để xử lý các hành vi vi phạm các quy
định về lĩnh vực này của Luật bảo vệ môi trường.

+ Ðiều 26 quy định về bảo vệ môi trường đối với việc đặt các điểm tập trung, bãi chứa, nơi xử lý,
vận chuyển rác và chất gây ô nhiễm môi trường.

Ðể thực hiện quy định này của Luật, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 199-TTg ngày
03/4/1997 về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu
công nghiệp. Ngày 17/10/1997, liên Bộ Bộ KH,CN&MT và Bộ Xây dựng đã có Thông tư liên tịch
số 1590/1997/TTLT-BKHCNMT-BXD hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 199 nêu trên. Việc tiến hành
các hoạt động thanh tra theo nội dung quy định tại Thông tư liên tịch này. Ðể chế tài cho hành vi
vi phạm về vận chuyển và xử lý nước thải, rác thải, Nghị định 26/CP đã có quy định trách nhiệm
hành chính đối với hành vi này tại Ðiều 15. Theo quy định này, tuỳ theo mức độ vi phạm có thể
bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 8.000.000 đồng và áp dụng các hình thức phạt bổ sung và
các biện pháp khác: Tước quyền sử dụng đến 6 tháng giấy phép môi trường; buộc khắc phục và
bồi thường thiệt hại do vi phạm gây ra.

+ Ðiều 27 quy định về bảo vệ môi trường trong việc an táng, quàn, ướp, chôn, hoả táng, di
chuyển thi hài, hài cốt.

+ Ðiều 28 quy định về bảo vệ môi trường trong các hoạt động gây tiếng ồn, độ rung.

(Liên quan đến việc cấm pháo theo quy định trên đã được Chính phủ quy định tại Ðiều 29, Nghị
định 175/CP: "Bắt đầu từ ngày 01/01/1995, nghiêm cấm việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán,
tàng trữ và sử dụng tất cả các loại pháo trên toàn lãnh thổ Việt Nam").

Tiêu chuẩn quy định mức ồn tối đa cho phép tại các khu vực công cộng và dân cư được thực
hiện theo quy định tại tiêu chuẩn TCVN 5949-1995. Khi tiến hành thanh tra, đặc biệt là việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân thì áp dụng theo tiêu chuẩn này.

+ Ðiều 29 đã quy định 7 hành vi bị nghiêm cấm:

"1. Ðốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi gây huỷ hoại môi
trường, làm mất cân bằng sinh thái;

2. Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí, phát bức xạ,
phóng xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh;
3. Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các
chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại, gây dịch bệnh
vào nguồn nước;

4. Chôn vùi, thải các chất độc hại quá giới hạn cho phép vào đất;

5. Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý, hiếm;

6. Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; Xuất
khẩu, nhập khẩu chất thải;

7.Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong
khai thác, đánh bắt các nguồn động vật, thực vật."

Nghị định 26/CP cũng đã có quy định trách nhiệm hành chính cho các hành vi nêu trên cụ thể tại
các Ðiều: Ðiều 7 chế tài cho khoản 7; Ðiều 8 chế tài cho khoản 5; Ðiều 9 chế tài cho khoản 2,3;
Ðiều 10 và 11 chế tài cho khoản 6; Ðiều 16 chế tài cho khoản 4.

Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện ra các hành vi nêu trên thì lập biên bản vi phạm xử lý
theo các điều khoản tương ứng của Nghị định 26/CP; tuỳ mức độ vi phạm mà áp dụng mức xử
phạt cho phù hợp. Chú ý, trong mọi trường hợp đều phải đình chỉ ngay hành vi vi phạm và có
biện pháp thực hiện ngay việc đình chỉ này. Không được phạt cho tồn tại.

- Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994:

Tại các điều 8, 9, 21, 23, 24, 26, 27, 28, 29 đã hướng dẫn cụ thể một số điều, khoản của Luật
Bảo vệ môi trường, như: Ðiều 13, 16, 19, 22, 28 và khoản 6 Ðiều 29. Các nội dung hướng dẫn
tập trung vào các vấn đề cụ thể như sau:

+ Tại Ðiều 8 và 9 đã hướng dẫn rõ trách nhiệm của các tổ chức sản xuất, kinh doanh, chủ đầu
tư trong việc lập báo cáo ÐTM, đóng góp tài chính vào bảo vệ môi trường, bồi thường thiệt hại
về môi trường theo quy định; chấp hành các yêu cầu về thanh tra, kiểm tra, chế độ báo cáo với
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức về bảo
vệ môi trường cho cán bộ, công nhân viên.

+ Các điều khác đã nêu cụ thể trong các điều, khoản nêu trên của Luật Bảo vệ môi trường.

- Nghị định 26/ CP ngày 26/4/1996:

Quy định trách nhiệm hành chính đối với một số hành vi vi phạm các quy định của Luật Bảo vệ
môi trường (từ Ðiều 6 đến Ðiều 19). Các điều khoản chế tài cụ thể cũng đã được đề cập tại các
điều, khoản của Luật Bảo vệ môi trường nêu ở phần trên. Tuy nhiên, trong phần này vẫn hệ
thống lại theo trình tự các điều để Thanh tra viên dễ tìm khi cần áp dụng. Cụ thể:

+ Ðiều 6 quy định xử phạt hành vi vi phạm về phòng ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường. Nội
dung của điều này tập trung vào việc xử phạt khi cơ sở không tuân thủ việc lập báo cáo đánh
giá tác động môi trường (ÐTM), không tuân thủ các yêu cầu trong Quyết định phê duyệt báo cáo
ÐTM, giấy phép môi trường (chế tài cho quy định tại Ðiều 17, 18 Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðiều 7 quy định xử phạt hành vi vi phạm về bảo vệ đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên
(chế tài cho quy định tại Ðiều 12, 13 và khoản 7, Ðiều 29 Luật Bảo vệ môi trường và Ðiều 21,
Nghị định 175/CP).
+ Ðiều 8 quy định xử phạt hành vi vi phạm về khai thác, kinh doanh động, thực vật quý, hiếm
thuộc danh mục do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ thuỷ sản công bố (chế tài cho
quy định tại khoản 5, Ðiều 29 Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðiều 9 quy định xử phạt hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh, bệnh viện, khách sạn , nhà hàng (chế tài cho quy định tại Ðiều 16, khoản 2,3, Ðiều 29
Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðiều 10 quy định xử phạt hành vi vi phạm về giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu công nghệ, thiết
bị toàn bộ, thiết bị lẻ quan trọng, hoá chất độc hại, chế phẩm vi sinh vật có liên quan tới bảo vệ
môi trường (chế tài cho quy định tại Ðiều 19, khoản 6, Ðiều 29 Luật Bảo vệ môi trường và điều
23, 24 Nghị định 175/CP).

+ Ðiều 11 quy định xử phạt hành vi vi phạm về nhập khẩu, xuất khẩu chất thải (chế tài cho quy
định tại khoản 6, Ðiều 29 Luật Bảo vệ môi trường và Ðiều 28, Nghị định 175/CP).

+ Ðiều 12 quy định xử phạt hành vi vi phạm về phòng tránh sự cố môi trường trong tìm kếm,
thăm dò, khai thác, vận chuyển, tàng trữ dầu khí (chế tài cho quy định tại Ðiều 21 Luật Bảo vệ
môi trường).

+ Ðiều 13 quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường đối với chất phóng xạ (chế tài cho quy định tại Ðiều 19, 24 Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðiều 14 quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường khi sử dụng nguồn phát bức xạ (chế tài cho quy định tại Ðiều 25 Luật Bảo vệ môi
trường).

+ Ðiều 15 quy định xử phạt hành vi vi phạm về vận chuyển và xử lý nước thải, rác thải (chế tài
cho quy định tại Ðiều 26 Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðiều 16 quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về ô nhiễm đất (chế tài cho quy định tại
khoản 4, Ðiều 29 Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðiều 17 quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về tiếng ồn, độ rung quá giới hạn cho phép
làm tổn hại sức khoẻ và ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân (chế tài cho quy định tại Ðiều
28 Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðiều 18 quy định xử phạt hành vi vi phạm trong việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán, nhập
khẩu, tàng trữ pháo, thuốc pháo và đốt pháo hoa (chế tài cho quy định tại Ðiều 28, Luật Bảo vệ
môi trường và Ðiều 29 Nghị định 175/CP).

+ Ðiều 19 quy định xử phạt hành vi vi phạm trong việc khắc phục sự cố môi trường (chế tài cho
quy định từ Ðiều 30 đến Ðiều 36 Luật Bảo vệ môi trường).

- Quyết định số 2920-QÐ/MTg ngày 21/12/1996 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT công bố 97
TCVN về môi trường đã được Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT ban hành là tiêu chuẩn về môi trường
bắt buộc áp dụng. Hiện nay, các tiêu chuẩn này là cơ sở để thanh tra và giải quyết khiếu nại về
môi trường. Tổ chức, cá nhân người Việt nam; tổ chức, cá nhân người nước ngoài có trách
nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn có liên quan nêu tại Quyết định số 2920-QÐ/MTg trong việc xây
dựng dự án và triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam. Riêng một số tiêu chuẩn về nồng độ bụi và nồng độ hơi khí độc trong khu vực
sản xuất, áp dụng theo tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 505 BYT/QÐ ngày 13/4/1992 của
Bộ Y tế (xem mục II.3).
- Thông tư số 2781-TT/KCM ngày 03/12/1996 của Bộ KH,CN&MT Hướng dẫn về thủ tục cấp,
gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường (Giấy phép về môi trường) cho các
cơ sở công nghiệp. Trong quá trình thanh tra chú ý về việc thực hiện các quy định về điều kiện
và nội dung của Giấy phép về môi trường, thời hạn của Giấy phép...

- Ngoài ra, tại một số tỉnh/thành phố đã ban hành Quy chế về bảo vệ môi trường tại địa phương
mình, nhằm hướng dẫn và cụ thể hoá các quy định của Luật Bảo vệ môi trường tại địa phương.
Quy chế này cũng là một trong các cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường
trên địa bàn của tỉnh. Thanh tra viên cần lưu ý khi tiến hành hoạt động thanh tra của mình.

II.4.2- Các văn bản quy phạm pháp luật khác:

Mục này chủ yếu giới thiệu để các Thanh tra viên biết, ngoài quy định của Luật Bảo vệ môi
trường, còn có các văn bản pháp luật khác điều chỉnh cụ thể một số lĩnh vực liên quan đến việc
sử dụng một số thành phần môi trường và liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước của
ngành khác. Tuy nhiên tại phần này, cần quan tâm đến việc có những nội dung có tính chất là
yêu cầu để làm cơ sở cho hoạt động thanh tra. Khi tiến hành hoạt động thanh tra gặp nội dung
liên quan đến những lĩnh vực này, thì biết có văn bản điều chỉnh cụ thể hơn và có định hướng
trong việc tìm cơ sở pháp lý cụ thể để áp dụng hoặc chủ động trong việc phối hợp với cơ quan
có chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực cụ thể liên quan. Làm như vậy sẽ đảm bảo tuân thủ
đúng pháp luật và thực hiện tốt vai trò hỗ trợ cho cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường tăng cường hiệu lực của pháp luật. Do đó, mục này sẽ không đi vào giới thiệu cụ thể các
điều khoản, mà chỉ nêu tổng quan nội dung điều chỉnh chính của mỗi văn bản. Tại Luật Khoáng
sản sẽ ví dụ cụ thể một điều liên quan đến bảo vệ môi trường. Cụ thể:

- Luật Khoáng sản ngày 20/3/1996 Quy định trách nhiệm trong việc bảo vệ, sử dụng có hiệu
quả mọi tài nguyên khoáng sản của đất nước; khuyến khích phát triển công nghiệp khai thác và
chế biến khoáng sản; bảo vệ môi trường, môi sinh và an toàn lao động trong hoạt động khoáng
sản.

Về bảo vệ môi trường đã được quy định cụ thể tại Ðiều 16:

"Bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản:

1. Tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu
và thực hiện các quy định khác của Luật Bảo vệ môi trường để hạn chế tối đa tác động xấu đến
các thành phần môi trường, thực hiện việc phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai sau khi kết
thúc từng giai đoạn hoặc toàn bộ hoạt động khai thác khoáng sản.

2. Tổ chức, cá nhân được phép hoạt động khoáng sản phải chịu mọi chi phí bảo vệ phục hồi
môi trường, môi sinh và đất đai. Chi phí bảo vệ, phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai phải
được xác định trong báo cáo ÐTM báo cáo nghiên cứu khả thi về khai thác, chế biến khoáng
sản hoặc đề án thăm dò khoáng sản. Tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản phải
ký quỹ tại một ngân hàng Việt Nam hoặc Ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt
Nam để đảm bảo cho việc phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai."

- Luật Ðất đai (ngày 14/7/1993 và được sửa đổi, bổ sung ngày 11/12/1998): Ðề cập đến việc
quản lý và sử dụng đất đai, một thành phần quan trọng của môi trường. Liên quan đến bảo vệ
môi trường có các Ðiều: 4, 5, 66, 79.

- Luật Tài nguyên nước (ngày 20/5/1998): Có nội dung đề cập đến việc bảo vệ, khai thác, sử
dụng tài nguyên nước, thành phần thiết yếu của môi trường và sự sống; phòng, chống và khắc
phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Liên quan đến bảo vệ môi trường tập trung vào các
chương: II (Bảo vệ tài nguyên nước), III (Khai thác, sử dụng tài nguyên nước) và chương IV
(Phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại khác do nước gây ra).

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng (ngày 19/8/1991): Quy định đến việc quản lý, khai thác, phát
triển và bảo vệ môi trường sinh thái rừng. Liên quan về bảo vệ môi trường tại các chương: III
(Bảo vệ rừng, từ Ðiều 18 đến Ðiều 25) và IV (Phát triển rừng, sử dụng rừng và đất trồng rừng).

- Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (ngày 11/7/1989): Có nội dung liên quan đến quản lý hoá chất,
quản lý chất thải công nghiệp, sinh hoạt, vệ sinh công cộng, vệ sinh trong quàn, ướp, chôn, hoả
táng, di chuyển thi hài, hài cốt. Liên quan đến bảo vệ môi trường tại chương II (Vệ sinh trong
sinh hoạt và lao động; vệ sinh công cộng và chống dịch bệnh, từ Ðiều 6 đến Ðiều 18).

- Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản (ngày 5/5/1989): đề cập đến việc bảo vệ
sinh vật, quần thể, quần xã và môi trường vùng nước nơi sinh vật sống. Liên quan đến bảo vệ
môi trường chủ yếu tại Ðiều 5 và từ Ðiều 8 đến Ðiều 12 (Chương II - Bảo vệ và phát triển nguồn
lợi thuỷ sản)

- Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (ngày 15/2/1993): Ðề cập đến việc quản lý, bảo vệ
môi trường sinh thái của tài nguyên thực vật (Ðiều 7, 12 và 28).

- Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ (ngày 25/6/1996): Quy định về an toàn và kiểm soát
bức xạ. Liên quan về bảo vệ môi trường chủ yếu tại chương II (Bảm bảo an toàn bức xạ, từ
Ðiều 10 đến Ðiều 14).

- Bộ luật Lao động (ngày 5/7/1994): Có nội dung đề cập đến bảo vệ môi trường lao động
(Chương IX: An toàn lao động, vệ sinh lao động. Ðặc biệt tại Ðiều 97).

II.5- Quyết định Thanh tra:

Quyết định thanh tra là cơ sở pháp lý để cho Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thực hiện hoạt
động thanh tra tại cơ sở là đối tượng thanh tra. Mục này chủ yếu giới thiệu những căn cứ chủ
yếu để làm cơ sở ra quyết định thanh tra và thẩm quyền ra quyết định thanh tra. Hình thức và
yêu cầu những nội dung cơ bản của Quyết định thanh tra đã được quy định trong mẫu văn bản
ban hành theo Quyết định số 1410/2000/QÐ-BKHCNMT ngày 07/8/2000 của Bộ trưởng Bộ
KH,CN&MT (mẫu số 1 - có phụ lục kèm sau).

- Những căn cứ cơ bản để làm cơ sở cho cấp có thẩm quyền ra quyết định thanh tra đã được
quy định tại Ðiều 29, Pháp lệnh Thanh tra. Nội dung của Ðiều này như sau:

" 1. Quyết định thanh tra dựa vào những căn cứ sau đây:

a. Chương trình, kế hoạch thanh tra được lập ra theo yêu cầu của công tác quản
lý của cơ quan Nhà nước;
b. Yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền của cơ quan
Nhà nước, tổ chức thanh tra;
c. Những vụ, việc được thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước, thủ trưởng tổ chức
thanh tra cấp trên giao;
d. Do tổ chức thanh tra tự phát hiện có vi phạm pháp luật trong phạm vi trách
nhiệm của mình.

2. Thủ trưởng cơ quan Nhà nước, thủ trưởng các tổ chức thanh tra có quyền ra quyết định thanh
tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thẩm quyền được pháp luật quy định (thẩm quyền ra
quyết định thanh tra về bảo vệ môi trường sẽ được cụ thể phần dưới).
Quyết định thanh tra phải ghi rõ nội dung, thời hạn thanh tra; đối với vụ việc có tình tiết phức tạp
thì kiến nghị cấp có thẩm quyền gia hạn. Thời hạn thanh tra và thẩm quyền gia hạn của từng
cấp do Hội đồng Bộ trưởng quy định (nay là Chính phủ).

3. Quyết định thanh tra do Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thực hiện."

- Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, tại Ðiều 38 - Quy định về cơ quan quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường, Ðiều 40 - Quy định về cơ quan có chức năng thanh tra chuyên
ngành về bảo vệ môi trường và đã cụ thể tại điểm 3.3, Thông tư 1485/MTg ngày 12/12/1994 của
Bộ KH,CN&MT, quy định thẩm quyền ra quyết định thanh tra về bảo vệ môi trường như sau:

"3.3.1. Cục trưởng, Chánh Thanh tra Cục Môi trường, Giám đốc, Chánh Thanh tra Sở
KH,CN&MT có quyền ra quyết định thanh tra về bảo vệ môi trường theo sự phân cấp của Bộ
trưởng Bộ KH,CN&MT.

3.3.2. Quyết định thanh tra về bảo vệ môi trường phải ghi rõ nội dung, thời hạn, phương thức
thanh tra và do đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thực hiện.

3.3.3. Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT quy định thời hạn và nội dung thanh tra định kỳ đối với từng
loại cơ sở sản xuất, kinh doanh khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng."
(Hiện nay chưa ban hành quy định này).

Những căn cứ để các cấp có thẩm quyền nêu trên ra quyết định thanh tra trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường, chủ yếu vẫn dựa trên các căn cứ quy định tại Ðiều 29, Pháp lệnh Thanh tra.

- Thẩm quyền ra quyết định thanh tra tại các Sở KH,CN&MT được cụ thể trong các trường hợp
sau:

+ Trên cơ sở kế hoạch đã được Giám đốc Sở phê duyệt sau khi có ý kiến thống nhất với Chánh
Thanh tra Bộ KH,CN&MT, Giám đốc Sở hoặc Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT ra quyết định
thanh tra định kỳ. (Việc thanh tra định kỳ đối với các doanh nghiệp phải tuân theo quy định của
Nghị định 61/NÐ-CP, tức là không tiến hành thanh tra đối với một cơ sở quá 01 lần/năm về cùng
một nội dung. Do đó, phải thống nhất kế hoạch với Chánh Thanh tra Bộ KH,CN&MT để không
trùng lặp, chồng chéo với kế hoạch thanh tra của Thanh tra Bộ KH,CN&MT và Thanh tra Cục
Môi trường với Thanh tra Sở KH,CN&MT trong hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường trên
địa bàn của tỉnh).

+ Trên cơ sở yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Giám đốc Sở, trên cơ
sở vụ, việc được Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND tỉnh, Thanh tra tỉnh, Thanh tra Bộ KH,CN&MT,
Cục Môi trường, Giám đốc Sở hoặc Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT ra quyết định thanh tra
định kỳ (nếu có nội dung và đối tượng phù hợp với kế hoạch được duyệt) hoặc đột xuất.

+ Khi phát hiện có sự vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT
báo cáo Giám đốc Sở rồi ra quyết định thanh tra đột xuất hoặc đề nghị Giám đốc Sở ra quyết
định thanh tra đột xuất.

Cấp có thẩm quyền nêu trên, nếu xét thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì có thể ra quyết
định thanh tra theo hình thức thanh tra đột xuất để kịp thời ngăn chặn việc vi phạm pháp luật
của đối tượng thanh tra. Do đó, hình thức thanh tra đột xuất này có thể tiến hành bất cứ thời
gian nào và không hạn chế số lần trong năm đối với một cơ sở (nếu cơ sở đó vẫn cố tình vi
phạm pháp luật).
Thanh tra Sở giúp Giám đốc Sở lựa chọn vấn đề thanh tra (mục dích, nội dung, đối tượng thanh
tra) và chọn thành viên đoàn thanh tra.

Trước khi tiến hành thanh tra trưởng đoàn thanh tra cần thu thập các thông tin về đối tượng
thanh tra, xây dựng đề cương nội dung thanh tra và thống nhất với đoàn thanh tra. Ðối với hình
thức thanh tra theo định kỳ phải gửi quyết định thanh tra cho đối tượng thanh tra trước 07 ngày;
đối với chế độ thanh tra đột xuất, quyết định thanh tra không buộc phải gửi trước cho đối tượng
thanh tra (Quyết định thanh tra được xuất trình cho cơ sở khi tiến hành thanh tra).

Theo quy định trên, Thanh tra viên chỉ là người thực hiện Quyết định thanh tra của cấp có thẩm
quyền, không phải là người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra. Nhưng Thanh tra viên lại có
vai trò rất quan trọng, vì là người có thể phát hiện vấn đề (nội dung thanh tra, đối tượng thanh
tra và thời gian tiến hành thanh tra cụ thể) để đề xuất với người có thẩm quyền ra quyết định
thanh tra. Do đó, Thanh tra viên không cần đi sâu, nhưng cũng cần phải biết các căn cứ và thẩm
quyền ra quyết định để đề xuất cho phù hợp.

II.6- Các quy định về cưỡng chế trong hoạt động thanh tra:

II.6.1- Thẩm quyền cưỡng chế thực hiện các yêu cầu thanh tra:

Mục này chủ yếu giới thiệu các quy định của pháp luật về thẩm quyền cưỡng chế thực hiện các
yêu cầu, quyết định xử lý trong hoạt động thanh tra nhằm đảm bảo hiệu lực của công tác thanh
tra. Cụ thể:

- Theo quy định tại khoản 3, Ðiều 24 và khoản 2, Ðiều 31 Pháp lệnh Thanh tra về quyền hạn
của Thanh tra viên và Ðoàn thanh tra khi thanh tra như sau:

+ Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, và 8 - Ðiều 9 Pháp lệnh
Thanh tra (nội dung cụ thể các quyền này xem tại mục II.1.1);

+ Tạm đình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, đồng thời
báo cáo ngay cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết ở đây trước hết phải là cơ quan ra quyết định thanh tra để
xem xét giải quyết tiếp theo. Trên cơ sở báo cáo này của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên,
Cơ quan ra quyết định thanh tra xem xét cụ thể, nếu thấy "Việc làm" bị đình chỉ thuộc cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong quyền quản lý thực tiếp của mình thì sẽ ra quyết định giải quyết tiếp.
Nếu không thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình thì xem xét cụ thể thuộc thẩm quyền
quản lý của cơ quan, tổ chức nào hoặc thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của cơ quan, tổ chức
nào (Cơ quan cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có "việc làm" bị đình
chỉ), để có hướng phối hợp giải quyết cụ thể.

+ Trường hợp cần thiết được áp dụng quy định tại khoản 6, 7 - Ðiều 9 Pháp
lệnh Thanh tra và phải báo cáo ngay với người ra quyết định thanh tra (xem cụ
thể nội dung quyền này tại mục II.1.1).

- Tổ chức Thanh tra Nhà nước có các quyền quy định tại Ðiều 8 và Ðiều 9 Pháp lệnh Thanh tra
(xem mục II.1.1).

Thanh tra Nhà nước đã có Thông tư 01- TT/ TTr ngày 20/8/1992 hướng dẫn cụ thể thực hiện các
quyền hạn của Tổ chức thanh tra Nhà nước, của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên (xem phụ
lục kèm theo). Trong Thông tư này đã quy định cụ thể thứ tự và biện pháp đảm bảo thực hiện
các quyền của tổ chức Thanh tra Nhà nước (trong đó có Thanh tra Sở KH,CN&MT) và các
Thanh tra viên. Các biện pháp đảm bảo quyền hạn được thực thi cũng xem là biện pháp cưỡng
chế về công tác thanh tra.

- Nghị định 244/ HÐBT ngày 30/6/1990, tại Ðiều 8 quy định những biện pháp bảo đảm việc thực
hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra:

"1. Yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra phải ghi rõ nội dung, thời
gian, đối tượng thực hiện; phải được công bố công khai với đối tượng thanh tra
và cơ quan, tổ chức hữu quan; cơ quan, tổ chức đã ra quyết định thanh tra có
trách nhiệm giám sát, kiểm tra việc thực hiện hoặc uỷ nhiệm cho tổ chức thanh
tra nơi có đối tượng thanh tra thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về
thanh tra".

"2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận được yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý
về thanh tra phải thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh Thanh tra và
Nghị định này.

Nếu không thực hiện thì người đã có yêu cầu, kiến nghị, quyết định đó phải áp
dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân
nói trên phải thực hiện".

+ Các biện pháp cần thiết ở đây áp dụng đối với đối tượng thanh tra là: Lập Biên
bản vi phạm hành chính theo điểm c, khoản 2, Ðiều 6 Nghị định 26/CP (cản trở
công tác thanh tra về bảo vệ môi trường do cơ quan quản lý Nhà nước về bảo
vệ môi trường tiến hành) và chuyển hồ sơ vi phạm cho Chánh Thanh tra Sở để
ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với đối tượng thanh tra. Nếu tiếp
tục không thực hiện các yêu cầu, quyết định thanh tra thì có công văn thông báo
cho cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của đối tượng thanh tra (việc cưỡng chế
thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đề cập ở phần dưới mục
này).

"3. Trường hợp người có yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra đã áp
dụng các biện pháp cần thiết mà cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan vẫn
không thực hiện thì thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân nói tại khoản 2 điều này phải áp dụng các biện pháp cần thiết
theo thẩm quyền buộc họ phải thực hiện.

Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân nói tại khoản 2 điều này cố ý không thực hiện
hoặc thủ trưởng cấp trên quản lý trực tiếp của họ thiếu trách nhiệm hoặc cố
tình bao che thì tuỳ tính chất và mức độ nặng hoặc nhẹ của sai phạm mà bị xử
lý kỷ luật, nếu gây thiệt hại buộc phải bồi thường, trường hợp nghiêm trọng sẽ
bị truy cứu trách nhiệm theo Bộ luật hình sự."

+ Trong trường hợp thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp không thực
hiện hoặc cố tình bao che cho cấp dưới thì kiến nghị cơ quan chủ quản của cấp
đó để xem xét và xử lý theo thẩm quyền. Trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng
thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hình sự xem xét xử lý theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tại Ðiều 41, Luật Bảo vệ môi trường đã quy định quyền hạn của Thanh tra viên hoặc Ðoàn
thanh tra về bảo vệ môi trường trong quá trình thanh tra (xem cụ thể tại mục II.1.3).
- Ðiều 20, Nghị định 26/CP đã cụ thể về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường cho Thanh tra viên và Chánh thanh tra chuyên ngành KH,CN&MT. Theo quy
định này, Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT và các Thanh tra viên được quyền xử phạt các vi
phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với các hành vi vi phạm được quy định tại chương II
(từ Ðiều 6 đến Ðiều 19) của Nghị định 26. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được thực
hiện theo khoản 1, 2 Ðiều 34, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, mà cụ thể trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường là khoản 1, 2 Ðiều 20 của Nghị định 26/CP (xem cụ thể tại mục II.1.2).

Từ khi có Nghị định 26/CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, thì biện
pháp xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp chế tài thường xuyên, dễ áp dụng để buộc cơ sở
thực hiện các yêu cầu về quản lý theo quy định của pháp luật.

Việc thực hiện quyền xử phạt vi phạm hành chính thường tiến hành như sau:

+ Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, người có
thẩm quyền xử phạt yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, nói rõ cho tổ chức, cá
nhân vi phạm biết rõ điều khoản pháp luật mà họ đã vi phạm, mức độ vi phạm,
đồng thời lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Ðiều 47 Pháp lệnh
Xử lý vi phạm hành chính (Trừ trường hợp xử lý vi phạm hành chính bằng hình
thức cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000 đồng thì người có thẩm quyền xử lý phải ra
quyết định xử phạt tại chỗ theo thủ tục đơng giản quy định tại Ðiều 46 Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính).

+ Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt
(Thanh tra viên - nếu mức phạt không lớn hơn 200.00 đồng hoặc Chánh Thanh
tra Sở KH,CN&MT - nếu mức phạt không lớn hơn 10.000.000 đồng; trường hợp
mức phạt lớn hơn 10.000.000 đồng thì báo cáo Giám đốc Sở để lập hồ sơ trình
Chủ tịch UBND tỉnh quyết định) phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
đồng thời gửi cho tổ chức, cá nhân bị phạt và các cơ quan có liên quan. Trong
thời hạn 05 ngày kể từ ngày tổ chức, cá nhân nhận được quyết định xử phạt mà
tổ chức, cá nhân không tự giác chấp hành thì người ra quyết định xử phạt tổ
chức cưỡng chế theo quy định tại Ðiều 55 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
(nội dung cụ thể Ðiều 55 nêu ở phần dưới).

+ Tiền phạt được nộp vào kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan được uỷ nhiệm thu
tiền phạt và được sử dụng theo quy định tại khoản 6, mục B của Thông tư số
52/TC-CSTC ngày 12/9/1996 của Bộ Tài chính - Hướng dẫn việc thu và sử dụng
tiền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính.

- Không xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, sự kiện bất
ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (Khoản 6 điều 3, Pháp lệnh Xử lý vi
phạm hành chính và khoản 6 điều 1, Nghị định 26/ CP).

- Ngoài việc áp dụng hình thức xử phạt chính đối với hành vi vi phạm hành chính, Chánh Thanh
tra Sở KH,CN&MT còn có quyền xử phạt bổ sung và các biện pháp khác để cưỡng chế việc
thực hiện các yêu cầu cần thiết theo quy định của pháp luật đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh
như sau:

+ Xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép về môi trường do Sở KH,CN&MT cấp; tịch
thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;

+ Các biện pháp khác: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành
chính gây ra; buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra (đến 1.000.000 đồng);
buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh
do vi phạm hành chính gây ra; buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người (quy
định tại điều 14, 15, 16, 17, 18, 19 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính; khoản 4 điều 6, khoản 4
điều 7, khoản 4 điều 8, khoản 8 điều 9, khoản 4 điều 10, khoản 4 điều 11, khoản 5 điều 12,
khoản 4 điều 13, khoản 3 điều 14, khoản 4 điều 15, khoản 3 điều 16, khoản 3 điều 17, khoản 4
điều 18 và khoản 3 điều 19 Nghị định 26/ CP ngày 26/4/1996 của Chính phủ).

- Ngoài việc áp dụng hình thức xử phạt chính đối với hành vi vi phạm hành chính, Thanh tra viên
Sở KH,CN&MT còn có quyền xử phạt bổ sung và các biện pháp khác để cưỡng chế việc thực
hiện các yêu cầu cần thiết theo quy định của pháp luật đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh như
sau:

+ Xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để gây ô nhiễm môi trường có
giá trị đến 500.000 đồng;

+ Các biện pháp khác: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành
chính gây ra; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây
lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra; buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con
người và môi trường sống tại các quy định nêu tại phần trên.

- Trong trường hợp xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì Chánh Thanh tra Sở
KH,CN&MT phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan hình sự có thẩm quyền giải quyết. Nghiêm
cấm việc giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý hành chính (Ðiều 53 Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính và khoản 5 điều 4 Nghị định 26/ CP) (xem mục II.9).

- Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định
tại Ðiều 55, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính:

"1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính mà không tự nguyện chấp hành quyết định
xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp sau đây:

a, Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản Ngân hàng;

b, Kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c, áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt.

2. Người có thẩm quyền xử phạt có quyền ra quyết định cưỡng chế và có nhiệm vụ tổ chức việc
cưỡng chế.

3. Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm thi hành quyết định cưỡng chế của UBND cùng
cấp và phải phối hợp với các cơ quan nhà nước khác tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế
cuả các cơ quan đó khi được yêu cầu.

4. Tổ chức, cá nhân bị cưỡng chế phải chịu mọi chi phí về việc tổ chức thực hiện các biện pháp
cưỡng chế.

5. Thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Ðiều này và cưỡng chế thực
hiện các hình thức xử phạt bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm do Chính phủ
quy định."

Theo quy định này thì Thanh tra viên và Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT phải ra quyết định
cưỡng chế việc thực hiện quyết định xử phạt của mình. Hình thức và nội dung của Quyết định
áp dụng biện pháp cưỡng chế được quy định trong Quyết định 1410/2000/QÐ-BKHCNMT ngày
07/8/2000 của Bộ TRƯỞNG BỘ KH,CN&MT (MẪU SỐ 6 - CÓ PHỤ LỤC KÈM SAU). ÁP DỤNG
CÁC BIỆN PHÁP cưỡng chế đối với doanh nghiệp có tài khoản tại Ngân hàng thì thường sử
dụng biện pháp "khấu trừ tiền từ tài khoản Ngân hàng"; đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh
không có tài khoản tại Ngân hàng thì thường phải sử dụng biện pháp "Kê biên phần tài sản có
giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá". Khi thực hiện biện pháp "kê biên phần tài
sản", cần có liên hệ trước với chính quyền địa phương nơi cơ sở bị cưỡng chế đặt trụ sở chính
và phối hợp với cơ quan cảnh sát địa phương nơi đóng trụ sở của cơ sở bị cưỡng chế (khi cần
thiết có thể mời cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp để họ giám sát thực hiện pháp luật
theo chức năng).

II.6.2 - Thẩm quyền đình chỉ các cơ sở gây ô nhiễm:

Phần này giới thiệu quy định của pháp luật về thẩm quyền của Ðoàn thanh tra, Thanh tra viên,
Chánh Thanh tra KH,CN&MT và chính quyền các cấp trong việc đình chỉ các cơ sở gây ra ô
nhiễm môi trường.

- Ðoàn thanh tra hoặc thanh tra viên trong quá trình thanh tra chỉ có quyền:

+ "Quyết định tạm đình chỉ trong trường hợp khẩn cấp các hoạt động có nguy cơ gây sự cố
nghiêm trọng về môi trường và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định đó, đồng
thời báo cáo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xử lý hoặc kiến nghị với cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền để đình chỉ các hoạt động có thể gây sự cố môi trường" (khoản
3, Ðiều 41 Luật Bảo vệ môi trường).

+ Ðình chỉ hành vi vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm (khoản 3, điều 3 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính).

Như vậy: Trong trường hợp khẩn cấp, Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có quyền tạm đình
chỉ hoạt động có nguy cơ gây ra sự cố môi trường nghiêm trọng đồng thời phải báo cáo ngay
cho Chánh Thanh tra và Giám đốc Sở KH,CN&MT biết để xem xét xử lý tiếp.

- Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT có thẩm quyền "Ðình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây
tác hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân"
theo quy định tại khoản 5, Ðiều 9 Pháp lệnh Thanh tra.

"Việc làm" trong quy định này có thể hiểu và áp dụng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là các
hoạt động đã hoặc đang xảy ra, hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, hoặc làm suy thoái
môi trường, hoặc gây sự cố môi trường. Trong trường hợp này, Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT
có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ các hoạt động nêu trên của cơ sở là chủ thể các hoạt
động đó.

- Căn cứ vào từng trường hợp và đối tượng cụ thể mà cơ quan chính quyền các cấp theo thẩm
quyền quản lý lãnh thổ của mình và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định
đình chỉ các hoạt động có thể gây ra sự cố môi trường và xử lý tiếp như sau:

+ Ðối với các cơ sở sản xuất nhỏ, tổ hợp, hợp tác xã có đăng ký kinh doanh do Chủ tịch UBND
Quận, huyện cấp, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ hoạt động sản xuất và thu hồi giấy phép
kinh doanh thuộc quyền của Chủ tịch UBND Quận, Huyện.

+ Ðối với các doanh nghiệp do Tỉnh quản lý, được Chủ tịch UBND Tỉnh ra quyết định thành lập
doanh nghiệp và các doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp do Sở Kế hoạch và Ðầu
tư cấp đăng ký kinh doanh, Sở KH,CN&MT phải gửi báo cáo cho UBND Tỉnh để xem xét quyết
định; đồng thời đề nghị Sở Kế hoạch và Ðầu tư thu hồi đăng ký kinh doanh.

+ Ðối với các Doanh nghiệp của Trung ương đóng trên địa bàn Tỉnh, thành phố, các cơ sở có
liên doanh với nước ngoài, Sở KH,CN&MT phải báo cáo Chủ tịch UBND Tỉnh, thành phố bằng
văn bản và thực hiện theo đúng sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND Tỉnh.

II.7- Quyền được tiếp cận đối với những địa điểm có liên quan đến nội dung và đối
tượng thanh tra :

Mục này giới thiệu các quy định của pháp luật về quyền được tiếp cận những nơi thuộc sở hữu
hoặc có quyền sử dụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến đối tượng thanh tra để
phục vụ cho hoạt động thanh tra. Tức là, các quy định này đã quy định trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến đối tượng thanh tra, phối hợp, tạo điều kiện cho việc
thực hiện hoạt động thanh tra đối với đối tượng thanh tra theo quyết định thanh tra. Phần này là
cơ sở pháp lý cho tổ chức Thanh tra KH,CN&MT, đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên tiếp cận
những nơi có liên quan đến đối tượng và nội dung thanh tra để thực hiện các biện pháp kỹ thuật,
xác minh, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đối tượng và nội dung thanh tra trong quá trình
tiến hành hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường và giám sát, kiểm tra việc thực hiện các yêu
cầu, kiến nghị, quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.

- Quyền hạn đó được xác định tại khoản 1, Ðiều 6 Pháp lệnh Thanh tra:

"Trong phạm vi trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, các cơ quan Nhà nước, tổ chức
kinh tế, văn hoá, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải thực
hiện yêu cầu liên quan đến hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật;
tạo điều kiện cho tổ chức thanh tra và Thanh tra viên hoàn thành nhiệm vụ."

- Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được khẳng định tại Ðiều 42, Luật Bảo vệ môi trường:

"Tổ chức, cá nhân phải tạo điều kiện cho Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thi
hành nhiệm vụ và chấp hành quyết định của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra
viên."

Theo các quy định trên, trong khi thi hành nhiệm vụ, Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên về bảo
vệ môi trường có quyền tiếp cận với những nơi hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến
hoạt động thanh tra mà Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên đang thực hiện (xem giải thích về cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tại mục II.1.3). Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
phải tạo điều kiện cho Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thực hiện các biện pháp nghiệp vụ
của mình để điều tra, xác minh những nội dung liên quan đến hoạt động thanh tra về bảo vệ
môi trường mà Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên đang thực hiện.

II.8- Quyền được thông tin trong hoạt động thanh tra:

Mục này chủ yếu giới thiệu các quy định của pháp luật về quyền được yêu cầu cung cấp thông
tin và giải trình các thông tin liên quan đến nội dung thanh tra và đối tượng thanh tra của Ðoàn
thanh tra hoặc Thanh tra viên và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
đến đối tượng thanh tra phải cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra trong
quá trình tiến hành thanh tra. Mục này cũng giới thiệu các bước thực hiện quyền trên của Ðoàn
thanh tra hoặc Thanh tra viên trong quá trình thanh tra. Cụ thể:

- Pháp lệnh Thanh tra đã quy định, ngoài trách nhiệm cung cấp thông tin và thực hiện đúng các
yêu cầu của Trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên của đối tượng thanh tra (Ðiều 35), thủ
trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu, thực
hiện đúng yêu cầu, kiến nghị, quyết định của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên (Ðiều 34).

- Tại Ðiều 34 có quy định: "Thủ trưởng cơ quan, đơn vị hữu quan có trách nhiệm
thực hiện đúng các yêu cầu, kiến nghị, quyết định của đoàn thanh tra hoặc
Thanh tra viên và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu mình
đã cung cấp; trong trường hợp không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì
phải trả lời bằng văn bản cho đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên chậm nhất là
mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị, quyết định đó.

Nếu yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra không được thực hiện, thì đoàn
thanh tra hoặc Thanh tra viên có trách nhiệm báo cáo với người ra quyết định
thanh tra hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết (cơ quan có thẩm quyền ở đây
có thể là cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan không thực hiện yêu cầu, kiến
nghị, quyết định của Ðoàn thanh tra hoặc thanh tra viên). Thời hạn giải quyết là
ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được văn bản."

- Tại Ðiều 35 có quy định: "Ðối tượng thanh tra phải thực hiện đúng các yêu cầu
của trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên và phải chịu trách nhiệm về tính
chính xác của thông tin, tài liệu mình đã cung cấp.

Ðối tượng thanh tra được quyền giải trình trong quá trình thanh tra; phải thực
hiện các yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra và trong thời hạn mười lăm
ngày, kể từ ngày nhận được văn bản phải báo cáo kết quả, biện pháp thực hiện
cho đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên. Trong trường hợp đối tượng thanh tra
có căn cứ để bảo đảm việc chưa nhất trí với yêu cầu, kiến nghị, quyết định về
thanh tra thì trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản,
được quyền khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền. Trong khi chờ giải quyết phải
thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra."

(Hướng dẫn thực hiện 02 điều nêu trên được quy định cụ thể tại mục 1, 2 thông
tư 01/TT-TTR ngày 20/8/1992 của Thanh tra Nhà nước).

- Quy định trên cũng đã được khẳng định tại khoản 1, điều 41 và Ðiều 42 Luật Bảo vệ môi
trường và khoản 3, Ðiều 8 Nghị định 175/CP trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: "Cung cấp đầy
đủ tài liệu và tạo điều kiện cho các đoàn kiểm tra, thanh tra hoặc Thanh tra viên thi hành công
vụ; chấp hành quyết định của đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên;"

- Theo quy định trên, trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên thực
hiện việc thu thập thông tin có thể theo các bước sau (thực hiện theo hướng dẫn tại mục 1, 2
thông tư 01/TT-TTR ngày 20/8/1992 của Thanh tra Nhà nước):

+ Yêu cầu cơ quan có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết liên quan
trực tiếp đối với đối tượng thanh tra, nội dung thanh tra để phục vụ cho hoạt
động thanh tra.

+ Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo cụ thể về nội
dung thanh tra (bằng văn bản khi tiến hành thanh tra định kỳ). Có văn bản làm
việc và ghi nhận về việc cung cấp thông tin, tài liệu trong Biên bản làm việc
hoặc Biên bản thanh tra.

+ Chất vấn đối tượng thanh tra về các vấn đề cần xác minh, làm rõ liên quan
đến nội dung thanh tra (nội dung chất vấn cũng được ghi lại trong Biên bản
thanh tra hoặc Biên bản làm việc).
+ Nhận ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra liên quan đến văn bản báo cáo
kết luận (khi có ý kiến của người ra quyết định).

II.9- Các hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật:

Mục này chủ yếu giới thiệu quy định của pháp luật về các hình thức xử lý đối với các hành vi vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

II.9.1- Các hình thức xử lý đối với vi phạm:

- Luật pháp nước ta đã có quy định các hình thức xử lý đối với các vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường gồm:

+ Xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 26/CP;

+ Truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự (Chương XVII, từ Ðiều 182
đến Ðiều 191);

+ Xử lý theo quy định của Bộ luật dân sự.

- Tại Ðiều 50 Luật Bảo vệ môi trường quy định: "Người nào có hành vi phá hoại, gây tổn hại đến
môi trường, không tuân theo sự huy động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi có sự cố
môi trường, không thực hiện quy định đánh giá tác động môi trường, vi phạm các quy định khác
của pháp luật về bảo vệ môi trường thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra
mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự."

+ Trên cơ sở quy định trên của Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định 26/CP đã quy định cụ thể
hành vi vi phạm và mức phạt từ Ðiều 6 đến Ðiều 19. Các tổ chức, cá nhân nếu cố ý hoặc vô ý
có các hành vi vi phạm nêu trên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải bị xử
phạt hành chính (xem mục II.4.1).

+ Nếu vi phạm các hành vi nêu trên ở mức nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định tại các Ðiều từ 182 đến 191 thuộc Chương XVII - Các tội phạm về môi trường của Bộ
luật hình sự (sửa đổi) được Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999, Chủ tịch nước công bố ngày
04/01/2000 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000. Các tội phạm về môi trường được biểu hiện dưới
các hành vi sau:

o Thải vào không khí các loại khói, bụi, chất độc, các yếu tố độc hại khác, phát
bức xạ, phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép (Ðiều 182 - Tội gây ô nhiễm không
khí);
o Thải vào nguồn nước dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá tiêu chuẩn
cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh
trùng độc hại và gây dịch bệnh hoặc các yếu tố độc hại khác (Ðiều 183 - Tội
gây ô nhiễm nguồn nước);
o Chôn vùi hoặc thải vào đất các chất độc hại quá tiêu chuẩn cho phép (Ðiều 184
- Tội gây ô nhiễm đất);
o Nhập khẩu hoặc cho phép nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, các chế
phẩm sinh học, chế phẩm hoá học khác, các chất độc hại, chất phóng xạ hoặc
phế thải không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường (Ðiều 185 - Tội nhập
khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu
chuẩn bảo vệ môi trường);
o Ðiều 186 - Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người:
Ðưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật,
thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm
cho người;

Ðưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản
phẩm động vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy
hiểm có khả năng truyền cho người;

o Ðiều 187 - Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật:

Ðưa vào hoặc mang ra khỏi khu vực hạn chế lưu thông động vật, thực
vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh
hoặc mang mầm bệnh;

Ðưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật, sản
phẩm động vật, thực vật thuộc đối tượng kiểm dịch mà không thực hiện
các quy định của pháp luật về kiểm dịch.

o Ðiều 188 - Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản:

Sử dụng chất độc, chất nổ, các hoá chất khác, dòng điện hoặc các
phương tiện, ngư cụ khác bị cấm để khai thác thuỷ sản hoặc làm huỷ
hoại nguồn lợi thuỷ sản;

Khai thác thuỷ sản tại khu vực bị cấm, trong mùa sinh sản của một số
loài hoặc vào thời gian khác mà pháp luật cấm;

Khai thác các loài thuỷ sản quý hiếm bị Chính phủ cấm;

Phá nơi cư ngụ của các loài thuỷ sản quý hiếm bị Chính phủ cấm;

o Ðốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng (Ðiều 189-Tội huỷ
hoại rừng);

o Săn, bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị
Chính phủ cấm hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động
vật đó (Ðiều 190 - Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý,
hiếm);

o Vi phạm chế độ sử dụng, khai thác khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, di
tích thiên nhiên hoặc khu thiên nhiên được Nhà nước bảo vệ đặc biệt (Ðiều 191-
Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên).

Theo quy định tại các Ðiều nêu trên, dấu hiệu định tội bắt buộc là "đã bị xử phạt vi phạm
hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ
quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng" hoặc "đã bị xử phạt vi phạm hành
chính về hành vi này mà còn vi phạm".

Chương này quy định áp dụng ba loại hình phạt chính đối với các tội phạm về môi trường là:
Phạt tiền, cải tạo không giam giữ và phạt tù; và hai loại hình phạt bổ sung là: Phạt tiền và cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Về hình phạt tù, hầu hết
các điều quy định mức từ 6 tháng đến 10 năm và mức tối đa là 15 năm. Cải tạo không giam giữ
được áp dụng trong thời hạn từ 1 đến 5 năm và được quy định dưới dạng chế tài lựa chọn đối
với hình phạt tiền. Mức phạt tiền thường là 10 đến 100 triệu đồng, trừ một vài trường hợp từ 5
đến 50 triệu đồng.

Một vấn đề nữa là dấu hiệu định tội trong hầu hết các tội danh là có thấy "hậu quả nghiêm
trọng" và hình thức lỗi trong các tội phạm về môi trường là vấn đề khá phức tạp. Nhìn chung, khi
cần chuyển cho cơ quan điều tra hình sự thụ lý, nên trao đổi trước với Chánh Thanh tra Bộ
KH,CN&MT (theo thủ tục trường hợp vi phạm có tình tiết phức tạp quy định tại điểm a, khoản 2
mục III của Thông tư 2433/TT-MTg ngày 03/10/1996) và Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp để
xác định rõ thêm.

- Việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định tại Ðiều 17,
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Tại Ðiều 2, Nghị định 26/CP đã cụ thể quy định trên trong
lĩnh vực bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường:

"Việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường gây ra
được tiến hành theo nguyên tắc thoả thuận giữa bên có hành vi gây ra thiệt hại
và bên bị thiệt haị.

Ðối với những thiệt hại về vật chất do vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường
gây ra có giá trị đến 1.000.000 đồng mà không tự thoả thuận được thì người có
thẩm quyền xử phạt quyết định mức bồi thường, những thiệt hại có giá trị từ
trên 1.000.000 đồng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự."

Theo quy định nêu trên, nếu thiệt hại về vật chất do vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường
gây ra có giá trị trên 1.000.000 đồng mà không thoả thuận được giữa bên gây ra và bên bị thiệt
hại thì được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong việc thoả thuận này, thường Thanh tra
Sở KH,CN&MT đóng vai trò cơ quan trung gian (hoặc làm vai trò trọng tài) giúp hai bên thực hiện
việc thoả thuận đảm bảo có lý (xác định hành vi vi phạm pháp luật, mức thiệt hại - nếu có thể)
và có tình (có tính khả thi và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của hai bên).

- Ðối với những người thực hiện trách nhiệm quản lý về bảo vệ môi trường, việc xử lý vi phạm
được quy định tại Ðiều 51 Luật Bảo vệ môi trường: "Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi
phạm quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, bao che cho người vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường, thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường,
thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự."

II.9.2- Những người có thẩm quyền quyết định các hình thức xử lý vi phạm:

1. Xử phạt vi phạm hành chính:

Theo quy định tại Ðiều 26, 27, 28, 30, 34 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và đã được cụ thể
tại khoản 1, 2 Ðiều 4 và Ðiều 20, 21 Nghị định 26/CP và hướng dẫn tại Thông tư 2433/TT-MTg
ngày 10/3/1990, những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính gồm:

o Thanh tra viên thuộc tổ chức thanh tra khoa học, công nghệ và môi trường có
quyền xử phạt quy định tại khoản 1 điều 34 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính, cụ thể gồm: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng đối với những vi
phạm hành chính thuộc địa bàn quản lý của mình, tịch thu tang vật phương tiện
được sử dụng để gây ô nhiễm môi trường có giá trị đến 500.000 đồng, được
quyền buộc tổ chức, cá nhân vi phạm đình chỉ hành vi vi phạm, khôi phục tình
trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm, khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm
gây ra, tiêu huỷ các vật phẩm gây hại cho môi trường sống.
o Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT thuộc Sở KH,CN&MT có quyền áp dụng các
quyền quy định tại khoản 2 điều 34 pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, cụ thể
gồm: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 10.000.000 đồng, tước quyền sử dụng giấy
phép về môi trường do Sở KH,CN&MT cấp, tịch thu tang vật, phương tiện được
sử dụng để gây ô nhiễm môi trường, đựơc quyền buộc tổ chức, cá nhân vi
phạm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra đến 1.000.000
đồng, buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm, khắc phục
hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, tiêu huỷ các vật phẩm gây hại cho môi
trường sống.
o Chánh Thanh tra Bộ KH,CN&MT và Chánh Thanh tra Cục Môi trường có quyền
áp dụng các quyền quy định tại khoản 3 điều 34 pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính, cụ thể gồm: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 đồng, tước quyền
sử dụng giấy phép về môi trường do Bộ KH,CN&MT và Cục Môi trường cấp,
tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để gây ô nhiễm môi trường, đựơc
quyền buộc tổ chức, cá nhân vi phạm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm
hành chính gây ra đến 1.000.000 đồng, buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị
thay đổi do vi phạm, khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, tiêu huỷ các
vật phẩm gây hại cho môi trường sống.
o Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã có quyền xử phạt quy định tương ứng tại
Ðiều 26, 27, 28 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính; khoản 1, Ðiều 4 và khoản
4, 5, 6 Ðiều 20 Nghị định 26/CP của Chính phủ trong phạm vi quản lý của cấp
mình về bảo vệ môi trường.
o Theo quy định tại Ðiều 21, Nghị định 26/CP các cơ quan Hải quan, Thanh tra
Nhà nước chuyên ngành có quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường theo thẩm quyền được quy định tại Ðiều 30, 34 Pháp lệnh Xử lý
vi phạm hành chính.

1. Về xử lý hình sự:

o Theo quy định của pháp luật, chỉ có Toà án nhân dân các cấp mới có thẩm
quyền xét xử về hình sự. Các tổ chức thanh tra Nhà nước các cấp, khi xét thấy
có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì chỉ có quyền chuyển hồ sơ vi phạm pháp
luật sang cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền giải quyết (khoản 9, Ðiều 9,
Pháp lệnh Thanh tra).
o Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo quy định tại khoản 5, Ðiều 4 Nghị định
26/CP (cụ thể Ðiều 53, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính) thì:

"Khi xét thấy hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường có dấu hiệu tội
phạm thì những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1, 2 của Ðiều này
(Chủ tịch UBND các cấp, Chánh thanh tra chuyên ngành KH,CN&MT- Trong đó
có Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT) phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều
tra hoặc Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp giải quyết.

Nghiêm cấm việc giữ lại các vụ vi phạm về bảo vệ môi trường có dấu hiệu tội
phạm để xử phạt hành chính."

1. Tranh chấp dân sự:

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tranh chấp dân sự chủ yếu tập trung vào việc bồi thường thiệt
hại do vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường gây ra thiệt hại cho tổ chức, cá nhân:

o Việc bồi thường thiệt hại về vật chất có giá trị trên 1.000.000 đồng nếu bên gây
ra thiệt hại và bên bị thiệt hại không tự thoả thuận được thì được Toà án dân sự
giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và thủ tục tố tụng dân sự.
o Chánh thanh tra Bộ KH,CN&MT, Cục Môi trường và Sở KH,CN&MT chỉ có
quyền buộc bồi thường thiệt hại đến 1.000.000 đồng. Trong thực tế thường giữ
vai trò trung gian để hai bên (bên gây ra thiệt hại và bên bị thiệt hại) tự thoả
thuận mức bồi thường. Khi cần thiết giúp xác định hành vi vi phạm, nguyên
nhân vi phạm, mức thiệt hại... theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường.

II.10- Trách nhiệm của cơ sở trong việc Tự kiểm tra/ Quan trắc môi trường:

Phần này hướng dẫn thanh tra việc thực hiện các quy định về trách nhiệm của cơ sở sản xuất
kinh doanh trong việc tự kiểm tra giám sát môi trường.

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn dân, do đó các cơ sở đều phải có trách nhiệm
trong việc tự kiểm tra, giám sát môi trường do hoạt động của cơ sở gây ra (Quy định tại Ðiều 8
Nghị định 175/CP, điểm b, khoản 3 điều 6 Nghị định 26/CP, Thông tư 2781-TT/KCM ngày
3/12/1996 (Thông tư 2781- TT/KCM) Hướng dẫn về thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng
nhận đạt tiêu chuẩn môi trường cho các cơ sở công nghiệp, Quyết định 2920-QÐ/MTg ngày
21/12/1996 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT Về việc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.

- Ðiều 8 Nghị định 175/ CP: Các tổ chức sản xuất kinh doanh có trách nhiệm nghiêm chỉnh thực
hiện các quy định của Pháp luật về :

"Ðánh giá tác động môi trường, đảm bảo thực hiện đúng các tiêu chuẩn môi trường, phòng
chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường...

Ðịnh kỳ báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở địa phương về hiện trạng môi
trường tại nơi hoạt động của mình."

Sau khi Báo cáo ÐTM của cơ sở được phê chuẩn, nội dung của Báo cáo ÐTM và các cam kết
về bảo vệ môi trường của cơ sở có Báo cáo đã được phê duyệt, các yêu cầu trong Quyết định
phê chuẩn Báo cáo ÐTM là các yêu cầu bắt buộc thực hiện đối với cơ sở. Các nội dung yêu cầu
này quy định rõ việc thực hiện định kỳ báo cáo, kế hoạch tự kiểm tra giám sát môi trường của cơ
sở.

Ðoàn thanh tra hoặc thanh tra viên trong quá trình tiến hành thanh tra phải xác định rõ việc tuân
thủ các quy định về tự kiểm tra giám sát và chế độ Báo cáo theo đúng nội dung yêu cầu của
Quyết định phê chuẩn Báo cáo ÐTM hoặc Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.

-Thông tư 2781-TT/KCM quy định về Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
(mục II) phải có:

"...1.2. Bản kê khai hiện trạng về môi trường;

1.3. Quyết định phê chuẩn báo cáo ÐTM (đối với các cơ sở phải thẩm định báo cáo ÐTM) hoặc
ý kiến bằng văn bản của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường hoặc cơ quan được
uỷ quyền (đối với bản kê khai các hoạt động sản xuất có ảnh hưởng đến môi trường)..."

Nội dung của thông tư 2781- TT/KCM đã quy định cụ thể các loại cơ sở công nghiệp bắt buộc
phải có Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.

Ðể được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, cơ sở phải đầu tư hệ thống xử lý các
nguồn thải, thực hiện việc tự kiểm soát ô nhiễm và báo cáo định kỳ cho cơ quan quản lý Nhà
nước về bảo vệ môi trường theo đúng nội dung yêu cầu trong Quyết định phê chuẩn ÐTM của
mình.

- Ðiểm b, khoản 3 điều 6 Nghị định 26/CP chế tài cho việc thực hiện quy định:

"Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêu cầu ghi tại phiếu thẩm định hoặc giấy
phép về môi trường của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường".

Nội dung của Phiếu thẩm định hoặc Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường đều quy định
rõ cơ sở phải thực hiện theo đúng các nội dung trong Báo cáo ÐTM đã được phê duyệt. Tất cả
các thay đổi về kế hoạch tự kiểm tra giám sát môi trường, chế độ báo cáo đã được quy định
trong Phê chuẩn ÐTM hoặc giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường đều là vi phạm hành
chính về Bảo vệ môi trường.

- Quyết định 2920- QÐ/MTg ngày 21/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường quy định các Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc áp dụng. Do đó việc thực hiện
kiểm soát ô nhiễm phải sử dụng các Tiêu chuẩn Việt Nam về Môi trường bắt buộc áp dụng (có
phụ lục kèm theo)

Như vậy: Các nội dung cam kết trong Báo cáo ÐTM, Phê chuẩn Báo cáo ÐTM hoặc Giấy phép
về môi trường là cơ sở pháp lý buộc cơ sở phải thực hiện việc tự kiểm tra, giám sát, kiểm soát ô
nhiễm theo cam kết; đồng thời có chế độ báo cáo định kỳ theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà
nước về Bảo vệ môi trường.

Vai trò của Thanh tra KH,CN&MT trong việc thanh tra công tác tự kiểm tra và tự quan trắc
môi trường của cơ sở:

- Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên phải kiểm tra và đánh giá về chương trình tự kiểm tra và
quan trắc môi trường của cơ sở. Khi Ðoàn thanh tra đánh giá kế hoạch quan trắc môi trường của
cơ sở không đạt hiệu quả hoặc cần phải tăng tần suất, tăng vị trí quan trắc. Ðoàn thanh tra phải
báo cáo với Giám đốc Sở KH,CN&MT, đồng thời phối hợp với Phòng Quản lý môi trường của Sở
đề xuất một chương trình quan trắc hiệu quả hơn cho cơ sở được thanh tra, thống nhất đề nghị
Giám đốc Sở ra quyết định sửa đổi, bổ sung các yêu cầu cần thiết đối với cơ sở đã thanh tra.

- Nhằm xác định rõ hiệu quả của kế hoạch tự kiểm tra giám sát môi trường của cơ sở, trong một
số trường hợp cần thiết, Ðoàn thanh tra phải giám định lại kết quả tự kiểm tra giám sát môi
trường của cơ sở. Trong những trường hợp này, trước khi thanh tra phải căn cứ vào tình hình
thực tế của đối tượng được thanh tra, năng lực, trang thiết bị của Ðoàn thanh tra để xác định
trước: Cần phải thuê cơ quan Giám định lấy mẫu hay Ðoàn thanh tra tự lấy mẫu. Ðồng thời báo
cáo với Giám đốc Sở để quyết định kinh phí thực hiện.

- Theo quy định hiện nay, việc quản lý môi trường lao động bên trong các cơ sở sản xuất thuộc
chức năng của ngành y tế và ngành lao động (an toàn lao động). Trong các trường hợp phải xác
định rõ nguồn gốc phát thải, môi trường lao động bên trong nhà máy để xác định chính xác mức
độ và nguồn phát thải ra ngoài cơ sở. Thanh tra Sở KH,CN&MT phối hợp với cơ quan y tế ở địa
phương: Trung tâm y tế dự phòng Tỉnh/Thành phố, Thanh tra Sở Y tế, Thanh tra Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội để thanh tra; đồng thời sử dụng các kết quả đo kiểm tra môi trường lao
động làm một căn cứ để xác định, đánh giá nguồn gây ra ô nhiễm và mức độ ô nhiễm của các
nguồn thải khác nhau.

II.11- Khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường:

II.11.1- Khiếu nại lại các quyết định:
Phần này hướng dẫn việc giải quyết khiếu nại đối với các Quyết định thanh tra, kết luận và xử lý
của thanh tra, quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

- Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với thủ trưởng cơ quan ra quyết định thanh tra về kết
luận và biện pháp xử lý của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên đối với cơ sở của mình (Ðiều 43
Luật Bảo vệ môi trường).

- Ðiều 88 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định việc khiếu nại quyết định xử phạt vi
phạm hành chính.

Quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo
vệ môi trường của Thanh tra viên và Chánh thanh tra Sở KH,CN&MT tại điểm 1, 2, 3 mục V
Thông tư số 2433-TT/KCM ngày 03/10/1996 của Bộ KH,CN&MT như sau:

"1. Người có thẩm quyền quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường có trách
nhiệm giải quyết khiếu nại lần thứ nhất đối với khiếu nại quyết định xử phạt do mình ra quyết
định."

2. Chánh Thanh tra Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Chánh thanh tra Cục Môi trường và
Chánh thanh tra Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường giải quyết khiếu nại lần thứ hai đối với
các khiếu nại quyết định xử phạt của Thanh tra viên thuộc tổ chức thanh tra cùng cấp. Quyết
định giải quyết này là quyết định cuối cùng.

3. Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường giải quyết khiếu nại lần thứ hai đối với
quyết định xử phạt của Chánh thanh tra Sở; .... Quyết định này là quyết định cuối cùng."

Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 và có hiệu
lực từ ngày 01/01/1999, tại các Ðiều 23, 25 thì cấp ra quyết định giải quyết cuối cùng là Chủ tịch
UBND tỉnh và Bộ trưởng; theo quy định tại Ðiều 31 thì thời hiệu khiếu nại lần đầu là 90 ngày và
lần tiếp theo là 30 ngày hoặc 45 ngày đối với vùng sâu, vùng xa (Ðiều 39); Thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu là 30 ngày, 45 ngày đối với vụ việc phức tạp và có thể đến 60 ngày đối với
vùng sâu, vùng xa (Ðiều 36); thời hạn giải quyết lần tiếp theo không quá 45 ngày, đối với vụ việc
phức tạp không quá 60 ngày và đối với vùng sâu, vùng xa không quá 60 ngày, vụ việc phức tạp
không quá 70 ngày. Theo quy định tại Ðiều 80 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (xem
mục II.12) thì phải áp dụng các quy định nêu trên của Luật Khiếu nại, tố cáo trong việc giải
quyết khiếu nại đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

II.11.2- Tố cáo và giải quyết tố cáo về bảo vệ môi trường:

Việc tố cáo và giải quyết tố cáo phải dựa vào quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Cụ thể tại
các điều, khoản sau:

- Theo quy định tại khoản 2, Ðiều 1:

"Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây
thiết hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
cơ quan, tổ chức".

Theo quy định này, công dân (cá nhân) khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiết hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi
ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của cơ quan, tổ chức đều có
quyền tố cáo với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường.
- Theo quy định tại Ðiều 60: "Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức
năng quản lý Nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết". Tức là các
cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm giải quyết tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường: Sở KH,CN&MT, UBND các cấp, Cục Môi trường, Bộ
KH,CN&MT. Trên địa bàn của Tỉnh thì trách nhiệm giải quyết chủ yếu là UBND tỉnh và Sở
KH,CN&MT.

- Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết; vụ việc phức tạp thì
thời hạn có thể kéo dài không quá 90 ngày (Ðiều 67).

- Ðiều 68 quy định việc giải quyết như sau: "Người giải quyết tố cáo phải ra quyết định về việc
tiến hành xác minh và kết luận về nội dung tố cáo, xác định trách nhiệm của người có hành vi vi
phạm, áp dụng biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xử lý đối với người vi phạm".

- Việc tố cáo tiếp theo được quy định tại Ðiều 69: "Trong trường hợp có căn cứ cho rằng việc
giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải
quyết thì người tố cáo có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải
quyết tố cáo; thời hạn giải quyết được thực hiện theo quy định tại Ðiều 67 của Luật này".

Theo quy định này, khi Giám đốc Sở KH,CN&MT không giải quyết hoặc giải quyết không đúng
pháp luật thì Chủ tịch UBND tỉnh phải giải quyết tiếp theo hoặc Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT.

- Tại Ðiều 62 có quy định: " Chánh Thanh tra các cấp có thẩm quyền: 1- Xác minh, kết luận nội
dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cùng
cấp khi được giao..." Theo quy định này, vai trò của Chánh Thanh tra Sở KH,CN&MT chỉ giúp
Giám đốc Sở xác minh, kết luận nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo khi được
Giám đốc Sở giao.

II.12- Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật:

Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định tại Ðiều 80 Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

"1- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Văn bản quy phạm
pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực.

Trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó.

2- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn
đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan
ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

4- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc
quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực, thì
áp dụng văn bản mới."

Ðây là nguyên tắc rất quan trọng khi áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau quy
định về cùng nội dung về bảo vệ môi trường. Thanh tra viên và tổ chức thanh tra KH,CN&MT
cần nắm vững để áp dụng cho chuẩn xác và biết sử dụng văn bản quy phạm pháp luật nào cho
phù hợp với từng trường hợp thanh tra cụ thể.
III. Công tác thanh tra nhà nước về Bảo vệ môi trường

Phần này hướng dẫn việc lập kế hoạch thanh tra, triển khai công tác thanh tra về bảo vệ môi
trường trên địa bàn Tỉnh, thành phố. Hướng dẫn các bước cần tiến hành khi thực hiện thanh tra,
các thủ tục cần thiết phục vụ cho thanh tra, báo cáo, nhận xét đánh giá.

III.1- Các hình thức và trình tự thanh tra:

III.1.1. Các hình thức thanh tra:

- Thanh tra định kỳ theo kế hoạch hàng năm:

Thanh tra định kỳ hàng năm được thực hiện theo đúng quy định của Nghị định 61/1998/NÐ-CP
ngày 15/8/1998 của Chính phủ (Nghị định 61). Ðối với mỗi cơ sở sản xuất, kinh doanh không
quá 01 lần/năm về cùng một nội dung thanh tra. Trừ trường hợp đối tượng thanh tra có dấu hiệu
vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Mục đích của thanh tra định kỳ là nhằm đánh giá tổng thể việc thực hiện các quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các đối tượng thanh tra
khác trên địa bàn Tỉnh/Thành phố. Thông qua công tác thanh tra định kỳ, Thanh tra Sở: Kịp thời
ngăn chặn và xử lý các vi phạm, cưỡng chế các cơ sở phải thực hiện đúng và đầy đủ các quy
định của pháp luật về bảo vệ môi trường; phân tích tổng hợp và báo cáo với Giám đốc Sở về
hiệu quả công tác quản lý môi trường của các doanh nghiệp trên địa bàn, các sai phạm, các
hình thức xử lý, các khó khăn vướng mắc cần phải giải quyết; đề xuất với Giám đốc Sở các kiến
nghị đối với công tác quản lý môi trường của Sở, UBND các cấp và các Sở ban ngành trong
Tỉnh, đảm bảo thực hiện có hiệu quả công tác quản lý và sự nghiệp bảo vệ môi trường của
Tỉnh/ Thành phố; báo cáo với Thanh tra Cục Môi trường, Thanh tra Bộ KH,CN&MT để tổng hợp
báo cáo Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT; phục vụ cho công tác quy
hoạch, xây dựng chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường phù hợp.

- Thanh tra bất thường: Ðược tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm các quy định về bảo
vệ môi trường tại các cơ sở thanh tra.

Mục đích của thanh tra bất thường: Ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường tại cơ sở vi phạm; hạn chế ảnh hưởng, ô nhiễm và sự cố môi trường do hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường của cơ sở vi phạm gây ra; buộc cơ sở vi phạm phải chấm dứt
hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính về bảo
vệ môi trường gây ra.

- Thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân (có thể
là định kỳ hoặc bất thường, thông thường là thanh tra bất thường).

Thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm mục đích đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường,
sự tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của đối tượng bị khiếu nại, tố cáo,
xác định nguyên nhân gây ra ô nhiễm, mức độ ô nhiễm, hình thức vi phạm của cơ sở. Từ đó có
kết luận để làm cơ sở cho Giám đốc Sở trả lời cho tổ chức cá nhân có đơn khiếu nại, tố cáo và
cấp có thẩm quyền ra các quyết định xử phạt hoặc xử lý cần thiết đối với đối tượng có hành vi vi
phạm. Trong một số trường hợp, kết luận của Thanh tra còn là cơ sở để thoả thuận đền bù giữa
bên bị thiệt hại và bên gây ra thiệt hại.

III.1.2- Trình tự thanh tra:

III.1.2.1- Quy trình thanh tra cơ bản:
a. Hoạt động trước thanh tra (giai đoạn chuẩn bị trước khi có Quyết định thanh tra):

1. Lựa chọn đối tượng thanh tra;

2. Lập kế hoạch thanh tra:

- Xác định phạm vi thanh tra;

- Xác định các vấn đề cần ưu tiên;

- Chuẩn bị và chỉnh lý tài liệu, thông tin có liên quan;

- Phân bố nguồn lực thanh tra;

3. Tuyển chọn thành viên đoàn thanh tra:

Tuỳ theo yêu cầu, mục đích của cuộc thanh tra mà thành viên của Ðoàn thanh tra ngoài cán bộ
Thanh tra Sở KH,CN&MT có thể bao gồm :

- Cán bộ phòng Quản lý môi trường;

- Ðại diện của UBND các cấp (nơi có cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ...);

- Ðại diện của các Sở, Ban, Ngành có liên quan;

- Cảnh sát (nếu tổ chức cưỡng chế, hay khi thấy cần thiết cho cuộc thanh tra).

Trong trường hợp khi đối tượng được thanh tra không tuân thủ theo quy định, có ý hành hung
người thi hành công vụ, cản trở công tác thanh tra phải mời lực lượng cảnh sát tham gia nhằm
đảm bảo cho hoạt động thanh tra được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

4. Ðề nghị cấp có thẩm quyền ra Quyết định thanh tra.

b. Hoạt động trong giai đoạn thanh tra (tiến hành thực hiện Quyết định thanh tra):

1. Giai đoạn chuẩn bị thanh tra của Ðoàn:

Giai đoạn này chủ yếu là trang bị cho đoàn thanh tra những hiểu biết và điều kiện cần thiết để
chủ động thực hiện được mục tiêu của cuộc thanh tra theo yêu cầu của Quyết định thanh tra,
gồm các nội dung sau:

- Xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng, thời gian và những vấn đề cần tập trung
thanh tra cho toàn bộ các thành viên trong đoàn;

- Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên đoàn thanh tra, thu thập thông tin, nghiên cứu
nắm vững tình hình và chính sách, pháp luật có liên quan đến đối tượng thanh tra và nội dung
thanh tra;

- Xây dựng kế hoạch và cách làm việc của đoàn thanh tra;
- Chuẩn bị thủ tục hành chính và điều kiện vật chất, phương tiện, thiết bị cần thiết cho hoạt
động thanh tra của đoàn.

2. Tiến hành trực tiếp thanh tra tại cơ sở:

Giai đoạn này là giai đoạn quan trọng, nhằm thu thập chứng lý, khẳng định đúng, sai; xác định
rõ nguyên nhân, trách nhiệm và xử lý các vấn đề vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đối
với đối tượng thanh tra.

Trong quá trình tiến hành thanh tra thường theo trình tự như sau:

- Khi đến cơ sở, Ðoàn thanh tra phải công bố quyết định thanh tra, nêu rõ các yêu cầu của Ðoàn
thanh tra và chương trình dự tính sẽ tiến hành thanh tra.

- Cơ sở được thanh tra báo cáo với Ðoàn thanh tra theo các nội dung yêu cầu.

- Ðoàn thanh tra chất vấn những nội dung chưa rõ.

- Kiểm tra các loại sổ sách, tài liệu có liên quan đến môi trường.

- Kiểm tra, xem xét trực tiếp tại hiện trường.

- Báo cáo kết luận về thanh tra.

Cụ thể gồm các bước sau:

Bước 1: Tìm hiểu thủ tục và hệ thống quản lý:

- Mục tiêu:

+ Tìm hiểu các biện pháp (tổ chức, quản lý, kỹ thuật) mà cơ sở dùng để quản lý các vấn đề liên
quan đến môi trường.

+ Tìm hiểu quy chế và hệ thống quản lý nội bộ, hiểu biết ban đầu về đối tượng thanh tra.

+Tìm hiểu cơ sở pháp lý có liên quan.

- Nội dung :

+ Những yêu cầu của pháp luật làm căn cứ pháp lý;

+ Hệ thống quản lý môi trường;

+ Trang thiết bị bảo hộ lao động, bảo vệ sức khoẻ và an toàn lao động;

+ Công cụ kiểm soát ô nhiễm môi trường, quản lý chất thải độc hại;

+ Công cụ phòng chống sự cố rủi ro;

+ Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý và cán bộ chuyên trách về môi trường;
+ Ðiều tra, tìm hiểu thông qua các cán bộ và công nhân;

+ Xem xét toàn bộ các văn bản, quy chế, tài liệu báo cáo có liên quan tới vấn đề cần thanh tra;

+ Ghi lại nhận xét ban đầu, mô tả tường thuật những hiện tượng hoặc những vấn đề tìm hiểu
được.

Bước 2: Ðánh giá điểm yếu điểm mạnh của cơ sở trong công tác bảo vệ môi trường:

- Trách nhiệm của từng vị trí công việc;

- Hệ thống phân công tương ứng;

- Trình độ, năng lực của các thành viên;

- Các tài liệu và chứng từ sổ sách;

- Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng;

- Hiệu quả của hệ thống quản lý môi trường nội bộ nếu không hoạt động tốt;

- ẢNH HƯỞNG XẤU ÐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG NẾU HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG chưa
hoàn chỉnh.

Bước 3: Thu thập chứng cứ thanh tra:

- Ðánh giá mức độ ảnh hưởng môi trường của đơn vị được thanh tra;

- Xác định những vấn đề còn nghi ngờ trong khả năng quản lý môi trường của cơ sở được thanh
tra.

- Phương pháp:

+ Thông qua chất vấn (trực tiếp hoặc gián tiếp) qua các phiếu điều tra hoặc các cuộc gặp gỡ
không chính thức.

+ Thông qua quan sát khi xuống hiện trường.

Mục đích của kiểm tra trực tiếp tại hiện trường nhằm mục đích xem xét mức độ chính xác giữa
báo cáo của cơ sở được thanh tra với thực tế sản xuất và công tác bảo vệ môi trường của cơ
sở. Qua xem xét tại hiện trường có thể đánh giá thêm về sự tuân thủ các quy định về bảo vệ
môi trường của doanh nghiệp. Có thể tìm thấy các nguồn thải chưa được đề cập tới hay thiết bị
xử lý không có tính khả thi đối với việc xử lý chất thải, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa
ô nhiễm môi trường, bảo quản hoá chất, nguyên vật liệu... Trong việc kiểm tra thực tế tại hiện
trường cần tập trung vào các vấn đề sau:

o Các nguồn thải thực tế trong điều kiện sản xuất bình thường và các nguồn thải
có thể phát sinh do đặc thù sản xuất, sự cố gây ra.

o Các nguồn thải thực tế qua đánh giá bằng trực quan.
o Các loại nguyên vật liệu thực tế sử dụng và việc lưu giữ nguyên, nhiên vật liệu.

o Các thiết bị xử lý chất thải tại các nguồn thải và các khu vực có chất thải.
o Bảo quản và sử dụng nguyên, nhiên vật liệu, hoá chất.

Ví dụ: Về việc tiến hành kiểm tra các nguồn thải tại hiện trường


CÁC YẾU tố VỊ TRÍ thực tế cần kiểm tra

môi trường

cần kiểm tra

Bụi Các khu vực đóng bao, kho bãi, khu vực nghiền, sàng, khu vực nung
sấy.

Khí thải Các khu vực có lò nung, kho chứa các hoá chất, các chất dễ bay hơi.

Nước thải Bể xử lý, mương thải, cống thải, các quá trình có sử dụng nước để sản
xuất và sinh hoạt.

Tiếng ồn, độ rung Tại các máy nghiền, khoan, máy cắt, các thiết bị có động cơ lớn.

Chất thải Rắn Xỉ thải của các lò, bãi chứa chất thải, nguyên liệu, vật liệu xây dựng, khu
vực nghiền, đóng bao...

Phóng xạ Kho chứa, điều kiện bảo quản, sử dụng, các công đoạn có sử dụng hoá
chất, nguyên liệu, nhiên liệu, chất phóng xạ




o Thông qua việc kiểm tra các chứng từ, các số liệu... của các đợt thanh tra trước
hoặc các báo cáo thường kỳ theo hướng dẫn.

Chứng cứ: Vật thể (mẫu đất, nước, sản phẩm, người); tài liệu; tình huống thực tế.

Những mục Thanh tra viên và Ðoàn thanh tra cần thanh tra:

+ Giấy phép hoạt động của đối tượng thanh tra, bao gồm cả chương trình quan trắc, các chi tiết
trong quá trình áp dụng;

+ Các quy định mới có liên quan tới đối tượng được thanh tra;

+ Sơ đồ mặt bằng và và sơ đồ vận hành, sản xuất;

+ Trong trường hợp có thay đổi phải mô tả quy trình sản xuất mới;

+ Thông báo, các văn bản yêu cầu gửi cho cơ sở trong các đợt thanh tra trước;

+ Thông báo đã gửi đến cho cơ sở;
+ Thời vụ sản xuất và các điều kiện khách quan khác có ảnh hưởng tới kết quả thanh tra;

+ Tình trạng môi trường thực tế;

+ Các sự cố xảy ra trong quá khứ;

+ Các vi phạm trước đây;

+ Các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuấtchưa được thông qua và điều tra kỹ lưỡng trong
lần thanh tra trước;

+ Thông báo về những sự cố môi trường;

+ Báo cáo nghiên cứu và Báo cáo về môi trường.

Bước 4: Ðánh giá việc thu thập chứng cứ:

- Mục đích: Kết hợp tất cả tài liệu chứng cứ của các nhóm thành viên, xem xét mức độ để quyết
định đưa vào báo cáo chính thức hoặc chỉ thông báo cho cán bộ quản lý đơn vị.

- Phương pháp:

+ Tổ chức cuộc họp giữa các nhóm thành viên;

+ Xắp xếp lại các thông tin chứng cứ theo nhóm mục tiêu thanh tra;

+ Ðánh giá các chứng cứ thu thập theo ý kiến của các nhóm thành viên;

+ Kết luận đánh giá theo quyết định của Trưởng Ðoàn thanh tra.

Bước 5: Báo cáo về kết quả thanh tra:

- Mục đích:

+ Cung cấp thông tin về kết quả thanh tra, đề xuất phương án giải quyết và kèm theo những tài
liệu thanh tra.

+ Giúp cho đơn vị quản lý biết cần phải làm những gì để giải quyết các vấn đề tồn tại.

- Phương pháp:

+ Tổ chức họp mặt giữa cán bộ quản lý đơn vị và Ðoàn thanh tra (có thể có cuộc họp không
chính thức giữa Thanh tra viên và đại diện đơn vị phụ trách về môi trường);

+ Làm rõ các chứng cứ thu thập được;

+ Thông báo những kết quả đã thu thập và những gì sẽ được đưa vào báo cáo chính thức;

+ Trao đổi cho đơn vị được thanh tra về báo cáo chính thức bằng văn bản để hệ thống quản lý
hiện tại thực hiện việc cần làm;
+ Khi có bất đồng, cần thảo luận trực tiếp rõ ràng với cán bộ quản lý đơn vị;

+ Nếu không đạt được sự nhất trí có thể chuyển báo cáo cho hệ thống ngành ngang hoặc
ngành dọc;

+ Thống nhất kết luận của Ðoàn thanh tra;

+ Lập biên bản thanh tra theo quy định;

+ Công bố kết luận của Ðoàn thanh tra;

Kết luận của Ðoàn thanh tra phải rõ ràng chính xác và đáp ứng được yêu cầu sau:

o Việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường thế nào?

o Các yêu cầu cụ thể của Ðoàn thanh tra để ngăn ngừa ô nhiễm và giảm thiểu do
hoạt động sản xuất của cơ sở gây ra.

+ Thông báo các hành vi vi phạm và lập Biên bản vi phạm hành chính (nếu có);

+ Thống nhất các nội dung giữa Ðoàn thanh tra và cơ sở được thanh tra, ký biên bản (Biên bản
có chữ ký của trưởng Ðoàn thanh tra và chữ ký, dấu của cơ sở được thanh tra). Biên bản thanh
tra được làm thành 04 bản, cơ sở được thanh tra giữ 01 bản.

Trách nhiệm của các thành viên trong Ðoàn thanh tra được Trưởng Ðoàn thanh tra phân công
theo các yêu cầu của từng công việc cụ thể. Kết luận cuối cùng là do Trưởng Ðoàn thanh tra
đưa ra, nếu các thành viên trong đoàn có các ý kiến khác nhau, thì vẫn phải tuân theo ý kiến của
Trưởng Ðoàn Thanh tra nhưng được quyền ghi ý kiến bảo lưu.

c- Hoạt động sau thanh tra

- Lập báo cáo về kết quả thực hiện sau một thời gian kết thúc giai đoạn thanh tra (các biện pháp
đề nghị đã thực hiện tại cơ sở thế nào).

- Xây dựng kế hoạch hành động:

+ Ðề xuất phương hướng giải quyết;

+ Thời gian thực hiện các thứ tự ưu tiên giải quyết;

+ Lập báo cáo chính thức và gửi báo cáo cho cấp quản lý của đơn vị được thanh tra và các cơ
quan hữu quan có liên quan;

+ Thanh tra tiếp theo để đảm bảo cho các vấn đề về nội dung thanh tra đã yêu cầu được thực
hiện.

III.1.2.2- Một số ví dụ về việc tiến hành thanh tra trực tiếp tại cơ sở:

1. Các xí nghiệp sản xuất và chế biến sữa: Một số vấn đề cần phải quan tâm trong quá trình
thanh tra tại cơ sở:
- Sữa và nước có được trộn với nhau không, nước tẩy bơ có được chú ý cẩn thận không?

- Có thể giảm được rò rỉ từ các quy trình khác nhau bằng cách cải tiến quy trình công nghệ
không?

- Có thể giảm được lượng nước dùng không?

- Có những chỉ dẫn trong trường hợp có sự cố nhằm tránh gây khó khăn cho các nhà máy xử lý
nước thải ở địa phương không?

- Những chất tẩy rửa và chất sát khuẩn nào được sử dụng. Có thể dùng chất nào ít độc hại hơn
không?

- Các hoá chất và chất độc hại cho môi trường có được bảo quản ở nơi thích hợp không?

- Chất thải từ sữa có ảnh hưởng gì tới hệ thống cống và nhà máy xử lý? có thể cải tạo được gì
không?

- Bộ phận bốc hơi nước và các thiết bị tạo ra kiểu cô đặc nào?

- Chất lỏng từ bộ phận lọc được xử lý như thế nào?

- Loại chất làm lạnh nào được sử dụng?

- Bao bì phế thải được xử lý như thế nào ?

2. Các cơ sở thu nhận và cất giữ các chất độc hại:Một số vấn đề cần phải quan tâm trong quá
trình thanh tra tại cơ sở:

- Loại chất thải và số lượng chất thải có tuân theo quy định cho phép không?

- Chất thải này có được đánh dấu và giữ ở nơi quy định không?

- Chất thải khi đưa vào, đưa ra khỏi nhà máy có biên bản không?

- Các container hoặc thùng chứa có ở tình trạng tốt không? có dấu hiệu rò rỉ không?

- Những chất thải dễ nhạy cảm với sương giá có được giữ trong nhà kín không?

- Có các mùi khó chịu không?

- Các dụng cụ tách dầu có hoạt động không? Chúng có thường bị cạn không? kích thước của
chúng? tình trạng hoạt động?

- Sổ sách theo dõi hoạt động, thải bỏ, thu hồi nước bề mặt có có không? có ghi lại số lượng,
chất lượng, thời gian hoạt động không?

- Nhân viên có được đào tạo và có các quy định cụ thể không?

3. Các cơ sở ngành công nghiệp dệt:Một số vấn đề cần phải quan tâm trong quá trình thanh tra
tại cơ sở:
- Các chất thải lỏng có phát sinh từ hoạt động sản xuất không?

- Có các hệ thống điều chỉnh để tách các các dòng chảy khác nhau của hệ thống nước thải
không? hoặc có khả năng để lắp đặt các hệ thống này không?

- Có thể giảm được lượng nước tiêu thụ không?

- Các dòng nước thải phụ lưu có được xử lý riêng rẽ không. Việc lấy mẫu và quan trắc dòng
chảy được tiến hành như thế nào?

- Các chất thải nào được thải vào không khí từ quá trình sản xuất?

- Các thiết bị xử lý có hoạt động tốt không và được bảo dưỡng ra sao? có được ghi chép hồ sơ
không?

- Các biện pháp phòng ngừa khi xảy ra sự cố trục trặc của thiết bị xử lý chất thải? các chỉ dẫn
khi có sự cố, khả năng phát hiện ra sự cố.

- Có thông tin về sản phẩm và các tài liệu khác có liên quan đến tính độc hại với môi trường của
các hoá chất không?

- Có thể sử dụng các hoá chất ít độc hại cho môi trường hơn không? Các hoá chất và sợi vải có
được tái sử dụng không?

- Các hoá chất và chất thải độc hại được giao nhận và lưu trữ như thế nào? có sổ sách theo dõi
không? có thiết bị đo mức nước, hố thoát trên mặt sàn, thiết bị báo động và bờ ngăn không?

4. Các trung tâm bảo dưỡng xe và trạm bán xăng: Một số vấn đề cần phải quan tâm trong quá
trình thanh tra tại cơ sở:

- Sự kết hợp loại dầu mỡ, dung dịch rửa xe, chất tẩy... có làm ảnh hưởng tới tính chất tự huỷ
của các chất loại dầu mỡ không?

- Có thể sử dụng những chất tẩy rửa/chất loại mỡ ít có hại cho môi trường hơn không?

- Thiết bị tách dầu có bộ phận kiểm soát mức dầu không?

- Có thể thu các mẫu nước ra khỏi thiết bị tách dầu không?

- Các thiết bị tách dầu và cặn có được kiểm tra thường xuyên không?

- Thiết bị tách dầu và cặn thường bao lâu được vét sạch một lần?

- Có hướng dẫn vận hành cụ thể không?

- Các loại bể dầu để làm sạch các bộ phận được xử lý như thế nào?

- Những loại sơn, dung môi, chất chống gỉ nào được sử dụng, số lượng thế nào?

- Các hoá chất và chất thải độc hại có được bảo quản hợp lý theo quy định không?
- Nước từ màn dùng để tách sơn phun được xử lý như thế nào?

- Ðã có hệ thống thu khí xả xăng dầu chưa? so sánh theo quy định?

+ Có ý kiến phàn nàn về các mùi khó chịu từ khu vực dân cư xung quanh không?

- Hệ thống phòng cháy, chữa cháy và phương pháp ứng cứu khi co sự cố rò rỉ dầu, xăng ra khỏi
bể chứa

5. Các nhà máy bia và nước giải khát: Một số vấn đề cần phải quan tâm trong quá trình thanh
tra tại cơ sở:

- Hạt ngũ cốc, hoa bia, cặn có được xử lý không?

- Có thể sử dụng biện pháp làm giảm rò rỉ từ quy trình sản xuất không?

- Các chai hỏng và thuỷ tinh có thể được thu hồi không?

- Có thể giảm được lượng nước sử dụng không?

- Có các quy trình vận hành thiết bị hệ thống để tránh các lỗi gây ra ảnh hưởng xấu tới môi
trường không?

- Loại chất tẩy rửa nào được sử dụng? có thể thay thế được các chất tẩy rửa khác có lợi hơn
cho môi trường không?

- Các hoá chất và chất độc hại có được cất giữ ở nơi phù hợp không?

- ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT THẢI LỎNG TỪ QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT BIA ÐỐI VỚI hệ
thống cống rãnh chung của khu vực xung quanh và môi trường?

- Loại thiết bị lạnh nào được sử dụng ở dây chuyền làm lạnh?

- CO2 phát sinh từ quy trình có thể được tái sử dụng không?

6. Các lò giết mổ gia súc:Một số vấn đề cần phải quan tâm trong quá trình thanh tra tại cơ sở:

- Tất cả các sàn thoát nước có rổ lọc không?

- Có thể giảm được lượng nước không? Trong khâu làm sạch có sử dụng thiết bị áp xuất cao
không?

- Các thiết bị tinh chế có hoạt động tốt không?

- Các chất thải rắn và lòng ruột có được dồn về một nơi khô ráo không?

- Có thể cải thiện được việc vận chuyển lòng ruột hoặc các phủ tạng trong khâu làm lòng
không?

- Phân gia súc có tập trung ở một nơi được phép không?
- Chất thải khác được vận chuyển và xử lý như thế nào?

- Có các mùi khó chịu bay ra từ lò mổ không?

- Những chất tẩy rửa nào được sử dụng? có tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường
không?

- Các hoá chất có được vận chuyển và sử dụng hợp lý không?

- Chức năng tự kiểm tra, ghi chép sổ sách theo dõi của cơ sở sản xuất?

7. Các nhà máy sản xuất nhựa asphalt và sỏi dầu: Một số vấn đề cần phải quan tâm trong quá
trình thanh tra tại cơ sở:

- Kho tàng:

+ Các kho chứa nguyên liệu đá sỏi có được bảo vệ tránh ẩm không (ví dụ bằng cách bao chắn,
thoái nước)?

+ Khu vực kho có thích hợp để tránh nguy cơ khuyếch tán bụi không?

+ Các bãi nguyên liệu ngoài trời có được che tránh gió không?

+ Dầu, nhựa đường, chất lỏng dễ chảy được cất giữ như thế nào?

+ Các thùng chứa có được đặt sao cho tránh được tràn hay rò rỉ vào hệ thống cống thoát nước
và bảo vệ các chất dễ cháy không?

+ Có các dụng cụ thu hồi chất tràn ở các điểm tiếp xúc không?

- Ðường xá:

+ Ðường xá có được phun nước không?

+ Các thùng xấy có kín hơi không? không khí có thể thoát ra không?

+ Các thùng xấy có được bảo vệ khỏi mưa gió không? chúng có được cách ly không?

+ Nhựa đường cũ có được tái sử dụng trong quá trình không?

+ Các khu vực cũ có thể gây bụi có được bao chắn kín không?

+ Các bộ phận làm lạnh và vận chuyển có được bảo vệ khỏi nước mưa không?

+ Nhiệt độ trong quá trình lọc có được theo dõi thường xuyên không?

+ Các chất tẩy rửa tràn ra khi rửa xe và dốc nâng có được theo dõi thường xuyên không?

+ Nhựa đường bỏ được xử lý như thế nào?

+ Có thiết bị tách dầu ở đường nước thải không?
+ Các chất thải độc hại với môi trường và các chất thải khác được xử lý như thế nào?

+ Việc chất xếp và bốc dỡ được thực hiện như thế nào?

III.2- Thanh tra lần đầu:

Phần này hướng dẫn việc thực hiện việc tổ chức một cuộc thanh tra lần đầu về bảo vệ môi
trường đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhằm mục đích đánh giá đầy đủ và toàn diện tất
cả các mặt hoạt động có liên quan tới công tác bảo vệ môi trường của cơ sở.

III.2.1- Chuẩn bị trước khi thanh tra:

Công tác chuẩn bị tốt sẽ giúp cho các giai đoạn sau được thuận tiện và nhanh chóng hơn. Nên
dành khoảng 40-50% thời gian cho việc chuẩn bị kế hoạch và các bước chuẩn bị để thanh tra.

Công việc đầu tiên của người thanh tra là nên kiểm tra toàn bộ chương trình, tài liệu cung cấp
các thông tin cần thiết về địa điểm (nhà máy...) cần thanh tra (gọi tắt là điểm thanh tra). Những
giấy tờ khác cũng liên quan đến điểm thanh tra cũng cần có như giấy phép hoạt động, báo cáo
ÐTM, các cam kết của cơ sở và những yêu cầu đối với công tác bảo vệ môi trường của các cơ
quan thẩm quyền đối với cơ sở. Có thể mời những cơ quan khác có liên quan đến điểm thanh
tra cùng tham gia vào công tác này. Cần phải đảm bảo những thông tin của các kênh trung gian,
các cơ quan, các đồng nghiệp được cung cấp đầy đủ và đáp ứng đúng mục đích thanh tra.

Lưu ý trong bước này là: Phải trang bị cho mình đầy đủ kiến thức cần thiết và sự hiểu biết về
vấn đề dự định thanh tra, đưa ra những dự định cần thanh tra ở cơ sở trước khi xuống cơ sở.
Trong đó, cũng cần cân nhắc xem có nên lấy mẫu xét nghiệm hay không, và nếu lấy mẫu thì
Thanh tra viên cũng nên dự định (lựa chọn) ngay phòng xét nghiệm phân tích mẫu (phòng xét
nghiệm đã được công bố, có uy tín và được công nhận).

III.2.2- Quá trình thanh tra:

- Kiểm tra thu thập các số liệu về công nghệ sản xuất của cơ sở, công xuất sản xuất, các loại
sản phẩm chính, sản phẩm phụ, các loại nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu và vật liệu sử dụng để
sản xuất. Ðánh giá các chỉ tiêu tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, hoá chất, điện năng, than,
dầu, nước.

- Thanh tra việc thực hiện các quy định về thủ tục hành chính như: Lập báo cáo ÐTM, thực hiện
các yêu cầu trong giấy phép môi trường hay phê chuẩn báo cáo ÐTM, các cam kết về giảm
thiểu ô nhiễm trong ÐTM của cơ sở, hướng dẫn cơ sở trang bị các văn bản pháp luật về môi
trường và phổ biến một số quy định cơ bản về bảo vệ môi trường mà cơ sở phải thực hiện.

- Kiểm tra các sổ sách giấy tờ có liên quan tới các thiết bị xử lý chất thải, các kết quả phân tích,
thử nghiệm các thành phần của môi trường, các quy định của cơ sở được thanh tra về công tác
quản lý môi trường trong cơ sở, sổ sách theo dõi hoạt động của các thiết bị xử lý chất thải, hiệu
quả xử lý chất thải của các thiết bị, tải lượng thải. Kiểm tra điều kiện sản xuất thực tế với nội
dung kê khai trong báo cáo ÐTM đã được phê duyệt. Qua kiểm tra cần ghi chép rõ tình trạng
của các thiết bị xử lý chất thải, các công đoạn trong quá trình sản xuất chưa có thiết bị xử lý
chất thải hoặc thiết bị xử lý chất thải hoạt động chưa đạt yêu cầu, đồng thời gia hạn thời gian
cho cơ sở cải tạo, khắc phục các thiết bị xử lý chất thải.

- Tiến hành kiểm tra kỹ thuật tại hiện trường nhằm xác định rõ mức độ ô nhiễm do hoạt động
sản xuất gây ra, so sánh với các kết quả đo kiểm tra môi trường do cơ sở tự thực hiện, đối chiếu
với các tiêu chuẩn quy định về môi trường. Từ đó đề ra các yêu cầu, các biện pháp khắc phục
cụ thể cho các điểm phát thải trong nhà máy.

- Trong quá trình thanh tra cần phải chú ý tới đặc tính công nghệ và kỹ thuật, nhẵm xác định
chính xác quá trình thanh tra được tiến hành tại cơ sở trong điều kiện cơ sở đang hoạt động
bình thường, đúng công xuất.

- Các nguồn thải và tải lượng thải của các cơ sở phải được xem xét cụ thể và chính xác, nhằm
xác định rõ tính khả thi của các thiết bị xử lý chất thải trong quá trình hoạt động.

Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên phải kiểm tra công tác tự giám sát quan trắc môi trường của
cơ sở được thanh tra.

Kiểm tra, xem xét tất cả các phiếu thử nghiệm môi trường bên trong nhà máy do cơ sở được
thanh tra tự thực hiện hoặc do các cơ quan chức năng khác như: Y tế, Lao động đã thực hiện.

Thu thập các số liệu về nguồn kinh phí đầu tư về bảo vệ môi trường của cơ sở, đầu tư cho hệ
thống xử lý chất thải. Các khó khăn và thuận lợi của cơ sở trong công tác Bảo vệ môi trường.

Hiện nay, hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh và các đối tượng khác khi được phê chuẩn báo
cáo ÐTM, thì bản thân cơ sở đó phải chịu trách nhiệm phân tích, quan trắc các chỉ số chất thải
theo báo cáo ÐTM. Thanh tra môi trường có thể dựa trên các kết quả phân tích này để kiểm tra,
giám sát các hoạt động môi trường của cơ sở. Trong trường hợp có khiếu kiện, các thông số đo
đạc có vấn đề nghi vấn hoặc thiếu hụt thì phải tiến hành lấy mẫu và phân tích. Việc lấy mẫu,
phân tích và các kết quả phân tích đánh giá phải dựa trên tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam
(TCVN).

Trong lần thanh tra đầu tiên, vấn đề phòng ngừa ô nhiễm và các hình thức tự kiểm tra, giám sát
đối với cơ sở phải được đề cập tới.

áp dụng các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường đối với thải các chất thải ra ngoài môi
trường như: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí, chất phóng xạ, phá vỡ cảnh quan môi
trường hay đa dạng sinh học. Các biện pháp phòng ngừa có thể là:

- ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT TIÊN TIẾN, CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẠCH HƠN để hạn
chế do ô nhiễm từ chất thải phát ra. Ví dụ:

+ Nuớc trong sản xuất có thể được sử dụng tuần hoàn, tái sử dụng lại, giảm lượng nước đưa
vào sản xuất để giảm tải lượng nước thải.

+ Sử dụng nguồn nguyên liệu, nhiên liệu sạch hơn, thay thế các loại than củi, dầu bằng các loại
than chứa ít lưu huỳnh hơn, hay sử dụng gaz làm khí đốt thay thế.

+ Sử dụng nguyên liệu sản xuất có hiệu suất cao hơn để giảm tổng lượng chất thải rắn.

+ Thay thế các nguyên vật liệu gây ô nhiễm bằng các nguyên vật liệu ít gây ô nhiễm hay ô
nhiễm ít hơn.

+ Sử dụng các thiết bị sản xuất ít gây ra tiếng ồn đối với các cơ sở sản xuất nằm gần khu dân
cư.

+ áp dụng các biện pháp xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường các cơ sở sản xuất như: Chất
thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí, chất phóng xạ, phá vỡ cảnh quan môi trường hay đa dạng
sinh học (các biện pháp xử lý phải tuân thủ theo đúng quy trình và quy định của Bộ KH,CN&MT
và các Bộ, ngành có liên quan). Trong trường hợp chưa có quy định, thì các biện pháp xử lý cụ
thể có thể ví dụ như sau:

o Nước thải phải có hệ thống xử lý trước khi thải ra ngoài (trường hợp đơn giản
nhất thì cũng phải có song chắn rác, lắng cặn hoặc bể tự hoại để xử lý nước
thải, sử dụng các loại hoá chất hay phương pháp sinh học để xử lý nước thải).
Tất cả các yêu cầu phải dựa vào tính năng kỹ thuật và đặc tính công nghệ của
từng nhà máy.

o Chất thải rắn phải được thu gom và có biện pháp xử lý thích hợp như: Rác có
thể đốt theo quy định hoặc hợp đồng với các cơ sở được phép chuyên thu gom
rác thải của đô thị; chất thải rắn có chứa các chất độc hại phải được xử lý riêng,
không được thải vào bãi thải chung, nếu chưa có biện pháp xử lý về môi trường
được Sở KH,CN&MT phê duyệt, thì phải được lưu giữ theo biện pháp quy định
trong phạm vi cơ sở và không được để ô nhiễm tới môi trường nước mặt, nước
ngầm và đất.

o Khí thải, bụi phải được thải qua ống khói có chiều cao đủ độ phát tán, trong các
trường hợp tải lượng chất thải lớn và có chứa các chất độc hại phải được trang
bị các thiết bị lọc bụi, hấp thụ khí độc và giảm tải lượng khí thải theo yêu cầu
của báo cáo ÐTM đã được phê chuẩn.

(Trong lần thanh tra đầu tiên, vấn đề quan trọng là thủ tục lập và nộp báo cáo ÐTM cho cơ quan
quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, nếu chưa nộp phải xử lý ngay; nếu nộp và đã được
phê chuẩn thì phải xem xét việc thực hiện theo yêu cầu phê chuẩn).

- Trong quá trình thanh tra lần đầu tiên cần thanh tra việc tự kiểm tra giám sát môi trường đối với
các nguồn thải do hoạt động sản xuất của cơ sở gây ra:

+ Ðối với các nguồn thải đều cần phải có sổ theo dõi về vấn đề môi trường theo các nội dung
như sau:

o Tải lượng thải hàng ngày của nước thải, chất thải rắn, khí thải;
o Chất lượng nguồn thải (kết quả tự kiểm tra giám sát các chỉ tiêu về môi trường ở
các nguồn thải).
o Tính năng kỹ thuật của thiết bị xử lý theo dõi vận hành (nhật ký theo dõi thiết bị
xử lý).
o Các sự cố đối với thiết bị xử lý môi trường.

+ Các phương án phòng ngừa sự cố môi trường, như vỡ bể xử lý nước thải, hỏng lọc bụi, cháy
nổ, bão lụt...

+ Kế hoạch tự kiểm soát ô nhiễm và quan trắc chất lượng các nguồn thải như: Sơ đồ vị trí lấy
mẫu và đo kiểm tra tại hiện trường, tần xuất lấy mẫu, các chỉ tiêu cần phân tích, dự kiến kinh
phí thực hiện.

+ Kế hoạch về bảo vệ môi trường hàng năm gồm: Các công việc dự kiến sẽ thực hiện và dự trù
kinh phí kèm theo. Các công việc dự kiến sẽ thực hiện phải chi tiết và riêng đối với từng hạng
mục, có thời gian thực hiện và kinh phí kèm theo.

III.2.3. Kết thúc thanh tra:
- Sau quá trình thanh tra, Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên phải lập Biên bản thanh tra hoặc
báo cáo thanh tra rõ ràng, đầy đủ, chứng minh được những vấn đề đã thanh tra và phải ghi rõ
các yêu cầu của đoàn thanh tra (Cụ thể đối với từng vấn đề và thời gian bắt buộc thực hiện cụ
thể).

Biên bản thanh tra phải trung thực, khách quan trong việc đánh giá thực trạng việc tuân thủ pháp
luật của đối tượng thanh tra và báo cáo đầy đủ những vấn đề thu thập được ở những nơi thanh
tra đến làm việc NHẰM TRẢ LỜI ÐƯỢC NHỮNG CÂU HỎI NHƯ: AI, NHƯ THẾ NÀO, Ở ÐÂU,
KHI NÀO, TẠI SAO VÀ LÀM THẾ nào. Báo cáo phải có cấu trúc đầy đủ dưới dạng chuyên gia và
phản ánh đầy đủ các thông tin đã có, câu ngắn ngọn để người xem dễ hiểu, dễ tìm kiếm....

Những mục sau đây nên đưa vào báo cáo: đầu đề (dạng thanh tra, nơi thanh tra, hoạt động cần
thanh tra...); địa chỉ nơi thanh tra (bao gồm địa chỉ cơ quan chủ quản, địa chỉ của nhà máy,
điểm thanh tra, địa điểm liên hệ...); danh sách Ðoàn thanh tra (trưởng đoàn và các thành viên
trong đoàn); Các thông tin chung của điểm thanh tra (các văn bản, giấy phép cần thiết của cơ
sở, báo cáo ÐTM...); thời gian thanh tra; các buổi làm việc cụ thể (địa điểm, danh sách những
người tham dự, phạm vi và thời gian...); vùng, phạm vi thanh tra; hồ sơ thanh tra; cuộc họp thông
báo kết quả thanh tra; các mẫu phân tích (nơi lấy mẫu, kết quả phân tích, kết quả sai sót...) và
cuối cùng là những yêu cầu đối với điểm thanh tra (trong đó có nêu lên các qui định pháp luật và
cưỡng chế...) (Về hình thức và nội dung cụ thể ghi theo mẫu Biên bản thanh tra ban hành theo
Quyết định 1410/2000/QÐ-BKHCNMT - trong phụ lục kèm sau).

Trong trường hợp cơ sở thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường do cơ quan quản lý
nhà nuớc về Bảo vệ môi trường yêu cầu. Song hiệu quả xử lý chất thải không đạt yêu cầu, kế
hoạch tự quan trắc môi trường kém hiệu quả, Ðoàn thanh tra phải báo cáo với Giám đốc sở để
Giám đốc ký quyết định yêu cầu cơ sở phải tực hiện các yêu cầu cụ thể (sửa đổi hoặc bổ sung
các quyết định cũ).

III.3- Thanh tra thường xuyên (Ðịnh kỳ):

- Thanh tra định kỳ được tiến hành định kỳ 01 lần/01năm đối với một cơ sở. Nội dung thanh tra
định kỳ giống như thanh tra lần đầu tiên, song thường được tập trung vào một số vấn đề, một số
nguồn thải có khả năng dễ gây ra ô nhiễm môi trường đã được ghi nhận trong lần thanh tra
trước. Cụ thể nên tập trung vào:

+ Xem xét việc thực hiện các yêu cầu trong Giấy phép môi trường hoặc Phê chuẩn báo cáo
ÐTM, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu trong lần thanh tra trước.

+ Kiểm tra các thiết bị xử lý chất thải theo cam kết trong báo cáo ÐTM, lấy mẫu chất thải để thử
nghiệm nếu thấy cần thiết.

+ Tiến hành kiểm tra kỹ thuật các thông số về môi trường tại các vị trí, nguồn thải đã được yêu
cầu phải xử lý trong lần thanh tra trước.

- Xử lý các vi phạm về môi trường theo quy định tại Nghị định 26/CP.

- Ðối với các cơ sở sản xuất lớn nên tập trung vào các khu vực, nguồn thải có khả năng gây ra ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng và môi trường khu vực xung quanh.

Ðoàn Thanh tra phải xem xét sự thay đổi về quy mô công nghệ sản xuất, công xuất, nguồn
nguyên liệu, các loại chất thải, nguồn thải và hệ thống xử lý.

III.4- Lập Kế hoạch thanh tra môi trường
Mục này đề cập đến việc lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Sở KH,CN&MT được thực hiện
hàng năm và hàng quý và việc lập kế hoạch thanh tra của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên
khi tổ chức thực hiện quyết định thanh tra cụ thể.

III.4.1- Kế hoạch thanh tra định kỳ:

Mục đích của lập kế hoạch thanh tra là nhằm làm cho công tác thanh tra được thực hiện có hiệu
quả, tránh chồng chéo giữa các cơ quan chức năng có thẩm quyền thanh tra về bảo vệ môi
trường trên cùng địa bàn Tỉnh, Thành phố như: Thanh tra Bộ KH,CN&MT, Thanh tra Cục Môi
trường, Thanh tra Sở KH,CN&MT, UBND các cấp, Thanh tra các ngành.

- Thanh tra định kỳ theo kế hoạch hàng năm được thực hiện theo đúng quy định của Nghị định
61/1998/NÐ-CP ngày 15/08/1998 của Chính phủ và chỉ thị số 1435/1998/CT-BKHCNMT ngày
28/9/1998 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT.

Hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường là một trong các hoạt động thanh tra của Sở
KH,CN&MT các Tỉnh/Thành phố. Do đó, kế hoạch thanh tra bao gồm 2 phần cơ bản:

+ Kế hoạch thanh tra các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ với danh sách các cơ sở sẽ tiến
hành thanh tra trong năm gồm các chi tiết như sau:

o Tên cơ sở
o Ðịa chỉ cơ sở
o Nội dung thanh tra
o Cơ quan thực hiện (Thanh tra Sở, phối hợp với các phòng chức năng trong Sở
hay với chính quyền các cấp và các ngành có liên quan).

Khi lập kế hoạch thanh tra phải cân đối nhân lực, phương tiệnvà kinh phí nhà nước chi cho hoạt
động thanh tra hàng năm. Ðồng thời phải cân đối giữa hoạt động thanh tra về bảo vệ môi trường
với các hoạt động thanh tra khác thuộc chức năng thanh tra của Sở như: Thanh tra về Tiêu
chuẩn-Ðo lường- Chất lượng; thanh tra về Sở hữu Công nghiệp; thanh tra về các chương trình,
đề tài nghiên cứu khoa học; thanh tra về hoạt động kinh doanh có điều kiện thuộc đối tượng Sở
KH,CN&MT cấp giấy phép...

+ Dự trù kinh phí phục vụ cho công tác thanh tra theo kế hoạch:

o Số lượng cuộc thanh tra và chi phí cho từng cuộc thanh tra.
o Chi phí cho các Ðoàn thanh tra như: Công tác phí và bồi dưỡng cho Ðoàn thanh
tra theo chế độ quy định.
o Chi phí nghiệp vụ phí: Giám định môi trường, kiểm nghiệm mẫu, thuê chuyên
gia đánh giá...
o Chi phí cho bồi dưỡng nghiệp vụ, tập huấn.
o Chi phí cho mua sắm tài liệu, quay phim chụp ảnh, sách, băng từ...
o Dự trù kinh phí cho phương tiện hoạt động (Xăng xe, xe ô tô phục vụ công tác
thanh tra...).

Hàng năm Thanh tra Sở KH-CN&MT đều lập kế hoạch thanh tra về bảo vệ môi trường trình
Giám đốc Sở phê duyệt. Kế hoạch thanh tra được xây dựng dựa trên yêu cầu thực tế ở địa
phương. Kế hoạch thanh tra đã được Giám đốc Sở phê duyệt và gửi tới Thanh tra Bộ
KH,CN&MT để cân đối kế hoạch thanh tra của các tổ chức thanh tra thuộc Bộ KH,CN&MT theo
Chỉ thị 1435/1998/CT-BKHCNMT của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT. Trên cơ sở Kế hoạch thanh tra
đã được Chánh Thanh tra Bộ KH,CN&MT thống nhất, Sở KH,CN&MT trình lên Thanh tra
Tỉnh/Thành phố để tổng hợp trong kế hoạch thanh tra chung trên địa bàn Tỉnh. Sau khi được sự
nhất trí thông qua của Thanh tra nhà nước Tỉnh, Sở KH,CN&MT chủ động tổ chức lập kế hoạch
từng quý cụ thể cho từng cơ sở sản xuất. Kế hoạch Thanh tra của từng quý được báo cáo về
Thanh tra Bộ KH,CN&MT trước ngày 25 của tháng cuối quý. Sau khi được Chánh thanh tra Bộ
KH,CN&MT thống nhất kế hoạch thanh tra trong Quý, Sở KH,CN&MT tổ chức triển khai theo
đúng kế hoạch đã được thống nhất.

- Việc xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm được dựa trên yêu cầu cụ thể của từng địa
phương cụ thể như sau:

+ Cơ sở dữ liệu tổng hợp các loại hình sản xuất, kinh doanh có tác động gây ô nhiễm môi
trường trên địa bàn Tỉnh, Thành phố.

+ Cơ sở dữ liệu tổng hợp các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã được phê chuẩn báo cáo ÐTM.

+ Cơ sở dữ liệu về các cơ sở sản xuất, kinh doanh có gây ra ô nhiễm môi trường hoặc có các
nguồn chất thải nguy hiểm, độc hại dễ gây ra ô nhiễm môi trường.

+ Tổng hợp số liệu của các cơ sở phải thực hiện kiểm soát ô nhiễm trong năm.

+ Tổng hợp các cơ sở đã được cấp giấy phép môi trường và thời hạn hiệu lực của giấy phép.

+ Tổng hợp các yêu cầu của các Ðoàn thanh tra về môi trường đã tiến hành.

+ Báo cáo về công tác môi trường định kỳ của các cơ sở sản xuất kinh doanh và các đối tượng
khác có sử dụng thành phần môi trường trên địa bàn.

+ Các Sở KH,CN&MT nên biên soạn hồ sơ đăng ký về các hoạt động gây nguy hại tới môi
trường, nội dung của sổ theo dõi hệ thống xử lý chất thải, sổ sách theo dõi công tác bảo vệ môi
trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh, kèm theo các quyết định và các yêu cầu cụ thể đối
với việc sử dụng sổ sách theo dõi công tác quản lý môi trường đối với từng cơ sở sản xuất kinh
doanh. Hồ sơ, sổ sách này phải được cập nhật và sử dụng làm cơ sở cho việc tiến hành thanh
tra (có thể xây dựng thành cơ sở dữ liệu).

Kế hoạch thanh tra phải phản ánh được đầy đủ các hoạt động sẽ thực hiện và nên chỉ rõ:

Phạm vi hẹp và phạm vi rộng của toàn bộ kế hoạch thực hiện nhằm thực hiện việc kiểm tra sự
tuân thủ pháp luật một cách hệ thống:

Ví dụ như: Hình thức thanh tra, tần suất thanh tra, đồng thời có bảng thứ tự ưu tiên các thanh tra
đối với các loại hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường, thứ tự ưu tiên trong cùng một loại hoạt
động.

+ Trong mỗi giai đoạn thời gian, nên tập trung vào thanh tra theo các chuyên đề riêng như: Cùng
một loại hình sản xuất, cùng một loại hình ô nhiễm từ đó có những đánh giá chung, so sánh,
đồng thời đề ra các giải pháp cho công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của Sở.
Ðiểm khởi đầu nên tập trung vào các hoạt động ảnh hưởng lớn tới môi trường. Tuy nhiên nên
tập trung vào các hoạt động, mà ở đó thông qua hoạt động thanh tra có thể cải thiện được tình
trạng môi trường của đối tượng được thanh tra.

Liên quan tới việc xây dựng kế hoạch cho các loại hình thanh tra đặc trưng cần phải chuẩn bị
chi tiết và đầy đủ các thông tin cần thiết như: Các báo cáo của các cơ sở sản xuất kinh doanh,
các cơ sở dữ liệu về công tác tự kiểm tra quan trắc của cơ sở, báo cáo về chương trình quan
trắc chất lượng môi trường của Tỉnh, Thành phố, các kết quả thanh tra, kiểm tra trước...
III.4.1.1- Kế hoạch thanh tra theo các báo cáo ÐTM:

- Căn cứ vào số lượng các báo cáo ÐTM đã được thẩm định và phê chuẩn, lập danh sách các
cơ sở phải lập báo cáo ÐTM theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản dưới
Luật, từ đó lập kế hoạch thanh tra tập trung vào các cơ sở chưa triển khai thực hiện lập báo cáo
ÐTM theo quy định.

- Theo nội dung báo cáo ÐTM đã được phê duyệt và báo cáo định kỳ của các cơ sở trong việc
thực hiện các cam kết trong báo cáo ÐTM, từ đó lập kế hoạch thanh tra tại các cơ sở nhằm đảm
bảo việc thực hiện các cam kết về giảm thiểu ô nhiễm và các yêu cầu trong giấy phép môi
trường, trong phê chuẩn báo cáo ÐTM.

III.4.1.2- Kế hoạch thanh tra theo việc thực hiện kiểm soát ô nhiễm:

- Qua việc xem xét báo cáo kiểm soát ô nhiễm của các cơ sở có thể đánh giá việc thực hiện các
biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tại các cơ sở đã được phê chuẩn báo cáo ÐTM; hiệu quả xử lý
chất thải của các thiết bị xử lý, các nguồn gây ô nhiễm và mức độ ô nhiễm do hoạt động sản
xuất gây ra. Từ đó lập kế hoạch cho việc thanh tra các cơ sở theo thứ tự ưu tiên (Các cơ sở gây
ô nhiễm lớn cần được thanh tra và xử lý trước).

III.4.1.3- Kế hoạch thanh tra theo Giấy phép về môi trường:

- Giấy phép về môi trường được cấp cho các cơ sở đã thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi
trường, hệ thống xử lý chất thải đảm bảo xử lý chất thải đạt theo tiêu chuẩn quy định trước khi
thải ra ngoài.

Ðối với các cơ sở đã được cấp giấy phép về môi trường cần tiến hành thanh tra định kỳ để kiểm
tra việc tuân thủ các yêu cầu trong giấy phép, các thay đổi về công nghệ, thiết bị... đồng thời
tránh xảy ra các sự cố về môi trường.

III.4.1.4- Kế hoạch thanh tra việc thực hiện các yêu cầu của lần thanh tra trước:

- Tất cả các lần thanh tra tại cơ sở đều có Biên bản thanh tra, kèm theo các yêu cầu của Ðoàn
thanh tra hoặc Thanh tra viên. Ðể đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật được nghiêm chỉnh,
phải tiến hành thanh tra lại các yêu cầu. Ðồng thời có những biện pháp xử lý cần thiết khi cơ sở
cố tình không thực hiện.

Việc lập kế hoạch thanh tra môi trường hàng năm phải chú ý tới các loại hình sản xuất gây nguy
hại lớn tới môi trường, các loại chất thải độc hại, các nguồn gây ô nhiễm tới khu vực dân cư lớn,
nguồn nước... Ví dụ:

+ Bụi khói đối với các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng, luyện kim, khai thác mỏ...

+ Nước thải đối với các nhà máy sản xuất giấy, tấm lợp amiăng, luyện kim, chế biến khoáng
sản, chế biến thực phẩm, khai thác mỏ, bệnh viện, thuỷ hải sản...

+ Chất thải rắn độc hại như: các loại vỏ chai đựng thuốc bảo vệ thực vật đã qua sử dụng, bã
thải có chứa các kim loại nặng của các cơ sở luyện kim màu, chất thải y học từ bệnh viện...

+ Các cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong khu vực dân cư phải được thanh tra định kỳ hàng năm
và giám sát thường xuyên.
TT LOẠI hình sản xuất BỤI, khói, TIẾNG NƯỚC CHẤT NGUỒN
khí thải ồn thải thải rắn phóng xạ
1 Vật liệu xây dựng + +
1.1 Sản xuất xi măng + +
1.2 Sản xuất gạch +
1.3 Sản xuất tấm lợp Amiăng xi măng + + +
2 Luyện kim + + + +
2.1 Sơ tuyển khoáng sản + ++ +
2.2 Luyện kim màu + + ++ + +
2.3 Luyện kim đen + + + + +
2.4 Gia công chế biến kim loại,mạ chi + + +
tiết máy
3 Chế biến giấy, gỗ ++
4 Chế biến thực phẩm +
5 Thuốc bảo vệ thực vật + +
6 Khai thác mỏ + + + + +
7 Kinh doanh xăng dầu +
8 Bãi rác + ++
9 Bệnh viện + + +


- Ngoài công tác Thanh tra thường xuyên theo kế hoạch, Thanh tra Sở KH,CN&MT còn phải tiến
hành:

+ Thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ
môi trường tại các cơ sở;

+ Thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân.

III.4.2- Kế hoạch tiến hành một cuộc thanh tra:

Kế hoạch tiến hành một cuộc thanh tra là công việc gắn liền với trách nhiệm của Trưởng Ðoàn
thanh tra. Sau khi có quyết định thanh tra, người Trưởng Ðoàn thanh tra phải lập kế hoạch để
vạch ra những nội dung, tiến độ và phân công thành viên trong đoàn thực hiện cụ thể, nhằm
đảm bảo theo đúng nội dung và thời gian theo quyết định thanh tra. Kế hoạch thanh tra cũng
phải đáp ứng yêu cầu của các giai đoạn tiến hành của cuộc thanh tra.

- Trước khi tiến hành thanh tra (công tác chuẩn bị);

+ Tổ chức nắm tình hình, thu thập thông tin, nghiên cứu kỹ đối tượng và các tài liệu có liên quan
đến cuộc thanh tra;

+ Chuẩn bị những kiến thức cần thiết cho cuộc thanh tra;

+ Xây dựng đề cương để yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo;

+ Chuẩn bị các thủ tục hành chính cần thiết cho Ðoàn thanh tra;
+ Dự trù điều kiện làm việc, sinh hoạt của đoàn:

o Các thiết bị cần thiết cho hoạt động của Ðoàn thanh tra: Máy ghi âm, máy quay
camera, máy chụp ảnh, máy vi tính xách tay, các thiết bị đo nhanh như: Máy đo
bụi, máy đo nhanh khí độc, máy đo tiếng ồn, máy đo độ rung, máy kiểm tra
nhanh liều phóng xạ, máy đo PH, thiết bị lấy mẫu nước thải ...

o Ðiều kiện ăn, ở của đoàn thanh tra khi tiến hành thanh tra tại cơ sở: Ðoàn thanh
tra và Thanh tra viên thực hiện theo 5 điều kỷ luật đối với viên chức thanh tra
(Ban hành kèm theo Quyết định số 101/TTNN ngày 20/2/1995 của Tổng Thanh
tra Nhà nước).

Vấn đề ăn ở của viên chức thanh tra được quy định tại Ðiều 2:" n, ở, sử dụng
phương tiện đi lại của đơn vị, cơ quan được thanh tra phải thanh toán theo đúng
chế độ quy định, và được thanh toán từ đầu với nơi được thanh tra nếu là việc
ăn, ở phương tiện đi lại phải dựa vào nơi đó. Không nhận quà biếu dưới bất cứ
hình thức nào, đồng thời đấu tranh chống mọi hành vi tìm cách mua chuộc, lôi
kéo của đối tượng được thanh tra."

o Trong kế hoạch thanh tra phải xây dựng chi tiết các chi phí cho hoạt động thanh
tra như:

Phương tiện đi lại: Xe ô tô khi cần phải thanh tra các cơ sở xa cơ quan, số lượng
tham gia đoàn thanh tra lớn, phải vận chuyển các thiết bị phục vụ giám định tại
hiện trường, lấy mẫu...; sử dụng xe máy trong trường hợp thanh tra thủ tục hành
chính đối với các cơ sở gần cơ quan làm việc.

Trong điều kiện thanh tra ở xa, các cán bộ thanh tra được hưởng chế độ lưu trú
và công tác phí theo quy định tại Thông tư 94/1998/TT-BTC của Bộ tài chính.

o Thuê chuyên gia và trưng cầu giám định: Trong trường hợp cần phải có cơ sở
pháp lý để kết luận về mặt kỹ thuật, Chánh thanh tra Sở và Trưởng đoàn thanh
tra hoặc Thanh tra viên có quyền trưng cầu giám định (có mẫu trong phụ lục
kèm theo) với các cơ quan chức năng chuyên môn để giám định các chỉ tiêu
phát thải của cơ sở, chất lượng nước thải, chất thải rắn hay giám định về các
thiết bị xử lý chất thải theo yêu cầu. Hợp đồng giám định được làm theo mẫu
(ban hành theo Quyết định 1118 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT - Phụ lục kèm
sau).

+ Họp Ðoàn thanh tra thống nhất kế hoạch, đề cương, phổ biến nội quy làm việc, sinh hoạt của
Ðoàn trong quá trình thanh tra và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Ðoàn.

- Tiến hành trực tiếp thanh tra:

+ Công bố quyết định thanh tra, đề cương và chương trình làm việc của Ðoàn thanh tra;

+ Tiến hành thanh tra thực tế tại cơ sở:

Phương pháp thanh tra được áp dụng theo một hay nhiều phương pháp sau:

o Ðối tượng thanh tra báo cáo bằng văn bản.
o Chất vấn giữa đoàn thanh tra, thanh tra viên với đối tượng được thanh tra.
o Yêu cầu mô tả, diễn lại công việc đã làm.
o Thu thập hồ sơ, hiện vật các thông tin liên quan, xem xét công nghệ kiểm
nghiệm mẫu vật để làm sáng tỏ sự việc.
o Trực tiếp xem xét tại các cơ sở tiến hành thanh tra.
o Ghi âm, chụp ảnh, quay phim hiện trạng môi trường nếu thấy cần thiết.

- Kết thúc cuộc thanh tra:

+ Làm báo cáo kết luận cuộc thanh tra (Biên bản thanh tra): Sau quá trình thanh tra phải có Biên
bản thanh tra theo đúng quy định. Các yêu cầu của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên được ghi
trong biên bản thanh tra. Ðối với những trường hợp cần thiết, phải có thông báo của đoàn thanh
tra bằng văn bản kèm theo các yêu cầu bắt buộc thực hiện. Ðối với những vấn đề nghiêm trọng
vượt quá thẩm quyền giải quyết của Ðoàn thanh tra hoặc cần phải có sự phối kết hợp của
Chính quyền các cấp thì các Báo cáo thanh tra phải được gửi tới chính quyền các cấp và các cơ
quan chức năng có liên quan. Khi phát hiện có hành vi vi phạm hành chính thì phải tiến hành lập
Biên bản vi phạm hành chính theo quy định.

+ Tổ chức công bố kết luận (thông qua Biên bản thanh tra) và ra các quyết định xử lý theo thẩm
quyền;

+ Tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm về cuộc thanh tra;

+ Báo cáo kết quả thanh tra cho các cấp có thẩm quyền và kiến nghị xử lý tiếp theo (nếu có);

+ Xây dựng hồ sơ cuộc thanh tra và bàn giao theo quy định.

III.5- Thu nhận các thông tin, chứng cứ đặc trưng tại hiện trường:

Phần này hướng dẫn các phương pháp nhằm thu nhận có hiệu quả các thông tin, chứng cứ cần
thiết tại hiện trường, phục vụ cho Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên đánh giá chính xác mức
độ tuân thủ pháp luật của cơ sở được thanh tra.

Thu nhận các thông tin, chứng cứ tại hiện trường bao gồm:

+Kiểm tra sự tuân thủ pháp luật theo quy định của Luật, các quy định, các điều kiện trong giấy
phép, quan trắc giám sát môi trường...

+ Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về Pháp luật cho các cơ sở được thanh tra thông qua các
yêu cầu cụ thể về Bảo vệ môi trường, giải thích về các ảnh hưởng đến môi trường do các hoạt
động của đối tượng thanh tra gây ra.

+ Kiểm tra xem xét: Kiểm tra xem xét các ảnh hưởng tới môi trường, các yêu cầu hiện tại và
những yêu cầu, đòi hỏi nhằm cải thiện môi trường.

- Ðể có thể thu nhận đầy đủ các thông tin tại hiện trường cần thiết phải tiếp cận trực tiếp với đối
tượng được thanh tra. Phải coi cơ sở sản xuất kinh doanh vừa là đối tượng thanh tra vừa là cơ
sở để phối hợp trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn. Thái độ của người làm
công tác thanh tra phải đúng mức và lịch sự, cách đặt vấn đề và chất vấn không được làm khó
chịu cho đối tượng được thanh tra. Không được doạ nạt hay sử dụng những ngôn từ thiếu văn
hoá, lịch sự đối với đối tượng được thanh tra.
- Khi thu nhận các thông tin phải kiên trì, bình tĩnh, tránh nôn nóng tạo điều kiện cho đối tượng
thanh tra được giải trình các vấn đề có liên quan (song phải ngắn gọn rõ ràng, cụ thể). Khi các
thông tin do cơ sở cung cấp không rõ ràng hay còn nhiều vấn đề hoặc còn nhiều điểm không
trùng hợp, phải làm rõ qua việc chất vấn những người có trách nhiệm, kiểm tra các loại chứng
từ, sổ sách, hoá đơn đảm bảo các thông tin được thu nhận là các thông tin chính xác đáng tin
cậy.

- Trong trường hợp cơ sở cố tình không thực hiện việc cung cấp các thông tin cần thiết, Trưởng
đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có thể lập biên bản vi phạm hành chính đối với đối tượng
được thanh tra theo Ðiều 6, khoản 2, điểm c của Nghị định 26/CP.

- Khi tiến hành thanh tra tại cơ sở, Thanh tra viên cần phải phát hiện có bao nhiêu nguồn gây ra
ô nhiễm môi trường và chất thải của cơ sở. Các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu có chứa các chất
độc hại như thế nào. Việc thực hiện bảo quản và sử dụng các loại hoá chất độc hại.

- Từ quy trình công nghệ và công xuất sản xuất, xác định rõ các loại chất thải và tải lượng thải
cụ thể như: Nước thải, chất thải rắn, khí thải. So sánh mức độ phát thải và tải lượng thải với
công xuất và hiệu quả xử lý về mặt lý thuyết của thiết bị xử lý chất thải. Từ đó xác định tính khả
thi về việc quản lý chất thải và phát tán chất thải của cơ sở.

- Ðối với các chất thải nguy hiểm độc hại, nguồn phóng xạ phải được kiểm tra kỹ lưỡng (Bao
gồm cả quy trình sử dụng vận hành, sổ sách theo dõi, kho bảo quản, nhân viên vận hành và
bảo quản chất phóng xạ, chất thải nguy hiểm độc hại).

Quá trình kiểm tra:

+ ẢNH HƯỞNG THỰC TẾ ÐẾN MÔI TRƯỜNG ÐƯỢC ÐÁNH GIÁ THÔNG QUA CÁC phiếu
thử nghiệm môi trường do cơ sở tự thực hiện (chương trình tự giám sát), xem xét hiệu quả xử lý
chất thải của thiết bị xử lý. Kiểm tra xem xét môi trường xung quanh, ví dụ như:

o Bụi phát tán vào không khí, trên cây cối xung quanh khu vực sản xuất theo
hướng gió.
o Nước thải ra ngoài nhà máy (màu sắc, độ trong, mùi nước thải, sự tồn tại của
các loại sinh vật sống trong nước thải và ở mương nước có nước thải chảy vào).
o Tiếng ồn trong và ngoài nhà máy trong điều kiện cơ sở đang hoạt động bình
thường.
o Các khu vực chôn lấp chất thải rắn và mức độ dò rỉ nước thải, ô nhiễm tới môi
trường nước ngầm.

Từ đó có sơ bộ đánh giá về hiệu quả xử lý chất thải, đồng thời đề ra các yêu cầu cụ thể đối với
nhà máy trong việc tự kiểm tra quan trắc và giám sát chất thải cụ thể cho từng loại như: Chất
thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí, chất phóng xạ, bảo quản và sử dụng hoá chất...

Trong trường hợp hoạt động thanh tra tại hiện trường được thực hiện bởi nhiều cơ quan có cùng
chức năng quản lý về Bảo vệ môi trường, hay các ngành có liên quan như: Y tế, Lao động -
Thương binh- Xã hội cần phải có sự phối kết hợp chặt chẽ để các kết quả đánh giá thống nhất
và phản ánh trung thực hiện trạng môi trường tại cơ sở được thanh tra. Tất cả kết quả kiểm tra
tại hiện trường phải được ghi chép lại và lưu giữ theo đúng quy định.

+ Trong trường hợp việc xử lý chất thải, bảo quản và sử dụng hoá chất, chất phóng xạ không
đạt các yêu cầu theo quy định (Các chỉ tiêu chất thải ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép,
không đủ công xuất để xử lý chất thải phát sinh từ sản xuất, hiệu quả xử lý không đạt theo yêu
cầu, điều kiện bảo quản và sử dụng hoá chất không bảo đảm). Ðoàn thanh tra phải đặt ra các
yêu cầu rất cụ thể đối với điều kiện cụ thể của từng cơ sở. Tất cả các yêu cầu phải phù hợp với
các quy định đang có hiệu lực thi hành. Trong trường hợp chưa có quy định chung có thể xem
xét một số vấn đề sau:

o Lắp thêm lọc bụi tại những khu vực chưa có lọc bụi, nâng cao chiều cao ống
khói, thay đổi lọc bụi để nâng cao hiệu quả xử lý.
o Yêu cầu lắp đặt các thiết bị xử lý khí thải tại các khu vực có khí thải độc hại.
o Xây tường bao che khu vực có tiếng ồn lớn, không sản xuất hoặc hạn chế sản
xuất từ 22 giờ đêm đến 5 giờ sáng.
o Mở rộng công xuất hệ thống xử lý nước thải, xây lại hố chôn lấp chất thải rắn.

Tất cả các yêu cầu trên phải phù hợp với thực tế và có tính khả thi đối với doanh nghiệp; phù
hợp với quy trình công nghệ, quy mô sản xuất, nhà xưởng, vốn đầu tư theo thời gian quy định cụ
thể và phù hợp.

+ Theo quy định tất cả các cơ sở sau khi được phê chuẩn báo cáo ÐTM đều phải thực hiện việc
tự kiểm tra giám sát việc phát thải do cơ sở sản xuất ra môi trường xung quanh. Do đó, các kết
quả tự kiểm tra phải được xem xét cả về tính năng kỹ thuật và pháp lý:

o Phương pháp đo phải thực hiện theo quy định của TCVN, cơ quan thực hiện đo
kiểm tra về môi trường phải có đủ tư cách pháp nhân, điều kiện đo kiểm tra về
môi trường phải được thực hiện trong điều kiện cơ sở đang hoạt động bình
thường theo đúng công xuất thiết kế của nhà máy.
o Vị trí đo kiểm tra môi trường phải đúng theo sơ đồ lấy mẫu kiểm soát ô nhiễm
do cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đã phê duyệt tại báo cáo ÐTM.
o Số lượng mẫu phân tích, tần xuất lấy mẫu phải theo đúng cam kết trong báo
cáo ÐTM đã được phê duyệt.

Ðoàn thanh tra yêu cầu cơ sở tập trung vào kiểm tra giám sát các nguồn tải có tải lượng lớn,
mức độ ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép. Trong trường hợp sử dụng không đúng phương
pháp đo, không đúng tần suất và vị trí lấy mẫu phải giải thích và hướng dẫn cho cơ sở đồng thời
yêu cầu thực hiện đúng. Khi cơ sở thực hiện sai, song đã được cơ quan quản lý (Giám đốc Sở)
chấp nhận, thì phải báo cáo với Giám đốc Sở và trao đổi với Phòng quản lý môi trường để rút
kinh nghiệm đối với lần sau và đối với các cơ sở khác.

Chương trình quan trắc môi trường khu vực là một trong những căn cứ để tiến hành thanh tra:
Qua kết quả quan trắc môi trường khu vực cho phép xác định mức độ ô nhiễm tại khu vực, từ đó
định hướng cho việc kiểm tra các nguồn phát thải của từng nhà máy. Trong trường hợp có nhiều
nhà máy trong khu vực gây ra ô nhiễm yêu cầu từng nhà máy phải có biểu đồ phát tán khí thải
nhằm làm rõ mức độ cộng hưởng do các nguồn thải gây ra cho các khu vực xung quanh.

+ Các thông tin cần thiết tại cơ sở được thanh tra được thu nhận thông qua việc thảo luận, chất
vấn với chủ cơ sở và các đối tượng có liên quan. Kiểm tra thực tế việc tuân thủ pháp luật về các
thủ tục hành chính, theo các quy định của Luật và các văn bản dưới Luật, các cam kết của cở
sở và các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường.

+ Thông qua việc kiểm tra tình trạng của các trang thiết bị sản xuất, đặc biệt là các thiết bị xử lý
chất thải và các thiết bị khác có liên quan tới việc xử lý chất thải, kiểm tra các ảnh hưởng tới môi
trường do đặc thù của loại hình sản xuất gây ra. Các yêu cầu về việc phải cải thiện điều kiện
sản xuất và xử lý chất thải với khả năng thực tế của doanh nghiệp về các mặt như: Ðất đai, kinh
tế, vốn đầu tư...
+ Tiến hành thanh tra thông qua việc kiểm tra các kết quả tự đo, kiểm tra môi trường của cơ sở;
kết quả kiểm tra vệ sinh môi trường lao động do cơ quan Y tế thực hiện; kết quả kiểm tra an
toàn lao động do cơ quan Lao động thương binh xã hội thực hiện; kết quả kiểm tra và báo cáo
của Cảnh sát phòng cháy chữa cháy; kết quả quan trắc môi trường của các cơ quan quản lý nhà
nước trên địa bàn. Trong những trường hợp cần thiết cần phải làm rõ những vấn đề có liên quan
Ðoàn thanh tra có thể mời các ngành chức năng tham gia hoặc đại diện của chính quyền địa
phương nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, xử lý chất thải của cơ sở trong cả một quá
trình thời gian.

+ Tiến hành thanh tra thông qua kết quả đo, kiểm tra môi trường trực tiếp tại cơ sở được thanh
tra khi tiến hành thanh tra. Cần lưu ý việc đo, kiểm tra môi trường phải được thực hiện trong điều
kiện cơ sở đang hoạt động bình thường theo đúng công xuất và các thiết bị xử lý chất thải vận
hành theo đúng thiết kế.

+ Mục tiêu thanh tra chủ yếu là để xác định giá trị giới hạn cho phép các thông số chất thải có
được tuân thủ hay không? Xác định nồng độ các chất ô nhiễm trong nguồn thải của cơ sở. Do
đó trong nhiều trường hợp phải tiến hành lấy mẫu phân tích để có cơ sở trong việc kết luận
thanh tra.

- Tiến hành lấy mẫu phân tích: Cần lấy mẫu để phân tích trong các trường hợp sau đây:

a- Không có số liệu phân tích từ trước;

b- Không đầy đủ các thông số cần thanh tra : thí dụ khi thanh tra nhà máy dệt, nhuộm, trong kết
quả phân tích nước thải của nhà máy không có các chỉ số về nồng độ Clo hữu cơ, màu... thì cần
lấy mẫu nước thải để phân tích thêm vì đây là một trong những chỉ số liên quan đến tính chất
độc học, ảnh hưởng đến sức khoẻ và môi trường;

c- Những số liệu phân tích có tính nghi vấn: Thí dụ khi thanh tra nhà máy xi măng, kết quả phân
tích khí thải cho thấy hàm lượng bụi rất thấp trong khi thực tế nhân dân quanh vùng có khiếu
kiện về việc ô nhiễm bụi do nhà máy gây ra. Khi đó cần lấy lại mẫu không khí để phân tích, làm
cơ sở xác định mức độ ô nhiễm do cơ sở được thanh tra gây ra;

d- Số liệu phân tích cần để làm hồ sơ thanh tra, làm bằng chứng;

e- Việc lấy mẫu theo yêu cầu bắt buộc của luật pháp hay các qui định khác của nhà nước.

Phương pháp lấy mẫu chung: Có hai cách lấy mẫu: Lấy mẫu liên tục và lấy mẫu điểm. Khi tiến
hành lấy mẫu phải có phương án và phương pháp lấy mẫu (loại hoá chất nào cần quan tâm và
nồng độ đến bao nhiêu thì cần thiết - như ppm - parts per million chẳng hạn). Thực tế, khi đo
đạc các thông số phải thực hiện theo tiêu chuẩn TCVN quy định. Trong trường hợp không có
quy định trong TCVN nên tham khảo tiêu chuẩn này của các nước trong khu vực, của USEPA
hay của các tổ chức khác như WHO, UNEP..... Như vậy, việc lấy mẫu phải theo một quy trình
nhất định, xác định rõ những yếu tố nào cần phân tích, những yếu tố nào không cần phân tích.
Ðặc biệt lưu ý việc lấy mẫu phải đảm bảo mẫu phân tích mang tính đại diện. Mẫu phải được
phân tích theo phương pháp được chỉ định sẵn và lựa chọn trước phòng thử nghiệm phân tích
mẫu trước khi gửi đi.

III.6- Phân tích, tổng hợp và lập báo cáo tại cơ sở được thanh tra:

- Sau khi kết thúc thanh tra phải có biên bản của Ðoàn thanh tra.
Biên bản thanh tra phải đánh giá khách quan, chính xác thực trạng toàn bộ các vấn đề liên quan
đến nội dung thanh tra. Trong đó tổng hợp tất cả các vấn đề còn tồn tại của cơ sở trong việc
thực hiện các quy định của pháp luật về Bảo vệ môi trường, các hình thức xử lý hoặc đề nghị xử
lý, các yêu cầu của Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên, thời hạn thực hiện.

Việc phân tích, tổng hợp, đánh giá ở hiện trường là rất cần thiết vì Biên bản thanh tra là một văn
bản pháp lý giữa Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên với cơ sở được thanh tra. Tất cả các thông
tin cần thiết của hoạt động thanh tra tại cơ sở được ghi nhận trong Biên bản thanh tra, nhằm
phản ánh thực chất việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường tại cơ sở
được thanh tra trong điều kiện ở trạng thái hoạt động bình thường. Tránh tình trạng điều kiện
thực tế khi tiến hành thanh tra không phản ánh đúng thực chất hoạt động sản xuất của cơ sở
như: Máy chạy không đủ công suất, điện áp, các thiết bị xử lý chất thải chỉ hoạt động khi có
thanh tra... Phải phân tích đánh giá công tác quản lý giám sát môi trường của cơ sở qua các
bằng chứng cụ thể như: Sổ sách theo dõi các thiết bị xử lý chất thải, các loại hoá chất đã tiêu
thụ của hệ thống xử lý chất thải, tiêu thụ điện năng của thiết bị xử lý chất thải, hiệu quả xử lý
chất thải, việc duy tu bảo dưỡng thiết bị xử lý chất thải.

- Các nguyên nhân dẫn tới vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường phải được phân tích rõ
theo các nguyên nhân và có các biện pháp xử lý phù hợp:

+ Sai phạm về thủ tục hành chính của cơ sở được thanh tra do các nguyên nhân như:

o Chưa có các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành các quy định về
bảo vệ môi trường.

Trong trường hợp này phải hướng dẫn cơ sở về các văn bản quy phạm pháp
luật và hướng dẫn việc thực hiện.

o Ðã có các văn bản hướng dẫn thi hành, song cơ sở không hiểu rõ nội dung cần
thực hiện.

Trong trường hợp này phải giải thích và hướng dẫn việc thực hiện cho cơ sở.

o Hiểu rõ nội dung và yêu cầu của các quy định về bảo vệ môi trường song cố
tình không thực hiện.

Trong trường hợp này phải xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị
định 26/CP và yêu cầu cơ sở được thanh tra thực hiện theo đúng các quy định
của Luật Bảo vệ môi trường.

o Hiểu rõ nội dung song không có khả năng thực hiện do điều kiện khách quan
(Cơ quan chủ quản, không có đủ vốn đầu tư, thiếu trang thiết bị...)

Trong trường hợp này phải đề nghị bằng văn bản để cơ quan chủ quản chỉ đạo
cơ sở được thanh tra thực hiện các yêu cầu. Thống nhất thoả thuận với cơ sở
về giải pháp thực hiện các yêu cầu đặt ra theo từng thời gian cụ thể. Các thoả
thuận và yêu cầu đặt ra phải có tính khả thi và phù hợp.

+ Sai phạm về việc xử lý chất thải và phát tán chất thải của cơ sở được thanh tra theo các
nguyên nhân như:

o Cơ sở không có khả năng xử lý chất thải đạt theo yêu cầu trước khi thải ra ngoài
do tính năng kỹ thuật của các thiết bị xử lý chất thải.
Trong trường hợp này phải yêu cầu cơ sở lập lại phương án xử lý chất thải trình
cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường của Tỉnh phê duyệt và có
quyết định cụ thể.

o Thiết bị xử lý chất thải tốt, song không vận hành đúng thiết kế kỹ thuật dẫn tới
xử lý chất thải không đạt theo quy định.

Trong trường hợp này phải xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, đồng thời
yêu cầu cơ sở phải vận hành theo đúng thiết kế quy định, lập sổ theo dõi, kiểm
tra đột xuất để đảm bảo các yêu cầu của thanh tra được thực hiện.

o Các nguồn thải gây ô nhiễm không được đề cập trong Báo cáo ÐTM của cơ sở.

Trong trường hợp này phải yêu cầu cơ sở đánh giá tác động do nguồn thải gây
ra, bổ sung vào nội dung Báo cáo ÐTM để trình Sở KH,CN&MT thẩm định và
phê duyệt.

- Ðánh giá và so sánh với các lần thanh tra trước nhằm mục đích đánh giá việc thực hiện các
yêu cầu của đoàn thanh tra đã tiến hành trước. Trong trường hợp các cơ sở được thanh tra
không chấp hành các yêu cầu của Ðoàn thanh tra phải xử phạt vi phạm hành chính, cần thiết thì
phải tổ chức cưỡng chế theo quy định.

Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có thể kiểm tra lại các yêu cầu của mình đối với cơ sở được
thanh tra có được thực hiện hay không, thông qua các hình thức như:

+ Yêu cầu cơ sở gửi báo cáo cho Thanh tra Sở bằng văn bản.

+ Uỷ nhiệm cho Thanh tra viên xuống kiểm tra trực tiếp tại cơ sở.

- Phân tích và đánh giá các nguyên nhân gây ra vi phạm còn nhằm mục đích để quyết định mức
phạt hợp lý căn cứ vào hình thức vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Khi các sai phạm là do sự thiếu chính xác và cụ thể từ các văn bản quy định của cơ quan quản
lý Nhà nước về bảo vệ môi trường gây ra, phải giải thích rõ cho cơ sở được thanh tra hiểu rõ
bản chất, đồng thời báo cáo với Giám đốc Sở để có hình thức giải quyết cụ thể. Trong trường
hợp Giấy phép môi trường cấp sai thẩm quyền, giả mạo phải thu hồi ngay và báo cáo với Giám
đốc Sở biết để xử lý (Quy định tại khoản 5.2 Ðiều 5 thông tư số 2781-TT/KCM của Bộ
KH,CN&MT hướng dẫn về thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi
trường cho các cơ sở công nghiệp).

III.7- Ðánh giá và Báo cáo:

- Ðịnh kỳ 03 tháng 01 lần Thanh tra Sở KH,CN&MT báo cáo với Thanh tra Bộ KH,CN&MT,
Thanh tra Cục Môi trường, Thanh tra Tỉnh về công tác thanh tra trong lĩnh vực KH-CN-MT của
Sở; báo cáo về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quý, đồng thời xây dựng kế hoạch thanh
tra cho 3 tháng tiếp theo.

- Hàng năm, Thanh tra Sở KH,CN&MT đều có báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm và kế
hoạch thanh tra cho năm tiếp theo.

- Ðánh giá kết quả thanh tra và viết báo cáo thanh tra là một công việc rất cần thiết của hoạt
động thanh tra.
Báo cáo phải tổng hợp và đánh giá lại các công việc đã thực hiện và có so sánh với kế hoạch đã
đặt ra. Trên thực tế báo cáo thanh tra bao gồm các vấn đề sau:

+ Các số liệu về tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất của tổ chức thanh tra.

+ Các chi tiết về kế hoạch tổng thể.

+ Số lượng các cuộc thanh tra đã thực hiện.

+ Mức độ tuân thủ pháp luật của các đối tượng được thanh tra.

+ Các hình thức xử lý đối với các cơ sở có vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường.

+ Ðánh giá về kết quả thực hiện so với kế hoạch đã đặt ra, từ đó đề xuất các kế hoạch và biện
pháp bổ sung cho kế hoạch các năm sau.

Mục đích của thanh tra là nhằm góp phần làm cho Pháp luật được thực hiện. Qua hoạt động
thanh tra phải đánh giá việc thực hiện Pháp luật của cơ sở được thanh tra, chỉ ra các mặt yếu
kém, sai phạm pháp luật, nguyên nhân của các sai phạm, các mặt đã được thực hiện tốt...

Trong trường hợp các sai phạm do những nguyên nhân khó khắc phục như: Thiết bị xử lý chất
thải kém hiệu quả, thiếu vốn đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải, Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra
viên phải ra hạn để cơ sở khắc phục (thời gian để khắc phục phải có tính khả thi cho cơ sở
được thanh tra tuỳ thuộc vào năng lực thực tế của cơ sở). Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có
thể đề ra các yêu cầu giảm thiểu bắt buộc đối với cơ sở sản xuất, bao gồm cả mức độ và thời
gian thực hiện.

Ðoàn thanh tra đánh giá lại tính khả thi của các yêu cầu trong phê chuẩn Báo cáo Ðánh giá tác
động môi trường của cơ sở được thanh tra, các cam kết trong báo cáo ÐTM của cơ sở, hay các
nội dung trong giấy phép về môi trường, từ đó đề xuất với Giám đốc Sở KH,CN&MT điều chỉnh
lại nội dung yêu cầu trong phê chuẩn ÐTM, Giấy phép môi trường.

- Báo cáo về kết quả thanh tra là một yêu cầu bắt buộc:

Khi có thành lập đoàn thanh tra phải gửi báo cáo kết quả thanh tra cho Thanh tra Tỉnh/Thành
phố. Nội dung Báo cáo kết quả thanh tra phải thể hiện đầy đủ các nội dung bắt buộc sau:

+ Cơ sở pháp lý để tiến hành thanh tra.

Ví dụ : Theo quy định của Lụât Bảo vệ môi trường, theo quy định của Pháp lệnh thanh tra, theo
kế hoạch thanh tra định kỳ hàng năm đã được phê duyệt, theo yêu cầu của Thanh tra Bộ
KH,CN&MT, Cục Môi trường, hay UBND Tỉnh/Thành phố, để giải quyết đơn thư khiếu nại về ô
nhiễm môi trường.

+ Hình thức thanh tra: Thanh tra định kỳ theo kế hoạch, hay thanh tra bất thường. Yêu cầu cơ sở
phải bảo cáo bằng văn bản hay thanh tra trực tiếp tại hiện trường, thử nghiệm các chỉ tiêu về
môi trường ...

+ Nội dung thanh tra: Các nội dung thanh tra đã được thực hiện như: Thực hiện lập báo cáo
ÐTM, thực hiện và báo cáo công tác tự giám sát môi trường, kiểm soát ô nhiễm.
+ Kết quả thanh tra: Kết quả thanh tra phải phản ánh rõ mức độ tuân thủ pháp luật của đối
tượng được thanh tra, số lượng vi phạm, mức độ vi phạm, hình thức vi phạm. Kết quả thanh tra
là phần cơ bản của Báo cáo thanh tra nhằm tổng kết một cách cơ bản quá trình thực hiện thanh
tra theo quyết định thanh tra. Hình thức tiến hành, trình tự thanh tra và các việc mà Ðoàn thanh
tra hoặc Thanh tra viên đã tiến hành tại các cơ sở được thanh tra. Ðối chiếu với các quy định
của pháp luật từ đó đánh giá việc thực hiện pháp luật của các cơ sở được thanh tra.

o Nhận xét và kết luận:

Nêu rõ Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên có nhận xét và đánh giá gì về việc thực hiện các quy
định của pháp luật đối với cơ sở được thanh tra như:

- Ưu điểm:

+ Ðối với các cơ sở được thanh tra:

Tuân thủ các thủ tục hành chính, đầu tư thiết thực cho bảo vệ môi trường, tự kiểm tra giám sát
các nguồn phát thải, có trách nhiệm về các nguồn thải từ cơ sở thải ra môi trường đối với cộng
đồng dân cư xung quanh và xã hội. Thực hiện đầy đủ các yêu cầu của các Ðoàn thanh tra đã
tiến hành trước. Gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường của cơ sở với trách nhiệm bảo vệ môi
trường của toàn xã hội.

+ Ðối với cơ quan quản lý:

Ðã thực hiện tốt công tác hướng dẫn phổ biến các văn bản pháp luật, thường xuyên kiểm tra
giám sát hướng dẫn cơ sở thực hiện các văn bản quy phạm Pháp luật về Bảo vệ môi trường,
định hướng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc xử lý chất thải phù hợp với đặc điểm
sản xuất, công nghệ của cơ sở. Ðề ra các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường và kế
hoạch môi trường cho từng thời gian cụ thể.

- Tồn tại: Các vi phạm và yếu kém trong việc thực hiện các quy định của Pháp luật về Bảo vệ
môi trường của cơ sở. Ví dụ như:

+ Vi phạm về thủ tục hành chính như: Không/chưa lập báo cáo ÐTM, không thực hiện tự kiểm
tra giám sát môi trường, kiểm soát ô nhiễm, báo cáo định kỳ theo yêu cầu của cơ quan quản lý
Nhà nước về Bảo vệ môi trường. Chưa gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường của cơ sở với trách
nhiệm bảo vệ môi trường chung của xã hội. Không thực hiện đầy đủ các yêu cầu của các Ðoàn
thanh tra về bảo vệ môi trường trước đã tiến hành.

+ Vi phạm về thải chất thải vượt quá giới hạn cho phép ra ngoài môi trường; không thực hiện
các biện pháp xử lý chất thải theo đúng yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi
trường; không có các thiết bị xử lý chất thải theo phê duyệt của Sở KH,CN&MT; không khắc
phục ô nhiễm môi trường do các chất phát thải của cơ sở gây ra; hệ thống xử lý các chất thải
chưa được kiểm tra và giám sát theo đúng yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ
môi trường.

Trong trường hợp có vi phạm phải phân tích rõ nguyên nhân dẫn tới vi phạm và có các biện
pháp xử lý theo quy định của pháp luật (Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Nghị định 26/CP
của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường).

Kết luận chung của Báo cáo thanh tra phải khẳng định rõ theo các nội dung đã ghi trong quyết
định thanh tra (Thực hiện thế nào? tốt hay không tốt).
- Các yêu cầu, đề nghị, kiến nghị:

+ Các yêu cầu đối với cơ sở được thanh tra nhằm mục đích buộc đối tượng thanh tra phải tuân
thủ theo các yêu cầu đã được Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên yêu cầu (Quy định rõ thời gian
thực hiện và các yêu cầu cụ thể đối với từng cơ sở).

+ Các đề nghị: Ðối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc tổ chức được thanh tra song
có liên quan tới cơ sở được thanh tra nhằm mục đích phối hợp thực hiện các yêu cầu của thanh
tra đối với cơ sở được thanh tra. Các đề nghị có thể đối với các cơ quan chủ quản của cơ sở
được thanh tra, chính quyền địa phương cấp huyện, quận, thị xã, xã, phường, các Sở, Ban
ngành có liên quan.

+ Các kiến nghị: Ðối với các cơ quan cấp trên như Thanh tra Bộ KH,CN&MT, Cục Môi trường,
UBND Tỉnh/Thành phố nhằm mục đích đề nghị điều chỉnh các quy định hoặc xin ý kiến chỉ đạo
giải quyết các trường hợp phức tạp vượt quá khả năng của tổ chức thanh tra cấp mình.

Hàng năm khi Lập báo cáo tổng kết, phải đối chiếu với Kế hoạch lập đầu năm, từ đó có đánh
giá chính xác về những mặt làm được và những mặt yếu kém trong công tác Thanh tra. Xây
dựng kế hoạch thanh tra cho năm tiếp theo.

III. 8. Xây dựng và Lưu trữ hồ sơ cuộc thanh tra:

III.8.1. Xây dựng hồ sơ cuộc thanh tra:

o Nguyên tắc xây dựng hồ sơ cuộc thanh tra:

- Mỗi cuộc thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải xây dựng thành hồ sơ để đưa vào lưu trữ,
sử dụng khi cần thiết. Hồ sơ thanh tra phải tập hợp đầy đủ các văn bản, tài liệu, chứng từ v.v.
như đã quy định về cuộc thanh tra.

- Những văn bản, tài liệu, chứng từ .... trong hồ sơ cuộc thanh tra phải đảm bảo tính pháp lý.

o Hồ sơ cuộc thanh tra:

Hồ sơ cuộc thanh tra gồm các tài liệu sau đây:

a). Tài liệu về tổ chức cuộc thanh tra:

- Các văn bản làm căn cứ để tổ chức cuộc thanh tra như: Quyết định, Chỉ thị, Công văn của cấp
trên giao nhiệm vụ.

- Ðơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân dẫn tới tổ chức tiến hành cuộc thanh tra giải quyết vụ
việc khiếu nại, tố cáo.

- Tài liệu khảo sát nắm tình hình chuẩn bị cho cuộc thanh tra.

- Quyết định thanh tra của thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Kế hoạch thanh tra được cơ quan ra quyết định thanh tra ký duyệt.

b) Tài liệu phản ánh kết quả thanh tra:
- Các thông tin, tài liệu của cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan đến nội dung thanh tra cung
cấp.

- Báo cáo của đối tượng thanh tra theo đề cương yêu cầu của đoàn thanh tra, Thanh tra viên,
các tài liệu, số liệu do đối tượng thanh tra cung cấp.

- Biên bản kiểm tra xác minh sự việc trong thực hiện kiểm tra trực tiếp; các chứng cứ liên quan
tới nội dung thanh tra.

- Các quyết định và biên bản về thực hiện các quyền thanh tra trong quá trình thanh tra.

- Các biên bản kết luận từng phần các nội dung thanh tra.

- Các đơn thư khiếu nại, tố cáo nhận được trong quá trình thanh tra có liên quan đến nội dung
thanh tra; kết quả giải quyết các đơn khiếu tố ( nếu có)

- Rút kinh nghiệm của Ðoàn thanh tra.

c) Tài liệu về kết luận thanh tra:

- Bản kết luận thanh tra của Ðoàn thanh tra, các phụ lục báo cáo, các biểu thống kê báo cáo về
kết quả thanh tra.

- Biên bản công bố kết luận thanh tra.

- Văn bản yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các kiến nghị, kết luận, quyết định
thanh tra.

- Văn bản giải trình hoặc khiếu nại của đối tượng thanh tra và kết luận thanh tra( nếu có )

d) Tài liệu chuyển giao hồ sơ cuộc thanh tra vào lưu trữ:

- Bản thống kê danh mục tài liệu có trong hồ sơ cuộc thanh tra.

- Biên bản giao nhận hồ sơ.

o Trách nhiệm xây dựng hồ sơ cuộc thanh tra:

- Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên được giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm chính về xây dựng
hồ sơ cuộc thanh tra.

- Cán bộ thanh tra, Thanh tra viên tham gia cuộc thanh tra có trách nhiệm tập hợp và giao hồ sơ
cho người chịu trách nhiệm xây dựng hồ sơ thanh tra.

III.8.2. Lưu trữ hồ sơ cuộc thanh tra:

o Nguyên tắc lưu trữ hồ sơ cuộc thanh tra:

- Hồ sơ cuộc thanh tra phải được tổ chức lưu trữ kịp thời, đầy đủ.

- Ðảm bảo tính bí mật của hồ sơ lưu trữ.
- Thủ trưởng tổ chức thanh tra mới có quyền cho phép sử dụng tài liệu lưu trữ.

o Giao nhận hồ sơ lưu trữ:

a) Trách nhiệm của bên giao:

- Trưởng Ðoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên được giao nhiệm vụ như trưởng đoàn có trách
nhiệm bàn giao hồ sơ cuộc thanh tra cho cán bộ lưu giữ hồ sơ .

- Phải bàn giao toàn bộ hồ sơ cuộc thanh tra vào lưu trữ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày báo
cáo kết luận cuộc thanh tra với người ra quyết định thanh tra, không được tự ý để lại hoặc thay
thế bất kỳ tài liệu nào trong hồ sơ cuộc thanh tra.

- Phân loại, liệt kê danh mục tài liệu trong hồ sơ, thông báo kế hoạch, thời gian bàn giao hồ sơ
cho cán bộ lưu trữ hồ sơ biết để tổ chức tiếp nhận.

b) Trách nhiệm của bên nhận:

- Cán bộ bộ phận lưu trữ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ cuộc thanh tra vào lưu trữ khi được
Trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên yêu cầu.

- Không nhận những tài liệu không liên quan tới nội dung cuộc thanh tra, những tài liệu không
đảm bảo tính pháp lý vào lưu trữ.

- Xắp xếp hồ sơ vào lưu trữ và vào sổ lưu trữ hồ sơ.

c) Tiến hành giao nhận hồ sơ:

- Việc giao nhận hồ sơ cuộc thanh tra phải được tổ chức tại nơi lưu trữ hồ sơ. Lần lượt giao
nhận từng tài liệu có trong hồ sơ

Lập biên bản giao nhận hồ sơ cuộc thanh tra, biên bản giao nhận lập ít nhất 02 bản có nội dung
và giá trị như nhau, mỗi bên giữ 01 bản.

III.8.3. Chế độ sử dụng hồ sơ lưu trữ:

o Khi sử dụng hồ sơ lưu trữ để phục vụ cho công tác thanh tra, cán bộ thanh tra
có quyền đề nghị thủ trưởng tổ chức thanh tra cho phép sử dụng tài liệu lưu trữ.

o Khi được phép của Thủ trưởng tổ chức thanh tra, bộ phận lưu trữ có trách
nhiệm phải cung cấp đầy đủ, kịp thời những tài liệu đã lưu trữ theo yêu cầu của
cán bộ thanh tra.

o Người sử dụng tài liệu lưu trữ không được tự ý sao chụp, di chuyển, phát hành
những tài liệu hồ sơ cuộc thanh tra khi chưa được phép của Thủ trưởng tổ chức
thanh tra.

o Những hành vi vi phạm chế độ sử dụng tài liệu hồ sơ lưu trữ sẽ bị xử lý theo
quy định của Pháp luật hiện hành.
Phần Phụ lục

Phụ lục 1: Một số ví dụ giải quyết vụ việc trong công tác thanh tra về bảo vệ môi trường;

Phụ lục 2: Luật bảo vệ môi trường (toàn văn);

Phụ lục 3: Nghị định 175/CP ngày 28/10/1994 (toàn văn);

Phụ lục 4: Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 (toàn văn);

Phụ lục 5: Thông tư 01-TT/TTR ngày 20/8/1992 của Thanh tra Nhà nước, Hướng dẫn thực hiện
quyền thanh tra theo Pháp lệnh Thanh tra (toàn văn);

Phụ lục 6: Danh mục các dự án phải lập báo cáo ÐTM theo Thông tư 490/1998/TT-BKHCNMT
ngày 29/4/1998 của Bộ KH,CN&MT;

Phụ lục 7: Danh mục các cơ sở công nghiệp phải có giấy phép về môi trường theo Thông tư
2781/TT-BKHCNMT ngày 03/12/1996 của Bộ KH,CN&MT;

Phụ lục 8: Danh mục 97 tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường ban hành theo Quyết định 2020-
QÐ/MTg ngày 21/12/1996 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT;

Phụ lục 9: Các bẳng giá trị giới hạn tối đa cho phép các thông số và nồng độ chất ô nhiễm
trong các chất thải:

9.1- Bảng giá trị giới hạn các thông số và nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải
công nghiệp theo TCVN 5845-1995;

9.2- Bảng giá trị giới hạn tối đa cho phép của bụi và các chất vô cơ trong khí
thải công nghiệp theo TCVN 5939-1995;

9.3- Bảng giá trị giới hạn tối đa cho phép nồng độ các chất hữu cơ trong khí thải
công nghiệp theo TCVN 5940-1995;

9.4- Bảng mức ồn tối đa cho phép của phương tiện giao thông vận tải đường bộ
theo TCVN 5948-1995;

9.5- Bảng giá trị giới hạn tối đa cho phép tiếng ồn khu vực công cộng và dân cư
theo TCVN 5949-1995;

Phụ lục 10: Quyết định 1410/QÐ-BKHCNMT ngày 07/8/2000 của Bộ trưởng Bộ KH,CN&MT
ban hành các mẫu văn bản thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà
nước về KH,CN&MT (toàn văn);

Phụ lục 11: Danh mực các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Phụ lục 11

Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan


trong công tác thanh tra về bảo vệ môi trường
I. Các văn bản của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội:


1. Luật Bảo vệ môi trường ngày 27/ 12/1993;

2. Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02/ 12/1998;

3. Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30/6/1989;

4. Luật Khoáng sản ngày 20/3/1996;

5. Luật Tài nguyên nước ngày 20/5/1998;

6. Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 12/8/1991;

7. Luật Ðất đai ngày 14/7/1993;

8. Pháp lệnh Thanh tra ngày 01/4/1990;

9. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 06/7/1995;

10. Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ ngày 25/6/1996;

11. Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ngày 25/4/1989;

12. Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật ngày 15/2/1993.

II. Các văn bản của Chính phủ:

1. Nghị định số 244/ HÐBT ngày 30/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) về tổ chức của hệ thống Thanh tra Nhà nước và biện pháp đảm bảo
hoạt động thanh tra.

2. Nghị định số 191/ HÐBT ngày 18/6/1991 của HÐBT (nay là Chính phủ) ban
hành quy chế Thanh tra viên và việc sử dụng cộng tác viên thanh tra.

3. Nghị định số 23/ HÐBT ngày 24/01/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) Ban hành Ðiều lệ vệ sinh.

4. Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi
hành Luật Bảo vệ môi trường.

5. Nghị định 26/ CP ngày 26/4/1996 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính về bảo vệ môi trường.

6. Nghị định số 68- CP ngày 01/11/1996 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi
hành Luật Khoáng sản.

7. Nghị định số 77- CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

8. Nghị định số 78- CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật.
9. Nghị định số 50/ 1998/ NÐ - CP ngày 16/7/1998 của Chính phủ quy định chi
tiết việc thi hành Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát Bức xạ.

10. Nghị định số 11/1999/ NÐ- CP ngày 03/3/1999 của Chính phủ về hàng hoá
cấm lưu thông , dịch vụ thương mại cấm thực hiện , hàng hoá, dịch vụ thương
mại hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện.

11. Quyết định số 155/1999/QÐ- TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính Phủ
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại.

12. Chỉ thị số 406 - TTg ngày 08/8/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm
sản xuất buôn bán và đốt pháo.

13. Chỉ thị số 445/ TTg ngày 09/8/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ
chức triển khai thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

14. Chỉ thị số 29/ 1998/ CT- TTg ngày 25/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
tăng cường công tác quản lý việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các chất
hữu cơ gây ô nhiễm khó phân huỷ.

III. Các văn bản của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường:

1. Thông tư 1420 - MTg ngày 26/11/1994 của Bộ KH-CN&MT hướng dẫn đánh
giá tác động môi trường đối với các cơ sở đang hoạt động.

2. Thông tư 1485- MTg ngày 12/12/1994 của Bộ KH-CN&MT hướng dẫn tổ chức
quyền hạn và phạm vi hoạt động của Thanh tra về Bảo vệ môi trường.

3. Thông tư số 3370- TT /MTg ngày 22/12/1995 của Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường hướng dẫn tạm thời về khắc phục sự cố môi trường do cháy nổ
xăng dầu.

4. Thông tư số 2262- TT /MTg ngày 29/12/1995 của Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường hướng dẫn về việc khắc phục sự cố tràn dầu.

5. Thông tư số 02- TT /MTg ngày 02/01/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường hướng dẫn thực hiện khoản 2 Ðiều 71 Ðiều lệ trật tự an toàn giao
thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị ban hành kèm theo Nghị
định số 36- CP ngày 29/5/1995 của Chính Phủ.

6. Thông tư số 2433- TT/KCM ngày 03/10/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/CP của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính về Bảo vệ môi trường.

7. Thông tư số 2781- TT/ KCM ngày 03/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường hướng dẫn về thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng nhận đạt
tiêu chuẩn môi trường đối với các cơ sở công nghiệp.

8. Thông tư số 276- TT/MTg ngày 06/ 03/1997 của Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường hướng dẫn về kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở sản xuất kinh
doanh sau khi có quyết định phê chuẩn Báo cáo đánh giá tác động môi trường.
9. Thông tư 490/ 1998/TT- BKHCNMT ngày 29/4/1998 của Bộ KH-CN&MT
hướng dẫn và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự
án đầu tư.

10. Quyết định số 1410/QÐ-BKHCNMT ngày 07/8/2000 của Bộ trưởng Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường về việc ban hành các mẫu văn bản thanh tra, xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về khoa học, công
nghệ và môi trường.

11. Quyết định số 2920-QÐ/MTg ngày 21/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường về việc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về Môi trường.

IV. Các văn bản của các Bộ, Ngành có liên quan:

1. Thông tư số 01-TT/TTr ngày 20/8/1992 của Thanh tra Nhà nước hướng dẫn
thực hiện quyền thanh tra quy định tại Pháp lệnh thanh tra và Nghị định số 244-
HÐBT ngày 31/6/1990 của HÐBT.

2. Thông tư liên bộ số 12-TTLB ngày 28/10/1994 của Bộ Thương mại, Bộ Nội
vụ, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành chỉ thị 406-TTg
ngày 8/8/1994 của Thủ tướng Chính phủ.

3. Thông tư số 52-TC/ CSTC ngày 12/9/1996 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc
thu và sử dụng tiền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính.

4. Thông tư liên bộ số 2880- KCM /TT ngày 19/12/1996 của Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường - Bộ Thương mại quy định tạm thời đối với việc nhập khẩu
các phế liệu.

5. Thông tư số 01-NN/KL/TT ngày 18/02/1997 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn hướng dẫn thực hiện Nghị định số 77-CP ngày
29/11/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

6. Thông tư liên bộ số 01-TT/CN/KCM ngày 28/02/1997 của Bộ KH,CN&MT và
Bộ Công nghiệp hướng dẫn thi hành chỉ thị của Thủ tướng Chính Phủ về đình
chỉ sản xuất, sử dụng chất hoạt động bề mặt Dodecyl benzene sunfonic axit
trong công nghiệp chất tẩy rửa tổng hợp.

7. Thông tư liên tịch số 1529/1998/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 17/10/1998 về
việc hướng dẫn đảm bảo môi trường trong sử dụng amiăng vào sản xuất các
sản phẩm, vật liệu và xây dựng.

8. Quyết định số 1101/ TTNN ngày 20/02/1995 của Tổng Thanh tra nhà nước về
5 điều kỷ luật của viên chức Thanh tra.

9. Quyết định số 993- NN /BVTV/QÐ ngày 28/10/1995 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc cho đăng ký chính thức và đăng ký bổ
xung một số thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và hạn chế sử dụng
trong nông nghiệp ở Việt Nam.
10. Quyết định số 229- NN /BVTV/QÐ ngày 12/12/1995 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc cho đăng ký chính thức thuốc Bảo vệ
thực vật được phép sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam.

11. Quyết định số 2242 QÐ/KHKT-PC ngày 12/09/1997 của Bộ trưởng Bộ Giao
thông vận tải ban hành quy chế bảo vệ môi trường trong ngành Giao thông vận
tải.

12. Quyết định số 1654/ 1999/QÐ- BYT ngày 29/5/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về việc ban hành "Quy chế quản lý hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt
khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế".

13. Quyết định số 2575/ 1999/QÐ-BYT ngày 27/08/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế.

14. Quyết định số 29/1999/QÐ-BXD ngày 22/10/1999 của Bộ trưởng Bộ Xây
dựng ban hành quy chế bảo vệ môi trường ngành xây dựng.




PHỤ LỤC 1

Một số ví dụ giải quyết vụ việc

Trong công tác thanh tra nhà nước

về bảo vệ môi trường




Trong thời gian qua, các tổ chức thanh tra nhà nước về BVMT đã tiến hành nhiều cuộc thanh tra
Nhà nước về BVMT, giải quyết nhiều đơn thư khiếu tố về BVMT và bước đầu giải quyết được
một số vụ đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên. Phần phụ lục này trích đưa một số
ví dụ về quá trình đã giải quyết trong công tác thanh tra về BVMT các cấp để các thanh tra viên
tham khảo.




Ví dụ 1: Giải quyết đền bù thiệt hại môi trường do

ô nhiễm của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại.




I. Xuất xứ sự việc

Tháng 12/1998, Thanh tra Cục Môi trường nhận được 18 đơn thư của nhân dân thuộc hai tỉnh
Bắc Ninh và Bắc Giang đề nghị Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi
trường bởi hoạt động của Nhà máy trong những năm qua.

II. Quá trình giải quyết vụ việc
1. Bước 1: Kiểm tra, xác minh toor chức gây ô nhiễm theo nội dung phản ánh trong các
đơn thư

Tổ chức cuộc thanh tra môi trường Nhà máy Nhiệt điện Phả lại ngày 27 tháng 3 năm 1998.

• Thành phần Ðoàn Thanh tra:

• Thanh tra Cục chủ trì

• Ðại diện 03 Sở KH,CN&MT các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Dương

• Kết luận của Ðoàn Thanh tra:

• Sự phản ánh của nhân dân 18 xã là có thật

• Nhà máy chưa thực hiện đúng yêu cầu thứ nhất tại Quyết định Phê chuẩn báo cáo Ðánh
giá tác động môi trường của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại (Quyết định số 1980/QÐ-MTg,
ngày 20/8/1996 của Bộ KH,CN&MT) do đó một số chỉ tiêu đặc biệt là bụi thải ra chưa
đạt Tiêu chuẩn cho phép




2. Bước 2: Xác định thiệt hại, hướng dẫn nhân dân các xã bị thiệt hại thu thập chứng cứ về sự
thiệt hại

Phương pháp thống kê có chọn lọc qua so sánh đối chiếu vùng bị ô nhiễm và vùng không bị ô
nhiễm, giữa các năm khi chưa có ô nhiễm và khi bị ô nhiễm trên nguyên tắc: Các điều kiện tự
nhiên tương tự nhau, ví dụ thổ nhưỡng, khí hậu và tác động của con người (chọn giống, phân
bón, thuỷ lợi).

3. Bước 3: Phương pháp giải quyết

Ðây là vụ việc phức tạp, liên quan tới nhiều cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương.
Các nguyên tắc trong quá trình giải quyết: thận trọng, mềm dẻo để các hoạt động có liên quan
đến các cơ quan có liên quan và chính quyền địa phương đại diện cho nhân dân bị thiệt hại có
cùng một quan điểm nhất quán. Trên cơ sở này Thanh tra Cục MT đã tổ chức nhiều cuộc họp
thảo luận, hướng dẫn lập chứng cứ và tranh thủ sự trợ giúp của các áp lực xã hội (thông tin đại
chúng) để đạt kết quả cuối cùng.

3.1. Tổ chức các cuộc họp có sự tham gia của các cơ quan liên quan để giải quyết

1. Cuộc họp thứ nhất:

• Ðịa điểm: UBND huyện Quế Võ
• Thời gian: ngày 28/3/98
• Thành phần: gồm đại diện Chủ tịch UBND Huyện Quế Võ, và Chủ tịch các xã Ðức
Long, Châu Phong, Phù Lãng, Lãnh đạo và cán bộ của các Sở KH,CN&MT Bắc Ninh,
Hải Dương, Lãnh đạo Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Chánh Thanh tra Cục Môi trường và
đại diện một số phòng của Cục Môi trường. Nội dung cuộc họp nhằm xem xét khiếu nại
của nhân dân 3 xã thuộc huyện Quế Võ về việc Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại gây ô
nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất đối với 3 xã trên.
• Kết luận:

+ Yêu cầu Nhà máy phải có biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đặc biệt là khói, bụi, khí
thải

+ Nhà máy phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hoạt động sản xuất của nhà máy gây ra
ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe và sản lượng nông nghiệp của nhân dân 3 xã nêu
trên. Mức bồi thường do Nhà máy và các xã thảo thuận

1. Cuộc họp thứ 2:

• Ðịa điểm: Cục Môi trường- Hà Nội
• Thời gian: 25/5/98
• Thành phần: Ðại diện Tổng Công ty Ðiện lực Việt Nam, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại,
đại diện Cục Môi trường
• Nội dung: bàn phương án giải quyết tổng thể việc đền bù cho các xã bị ô nhiễm môi
trường do hoạt động của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại gây ra
• Kết luận: Phương án giải quyết là thoả thuận giữa các xã bị thiệt hại và Nhà máy Nhiệt
điện Phả Lại về mức đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường của Nhà máy gây ra. Các
Sở KH,CN&MT Hải Dương, Bắc Ninh và Bắc Giang hướng dẫn nhân dân các xã thống
kê thiệt hại do ô nhiễm môi trường để cung cấp cho Tổng Công ty Ðiện lực Việt Nam.

3- Cuộc họp thứ 3:

- Ðịa điểm: Sở KH,CN&MT tỉnh Bắc Ninh

• Thời gian: Ngày 18/6/98
• Thành phần: Lãnh đạo và cán bộ của Sở KH,CN&MT Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương,
Lãnh đạo và cán bộ thanh tra Cục Môi trường
• Nội dung: Tiếp tục giải quyết vấn đề đền bù thiệt hại môi trường do Nhà máy Nhiệt điện
Phả Lại gây nên
• Kết luận: Cho đến thời điểm này chưa khoanh vùng và xác định xong mức thiệt hại cho
từng vùng bị ảnh hưởng. Ðề nghị các Sở khẩn trương xác định cụ thể khu vực bị ảnh
hưởng và hướng dẫn các địa phương lập chứng cứ thiệt hại, thời hạn đến ngày 15/8/98

4- Cuộc họp thứ 4:

• Ðịa điểm: Sở KH,CN&MT tỉnh Bắc Ninh
• Thời gian: 30/8/98
• Thành phần: Lãnh đạo và cán bộ của Sở KH,CN&MT Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương,
Lãnh đạo và cán bộ thanh tra Cục Môi trường
• Nội dung: Tiếp tục giải quyết vấn đề đền bù thiệt hại môi trường do Nhà máy Nhiệt điện
Phả Lại gây nên
• Kết luận: Các Sở KH,CN&MT làm việc với lãnh đạo các huyện bị ô nhiễm rà soát lại và
thống nhất khoanh vùng các xã bị ô nhiễm, khẳng định số liệu để chuẩn bị làm việc với
Nhà máy nhiệt điện Phả Lại vào đầu tháng 11/1998

5. Cuộc họp thứ 5:

• Ðịa điểm: Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại
• Thời gian: 9/12/98
• Thành phần: Ðại diện 3 Sở KH,CN&MT Bắc Ninh, Hải Dương, Bắc Giang, Ðại diện các
Huyện bị ô nhiễm môi trường và Quyền Giám đốc Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Ông
Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty điện lực Việt Nam.
• Nội dung: Các địa phương bị thiệt hại gửi bản kê khai thiệt hại do ô nhiễm môi trường,
Tổng công ty Ðiện lực nhận tài liệu nghiên cứu và trình các cấp có thẩm quyền có giải
pháp thực hiện
• Kết luận: Tổng Công ty Ðiện lực Việt Nam và Nhà máy tiếp nhận tài liệu để nghiên cứu
và trả lời Thanh tra Cục Môi trường cuối tháng 12/1998.

Ngày 29/12/98 Tổng Công ty điện lực Việt Nam đã có Công văn số 7636 ÐVN/KTNÐ gửi Thanh
tra Cục Môi trường đề nghị Bộ KH,CN&MT phối hợp cùng Bộ Công nghiệp và Tổng Công ty
điện lực Việt Nam trình Chính phủ cho phép sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ và đề nghị Thanh tra
Cục Môi trường tiếp tục cùng Tổng Công ty điện lực Việt Nam giải quyết vấn đề này.

Tiếp theo 5 Cuộc họp này, Thanh tra Cục Môi trường đã phối hợp với Tổng Công ty điện lực có
các buổi làm việc với các địa phương để thoả thuận mức đền bù.

Tổng Công ty cũng gửi Công văn số 3546 EVN/CNMT7MT-KTÐN ngày 22/6/99 cho Bộ Tài chính
xin ý kiến về kinh phí khắc phục ô nhiễm môi trường.

Ngày 15/7/99, Bộ Tài chính có Công văn số 350/TC/TCDN hướng dẫn về việc sử dụng kinh phí
để bồi thường thiệt hại về ô nhiễm môi trường do Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại gây ra.

Như vậy bước tiếp theo sẽ là triển khai việc đền bù thiệt hại cho các địa phương thông qua các
hình thức sau; Kinh phí đền bù được sử dụng vào các mục đích phục vụ công ích như: xây dựng
trường học, công trình cấp nước sạch, bệnh xá...

3.2. Tranh th ủ sự tr ợ giúp của các cơ quan báo chí , Hội đồng nhân dân
các t ỉnh và Quốc hội :

Quá trình giải quyết vụ việc này có liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau, liên đới tới nhiều cá
nhân có địa vị cao, có trách nhiệm trong giải quyết vụ việc này. Thanh tra Cục MT đã trực tiếp
hoặc tư vấn cho các cơ quan tranh thủ tối đa các phương tiện thông tin đaị chúng (báo, đài), các
kỳ họp HÐND các cấp, các kỳ họp Quốc hội. Việc làm này đã góp phần đẩy nhanh các hoạt
động phục vụ cho việc giải quyết đi đến kết quả cuối cùng.

III. Kết quả

1. Về phía nhân dân 3 xã: Ðã vận dụng Luật BVMT và các văn bản dưới luật nêu nguyện
vọng chính đáng của nhân dân 3 xã.
2. Về phía Tổng Công ty Ðiện lực và Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại (thể hiện qua Công văn
số 7636 ÐVN/KTNÐ gửi Thanh tra Cục Môi trường ) đã nêu trên và đã phối hợp với các
cơ quan chức năng thực hiện việc giải ngân (chuyển kinh phí xuống các xã nói trên).
Lắp đặt các thiết bị xử lý bụi (Công văn 2794 ÐVN/NMNÐPL-KTSX ngày 26/11/98 gửi
Cục Môi trường). Tháng 11/1999 số tiền 900 triệu đồng đã được chuyển về ngân sách
địa phương để đền bù cho 3 xã.
3. Về phía Bộ Tài chính (Công văn số 350/TC/TCDN) đã nêu trên, lần đầu tiên bộ Tài
chính có Công văn hướng dẫn cụ thể về nguồn kinh phí cho việc đền bù thiệt hại do ô
nhiễm môi trường để doanh nghiệp Nhà nước (Tổng Công ty Ðiện lực Việt Nam) thực
hiện.

IV . Kinh nghi ệm rút ra sau khi gi ải quyết vụ vi ệc:
Yếu tố quan trọng dẫn đến thành công là tinh thần trách nhiệm của các cơ quan chức năng có
liên quan, tinh thần trách nhiệm của nhân dân các xã bị thiệt hại trong việc BVMT.

1. Lần đầu tiên 1 Doanh nghiệp lớn của Nhà nước sau bao năm hoạt động đã gây ô nhiễm
môi trường làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân và môi trường sinh thái ở 1 khu
vực rộng lớn liên đới 3 tỉnh (Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương) đã bắt đầu thực hiện
nghiêm túc Luật BVMT, đã chi ra hàng chục tỷ đồng mua các trang thiết bị để xử lý chất
thải khí (Thiết bị lọc bụi tĩnh điện ngoại) và tìm nguồn kinh phí để đền bù cho nhân dân
bị thiệt hại trong khi chưa có sự hướng dẫn của Nhà nước.
2. Lần đầu tiên, Bộ Tài chính đã chỉ đạo về việc lấy kinh phí của Doanh nghiệp Nhà nước
chi cho việc đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường bởi hoạt động sản xuất gây ra (tuy
nhiên vẫn chỉ đạo 1 vụ việc cụ thể chưa có hướng dẫn chung mang tính tổng thể, thể
hiện qua văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính)
3. Tuy nhiên, qua vụ việc giải quyết cụ thể này, chúng tôi tin rằng Bộ Tài chính sẽ
sớm có hướng dẫn chung về các vụ việc tương tự
4. Nhân dân vùng chịu ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường bởi các hoạt động sản xuất gây
nên đã vận dụng Luật BVMT kiến nghị với cơ sở gây ô nhiễm môi trường và các cơ
quan chức năng đòi quyền lợi chính đáng của mình đã được Luật BVMT và các văn bản
dưới Luật qui định.
5. Qua việc giải quyết vụ việc cũng thấy được Nhà nước cần phải tổ chức một cơ quan
chức năng chuyên trách giải quyết các vụ việc lớn có liên quan tới nhiều địa phương đòi
bồi thường do ô nhiễm môi trường gây ra.

VÍ DỤ 2: GIẢI QUYẾT ÐƠN TỐ CÁO VI PHẠM LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT CƠ
SỞ SẢN XUẤT NHỎ.

I. XUẤT XỨ SỰ VIỆC

Cục Môi trường nhận được đơn ngày 30/1/2000 của một số hộ dân trong khu tập thể
Học viện quân y, phường Phúc La, thị xã Hà Ðông, tỉnh Hà Tây tố cáo cơ sở sản xuất
bánh mỳ của Bà Nguyễn Thị Tấm gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất (thải
khí, bụi và gây tiếng ồn làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân trong khu tập thể).

Cơ sở sản xuất bánh mỳ của Bà Nguyễn Thị Tấm nằm xen kẽ trong khu dân cư, hoạt
động từ năm 1992. Công suất của cơ sở bánh mỳ 1 ngày đêm trung bình là 120 kg bột,
nhiên liệu sử dụng để nướng bánh là than đá (khoảng 60-80 kg/ngày), số nhân công có
khoảng 5-6 người, thời gian hoạt động của cơ sở từ 19 giờ hôm trước đến 5 giờ sáng
hôm sau, lò nướng hoạt động từ 20 giờ đến 3 giờ sáng.

II. QUÁ TRÌNH giải quyết

1. Xác định tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm theo nội dung nêu trong đơn.

Ngày 7/3/2000, Thanh tra Cục Môi trường đã khẩn trương thành lập Ðoàn công tác tiến
hành giải quyết đơn tố cáo nói trên.

- Ðoàn công tác đã làm việc với Sở KHCN&MT Hà Tây để thông báo biện pháp giải quyết vụ
việc trên.

- Ðoàn công tác đã làm việc với chính quyền địa phương, Ðại diện một số hộ dân có đơn khiếu
nại, Chủ cơ sở sản xuất và khảo sát lò bánh mỳ với mục đích: Nắm thêm thông tin về vụ việc và
thông báo phương thức giải quyết.
Ðoàn công tác sau khi làm việc với các cơ quan có liên quan và xem xét tài liệu thu thập
được đã nhận định: Kết quả đo kiểm về tiếng ồn của Trung tâm Kỹ thuật 1, Tổng cục
TC-ÐL-CL cho thấy Cơ sở của bà Tấm có vượt tiêu chuẩn cho phép nhưng chưa bị xử
phạt.

Thanh tra Cục Môi trường đã lập Biên bản vi phạm hành chính về BVMT và ra Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính số 25/QÐ/TTr, ngày 9/3/2000 với hình thức phạt tiền và một
số yêu cầu khác như:

• Yêu cầu cơ sở phải có biện pháp xử lý tiếng ồn đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
TCVN 5949-1998.
• Yêu cầu cơ sở sản xuất bánh mỳ phải lắp đặt hệ thống thải khí và bụi, đảm bảo
phát thải khí và bụi đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và không làm ảnh hưởng
đến các hộ dân xung quanh.
• Quy định thời gian buộc cơ sở phải khắc phục những tồn tại và Thanh tra Cục sẽ
có kế hoạch tiến hành đo kiểm tra tiếng ồn tại cơ sở của Bà Tấm.

2. Thanh tra đột xuất việc thực hiện các yêu cầu nêu tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
cơ sở sản xuất bánh mỳ của Bà Nguyễn Thị Tấm.

Thanh tra Cục Môi trường đã tổ chức thanh tra đột xuất theo Quyết định số 30/QÐ-TTr,
ngày 4/4/2000 và tiến hành đo kiểm (cơ quan đo kiểm là Trung tâm Kỹ thuật môi trường
Ðô thị và Khu công nghiệp - Ðại học Xây dựng Hà Nội thực hiện) về tiếng ồn tại cơ sở
sản xuất bánh mỳ của Bà Tấm. Trong quá trình thanh tra và đo kiểm còn có sự chứng
kiến của Uỷ ban nhân dân phường Phúc La và đại diện ban quản lý khu tập thể.

III. KẾT QUẢ GIẢI quyết

Căn cứ vào biên bản thanh tra nhà nước về bảo vệ môi trường được lập tại cơ sở sản
xuất bánh mỳ của Bà Tấm - Tập thể Học viện Quân y - phường Phúc La - thị xã Hà Ðông,
ngày 4/4/2000 của Ðoàn thanh tra Cục Môi trường và kết quả đo kiểm của Trung tâm Kỹ
thuật môi trường Ðô thị và Khu công nghiệp - Trường Ðại học Xây dựng Hà Nội thực
hiện, Cục Môi trường đã thông báo cho Uỷ ban nhân dân thị xã Hà Ðông tỉnh Hà Tây và
một số cơ quan chức năng khác ý kiến giaỉ quyết đơn tố caó nêu trên như sau:

• Việc gây ô nhiễm môi trường (đặc biệt là tiếng ồn) trong quá trình sản xuất của
cơ sở Bà Nguyễn Thị Tấm theo đơn tố cáo là có thật. Trên cơ sở kết quả trưng
cầu giám định của Thanh tra Sở KHCN&MT, Thanh tra Cục đã có quyết định xử
phạt vi phạm hành chính số 25/QÐ/TTr, ngày 9/3/2000 về hành vi gây tiếng ồn
vượt quá tiêu chuẩn cho phép và đã yêu cầu cơ sở của Bà Tấm có biện pháp xử
lý về tiếng ồn, khí thải và bụi trong quá trình sản xuất đạt tiêu chuẩn qui định
trước khi thải ra môi trường.
• Ngày 4/4/2000, Cục Môi trường đã ra quyết định số 30/QÐ-TTr cử Ðoàn Thanh tra
tới hiện trường tiến hành thanh tra đột xuất kèm theo trưng cầu giám định do
Trung tâm kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp thuộc trường Ðại học
Xây dựng Hà Nội thực hiện. Trên cơ sở kết quả thanh tra và kết quả trưng cầu
giám định, Thanh tra Cục có kết luận: Cơ sở sản xuất của Bà Nguyễn Thị Tấm
không thực hiện đầy đủ các yêu cầu thanh tra và hiện vẫn vi phạm qui định pháp
luật về BVMT: Không thực hiện xử lý khí thải và bụi, chỉ có biện pháp giảm thiểu
về tiếng ồn nhưng vẫn vượt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5949-1998) từ 1,3-8,9
dBA, đặc biệt thời gian sản xuất tâp trung vào buổi tối từ 22h-5h. Hiện cơ sở của
Bà Tấm vẫn chưa chấp hành quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền
(không chấp hành Quyết định xử phạt số 25/QÐ-TTr, ngày 9/3/2000 của Thanh tra
Cục).
• Như vậy cơ sở sản xuất của Bà Nguyễn Thị Tấm hiện nằm xen kẽ trong khu dân
cư, quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của
nhân dân, vi phạm pháp luật về BVMT. Hiện cơ sở vẫn không có biện pháp khắc
phục sự ô nhiễm môi trường này, đặc biệt về tiếng ồn trong quá trình sản xuất,
Nếu tình trạng này không được cải thiện thì không thể để cơ sở sản xuất này
tiếp tục hoạt động tại đây được.

Cục Môi trường đề nghị UBND thị xã Hà Ðông, tỉnh Hà Tây, theo thẩm quyền của mình
có biện pháp xử lý kịp thời thoả đáng, kể cả việc đình chỉ sản xuất hoặc nếu cho tiếp
tục sản xuất thì phải di dời cơ sở sản xuất bánh mỳ của Bà Nguyễn Thị Tấm ra khỏi khu
dân cư nói trên.

IV. MỘT VÀI NHẬN XÉT

• Ðối với những vụ việc phức tạp, trong quá trình giải quyết và xử lý cần phải theo đúng
các văn bản pháp qui.
• Khi phát hiện đối tượng có hành vi vi phạm Luật BVMT cần phải có biện pháp xử lý theo
đúng pháp luật hiện hành.

VÍ DỤ 3: GIẢI QUYẾT KHIẾU TỐ ô nhiễm môi trường gây chết

65 tấn cá trên sông La Ngà, Ðồng Nai.

I. XUẤT XỨ VỤ việc

Ðầu năm 2000, nhiều cơ quan báo chí truyền thông đưa tin về việc ô nhiễm sông La Ngà gây
thiệt hại 65 tấn cá bè trên sông La Ngà, vị trí của Công ty Men thực phẩm Mauri La Ngà và Công
ty cổ phần mía đường La Ngà. Ngày 28/2/2000 Phòng Kinh tế tỉnh Ðồng Nai có công văn số 29/
CV-PKT đề nghị Sở KHCN&MT Ðồng Nai phối hợp kiểm tra nguyên nhân chết cá.

II. QUÁ TRÌNH giải quyết

1. Bước 1: Kiểm tra, xác minh tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm trên sông La Ngà

1.1. Thu thập thông tin

Công ty thực phẩm Mauri La Ngà:

- Là Công ty vốn đầu tư nước ngoài chuyên sản xuất men thực phẩm các loại

- Ðịa điểm: Xã La Ngà, huyện Ðịnh Quán, tỉnh Ðồng Nai.

- Diện tích mặt bằng: 20.000 m2

- Số công nhân: 200

- Vốn đầu tư: 13.462.000USD

- Sản lượng 5.000 tấn/năm

- Ðầu vào: mật rỉ đường và một số loại phân hoá học và hoá chất.
- Lượng nước thải: 750-1000m3/ngày.

Công ty Mía đường La Ngà

- Sản xuất đường và bánh kẹo các loại

- Sản lượng 2000 tấn mía/ngày

- Lượng nước thải: 28.000 m3/ngày chưa được xử lý

1.2. Thành lập Ðoàn Thanh tra

1.2.1 Thành phần đoàn:

- Phó Chánh Thanh tra Sở làm trưởng đoàn

- 02 Thanh tra viên Thanh tra Sở

- 01 chuyên viên phòng Quản lý môi trường

- Chuyên viên trạm quan trắc phân tích môi trường

Tham gia đoàn còn có đại diện của:

- Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 2 thành phố Hồ Chí Minh

- Phòng Kinh tế huyện Ðịnh Quán

- Ðại diện dân làng cá bè.

1.2.2 Lập kế hoạch thanh tra

Tổ chức nhiều nhóm chuyên môn thực hiện các nhiệm vụ khác nhau:

- Làm việc với 2 Công ty và lấy mẫu nước thải trước và sau xử lý

- Khảo sát hiện trường trên sông cùng Ban Quản lý hồ Trị An và Công ty Thuỷ sản-Phân Viện
nuôi trồng Thuỷ sản 2, mời đại diện 2 Công ty cùng phòng kinh tế huyện và đại diện dân.

- Mời Ðài, Bào ghi hình và nắm số liệu của dân khai báo.

- Lấy mẫu nước sông các khu vực cửa xả của 2 Công ty, tại các bè cá và lấy mẫu cá chết xác
định nguyên nhân (kể cả cá đang sống).

- Làm việc với dân xác định số lượng cá chết.

- Làm việc với cơ quan chuyên môn để có những nhận xét đánh giá bước đầu.

1.2.3 Tiến hành thanh tra

- Công bố quyết định thanh tra
- Làm việc tại Văn phòng 2 Công ty nắm tình hình sản xuất, các biện pháp xử lý chất thải.

- Kiểm tra hiện trường

- Lấy mẫu nước thải đột xuất 3 lần tại cửa xả của 2 Công ty

- Lấy mẫu hiện trường trong 2 đợt cá chết trên sông La Ngà.

- Lập biên bản thanh tra cụ thể từng buổi làm việc.

1.2.4. Tổ chức các cuộc họp báo

- Thảo luận và đánh giá tình hình vụ việc xảy ra

- Nghe phản ánh của dân làng bè bị thiệt hại

- Thảo luận với Viện nuôi trồng thuỷ sản, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công ty thuỷ
sản Ðồng Nai, Ban Quản lý thuỷ sản hồ Trị An, đại diện UBND huyện Ðịnh Quán, phòng Kinh
tế, 2 Công ty và các hộ dân bị thiệt hại.

2. Bước 2: Xử lý vi phạm

Sau 3 tháng làm việc kết quả vụ việc được xác minh rõ. Ðoàn Thanh tra đã họp với Lãnh đạo Sở
thống nhất nội dung công bố kết quả thanh tra:

- Nguyên nhân gây cá chết là ô nhiễm môi trường nước hồ Trị An khu vực gần cầu La Ngà, xuất
phát từ 3 nguồn:

+ Nước thải từ Công ty men thực phẩm Mauri La Ngà chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn qui định
trước khi thải ra sông.

+ Nước thải từ Công ty cổ phần Mía đường La Ngà chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn. Ngoài ra do
việc quản lý vận hành hệ thống thiết bị sản xuất không đúng qui định đã xảy ra sự cố tràn mật rỉ
góp phần làm tăng mức độ ô nhiễm vùng cửa sông.

+ Mật độ nuôi thả dày đặc 300kg/m2 mặt nước và chế độ cho ăn không hợp lý của các hộ dân
nuôi cá bè làm gia tăng mức độ ô nhiễm cục bộ tại các bè cá làm cho các loại cá có sức chịu
đựng kém chết hàng loạt.

- Hình thức xử lý vi phạm: Xử phạt vi phạm hành chính Công ty men thực phẩm Mauri La Ngà và
Công ty Cổ phần mía đường La Ngà về việc không chấp hành Luật BVMT, gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Mức phạt mỗi công ty: 3.800.000 đồng.

Yêu cầu 2 Công ty thực hiện xử lý triệt để nước thải khí thải theo qui định trước 31/12/2000.

III. Kiến nghị

Ngoài các hình thức xử lý, Ðoàn Thanh tra kiến nghị:

- UBND huyện Ðịnh Quán điều tra thống kê lại chính xác lượng cá chết của các hộ dân, xác
định giá trị thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong tổng số giá trị thiệt hại các hộ dân nuôi cá bè
chịu 1/3. Công ty Men thực phẩm Mauri La Ngà và Công ty cổ phần mía đường La Ngà mỗi
Công ty đền bù 1/3 (căn cứ vào tải lượng chất thải ước tính qua mẫu kiểm lấy đột xuất.)

- Ðề nghị UBND tỉnh Ðồng Nai yêu cầu chủ tịch UBND huyện Ðịnh Quán, chính quyền địa
phương, Công ty Men thực phẩm Mauri La Ngà, Công ty cổ phần mía đường La Ngà nhanh
chóng giải quyết việc thoả thuận đền bù cho dân. Thời hạn trước 30/6/2000.

- Ðề nghị UBND tỉnh chỉ đạo cho UBND huyện và các ngành chức năng triển khai việc di dời
làng cá bè trên sông La Ngà theo qui hoạch.

VÍ DỤ 4: THANH TRA NHÀ NƯỚC về Bảo vệ môi trường

Công ty TNHH UIC, Ðồng Nai




I. XUẤT XỨ SỰ việc

UBND tỉnh Ðồng Nai có công văn số 3482/UBT ngày 15/9/1998 giao trách nhiệm cho Sở
KHCN&MT Ðồng Nai điều tra xác định nguyên nhân, đối tượng thải khí gây triệu chứng cay
nồng mũi, ho, khó thở, nôn ói xảy ra lúc 20h30 ngày 7/9/1998 đối với nhân dân ấp 1B, xã Phước
Thái, huyện Long Thành làm 29 người ngất xỉu.

II. QUÁ TRÌNH giải quyết

1. Kiểm tra, xác minh tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm

- Thanh tra Sở KHCN&MT làm việc với UBND xã Phước Thái để thu thập thông tin tìm hiểu vụ
việc.

- Tìm hiểu công nghệ sản xuất của các đơn vị trong khu vực và xác định các đơn vị có khả năng
thải khí thải gây các triệu chứng trên là:

+ Nhà máy supper phốt phát Long Thành

+ Công ty TNHH Vedan Việt Nam

+ Công ty TNHH UIC

- Thành lập đoàn thanh tra với thành phần gồm Thanh tra Sở, Phòng Quản lý môi trường, Trạm
quan trắc và phân tích môi trường, đại diện Ban quản lý các khu công nghiệp Ðồng Nai.

2. Tiến hành thanh tra

Ðoàn thanh tra tiến hành kiểm tra cường độ sản xuất trong thời gian xảy ra sự cố (theo rõi sự
giảm tăng đột biến trong sản lượng), hoạt động của hệ thống xử lý khí thải (có xảy ra sự cố hư
hỏng trong thời gian gần ngày 7/9/1998 hay không). Ngoài ra đoàn thanh tra còn quan sát môi
trường cây cỏ xung quanh nhà máy nơi có thể bị ảnh hưởng bởi khí thải của nhà máy.

Toàn bộ các sự việc được xác minh trong quá trình trên đều được ghi nhận bằng biên bản thanh
tra với đầy đủ chữ ký của các bên tham gia.
Kết quả: Ðoàn thanh tra phát hiện vào 19h30 ngày 7/9/1998, hệ thống xử lý khí thải của Công ty
TNHH UIC xảy ra sự cố do các điện cực trong hệ thống xử lý khí thải bị đánh lửa, làm cho điện
áp giữa các điện cực giảm thấp dẫn đến việc hệ thống xử lý khí thải không phát huy tác dụng.

Ngoài ra hệ thống xử lý khí thải của Công ty TNHH UIC đến nay đã bị hư hỏng nặng, nhưng
công ty thiếu kinh phí để mua thiết bị thay thế đồng bộ mà sử dụng các thiết bị tự chế để thay
thế, dẫn đến việc giảm hiệu quả hệ thống xử lý khí thải và thường xuyên xảy ra sự cố. Ðoàn
thanh tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Công ty UIC.

3. Kết luận

Nguyên nhân của vụ việc thải khí thải gây ra triệu chứng cay nồng mũi, ho, khó thở, nôn ói xảy
ra lúc 20h30 ngày 7/9/1998 đối với nhân dân tại ấp 1B, xã Phước Thái, huyện Long Thành là do
Công ty TNHH UIC.

III. XỬ LÝ VI PHẠM

Ðoàn thanh tra tham mưu cho Giám đốc Sở KHCN&MT kiến nghị UBND tỉnh Ðồng Nai xem xét
quyết định xử phạt hành chính đối với Công ty TNHH UIC với mức phạt 15.000.000 đồng, buộc
Công ty TNHH UIC đình chỉ vi phạm, cải tạo hệ thống xử lý khí thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi
trường.

VÍ DỤ 5: GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ô nhiễm môi trường do cơ sở sản xuất
cồn ở Bắc Ninh

I. XUẤT XỨ SỰ việc

Ngày 14/2/1998 Sở KHCN&MT Bắc Ninh nhận được đơn thư của nhân dân thôn Ðọ Xá, Phường
Ninh Xá, thị xã Bắc Ninh đề nghị xem xét giải quyết việc xưởng sản xuất cồn của ông Ðỗ Tiến
Lập gây ô nhiễm môi trường.

II. QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT

1. Kiểm tra, xác minh tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm

1.1 Thu thập thông tin

Qua thu thập thông tin ban đầu, Thanh tra Sở KHCN&MT được biết ngày 21/1/1998, UBND
phường Ninh Xá đã làm việc với cơ sở, yêu cầu cơ sở tạm dừng hoạt động để hoàn thiện các
thủ tục hành chính trước khi tiếp tục sản xuất, song thực tế cở sở vẫn tiếp tục hoạt động.

1.2. Thành lập đoàn đoàn thanh tra

Ngày 23/2/1998 Sở KHCN&MT đã tổ chức thanh tra đột xuất về BVMT xưởng sản

xuất cồn của ông Lập với sự tham gia của UBND thị xã Bắc Ninh, UBND phường Ninh Xá, lãnh
đạo thôn Ðọ Xá.

1.3 Tiến hành thanh tra

Thanh tra lần 1
Qua kiểm tra thực tế, đoàn thanh tra phát hiện xưởng sản xuất hoạt động với công suất lớn hơn
báo cáo (báo cáo là 100-150L/ngày), bã thải thải đổ ngập hơn 100m2 đất trũng trong xưởng bốc
mùi nồng nặc. Theo phản ánh của thôn, hàng đêm nước thải được bơm thẳng ra hệ thống thoát
nước chung của thị xã. Các giếng đào của các gia đình xung quanh đều bị thối hỏng. Xưởng sử
dụng một tháp cất cồn cao 13m đã bị nổ ngày 19/2/1998 gây chấn động lớn ở khu vực nhưng
không gây thiệt hại về người và tài sản. Cơ sở không có giấy phép kinh doanh và giấy phép môi
trường.

Ðoàn thanh tra đã lập biên bản và kết luận:

- Việc sản xuất cồn hoạt động trái phép gây ô nhiễm môi trường theo phản ánh của đơn thư là
có thật.

- Yêu cầu cơ sở phải dừng ngay hành vi thải chất thải chưa qua xử lý ra môi trường.

- Cơ sở có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các hộ dân bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường
của cơ sở gây ra, mức bồi thường do các bên thoả thuận phải được báo cáo về thanh tra Sở
KHCN&MT trước 15/3//1998.

- Cơ sở phải hoàn thiện các thủ tục hành chính: đăng ký kinh doanh, an toàn lao động, bảo vệ
môi trường...trước khi tiếp tục sản xuất.

- Xử phạt vi phạm hành chính về BVMT với hình thức cảnh cáo.

Thanh tra lần 2

Ngày 14/3/1998, Sở KHCN&MT tiếp tục nhận đơn của nhân dân thôn Ðọ Xá phản ánh xưởng
cồn vẫn tiếp tục hoạt động gây ô nhiễm.

Ngày 17/3/1998, Sở KHCN&MT phối hợp với UBND thị xã Bắc Ninh, UBND phường Ninh Xá,
lãnh đạo thôn Ðọ Xá tiến hành phúc tra việc thực hiện các yêu cầu ghi trong biên bản ngày
23/2/1998.

Theo báo cáo của cơ sở:

- Do không có khả năng xử lý chất thải nên cơ sở đã dừng sản xuất.

- Việc bồi thường thiệt hại chưa có kết quả

- Từ ngày 8-10/3/1998 cơ sở sản xuất nột số nguyên liệu tồn đọng trước khi dừng hoạt động.

Qua kiểm tra thực tế thấy:

- Cơ sở đã tháo dỡ bễ, tháp cất cồn và đã ngừng sản xuất.

- Việc sản xuất trong 3 ngày từ 8-10/3/1998 là có thật.

Xét thực tế vụ việc, Ðoàn thanh tra đã lập biên bản với các nội dung sau:

- Cơ sở đã vi phạm khoản 1, Ðiều 9 Nghị định 26/CP
- Yêu cầu cơ sở thực hiện nghiêm túc các yêu cầu trong biên bản ngày 23/2/1998, báo cáo kết
quả thực hiện bằng văn bản về Thanh tra Sở KHCN&MT và UBND phường Ninh Xá trước ngày
30/3/1998.

- Giao cho UBND phường Ninh Xá và thôn Ðọ Xá giám sát đôn đốc việc thực hiện các yêu cầu
này.

III. XỬ LÝ VI PHẠM VÀ KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT

Căn cứ Biên bản thanh tra và Biên bản vi phạm hành chính về BVMT, Chánh Thanh tra Sở đã ra
quyết định xử phạt vi phạm hành chính về BVMT đối với xưởng sản xuất cồn với mức phạt
400.000đồng.

Ngày 20/3/1998 Sở KHCN&MT có công văn trả lời các công dân thôn Ðọ Xá nêu toàn bộ trình tự
giải quyết vụ việc này.Ngày 8/4/1998 Sở KHCN&MT đã nhận được báo cáo của ông Ðỗ Tiến
Lập có xác nhận của UBND phường Ninh Xá về việc hoàn thành các quyết định xử lý và các yêu
cầu của đoàn thanh tra bao gồm: Nộp phạt vi phạm hành chính về BVMT, thoả thuận và thực
hiện đền bù do việc sản xuất gây ô nhiễm môi trường ông Lập đã bồi thường 1.000.000 đồng để
khoan 04 giếng nước mới, thông báo do không đủ các điều kiện đảm bảo sản xuất cơ sở đã
phải ngừng hoạt động.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản