Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán

Chia sẻ: Pham Nguyen Bao | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

0
2.228
lượt xem
1.017
download

Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mức tỷ giá hiện nay có phù hợp đối với nền kinh tế Việt Nam hay chưa? Đặc biệt từ khi cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu xảy ra, tỷ giá hối đoái đã tác động như thế nào đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam? Mục tiêu nào mà chính sách tỷ giá cần phải đạt được: đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa hay cung cấp một môi trường ổn định để phát triển?

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán

  1. MỤC LỤC DANH SÁCH NHÓM............................................................................................................32 Mở đầu Mức tỷ giá hiện nay có phù hợp đối với nền kinh tế Việt Nam hay chưa? Đặc biệt từ khi cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu xảy ra, tỷ giá hối đoái đã tác động như thế nào đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam? Mục tiêu nào mà chính sách tỷ giá cần phải đạt được: đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa hay cung cấp một môi trường ổn định để phát triển? Xung quanh các vấn đề trên có nhiều quan điểm rất khác nhau. Ngoài ra, cách thức mà ngân hàng nhà nước (NHNN) can thiệp vào quá trình hình thành và vận động của tỷ giá cũng là một đề tài gây tranh cãi. Có ý kiến cho rằng NHNN cần phải phá giá mạnh tiền đồng so với mức tỷ giá hiện tại để nâng cao khả năng cạnh của hàng hóa xuất khẩu và đề xuất thả nổi hoàn toàn tỷ giá để thị trường tự định đoạt mức tỷ giá phù hợp. Tuy nhiên cũng có ý kiến ngược lại, đó là chính sách tỷ giá cần phải ổn định (tức tỷ giá sẽ cố định hơn) để ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát. Điển hình là trong năm 2009. Có thể nói năm 2009 là một năm “tiền tệ” tại Việt Nam. Với sự gia tăng mạnh mẽ của tỷ giá hối đoái chủ yếu là tỷ giá VND/USD, giá trị nhập siêu tăng mạnh so với các năm trước, lạm phát có nguy cơ “phi mã” trở lại trong năm 2010, giá vàng tăng lên chóng mặt cùng với đó là sàn vàng mọc lên như nấm, giới đầu cơ liên tục làm giá. Bên cạnh đó, hiện tượng đô la hóa tăng cao dẫn đến sự khan hiếm đô la cục bộ, cán cân thanh toán bị thâm hụt nặng nề làm lãi suất ngân hàng tăng kịch trần… Để đánh giá mức độ phù hợp đối với nền kinh tế của mức tỷ giá hiện nay cần phải có một cơ sở khoa học để so sánh nó. Theo đó, NHNN nên xác định mức tỷ giá mục tiêu cho nền kinh tế. Ở mức tỷ giá này có thể giải quyết một số vấn đề như khả năng cạnh tranh của hàng hóa hay ổn định môi trường vĩ mô hay một số mục tiêu khác của chính phủ. Tỷ giá thực, nhất là tỷ giá thực đa phương do được điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát của Việt Nam với các đối tác nên nó có thể là 1
  2. một mức tỷ giá mục tiêu thích hợp để NHNN tiến hành đánh giá mức độ phù hợp của mức tỷ giá hiện tại phục vụ cho một vài mục tiêu đã nói ở trên, nhất là mục tiêu đảm bảo khả năng cạnh tranh cho hàng hóa. Trong phạm vi của bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến những tác động đến cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam năm 2008 – 2009 của tỷ giá hối đoái. Diễn biến của tỷ giá và thực trạng của cán cân thanh toán trong năm 2008 – 2009? Nguyên nhân nào tạo những hiện tượng trên? Đâu là giải pháp mà NHNN nên áp dụng để giảm thiểu tình trạng trên và để đạt được mục tiêu kinh tế được đề ra. Chương I: Các lý thuyết về tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tê tại Việt Nam I.1 Tỷ giá hối đoái I.1.1 Khái niệm: Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá hối đoái, do cách tiếp cận vấn đề khác nhau, đôi khi do cách diễn đạt khác nhau. Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng tiền của một nước có thể biểu hiện qua đồng tiền của nước khác. Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện quan hệ cung cầu ngoại hối. Ngoài ra Tỷ giá hối đoái còn được hiểu là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo đồng tiền trong nước. Ví dụ: USD/VND hay EUR/VND. Đây chính là giá cả của ngoại tệ trên thị trường và được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ. Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế vĩ mô, TGHĐ có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanh toán quốc tế, lên giá cả hàng hoá trong nước và lưu thông tiền tệ... Ví dụ: Tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 17/4/2010 là : 1 USD = 18554 VND ký hiệu đơn vị tiền tệ: Dollar Mỹ: USD Dollar Úc: AUS Bảng Anh: GBP Đồng Việt Nam: VND Dollar Hongkong: HKD 2
  3. => Bản chất của tỷ giá hối đoái là một loại giá cả nhưng là giá cả của hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ. Nhìn chung, TGHĐ được chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ vào mục đích xem xét, đánh giá mà người ta quyết định sử dụng loại tỷ giá nào. I.1.2 Tỷ giá danh nghĩa: Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Hay nó còn được hiểu đơn giản là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo đồng tiền trong nước và chưa tính đến tương quan sức mua của đồng tiền • Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương là giá cả của một đồng tiền so với một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước. • Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER-Nominal Efective Exchange rate) NEER không phải là tỷ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng. Tỷ trọng của tỷ giá song phương có thể lấy tỷ trọng thương mại của nước có đồng nội tệ đem tính NEER so các nước có đồng tiền trong rổ được chọn. I.1.3 Tỷ giá thực: Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước. Khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế. Như vậy, tỷ giá hối đoái thực là một phạm trù kinh tế đặc thù và việc phân tích tỷ giá hối đoái thực sẽ là một vấn đề cần được quan tâm. Tỷ giá này tăng lên đồng tiền trong nước được coi là bị giảm giá thực so với đồng tiền nước ngoài và khi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trong nước được coi là bị tăng giá thực so với đồng tiền nước ngoài Er = En x Pb/Pf với En: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Er:Tỷ giá hối đoái thực. Pb: Giá cả ở nước có đồng tiền yết giá Pf: Giá cả ở nước có đồng tiền định giá. Trong đó: ° E: Tỷ giá danh nghĩa tính bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ. ° Ph: Mức giá trong nước. ° Pf: Mức giá nước ngoài. Trong công thức trên, tử số là giá cả hàng hóa được quy về đồng nội tệ và đem chia cho mẩu số là giá hàng hóa trong nước (cũng được tính bằng nội tệ). Vì thế tỷ giá thực là một chỉ số so sánh mức giá nước ngoài so với mức giá trong nước. - Nếu Er = 1, ta nói rằng đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ có ngang giá sức mua. 3
  4. - Nếu Er >1, đồng nội tệ được định giá thấp. Khi đồng nội tệ định giá thấp, về lý thuyết sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. - Nếu Er <1, đồng nội tệ được định giá cao, giá hàng hóa trong nước sẽ cao hơn giá hàng hóa ở nước ngoài. Do đó, ngược lại với trường hợp trên, đồng nội tệ định giá cao sẽ hạn chế xuất khẩu và tăng nhập khẩu. + Tỷ giá thực song phương ở trạng thái động Hiện nay không có quốc gia nào công bố giá của một rổ hàng hóa, cho nên tỷ giá thực ở trạng thái tĩnh chỉ mang ý nghĩa lý thuyết. Vì vậy, người ta sử dụng tỷ giá ở trạng thái động để tính toán sự vận động của tỷ giá thực từ thời kỳ này sang thời kỳ khác thông qua việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa với chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia có đồng tiền đem so sánh. CPI 0ft Et0r = Et 100% Trong đó: CPI 0ht - Et0 = Et/E0 là chỉ số tỷ giá danh nghĩa thời điểm t so với thời điểm 0. t0r - E = Ert/ Er0 là chỉ số tỷ giá thực thời điểm t so với thời điểm 0. - CPI0ft là chỉ số giá ở nước ngoài thời điểm t. - CPI0ht là chỉ số giá ở trong nước thời điểm t. + Tỷ giá thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER) Tỷ giá thực song phương chỉ cho chúng ta biết được sự lên giá hay xuống giá của đồng nội tệ so với một đồng ngoại tệ. Ngày nay, quan hệ thương mại là đa phương, một nước có quan hệ buôn bán với rất nhiều nước trên thế giới. Vấn đề được đặt ra là tại một thời điểm nhất định làm sao có thể biết được đồng nội tệ lên giá hay giảm giá so với các đồng tiền của các quốc gia khác có quan hệ mậu dịch, hay nói cách khác là làm sao để có thể biết được tương quan sức mua hàng hóa của đồng nội tệ với các đồng ngoại tệ để làm cơ sở đánh giá tác động của tỷ giá đối với cán cân thương mại của quốc gia? Để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh của hàng hóa trong nước với các đối tác thương mại khác người ta dùng tỷ giá thực đa phương (tỷ giá trung bình). Tỷ giá thực đa phương là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp. Chỉ số này rất hữu ích cho việc đạt được mục tiêu thích hợp trong cơ chế tỷ giá hỗn hợp giữa linh hoạt và cố định. Vì vậy, nó được nhìn nhận như là dữ liệu cơ bản cho quá trình thực thi chính sách. Tỷ giá thực đa phương được tính toán để định ra giá trị thực của đồng nội tệ so với các ngoại tệ (rổ ngoại tệ). Bằng cách điều chỉnh tỷ giá theo chênh lệch lạm phát quốc nội so với lạm phát các đối tác tác thương mại, ta sẽ có tỷ giá thực song 4
  5. phương với từng đồng ngoại tệ. Sau đó xác định quyền số (mức độ ảnh hưởng đối với tỷ giá thực thông qua tỷ trọng thương mại của từng đối tác với quốc gia có đồng tiền tính REER). I.2. Cơ chế tỷ giá: I.2.1 Khái niệm: Cơ chế tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình liên quan đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối. Cơ chế tỷ giá hối đoái: là tất cả những quy định pháp luật do chính phủ và ngân hàng trung ương quy định để điều tiết, quản lý thị trường ngoại hối. I.2.2 Phân loại cơ chế tỷ giá: • Tỷ giá hối đoái cố định là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ tiền tệ, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Trong cơ chế tỷ giá hối đoái cố định, chính phủ, bằng các chính sách tài chính tiền tệ sẽ cố gắng neo tỷ giá lại ở một giá trị nhất định nhằm ổn định thị trường tránh những biến động bất ngờ gây khó khăn cho nền kinh tế hay để hỗ trợ cho một quan điểm phát triển nào đó chẳng hạn định giá thấp nội tệ để hỗ trợ cho chính sách phát triển hướng về xuất khẩu. Khi cầu ngoại tệ tăng từ D đến D’ tạo áp lực làm tỷ giá hối đoái tăng từ e 0 đến e1, ngân hàng trung ương sẽ bán ra ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối làm tăng cung ngoại tệ từ S đến S’ và tỷ giá được kéo giảm trở lại tại điểm e’, mức cung sẽ dừng lại khi ngân hàng trung ương (NHTW) đạt được mục tiêu đã định. Các mục tiêu của ngân hàng trung ương có thể là cố định tỷ giá (kéo tỷ giá về sát e0), phá giá đồng nội tệ (NHTW mua vào ngoại tệ tăng cung đồng nội tệ, đây là chính sách đẩy đường cung ngoại tệ S sang trái) và ngược lại là chính sách nâng giá đồng nội tệ. Hình 1.1 Can thiệp của ngân hàng trung ương nhằm kéo giảm tỷ giá (nâng đỡ đồng nội tệ) khi cầu ngoại tệ tăng. Tỷ giá S S’ 1 e e’ e0 D’ D Lượng ngoại tệ tăng 5
  6. Theo hình 1.1, khi cầu ngoại tệ tăng từ D sang D’ tạo áp lực tăng tỷ giá lên e1, chính phủ sẽ sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối, bán ra ngoại tệ để thu lại đồng nội tệ, đồng nội tệ tăng giá tỷ giá giảm lại (cân bằng tại e’). Cơ chế này đòi hỏi dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương phải đủ mạnh để có thể can thiệp hiệu quả khi có sự biến động tỷ giá. Một số ý kiến của các chuyên gia cho rằng tỷ giá hối đoái cố định quá cứng nhắc, đồng tiền không thể hiện giá trị thị trường thực và làm méo mó các tín hiệu và thông tin để thị trường điều chỉnh đúng hướng. Cơ chế này không khuyến khích doanh nghiệp tự bảo vệ mình trước những rủi ro độ nhạy cảm giao địch đối với tỷ giá do không có bất ổn tỷ giá, từ đó làm trì trệ sự phát triển và hoàn thiện của thị trường các sản phẩm phòng ngừa rủi ro biến động giá trị tiền tệ. Tỷ giá hối đoái cố định sẽ làm lây nhiễm lạm phát và thất nghiệp từ quốc gia này sang các quốc gia khác. Khi tỷ giá cố định, do lạm phát tăng cao đồng nội tệ bị định giá cao làm giá hàng hóa trong nước tăng nên quốc gia có lạm phát cao hơn sẽ có xu hướng nhập khẩu hàng hóa; ngược lại, quốc gia có lạm phát thấp sẽ giảm bớt nhập khẩu từ quốc gia lạm phát cao. Theo lý thuyết cung cầu, cầu hàng hóa ở quốc gia lạm phát thấp (đồng nội tệ bị định giá thấp) sẽ tăng vượt khả năng cung hàng hóa làm giá cả hàng hóa của quốc gia này tăng kéo lạm phát tăng lên. Hay nói cách khác, nước có lạm phát cao đã lây nhiễm sang nước có lạm phát thấp làm tăng lạm phát ở nước này. Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định khá tốn nhiềm tiềm lực của chính phủ (phải có đủ dự trự ngoại hối đủ mạnh để can thiệp vào thị trường khi cần thiết), cơ chế này làm cho chính sách tiền tệ mất hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý. • Cơ chế tỷ giá thả nổi hay còn gọi là cơ chế tỷ giá linh hoạt là một cơ chế trong đó tỷ giá do các lực thị trường quyết định mà không có sự can thiệp của chính phủ. Theo cơ chế này các doanh nghiệp phải dành thời gian và tiềm lực để quản lý rủi ro do giao động tỷ giá. Trong cơ chế tỷ giá thả nổi giá, tỷ giá tự do thay đổi theo cung cầu ngoại tệ, chính phủ không can thiệp vào thị trường ngoại hối. Trong cơ chế này, khi tỷ giá hối đoái tăng thì đồng nội tệ giảm giá và ngược lại. Đồng tiền của quốc gia có lạm phát thấp sẽ tăng giá và ngược lại, đồng tiền của nước có lạm phát cao hơn sẽ giảm giá. Điều này đã làm cho cán cân thương mại giữa hai quốc gia cân bằng trở lại và đảm bảo có ngang giá sức mua giữa các quốc gia có tham gia thương mại quốc tế. • Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết là một cơ chế tỷ giá hối đoái hỗn hợp giữa thả nổi và cố định. Trong thực tế rất ít quốc gia thả nổi hoàn toàn đồng tiền của mình do quá bất ổn. Trong cơ chế thả nổi có quản lý, ngân hàng trung ương (NHTW) sẽ công bố một mức tỷ giá nào đó và thường xuyên điều chỉnh theo những thay đổi trong cán cân 6
  7. thanh toán, dự trữ ngoại hối quốc gia, sự phát triển của thị trường ngoại hối không chính thức. Ngoài ra, tỷ giá cũng sẽ được điều chỉnh theo quan điểm của NHTW nhằm phục vụ cho các mục tiêu đã được định trước, ví dụ như mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu hay mục tiêu ổn định giá cả và lạm phát… Trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có kiểm soát, tỷ giá được điều tiết theo quan hệ cung cầu ngoại tệ nhưng nếu tăng vượt mức giới hạn cho phép, có khả năng ảnh hưởng xấu đến các hoạt động kinh tế, chính phủ sẽ dùng dự trữ ngoại hối và các chính sách kinh tế khác để can thiệp. I.3 Cán cân thanh toán quốc tế (BOP): I.3.1 Khái niệm: Cán cân thanh toán quốc tế (balance of payment) được hiểu là bảng kế toán tổng hợp các luồng vận động về hàng hoá dịch vụ , tư bản… của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong từng thời kỳ nhất định. Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có. Vậy, cán cân thanh toán quốc tế là một bản đối chiếu giữa các khoán tiền thu được từ nước ngoài với các khoản tiền trả cho nước ngoài của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Theo Nghị định số 164/1999/NĐ-CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam được quy định là bảng tổng hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa Người cư trú và Người không cư trú trong một thời kỳ nhất định. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao là cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì lập, theo dõi và phân tích cán cân thanh toán. * Một số qui định chung: + Các cơ quan và những người làm việc tại các cơ quan đại diện cho Chính phủ các quốc gia (đại sứ quán, tổng lãnh sự quán,…), cho các tổ chức quốc tế (IMF, WB, UN, WTO…) đều được coi là “người không cư trú”. + Các công ty xuyên quốc gia có chi nhánh ở nhiều nước khác nhau, thì chỉ những chi nhánh ở nước sở tại mới được coi là “người cư trú”. + Công dân của quốc gia này đến quốc gia khác học tập, du học, chữa bệnh không kể thời gian dài hay ngắn đều được coi là “người không cư trú”. I.3.2 Vai trò của cán cân thanh toán quốc tế: Thực chất của cán cân thanh toán quốc tế là một tài liệu thống kê, có mục đích cung cấp sự kê khai đầy đủ dưới hình thức phù hợp với yêu cầu phân tích những quan hệ kinh tế tài chính của một nước với nước ngoài trong một thời gian xác định. Do đó, CCTTQT là một trong những công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô. Thông qua, cán cân thanh toán trong một thời kỳ, Chính phủ của mỗi quốc 7
  8. gia có thể đối chiếu giữa những khoản tiền thực tế thu được từ nước ngoài với những khoản tiền mà thực tế nước đó chi ra cho nước ngoài trong một thời kỳ nhất định. Từ đó, đưa ra các quyết sách về điều hành kinh tế vĩ mô như chính sách tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách tiền tệ quốc gia... Ngoài ra, CCTT là công cụ đánh giá tiềm năng kinh tế của một quốc gia, giúp các nhà hoạch định kinh tế có định hướng đúng đắn. Cán cân thanh toán bộc lộ rõ ràng khả năng bền vững, điểm mạnh và khả năng về tình hình kinh tế-xã hội bằng việc đo lường chính xác kết quả xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của đất nước đó, dự trữ ngoại tệ cũng như cho biết quốc gia đó là con nợ hoặc chủ nợ so với phần còn lại của thế giới CCTT còn được sử dụng như một chỉ số về kinh tế và tính ổn định chính trị. Ví dụ, nếu một nước có thặng dư cán cân thanh toán có nghĩa là có nhiều đầu tư từ nước ngoài đáng kể vào nước đó hoặc cũng có thể là nước đấy không xuất khẩu nhiều tiền tệ ra nước ngoài dẫn đến sự tăng giá của giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ. Mặc khác, nó còn phản ánh độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới và địa vị tài chính của quốc gia đó trên thương trường quốc tế I.3.3 Kết cấu (các khoản mục) trong cán cân thanh toán quốc tế: + Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế: Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau:  Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản.  Tài khoản vốn : Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài sản tài chính.  Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước.  Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên.  Mục sai số: Do ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi trong cán cân thanh toán như là mục sai số. + Các bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế:  Cán cân vãng lai (current balance)  Cán cân vốn (capital balance)  Cán cân bù đắp chính thức (official finacing balance)  Cán cân cơ bản (basic balance)  Cán cân tổng thể (overall balance) I.3.3.1 Cán cân vãng lai: Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và các khoản thu khác giữa người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn tới 8
  9. sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ). Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ. Cán cân vãng lai được chia ra: a) Cán cân thương mại hàng hóa Cán cân thương mại là một thành phần chủ yếu trong cán cân vãng lai (bao gồm cán cân thương mại, cán cân dịch vụ và chuyển nhượng đơn phương). Cán cân thương mại ghi lại các hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Khi xuất khẩu ghi dấu +, khi nhập khẩu ghi dấu - Chênh lệnh giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa gọi là giá trị xuất khẩu ròng. Xuất khẩu ròng còn thể hiện chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước. Cán cân thương mại thặng dư khi xuất khẩu ròng mang dấu dương, thể hiện giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu, ngược lại là thâm hụt thương mại. Ta có: TB = X - M Trong đó: TB là cán cân thương mại. X là giá trị xuất khẩu. M là giá trị nhập khẩu. Cán cân thương mại thăng dư khi (X - M) > 0; ngược lại, cán cân thương mại thâm hụt khi (X - M) < 0. Vì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai và xuất khẩu ròng bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này. Vì vậy, sự thặng dư hay thâm hụt tài khoản vãng lai có quan hệ chặt chẽ với thâm hụt hay thặng dư cán cân thương mại. Tài khoản vãng lai thặng dư khi xuất khẩu ròng, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Khi mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn một quốc gia sẽ phải tìm nguồn tài trợ cho mức thâm hụt này, có thể là vay mượn nước ngoài để bù đắp làm tăng thêm số nợ ròng nước ngoài. Hoặc quốc gia cũng có thể bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai bằng cách sử dụng của cải nước ngoài đã được tích lũy từ các năm trước. Một nước có tài khoản vãng lai thâm hụt là nước nhập khẩu tiêu dùng hiện tại và phải xuất khẩu tiêu dùng trong tương lai (nước đi vay sẽ phải trả nợ); ngược lại quốc gia có thặng dư tài khoản vãng lai là nước xuất khẩu tiêu dùng hiện tại và nhập khẩu tiêu dùng trong tương lai (vị thế nước cho vay sẽ thu hồi nợ sau) 9
  10. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hơn 5% GDP, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành mạnh. + Các nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại: - Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân (GDP) Thu nhập thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) tăng làm gia tăng mức tiêu thụ hàng hóa. Một sự gia tăng trong chi tiêu hầu như phản ánh một mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài. Vì vậy, GDP tăng đã làm nhập khẩu có xu hướng tăng. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP tăng thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. - Ảnh hưỏng của tỷ giá hối đoái Nếu các yếu tố không đổi, một sự gia tăng trong giá trị đồng nội tệ có thể làm cán cân thương mại xấu đi. Đồng nội tệ tăng giá làm giá hàng hóa trong nước trở nên đắt tương đối so với hàng nước ngoài, điều này gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Đồng nội tệ mất giá (đồng nội tệ được định giá thấp) có thể giúp cải thiện cán cân thương mại. Đứng trên khía cạnh của nhà xuất khẩu, đồng nội tệ giảm giá làm hàng nội rẻ tương đối so với hàng ngoại. Ngược lại, đối với nhà nhập khẩu, nội tệ giảm giá làm giá cả hàng hóa nhập khẩu đắt tương đối so với hàng nội. Điều này gây khó khăn cho hàng hoá nước ngoài trên thị trường nội địa và là lợi thế cho hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng tăng. Từ những lý lẽ trên, chúng ta thấy rằng tỷ giá hối đoái (đã được điều chỉnh theo chênh lệnh lạm phát giữa hai quốc gia) có mối quan hệ nghịch biến với cán cân thương mại, hay nói cách khác xuất khẩu ròng là một hàm của tỷ giá hối đoái thực. Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến cán cân thương mại của một nước thông qua việc làm tăng hay giảm giá trị đồng tiền của một quốc gia. Khi lạm phát một nước tăng cao so với đối tác, trước tiên do giá hàng hóa trong nước tăng nên người tiêu dùng trong nước sẽ chuyển sang sử dụng hàng hóa nước ngoài làm nhập khẩu tăng, kéo theo nhu cầu đối với ngoại tệ tăng làm đồng ngoại tệ tăng giá. Thứ hai, giá cao cũng làm giảm sút nhu cầu hàng hóa của nước ngoài đối hàng trong nước (giảm xuất khẩu), từ đó làm ngoại tệ tăng giá do nguồn cung giảm. Hai lực thị trường này sẽ làm tăng giá trị đồng ngoại tệ hay nói cách khác là đồng tiền của nước có lạm phát cao đã bị giảm giá để bù lại mức chênh lệch lạm phát, từ đó không làm tăng nhu cầu đối với hàng hoá nhập khẩu và làm cho lạm phát của một nước sẽ ít có tác động lên nước khác. Tuy nhiên, nếu các lực thị trường này đủ lớn và nếu có sự can thiệp của chính phủ làm tỷ giá nội tệ/ngoại tệ tăng cao hơn tốc độ tăng giá hàng hóa trong nước so với nước ngoài thì hàng hóa trong nước sẽ có giá rẻ hơn giá nước ngoài và khi đó ta gọi đồng nội tệ được định giá thấp, cán cân thương mại được cải thiện. Ngược lại, nếu tỷ giá tăng không đủ bù lạm phát thì đồng nội tệ sẽ bị định giá cao và cán cân thương mại bị xấu đi. 10
  11. Ngoài ra, cán cân thương mại còn bị ảnh hưởng bởi các biện pháp của chính phủ như chính sách bảo hộ mậu dịch. Nhằm bảo vệ hàng hóa trong nước trước sự cạnh tranh của hàng ngoại, chính phủ có thể tăng thuế hàng nhập khẩu. Động thái này làm tăng giá hàng ngoại nhập, hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng, từ đó cán cân thương mại cũng có thể được cải thiện (nếu các điều kiện khác không thay đổi). b) Cán cân dịch vụ: Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu chính, viễn thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khác giữa người cư trú với người không cư trú. Giống như xuất nhập khẩu hàng hoá xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ nên nó được ghi vào bên co và có dấu dương; nhập khẩu ngoại tệ làm phát sinh cầu ngoại tệ. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu dịch vụcũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá. c) Cán cân thu nhập: - Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cư trú hay ngược lại.các nhân tố ảnh hưởng lên thu nhập của người lao động ở nước ngoài. - Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đầu tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến han phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và không cư trú. - Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều : Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú chuyển cho người không cư trú và ngược lại. Các khoản chuyển giao vãng lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa người cư trú với người không cư trú các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ) nên được ghi vào bên có (+), các khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ (-). Nhân tố chính ảnh hưởng lên chuyển giao vãng lai một chiều là lòng tốt, tình cảm giữa người cư trú và người không cư trú. Chúng ta thấy rằng cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cán cân vô hình (invisible) Như vậy, cán cân vãng lai có thể biểu diễn : Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình Tóm lại, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm phát sinh cung ngoại tệ nên dược ghi vào bên có và các khoản thu nhập trả cho người không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ. Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung vào trong tính toán này. Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn. 11
  12. I.3.3.2 Cán cân vốn: Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cân thanh toán của một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản nước ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của người sống ở nước ngoài, thì quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào ròng). Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai. Được chia ra làm các loại sau đây: a) Cán cân di chuyển vốn dài hạn: Phản ánh các luồng vốn đi ra, đi vào của một quốc gia trong một thời gian dài. Gồm : - Đầu tư trực tiếp nước ngoài. - Đầu tư gián tiếp nước ngoài dài hạn (mua cổ phiếu, trái phiếu). - Đầu t ư dài hạn khác: cho vay thương mại dài hạn,… Quy mô và tình trạng cán cân vốn dài hạn phụ thuộc vào những nhân tố như: tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng dài hạn, môi trường đầu tư… b) Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn: Phản ánh các luồng vốn ngắn hạn. Gồm nhiều hạng mục phong phú, nhưng chủ yếu là: - Tín dụng thư ơng mại ngắn hạn. - Hoạt động tiền gửi. - Mua bán các giấy t ờcó giá ngắn hạn. - Các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn. Quy mô cán cân di chuyển vốn ngắn hạn ngoài chịu tác động của những nhân tố như cán cân di chuyển vốn ngắn hạn con chịu tác động của yếu tố lãi suất. Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoản vốn ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính. Tài khoản vốn và lãi suất: Giả sử ban đầu tài khoản vốn cân bằng tương ứng với mức lãi suất trong nước r. Khi lãi suất tăng lên mức r’, tài khoản vốn trở nên thặng dư. Nếu lãi suất hạ xuống mức r, tài khoản vốn trở nên thâm hụt. Vì vốn có quan hệ mật thiết với lãi suất. Vì thế, cân đối tài khoản vốn cũng có quan hệ mật thiết với lãi suất. 12
  13. Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thế dòng vốn vào sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài khoản vốn, nhờ đó, được cải thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ xuống, cán cân vốn sẽ bị xấu đi. Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Và khi lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện. Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái: Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, cũng có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa giảm, dòng vốn vào sẽ giảm đi, trong khi dòng vốn ra tăng lên. Hậu quả là, tài khoản vốn xấu đi. Ngược lại, khi đồng tiền trong nước mất giá (tỷ giá tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện. c) Cán cân di chuyển vốn một chiều: Phản ánh các khoản viện trợ không hoàn lại nhằm mục đích đầu tư, phản ánh các khoản nợ đư ợc xóa. Quy mô và tình trạng cán cân chuyển giao vốn một chiều phụ thuộc chủ yếu vào các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế - chính trị, giữa các nư ớc có chung lợi ích và tình hữu nghị đặc biệt… I.3.3.3 Mục sai số nhầm lẫn: Sở dĩ có các khoản mục nhầm lẫn và sai sót trong BOP do: - Các giao dịch phát sinh giữa người cư trú và ngư ời không cư trú rất nhiều. Do vậy trong quá trình thống kê rất khó không có sai sót. -Sự không trùng khớp giữa thời điểm diễn ra giao dịch và thời điểm thanh toán. I.3.3.4 Một số phân tích cơ bản: Cán cân bù đắp chính thức : Gồm dự trữ ngoại hối của quốc gia, các khoản vay giữa các ngân hàng Trung Ương của các quốc gia, nhằm làm cho BOP của các quốc gia về trạng thái cân bằng. 13
  14. CCTTQT= CC vãng lai + CCvốn + nhầm lẫn, sai sót + CC bù đắp chính thức = 0. CC tổng thể = CC vãng lai + CC vốn + nhầm lẫn sai sót. CC cơ bản = CC vãng lai + CC di chuyển vốn dài hạn. Chương II: Tỷ giá và chính sách tỷ giá tác động đến CCTTQT.Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong 2008-2009 II.1 Ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính đến Nền kinh tế VN: Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 là sự phát triển và lan tỏa của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và còn tiếp tục diễn ra trong năm 2009. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Mặc dù Việt Nam đã chuyển hướng chính sách để đối phó với khủng hoảng, tuy độ mở của nền kinh tế Việt Nam khá cao nhưng còn chịu tác động bất lợi trên cả 3 bình diện: thương mại, đầu tư và tài chính nên sẽ đứng trước nhiều thách thức. Năm 2008, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam chiếm 30% tổng đầu tư, đầu tư gián tiếp qua các kênh trái phiếu chính phủ, thị trường chứng khoán chiếm tỉ trọng khá cao (39% trái phiếu và 25% tổng mức vốn hoá của thị trường), nhưng đã có dấu hiệu suy giảm do khủng hoảng. Báo động đối với Việt Nam là thâm hụt cán cân thương mại đã ở mức đỉnh điểm, đặc biệt là thâm hụt thương mại với quốc gia láng giềng Trung Quốc. Trong tổng mức thâm hụt 17 tỉ USD hàng hoá của Việt Nam với thế giới thì riêng thâm hụt với Trung Quốc đã lên tới 12 tỉ USD, tiếp đến là thâm hụt thương mại với các đối thủ cạnh tranh là các nước ASEAN và Hàn Quốc, chỉ thặng dư với Hoa Kỳ và EU. 2008 là một năm không vui với tăng trưởng GDP của Việt Nam khi tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt ~ 6,23%, thấp nhất kể từ năm 1999, năm mà Việt Nam phải hứng chịu những hậu quả lớn của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á. Đáng lo ngại hơn là việc tốc độ tăng trưởng GDP năm tới, theo dự đoán của chúng tôi, sẽ còn thấp hơn và chỉ đạt ~4,75% 14
  15. - Qúy 1/2008: Với cơ sở mức tăng trưởng kinh tế 8.48% trong năm 2007, Chính Phủ và Quốc Hội đã đề ra mức tăng trưởng kinh tế trong cả năm 2008 là 8.5%- 9%. Tuy nhiên đầu năm đã có dấu hiệu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng tài chính Mỹ, cùng với đó là dấu hiệu tăng trưởng nóng: • Lạm phát trong quý I/2008 tăng 16.37% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát tăng cao do cơ chế neo tỷ giá không hợp lý (phụ thuộc vào đồng Đôla) dẫn đến giá các sản phẩm đầu vào trên thị trường quốc tế tăng cao (lương thực, xăng dầu, vật liệu xây dựng…) dẫn đến giá tăng cao. • Thị trường chứng khoán liên tục tăng nhiệt, và có những bước tăng cao hợp lý. Khi Ủy Ban Chứng Khoán ra tay can thiệp mạnh mẽ vào thị trường thị cơn sốt đó đã chuyển qua thị trường bất động sản tạo nên những bong bóng bất động sản tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro cao. • Thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức kỷ lục trong nhiều năm vào khoảng 9.3%-9.7% trong năm 2008. Trong khi đó tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 40% so với cùng kỳ năm trước. - Qúy II/2008: Lúc này dấu hiệu cho 1 cuộc khủng khoảng đã hiện rõ, mục tiêu của Chính Phủ không còn là tăng trưởng GDP nữa mà là “hạ cánh mềm”. Sau khi Chính Phủ thực hiện mạnh tay và quyết liệt các biện pháp thắt chặt tiền tệ, tỷ giá, cán cân thương mại, lạm phát, GDP đã sút giảm mạnh mẽ từ GDP quý I 7.4% xuống GDP 6 tháng đầu năm còn 6.5%. - Qúy III/2008: Các biện pháp của Chính Phủ đã có hiệu quả khi ma kiềm chế được lạm phát. Tỷ giá cũng dần đi vào quỹ đạo ổn định. FDI và hạn chế 15
  16. nhập siêu là 2 nhân tố chính đã làm góp phân làm tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu năm là 6.52%. - Qúy IV /2008: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhanh chóng lan tỏa sang các lĩnh vực khác khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Nhu cầu hàng hóa tiêu dùng giảm mạnh, giá cả hàng hóa thế giới tiếp tục suy giảm. Trong khi đó, chính sách tỷ giá của Việt Nam vẫn tương đối xơ cứng nên trong khi đồng tiền nhiều nước cạnh tranh xuất khẩu chủ yếu với Việt Nam mất giá mạnh nên VND đã lên giá tương đối, dẫn tới xuất khẩu suy giảm và nhập khẩu tăng mạnh trong tháng 11/2008. Mặc dù Quốc hội đã điều chỉnh mức tăng trưởng GDP dự kiến cho năm 2008 chỉ là 6,5% nhưng do tình hình xấu nhanh hơn dự kiến, kết thúc quý IV/2008, nền kinh tế không giữ được thành quả của 3 quý đầu khiến cho tăng trưởng kinh tế năm 2008 giảm xuống chỉ 6,23%. Đáng lo ngại hơn, theo biểu đồ tăng trưởng quý của chúng tôi, cả bốn quý trong năm tăng trưởng GDP đều thấp hơn mức cùng kỳ năm 2007, trong đó đặc biệt quý IV/2008, mức tăng trưởng chỉ là 5,74%, bằng 62% mức tăng trưởng quý IV/2007. II.2 Diễn biến tỷ giá hối đoái 2008- 2009: Xét về mối quan hệ giữa mục tiêu kinh tế dài hạn và chế độ tỷ giá, bất kỳ nền kinh tế nào cũng tập trung vào bốn mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là sản lượng, ổn định giá cả, việc làm và cân bằng ngoại thương (thuộc hai nhóm mục tiêu cân bằng nội và cân bằng ngoại). Việt Nam không nằm ngoại lệ trên. Tuy nhiên, lạm phát và ngoại thương chỉ là yếu tố ngoại sinh dù có tác động qua lại lẫn nhau. Điều quan trọng để đạt các mục tiêu trên không chỉ quyết định bởi chế độ tỷ giá hối đoái, mà do sự phối hợp hợp lý giữa các chính sách kinh tế vĩ mô. Điều này thể hiện rõ trong đường lối kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1989-1993 khi nội tệ gần như được “thả nổi”, nhưng đi kèm là một chính sách thắt chặt lượng tiền cung ứng, không những đã chặn đà lạm phát mà còn thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài. 16
  17. Những biến động gần đây trên thế giới đã cho thấy rằng việc lấy những ngành công nghiệp cao làm mũi nhọn chiến lược cho phát triển kinh tế là không khả thi. Bởi lẽ, tiềm lực Việt Nam chưa đủ để thực hiện mục tiêu này và khả năng thích ứng với các biến động lớn là chưa cao. Việc hướng quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa vào lĩnh vực nông nghiệp là một chủ trương đúng đắn xét trên quan điểm phát huy lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, nông phẩm phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên sản lượng kế hoạch và thực tế thường chênh lệch lớn. Điều này nhắc nhở nền kinh tế phải chú trọng đương đầu với những cơn sốc có nguồn gốc từ thị trường hàng hóa và ủng hộ cho một chế độ tỷ giá thả nổi. Chế độ tỷ giá thả nổi không những giúp nền kinh tế loại trừ tác động của những cơn sốc từ thị trường hàng hóa mà còn giúp đạt mục tiêu cân bằng ngoại một cách dễ dàng do tỷ giá tự biến động để duy trì trạng thái cân bằng cung cầu ngoại tệ. Tuy vậy, các công cụ điều tiết thị trường hối đoái hiện vẫn còn sơ sài, chưa phát huy đúng mức khả năng hạn chế rủi ro hối đoái. Ví dụ, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (Swap) - một nghiệp vụ cơ bản về rào chắn rủi ro hối đoái – áp dụng rất hạn chế ở Việt Nam. Ngoài ra, yếu tố tâm lý luôn có ảnh hưởng lớn đến tỷ giá. Sự linh hoạt hoàn toàn trong điều kiện như vậy rất dễ gây biến động mạnh về tỷ giá, cũng như khiến tăng trưởng xuất khẩu thêm bấp bênh. Từ đó cho thấy nếu dựa trên các mục tiêu kinh tế cơ bản thì sự linh hoạt có kiểm soát của tỷ giá sẽ là bước lựa chọn thích hợp kế tiếp của chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn. Cũng như lãi suất và lạm phát, năm 2008 là 1 năm đầy biến động với tỷ giá hối đoái với những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô, cung cầu ngoại tệ, thậm chí là 17
  18. cả tin đồn thất thiệt. Một tiền lệ mới chưa từng xảy ra trong lịch sử là biên độ tỷ giá được điều chỉnh 5 lần, một mật độ dày chưa từng có. Quy luật thị trường bị phá vỡ. Nếu như những năm trước tỷ giá luôn được định hướng tăng nhẹ vào khoản 1%/ năm thì vào năm 2008, tỷ giá công bố liên ngân hàng thường có xu hướng duy trì ổn định đã tăng ~5%, dẫn đến tỷ giá giao dịch liên ngân hàng tăng ~10%. Trong khi đó tỷ giá ngoài thị trường tự do tăng kịch trần vượt quá hạn mức cho phép của ngân hàng nhà nước cho phép nhiều lần. Chênh lệch giữa tỷ giá chính thức do ngân hàng công bố và tỷ giá tự do có sự khác biệt rất lớn. T ỷ giá tham khảo của Ngân Hàng Nhà Nướ c Việt Nam Giớ i hạn trên của biên độ tỷ giá Giớ i hạn dướ i của biên độ tỷ giá T ỷ giá hối đoại trên thị trườ ng tự do 20 19 18 17 16 15 01/01/2008 03/01/2008 05/01/2008 07/01/2008 09/01/2008 11/01/2008 01/01/2009 03/01/2009 05/01/2009 Căn cứ vào mật độ điều chính biên độ dao động tỷ giá chính thức của NHNN, 07/01/2009 ta có thể chia làm 4 giai đoạn: - Giai đoạn 1: từ 1/1/2008 tới 10/3/2008 Trong giai đoạn này, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh từ 16.112 đồng xuống còn 15.960 đồng. Tỷ giá trên thị trường tự do có lúc rớt xuống thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng. Bên cạnh các nguyên nhân như lượng kiều hối (5,5 tỷ USD) chuyển về tăng mạnh trong dịp Tết dương lịch, lượng vốn FDI và vốn FII vào Việt Nam tiếp tục đà tăng mạnh từ năm 2007, VND lên giá chủ yếu do USD đã mất giá quá mạnh trên thị trường thế giới trong giai đoạn đầu năm 2008. NHNN đã tăng biên độ tỷ giá từ +/- 0,75% lên mức 1% vào ngày 10/3/2008. Khác với các lần điều chỉnh tỷ giá khác, tỷ giá USD/VND đã về mức sàn ngay sau khi có quyết định tăng biên độ của NHNN. - Giai đoạn 2: từ 10/3/2008 tới 27/6/2008 Ở giai đoạn này, sự mất giá tiền VND so với USD là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ gia diễ biến ngược chiều so với giai đoạn 1. Tỷ giá LNH công bố từ 15.960 đ -15.946 đồng, đặc biệt trong tháng 6/2008 khi tỷ giá trên thị trường LNH có lúc lên tới 19.400 đồng và cao hơn 2.600 đồng so với tỷ giá trần quy định. Nguyên nhân chính mà theo nhiều người dẫn đến sự mất giá của VND là do những số liệu cho thấy nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát tăng cao và thâm hụt cán cân thương mại (~ 18
  19. 15 tỷ USD tính đến hết tháng 6/2008). Nhu cầu USD để nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế (chưa tính các khoản phí, thuế) và nhu cầu rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài do những lo ngại về nền kinh tế trong nước cũng như lúc này nguy cơ tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và các tin đồn cũng là những nguyên nhân chính dẫn tới sự trượt giá của VND so với USD. Vào ngày 27/6/2008, Ngân hàng nhà nước đã quyết định tăng biên độ tỷ giá lên +/-2%. - Giai đoạn 3: 27/6/2008 tới 7/11/2008 Từ tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng tài chính và bong bóng nhà đất tại Mỹ đã hiện rõ ra gây sức ép đến VND làm cho đồng nội tệ ngày càng bị mất giá cao Xuất khẩu yếu đi do sự xấu đi nhanh chóng của các thị trường xuất khẩu chủ yếu như Mỹ, Nhật, khối EU do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại Mỹ. Sự tăng giá của đồng USD so với các đồng tiền khác (5%-10%) do nhiều nhà đầu tư vẫn coi USD là nơi trú ẩn an toàn trong giai đoạn khủng hoảng toàn cầu. Tại nhiều thị trường mới nổi đã diễn ra tình trạng rút vốn lớn của các nhà đầu tư nước ngoài khiến cho đồng nội tệ mất giá so với USD, hàng hóa của các nước này cũng trở nên có sức cạnh tranh cao hơn so với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Cũng một phần vì NHNN neo tỷ giá VND theo USD là chủ yếu. Thâm hụt thương mại có dấu hiệu gia tăng trở lại khi xuất khẩu giảm sút nhưng nhập siêu vẫn ở mức cao. Nhu cầu rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài là rõ ràng ngay tại TTCK Việt Nam. Tính từ khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lan rộng (giữa tháng 9/2008) đến cuối năm, nhà ĐTNN liên tục bán ròng trên thị trường trái phiếu (~26.000 tỷ VND) và thị trường cổ phiếu (~1800 tỷ VND), một phần số vốn thu được đã được chuyển đổi sang USD dẫn tới cầu USD cao tại các ngân hàng nước ngoài. Vào cuối giai đoạn này, biên độ tỷ giá được điều chỉnh vào ngày 7/11/2008 từ +/-2% lên mức +/- 3%. - Giai đoạn 4: từ 7/11/2008 tới 1/1/2009 Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá, tình hình có vẻ được cải thiện mặc dù tỷ giá USD/VND LNH công bố vẫn duy trì ở mức ~16.500 đồng, tỷ giá tại các ngân hàng thường xuyên được duy trì ở mức trần ~17.000 đồng. Tỷ giá giao dịch trên thị trường không chính thức ở mức 17.200 đồng - 17.450 đồng. Tỷ giá giao dịch tạm ổn định ở mức trần, được trợ giúp bởi thâm hụt thương mại được cải thiện, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD giảm, và việc USD có xu hướng đứng giá và giảm nhẹ so với các ngoại tệ khác sau quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản của Fed vào ngày 17/12/2008 từ 1% xuống 0-0,25%. Vào ngày 24/12/2008, Bộ Kế hoạch - Đầu tư công bố GDP cho năm 2008 ở mức 6,23% thấp hơn rất nhiều so với mức dự tính trước đó là ~ 6,5%. Thông tin thống kê xuất khẩu tháng 11 giảm 4,8% so với tháng 10 (trong khi cùng kỳ năm trước xuất khẩu tăng 6%). Trước những thông tin lo ngại trên về tình hình kinh tế và xuất khẩu, cùng ngày 24/12, NHNN đã công bố việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND LNH tăng 3% (hay VND trượt giá 3%) từ mức 16.494 đồng (24/12/08) lên 16.989 19
  20. đồng (25/12/2008). Tỷ giá USD/VND của Vietcombank cũng biến động ngay sau công bố của NHNN lên mức 17.180-17.350 đồng. Trên thực tế, các ngân hàng dường như đã dự tính trước về khả năng này khi ngay từ đầu tháng 12/2008, nhiều ngân hàng đã tích cực thu mua ngoại tệ nhưng không cho vay, duy trì trạng thái dương về ngoại tệ (ĐTCK- 26/12/2008). Cho đến những ngày đầu năm 2009, tỷ giá giao dịch USD của các ngân hàng vẫn đứng ở mức cao sát trần: 17.370-17.480 đồng (05/01/2009). II.3 Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của VN trong năm 2008 : II.3.1 Tài khoản vãng lai: II.3.1.1 Cán cân thương mại: Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, xuất khẩu cả năm 2008 đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3%. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do sự tăng giá trên thị trường thế giới. Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008 ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuất chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ trọng của 03 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%). Nếu loại bỏ yếu tố tăng giá của một số mặt hàng thì tổng kim ngạch nhập khẩu chỉ tăng 21.4% so với năm 2007. Nhìn chung các mặt hàng chủ lực nhập khẩu đều tăng so với 2007. Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu phục vụ cho sản xuất có dấu hiệu suy giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu chững lại của sự đầu tư và sản xuất. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng vào các tháng cuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước ngoài đang tạo sức ép lớn lên hàng tiêu dùng của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước. Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc, tương đương 380 triệu USD). Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2007, bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhập siêu đã giảm nhiều so với dự báo những tháng trước đây nhưng mức nhập siêu năm nay vẫn khá cao, trong đó châu Á có mức nhập siêu lớn nhất, đứng đầu là thị trường Trung Quốc với 10,8 tỷ USD, cao hơn 1,7 tỷ USD so với năm 2007. II.3.1.2 Cán cân dịch vụ: 20
Đồng bộ tài khoản