Sự ra đời và phát triển của xã hội học

Chia sẻ: bnpro6

Các sự kiện quan trọng nhất góp phần làm thay đổi chính trị, trật tự xã hội và các thiết chế châu âu thế kĩ 18 là cuộc cách mạng, nhất là đại cách mạng pháp năm 1789.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Sự ra đời và phát triển của xã hội học

Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


VẤN ĐỀ 1


SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC


1.CÁC TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC

1.1. Cuộc cách mạng chính trị - xã hội Pháp

Các sự kiện chính trị quan trọng nhất góp phần làm thay đổi căn bản thể chế chính trị, trật
tự xã hội và các thiết chế xã hội Châu Âu thế kỷ 18 là các cuộc cách mạng, nhất là đại cách
mạng Pháp năm 1789. Cuộc cách mạng này đã mở đầu cho thời kỳ tam rã của chế độ phong
kiến, nhà nước quân chủ và thay thế trật tự xã hội cũ bằng một trật tự xã hội mới với dự thống
trị về kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản. Sự biến chuyển chính trị sâu sắc này làm cho các
mối quan hệ xã hội đã có từ lâu đời trong xã hội phong kiến thay đổi một cách căn cơ, kéo theo
sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, niềm tin trong đời sống xã hội.
Các cuộc cách mạng cũng gây ra một sự xáo trộn trên mọi mặt trong đời sống xã hội
Pháp suốt thế kỷ 19, cảnh loạn ly nội chiến kéo dài triền miên, trật tự xã hội trên bình diện ý
thức và tổ chức cũ đã bị xóa bỏ nhưng trật tự mới với các chuẩn mực của nó chưa được thiết
lập một cách ổn định. Trước tình hình này, các nhà triết học, các nhà tư tưởng đương thời đã tìm
cách giải thích, miêu ta các hiện tượng xã hội, tìm cách đưa ra những mô hình xã hội mới thay
thế hoàn toàn xã hội cũ, thiết lập lại trật tự xã hội. Ngán ngẫm với cảnh hỗn độn, mất trật trự, đa
số các triết gia đương thời của Pháp không ủng hộ các cuộc cách mạng. Họ chủ trương dùng
ánh sáng khoa học và lý trí để giải quyết các xung đột và xây dựng một xã hội mới chứ không
nhất thiết phải tiến hành các cuộc cách mạng đẫm máu như đang xảy ra. Trong bối cảnh đó
August Comte đã phát minh ra một kho học mới đặt tên là “vậy lý xã hội” mà sau này ông đổi tên
thành “Xã hội học”. Ông là người đầu tiên sử dụng khái niệm này để chỉ một môn khoa học xã
hội xây dựng dựa trên thực nghiệm với mục đích nghiên cứu và giải quyết các vấn đề xã hội
đương thời và sử dụng môn khoa học này như một công cụ hữu hiệu nhằm thiết lập một hình
thái xã hội mới.
Như vậy xã hội học phát sinh đầu tiên ở Pháp trong một hoàn cảnh xã hội có rất nhiều xáo
trộn, biến đổi do các cuộc cách mạng tư sản tạo ra. Bên cạnh các cuộc cách mạng chính trị này
còn có cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh cũng là tiền đề cho sự ra đời của xã hội
học.


1.2. Cuộc cách mạng công nghiệp

Vào nửa thế kỷ 18, cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh sau đó lan sang các nước
khác ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Cuộc cách mạng đã làm biến đổi đời sống xã hội nông nghiệp một
cách sâu sắc, làm xuất hiện nhiều hiện tượng và vấn đề xã hội mới. Quá trình công nghiệp hóa
đã đưa đến những thay đổi trên lĩnh vực kinh tế xã hội ở Châu Âu:

• Năm 1765 James Watt phát minhra máy hơi nước và sau đó là
hàng loạt các phát minh ra máy móc thay thế sức lao động của con người và súc
vật, chính điều này đã làm gia tăng sản lượng lên gấp hàng trăm lần.

• Cách nhà máy mọc lên một cách nhanh chóng thu hút lao động
từ nông thôn, bỏ làng quê ruộng vườn và các nghề thủ công truyền thống trong

1
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
phạm vi gia đình của họ để tới làm việc tập trung trong các khu công nghiệp, tạo ra
các làn sóng di cư và đô thị hóa. Đây cũng là nguyên nhân hình thành giai cấo công
nhân.

• Trước cuộc cách mạng công nghiệp, con người chỉ trồng trọt
và thu lượm nguyên liệu nhưng chính nền kinh tế công nghiệp đã chuyển sang chế
biến nguyên liệu thành các sản phẩm bán được và từ đó tạo ra các thị trường hàng
hóa.

• Trong nền sản xuất công nghiệp đã xuất hiện và diễn ra quá
trình chuyên môn hóa. Trong dây chuyền sản xuất, người lao động chỉ thực hiện
một khâu nhỏ trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh. Công nghiệp
hóa đã làm cho sản lượng tăng lên nhưng lại làm giảm mức độ kỷ năng của người
lao động.

• Trong nền sản xuất công nghiệp, người công nhân đi vào nhà
máy làm việc để có lương, họ bán sức lao động cho những ông chủ tư bản để nuôi
sống bản thân và gia đình. Vấn đề bất công do phân phối nguồn lợi tức do công
nghiệp hóa tạo ra giữa giới chủ và công nhân đã hình thành nên mâu thuẫn giai
cấp, tạo ra các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

• Cuộc cách mạng công nghiệp đã ảnh hưởng và tác động sâu
sắc lên đời sống xã hội, làm chuyển dịch các thiết chế và tổ chức xã hội, làm thay
đổi các giá trị chuẩn mực trong đời sống xã hội. Cuộc cách mạng công nghiệp đã
nâng cao mức sống nói chung, tạo ra cho xã hội khối lượng hàng hóa gấp nhiều
lần so với xã hội nông nghiệp nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều hiện tượng, nhiều
vấn đề xã hội mới như sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, vấn đề bóc lột sức
lao động của phụ nữ và trẻ em, vấn đề phân công lao động, ... Có thể nói thế kỷ
công nghiệp hóa cũng là thế kỷ của các quy luật và các hình thái tổ chức quản lý
mới.
Nói chung, một nền sản xuất mới nảy sinh từ cuộc cách mạng công nghiệp đã kéo theo vô
số các hiện tượng xã hội mới mẽ, đã lôi kéo sự chú ý của các nhà triết học, các nhà nghiên cứu,
đòi hỏi phải có một bộ môn khoa học giúp giải thích, giải quyết những vấn đề xã hội. Tất cả
những điều này đã góp phần hình thành bộ môn Xã hội học và thúc đẩy môn khoa học này phát
triển một cách nhanh chóng.


1.3. Sự phát triển của khoa học tự nhiên
Thế kỷ 19 cũng là thế kỷ phát triển mạnh mẽ của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên.
Những biến đổi cơ bản trong các lĩnh vực: vật lý, hóa học, sinh học và những ứng dụng của các
khoa học này, đặc biệt là của hóa học và sinh học đã gây ấn tượng lớn và có ý nghĩa nhiều nhất
vì mô hình của hai khoa học này đã được sử dụng như là những mô hình cho nhiều lý thuyết xã
hội học đầu tiên như: Saint – Simon, August Comte, trường phái E.Durkheim ở Pháp, trường
phái H.Senpcer ở Anh, ...
Cũng trong thời kỳ này thuyết tế bào được hình thành. Tế bào được quan niệm như là một
đơn vị cơ bản của cơ thể với hai cấp độ: mỗi tế bào có cuộc sống riêng và cuộc sống này gắn
liền với cuộc sống của cơ thể. Nhiều nhà xã hội học sau này mượn mô hình này để giải thích sự
vận hành của xã hội. Ngoài ra còn có thuyết Tiến hóa của Darwin là cơ sở cho sự xuất hiện của
lý thuyết tiến hóa xã hội. Theo lý thuyết tiến hóa xã hội, trong xã hội cũng như trong tự nhiên, sự
đấu tranh sinh tồn đã tuyển chọn các cá thể và giải thích sự tiến hóa xã hội.
Nói chung, những biến chuyển của các khoa học tự nhiên là cơ sở cho các khoa học xã
hội mới ra đời, tư tưởng của triết học giảm đi sự chi phối, khoa học lịch sử và kinh tế càng phát
triển. Sự phát triển của các khoa học tự nhiên mang tính thực chứng đã ảnh hưởng đến cách

2
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
nhìn nhận và giải thích các sự kiện xã hội. August Comte chính là người đã phát minh ra khái
niệm “Xã hội học” và ông muốn xây dựng nó như là một môn khoa học nghiên cứu các hiện
tượng xã hội trên cơ sở thực nghiệm chặt chẽ như khoa học tự nhiên.


1.4. Những biến đổi trên lĩnh vực tư tưởng
Các xã hội Châu Âu đã qua một thời kỳ lịch sử rất dài dưới chế độ quân chủ Ky Tô giáo
trong đó giáo hội La Mã kết hợp với nhà nước quân chủ điều khiển và kiểm soát toàn bộ các
hoạt động trong đời sống xã hội, kiểm soát mọi nguồn lực của cải vật chất, tinh thần, tri thức, tư
tưởng. Các nhà triết học, các nhà tư tưởng trong thời kỳ trung cổ có vai trò chủ yếu là phục vụ
cho việc ổn định trật tự xã hội trên bình diện ý thức hệ, giúp nhà nước và giáo hội kiểm soát về
mặt tư tưởng chính trị. Vào thời đó người ta quan niệm rằng trật tự xã hội đẳng cấp đã được ấn
định tuyệt đối do ý muốn của các thế lực siêu nhiên. Niềm tin vào thượng đế, vào thiên đàng,
vào sự cứu rỗi như là một chất xi măng gắn kết các cá nhân lại với nhau làm cho họ cùng chấp
nhận trật tự xã hội có sẵn, chấp nhận cuộc sống phó thác vào thượng đế. Tuy nhiên trong xã
hội thuần nhất đó vẫn hàm, chứa những mầm sống cách mạng, những tư tưởng mới, những ánh
sáng khoa học và khi sự kiểm soát xã hội trở nên lỏng lẽo, những ngọn lửa âm ỉ đó đã bùng phát
tạo ra các phong trào khai sáng, chống lại quyền bính của chế độ phong kiến, đưa xã hội Châu
Âu bước sang thời kỳ lịch sử mới.
Về mặt tư tưởng, mầm sống của những thay đổi có lẽ bắt nguồn từ cuộc cách mạng tôn
giáo do Luther khởi xướng vào năm 1517 trong bối cảnh đang có phong trào chống đối hàng
giáo sĩ của giáo hội. Khác với truyền thống của giáo hội, chủ thuyết của Luther cho phép các tín
hữu tự cắt nghĩa các văn bản kinh thánh mà không cần phụ thuộc vào hàng giáo sĩ – vốn là
những con người có quyền thay mặt cho giáo hội giảng dạy kinh thánh. Chủ thuyết này cùng
với những tiến bộ của khoa học vũ trụ đương thời như thuyết cvủa Ncolas Copernis cho rằng
trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ mà chỉ là một trong nhiều hành tinh khác di chuyển
xung quanh mặt trời, lý hutyết này đã thổi vào xã hội Châu Âu một phong trào tự do tư tưởng,
mở đầu cho thời kỳ triết học khai sáng với những tên tuổi nổi tiếng như: F.Voltaire,
J.J.Rousseau, C.Montesquieu, ...
Châu Âu vào thế kỷ 19 có một sự bùng nổ những suy tư về những phương thức giải quyết
những khủng hoảng kinh tế, xã hội và khoa học. Có những giải pháp hiện thực
(A.De.Tocqueville) nhưng cũng có những giải pháp không tưởng. Người ta thấy cần thiết phải
giải quyết các vấn đề xã hội một cách khoa học. Những cuộc cách mạng chính trị, những thay
đổi trên lĩnh vực kinh tế và lao động đã tạo ra những điều kiện làm hình thành và phát triển một
thế giới quan mới về các hiện tượng xã hội.


Kết luận:
Các cuộc cách mạng chính trị, kinh tế vào thế kỷ 18, 19 cùng với những tiến bộ vượt bậc
của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi tận gộc rễ các mối liên hệ truyền thống. Xã hội học đã
chính thức ra đời trong bối cảnh các nhà nghiên cứu tìm cách trả lời các câu hỏi căn bản: làm
thế nào để xã hội giữ được sự ổn định và có thể tồn tại? Trật tự chính trị được áp đặt như thế
nào? Giải thích thế nào đối với các vấn đề như tội phạm, bạo lực, ...? Từ những giải pháp cho
câu hỏi này, các hệ thống tư tưởng xã hội lớn đã hình thành và ngự trong suốt thế kỷ 19 & 20,
xoay xung quanh những trường phái chính như: lý thuyết xung đột, lý thuyết cơ cấu chức năng,
lý thuyết tương tác biểu tượng cùng rất nhiều trường phái xã hội học hiện đại khác./.


2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC
2.1. Định nghĩa: (sociology)

3
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Xã hội học là một bộ môn khoa học nghiên cứu về xã hội con người, về cách ứng xử và
quan hệ của con người trong các nhóm, trong các tổ chức hình thành nên xã hội.
Định nghĩa ngắn gọn này còn khá mơ hồ, chưa cho phép ta phân biệt Xã hội học với các
môn khoa học khác như tâm lý học, dân tộc học, lịch sự, ..  Các nhà Xã hội học đã khắc phục
những khó khăn này bằng cách nêu lên những lĩnh vực cụ thể của hành vi xã hội, của ứng xử xã
hội mà họ quan tâm tìm hiểu như:

• Con người cư xử như thế nào trong gia đình, những vấn đề
của gia đình trong quá khứ, hiện tại và xu hướng thay đổi trong tương lai, …

• Tại sao lại có người giàu – người nghèo, …

• Tại sao lại có những người phạm tội, đặc điểm của những
người phạm tội, …


2.2. Đối tượng nghiên cứu của Xã hội học:
Có hai khuynh hướng lớn về đối tượng nghiên cứu của Xã hội học:
2.2.1. Xã hội học nghiên cứu hành động xã hội (action sociale)
Theo Max Weber, XHH phải tập trung nghiên cứu hành động xã hội nhưng không phải mọi
hành động đều là hành động xã hội. Ông định nghĩa hành động xã hội là hành động có quan
tâm đến phản ứng của những người khác (ví dụ: mở cửa để người khác vào)
Mọi hành động xã hội đều gợi ra một đáp ứng (ví dụ: người được mở cửa cho vào có cử
chỉ cảm ơn), do đó nhà XHH phải nghiên cứu những hành động tương hỗ (những tương tác)
giữa người này và người kia. Hay nói cách khác, hành động xã hội là hành động phải có một ý
nghĩa với người khác, phải quan tâm người khác đã giải thích nó như thế nào và phản ứng ra
sao.
Từ quan niệm này, hành động xã hội không thể được phân tích riêng lẽ mà phải được
phân tích trong những mối tương tác xã hội, do đó nhà XHH cũng phải phân tích, nhận thức
được khoảng cách giữa những mục tiêu ban đầu và kết quả có được.
Phương pháp định tính được sử dụng nhiều trong nghiên cứu hành động xã hội. Phương
pháp này chủ yếu tìm hiểu những mối liên hệ logic giữa các hiện tượng xã hội bằng cách so
sánh những điểm giống nhau, khác nhau để tìm ra tính tương đồng về cơ cấu, chức năng của
các hành động.
2.2.2. Xã hội học nghiên cứu sự kiện xã hội: (faits sociaux)

• Khái niệm
Theo E.Durkheim, đối tượng nghiên cứu của xHH là các sự kiện xã hội. Khái niệm sự kiện
xã hội được hiểu với hai nghĩa cơ bản như sau:
Các sự kiện xã hội có tính “vật chất”: ví dụ: nhóm người, dân cư, tổ chức xã hội, thiết chế
xã hội với tất cả các đặc điểm về chất và lượng của nó.
Các sự kiện xã hội có tính “phi vật chất”: ví dụ: hệ thống giá trị, chuẩn mực, phong tục, tập
quán xã hội. Sự kiện phi vật chất bao gồn cả các sự kiện đạo đức, tức là các cách thức hành
động, suy nghĩ và trải nghiệm mà các cá nhân nhập tâm được khi cùng chung sống trong xã hội.
Các nhà XHH theo khuynh hướng này thường sử dụng phương pháp nghiên cứu định
lượng để tìm hiểu các hiện tượng xã hội, vấn đề nghiên cứu được thao tác hóa thành những chỉ


4
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
báo, những biến số cụ thể, có thể đo lường được. Lúc này, nghiên cứu Xã hội học là nhằm đi
tìm những mối quan hệ giữa các biến số, tính quy luật của những biến số đó.

• Các đặc trưng cơ bản của sự kiện xã hội

- Tính khách quan: Sự kiện xã hội phải là những gì bên ngoài cá nhân, độc lập với ý muốn
chủ quan của cá nhân.

- Tính phổ biến: Các sự kiện xã hội bao giờ cũng là sự kiện chung, phổ biến đối với nhiều
cá nhân. Nghĩa là sự kiện xã hội là cái được cộng đồng xã hội cùng chia sẻ, chấp nhận,
coi chúng là của mình; sự kiện xã hội là phổ biến đối với mọi thành viên trong xã hội.

- Tính cưỡng chế: Sự kiện xã hội bao giờ cũng có sức mạnh kiểm soát, thậm chí là hạn
chế, gây áp lực đối với hành động và hành vi của cá nhân. Các điều khoản luật là ví dụ
rất rõ về đặc trưng này của sự kiện xã hội. Qua đó thấy rằng E.D coi XH có vai trò nhất
định đối với đời sống con người.


3. MỘT SỐ NHÀ XÃ HỘI HỌC TIÊN PHONG
3.1. Auguste Comte (1798 – 1857)
3.1.1. Vài nét về tiểu sử
August Comte sinh năm 1798 tại Montpellier miền Nam nước Pháp trong một gia đình công
giáo theo xu hướng quân chủ. Ông sớm có tư tưởng tự do và cách mạng.
Năm 16 tuổi ông đậu vào trường đại học Bách khoa nhưng vì là một trong những trung tâm
cách mạng nên trường Bách khoa phải đóng cửa và ông bị trả về nhà như những sinh viên khác.
Năm 19 tuổi, ông đã gặp gỡ và làm thư ký cho Saint – Simon, trong thời gian này ông chịu
ảnh hưởng trực tiếp của Saint – Simon – khi nhà triết học này đang hình thành một trường phái
triết học – xã hội – công nghiệp mới. Comte đã cộng tác với Saint – Simon trong việc xây dựng
khái niệm cho công trình này, đặc biệt ông đã cùng Saint – Simon viết chung một số tác phẩm
mà Simon là người đứng tên. Điều này đã dẫn đến sự cãi vã tranh giành bản quyền giữa hai
người và kết cục là August Comte đã cắt đứt quan hệ với Saint - Simon vào năm 1824 và đây
cũng là lý do mà Comte phủ nhận hoàn toàn ảnh hưởng của Simon đối với ông.
Năm 1830, ông cho xuất bản cuốn thứ nhất của bộ các bài giảng về triết học duy thực
chứng, sau đó là 2 công trình: Chuyên luận sơ cấp về hình học giải tích và Chuyên luận triết học
về thiên văn học bình dân.
Năm 1847, ông tuyên bố thành lập “tôn giáo nhân loại” , trong giáo hội này khoa học xã hội
được xem là những tín điều, các nhà bác học thay chỗ cho các linh mục, ông cũng đề cao yếu tố
tình yêu, tình liên đới trong giáo hội mới này.
Năm 1857, ông qua đời do căn bệnh ung thư bao tử.
3.1.2. Tư tưởng xã hội học của August Comte
August Comte đã để lại cho đời một gia tài khá đồ sộ và có giá trị trên nhiều lĩnh vực khoa
học như toán học, vật lý học, thiên văn học, ... Ông là người đã khai sinh trực tiếp ra khái niệm
“xã hội học”. (Trong tiếng La tinh, từ societas có nghĩa là xã hội, trong tiếng Hy Lạp, từ logos có
nghĩa là luận lý  sociologic: Xã hội học)

• Xã hội học kế thừa các khoa học tự nhiên




5
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
August Comte sắp xếp các khoa học theo thứ tự như sau: toán học, thiên văn học, vật lý
học, hóa học (nghiên cứu về trái đất hoặc vũ trụ), sinh vật học, xã hội học (nghiên cứu về con
người hoặc xã hội)
Theo ông xã hội học kế thừa các môn khoa học tự nhiên có tính thực nghiệm ra đời trước
nên xã hội học đương nhiên phải là môn khoa học có tính thực nghiệm, tính tổng hợp cao. Đối
tượng nghiên cứu của xã hội học là con người bị uốn nắn và chi phối bởi lịch sử, là các hiện
tượng xã hội phức tạp liên quan đến toàn bộ đời sống xã hội.
Theo quan điểm của ông thì không thể giải thích các hiện tượng bằng cách đi từ cá nhân
mà phải đi từ cái toàn thể (xã hội) để hiểu những bộ phận. Do đó nhiệm vụ của nhà xã hội học
là phải nêu ra các quy luật xã hội.

• Cơ cấu của Xã hội học: August Comte chia xã hội học ra thành
hai mảng là tĩnh học xã hội và động học xã hội

- Tĩnh học xã hội: Theo ông tĩnh học xã hội là một bộ phận của xã hội học, nó nghiên cứu
những hệ thống, những thiết chế xã hội đã tồn tại sẵn, thường trực và ổn định. Ngoài ra
nó còn nghiên cứu các hình thức tổ chức, các liên kết xã hội, các thỏa thuận đã tồn tại ở
trạng thái “tĩnh” trong các hình thái xã hội, những gì làm cho xã hội luôn nằm trong một
trạng thái cân bằng ổn định. Nguyên tắc căn bản trong tĩnh học xã hội là nguyên tắc
đồng nhất xã hội, tức là các hiện tượng xã hội đều gắn bó hữu cơ mật thiết với nhau, tác
động lẫn nhau. Một cấu trúc xã hội bất kỳ nào đó sẽ nằm trong tổng thể hệ thống cấu
trúc khác. Do đó khi nghiên cứu một hiện tượng xã hội không thể tách rời riêng biệt mà
phải tìm hiểu nó trong sự liên hệ với các hiện tượng xã hội khác.

- Động học xã hội: Động học xã hội nghiên cứu những biến chuyển, những động thái của
xã hội, của nhân loại trong quá trình lịch sử. Hay nói cách khác, động học xã hội là lĩnh
vực nghiên cứu các quy luật biến đổi xã hội trong quá trình lịch sử của nó.
Quan hệ giữa tĩnh học xã hội và động học xã hội là quan hệ giữa mặt động và mặt tĩnh,
-
giữa cái trật tự và cái tiến bộ. Hai mặt này luôn luôn tồn tại trong một xã hội và trở thành
đề tài tranh luận từ thời của August Comte cho đến nay.

• Quy luật 3 giai đoạn
August Comte đưa ra quy luật 3 giai đoạn để giải thích sự phát triển của lịch sử xã hội.
Theo quy luật này, lịch sử xã hội và lịch sử trí tuệ của loài người phát triển qua ba giai đoạn:

- Giai đoạn thần học: Đây là giai đoạn con người giải thích các hiện tượng tự nhiên hay xã
hội bằng những lối giải thích mang tính siêu nhiên. Đây được xem là giai đoạn “trẻ con”
trong quá trình tiến hóa tư tưởng của loài người tương ứng với xã hội đẳng cấp và quân
sự thời trung cổ.

- Giai đoạn siêu hình: Giai đọan siêu hình là giai đoạn của các tư tưởng triết học Ánh
sáng. Đây là giai đoạn mà A.Comte cho rằng các tác nhân siêu tự nhiên đã được thay thế
bởi các lực lượng trừu tượng. Giai đoạn này tiến bộ hơn so với giai đoạn trước nhưng tư
tưởng vẫn còn lệ thuộc vào các khái niệm triết học trừu tượng và phổ quát. Đây được coi
là gạch nối giữa giai đoạn thần học và thực nghiệm. A.Comte gọi giai đoạn này là “vị
thành niên” trong lộ trình phát triển tư tưởng của con người.

- Giai đoạn thực chứng: Đây là giai đoạn con người từ bỏ việc đi tìm những nguyên nhân
của sự vật để quan sát những sự kiện với sự hỗ trợ của toán học, đã đưa ra các quy luật
giữa các hiện tượng. Đây là giai đoạn mà nhà nghiên cứu trở về với các sự kiện. Với thí
nghiệm, với thực tiễn. Tinh thần thực nghiệm đòi hỏi phải cọ sát các giả thuyết với thê
giới thực. A.Comte gọi giai đoạn này là giai đoạn “trưởng thành” trong lịch sử phát triển
tư tưởng. Tư duy thực nghiệm ứng với thời hiện đại, thời của tổ chức xã hội dựa trên
công nghiệp, dựa trên sản xuất.
6
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
• Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thực chứng: Theo A.Comte, xã hội học ra đời từ các khoa học tự nhiên đi
trước nên nó sở đắc toàn bộ phương pháp nghiên cứu của các khoa học đó như quan
sát, thí nghiệm, vận dụng phép logic, phân loại, so sánh. Phương pháp này đã được
A.Comte sử dụng để tìm ra quy luật 3 giai đoạn trong sự phát triển của các hệ thống xã
hội cũng như sự tiến hóa của tư tưởng con người.

- Phương pháp quan sát: Là quá trình và cách thức mà nhà nghiên cứu thâu thập thông tin,
chứng cứ nhằm chứng minh cho lập luận khoa học của mình chứ không triết lý suông.

- Phương pháp thí nghiệm: A.Comte chủ trương sử dụng thí nghiệm để nghiên cứu xã hội.
Tuy nhiên hiện tượng xã hội khó có thể thí nghiệm trong phòng thí nghiệm như các khoa
học tự nhiên nhưng vẫn có thể thí nghiệm trong bối cảnh tự nhiên. Thí nghiệm ở đây
được hiểu là tìm ra các điều kiện tác động vào hiện tượng nghiên cứu để xem xét chúng.

- Phương pháp so sánh: Với phương pháp này có thể so sánh xã hội quá khứ với xã hội
hiện tại. So sánh các hình thức xã hội khác nhau để tìm ra những điểm giống và lhác
nhau, từ đó có thể hiểu được tổ chức và quá trình phát triển của các xã hội.

- Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp quan trọng nhất, mới mẻ nhất mà các nhà
khoa học khác không có. Phương pháp này giúp tìm hiểu các xã hội bằng cách tìm hiểu
các yếu tố cấu thành, sự hình thành, vận động và biến chuyển của xã hội từ đó có thể
hiểu được những gì đã xảy ra trong quá khứ nhằm tìm ra các quy luật vận động của xã
hội. Với phương pháp này ông đã tìm ra quy luật 3 giai đoạn như chúng ta đã thấy ở trên.
Kết luận:
August Comte là người có rất nhiều đóng góp to lớn cho sự khởi đầu của ngành xã hội
học. Ông là người đầu tiên vạch ra nhu cầu nảy sinh một khoa học mới và là người đầu tiên đưa
ra thuật ngữ xã hội học, ông cũng chỉ ra bản chất của khoa học xã hội nói chung và bản chất
của xã hội học nói riêng. Theo ông xã hội học có nhiệm vụ nghiên cứu sự vận động phát triển
của xã hội loài người, đưa ra lời giải thích đối với những diễn biến của xã hội để góp phần vào
việc xác lập trật tự, ổn định xã hội.
Ông có công đầu trong việc tách xã hội học ra khỏi triết học tư biện, giáo điều. Các
phương pháp nghiên cứu xã hội học mà August Comte đưa ra là một bước nhảy lớn, cho đến
nay những phương pháp này vẫn còn nguyên giá trị của nó, nó là nền móng vững chắc cho sự
phát triển của bộ môn khoa học này.
Từ quan niệm cơ cấu của xã hội học gồm tĩnh học xã hội và động học xã hội, ông đã
vạch ra hai lĩnh vực nội dung nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu cấu trúc xã hội và nghiên cứu
quá trình xã hội. Các nội dung này luôn là mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu của các lý thuyết
xã hội học trước đây và hiện nay.
Tuy nhiên A.Comte cũng có một số khuyết điểm như là: Ông rơi vào chủ nghĩa giáo điều
khi xếp loại thức bậc của các khoa học tự nhiên. Tính giáo điều thể hiện rõ hơn nữa khi ông
khẳng định rằng con người vốn có bản chất giống nhau và tất cả các xã hội đều có quy luật
phát triển giống nhau trong khi cáa đề tài nghiên cứu của ông chỉ giới hạn trong phạm vi các xã
hội Tây Âu.


3.2. Karl Marx (1818 – 1883):
3.2.1. Vài nét về tiểu sử




7
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Karl Marx sinh năm 1818 tại Treves, Đức, trong một gia đình trường giả gốc Do Thái theo
đạo Tin lành nhưng không mấy sùng đạo. Marx học phổ thông tại Treves sau đó theo học đại
học tại Bonn và Berlia. Ông là tiến sĩ của cả hai ngành Luật và Triết học.
Năm 1841, ông bắt đầu làm nghề báo và làm chủ bút tờ RheinesheZeitung nhưng vì những
tư tưởng cách mạng của ông mà tờ báo này phải đóng cửa vào năm 1843, sau đó ông tị nạn
sang Pháp.
Năm 1843, ông lấy Jenny Von Wesphler – một phụ nữ đẹp, có học thức. Bà đã ủng hộ,
nâng đỡ và theo Marx trong suốt cuộc đời hoạt động và nghiên cứu đầy chông gai của chồng.
Ở Pháp ông gặp một người đồng hương là Friedrich Engels, con trai của một ông chủ nhà
máy dệt giàu có người Đức, hai người đã trở thành bạn tâm giao, đã sát cánh bên nhau trong
mặt trận tư tưởng cũng như trên mặt trận đấu tranh cách mạng.
Năm 1848, Marx và Engels viết “Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản”. Ông đã tham gia tổ chức và lãnh
đạo các hoạt động nhằm đấu tranh xóa bỏ chế độ người bóc lột người, hướng tới xây dựng xã
hội cộng sản chủ nghĩa.
Năm 1849, sau một thời gian chạy trốn từ nước này sang nước khác vì bị trục xuất khỏi Pháp,
Marx và gia đình đã định cư tại LonDon. Nhờ có sự giúp đỡ của Engels và hai bên nội ngoại thì
gia đình Marx mới từ từ ổn định và ông lại tiếp tục nghiên cứu, viết lách.
Năm 1881, vợ Marx qua đời, hai năm sau vì đau yếu Marx cũng từ trần ngày 14/03/1883 tại
London.
Những tác phẩm chính:

 Vấn đề người Do thái (1843) và phê bình triết học hữu khuynh của Heghen (1843)

 Thánh gia (1845): viết chung với Engels

 Hệ tư tưởng Đức (1847)

 Lao động hưởng lương và tư bản (1847) : viết chung với Engels

 Sự khốn cùng của Triết học (1847)

 Tuyên ngôn về Đảng cộng sản (1848) : viết chung với Engels

 Góp phần phê phán kinh tế học chính trị (1859)

 Bộ tư bản luận (gồm nhiều tập)
Tư tưởng xã hội của Karl Marx:
1. Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận xã hội học:
CNDV lịch sử là một phạm trù chứa đựng những lý luận và phương pháp luận về Xã hội học của
Marx mà các nhà XHH marxit gọi là XHH đại cương. Vì vậy mặc dù Marx không tự xem mình là
một nhà XHH nhưng các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đều coi Marx là một nhà XHH vĩ đại
của mọi thời đại, là người đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển XHH hiện đại.
Luận điểm gốc của CNDVLS cho rằng: “sản xuất và trao đổi sản phẩm của sản xuất là cở sở
của mọi chế độ xã hội, trong mỗi xã hội có sự phân phối sản phẩm và cùng với sự phân phối đó
là sự phân chhia xã hội thành giai cấp dựa trên tình hình: sản xuất ra cái gì, sả xuất bằng cách
nào, sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào? Do đó cần tìm ra những nguyên
nhân cuối cùng (chứ không phải những nguyên nhân trung gian) của tất cả những biến đổi xã
hội và nhữung đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc com người mà là trong kinh tế của thời
đại tương ứng.

8
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tóm lại, xuất phát điểm của CNDVLS là việc phân tích các quá trình lịch sử xã hội từ góc độ
hoạt động vật chất của con người, từ góc độ cơ sở kinh tế của xã hội.
CNDVLS xem xét xã hội với tư cách là cấu trúc xã hội, hệ thống xã hội. Xã hội được hiểu là một
chình thể gồm các bộ phận tác động qua lại với nhau như: các giai cấp, các thiết chế, các chuẩn
mực giá trị, ... Khi nghiên cứu cơ cấu xã hội của xã hội TBCN, ông đặc biệt chú trọng tới cơ cấu
giai cấp và chỉ ra rằng xã hội TBCN gồm hai giai cấp đối kháng nhau: giai cấp tư sản và giai cấp
vô sản
Việc vận dụng CNDVLS với tư cách là cơ sở lý luận và phương pháp luận trong XHH đòi hỏi
XHH phải tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa con người với xã hội. Đồng thời phải chỉ ra
được nguồn gốc biến đổi xã hội diễn ra trong lòng xã hội chứ không phải tìm kiếm các yếu tố
bên ngoài xã hội.
Khi phân tích, nghiên cứu các hiện tượng xã hội ta không thể dùng các công cụ của khoa học tự
nhiên mà phải phát huy sức mạnh của trí tuệ, của tư duy trừu tượng, phải sử dụng thuật ngữ,
khái niệm, phạm trù khoa học.
2. Quan niệm về bản chất con người:
Lý luận của Marx chỉ ra rằng bản chất của xã hội và con người bắt nguồn từ quá trình hoạt
động sản xuất, từ trong hoạt động làm ra của cải vật chất, tức là từ trong lao động. Bản chất đó
thể hiện qua một số điểm cơ bản sau:
Một là, bản chất con người được quy định bởi hoạt động sản xuất ra của cải vật chất. Lao động
không chỉ là nguồn gốc của mọi của cải trong xã hội mà hơn thế nữa lao động tạo ra con người,
tạo ra nhân cách. Luận điểm này có ý nghĩa rất quan trọng, đó là cần phân tích sự nảy sinh và
diễn biến mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội trong việc sản
xuất ra các phương tiện để sinh tồn và phát triển.
Hai là, trình độ phát triển của xã hội phụ thuộc vào trình độ tổ chức lao động sản xuất của con
người để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người. Marx nhấn mạnh rằng sản xuất
và tiêu dùng là hai mặt của một quá trình sống. Ông chỉ ra rằng sự phân công lao động trong
các xã hội có giai cấp không cho phép con người tự do biểu hiện và phát triển các năng lực của
mình. Ông chỉ rõ: trong nền sản xuất công nghiệp, người công nhân trở thành một vật phụ thuộc
đơn giản của máy móc. Cách phân tích này của ông có ý nghĩa rất lớn đối với xã hội học hiện
đại, nhất là đối với xã hội học lao động, xã hội học công nghiệp và xã hội học kinh tế.
Ba là, nhân tố quyết định lịch sử xã hội loài người là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực
tiếp. Do đó trình độ phát triển của xã hội do trình độ phát triển của lao động và do trình độ phát
triển của gia đình quyết định.
3. Phân tầng xã hội:
Lý luận của Marx vạch rõ tính giai cấp của xã hội và tính bất bình đẳng trong quan hệ xã hội.
Chính chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã sinh ra cấu trúc phân tầng xã hội, có hai
tầng bậc chủ yếu là: giai cấp sở hữu tư liệu sản xuất chiếm vị trí thống trị, bóc lột người khác và
giai cấp không nắm trong tay tư liệu sản xuất.
Trong cấu trúc xã hội, quan hệ giữa hai giai cấp này mang tính chất bất bình đẳng sâu sắc về
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Nói ngắn gọn đó là mối quan hệ giữa kẻ áp bức và những
người bị áp bức. Trong xã hội TBCN, giai cấp tư sản là những ông chủ nắm trong tay tư liệu sản
xuất và sử dụng lao động làm thuê, giai cấp vô sản là những người công nhân làm thuê, vì
không có tư liệu sản xuất nên phải bán sừc lao động để kiếm sống.
Qua cách phân tích này của Marx có thể rút ra hai ý tưởng vô cùng quan trọng. Một là, về mặt lý
luận và thực tiễn của CNCs cần phải xóa bỏ và thay thế chế độ sở hữu tư nhân bằng chế độ sở
hữu xã hội (toàn dân và tập thể). Hai là, khi nghiên cứu lý luận và thực nghiệm XHH cần phải
tập trung phân tích cấu trúc xã hội để chỉ ra ai là người có lợi, ai là người bị thiệt từ cách tổ chức
9
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
xã hội và cơ cấu xã hội hiện có. Hay nói một cách khác, những chủ đề nghiên cứu cơ bản của
xã hội học hiện đại là cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội, bất bình đẳng xã hội.
4. Lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội:
CNDVLS cho rằng sự phát triển trên toàn thế giới là sự tha thế kế tiếp các hình thái kinh tế – xã
hội mà thực chất là các phương pháp sản xuất.
Hình thái KT – XH là một phạm trù của CNDVLS được sử dụng để chỉ XH ở từng giai đoạn nhất
định với quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, với kiến trúc thượng tầng gồn tư
tưởng, chính trị, pháp quyền, tôn giáo, và các yếu tố khác dựng trên cơ sở hạ tầng giồm các
quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế xã hội.
Tư liệu sản xuất bao gồm tất cả những gì của thế giới bên ngoài được đưa vào sử dụng để sản
xuất ra của cải vật chất nhằm duy trì cuộc sống của con người. Tuy nhiên trong lịch sử xã hội
chỉ có một nhóm người hay một giai cấp nắm giữ trong tay TLSX. Chính chế độ sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất là cơ sở phân chia giai cấp, điều này quy định tính chất của quan hệ sản
xuất (quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất). Quan hệ sản xuất có thể
trở thành mối quan hệ cơ bản trong xã hội được hợp pháp hóa và thiết chế hóa thông qua hệ
thống chính trị, luật pháp, tư tưởng, văn hóa.
Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nó quy
định và chi phối hệ thống các quan hệ xã hội. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ sản xuất luôn
luôn là quan hệ bất bình đẳng, luôn có mâu thuẫn, đối kháng. Các quan hệ đó là nguồn nguồn
gốc và là động lực thúc đẩy sự biến đổi xã hội.
Kết luận:
Khác với August Comte và Herbert Spencer, Karl Marx tập trung nghiên cứu vai trò của mâu
thuẫn trong biến chuyển xã hội. Ông cho rằng các hình thái kinh tế – xã hội mới được hình thành
từ mâu thuẫn và xung đột trong các hình thái kinh tế – xã hội cũ. Marx đã phê bình gắt gao chủ
nghĩa tư bản và tiên đoán nó sẽ bị thay thế bởi CNXH. Không có một nhà XHH tiền phong nào
có ảnh hưởng sâu rộng đối với bộ môn khoa học mới này như là Marx. Ông chưa bao giờ tự
nhận mình là một nhà XHH , ông tự nhận là đã có bàn đến những vấn đề XHH nhưng những
công trình của ông còn bao trùm lên những lĩnh vực khác như triết học, kinh tế học, lý thuyết
chính trị, ... Lý thuyết của ông về biến chuyển xã hội có tính chất khoa học vì nó dựa trên những
xung đột giữa những giai cấp lớn trong xã hội. Ông cho rằng chính quyền sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất đã đem lại bất bình đẳng về kinh tế và chính trị./.


3. Herbert Spencer (1820 – 1903):
Vài nét về tiểu sử:
Herbert Spencer là 1 nhà triết học, nhà Xã hội học người Anh. Ông là người theo chủ nghĩa tiến
hóa, là người tìm cách vận dụng những quy luật tiến hóa sinh học vào lĩnh vực lịch sử và xã hội.
Với ông, xã hội xuất hiện như một cơ thể sinh học, tiến hóa từ hình thức đơn giản sang hình
thức phức tạp thông qua sự khác biệt hóa và chuyên môn hóa các chức năng, các bộ phận khác
trong xã hội. Lý thuyết của Spencer có ảnh hưởng rất lớn đối với lịch sử XHH Anh và trường
phái XHH cơ cấu chức năng.
Ông sinh năm 1820 tại Derby, Anh. Cha là giáo viên và gia đình ông theo đạo Tin Lành. Từ nhỏ
đến năm 13 tuổi ông tự học ở nhà với cha và người cậu ruột làm mục sư đạo Tin Lành. Ông có
những kiến thức về toán học, khoa học tự nhiên và rất quan tâm nghiên cứu khoa học xã hội.
Từ năm 17 tuổi ông đã làm việc như một kỹ sư cho ngành đường sắt nhưng từ năm 20 tuổi ông
quay qua làm báo và viết về chính trị. Thời gian đầu ông ủng hộ những quan điểm tiến bộ như


10
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
quốc hữu hóa đất đai, chủ nghĩa tự do trong nền kinh tế, vị trí và vai trò của phụ nữ trong xã hội,
... nhưng sau này ông đã từ bỏ những quan điểm trên.
Năm 1851, ông viết cuốn “Tĩnh học xã hội”, thuật ngữ này ông chịu ảnh hưởng của August
Comte. Trong cuốn sách này ông nghiên cứu trật tự xã hội.
Năm 1853, người cậu làm mục sư của ông qua đời để lại cho ông một gia tài đủ để ông viết
lách mà không phải tìm một công việc kiếm tiền.
Tình hình chính trị xã hội ở Anh thế kỷ 19 có nhiều biến động gay gắt. Anh là nước đầu tiên
công nghiệp hóa, xã hội nước Anh đã kế thừa tất cả những yếu tố tích cực của thời kỳ đầu phát
triển công nghiệp và CNTB. Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cùng với môi trường khoa học phát
triển, nhất là môn kinh tế chính trị và sinh vật học đã có ảnh hưởng nhất định tới lý thuyết XHH
của Spencer.
Spencer tin tưởng vào vai trò quan trọng của “bàn tay vô hình” tức là cơ chế thị trường và tự do
cạnh tranh trong việc duy trì trật tự xã hội, trong đó các cá nhân luôn tìm cách theo đuổi lợi ích
riêng của họ. Ông nhìn thấy một số khía cạnh tích cực của CNTB như tính hiệu quả, môi trường
tự do cạnh tranh và tự do buôn bán đối với việc cải thiện đời sống con người.
Kế thừa học thuyết tiến hóa của Darwin, ông đã đưa ra khái niệm về sự tiến hóa xã hội. Ông
giải thích: chỉ cá nhân nào, hệ thống xã hội nào có khả năng thích nghi với môi trường xung
quanh mới có thể tồn tại được trong cuộc đấu tranh sinh tồn.
Bị ảnh hưởng bởi khoa học tự nhiên như vật lý học và chủ nghĩa thực chứng, ông chủ trương
rằng XHH phải hướng tới tìm ra các quy luật và nguyên lý chung, cơ bản để giải thích quá trình,
hiện tượng xã hội.
Các quan điểm Xã hội học của Herbert Spencer:
a. Lý thuyết sinh học xã hội:
Spencer cho rằng có một sự phân hóa dần dần trong sự vật, bắt đầu với những bộ phận sinh
học, tiến dần đến trạng thái độc lập và cá thể hóa. Vì tính chất của con người thay đổi và hoàn
thiện dần nên những quan điểm về đạo đức, chính trị dực trên một giả định về một bản chất ổn
định của con người cần phải được bác bỏ. Bản chất con người đơn giản chỉ là tập hợp những
bản năng, những tình cảm đã thích ứng qua thời gian với thực tại xã hội. Ông cũng công nhận
tầm quan trọng của việc hiểu cá nhân thông qua cái tổng thể trong đó cá nhân là những bộ phận
lệ thuộc lẫn nhau nhưng không lệ thuộc vào tổng thể. Cá nhân có bản thể và giá trị riêng mà
tổng thể phải lệ thuộc.
Theo Spencer, cuộc sống của con người không chỉ là một sự liên tục mà còn là đỉnh cao của
quá trình tiến hóa lâu dài nhưng ông lại cho rằng có một sự phát triển song song của tinh thần
và thể xác chứ không giản lược tinh thần vào thể xác. Quan niệm này của ông về tinh thần, về
hoạt động của hệ thống thần kinh TW và não bộ là một quan niệm máy móc.
b. Lý thuyết tiến hóa xã hội:
Dựa trên lý luận về sự tiến hóa sinh vật, Spencer tin rằng xã hội loài người cũng tiến hóa từ hình
thức đơn giản lên hình thức phức tạp nhằm đáp ứng những nhu cầu sống tự nhiên của xã hội:
khi dân số trong các xã hội còn ít thì việc tổ chức lao động, việc quản lý hành chính cũng như
các dịch vụ phục vụ đời sống xã hội đang ở tình trạng đơn giản. Nhưng khi dân số tăng lên, xã
hội trở nên đông đúc thì mọi sự trở nên phức tạp hơn. Các dịch vụ, các thiết chế trong xã hội sẽ
được chuyên môn hóa. Trong lĩnh vực lao động, quá trình tiến hóa cũng đi từ hình thức lao động
giản đơn như từ việc săn bắt hái lượm lên các hình thức lao động phức tạp hơn như công việc
canh tác, lao động thủ công, lao động công nghiệp hiện đại. Rõ ràng phân chia lao động theo
hướng chuyên môn hóa là điều không thể tránh khỏi nhằm thích nghi với tính chât và sự đòi hỏi
của hình thức lao động công nghiệp hiện đại.


11
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Các thiết chế xã hội như tôn giáo, nhà nước, gia đình cũng theo một quy luật tiến hóa từ đơn
giản đến phức tạp, từ đồng nhất đến đơn nhất trong quá trình phát triển của chúng. Tuy các bộ
phận này ngày càng phân rẽ ra thành nhiều nhánh khác nhau nhưng chúng vẫn luôn cố kết và
phụ thuộc lẫn nhau để đảm bảo cho sự tồn tại của tổng thể. Chính Spencer đã đặt nền móng
cho trường phái XHH cơ cấu chức năng khi ông lý luận rằng xã hội vận hành và phát triển tốt khi
mỗi bộ phận trong xã hội đảm bảo tốt chức năng của mình, thỏa mãn tốt nhu cầu của cuộc
sống. Lý thuyết của Spencer sau này được E.Durkheim sử dũng khi Durkheim tìm cách miêu tả
sự cố kết, tính liên đới của các bộ phận khác trong bộ máy xã hội.
Spencer miêu tả xã hội là một hệ thống trong đó bao gồm nhiều tiểu hệ thống khác. Chúng vừa
vận hành một cách độc lập (vì mỗi bộ phận đều có cấu tạo, mục đích và chức năng khác nhau),
vừa phụ thuộc lẫn nhau một cách khăng khít vì khi một bộ phận nào đó bị trục trặc sẽ ảnh
hưởng và tác động rất lớn đến hoạt động của cả hệ thống.
Tuy nhiên phải chú ý rằng Spencer khẳng định quy luật tiến hóa xã hội chỉ tương tự như quy luật
tiến hóa sinh học. Spencer khẳng định: trong sự tiến hóa của hai lĩnh vực này khác nhau ở cơ
quan bộ phận trong cấu trúc của cơ thể con người, xã hội được cấu thành từ những bộ phận
khác nhau mà hạt nhân là những cá thể có ý thức, có khả năng phán đoán, khả năng sáng tạo,
có thể làm chuyển đổi môi trường mà họ đang sống. Điểm giống nhau của hai quá trình tiến hóa
sinh học và tiến hóa xã hội là cả hai đều có khả năng sinh tồn và phát triển theo quy luật tiến
hóa. Hay nói các khác xã hội liên túc trải qua các giai đoạn sinh trưởng, tiến trưởng, suy thoái kế
tiếp nhau trong suốt quá trình thích nghi với môi trường xung quanh.
Những khái niệm, các nguyên lý XHH của Spencer có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học
XHH hiện đại. Những phân tích về tác nhân của xã hội và các nguyên lý tiến hóa xã hội, nguyên
lý về chức năng và cấu trúc xã hội đóng vai trò là nền tảng hình thành nên xu hướng chức năng
luận trong XHH.
c. Hai hình thái xã hội: xã hội quân sự và xã hội công nghiệp:
Spencer đã phân ra các hình thức xã hội khác nhau trong quá trình tiến hóa của xã hội laòi
người. Ông cho rằng xã hội nào cũng phải trải qua hai “loại” gần như đối nghịch nhau, đó là hình
thái xã hội quan sự và xã hội công nghiệp trong đó xã hội công nghiệp là biểu hiện của một xã
hội đã phát triển đến tình trạng phức tạp trong lộ trình tiến hóa của xã hội.
Xã hội quân sự: Xã hội công nghiệp:
Tư tưởng, niềm tin, các chuẩn mực giá trị của Trong nền văn minh công nghiệp, tự do tư
các cá thể đang ở trong tình trạng đồng nhất, tưởng, tự do cá nhân, tự do buôn bán đã được
đóng khung trong một hệ ý thức nào đó có tính Spencer đề cao.
cách bắt buộc.
Các quan hệ xã hội, lao động bị ép buộc, nhà
Trong xã hội công nghiệp, các cá thể có
cầm quyền sử dụng sức mạnh vũ lực để ép
quyền tự do lựa chọn và quyết định, các cá
buộc các cá nhân theo khuôn khổ của họ.
thể cũng như các bộ phận trong xã hội hiệp
Quan hệ xã hội là quan hệ cai trị chức không
thương với nhau một cách tự nguyện.
phải là hiệp thương.
Trong xã hội quân sự, quân đội là phương tiện
của các quốc gia hùng mạnh chinh phục các Các nược sẽ làm giàu thông qua lao động sản
nước yếu để làm giàu cho quốc gia mình. Xã xuất. Trong thời đại công nghiệp, trí tuệ, chất
hội quân sự diễn tả trạng thái thô sơ của xã xám sẽ là vốn quý có sức mạnh chinh phục,
hội. nước nào có vốn liếng chất xám nhiều, có
nhiều phát minh sẽ là nước phát triển. Xã hội
công nghiệp được Spencer đồng hóa với trạng
thái phát triển “phức tạp” trong quá trình tiến
hóa.

12
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


d. Các thiết chế xã hội:
Theo quan niệm của Spencer: thiết chế xã hội là kiểu tổ chức xã hội xuất hiện và hoạt động
nhằm đảm bảo đáp ứng các yêu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội đồng thời kiểm
soát các hoạt động của cá nhân và các nhóm trong xã hội. Trong số các thiết chế xã hội ông
đặc biệt chú ý đến thiết chế gia đình và dòng họ, thiết chế nghi lễ, thiết chế chính trị và thiết chế
kinh tế. Đây là những thiết chế cơ bản nhất của xã hội.
Thiết chế gia đình và dòng họ:
Thiết chế này không những phải đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội mà còn phải thỏa mãn nhu
cầu kiểm soát hoạt động duy trì nòi giống, quan hệ giữa phụ nữ và nam giới, nhu cầu di truyền,
nuôi dạy con cái và chăm sóc các thành viên trong gia đình
Thiết chế nghi lễ:
Thiết chế này cần thiết để đáp ứng nhu cầu liên kết vá kiểm soát các quan hệ xã hội của con
người thông qua các thủ tục, biểu tượng, ký hiệu, nghi thức, ... Nghi lễ có chức năng to lớn trong
việc tạo ra sự gắn kết và phối hợp giữa các hoạt động của các bộ phận cấu thành xã hội. Ông
chỉ ra mối tương quan giữa quyền lực và nghi lễ, mức độ tập trung quyền lực trong xã hội càng
cao thì mức độ bất bình đẳng về nghi lễ càng lớn.
Thiết chế chính trị:
Thiết chế này xuất hiện chủ yếu để giải quyết các xung đột bên trong và bên ngoài xã hội. Sự
tập trung quyền lực càng lớn thì càng bộc lộ rõ sự phân chia giai cấp trong xã hội, do đó lại càng
đặt ra yêu cầu cao đối với việc củng cố và tăng cường cơ quan quyền lực.
Thiết chế tôn giáo:
Thiết chế này có yếu tố cơ bản là tạo dựng niềm tin vào các lực lượng siêu tự nhiên, siêu nhân.
Biểu hiện của thiết chế này là việc tập hợp các cá nhân cùng chia sẻ niềm tin và cùng tham gia
các hoạt động nghi lễ đặc thù của tôn giáo. Thiết chế tôn giáo có chức năng củng cố hệ thống
chuẩn mực, giá trị, niềm tin, tinh thần để duy trì ổn định trật tự xã hội.
Thiết chế kinh tế:
Thiết chế này có shức năng cơ bản là thỏa mãn nhu cầu của con người về các sản phẩm và các
dịch vụ trong điều kiện môi trường luôn khan hiếm các nguồn lực và luôn biến đổi. Sự tiến hóa
của các thiết chế kinh tế thể hiện ở việc nâng cao trình độ công nghệ và tri thức, ở việc mở rộng
sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch vụ, ở mức độ tích lũy tư bản và tư liệu sản xuất và những
thay đổi trong cách thức tổ chức lao động.
e. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ quan điểm tiến hóa cho rằng xã hội luôn phát triển theo những quy luật nhất định,
Spencer chủ trương rằng XHH có nhiệm vụ là phát hiện ra những quy luật đó của các cơ cấu xã
hội trong quá trình tiến hóa và nghiên cứu mối liên hệ giữa các bộ phận trong xã hội. Theo ông
XHH không nên đi quá sâu vào việc phân tích những đặc thù lịch sử của xã hội nhưng nên tập
trung tìm kiếm những thuộc tính, những nguyên lý có tính phổ quát và các mối liên hệ nhân quả
giữa các hiện tượng xã hội.
Phương pháp của Spencer là phương pháp khoa học thực nghiệm, đặc biệt chịu ảnh hưởng
thuyết duy nghiệm của August Comte. Phương pháp của ông có tính tổng hợp. Theo ông,
nghiên cứu XHH phải sử dụng nhiều số liệu, phải thu thập số liệu vào nhiều thời điểm và ở
nhiều địa điểm khác nhau.
Kết luận:
13
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Spencer đã giải thích xã hội bằng cách dựa trên mô hình những khuôn mẫu tự nhiên và sinh
học. Theo ông những khái niệm trong sinh học có thể giúp nhà XHH làm nghiên cứu một cách
hiệu quả. Cũng chính điều này mà ông đã bị phê bình khi đã suy diễn, quy đồng một cách máy
móc từ lĩnh vực sinh học sang lĩnh vực xã hội. Spencer cũng thường bị phê bình là không nhất
quán. Quan điểm của ông thay đổi đối với các vấn đề như: quốc hữu hóa đất đai, vấn đề quyền
trẻ em, về việc phát triển chế độ phổ thông đầu phiếu ở phụ nữ, về vai trò của chính.
Tóm lại, mặc dù lý thuyết XHH của Spencer không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của chủ nghĩa
duy lý trong khoa học nhưng các quan niệm tiến hóa xã hội của ông đã gợi ra nhiều ý tưởng
quan trọng được tiếp tục phát triển trong các trường phái XHH hiện đại. Cách tiếp cận cấu trúc,
hệ thống xã hội của Spencer đã được E.Durkheim, Talcott Parsons, Robert Merton và những
người khác kế thừa, phát triển thành trường phái cấu trúc chức năng. Cách phân tích của
Spencer về mối liên hệ giữa các đặc điểm dân số học như quy mô và mật độ dân số với các
đặc điểm của thiết chế xã hội và tổ chức xã hội đã mở đầu cho trường phái sinh thái học người
và trường phái Chicago phát triển mạnh trong thế kỷ XX./.

2. Emile Durkheim (1858 – 1917):
Vài nét về tiểu sử:
Emile Durkheim là một nhà xã hội học người Pháp. Ông là người đặt nền móng xây dựng chủ
nghĩa chức năng và chủ nghĩa cấu trúc trong xã hội học hiện đại. Ông sinh năm 1858 ở Epinal,
Pháp trong một gia đình Do Thái, ông mất năm 1917.
Năm 1893 ông hoàn thành cuốn sách: “Phân công lao động trong xã hội”. Ông bắt đầu giảng
dạy tại trường đại học tổng hợp Bordeaux lúc 29 tuổi. Trong thời gian làm việc ở đây, ông đã
hoàn thành những công trình đồ sộ. Đến năm 1903, ông chuyển sang giảng dạy tại trường đại
học tổng hợp Sorbsne. Tại đây ông viết một trong những tác phẩm xHH độc đáo và quan trọng
nhất của đời mình là “Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo” xuất bản năm 1912.
Năm 1913, học hàm “Giáo sư khoa học giáo dục” cuả E.Durkheim chính thức được đổi thành
“Giáo sư khoa học giáo dục và xã hội học” và ông trở thành nhà xã hội học chính thức đầu tiên
tại Pháp. Sự kiện này cùng với việc E.Durkheim đưa vào giảng dạy môn XHH trong trường đại
học đã mở đấu cho bước tiến quan trông của xã hội học với tư cách là một khoa học độc lập ở
Pháp.
Xã hội Pháp thế kỷ XIX đã trải qua những biến đổi sâu sắc về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, khoa
học và kỹ thuật. XHH của E.Durkheim đã ra đời trong bối cảnh xã hội có nhiều xáo trộn và biến
đổi to lớn đã phần nào giải thích tại sao, theo sau August Comte, E.Durkheim luôn cho rằng XHH
có nhiệm vụ hàng đầu là tìm ra các quy luật xã hội để từ đó tạo ra trật tự xã hội trong xã hội
hiện đại. Điều này rất giống với quan niệm của August Comte về vị trí, vai trò của lý thuyết XHH
trong đời sống con người.
Tư tưởng xã hội học của E.Durkheim:
1. Quan niệm về khoa học xã hội học:
a. Quan niệm về đối tượng nghiên cứu:
Theo E.Durkheim, xã hội tồn tại bên ngoài cá nhân và có trước cá nhân với nghĩa là cá nhân
dược sinh ra trong xã hội và phải tuân thủ các chuẩn mực, phép tắc xã hội đã có sẵn trước khi
cá nhân đó được sinh ra. Vì vậy XHH cần phải xem xét hệ thống xã hội, cấu trúc xã hội và các
hiện tượng xã hội với tư cách là các sự vật, các bằng chứng, các sự kiện đang tác động tới đời
sống của các cá nhân.
Thực chất XHH của E.Durkheim chủ yếu xoay xung quanh vấn đề mối quan hệ giữa con người
và xã hội. Ông đã tìm cách trả lời câu hỏi: làm thế nào có thể bảo đảm tự do cá nhân mà không
làm tăng tính ích kỷ của con người trong khi vẫn tạo ra được trật tự xã hội qua việc nghiên cứu
các sự kiện xã hội như lao động, tự tử và nhiều sự kiện khác?
14
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Để trả lời câu hỏi này lúc đầu ông vận dụng cách tiếp cận vĩ mô trong nghiên cứu xã hội với tư
cách là một chỉnh thể hệ thống, ví dụ như là ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của đoàn kết xã
hội, của phân công lao động trong xã hội đối với việc duy trì trật tự xã hội nói riêng và hệ thống
xã hội nói chung. Sau đó ông phân tích các quá trình vi mô làm nền tảng của trật tự xã hội, ví dụ
như là ông nghiên cứu các quá trình tương tác trực tiếp, giao tiếp cá nhân, các nghi thức xã hội
và các hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo để giải thích cách tổ chức và phát triển cộng
đồng xã hội.
Như vậy, theo E.Durkheim để biến XHH thành khoa học thì cần xác định rõ đối tượng nghiên
cứu và phương pháp khoa học của nó, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thực
chứng như: quan sát, so sánh, thực nghiệm để nghiên cứu, phát hiện ra các quy luật của các sự
vật, sự kiện xã hội.
Theo quan niệm của E.D, có thể định nghĩa khái quát XHH là khoa học nghiên cứu các sự kiện
xã hội. Sự kiện xã hội là sản phẩm của lịch sử, là kết quả của hoạt động tập thể. Có thể coi
quan niệm XHH của E.D thuộc về “chủ nghĩa tập thể” bởi ông luôn lấy cuộc sống cộng đồng
làm xuất phát điểm của sự kiện xã hội, của các phương pháp tiếp cận các sự kiện xã hội.
b. Quan niệm về cơ cấu xã hội:
Hình thái học xã hội là một bộ phận của XHH có nhiệm vụ nghiên cứu thành phần, cấu tạo, số
lượng, kích cỡ, cách sắp xếp và các mối liên hệ giữa những thành phần cụ thể và phân loại
chúng để chỉ ra các kiểu xã hội, các hình thức xã hội.
Một số bộ phận khác của XHH chuyên nghiên cứu sự biến đổi xã hội với các nguyên nhân, cơ
chế, điều kiện và hệ quả của sự biến đổi xã hội.
Theo quan niệm của chủ nghĩa chức năng, XHH hướng tới phân tích các nguyên nhân và đưa ra
cách giải thích về chức năng của các sự kiện xã hội. Ông chủ trương áp dụng quy tắc giải thích
các chức năng luận vào xã hội học. Chức năng được hiểu là sự phù hợp giữa sự kiện được
nghiên cứu với các nhu cầu chung của cơ thể xã hội. Theo E.Durkheim, sự kiện xã hội xuất hiện
là để đáp ứng nhu cầu của tổng thể hệ thống xã hội, cần tìm hiểu và chỉ ra chức năng của một
sự kiện xã hội trong mối quan hệ của nó với cả hệ thống xã hội đang theo đuổi những mục đích
nhất định nào đó.
c. Vị trí độc lập của xã hội học trong khoa học:
Theo E.D, XHH coi các hiện tượng xã hội là sự vật và phải được xử l1y với tư cách là những dữ
liệu. Sự kiện xã hội xuất hiện, vận động và biến đổi không phải vì chức năng kinh tế cũng không
phải vì hiệu quả kinh tế mà nó có nguyên nhân xã hội, có các tác nhân xã hội và có hệ quả đối
với đời sống xã hội của con người.
Ngoài sự khác biệt với triết học và kinh tế học, E.D còn nhấn mạnh sự khác biệt về đối tượng
nghiên cứu giữa XHH và tâm lý học
Xã hội học Tâm lý học
XHH nghiên cứu các sự kiện xã hội từ bên Tâm lý học có đối tượng tác động là sự trải
ngoài như các sự vật bên ngoài. nghiệm và nhu cầu, động cơ của thế giới bên
trong cá nhân.
Phương pháp tâm lý học xuất phát từ cá nhân, từ
XHH có hệ thống phương pháp luận với thế giới bên trong con người để hiểu các đặc
các quan niệm, với các quy tắc và các thao điểm, tính chất hành vi cá nhân hay hành vi của
tác nghiên cứu cụ thể. nhóm người.
Tâm lý học xuất phát từ thế giới bên trong của cá
nhân mỗi người.
XHH xuất phát từ cấu trúc, chức năng XH,
từ thế giới XH bên ngoài cá nhân để hiểu
15
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
hành vi xã hội của nhóm người và cuộc
sống xã hội của con người.
Như vậy, quan niệm của E.D về XHH cho thấy nó nghiên cứu cái gì, nghiên cứu như thế nào và
vị trí tương đối độc lập của nó trong hệ thống các khoa học, đặc biệt là ranh giới giữa XHH với
tiết học, kinh tế học và tâm lý học.
2. Các quy tắc phương pháp luận:
Nguyên lý xuyên suốt trong phương pháp nghiên cứu của E.D là quan niệm coi các sự kiện xã
hội như những sự vật. Vì vậy, thành kiến coi con người là trung tâm của vũ trụ, là thước đo của
thế giới phải bị xóa bỏ ra khỏi tất cả các khoa học, nhất là trong XHH. Theo ngôn ngữ triết học,
ta có thể nói: E.D cho rằng phải thay thế CNDT bằng CNDV trong phương pháp luận XHH.
Để hiểu rõ đối tượng và phương pháp nghiên cứu của XHH E.D ta cần tìm hiểu một số quy tắc
mà ông đưa ra cách đây hơn một thế kỷ. Các quy tắc đó được phân thành một số nhóm chính
sau đây:
Nhóm quy tắc quan sát hiện tượng xã hội:
Quy tắc này đòi hỏi coi các sự kiện xã hội như các sự vật. Khi quan sát sự kiện xã hội, nhà XHH
phải gạt bỏ một cách hệ thống tất cả các khái niệm thường ngày, phải loại bỏ các tình cảm và
thành kiến của cá nhân, phải định nghĩa rõ hiện tượng nghiên cứu, phải tìm ra các chỉ báo thực
nghiệm của hiện tượng nghiên cứu. Ông cho rằng khi nào sự kiện xã hội được coi là sự vật thì
mới có thể sử dụng các phương pháp thực chứng để nghiên cứu các đặc điểm, tính chất và quy
luật của sự kiện xã hội, kể cả các hiện tượng xã hội như: niềm tin, chuẩn mực, đạo đức cũng
phải được coi là đối tượng nghiên cứu khoa học với tư cách là các sự vật đặc biệt trong hiện
thực khách quan.
Nhóm quy tắc phân biêt cái bình thường với cái sai lệch:
Quy tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu XHH phải phân biệt được cái chuẩn mực với cái dị biệt vì
mục tiêu sâu xa của XHH là chỉ ra những gì là chuẩn mực tốt lành cho cuộc sống của con
người. Theo E.D cách tốt nhất để xác định chuẩn mực là phát hiện ra cái thường gặp, cái chung,
cái của số đông, cái điển hình của xã hội cụ thể trong giai đoạn phát triển lịch sử nhất định.. căn
cứ vào đó có thể coi tất cả những gì lệch lạc so với chuẩn mực là dị biệt, là không bình thường,
thậm chí là các tệ nạn, các bệnh tật xã hội.
Nhóm quy tắc phân loại xã hội:
E.D cho rằng cần phân loại xã hội dựa vào bản chất và số lượng các thành phần cấu thành nên
xã hội, căn cứ vào phương thức, cơ chế, hình thức kết hợp các thành phần đó.
Nhóm quy tắc chức năng luận:
Quy tắc này đòi hỏi: khi giải thích các hiện tượng xã hội ta cần phân biệt nguyên nhân gây ra
hiện tượng với chức năng mà hiện tượng đó thực hiện. Theo E.D nghiên cứu XHH có hai nhiệm
vụ chính: một là chỉ ra điều kiện, yếu tố và nguyên nhân gây ra hiện tượng; hai là phân tích chức
năng, hệ quả của hiện tượng đó đối với cả hệ thiông xã hội, bối cảnh xã hội mà hiện tượng đó
diễn ra. Đây là những quy tắc phương pháp luận làm cơ sở phát triển trường phái chức năng
luận trong XHH.
Nhóm quy tắc chứng minh XHH:
Để chứng minh một hiện tượng là nguyên nhân của hiện tượng khác cần phải sử dụng các quy
tắc của phương pháp thí nghiệm, so sánh, kết lắng, và nhất là phương pháp xem xét sự biến đổi
cùng nhau (cùng biến đổi). Quy tắc này đòi hỏi phải so sánh hai hay nhiều các xã hội để xem
liệu một sự kiện đã cho trong một xã hội mà không hiện diện trong xã hội khác có gây ra sự
khác biệt nào trong xã hội đó hay không? Có thể áp dụng quy tắc chứng minh “biến thiên tương
quan” trong nghiên cứu xã hội như sau: nếu hai sự kiện tương quan với nhau và một trong hai sự
16
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
kiện đó được coi là nguyên nhân gây ra sự kiện kia, và trong khi các sự kiện khác cũng có thề là
nguyên nhân nhưng không thể loại trừ được mối tương quan giữa hai sự kiện này thì cách giải
thích nhân quả như vậy có thể được coi là đúng, là có thể chấp nhận được.
Trong XHH thực nghiệm hiện đại, phương pháp biến thiên tương quan này là cách phân tích hồi
quy đa biến. Với ý nghĩa thực nghiệm quan trọng như vậy nên phương pháp hồi quy (đơn biến
và đa biến) được sử dụng triệt để trong các nghiên cứu XHH hiện nay.
3. Sự kiện xã hội:
a. Khái niệm:
Theo E.Durkheim, đối tượng nghiên cứu của xHH là các sự kiện xã hội. Khái niệm sự kiện xã hội
được hiểu với hai nghĩa cơ bản như sau:
Các sự kiện xã hội có tính “vật chất”: ví dụ: nhóm người, dân cư, tổ chức xã hội, thiết chế xã hội
với tất cả các đặc điểm về chất và lượng của nó.
Các sự kiện xã hội có tính “phi vật chất”: ví dụ: hệ thống giá trị, chuẩn mực, phong tục, tập quán
xã hội. Sự kiện phi vật chất bao gồn cả các sự kiện đạo đức, tức là các cách thức hành động,
suy nghĩ và trải nghiệm mà các cá nhân nhập tâm được khi cùng chung sống trong xã hội.
b. Các đặc trưng cơ bản của sự kiện xã hội:
Tính khách quan:
Sự kiện xã hội phải là những gì bên ngoài cá nhân, độc lập với ý muốn chủ quan của cá nhân.
Tính phổ biến:
Các sự kiện xã hội bao giờ cũng là sự kiện chung, phổ biến đối với nhiều cá nhân. Nghĩa là sự
kiện xã hội là cái được cộng đồng xã hội cùng chia sẻ, chấp nhận, coi chúng là của mình; sự
kiện xã hội là phổ biến đối với moi thành viên trong xã hội.
Tính cưỡng chế:
Sự kiện xã hội bao giờ cũng có sức mạnh kiểm soát. Thậm chí là hạn chế, gây áp lực đối với
hành động và hành vi của cá nhân. Các điều khoản luật là ví dụ rất rõ về đặc trưng này của sự
kiện xã hội. Qua đó thấy rằng E.D coi XH có vai trò nhất định đối với đời sống con người.
4. Đoàn kết xã hội:
a. Khái niệm:
Khái niệm đoàn kết xã hội của E.D có nội dung gần giống với khái niệm hội nhập XH đang được
sử dụng rộng rãi hiện nay. Ông dùng khái niệm này để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã
hội, giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm XH. Nếu như không có sự đoàn kết xã
hội thì các cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành XH với tư cách là một chỉnh thể hệ
thống xã hội.
E.D đã phân biệt hai hình thức cơ bản của sự đoàn kết xã hội là đòan kết cơ học và đoàn kết
hữu cơ, tương ứng với nó là hai loại xã hội: xã hội cơ học và xã hội hữu cơ. Ông đã vận dụng
khái niệm đoàn kết xã hội để giải thích các hiện tượng xã hội như sự phân công lao động, tự tử,
tôn giáo và nhiều sự kiện xã hội khác. Ông không những phát hiện ra nguyên nhân mà còn phân
tích chức năng, hệ quả và mối quan hệ của các hiện tượng đó với việc duy trì, củng cố đoàn kết
xã hội tức là trật tự xã hội và biến đổi xã hội.
b. Đoàn kết xã hội và phân loại xã hội:
Đoàn kết xã hội cơ học:


17
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đây là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự giống nhau, sự thuần nhất, sự đơn điệu, sự thống nhất
của các giá trị, niềm tin, tín ngưỡng, phong tục tập quán. Các cá nhân gắn bó với nhau trên cơ
sở cùng chia sẻ những giá trị tinh thần, trên cơ sở lòng trung thành của cá nhân đối với truyền
thống, tập tục và quan hệ gia đình. Trong xã hội này, quyền tự do cá nhân, tinh thần tự chủ và
tính độc lập của các cá nhân rất thấp. Xã hội cơ học thường có quy mô nhỏ nhưng ý thức cộng
đồng cao, các chuẩnmực chặt chẽ, luật pháp mang tính chất cưỡng chế.
Đoàn kết xã hội hữu cơ:
Đây là kiểu đoàn kết XH dựa trên sự phong phú, sự đa dạng của các chức năng, các mối liên
hệ, các tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu thành nên xã hội. Trong xã hội này, mức
độ và tính chất chuyên môn hóa chức năng càng cao thì các bộ phận trong xã hội càng phụ
thuộc, càng gắn bó và đoàn kết chặt chẽ với nhau. XH hữu cơ thường có quy mô lớn, ý thức
cộng đồng có thể yếu nhưng tính độc lập, tự chủ của cá nhân được đề cao, được tôn trọng. Các
quan hệ xã hội chủ yếu mang tính chất chức năng, tính chất trao đổi và được pháp luật tôn
trọng, bảo vệ.
Sự biến đổi xã hội từ dạng này sang dạng khác bắt nguồn từ những thay đổi có tính quy luật thề
hiện qua các sự kiện xã hội có tính vật chất và phi vật chất.
c. Đoàn kết xã hội và phân công lao động:
Theo E.D, phân công lao động thực hiện chức năng vô cùng to lớn và quan trọng đối với cuộc
sống con người, đó là tạo ra sự đoàn kết xã hội, sự hội nhập xã hội. Cùng với sự biến đổi hình
thức phân công lao động là sự xuất hện kiểu xã hội mới. Với trình độ phân công lao động ngày
càng cao thì vai trò và nhiệm vụ lao động càng bị phân hóa và chuyên môn hóa sâu sắc. Kết
quả là các cá nhân ngày càng phải tương tác vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau, quan hệ với nhau
một cách chặt chẽ và đó chính là sự đoàn kết hữc cơ.
Sự biến đổi xã hội phụ thuộc vào sự biến đổi kiểu đoàn kết xã hội. Đến lượt mình sự đoàn kết
XH phụ thuộc vào sự phân công lao động. Ông cho rằng sự di cư và tích tụ dân cư, đô thị hóa
và công nghiệp hóa đã làm tăng mật độ tiếp xúc, quan hệ và tương tác giữa các cá nhân, nhóm
và tổ chức trong xã hội. Trong bối cảnh đó buộc cá nhân muốn tồn tại phải “đấu tranh”, cạnh
tranh với nhau thông qua sự phân công lao động, thông qua sự chuyên môn hóa chức năng và
nhiệm vụ. Ông chỉ ra rằng sự phân công lao động càng tinh vi, chuyên môn hóa chức năng xã
hội càng cao thì các cá nhân, các nhóm xã hội càng tương tác chặt chẽ với nhau và càng phụ
thuộc lẫn nhau. Kết quả là tạo ra sự đoàn kết XH và củng cố tinh thần đoàn kết XH.
d. Đoàn kết xã hội và tự tử:
E.D chỉ ra rằng nạn tự tử là hiện tượng XH có mối liên hệ tỷ lệ nghịch với mức độ đoàn kết, gắn
kết, hội nhập XH. Ông cho rằng tự tử là cái chết do kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành
động tích cực hay tiêu cực của cá nhân chống lại chính bản thân mình mà cá nhâm biết là hành
động đó nhất định tạo ra kết cục như vậy. Ông cũng chỉ ra rằng tự tử phụ thuộc vào các yếu tố
xã hội cụ thể. Ví dụ như: những người theo đạo Tin lành tự sát nhiều hơn những người theo đạo
Công giáo, tỷ lệ tự tử ở thành phố cao hơn ở nông thôn.
Dựa vào đặc điểm và tính chất của sự đòan kết xã hội, ông phân biệt một số kiểu tự tử như sau:
Tự tử ích kỷ: xảy ra khi cá nhân bị bỏ rơi, không được quan tâm đến và cá nhân chỉ sống vì bản
thân mình. Đây là kiểu tự tử do chủ nghĩa cá nhân quá lớn, quá mạnh gây ra.
Tự tử vị tha: cá nhân tự sát, xả thân vì mục tiêu của nhóm. Tự tử vị tha có thể diễn ra dưới hình
thức bắt buộc không thể làm khác trong một tình huống nhất định. Hành động tự sát này có thể
là do quy ước có tính truyền thống của nhóm (ví dụ: kiểu tự sát võ sĩ đạo), có thể đơn giản chỉ là
do quan niệm đó là sự hy sinh. Dù dưới hình thức nào thì kiểu tự tử vị tha chủ yếu là do sự gắn
kết quá mạnh của cá nhân với nhóm, với cộng đồng xã hội.


18
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tự tử phi chuẩn mực: đó là sự tự sát trong tình huống nhiễu loạn, hỗn độn, khủng hoảng. Trong
tình huống xã hội như vậy các chuẩn mực cũ không còn tác dụng kiểm soát, điều tiết hành vi cá
nhân nhưng các chuẩn mực mới chưa xuất hiện, cá nhân rơi vào trạng thái mất phương hướng,
chơi vơi.
Tự tử cuồng tín: đó là sự tự sát do niềm tin mù quáng chi phối, do bị kiểm soát, điều tiết quá gắt
gao, trừng phạt quá nặng nề về mặt giá trị, chuẩn mực.
Các kiểu tự tử khác nhau về mức độ, tính chất đoàn kết xã hội chứ không phải tách biệt hoàn
toàn, tuyệt đối. Về mặt phương pháp luận XHH, ông đã chứng minh rằng có thể giải thích hiện
tượng tự tử từ góc độ XHH chứ không phải là tâm lý học. Là một hiện tượng xã hội, tự tử liên
quan tới đoàn kết xã hội, phụ thuộc vào mối liên kết của cá nhân với nhóm, sự điều tiết kiểm
soát từ phía các hệ giá trị, chuẩn mực Xh đối với hành vi của các cá nhân chức không phải là
phụ thuộc vào tâm lý cá nhân.
e. Đoàn kết xã hội và tôn giáo:
Theo E.D, tôn giáo có nguyên nhân xã hội và có chức năng xã hội. Chức năng đích thực của tôn
giáo là gắn kết cá nhân và nhóm xã hội – đoàn kết cộng đồng, làm cho họ hoạt động một cách
tự tin và giúp cho họ sống theo quan niệm của họ.
Nhờ có tôn giáo với tư cách là một thể thống nhất bao gồm các niềm tin và các hành động nghi
lễ tạo thành một cộng đồng đạo đức riêng gọi là “nhà thờ”. Các cá nhân theo tôn giáo đó cảm
thấy có sức mạnh và tìm cách vượt qua những khó khăn của cuộc sống, cho dù nhiều khi cách
thức hành động của họ chỉ giới hạn trong phạm vi tinh thần, ý thức. Nhờ tôn giáo mà họ có đức
tin, có niềm tin vào một sức mạnh vô hình, siêu tự nhiên.
Về mặt lý luận XHH, đối với E.D tôn giáo nảy sinh dưới tác động của các yếu XH, các điều kiện
XH. Chức năng XH cơ bản của tôn giáo là tạo ra sự đoàn kết xã hội giữa cá nhân, củng cố niềm
tin và tăng cường gắn bó, quyết tâm của các cá nhân trong xã hội. Mọi tôn giáo xét cho đến
cùng cũng là sản phẩm của lịch sử xã hội, của mối tương tác và hoạt động cộng đồng.
Kết luận:
Với lý luận và phương pháp luận khoa học, khách quan, E.Durkheim đã xây dựng và phát triển
những quy tắc phương pháp xã hội và khái niệm cơ bản của XHH như sự kiện XH, đoàn kết xã
hội. Lý thuyết XHH của E.D làm sáng tỏ nhiều chủ đề quan trọng như chức năng Xh, cấu trúc xã
hội, phân loại xã hội bình thường và sai lệch xã hội, trật tự xã hội và biến đổi xã hội. Emeli
Durkheim đã có công lớn trong việc làm cho XHH trở thành một bộ môn khoa học độc lập, đồng
thời cũng mở đường cho một trào lưu tư tưởng mới. Ông đã khởi dầu một phương pháp nghiên
cứu mà người ta gọi là định lượng vì nó dựa trên những điều tra thống kê. Các kỹ thuật này ngày
nay vẫn còn nguyên giá trị, chúng thường đi đôi và bổ sung cho phương pháp định tính./.
3. Max Weber (1864 – 1920):


Câu hỏi:
a. Phân tích các tiền đề cho sự ra đời của xã hội học
b. Tại sao nói: “Xã hội học là con đẻ của cuộc cách mạng công nghiệp”?
c. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học là gì? Phân tích và cho ví dụ minh họa.




19
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------




VẤN ĐỀ 2

XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA




XÃ HỘI:
I.
Định nghĩa:
1.
Khái niệm xã hội, trong nghĩa rộng, không chỉ dành riêng cho con người mà nó còn chỉ mọi tổ
chức của các tổ chức sinh vật có tương quan lệ thuộc lẫn nhau. Cụ thể:
“ Một xã hội là một tập hợp những sinh vật được tổ chức, có phân công lao động, tồn tại qua
thời gian, sống trên một lãnh thổ, một địa bàn nhất định và cùnh chia sẻ những mục đích chung,
cùng nhau thực hiện những nhu cầu chủ yếu của đời sống như: nhu cầu tái sản xuất, nhu cầu
sản xuất của cải vật chất, nhu cầu an ninh, các nhu cầu tinh thần, ….”
Định nghĩa này phân biệt khái niệm xã hội và khái niệm dân số. Khái niệm dân số không hàm ý
một tổ chức xã hội, trong khi khái niệm xã hội nhấn mạnh những mối quan hệ tương hỗ giữa
các thành viên trong xã hội.
Định nghĩa này cũng không đồng nhất xã hội với quốc gia, mặc dù trong thế giới hiện nay, khái
niệm xã hội thường ám chỉ một quốc gia, một nhà nước nhưng không phải luôn luôn là như vậy
và trong nhiều trường hợp không có một sự đồng nhất giữa xã hội và nhà nước.
Các yếu tố cấu thành xã hội:
2.
Những thành tố cấu tạo xã hội tổng thể là những cơ cấu xã hội (social structure). Chúng là
những khuôn mẫu hành vi lập đi lập lại và tạo ra tương quan giữa những cá nhân, đoàn thể,
nhóm trong xã hội.
Đơn vị cơ bản nhất trong cơ cấu xã hội là vị trí xã hội (social status), đây là những thế đứng của
một cá nhân được xã hội thiết lập ra trong một nhóm xã hội nhất định. Cách một cá nhân phải
ứng xử như thế nào trong một vị trí xã hội nhất định được gọi là vai trò (role). Tuy nhiên, trong

20
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
cùng một vị trí xã hội, con người ứng xử rất khác nhau, tùy theo sự chờ đợi của xã hộik ở vai trò
cũng như tùy thuộc vào sự nhận thức của cá nhân.
Sự tập hợp một số vị trí và vai trò làm thành các nhóm. Nhóm (group) là những đơn vị cơ bản
của xã hội. Chúng là những tập hợp con người có hành động tương hỗ trên cở sở cùng thực
hiện những mục tiêu chung.
Định chế (institution) trong xã hội học được hiểu: đó là một kết cấu các vị trí và các vai trò có ít
nhiều tính cách ổn định nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người trong xã hội.
Ví dụ: Nhà nước là một định chế có chức năng bảo đảm an ninh, đem lại sự ổn định trong xã
hội; gia đình có chức năng tái sản xuất và huấn luyện các thành viên cho xã hội, …
Đặc trưng của xã hội loài người là sự phát triển không ngừng của các định chế nhằm đáp ứng
những nhu cầu mới phát sinh của con người. Đây là quá trình phân biệt hóa các định chế – là
một quá trình trong đó những hoạt động trước đây được thực hiện bởi một định chế thì nay
được phân ra cho các định chế khác.
II. VĂN HÓA:
Định nghĩa:
1.
Trong ngôn ngữ hàng ngày, thuật ngữ văn hóa mang nhiều ý nghĩa, nó có thể ám chỉ trình độ
giáo dục (tại Việt Nam hay quan niệm điều này), di sản tinh thần, một lối sống, phong tục tập
quán, …
Dưới góc độ Xã hội học, văn hóa là toàn bộ hữu cơ những hình thái tư tưởng, ứng xử và sản
xuất của một tổ chức, một xã hội, được truyền từ thế hệ này qua thể hệ khác bằng những
phương tiện tương tác truyền thông chứ không thông qua con đường di truyền sinh học.
Văn hóa bao gồm toàn thể những thành tựu của con người trong lĩng vực sản xuất, xã hội và
tinh thần. Các nhà xã hội học chú trọng đến những khía cạnh của văn hóa có thể giúp giải thích
được các lối ứng xử của con người và các tổ chức xã hội.
Phân loại:
2.
Một số nhà XHH phân ra trong nền văn hóa có hai bộ phận: Văn hóa vật thể (văn hóa vật chất)
và văn hóa phi vật thể (văn hóa tinh thần).
Văn hóa vật thể bao gồm: đồ đạc, dụng cụ, sản phẩm nghệ thuật, trang thiết bị, khí giới, xe cộ,
nhà cửa, quần áo, dụng cụ sản xuất, … Văn hóa phi vật thể thì khó định nghĩa hơn, nó bao gồm
những lĩnh vực văn hóa mà ta không sờ mó được như: các khuôn mẫu hành vi, các quy tắc, giá
trị, tập quán, … Văn hóa vật thể thường gắn chặt với giá trị tinh thần và là biểu hiện của giá trị
tinh thần. (Ví dụ: Trong xã hội Mỹ chiếc xe hơi là biểu hiện cho sự thành đạt của cá nhân, trong
lĩnh vực đi lại thì xe hơi cá nhân phát triển hơn các phương tiện giao thông công cộng – đó là vì
trong xã hội Mỹ đánh giá cao tinh thần tự lập và chủ nghĩa cá nhân.)
Các thành tố của văn hóa:
3.
a. Biểu tượng:
Biểu tượnhg ;à bất cứ vật gì mang một ý nghĩa riêng biệt mà các thành viên trong cùng một xã
hội đều nhận biết. Các yếu tố trong thế giới tự nhiên, âm thanh, hình ảnh, cử chỉ của con người
đều có thể dùng như là biểu tượng.
Biểu tượng thường gắn liền với cuộc sống nên thường chúng ta không ý thức được tầm quan
trọng của nó, chỉ khi nào tiếp xúc với một nền văn hóa khác, hay khi các biểu tượng được phối
hợp một cách không nhất quán thì chúng ta mới thấy tầm quan trọng, ý nghĩa thật sự của các
biểu tượng trong nền văn hóa.
Biểu tượng văn hóa thay đổi theo thời gian
21
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
b. Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là một hệ thống các biểu tượng mà ý nghĩa đã được chuẩn hóa, nhờ đó mà mọi người
trong một xã hội nhất định có thể truyền thông cho nhau. Xã hội nào cũng có ngôn ngữ viết và
ngôn ngữ nói, chỉ trừ một số ít xã hội là chỉ có ngôn ngữ nói.
Ngôn ngữ là công cụ chủ yếu để truyền đạt văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngôn ngữ
là đặc trưng của văn hóa nhưng đồng thời cũng tác động trở lại đối với văn hóa, mặt khác biến
chuyển xã hội và văn hóa cũng tác động lên ngôn ngữ.
c. Chuẩn mực:(Quy tắc đạo đức, tập tục)
Chuẩn mực là những quy tắc của ứng xử, nó quy định hành vi của con người là tốt hay xấu, là
thích hợp hay không thích hợp. Mỗi nền văn hóa đều có các hệ thống chuẩn mực, chúng tạo
thành hệ thống kiểm soát của xã hội và điều tiết các hành vi, các ứng xử của cá nhân trong nền
văn hóa.
Các chuẩn mực không bao giờ có tính tuyệt đối, chúng thay đổi tùy nền văn hóa, tùy hoàn cảnh
và cũng thay đổi theo thời gian.
Để thúc đẩy cá nhân và đoàn thể làm theo chuẩn mực đã đề ra, mọi nền văn hóa đều quy định
những chế tài. Đó là những hành vi thưởng phạt tùy theo việc tuân thủ hay vi phạm các chuẩn
mực. Quy tắc đạo lý là những chuẩn mực có mức độ chề tài mạnh nhất, bởi lẽ chúng được đánh
giá trongn mối liên quan sống còn của xã hội và mang ý nghĩa đạo đức cao nhất. Tập quán có
mức độ chế tài nhẹ hơn. Luật pháp thường chính thức hóa các nguyên tắc đạo lý của một xã
hội. Nhưng sự chế tài và quan niệm về quy tắc đạo lý cũng thay đổi theo thời gian.
d. Giá trị:
Giá trị là những tiêu chuẩn, những tư tưởng đề cao và biện minh cho các chuẩn mực, trên cơ sở
đó các thành viên của một nền văn hóa xác định cái gì là đúng, là tốt đẹp, cái gì là cần thiết hay
không cần thiết. Các giá trị sẽ chi phối các quan niệm về vũ trụ, nhân sinh quan của cá nhân.
Chúng ta học được các giá trị thông qua quá trình xã hội hóa trong gia đình, học đường, tôn
giáo. Tuy nhiên giá trị cũng có thể thay đổi theo thời gian.
Thái độ đối với các nền văn hóa:
4.
Thông thường vì hầu hết mọi người chỉ sống trong một nền văn hóa nên có xu hướng đánh giá
những lối ứng xử của các dân tộc, các xã hội khác theo quan điểm văn hóa của riêng mình.
Thái độ vị chủng:
Đây là xu hướng phán đoán các nền văn hóa khác là thấp kém theo những chuẩn mực, những
giá trị của nền văn hóa của riêng mình. Khái niệm này cũng nhaắc nhở chúng ta rằng có nhiều
lúc chúng ta phê phán cái hay cái dở, cái đúng cái sai trên cơ sở quen lạ hơn là trên giá trị khách
quan của sự kiện. Thái độ này còn thường thấy xuất hiện trong rất nhiều hiện tượng khác nhau
trong cuộc sống hằng ngày, phản ứng thông thường đầu tiên là không chấp nhận cái gì khác lạ
với ta.
Thái độ tương đối văn hóa:
Đây là xu hướng chấp nhận rằng mọi nền văn hóa phát triển theo phương cách riêng của chúng,
bằng cách thích ứng với các đòi hỏi đặc biệt của môi trường trong đo chúng hình thành.
Tiếp xúc văn hóa và chuyển biến văn hóa:
5.
Có ba khả năng có thể xảy ra khi các nền văn hóa tiếp xúc, va chạm nhau.
Giao lưu văn hóa:


22
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Quá trình giao lưu văn hóa là quá trình dân cư của một nền văn hóa chấp nhận và hội nhập
những chuẩn mực, giá trị, những nét văn hóa vật chất của những nền văn hóa khác vào nền văn
hóa của chính mình. Quá trình này có được thông qua sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa, thông
qua sự vay mượn hay bắt chước những nét văn hóa. Quá trình giao lưu không phải là một chiều
mà có sự trao đổi qua lại (Ví dụ: Văn hóa của người Chăm và người Việt)
Đồng hóa văn hóa, phân lớp văn hóa và văn hóa phản kháng:
Thích nghi văn hóa và kháng cự văn hóa




VẤN ĐỀ 3

QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA

Mở bài:
K. Marx đã nói: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của tất cả những quan hệ xã
hội”
Nội dung chính:
I. Quá trình xã hội hóa:
1. Khái niệm:
- Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Xã hội hóa là một quá trình kéo dài suốt đời qua đó cá
nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình” Nói một cách khác
đó chính là quá trình con người tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội
như là một thành viên.

 Đây không phải là khái niệm xã hội hóa mà những năm gần đây ở Việt Nam thường được
dùng để chỉ sự quan tâm cũng như đóng góp của toàn xã hội như: xã hội hóa giáo dục, xã hội
hóa y tế, …
- Khái niệm xã hội hóa (socialization) đã được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những
phương cách mà con người học hỏi tuân thủ theo các chuẩn mực, các giá trị, các vai trò mà xã
hội đã đề ra.
Vai trò của xã hội hóa


23
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 Chính quá trình này tạo cơ sở cho việc hình thành nhân cách của con người
Nhân cách là một hệ thống có tổ chức, là toàn bộ suy nghĩ, cảm nghĩ, ứng xử của con người,
được hình thành trên nền tảng những giá trị và những chuẩn mực nhất định.

 Nhân cách bao gồm những suy nghĩ về thế giới xung quanh ta, về chính chúng ta, những điều
chúng ta cảm nhận, phản ứng trước các tình huống, phản ứng đối với người khác, và những
hành vi ứng xử của chúng ta trong đời sống hàng ngày.

 Xã hội hóa không chỉ quan trọng đối với đời sống cá nhân mà nó còn giúp cho xã hội phát
triển được liên tục, có lịch sử, có hiện tại và có tương lai. Kinh nghiệm xã hội luôn tồn tại trong
xã hội, mọi xã hội đều dạy cho các thành viên mới về nó và quá trình diễn ra liên tục từ thế hệ
này sang thế hệ khác, vượt qua đời sống của một cá nhân.
2. Các giai đoạn và môi trường của
quá trình xã hội hóa:
Các giai đoạn của quá trình xã hội hóa:
Quá trình xã hội hóa trong suốt cuộc đời của con người, nhưng chúng ta có thể phân ra thành ba
giai đoạn:
- Xã hội hóa lần thứ nhất: diễn ra trong gia đình từ đứa bé sơ sinh được dạy dỗ để trở thành một
con người xã hội.
- Xã hội hóa lần thứ hai khi đứa trẻ rời gia đình để đi học, chịu sự tác động của học đường và
nhóm bạn thân cùng tuổi.
- Xã hội hóa lần thứ ba khi thành niên, là quá trình qua đó cá nhân học hỏi những chuẩn mực
liên quan đến những vị trí xã hội mới, như vị trí của người chồng, người vợ, của nhà chính trị,
nhà báo, …

 Trong các xã hội truyền thống, quá trình xã hội hóa chủ yếu xảy ra trong gia đình, do đó tạo
nên những nhân cách thuần nhất, nhưng trong xã hội hiện đại nhiều nhân tố đóng góp vào quá
trình xã hội hóa của cá nhân.
Các môi trường của quá trình xã hội hóa:
Gia đình:
- Giai đình là bối cảnh xã hội quan trọng nhất, qua đó diễn ra quá trình xã hội hóa của cá nhân.
- Gia đình chính là cái xã hội thu nhỏ mà lần đầu tiên cá nhân được tiếp xúc, là nhóm sơ cấp
đầu tiên góp phần hình thành nhân cách của cá nhân. Thông qua gia đình, cá nhân học hỏi các
chuẩn mực, các giá trị mà xã hội đề cao.
- Gia đình giúp cá nhân hình thành:
+ Nhận thức về chính mình
+ Thái độ, sở thích
+ Niềm tin, mục đích của cuộc sống
+ Tôn giáo, tín niệm
+ Học hỏi vai trò về giới tính
+ Sở đắc những vị trí, vai trò xã hội do gia đình để lại: giai cấp, tầng lớp xã hội, chủng tộc,
tôn giáo, …

24
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
- Gia đình là nơi đầu tiên truyền cho cá nhân những ý niệm về giới tính, trên lĩnh vực này, phần
lớn những gì chúng ta xem là bẩm sinh ở bản thân của cá nhân thực ra đều là sản phẩm của
văn hóa, kết hợp vào nhân cách của chúng ta thông qua xã hội hóa. Cũng chính tại gia đình,
trong hầu hết các nền văn hóa, trẻ được dạy rằng con trai cần phải mạnh mẽ, dũng cảm, …,
con gái cần phải dịu dàng, … Xã hội hóa giới tính luôn là một trong những chức năng quan trọng
nhất của gia đình.
- Không phải tất cả những gì trẻ nhận được từ gia đình cũng do sự truyền thụ có chủ ý của cha
mẹ mà chính bầu không khí trong gia đình, chính môi trường sống của gia đình đã để lại những
dấu ấn sâu sắc lên nhân cách của trẻ, tác động đến cái nhìn về chính mình, về thế giới xung
quanh của trẻ em.
Giáo dục ở nhà trường:
- Nhà trường là nơi cá nhân được tiếp xúc với tính đa dạng xã hội, tương tác với những thành
viên không phải trong gia đình, được dạy dỗ nhiều điều mới lạ.
- Nhà trường không chỉ dạy cho trẻ những kiến thức, kỹ năng để sau này đảm trách các vai trò
trong xã hội mà còn truyền đạt những giá trị của xã hội, đề cao lối sống chủ đạo của xã hội.
(Không chỉ là đạo đức lối sống mà còn phải dạy cả đạo đức nghề nghiệp)
- Tính đa dạng xã hội ở nhà trường thường tạo ra nhận thức rõ ràng hơn về vị trí của mình trong
cấu trúc xã hội đã hình thành trong quá trình xã hội hóa ở gia đình.
- Thông qua việc dạy học và giáo dục nhân cách, nhà trường củng cố những quan niệm về giới
tính. (Ví dụ: những hình ảnh thường thấy trong sách giáo khoa: nam làm bác sĩ, kỹ sư, bộ đội,
công an; nữ thường làm y tá, giáo viên, …)
Bạn bè:
- Trong môi trường xã hội hiện nay, nhóm bạn bè của trẻ rất đa dạng, phong phú: bạn cùng
xóm, bạn học (ở trường, ở các lớp học thêm, ở trung tâm ngoại ngữ tin học, …), bạn qua
internet, bạn qua các phương tiện khác.
- Nhóm bạn thân cùng tuổi là một môi trường xã hội đặc biệt của trẻ vì chỉ ở môi trường này trẻ
mới được độc lập, thoát khỏi sự kiểm soát và áp đặt của người lớn, do đó trẻ thường chia sẻ
những điều mà các em không muốn chia sẻ với người lớn như: model quần áo, sở thích về âm
nhạc, giải trí, những tò mò về giới tính, về tình dục, …
- Do sự biến đổi nhanh của xã hội nên những mối quan tâm của cha mẹ và con cái rất khác
nhau, người ta đã nói đến khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng xa khiến trẻ và cha mẹ khó
gặp nhau.
- Ngày nay, áp lực của nhóm bạn thân cùng tuổi rất mạnh, trẻ thường phải tuân thủ theo các
chuẩn mực của nhóm để được chấp nhận.
- Tuy nhiên, nhóm bạn thân cùng tuổi thường chỉ có ảnh hưởng lên những nguyện vọng trước
mắt và ngắn hạn của thanh thiếu niên, trong khi gia đình vẫn còn có ảnh hưởng lên các nguyện
vọng, ước mơ về lâu dài của lớp trẻ.
Phương tiện truyền thông đại chúng:
- Các phương tiện truyền thông đại chúng như: vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, Internet,
báo chí, … Ngày nay, các phương tiện truyền thông đại chúng có ảnh hưởng rất lớn đến cách
ứng xử của thanh thiếu niên, nhất là vô tuyến truyền hình.
- Các phương tiện truyền thông đại chúng đem lại rất nhiều lợi ích trong việc giải trí, giáo dục,
nó đem đến nhiều kiến thức về các nền văn hóa, về các dân tộc, gia tăng sự quan tâm của con
người đến những vấn đề xã hội trên thế giới. (Ví dụ: chương trình Dư địa chí, Việt Nam đất
nước con người, phim tài liệu, ký sự, phim ảnh, …)
25
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
- Ngược lại, các phương tiện truyền thông đại chúng cũng có những hạn chế như: có quá nhiều
hình ảnh bạo lực, chiến tranh, tình dục, … (Ví dụ: những cảnh bạo lực, chiến tranh, những cảnh
nóng bỏng trong quan hệ nam nữ, … xuất hiện với tần suất rất cao, những trang web đồi trụy,
game online, …)
Những tác nhân khác:
- Chỗ làm việc là một tác nhân quan trọng vì nếu đang trong độ tuổi lao động và không thất
nghiệp thì thời gian ở chỗ làm việc chiếm một phần lớn. Với những kiến thức, kỹ năng đã thu
nhận được, ở chỗ làm việc, con người tiếp tục được xã hội hóa thành nghề nghiệp và ứng xử
phù hợp với nghề nghiệp đó. Dấu ấn của nghề nghiệp trong xã hội hóa có thể thấy rõ qua bệnh
nghề nghiệp.
- Những đoàn thể chính trị – xã hội khác mà cá nhân tham gia cũng là những nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình xã hội hóa
Kết luận:
Xã hội hóa là một quá trình phức tạp, nó là quá trình tương tác giữa các yếu tố xã hội và cá
nhân. Càng hiểu rõ cơ chế vận hành của xã hội hóa, con người càng có nhiều tự do hơn trong
ứng xử của mình.
Câu hỏi
1. Sự phát triển nhân cách trong xã hội truyền thống và trong xã hội hiện đại có khác nhau
không? Tại sao?
2. Nếu nền văn hóa đều tác động lên nhân cách của các cá nhân trong cùng một xã hội, làm thế
nào để giải thích sự khác biệt giữa các nhân cách?
3. Phân tích của trò chơi trong quá trình xã hội hóa đối với trẻ em?
4. Thế nào là quá trình xã hội hóa? Quá trình xã hội hóa đã hình thành như thế nào và ảnh
hưởng ra sao trong việcc hình thành nhân cách của cá nhân? Theo các anh (chị) quá trình xã hội
hóa hình thành nhân cách của người Việt Nam có những điểm tíc cực và tiêu cực gì?
5. Bình luận câu nói: “ Cái tôi là sản phẩm của xã hội”




26
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt
Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------




VẤN ĐỀ 4

PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ DI ĐỘNG XÃ HỘI




27
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản