Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán

Chia sẻ: glasses224

Mức tỷ giá hiện nay có phù hợp đối với nền kinh tế Việt Nam hay chưa? Đặc biệt từ khi cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu xảy ra, tỷ giá hối đoái đã tác động như thế nào đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam? Mục tiêu nào mà chính sách tỷ giá cần phải đạt được: đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa hay cung cấp một môi trường ổn định để phát triển?

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thanh toán

MỤC LỤC

DANH SÁCH NHÓM............................................................................................................32




Mở đầu
Mức tỷ giá hiện nay có phù hợp đối với nền kinh tế Việt Nam hay chưa? Đặc
biệt từ khi cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu xảy ra, tỷ giá hối đoái đã tác
động như thế nào đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam? Mục tiêu nào mà chính
sách tỷ giá cần phải đạt được: đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa hay cung
cấp một môi trường ổn định để phát triển? Xung quanh các vấn đề trên có nhiều
quan điểm rất khác nhau. Ngoài ra, cách thức mà ngân hàng nhà nước (NHNN) can
thiệp vào quá trình hình thành và vận động của tỷ giá cũng là một đề tài gây tranh
cãi. Có ý kiến cho rằng NHNN cần phải phá giá mạnh tiền đồng so với mức tỷ giá
hiện tại để nâng cao khả năng cạnh của hàng hóa xuất khẩu và đề xuất thả nổi
hoàn toàn tỷ giá để thị trường tự định đoạt mức tỷ giá phù hợp. Tuy nhiên cũng có ý
kiến ngược lại, đó là chính sách tỷ giá cần phải ổn định (tức tỷ giá sẽ cố định hơn)
để ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát.
Điển hình là trong năm 2009. Có thể nói năm 2009 là một năm “tiền tệ” tại
Việt Nam. Với sự gia tăng mạnh mẽ của tỷ giá hối đoái chủ yếu là tỷ giá
VND/USD, giá trị nhập siêu tăng mạnh so với các năm trước, lạm phát có nguy cơ
“phi mã” trở lại trong năm 2010, giá vàng tăng lên chóng mặt cùng với đó là sàn vàng
mọc lên như nấm, giới đầu cơ liên tục làm giá. Bên cạnh đó, hiện tượng đô la hóa
tăng cao dẫn đến sự khan hiếm đô la cục bộ, cán cân thanh toán bị thâm hụt nặng nề
làm lãi suất ngân hàng tăng kịch trần…
Để đánh giá mức độ phù hợp đối với nền kinh tế của mức tỷ giá hiện nay
cần phải có một cơ sở khoa học để so sánh nó. Theo đó, NHNN nên xác định mức tỷ
giá mục tiêu cho nền kinh tế. Ở mức tỷ giá này có thể giải quyết một số vấn đề
như khả năng cạnh tranh của hàng hóa hay ổn định môi trường vĩ mô hay một số
mục tiêu khác của chính phủ. Tỷ giá thực, nhất là tỷ giá thực đa phương do được
điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát của Việt Nam với các đối tác nên nó có thể là

1
một mức tỷ giá mục tiêu thích hợp để NHNN tiến hành đánh giá mức độ phù hợp
của mức tỷ giá hiện tại phục vụ cho một vài mục tiêu đã nói ở trên, nhất là mục tiêu
đảm bảo khả năng cạnh tranh cho hàng hóa.
Trong phạm vi của bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến những tác
động đến cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam năm 2008 – 2009 của tỷ giá hối
đoái. Diễn biến của tỷ giá và thực trạng của cán cân thanh toán trong năm 2008 –
2009? Nguyên nhân nào tạo những hiện tượng trên? Đâu là giải pháp mà NHNN nên
áp dụng để giảm thiểu tình trạng trên và để đạt được mục tiêu kinh tế được đề ra.




Chương I: Các lý thuyết về tỷ giá hối đoái và cán cân
thanh toán quốc tê tại Việt Nam

I.1 Tỷ giá hối đoái
I.1.1 Khái niệm:
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá hối đoái, do cách tiếp
cận vấn đề khác nhau, đôi khi do cách diễn đạt khác nhau.
Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng tiền của một nước có
thể biểu hiện qua đồng tiền của nước khác.
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ
giá hối đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện
quan hệ cung cầu ngoại hối.
Ngoài ra Tỷ giá hối đoái còn được hiểu là giá của một đơn vị ngoại tệ tính
theo đồng tiền trong nước. Ví dụ: USD/VND hay EUR/VND. Đây chính là giá cả của
ngoại tệ trên thị trường và được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ.
Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế vĩ mô, TGHĐ có tác động ngược trở lại
đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanh toán quốc tế, lên giá cả hàng hoá
trong nước và lưu thông tiền tệ...
Ví dụ: Tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước công bố ngày 17/4/2010 là :
1 USD = 18554 VND
ký hiệu đơn vị tiền tệ:
Dollar Mỹ: USD
Dollar Úc: AUS
Bảng Anh: GBP
Đồng Việt Nam: VND
Dollar Hongkong: HKD




2
=> Bản chất của tỷ giá hối đoái là một loại giá cả nhưng là giá cả của hàng
hóa đặc biệt đó là tiền tệ.
Nhìn chung, TGHĐ được chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ vào mục đích
xem xét, đánh giá mà người ta quyết định sử dụng loại tỷ giá nào.
I.1.2 Tỷ giá danh nghĩa:
Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị
trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền
khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Hay nó
còn được hiểu đơn giản là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo đồng tiền trong
nước và chưa tính đến tương quan sức mua của đồng tiền
• Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương là giá cả của một đồng tiền so với
một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước.
• Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER-Nominal Efective Exchange rate)
NEER không phải là tỷ giá, nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra
một số loại ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh
nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng.
Tỷ trọng của tỷ giá song phương có thể lấy tỷ trọng thương mại của nước

đồng nội tệ đem tính NEER so các nước có đồng tiền trong rổ được chọn.
I.1.3 Tỷ giá thực:
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá
cả trong nước và ngoài nước. Khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết
phải đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế. Như
vậy, tỷ giá hối đoái thực là một phạm trù kinh tế đặc thù và việc phân tích tỷ giá hối
đoái thực sẽ là một vấn đề cần được quan tâm.
Tỷ giá này tăng lên đồng tiền trong nước được coi là bị giảm giá thực so với
đồng tiền nước ngoài và khi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trong nước được coi là bị
tăng giá thực so với đồng tiền nước ngoài
Er = En x Pb/Pf
với En: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
Er:Tỷ giá hối đoái thực.
Pb: Giá cả ở nước có đồng tiền yết giá
Pf: Giá cả ở nước có đồng tiền định giá.
Trong đó:
° E: Tỷ giá danh nghĩa tính bằng số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ.
° Ph: Mức giá trong nước.
° Pf: Mức giá nước ngoài.
Trong công thức trên, tử số là giá cả hàng hóa được quy về đồng nội tệ và đem
chia cho mẩu số là giá hàng hóa trong nước (cũng được tính bằng nội tệ). Vì thế
tỷ giá thực là một chỉ số so sánh mức giá nước ngoài so với mức giá trong nước.
- Nếu Er = 1, ta nói rằng đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ có ngang giá sức
mua.



3
- Nếu Er >1, đồng nội tệ được định giá thấp. Khi đồng nội tệ định giá thấp, về
lý thuyết sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
- Nếu Er 0; ngược lại, cán cân thương
mại thâm hụt khi (X - M) < 0.
Vì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai
và xuất khẩu ròng bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước,

nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này. Vì vậy, sự thặng dư
hay thâm hụt tài khoản vãng lai có quan hệ chặt chẽ với thâm hụt hay thặng dư cán
cân thương mại.
Tài khoản vãng lai thặng dư khi xuất khẩu ròng, hay khi tiết kiệm nhiều hơn
đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu

tư nhiều hơn. Khi mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn một quốc gia sẽ phải tìm
nguồn tài trợ cho mức thâm hụt này, có thể là vay mượn nước ngoài để bù đắp làm
tăng thêm số nợ ròng nước ngoài. Hoặc quốc gia cũng có thể bù đắp thâm hụt tài
khoản vãng lai bằng cách sử dụng của cải nước ngoài đã được tích lũy từ các năm
trước.
Một nước có tài khoản vãng lai thâm hụt là nước nhập khẩu tiêu dùng hiện
tại và phải xuất khẩu tiêu dùng trong tương lai (nước đi vay sẽ phải trả nợ); ngược
lại quốc gia có thặng dư tài khoản vãng lai là nước xuất khẩu tiêu dùng hiện tại và
nhập khẩu tiêu dùng trong tương lai (vị thế nước cho vay sẽ thu hồi nợ sau)



9
Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hơn
5% GDP, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành
mạnh.
+ Các nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại:
- Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân (GDP)
Thu nhập thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) tăng làm gia tăng mức tiêu
thụ hàng hóa. Một sự gia tăng trong chi tiêu hầu như phản ánh một mức cầu gia tăng

đối với hàng hóa nước ngoài. Vì vậy, GDP tăng đã làm nhập khẩu có xu hướng
tăng. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên
(MPZ). MPZ là phần của GDP tăng thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu.
- Ảnh hưỏng của tỷ giá hối đoái
Nếu các yếu tố không đổi, một sự gia tăng trong giá trị đồng nội tệ có thể
làm cán cân thương mại xấu đi. Đồng nội tệ tăng giá làm giá hàng hóa trong nước
trở nên đắt tương đối so với hàng nước ngoài, điều này gây bất lợi cho hoạt động
xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm.
Đồng nội tệ mất giá (đồng nội tệ được định giá thấp) có thể giúp cải thiện
cán cân thương mại. Đứng trên khía cạnh của nhà xuất khẩu, đồng nội tệ giảm giá
làm hàng nội rẻ tương đối so với hàng ngoại. Ngược lại, đối với nhà nhập khẩu,
nội tệ giảm giá làm giá cả hàng hóa nhập khẩu đắt tương đối so với hàng nội. Điều
này gây khó khăn cho hàng hoá nước ngoài trên thị trường nội địa và là lợi thế cho
hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng tăng.
Từ những lý lẽ trên, chúng ta thấy rằng tỷ giá hối đoái (đã được điều chỉnh
theo chênh lệnh lạm phát giữa hai quốc gia) có mối quan hệ nghịch biến với cán cân
thương mại, hay nói cách khác xuất khẩu ròng là một hàm của tỷ giá hối đoái thực.
Lạm phát cũng có ảnh hưởng đến cán cân thương mại của một nước thông
qua việc làm tăng hay giảm giá trị đồng tiền của một quốc gia. Khi lạm phát một
nước tăng cao so với đối tác, trước tiên do giá hàng hóa trong nước tăng nên người
tiêu dùng trong nước sẽ chuyển sang sử dụng hàng hóa nước ngoài làm nhập khẩu
tăng, kéo theo nhu cầu đối với ngoại tệ tăng làm đồng ngoại tệ tăng giá. Thứ hai, giá
cao cũng làm giảm sút nhu cầu hàng hóa của nước ngoài đối hàng trong nước (giảm
xuất khẩu), từ đó làm ngoại tệ tăng giá do nguồn cung giảm. Hai lực thị trường này
sẽ làm tăng giá trị đồng ngoại tệ hay nói cách khác là đồng tiền của nước có lạm
phát cao đã bị giảm giá để bù lại mức chênh lệch lạm phát, từ đó không làm tăng nhu
cầu đối với hàng hoá nhập khẩu và làm cho lạm phát của một nước sẽ ít có tác động
lên nước khác. Tuy nhiên, nếu các lực thị trường này đủ lớn và nếu có sự can thiệp
của chính phủ làm tỷ giá nội tệ/ngoại tệ tăng cao hơn tốc độ tăng giá hàng hóa trong
nước so với nước ngoài thì hàng hóa trong nước sẽ có giá rẻ hơn giá nước ngoài và
khi đó ta gọi đồng nội tệ được định giá thấp, cán cân thương mại được cải thiện.
Ngược lại, nếu tỷ giá tăng không đủ bù lạm phát thì đồng nội tệ sẽ bị định giá cao
và cán cân thương mại bị xấu đi.




10
Ngoài ra, cán cân thương mại còn bị ảnh hưởng bởi các biện pháp của
chính phủ như chính sách bảo hộ mậu dịch. Nhằm bảo vệ hàng hóa trong nước
trước sự cạnh tranh của hàng ngoại, chính phủ có thể tăng thuế hàng nhập khẩu.
Động thái này làm tăng giá hàng ngoại nhập, hạn chế nhập khẩu một số mặt
hàng, từ đó cán cân thương mại cũng có thể được cải thiện (nếu các điều kiện khác
không thay đổi).
b) Cán cân dịch vụ:
Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu
chính, viễn thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khác giữa người
cư trú với người không cư trú. Giống như xuất nhập khẩu hàng hoá xuất khẩu dịch
vụ làm phát sinh cung ngoại tệ nên nó được ghi vào bên co và có dấu dương; nhập
khẩu ngoại tệ làm phát sinh cầu ngoại tệ. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất
khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu dịch
vụcũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá.
c) Cán cân thu nhập:
- Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và
các khoản thu nhập khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cư trú
hay ngược lại.các nhân tố ảnh hưởng lên thu nhập của người lao động ở nước
ngoài.
- Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp,
lãi từ đầu tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến han phải trả của các khoản vay
giữa người cư trú và không cư trú.
- Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều :
Các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển
giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú chuyển
cho người không cư trú và ngược lại. Các khoản chuyển giao vãng lai một chiều
phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa người cư trú với người không cư trú các
khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ) nên được ghi vào bên có (+), các
khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ (-). Nhân tố chính ảnh
hưởng lên chuyển giao vãng lai một chiều là lòng tốt, tình cảm giữa người cư trú và
người không cư trú.
Chúng ta thấy rằng cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một
chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cán cân vô hình
(invisible) Như vậy, cán cân vãng lai có thể biểu diễn :
Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình
Tóm lại, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm phát
sinh cung ngoại tệ nên dược ghi vào bên có và các khoản thu nhập trả cho người
không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ. Tất cả các khoản
thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung vào trong tính
toán này. Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan
trọng nhất trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài
sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư
có thể chiếm tỷ lệ lớn.


11
I.3.3.2 Cán cân vốn:
Tài khoản vốn (còn gọi là cán cân vốn) là một bộ phận của cán cân thanh toán
của một quốc gia. Nó ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực
như bất động sản hay tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người
cư trú trong nước với người cư trú ở quốc gia khác. Khi những tuyên bố về tài sản
nước ngoài của người sống trong nước lớn hơn tuyên bố về tài sản trong nước của
người sống ở nước ngoài, thì quốc gia có thặng dư tài khoản vốn (hay dòng vốn vào
ròng). Theo quy ước, dòng vốn vào ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai.
Được chia ra làm các loại sau đây:
a) Cán cân di chuyển vốn dài hạn: Phản ánh các luồng vốn đi ra, đi
vào của một quốc gia trong một thời gian dài. Gồm :
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài dài hạn (mua cổ phiếu, trái phiếu).
- Đầu t ư dài hạn khác: cho vay thương mại dài hạn,…
Quy mô và tình trạng cán cân vốn dài hạn phụ thuộc vào những nhân tố như:
tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng dài hạn, môi trường đầu tư…
b) Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn: Phản ánh các luồng vốn ngắn
hạn. Gồm nhiều hạng mục phong phú, nhưng chủ yếu là:
- Tín dụng thư ơng mại ngắn hạn.
- Hoạt động tiền gửi.
- Mua bán các giấy t ờcó giá ngắn hạn.
- Các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn.
Quy mô cán cân di chuyển vốn ngắn hạn ngoài chịu tác động của những
nhân tố như cán cân di chuyển vốn ngắn hạn con chịu tác động của yếu tố lãi suất.
Tài khoản tài chính (hay tài khoản đầu tư) là một bộ phận của tài khoản vốn
ghi lại những giao dịch về tài sản tài chính.
Tài khoản vốn và lãi suất:
Giả sử ban đầu tài khoản vốn cân bằng tương ứng với mức lãi suất trong
nước r. Khi lãi suất tăng lên mức r’, tài khoản vốn trở nên thặng dư. Nếu lãi suất hạ
xuống mức r, tài khoản vốn trở nên thâm hụt. Vì vốn có quan hệ mật thiết với lãi
suất. Vì thế, cân đối tài khoản vốn cũng có quan hệ mật thiết với lãi suất.




12
Khi lãi suất trong nước tăng lên, đầu tư vào trở nên hấp dẫn hơn, vì thế dòng
vốn vào sẽ gia tăng, trong khi đó dòng vốn ra giảm bớt. Cán cân tài khoản vốn, nhờ
đó, được cải thiện. Ngược lại, nếu lãi suất trong nước hạ xuống, cán cân vốn sẽ bị
xấu đi.
Khi lãi suất ở nước ngoài tăng lên, cán cân tài khoản vốn sẽ bị xấu đi. Và khi
lãi suất ở nước ngoài hạ xuống, cán cân vốn sẽ được cải thiện.
Tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái:
Khi đồng tiền trong nước lên giá so với ngoại tệ, cũng có nghĩa là tỷ giá hối
đoái danh nghĩa giảm, dòng vốn vào sẽ giảm đi, trong khi dòng vốn ra tăng lên. Hậu
quả là, tài khoản vốn xấu đi. Ngược lại, khi đồng tiền trong nước mất giá (tỷ giá
tăng), tài khoản vốn sẽ được cải thiện.
c) Cán cân di chuyển vốn một chiều:
Phản ánh các khoản viện trợ không hoàn lại nhằm mục đích đầu tư, phản ánh
các khoản nợ đư ợc xóa.
Quy mô và tình trạng cán cân chuyển giao vốn một chiều phụ thuộc chủ yếu
vào các mối quan hệ ngoại giao, kinh tế - chính trị, giữa các nư ớc có chung lợi ích
và tình hữu nghị đặc biệt…
I.3.3.3 Mục sai số nhầm lẫn:
Sở dĩ có các khoản mục nhầm lẫn và sai sót trong BOP do:
- Các giao dịch phát sinh giữa người cư trú và ngư ời không cư trú rất
nhiều. Do vậy trong quá trình thống kê rất khó không có sai sót.
-Sự không trùng khớp giữa thời điểm diễn ra giao dịch và thời điểm
thanh
toán.
I.3.3.4 Một số phân tích cơ bản:
Cán cân bù đắp chính thức : Gồm dự trữ ngoại hối của quốc gia, các khoản
vay giữa các ngân hàng Trung Ương của các quốc gia, nhằm làm cho BOP của
các quốc gia về trạng thái cân bằng.



13
CCTTQT= CC vãng lai + CCvốn + nhầm lẫn, sai sót + CC bù đắp chính thức
= 0.
CC tổng thể = CC vãng lai + CC vốn + nhầm lẫn sai sót.
CC cơ bản = CC vãng lai + CC di chuyển vốn dài hạn.


Chương II: Tỷ giá và chính sách tỷ giá tác động đến
CCTTQT.Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt
Nam trong 2008-2009

II.1 Ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính đến Nền kinh tế VN:
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 là sự phát triển và lan tỏa của
cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và còn tiếp tục diễn ra trong năm
2009. Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước,
gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Mặc dù Việt
Nam đã chuyển hướng chính sách để đối phó với khủng hoảng, tuy độ mở của nền
kinh tế Việt Nam khá cao nhưng còn chịu tác động bất lợi trên cả 3 bình diện:
thương mại, đầu tư và tài chính nên sẽ đứng trước nhiều thách thức. Năm 2008, vốn
đầu tư nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam chiếm 30% tổng đầu tư, đầu tư gián tiếp
qua các kênh trái phiếu chính phủ, thị trường chứng khoán chiếm tỉ trọng khá cao
(39% trái phiếu và 25% tổng mức vốn hoá của thị trường), nhưng đã có dấu hiệu suy
giảm do khủng hoảng. Báo động đối với Việt Nam là thâm hụt cán cân thương mại
đã ở mức đỉnh điểm, đặc biệt là thâm hụt thương mại với quốc gia láng giềng
Trung Quốc. Trong tổng mức thâm hụt 17 tỉ USD hàng hoá của Việt Nam với thế
giới thì riêng thâm hụt với Trung Quốc đã lên tới 12 tỉ USD, tiếp đến là thâm hụt
thương mại với các đối thủ cạnh tranh là các nước ASEAN và Hàn Quốc, chỉ thặng
dư với Hoa Kỳ và EU.
2008 là một năm không vui với tăng trưởng GDP của Việt Nam khi tốc độ
tăng trưởng GDP chỉ đạt ~ 6,23%, thấp nhất kể từ năm 1999, năm mà Việt Nam
phải hứng chịu những hậu quả lớn của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á. Đáng lo
ngại hơn là việc tốc độ tăng trưởng GDP năm tới, theo dự đoán của chúng tôi, sẽ
còn thấp hơn và chỉ đạt ~4,75%




14
- Qúy 1/2008: Với cơ sở mức tăng trưởng kinh tế 8.48% trong năm 2007,
Chính Phủ và Quốc Hội đã đề ra mức tăng trưởng kinh tế trong cả năm 2008 là 8.5%-
9%. Tuy nhiên đầu năm đã có dấu hiệu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng tài chính
Mỹ, cùng với đó là dấu hiệu tăng trưởng nóng:
• Lạm phát trong quý I/2008 tăng 16.37% so với cùng kỳ năm
trước. Lạm phát tăng cao do cơ chế neo tỷ giá không hợp lý (phụ thuộc vào
đồng Đôla) dẫn đến giá các sản phẩm đầu vào trên thị trường quốc tế tăng
cao (lương thực, xăng dầu, vật liệu xây dựng…) dẫn đến giá tăng cao.
• Thị trường chứng khoán liên tục tăng nhiệt, và có những bước
tăng cao hợp lý. Khi Ủy Ban Chứng Khoán ra tay can thiệp mạnh mẽ vào thị
trường thị cơn sốt đó đã chuyển qua thị trường bất động sản tạo nên những
bong bóng bất động sản tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro cao.
• Thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức kỷ lục trong nhiều năm
vào khoảng 9.3%-9.7% trong năm 2008. Trong khi đó tổng kim ngạch nhập
khẩu tăng 40% so với cùng kỳ năm trước.
- Qúy II/2008: Lúc này dấu hiệu cho 1 cuộc khủng khoảng đã hiện rõ,
mục tiêu của Chính Phủ không còn là tăng trưởng GDP nữa mà là “hạ cánh mềm”.
Sau khi Chính Phủ thực hiện mạnh tay và quyết liệt các biện pháp thắt chặt tiền tệ,
tỷ giá, cán cân thương mại, lạm phát, GDP đã sút giảm mạnh mẽ từ GDP quý I 7.4%
xuống GDP 6 tháng đầu năm còn 6.5%.
- Qúy III/2008: Các biện pháp của Chính Phủ đã có hiệu quả khi ma
kiềm chế được lạm phát. Tỷ giá cũng dần đi vào quỹ đạo ổn định. FDI và hạn chế



15
nhập siêu là 2 nhân tố chính đã làm góp phân làm tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu
năm là 6.52%.
- Qúy IV /2008: Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhanh chóng lan
tỏa sang các lĩnh vực khác khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Nhu cầu
hàng hóa tiêu dùng giảm mạnh, giá cả hàng hóa thế giới tiếp tục suy giảm. Trong
khi đó, chính sách tỷ giá của Việt Nam vẫn tương đối xơ cứng nên trong khi đồng
tiền nhiều nước cạnh tranh xuất khẩu chủ yếu với Việt Nam mất giá mạnh nên
VND đã lên giá tương đối, dẫn tới xuất khẩu suy giảm và nhập khẩu tăng mạnh
trong tháng 11/2008.
Mặc dù Quốc hội đã điều chỉnh mức tăng trưởng GDP dự kiến cho năm 2008
chỉ là 6,5% nhưng do tình hình xấu nhanh hơn dự kiến, kết thúc quý IV/2008, nền
kinh tế không giữ được thành quả của 3 quý đầu khiến cho tăng trưởng kinh tế năm
2008 giảm xuống chỉ 6,23%. Đáng lo ngại hơn, theo biểu đồ tăng trưởng quý của
chúng tôi, cả bốn quý trong năm tăng trưởng GDP đều thấp hơn mức cùng kỳ năm
2007, trong đó đặc biệt quý IV/2008, mức tăng trưởng chỉ là 5,74%, bằng 62% mức
tăng trưởng quý IV/2007.

II.2
Diễn
biến tỷ giá
hối đoái
2008-
2009:
Xét
về mối
quan hệ
giữa mục
tiêu kinh
tế dài
hạn và
chế độ tỷ
giá, bất kỳ nền kinh tế nào cũng tập trung vào bốn mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là
sản lượng, ổn định giá cả, việc làm và cân bằng ngoại thương (thuộc hai nhóm mục
tiêu cân bằng nội và cân bằng ngoại). Việt Nam không nằm ngoại lệ trên. Tuy nhiên,
lạm phát và ngoại thương chỉ là yếu tố ngoại sinh dù có tác động qua lại lẫn nhau.
Điều quan trọng để đạt các mục tiêu trên không chỉ quyết định bởi chế độ tỷ giá hối
đoái, mà do sự phối hợp hợp lý giữa các chính sách kinh tế vĩ mô. Điều này thể hiện
rõ trong đường lối kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1989-1993 khi nội tệ gần như
được “thả nổi”, nhưng đi kèm là một chính sách thắt chặt lượng tiền cung ứng,
không những đã chặn đà lạm phát mà còn thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư nước
ngoài.



16
Những biến động gần đây trên thế giới đã cho thấy rằng việc lấy những
ngành công nghiệp cao làm mũi nhọn chiến lược cho phát triển kinh tế là không khả
thi. Bởi lẽ, tiềm lực Việt Nam chưa đủ để thực hiện mục tiêu này và khả năng thích
ứng với các biến động lớn là chưa cao. Việc hướng quá trình công nghiệp hóa - hiện
đại hóa vào lĩnh vực nông nghiệp là một chủ trương đúng đắn xét trên quan điểm
phát huy lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, nông phẩm phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nhiên nên sản lượng kế hoạch và thực tế thường chênh lệch lớn. Điều này nhắc
nhở nền kinh tế phải chú trọng đương đầu với những cơn sốc có nguồn gốc từ thị
trường hàng hóa và ủng hộ cho một chế độ tỷ giá thả nổi. Chế độ tỷ giá thả nổi
không những giúp nền kinh tế loại trừ tác động của những cơn sốc từ thị trường
hàng hóa mà còn giúp đạt mục tiêu cân bằng ngoại một cách dễ dàng do tỷ giá tự
biến động để duy trì trạng thái cân bằng cung cầu ngoại tệ. Tuy vậy, các công cụ
điều tiết thị trường hối đoái hiện vẫn còn sơ sài, chưa phát huy đúng mức khả năng
hạn chế rủi ro hối đoái. Ví dụ, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (Swap) - một nghiệp vụ
cơ bản về rào chắn rủi ro hối đoái – áp dụng rất hạn chế ở Việt Nam. Ngoài ra, yếu
tố tâm lý luôn có ảnh hưởng lớn đến tỷ giá. Sự linh hoạt hoàn toàn trong điều kiện
như vậy rất dễ gây biến động mạnh về tỷ giá, cũng như khiến tăng trưởng xuất
khẩu thêm bấp bênh. Từ đó cho thấy nếu dựa trên các mục tiêu kinh tế cơ bản thì sự
linh hoạt có kiểm soát của tỷ giá sẽ là bước lựa chọn thích hợp kế tiếp của chế độ
tỷ giá thả nổi hoàn toàn.




Cũng như lãi suất và lạm phát, năm 2008 là 1 năm đầy biến động với tỷ giá
hối đoái với những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô, cung cầu ngoại tệ, thậm chí là


17
cả tin đồn thất thiệt. Một tiền lệ mới chưa từng xảy ra trong lịch sử là biên độ tỷ
giá được điều chỉnh 5 lần, một mật độ dày chưa từng có. Quy luật thị trường bị phá
vỡ. Nếu như những năm trước tỷ giá luôn được định hướng tăng nhẹ vào khoản 1%/
năm thì vào năm 2008, tỷ giá công bố liên ngân hàng thường có xu hướng duy trì ổn
định đã tăng ~5%, dẫn đến tỷ giá giao dịch liên ngân hàng tăng ~10%. Trong khi đó tỷ
giá ngoài thị trường tự do tăng kịch trần vượt quá hạn mức cho phép của ngân hàng
nhà nước cho phép nhiều lần. Chênh lệch giữa tỷ giá chính thức do ngân hàng công
bố và tỷ giá tự do có sự khác biệt rất lớn.

T ỷ giá tham khảo của Ngân Hàng Nhà Nướ c Việt Nam
Giớ i hạn trên của biên độ tỷ giá
Giớ i hạn dướ i của biên độ tỷ giá
T ỷ giá hối đoại trên thị trườ ng tự do
20
19
18
17
16
15
01/01/2008


03/01/2008


05/01/2008


07/01/2008


09/01/2008


11/01/2008


01/01/2009


03/01/2009


05/01/2009


Căn cứ vào mật độ điều chính biên độ dao động tỷ giá chính thức của NHNN, 07/01/2009
ta có thể chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: từ 1/1/2008 tới 10/3/2008
Trong giai đoạn này, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng giảm
mạnh từ 16.112 đồng xuống còn 15.960 đồng. Tỷ giá trên thị trường tự do có lúc rớt
xuống thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng. Bên cạnh các nguyên nhân như lượng kiều hối
(5,5 tỷ USD) chuyển về tăng mạnh trong dịp Tết dương lịch, lượng vốn FDI và vốn
FII vào Việt Nam tiếp tục đà tăng mạnh từ năm 2007, VND lên giá chủ yếu do USD
đã mất giá quá mạnh trên thị trường thế giới trong giai đoạn đầu năm 2008. NHNN
đã tăng biên độ tỷ giá từ +/- 0,75% lên mức 1% vào ngày 10/3/2008. Khác với các lần
điều chỉnh tỷ giá khác, tỷ giá USD/VND đã về mức sàn ngay sau khi có quyết định
tăng biên độ của NHNN.
- Giai đoạn 2: từ 10/3/2008 tới 27/6/2008
Ở giai đoạn này, sự mất giá tiền VND so với USD là nguyên nhân chính dẫn
đến tỷ gia diễ biến ngược chiều so với giai đoạn 1. Tỷ giá LNH công bố từ 15.960 đ
-15.946 đồng, đặc biệt trong tháng 6/2008 khi tỷ giá trên thị trường LNH có lúc lên
tới 19.400 đồng và cao hơn 2.600 đồng so với tỷ giá trần quy định. Nguyên nhân
chính mà theo nhiều người dẫn đến sự mất giá của VND là do những số liệu cho
thấy nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát tăng cao và thâm hụt cán cân thương mại (~


18
15 tỷ USD tính đến hết tháng 6/2008). Nhu cầu USD để nhập khẩu vàng do chênh
lệch lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế (chưa tính các khoản phí,
thuế) và nhu cầu rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài do những lo ngại về nền kinh
tế trong nước cũng như lúc này nguy cơ tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng kinh tế ở
Mỹ và các tin đồn cũng là những nguyên nhân chính dẫn tới sự trượt giá của VND so
với USD. Vào ngày 27/6/2008, Ngân hàng nhà nước đã quyết định tăng biên độ tỷ giá
lên +/-2%.
- Giai đoạn 3: 27/6/2008 tới 7/11/2008
Từ tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng tài chính và bong bóng nhà đất tại Mỹ đã
hiện rõ ra gây sức ép đến VND làm cho đồng nội tệ ngày càng bị mất giá cao
Xuất khẩu yếu đi do sự xấu đi nhanh chóng của các thị trường xuất khẩu chủ
yếu như Mỹ, Nhật, khối EU do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
tại Mỹ.
Sự tăng giá của đồng USD so với các đồng tiền khác (5%-10%) do nhiều nhà
đầu tư vẫn coi USD là nơi trú ẩn an toàn trong giai đoạn khủng hoảng toàn cầu. Tại
nhiều thị trường mới nổi đã diễn ra tình trạng rút vốn lớn của các nhà đầu tư nước
ngoài khiến cho đồng nội tệ mất giá so với USD, hàng hóa của các nước này cũng
trở nên có sức cạnh tranh cao hơn so với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Cũng một
phần vì NHNN neo tỷ giá VND theo USD là chủ yếu.
Thâm hụt thương mại có dấu hiệu gia tăng trở lại khi xuất khẩu giảm sút
nhưng nhập siêu vẫn ở mức cao.
Nhu cầu rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài là rõ ràng ngay tại TTCK Việt
Nam. Tính từ khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lan rộng (giữa tháng 9/2008)
đến cuối năm, nhà ĐTNN liên tục bán ròng trên thị trường trái phiếu (~26.000 tỷ
VND) và thị trường cổ phiếu (~1800 tỷ VND), một phần số vốn thu được đã được
chuyển đổi sang USD dẫn tới cầu USD cao tại các ngân hàng nước ngoài.
Vào cuối giai đoạn này, biên độ tỷ giá được điều chỉnh vào ngày 7/11/2008 từ +/-2%
lên mức +/- 3%.
- Giai đoạn 4: từ 7/11/2008 tới 1/1/2009
Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá, tình hình có vẻ được cải thiện mặc dù tỷ
giá USD/VND LNH công bố vẫn duy trì ở mức ~16.500 đồng, tỷ giá tại các ngân
hàng thường xuyên được duy trì ở mức trần ~17.000 đồng. Tỷ giá giao dịch trên thị
trường không chính thức ở mức 17.200 đồng - 17.450 đồng. Tỷ giá giao dịch tạm ổn
định ở mức trần, được trợ giúp bởi thâm hụt thương mại được cải thiện, chênh lệch
lãi suất giữa VND và USD giảm, và việc USD có xu hướng đứng giá và giảm nhẹ so
với các ngoại tệ khác sau quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản của Fed vào ngày
17/12/2008 từ 1% xuống 0-0,25%.
Vào ngày 24/12/2008, Bộ Kế hoạch - Đầu tư công bố GDP cho năm 2008 ở
mức 6,23% thấp hơn rất nhiều so với mức dự tính trước đó là ~ 6,5%. Thông tin
thống kê xuất khẩu tháng 11 giảm 4,8% so với tháng 10 (trong khi cùng kỳ năm
trước xuất khẩu tăng 6%). Trước những thông tin lo ngại trên về tình hình kinh tế và
xuất khẩu, cùng ngày 24/12, NHNN đã công bố việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND
LNH tăng 3% (hay VND trượt giá 3%) từ mức 16.494 đồng (24/12/08) lên 16.989


19
đồng (25/12/2008). Tỷ giá USD/VND của Vietcombank cũng biến động ngay sau
công bố của NHNN lên mức 17.180-17.350 đồng. Trên thực tế, các ngân hàng dường
như đã dự tính trước về khả năng này khi ngay từ đầu tháng 12/2008, nhiều ngân
hàng đã tích cực thu mua ngoại tệ nhưng không cho vay, duy trì trạng thái dương về
ngoại tệ (ĐTCK- 26/12/2008). Cho đến những ngày đầu năm 2009, tỷ giá giao dịch
USD của các ngân hàng vẫn đứng ở mức cao sát trần: 17.370-17.480 đồng
(05/01/2009).

II.3 Thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của VN trong năm 2008 :
II.3.1 Tài khoản vãng lai:
II.3.1.1 Cán cân thương mại:
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, xuất khẩu cả năm 2008 đạt 62,9 tỷ USD,
tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu
thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất
khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3%.
Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng
và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3%. Kim ngạch
xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do sự
tăng giá trên thị trường thế giới.
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008 ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3%
so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%;
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Trong tổng kim
ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuất chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng
chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ trọng của 03 nhóm hàng này tương ứng
là: 90,4%; 7,5%; 2,1%). Nếu loại bỏ yếu tố tăng giá của một số mặt hàng thì tổng
kim ngạch nhập khẩu chỉ tăng 21.4% so với năm 2007. Nhìn chung các mặt hàng chủ
lực nhập khẩu đều tăng so với 2007. Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu phục vụ cho
sản xuất có dấu hiệu suy giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu chững lại
của sự đầu tư và sản xuất. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng đang
có xu hướng tăng vào các tháng cuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước ngoài đang
tạo sức ép lớn lên hàng tiêu dùng của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước.
Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô nguyên
chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc,
tương đương 380 triệu USD).
Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2007,
bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhập siêu đã giảm nhiều so với dự báo
những tháng trước đây nhưng mức nhập siêu năm nay vẫn khá cao, trong đó châu Á
có mức nhập siêu lớn nhất, đứng đầu là thị trường Trung Quốc với 10,8 tỷ USD, cao
hơn 1,7 tỷ USD so với năm 2007.
II.3.1.2 Cán cân dịch vụ:



20
Theo thống kê từ Tổng cục thống kê, tổng trị giá xuất khẩu dịch vụ năm 2008
ước tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4
tỷ USD, tăng 7,2%; dịch vụ vận tải hàng không đạt 1,3 tỷ USD, tăng 23,7%; dịch vụ
vận tải biển đạt 1 tỷ USD, tăng 27,7%.
Tổng trị giá nhập khẩu dịch vụ trong năm 2008 ước tính đạt 7.9 tỷ USD, tăng
10.3% so với năm 2007. Trong đó dịch vụ du lịch đạt khoảng 1.3 tỷ USD tăng 6.6%,
dịch vụ hàng không đạt khoảng 800 triệu USD giảm 2.4%, dịch vụ hàng hải đạt
khoảng 300 triệu tăng 20%.
Nhập siêu dịch vụ năm 2008 là 0,8 tỷ USD.
II.3.1.3 Thu nhập ròng từ bên ngoài:
Khoản mục này bao gồm các khoản thu ròng về cổ tức, lãi và lợi nhuận của
người cư trú từ vốn đã đầu tư ra nước ngoài (một cá nhân được xem là cư trú trong
một quốc gia khi họ sống trong quốc gia đó ít nhất là 12 tháng, các công ty đa quốc
gia được xem như cư trú nhiều quốc gia, mỗi chi nhánh của công ty đặt tại mỗi
nước sở tại được xem như cá nhân cư trú tại nước đó, các tổ chức quốc tế như WB,
IMF được coi như các nhân không cư trú đối với mọi quốc gia trên thế giới bất chấp
nó đặt trụ sở ở bất cư đâu.
Theo số liệu của các năm trước và gần nhất là quý 3 năm 2008 (mức trung
bình của 9 năm từ 1999 đến 2007 là -2% GDP, trong đó năm 2007 là -3% và quý
3/2008 là -2,9%), chúng tôi ước tính con số này vào khoảng -3% GDP. Theo đó, mức
thu nhập ròng từ bên ngoài năm 2008 ước tính là -2,61 tỷ USD (Theo số liệu tổng
cục thống kê, GDP năm 2008 là 1.478.695 tỷ VND tương đương 87 tỷ USD theo tỷ
giá liên ngân hàng ngày 19/01/2009 là 16.997 VND/USD).
II.3.1.3 Chuyển giao vãng lai ròng:
Khoản mục này bao gồm các khoản chuyển tiền đơn phương không hoàn trả.
Tại Việt Nam, khoản tiền kiều hối (khoản tiền chuyển về nước của các khu vực tư
nhân) chiếm tỷ trọng chính trong khoản mục này. Bên cạnh đó thì còn các khoản
tiền viện trợ chính thức không hoàn lại của các chính phủ và tổ chức.
Kiều hối theo thống kê của NHNN năm 2008 đạt 8 tỷ USD, viện trợ chính
thức không hoàn lại ước đạt 0,188 tỷ USD (theo số liệu chính thức từ Tổng cục
thống kê ngày 23/9/2008).
Theo đó Chuyển giao vãng lai ròng cả năm 2008 là khoảng 8,2 tỷ USD.
Như vậy, Tài khoản vãng lai năm 2008 thâm hụt 12,71 tỷ USD, giảm gần
4,4% so với mức thâm hụt 13,33 tỷ USD 6 tháng đầu năm.
II.3.2 Tài khoản vốn:
II.3.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng:
Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, trong năm 2008, lượng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài đăng ký đạt mức kỷ lục 64 tỷ USD, gần gấp 3 lần năm 2007, trong
đó 60,3 tỷ USD là vốn đầu tư đăng ký mới, 3,7 tỷ USD là vốn đăng ký tăng thêm.
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký tương đương
32,6 tỷ USD; lĩnh vực dịch vụ 27,4 tỷ USD chiếm 45.5%. Tuy nhiên, ở trong khoản
mục này, chỉ tới con số giải ngân thực tế. Theo thống kê, giải ngân FDI trong 2008
đạt khoản 11.7 tỷ USD.


21
II.3.2.2 Vay nợ trung và dài hạn:
Khoản mục này tương ứng với lượng ODA giải ngân thực tế (không tính
phần ODA không hoàn lại đã tính vào khoản mục Chuyển giao vãng lai ròng). Hiện
tại theo tổng cục thống kê ODA trong 9 tháng đầu năm đạt vào khoản 1.227 tỷ USD
dạt chỉ tiêu 74.5% so với kế hoạch cả năm trong tổng số 1.826 tỷ USD cam kết.
II.3.2.3 Vay ngắn hạn:
Theo các số liệu thống kê chính thức về khoản mục này, trong các năm trước
và quý 3/2008 (mức trung bình 9 năm từ 1999 đến 2007 là 0,11% GDP, năm 2007 là
0,1% và quý 3/2008 là 0,3%), con số năm 2008 vào khoảng 0,3% GDP, tương đương
0,261 tỷ USD.
II.3.2.4 Đầu tư danh mục chứng khoán ròng:
Khoản mục này bao gồm mua bán chứng khoán, các công cụ nợ trên thị
trường tiền tệ, công cụ phái sinh. Tuy nhiên tại thị trường Việt Nam do tính chưa
minh bạch, cũng như thị trường tài chính chưa phát triển và hoàn thiện thì khoản
mục này chủ yếu là bao gồm danh mục trái phiếu và cổ phiếu.
Theo thống kê của chúng tôi, năm 2008 đầu tư danh mục chứng khoán ròng
của các nhà đầu tư nước ngoài là -31005 tỷ đồng tương đương -1.82 tỷ USD. Trong
đó danh mục trái phiếu bán ròng 37.383 tỷ đồng (-2,2 tỷ USD), danh mục cổ phiếu
mua ròng 6.378 tỷ đồng (+0,38 tỷ USD).
Tính tới ngày 16/01/2009, Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng trái phiếu
-2.645 tỷ đồng, mua ròng cổ phiếu 151 tỷ đồng.
Điều này cho thấy sự khủng khoảng đã tác động nặng nề tới các nhà đầu tư
chứng khoán làm họ bán tống bán tháo để nhằm mục đích bảo đảm an toàn cho tài
sản của mình.
II.3.2.5 Tiền gửi:
Số liệu thống kê các năm gần đây cho thấy khoản mục tiền gửi trong tài
khoản vốn biến động thất thường, âm trong các năm từ 1999 đến 2001, 2005-2006,
trong khi dương trong các năm 2002-2004 và đặc biệt năm 2007 và quý 1 năm 2008
tăng mạnh. Cụ thể, năm 2007 là 2,623 tỷ USD (chiếm 3,7% GDP) và quý 1/2008 là
3,302 tỷ USD (chiếm tới 17,9% GDP). Trong năm 2008, chứng kiến sự suy giảm
dòng tiền gửi từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Theo số liệu của
Ngân hàng thế giới, trong năm 2008, lượng tiền gửi từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển giảm từ mức 2% của năm 2007 xuống mức 1,8% GDP của cac
nước đang phát triển. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, ước tính lượng
tiền gửi trong năm 2008 cũng chỉ vào khoảng 1,8% GDP (bằng một nửa tỷ lệ năm
2007), tương đương 1,57 tỷ USD.
Tài khoản vốn năm 2008 thặng dư 12,87 tỷ USD, đầu tư trực tiếp nước ngoài
đóng góp chính vào khoản thặng dư này (89,37%).




22
II.4 Tác động của tỷ giá tới cán cân thanh toán:

23
Về lý thuyết, tỷ giá hối đoái có tác dụng 2 mặt: Một mặt có tác dụng ảnh
hưởng tích cực tới xuất nhập khẩu, mặt khác lại ảnh hưởng đến đầu tư thu hút
nước ngoài. Do đó, cần phải điều tiết sự thay đổi tỷ giá sao cho hợp lý để có thể
vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư
sản xuất - kinh doanh, tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; vừa đảm bảo
phục vụ cho tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát.
Các ngành xuất khẩu sẽ được hỗ trợ từ tỷ giá, trong khi ảnh hưởng của tỷ
giá tới các doanh nghiệp tập trung vào nhập khẩu tùy vào khả năng chuyển giá tới
người tiêu dùng.
Tỷ giá hối đoái thường chỉ tác động đến cán cân thương mại và cán cân vốn
nên trong bài này chỉ xét tới ảnh hưởng của tỷ giá tới 2 cán cân trên.
II.4.1 Tác động tới cán cân thương mại:
Biến động về tỷ giá đã ảnh hưởng mạnh tới doanh nghiệp trong năm 2008
không chỉ thông qua kết quả kinh doanh mà còn qua việc tiếp cận tín dụng ngoại tệ.
Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu từ
nước ngoài khi phải chịu ảnh hưởng kép đặc biệt trong thời điểm giữa năm 2008:
giá nguyên vật liệu tăng và VND trượt giá.
Ngành nhựa: Công ty nhựa Bình Minh trong giai đoạn tháng 5-6/2008 thiệt hại
mỗi tháng 5-6 tỷ đồng do biến động tỷ giá.
Ngành dệt may: Tập đoàn dệt may thiệt hại khoảng 50 tỷ đồng cũng trong
giai đoạn này do chênh lệch giữa giá USD thu bán cho NHTM và giá mua USD phục
vụ mua nguyên liệu.
Ngành xăng dầu: Tại thời điểm cuối tháng 3/2008, tỷ giá thị trường thấp hơn
tỷ giá liên ngân hàng nên Petrolimex phải mua USD với giá cao hơn giá thị trường
khiến
mỗi lít xăng dầu tăng 300-400 đồng do tỷ giá. Từ tháng 4/2008, tỷ giá đảo chiều
mạnh, tỷ giá LNH giao dịch ở trần biên độ, chênh lệch tỷ giá từ thời điểm ký hợp
đồng đến thời điểm thanh toán từ 40 đ/lít lên mức 500 đ/lít ở thời điểm tháng 7-
8/2008.
Ngành dược: Trong bản giải trình báo cáo tài chính quý II/2008 của DHG,
công ty giải thích rằng việc tỷ giá tăng cao trong tháng 5-6/2008 trong khi nguyên
liệu công ty chủ yếu nhập ngoại nên đã làm tăng khoản chênh lệch tỷ giá của công
ty trong quý II/2008.
Ngành điện: PPC là một trong những trường hợp điển hình nhất trong số các
công ty bị thiệt hai do biến động tỷ giá. Với khoản vay ~ 37 tỷ Yên Nhật, PPC phải
chịu thiệt kép về tỷ giá khi VND trượt giá so với USD trong khi đồng USD cũng
giảm
giá so với Yên Nhật (tính từ tháng 6/2008 đến tháng 11/2008, Yên tăng 7,73% so
với USD trong đó nếu chỉ tính từ tháng 9-11/2008, Yên Nhật tăng giá 20%-25% so
với USD và 30%-40% so với EURO - Nguồn: TBKT). Chỉ trong 6 ngày sau khi có
thông báo về điều chỉnh lợi nhuận do lỗ tỷ giá, cổ phiếu của PPC đã giảm sàn với
mức sụt giảm tổng cộng là 23%. Theo báo cáo tài chính năm 2007, công ty phát
sinh khoản lỗ tỷ giá ~ 232 tỷ đồng và với tỷ giá JPY/VND như ở mức hiện tại


24
(JPY/VND ~ 180 đồng-184 đồng), theo chúng tôi, dự phòng chi phí tài chính sẽ là
~1.400 tỷ đồng và mức lợi nhuận cho năm 2008 của PPC sẽ là âm.
Sự biến động của tỷ giá hối đoái đã tác động mạnh mẽ tiếp tục làm thâm hụt
cán cân thương mại trong năm 2008 so với 2007 từ thâm hụt 10.2 tỷ USD lên tới 17.5
tỷ USD. Mặc dù tỷ giá không phải là nguyên nhân duy nhất tác động tới tỷ giá. Tuy
nhiên nó đã góp phần lớn vào sự thâm hụt cán cân thương mại. Chính vì việc sử
dụng tỷ giá cố định neo theo đồng USD, không linh hoạt đã làm đồng VND mất giá
làm hàng nhập trở nên đắt hơn. Và một điều nữa là tốc độ tăng trưởng nhập khẩu
hằng năm luôn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.


80 40


60 30 Tỷ l ệ tăng trưở ng xuất
khẩu hàng năm (%,
40 20 bên trái)
Tỷ l ệ tăng trưở ng nhập
khẩu hàng năm (%,
20 10 bên trái)
Cán cân thươ ng m ại
0 0 (Tỷ USD, bên phải)*
H1 2007 H2 2007 H1 2008 H2 2008 H1 2009
-20 -10 Một số số liệu thương
mại giai đoạn 2006-2009
-40 -20
II.4.2 Tác động đến
cán cân vốn:
Tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán: Trong năm 2006, 2007 đã
chứng kiến hàng loạt các công ty thực hiện cổ phần hóa, lên sàn, phát hành thêm cổ
phiếu. Năm 2007 còn được nhìn nhận là năm của IPO. Bản chất của các hoạt động
này, kể cả việc thực hiện cổ phẩn hóa (không chỉ của các công ty nhà nước) là các
hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp để đầu tư. Với lượng vốn đầu tư được
huy động qua kênh của thị trường chứng khoán, rõ ràng là mức đầu tư của VN đã
tăng lên rất nhiều. Hệ quả tất yếu của việc tăng đầu tư là nhập siêu và thâm hụt tài
khoản vãng lai. Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư tăng vọt của các doanh nghiệp
Việt Nam, một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp đã chảy vào Việt Nam.
Nếu như năm 2007 là năm của IPO thì năm 2008 là một năm sụt giảm kỷ lục,
mục tiêu cổ phần hóa và nhiều cuộc đấu giá thất bại, chưa bao giờ mối quan hệ và
ảnh hưởng từ thị trường thế giới lại thể hiện sâu sắc như trong năm qua, kinh tế
thế giới rơi vào khủng hoảng tác động đến nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đối
với xuất khẩu và đầu tư gián tiếp. Điều này đã thể hiện ở thị trường chứng khoán
Việt Nam trong năm 2008, khi thị trường này thường phản ánh trước những khó
khăn của nền kinh tế. Kết thúc năm 2008, chỉ số VN-Index và HASTC-Index có mức


25
giảm lần lượt là 65,95% và 67,51% so với cuối năm trước đó, một mức sụt giảm
chưa từng có trong lịch sử hơn 8 năm hoạt động, thuộc nhóm chỉ số giảm mạnh nhất
trên thế giới. Hàng chục nghìn tỷ đồng vốn hóa thị trường “bốc hơi” trong năm suy
giảm nghiêm trọng này
Vốn nước ngoài vào làm thu nhập dân cư trong nước tăng lên trong khi các
khoản đầu tư khác của Nhà nước vào khu vực sản xuất, hay đầu tư công của Chính
phủ tuy lớn nhưng chưa cho ra sản phẩm và thu nhập ngay. Chính vì vậy, cầu tiêu
dùng được đẩy lên rất lớn.
Một số nhà xuất khẩu có ngoại tệ không bán được cho ngân hàng nên tìm
cách nhập hàng về bán trong nước lấy tiền đồng, vừa bán được ngoại tệ vừa có lợi
nhuận nhờ nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có giấy phép xuất nhập khẩu
nên làm việc đó đơn giản. Điều đó khiến nhà nhập khẩu chuyên nghiệp khan hiếm
ngoại tệ, phải vay trên thị trường ngân hàng. Và gần đây, thanh khoản ngoại tệ của
ngân hàng bắt đầu khó khăn dẫn đến tới tỷ giá ngoại tệ bi biến động mạnh mẽ.
Khi tỷ giá tăng lên sẽ hạn chế nhà đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài vì
họ không có lợi thế trong việc chuyển đổi đồng nội tệ ra ra nước ngoài lấy đồng
ngoại tệ đang tăng giá. Các khoản đầu tư này nếu được tái đầu tư hoặc để mua
hàng hoác trong nước sẽ có hiệu quả hơn. Mặt khác, đối với nhà đầu tư nước ngoài
thì sẽ có lợi hơn khi mà dùng đồng tiền ngoại tệ mạnh đổi lấy đồng nội tệ tại nước
đầu tư.
Mặc khác cuộc huy động ngoại tệ thông qua phát hành trái phiếu quốc tế thất
bại đã góp phần suy giảm cán cân vốn so với năm trước.
Sau đây là bảng thống kê về thị trường chứng khoán Việ Nam trong 2008:




26
Bảng số liệu về Cán cân thanh toán quốc tế trong năm 2008



27
Chương III. Nguyên Nhân và giải pháp

III.1 Nguyên nhân:
Đầu tiên phải kể tới chính sách tiền tệ do Chính Phủ điều hành. Tại Việt
Nam có rất rất nhiều điều bất cập trong chính sách điều hành tỷ giá.
- Với việc ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá neo theo giá USD, vô
hình chung đã đẩy làm giao dịch chủ yếu bằng USD. Từ đó chịu sự ảnh
hưởng nặng nề hơn các nền kinh tế khác khi đồng USD biến động, đặc biệt
khi đồng USD tăng giá làm giá các nguyên liệu đầu vào trên thị trường quốc
tế tăng cao dẫn đến gía cả tăng cao. Trong khi đó hàm lượng nguyên vật liệu
nhập khẩu trong hàng hóa xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao đã làm giảm tính
cạnh tranh trên thị trường quốc tế của hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam vào các
thị trường khác như Mỹ, Châu Âu…
- Năm 2008 là năm chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lan
rộng. Cũng như các nước khác, Việt Nam thực hiện các chính sách thắt chặt
tiền tệ, các biện pháp thắt chặt tiền tệ trong quý I/2008 của Chính phủ nhằm
kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng giá tiêu dùng đã bước đầu phát huy tác
dụng nhưng cũng khiến không ít doanh nghiệp rơi vào tình thế tiến thoái
lưỡng nan do không huy động vốn để đầu tư, trong khi giá nguyên vật liệu và
chi phí nhân công tăng cao đã làm thâm hụt cán cân thương mại.
- Chính sách điều hành tỷ giá của ngân hàng nhà nước giữ chế độ
gần như cố định trong khi lạm phát tăng cao, mặc dù đã được kiềm chế so
với năm trước cũng như chính sách phá giá tiền VND để làm tỷ giá biến động
mạnh ảnh hưởng mạnh tới cán cân thanh toán.
- Sự không minh bạch trong thông tin của ngân hàng nhà nước về dự
trữ ngoại hối đã làm dấy lên nhiều tin đồn thất thiệt. Đồng thời việc bị hãng
Bên cạnh đó, sự bấp cập tồn tại rõ khi hình thành 2 tỷ giá, tỷ giá chính thức
và tỷ giá thị trường tự do. Biên độ chênh lệch ngày càng lớn giữa 2 tỷ giá đồng thời
sự khan hiếm ngoại tệ do các ngân hàng chỉ bán USD cho cá nhân, tổ chức với
những lý do rất ngặt nghèo và vòng vo đã làm tỷ giá ngày càng dao động mạnh.
Nguyên nhân góp phần không nhỏ vào sự biến động mạnh của tỷ giá chính là
sự sút giảm lòng tin vào đồng nội tệ đã dẫn đến tình trạng đầu cơ, tích trữ, găm trữ
đôla hoặc gửi có kỳ hạn dẫn đến ngân hàng có thừa đôla để cho vay nhưng lại
không đủ đôla để bản cho những các nhân, tổ chức có nhu cầu.
Áp lực lạm phát tăng cao trong khi tăng trưởng quá mức, ảnh hưởng của cuộc
khủng khoảng tiền tệ đã làm tỷ giá USD/VND tăng lên mạnh mẽ.
Đồng thời khoản mục sai số trong cán cân thanh toán quá lớn. Điều đó cho
thấy một lượng lớn tiền tư khu vực dân cư chảy ra nước ngoài tác động mạnh mẽ
vào sự thay đổi tỷ giá.


28
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã làm các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện
một cuộc bán tống bán tháo nhằm đảm bảo tài sản của mình và đã làm vỡ bong bóng
chứng khoán tại Việt Nam cũng như bong bóng nhà đất. Chính hành động đó
III.2 Giải pháp khắc phục:
Mục tiêu và định hướng của chính sách điều hành tỷ giá của NHNN trong thời
gian tới:
- Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.
- Ổn định tỷ giá trong mối tương quan cung cầu trên thị trường xuất
khẩu, kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu , cải thiện cán cân thanh toán
quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ.
- Từng bước nâng cao uy tín VND, tạo điều kiện cho VND có thể trở
thành đồng tiền chuyển đổi.
- Phối hợp với chính sách ngoại hối để chống hiện tượng đô la hoá.
Để thực hiện được mục tiêu đó, theo chúng em NHNN nên thực hiện một số
biện pháp sau đây:
- Tiếp tực hoàn thiện và thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có sự quản lý
của nhà nước. Trong xu thế toàn cầu hóa Việt Nam cần lựa chọn một chính
sách tỷ giá thả nổi có quản lý để thích ứng và tạo ra động lực phát triển nền
kinh tế nước ta trong tiến trình hội nhập vì chế độ tỷ giá thả nổi có ưu điểm
là tỷ giá luôn gắn liền với quan hệ cung cầu và tỷ giá này thích ứng với điều
kiện toàn cầu hóa của thị trường tài chính quốc tế. Bên cạnh đó Nhà nước vẫn
có thể quản lý được mức độ biến động của tỷ giá để tránh VND tăng giá cao
sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới xuất khẩu nhưng lại kích thích nhập khẩu.
- Chính sách TGHĐ phải đóng vai trò tích cực trong việc bảo hộ một
cách hợp lý các doanh nghiệp trong nước. NHNN có thể nghiên cứu áp dụng
chính sách “tỷ giá kép”, tức là tỷ giá áp dụng cho hoạt động xuất- nhập khẩu
khác với tỷ giá áp dụng cho đầu tư gián tiếp: Tỷ giá cho xuất- nhập khẩu cao
để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu; Tỷ giá cho đầu tư gián tiếp
thấp, tức là một hình thức đánh thêm thuế chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu
chính phủ Mỹ với trái phiếu chính phủ Việt Nam nhằm hạn chế đầu cơ ngắn
hạn.
- Thực hiện chính sách đa ngoại tệ. Hiện nay trên thị trường ngoại tệ,
mặc dù USD có vị thế mạnh hơn hẳn các ngoại tệ khác, song nếu trong quan
hệ tỷ giá chỉ áp dụng một loại ngoại tệ trong nước sẽ làm cho tỷ giá ràng
buộc vào ngoại tệ đó, cụ thể là USD. Khi có sự biến động về giá cả USD
trên thế giới, lập tức sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tỷ giá của USD đến VND
mà thông thường là những ảnh hưởng rất bất lợi. Điều này thể hiện rõ ở
trong năm 2008. Nước ta nên lựa chọn những ngoại tệ mạnh để thanh toán và
dự trữ, bao gồm một số đồng tiền của những nước mà chúng ta có quan hệ
thanh toán, thương mại và có quan hệ đối ngoại chặt chẽ nhất để làm cơ sở
cho việc điều chỉnh tỷ giá của VND ví dụ như đồng EURO, yên Nhật vì hiện
nay EU, Nhật là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Chế độ



29
tỷ giá gắn với một rổ ngoại tệ như vậy sẽ làm tăng tính ổn định của TGHĐ
danh nghĩa.
- Nâng cao sức mạnh cho đồng tiền Việt Nam bằng các giải pháp kích
thích nền kinh tế như: hiện đại hoá nền sản xuất trong nước, đẩy mạnh tốc
độ cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, tăng cường thu hút
vốn đầu tư trong và ngoài nước, xây dựng chính sách thích hợp để phát triển
nông nghiệp, khuyến khích xuất khẩu, bài trừ tham nhũng … Tạo khả năng
chuyển đổi từng phần cho đồng tiền Việt Nam: đồng tiền chuyển đổi được
sẽ tác động tích cực đến hoạt động thu hút vốn đầu tư , hạn chế tình trạng
lưu thông nhiều đồng tiền trong một quốc gia. Hiện tượng đô la hóa nền kinh
tế được hạn chế. Việc huy động các nguồn lực trong nền kinh tế trở nên
thuận lợi hơn, hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia đó năng động hơn.
Đồng tiền tự do chuyển đổi làm giảm sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ
vào chính sách quản lý ngoại hối và cơ chế điều hành tỷ giá, giúp cho tốc độ
chu chuyển vốn được đẩy mạnh, góp phần đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh
tế thế giới. Tuy nhiên, muốn tạo khả năng chuyển đổi cho VND phải có đủ
lượng ngoại tệ dự trữ và nền kinh tế vững mạnh. Khả năng cạnh tranh của
hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam phải được nhanh chóng cải
thiện.
- Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam để tạo điều kiện cho việc
thực hiện chính sách ngoại hối có hiệu qủa bằng cách mở rộng thị trường
ngoại hối để các doanh nghiệp, các định chế tài chính phi ngân hàng tham gia
thị trường ngày một nhiều, tạo thị trường hoàn hảo hơn, nhất là thị trường kỳ
hạn và thị trường hoán chuyển để các đối tượng kinh doanh có liên quan đến
ngoại tệ tự bảo vệ mình.
- Hoàn chỉnh thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, điều kiện cần thiết
để qua đó nhà nước có thể nắm được mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ,
đồng thời qua đó thực hiện biện pháp can thiệp của nhà nước khi cần thiết.
Trước mắt cần có những biện pháp thúc đẩy các ngân hàng có kinh doanh
ngoại tệ tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng , song song đó phải
củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp
vụ hoạt động của nó, tạo điều kiện cho NHNN phối hợp, điều hòa giữa hai
khu vực thị trường ngoại tệ và thị trường nội tệ một cách thông thoáng.
- Chú trọng hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở nội tệ. Chính
sách tiền tệ được thực hiện qua 3 công cụ: lãi suất tái chiết khấu, dự trữ bắt
buộc và nghiệp vụ thị trường mở nội tệ. Tuy nhiên, NVTTM nội tệ là công
cụ quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp đến lượng tiền cung ứng, vì vậy
nó quyết định đến sự thành bại của chính sách tiền tệ quốc gia, bên cạnh đó
nó còn tham gia tích cực vào việc hỗ trợ chính sách tỷ giá khi cần thiết.
Chẳng hạn khi phá giá sẽ tăng cung nội tệ, dẫn đến nguy cơ tạo ra lạm phát.
Để giảm lạm phát người ta tiến hành bán hàng hóa giao dịch trong thị trường
mở nội tệ, từ đó làm giảm cung nội tệ và lạm phát do đó cũng giảm theo.



30
- Vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Hoạt động
dự báo có một tầm quan trọng rất lớn trong việc phòng ngừa rủi ro hoặc đầu
cơ. NHTW có thể sử dụng các nhân tố cơ bản như thuyết PPP, hiệu ứng
Fisher quốc tế để dự báo. Ngoài ra, NHTW cần theo dõi, phân tích diễn biến
thị trường tài chính quốc tế một cách có hệ thống để có những cơ sở vững
chắc cho đánh giá, dự báo sự vận động của các đồng tiền chủ chốt.
- Nhanh chóng thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro. Trong điều
kiện tỷ giá hiện nay tiềm tàng nhiều nhân tố bất ổn chúng ta cần phải gấp
rút triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro. Chính phủ đã cho phép các
NHTM thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá như hợp đồng kỳ hạn,
hợp đồng tương lai, quyền chọn tiền tệ. Vấn đề là các NHTM và doanh
nghiệp nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và những doanh nghiệp có
thu, chi bằng ngoại tệ phải nhanh chóng sử dụng các công cụ này để phòng
ngừa rủi ro tỷ giá.


KẾT LUẬN

Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận này là đánh giá tác động của tỷ giá đối với
cán cân thanh toán quốc. Kết quả tính toán cho thấy tiền đồng trong năm 2008 đã bị
giảm giá. Tỷ giá bị biến động mạnh mẽ và do chịu nhiều tác động yếu tố khách
quan cũng như chủ quan
Có thể nói việc nghiên cứu tác động của tỷ giá có ý nghĩa hết sức quan trọng
đối với mỗi học viên, nó giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về thực trạng cán cân
xuất nhập khẩu, cán cân vốn… của nước nhà và tầm ảnh hưởng của tỷ giá mà trong
năm 2008 là một ví dụ. Từ đó có thể đưa ra các giải pháp để khắc phục tình trạng
này trong tương lai.
Và theo đó, chính sách tỷ giá trong thời gian tới, NHNN nên tiến hành hoàn
thiện cơ chế tỷ giá sao cho linh hoạt hơn, rút ngắn khoảng cách giữa tỷ giá chính
thức và tỷ giá thị trường tỷ do, từ đó làm biến mất tỷ giá thị trường tỷ do. Đồng
thời cũng không nên thực hiện một cuộc phá giá mạnh mẽ nhằm kích thích xuất để
tránh những rủi ro các khoản vay ngoại tê của doanh nghiệp, chính phủ, tình trạng
lạm phát cao...




31
DACH SÁCH NHÓM THE MEN


1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.




32
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản