Tác động khủng hoảng kinh tế Mỹ đến Việt Nam

Chia sẻ: tinidl

Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn từ cuối năm 2006 đến nay đang tàn phá thị trường tài chính Mỹ và nhiều nước trên thế giới, để lại đằng sau nhiều ngân hàng, nhiều quỹ đầu tư phá sản và nhiều tổ chức tài chính khác đang chìm ngập trong cơn bão tài chính. Mọi việc bắt đầu vào cuối năm 2006 khi thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và sụt giảm giá trị rất lớn, dẫn đến cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở tại Mỹ, nợ xấu, nợ khó đòi tăng nhanh và vỡ nợ. Đây được cho là...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tác động khủng hoảng kinh tế Mỹ đến Việt Nam

 

  1. Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới đến nền kinh tế Việt Nam Người phân tích và tổng hợp: PGS­TS Trần Hoàng Ngân Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn từ cuối năm 2006 đến nay đang tàn   phá  thị  trường tài chính Mỹ  và  nhiều nước trên thế  giới,  để  lại  đằng sau  nhiều ngân hàng, nhiều quỹ đầu tư phá sản và nhiều tổ chức tài chính khác  đang chìm ngập trong cơn bão tài chính.  Mọi việc bắt  đầu vào cuối năm  2006 khi thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và sụt giảm giá trị  rất lớn, dẫn  đến cuộc khủng hoảng tín dụng nhà   ở  tại Mỹ, nợ  xấu, nợ  khó   đòi tăng nhanh và  vỡ  nợ.  Đây  được cho là  nguyên nhân chính dẫn  đến  khủng hoảng tài chính tại Mỹ và lan rộng khắp nơi.   www.bloombe   rg.com cổ phiếu Lehman Brothers 70­ 0 USD  
  2. www.bloomberg.com cổ phiếu Merrill Lynh 75­ 22 USD/cp 1. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ: ­ Bắt đầu từ đầu năm 2001 (12/01/2001),  để giúp nền kinh tế thoát khỏi sự   trì trệ kéo dài (một phần lớn bị tác động bởi sự kiện 11/09/2001 nước Mỹ bị  khủng bố  và  Mỹ  tấn công Afghanistan, Iraq), nguyên Thống  đốc Hệ  thống  Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Alan Green Span  đã  liên tục  điều chỉnh hạ thấp  lãi suất Federal Funds từ  6% xuống còn 1% vào ngày 25/06/2003, từ   đó 
  3. dẫn   đến   các   ngân   hàng   thương   mại   cũng   hạ   lãi   suất   cho   vay   (từ   9­ 10%/năm xuống còn 4­5%/năm). Chính sách tiền tệ  của NHTW  được nới  lỏng, dư  nợ  tín dụng của hệ  thống NHTM cũng  được mở  rộng theo, nhiều  khoản vay mua nhà dưới chuẩn được thực hiện với sự tiếp sức của các môi   giới tín dụng và môi giới bất động sản (BĐS).  www.bloomberg.com Nhờ vậy thị trường bất  động sản trở nên nhộn nhịp cũng giống như ở nước  ta năm 2007 và  bong bóng BĐS  đã  hình thành với sư  giúp sức của những  nhà   đầu cơ  chuyên nghiệp. Theo  ước tính của các chuyên gia (trên   Báo  Thanh niên ngày 16/10/2008) thì  dư  nợ  cho vay dưới chuẩn tăng từ  160 tỉ  USD  ở năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007.  Điều đó cho chúng ta thấy rằng khoản cho vay dưới chuẩn đã tăng lên một  
  4. cách nhanh chóng. Cũng theo  ước tính của nhiều chuyên gia (Thời Báo  Kinh tế  VN ngày 03/10/2008) trong 22.000 tỷ  USD giá  trị  bất  động sản tại   Mỹ  thì  có  tới hơn 12.000 tỷ  USD là  tiền  đi vay, trong  đó  khoảng 4.000 tỷ  USD là  nợ  xấu.  Điều lưu  ý  là  phần lớn các hợp  đồng vay dài hạn thường   được tính theo lãi suất khả biến và điều chỉnh theo tín hiệu thị trường.  Và  cũng bắt  đầu từ  ngày 30/06/2004 FED  đã  chính thức  điều chỉnh  ­ tăng lãi suất  để  chống lại lạm phát  đang có  khuynh hướng gia tăng  trước chính sách tiền tệ  nới lỏng. FED  đã  lien tục  điều chỉnh lãi suất  FED FUNDS gia tăng từ  1% lên 1.25, 1.50, …và  5.25% vào ngày  30/06/2006, kéo theo lãi suất NHTM tăng từ  4% lên 8­9%/năm. Các  khoản tiền lãi vay phải trả  của những người mua nhà   đã  gia tăng   mạnh và đe dọa khả năng trả nợ. Thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu  đóng băng và sụt giảm giá trị,..nợ quá hạn, nợ khó đòi gia tăng và đó  là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ hiện nay. Nguồn: www.bloomberg.com lãi suất FED 2004­2008
  5. Mọi việc sẽ  bớt phức tạp nếu dừng lại  ở   đó  không “phái sinh” thêm   ­ nữa. Tại Mỹ, thị trường tài chính vốn dĩ là bà đỡ  cho nền kinh tế nên   nó   đã  bị  lợi dụng trong ván bài này. Cụ  thể  là  các khoản nợ  dưới  chuẩn này lại là cơ sở để hình thành các sản phẩm chứng khoán phái  sinh. Các nhà   đầu tư  (các ngân hàng, công ty bảo hiểm…) mua lại  các khoản thế chấp này (mortgages), sau đó các tổ chức tài chính đã  biến các hợp đồng cho vay bất động sản này làm tài sản bảo đảm để  phát hành trái phiếu ra thị  trường với tên gọi là  “ Mortgage backed  securities – MBS”. Các sản phẩm phái sinh này lại  được các tổ chức  định  mức tín  nhiệm  (Credit rating agencies)   đánh giá  cao, nên dễ  mua bán. Bên cạnh  đó, các hợp  đồng tín dụng dưới chuẩn này còn  được  các tổ   chức  bảo  hiểm  (AIG là  một  điển hình)  bảo lãnh  dưới  những hợp  đồng hoán  đổi CDS­Credit Default swap (giống như  mua   bảo hiểm rủi ro). Khi nợ  không  đòi  được tổ  chức bảo hiểm phải bồi   hoàn cho ngưới mua bảo hiểm (người cho vay). www.bloomberg.com  cổ phiếu AIG 17/10/2008 60USD xuống còn 2.1USD/cp Điều lưu ý là cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại không đơn thuần chỉ  ­ là khủng hoảng tín dụng nhà đất mà nguyên do sâu xa hơn được tích  
  6. lũy thời gian dài: do bùng nổ tín dụng, sự bùng nổ nợ tiêu dùng, nhận  thức xu hướng phát triển tồn tại mãi, sự  tôn sùng về  thị  trường tự  do  không kiểm soát, sự sùng bái thị trường tài chính, kinh tế thị trường... 2 .  Giải pháp đối phó của các nước: Đứng trước tình hình hết sức khó khăn của phố Wall, Bộ Tài Chính  và Cục  dự trữ liên bang Mỹ đã công bố kế hoạch giải cứu thị trường với tổng giá trị  là 700 tỷ USD chủ yếu để mua lại các khoảng nợ xấu của các  định chế tài  chính. Tuy nhiên, để kế hoạch này được thông qua thì cần phải có sự chấp   thuận của cả Hạ viện và Thượng viện Mỹ. 6 điểm chính của kế hoạch 700 tỷ USD của Mỹ: 1. Sẽ  ngay lập tức cho phép Bộ  trưởng Bộ  Tài chính Henry Paulson sử  dụng số tiền 250 tỷ USD để mua lại các khoản nợ xấu trong các tổ chức tài   chính. Số tiền còn lại sẽ được chi dần theo từng giai đoạn. Kế hoạch này sẽ  hết   hạn   vào   ngày   31/12/2009,   trừ   khi   Quốc   hội   Mỹ   cho   phép   gia   hạn  chương trình thêm 1 năm nữa.
  7. 2.  Đạo luật này sẽ  thành lập hai ban giám sát.  Ủy ban thứ  nhất có  tên  Ủy  ban Giám sát  Ổn  định Tài chính sẽ  bao gồm Chủ  tịch FED, Chủ  tịch  Ủy   ban Giao dịch và Chứng khoán (SEC), Giám đốc Cơ quan Tài chính Địa ốc  Liên bang, Bộ  trưởng Bộ  Nhà   đất và  Phát triển  đô  thị, Bộ  trưởng Bộ  Tài   chính.  Ủy ban này sẽ phải thường xuyên báo cáo định kỳ lên Quốc hội   về  quá trình thực hiện kế hoạch Ủy ban thứ  hai là  một  ủy ban của Quốc hội nhằm theo dõi tình hình thị  trường tài chính, hệ  thống pháp lý, và  hoạt  động của Bộ  Tài chính trong  việc sử dụng quyền lực của mình trong kế hoạch này. Ủy ban này bao gồm   5   chuyên   gia   bên   ngoài   do   Quốc   hội   chỉ   định. 3. Bộ  Tài chính sẽ  thành lập một chương trình bảo hiểm dành cho các tài  sản xấu của các doanh nghiệp với mức phí  do các doanh nghiệp trả  dựa  trên mức độ rủi ro của tài sản. Tiền bảo hiểm trả cho các doanh nghiệp sau  khi đã trừ đi số tiền bảo phí sẽ nằm trong số tiền 700 tỷ USD của kế hoạch 4. Chính phủ  Mỹ   được yêu cầu phải gây tác  động  đối với các tổ  chức cho   vay để họ giảm thiểu số vụ tịch biên nhà. Tuy nhiên, một  điểm đáng chú ý  mà  Chính phủ  Mỹ  không  thể   đạt  được thỏa thuận với Quốc hội là   điều   chỉnh các điều khoản vay vốn để giúp những người sở hữu nhà đã nộp đơn  xin phá sản có thể giữ lại được ngôi nhà của họ. 5. Trong kế  hoạch này, người nộp thuế  sẽ   được coi như  những người nắm   giữ  cổ   phần  trong   các  doanh nghiệp có  tài sản xấu  được mua lại. Nếu  Chính phủ  Mỹ  thua lỗ  vì  trả  giá  quá  cao cho các khoản nợ  xấu,  đạo luật  yêu cầu Tổng thống phải  đề  xuất một kế  hoạch thu hồi vốn trong trường  hợp   kế   hoạch   này   thua   lỗ   trong   vòng   5   năm   kể   từ   ngày   có   hiệu   lực. 6.  Đạo luật cũng như   áp dụng hạn chế   đối với lương thưởng của lãnh  đạo  các doanh nghiệp tham gia chương trình,  đặc biệt là  gói bồi thường “chiếc   dù  vàng” dành cho các lãnh  đạo doanh nghiệp rời khỏi các công ty  được  giải cứu.
  8. 29/9/2008: Hạ  viện bất ngờ  không thông qua kế  hoạch giải cứu thị  trường  tài chính Mỹ  với 205 phiếu thuận và  228 phiếu chống. Phản  ứng ngay lập  tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm 778 điểm ­   mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay. 1/10/2008: Thượng viện Mỹ  thông qua bản kế  hoạch giải cứu 700 tỷ  USD  (tỷ lệ  74­25) với một số   điểm  đã   được thay  đổi, bao gồm: gia hạn  đạo luật  cắt giảm thuế  thu nhập cho doanh  nghiệp và  cá  nhân (tính sẽ  làm ngân  sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo  hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD.  3/10/2008:  Sau 3 giờ  thảo luận và  thuyết phục nhau, Hạ  viện Mỹ   đã  bỏ   phiếu lần thứ  hai và  thông qua dự  luật giải cứu với tỷ  lệ  phiếu 262­171.  Không  đầy 2 giờ  sau  đó, Tổng thống Mỹ   đặt bút ký   để  chính thức chuyển  kế hoạch thành đạo luật.  Ngày 4/10/2008:  Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy  đã  triệu tập cuộc họp  thượng  đỉnh khẩn cấp với lãnh  đạo 4 nước lớn nhất trong Liên minh Châu   Âu là Anh, Pháp,  Đức và   Ý. Phiên họp kết thúc với tuyên bố hợp tác xử lý   khủng hoảng, nhưng không thống nhất  được một gói giải pháp tổng thể  theo mô hình của Mỹ.  Ngày 5/10/2008: Mặc dù  Thủ  tướng  Đức Angela Merkel  đã  chỉ  trích quyết  định của Ireland tuần trước về  bảo hiểm toàn bộ  các tài khoản ngân hàng  tại Ireland, ngày Chủ  nhật 5/10 Bộ  trưởng Tài chính  Đức  đã  thông báo tất   cả  các tài khoản tiền gửi ngân hàng tại  Đức sẽ   được bảo hiểm không có  giới hạn…. Ngày 7/10/ 2008 , Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định thành lập   một quỹ   đặc biệt nhằm mua vào các loại tín phiếu công ty­ thương phiếu  (commercial paper) do các doanh nghiệp nước này phát hành. Đây  được coi là  một  động thái khẩn cấp của FED    nhằm giải quyết tình  trạng kẹt tiền mặt cho giới doanh nghiệp trong bối cảnh thắt chặt tín dụng   căng thẳng, khiến các công ty Mỹ  không biết tìm  đâu ra vốn  để  trang trải  cho các hoạt động của họ Tín phiếu công ty­ Thương phiếu (commercial paper) là  những giấy tờ  có  giá  do các doanh nghiệp lớn và  phần lớn các tổ  chức tài chính hàng  đầu  của Mỹ phát hành, thường có thời hạn ngắn, từ 270 ngày trở xuống. Trước 
  9. đây, các nhà   đầu tư  cho rằng, tín phiếu công ty luôn là  một khoản  đầu tư   r ất   an   toàn   và   dễ   bán   lại. Tuy nhiên, sự  leo thang của khủng hoảng, nhất là  sau vụ  phá  sản của  Lehman Brothers,  đã khiến giới đầu tư trở nên e dè với thị trường tín phiếu,   mặc dù những giấy tờ này do các doanh nghiệp hầu như chẳng dính dáng  gì  tới hoạt  động cho vay dưới chuẩn phát hành, và  thậm chí  có  mức xếp  hạng tín nhiệm cao. Ở thời điểm tháng 8/2008, có khoảng 1.300 tỷ USD giá trị thương phiếu loại   này  được lưu hành trên thị  trường. Trong số  này, có  100 tỷ  USD tín phiếu  dưới dạng nợ không được bảo đảm của các doanh nghiệp phi tài chính, 600  tỷ USD tín phiếu dưới dạng nợ không được bảo đảm của các doanh nghiệp  tài chính, và 600 tỷ USD tín phiếu dưới dạng nợ được bảo đảm bằng tài sản  tại các doanh nghiệp phát hành. Ngày 08/10/2008 Trong một  đợt phối hợp hành  động toàn cầu nhằm ngăn   bước  tiến  của  khủng  hoảng  tài chính, Cục Dự  trữ  Liên bang Mỹ  (FED),  Ngân hàng Trung  ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Anh (BoE)  và  một số  ngân hàng trung  ương lớn khác trên thế  giới bất ngờ   đồng loạt  cắt giảm lãi suất cơ bản. Cùng tham gia vào đợt phối hợp hành động chưa  từng có này với FED, ECB và BoE còn có Ngân hàng Trung ương Canada,  Ngân hàng Trung  ương Thụy  Điển và  Ngân hàng Trung  ương Thụy Sỹ.  Trong  đó, 5 ngân hàng trung  ương trừ  Ngân hàng Trung  ương Thụy Sỹ  cùng hạ  lãi suất cơ  bản 0,5%. Với lần cắt giảm này, lãi suất cơ  bản  đồng   USD được đưa về mức 1,5%, lãi suất cơ bản Euro giảm còn 3,75%, lãi suất   Đô la Canada còn 2,5%, lãi suất cơ bản đồng Bảng Anh còn 4,5%, lãi suất   đồng Krona của Thụy Điển giảm còn 4,25%.   Trước  đó, cũng trong ngày 08/10 Ngân hàng Trung  ương Trung Quốc cắt  giảm   lãi   suất   cho   vay   kỳ   hạn   1   năm   0,27%. còn 6.93% Như  vậy,  đây là  lần thứ hai trong vòng 3 tuần, Trung Quốc tiến hành cắt  giảm lãi suất. Trong khi  đó,  đây lại là lần  đầu tiên ECB tiến hành cắt giảm  lãi suất trong 5 năm qua.  Cùng ngày 08/10/2008 Trong một  động thái chưa từng có, Chính phủ  Anh  vừa tuyên bố  một chương trình giải cứu khổng lồ  dành cho hệ  thống ngân  hàng   c ủa   nước   này. Nội dung kế hoạch :Chính phủ Anh sẽ mua lại lượng cổ phiếu ưu đãi trị giá 
  10. tới 50 tỷ Bảng, tương đương 87 tỷ USD, của nhiều ngân hàng và tổ chức tín  dụng nhà ở, 200 tỷ Bảng để tái cấp vốn cho các ngân hàng và 250 tỷ Bảng   để   bảo   lãnh   nợ   cho   các   ngân   hàng. Số  tiền  đầu tư  vào mỗi ngân hàng sẽ  khác nhau và  phụ  thuộc vào một số   yếu tố  như  cổ  tức, lương lãnh  đạo của các ngân hàng… Chính phủ  Anh   cũng yêu cầu các ngân hàng được rót vốn phải cho các doanh nghiệp nhỏ   và người sở hữu nhà được vay tiền. Hiện đã  có 8 ngân hàng và tổ chức tín  dụng nhà   ở  của Anh khẳng  định họ  sẽ  tham gia vào chương trình này là  Abbey, Barclays, HBOS, HSBC, Lloyds TSB, Nationwide Building Society,   RBS và Standard Chartered.  Cũng   ngày   08/10/2008   Cơ   quan   Giám   sát   tài   chính   Iceland   (FAS)   vừa  tuyên bố  sẽ  tiếp quản ngân hàng lớn nhất nước này là  Kaupthing Bank hf.  Như vậy, Kaupthing sẽ trở thành ngân hàng thứ ba ở Iceland quốc hữu hóa  kể từ khi khủng hoảng tài chính leo thang ở nước này trong ít ngày gần đây.  Trước Kaupthing, các nhà  chức trách của Iceland  đã  quốc hữu hóa ngân  hàng lớn thứ  hai và  lớn thứ  ba của nước này là  Landsbanki Islands hf và   Glitnir Bank hf. Iceland đã được phía Nga đồng ý cấp cho một khoản vay trị  giá 4 tỷ Euro, tương tương khoảng 5,5 tỷ USD. Ngày   09/10/2008   Hàn   Quốc   và   Đài   Loan   đã   cắt   giảm   lãi   suất   cơ   bản  0,25%, lần lượt còn 5% và  3,25%.  Đây là  lần  đầu tiên Hàn Quốc cắt giảm  lãi suất trong vòng 4 năm qua. Trong khi  đó, lãi suất cơ  bản của  Đô  la  Hồng Kông được đưa về mức 2%/năm. Ngày 12/10/2008 trước tình thế  căng thẳng  đã  buộc các nước khu vực sử  dụng   đồng   tiền   chung   châu   Âu (Eurozone)   đi tới một kế  hoạch tập thể   nhằm giải cứu ngành ngân hàng của khu vực trong ngày (12/10). Đây là kết  quả  của một hội nghị  thượng  đỉnh khẩn cấp với sự  tham gia của lãnh  đạo  15 quốc gia Eurozone do Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy chủ trì tại điện  Elysee, Paris, kết thúc ngày 12/10 theo giờ  châu  Âu. “Chúng tôi cần tới  những biện pháp cụ thể và sự đoàn kết, và chúng tôi đã có được  điều này.  Không một quốc gia đơn lẻ nào trong số các nước châu Âu có thể chấm dứt  cuộc  khủng   hoảng   này”,   Tổng  thống  Pháp  Sarkozy  tuyên  bố   trong  một  cuộc họp báo tổ chức tại điện Elysee sau hội nghị.  Các   biện   pháp   cụ   thể   mà   tuyên   bố   của   cuộc   họp   đưa   ra   bao   gồm: ­ Từ  nay tới cuối năm 2009, các nước sử  dụng  đồng Euro sẽ  cam kết bảo   lãnh cho các khoản nợ  do các ngân hàng phát hành với kỳ  hạn tối  đa 5  năm
  11. ­  Cho phép các chính phủ   được mua lại cổ  phần trong các ngân hàng; ­ Cam kết tái cấp vốn cho các ngân hàng có tầm quan trọng  đối với cả hệ   thống trong trường hợp các ngân hàng này rơi vào tình trạng căng thẳng về   thanh khoản. Các nước công nghiệp phát triển G7 trong cuộc họp tại Washington cũng tỏ  rõ quyết tâm không để ngành tài chính thế giới có thêm những kết cục xấu   như Lehman Brothers. Trước đó, Ngày 7/10, IMF công bố Báo cáo  Ổn  định tài chính toàn cầu và  tuyên bố kích hoạt một chương trình cho vay khẩn cấp trị giá hàng trăm tỷ  USD để hỗ trợ ngành tài chính toàn cầu,  đặc biệt là các ngân hàng tại các  quốc gia  đang phát triển. Quỹ  Tiền tệ  Quốc tế  (IMF) dự  báo, kinh tế  toàn  cầu sẽ  rơi vào suy thoái trong năm 2009 và  cuộc khủng hoảng tài chính  hiện nay sẽ gây tổng thiệt hại lên tới 1.400 tỷ USD. Ngày 13/10/08, 3 ngân hàng hàng đầu của Anh là Royal Bank of Scotland,   HBOS và Lloyds  đã tiếp nhận khoản vốn khổng lồ 37 tỷ Bảng (64 tỷ USD)  từ Chính phủ nước này như một phần trong kế hoạch giải cứu ngành ngân  hàng của Anh. 13/10/08 Cục Dự  trữ  Liên bang Mỹ  (FED) cho biết, các ngân hàng trung   ương lớn sẽ  cung cấp USD với khối lượng không giới hạn cho các tổ  chức  tài chính nhằm phục hồi niềm tin và   đảm bảo thanh khoản cho thị  trường.   Theo  đó, Ngân hàng Trung  ương Anh (BoE), Ngân hàng Trung  ương châu  Âu (ECB) và  Ngân hàng Trung  ương Thụy Sỹ  (SNB) sẽ  tiến hành  đấu giá  các khoản vay bằng USD có kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 84 ngày với mức lãi  suất cố   định và  khối lượng không giới hạn. Ngân hàng Trung  ương Nhật  Bản (BoJ) cũng sẽ cân nhắc áp dụng các biện pháp tương tự. Ngày 16/10, Chính phủ  Thụy Sỹ   đã  công bố gói hỗ  trợ trị giá  59,2 tỷ  USD   dành cho ngân hàng lớn nhất nước này là  UBS. Bên cạnh  đó, Chính phủ  Thụy Sỹ  cũng  đang có  kế  hoạch nâng trần bảo hiểm tiền gửi tiết kiệm và  sẵn   sàng   đảm   bảo   cho   các   khoản  vay   ngắn  hạn   và   trung   hạn   trên   thị  trường liên ngân hàng ­ tương tự  như  các biện pháp mà  hầu hết các nước  châu Âu đã  áp dụng, mà đi  đầu là nước Anh. Theo kế hoạch này, UBS sẽ   nhận được 6 tỷ Franc Thụy Sỹ, tương đương 5,2 tỷ USD, từ Chính phủ. Đổi   lại, Chính phủ  Thụy Sỹ  sẽ  có   được lượng cổ  phần 9,3% trong UBS. Bên  cạnh  đó, UBS cũng chuyển lượng tài sản xấu trị  giá  60 tỷ  USD sang một  quỹ  do Ngân hàng Trung  ương Thụy Sỹ  (SNB) hỗ  trợ. SNB sẽ  dành cho  quỹ này một khoản vay 54 tỷ USD.
  12. Ngày 17/10/2008 Singapore và  Malaysia tuyên bố  sẽ  bảo  đảm cho tất cả  tài khoản tiền gửi của người dân trong ngân hàng ­ giải pháp tương tự như  nhiều nước châu  Âu và  nền kinh tế  láng giềng khác trong khu vực như  Hồng Kông, Indonesia, Australia và New Zealand đã áp dụng trước đó. Ngày 19/10, Hàn Quốc  đã  công bố  kế  hoạch giải cứu nói trên. Theo  đó,  Chính phủ nước này sẽ dành 100 tỷ USD cho việc bảo đảm các khoản vay   giữa các ngân hàng và  chi 30 tỷ  USD  để  bơm tiền vào hệ  thống tài chính   nhằm tăng cường tính thanh khoản. Giá trị gói giải cứu này tương đương với  13% GDP của Hàn Quốc. Đồng Won của Hàn Quốc từ đầu năm tới nay đã   mất giá 37% so với USD, trở thành  đồng tiền mất giá nặng nhất  ở châu Á.  Theo các nhà phân tích, nợ ngắn hạn của Hàn Quốc hiện tương đương với  mức 76% dự trữ ngoại hối của nước này, đưa Hàn Quốc vào thế rủi ro nhất  ở châu Á trong khủng hoảng tài chính. Ngày 20/10/2008 Ngân hàng Trung  ương  Ấn  Độ   đã  tiến hành cắt giảm lãi  suất cơ  bản lần  đầu tiên trong vòng 4 năm qua nhằm ngăn chặn sự  giảm  tốc kinh tế, bất chấp lạm phát nước này vẫn đang ở mức cao. Theo  đó, lãi suất cơ  bản  đồng Rupee  đã  giảm từ  mức 9% xuống còn 8%.  Trước đó, vào ngày 11/10, Ngân hàng Trung  ương  Ấn Độ  đã  giảm tỷ lệ dự  trữ  bắt buộc  đối với các ngân hàng thương mại từ  mức 6,5% xuống còn   2,5%. Ngày 20/10, Bộ  trưởng Bộ  Tài chính Mỹ  Henry Paulson  đã  cho biết, việc  Chính phủ  nước này mua cổ  phiếu của các ngân hàng  được coi như  một  thương vụ   đầu tư  và  nó  có  thể  mang lại lợi nhuận cho những người  đóng   thuế. Khi sở hữu cổ phiếu, Chính phủ sẽ được nhận cổ tức cũng như số cổ  phiếu phổ  thông trong các ngân hàng. Chủ  tịch Cục Dự  trữ  Liên bang Mỹ  (FED) Ben Bernanke cũng  đã  có bài phát biểu kêu gọi Quốc hội nước này  thông qua gói hỗ trợ kích thích nền kinh tế trước bối cảnh nhu cầu tiêu dùng  trong   nước   đang   có   xu   hướng   giảm   đi. “Với việc nền kinh tế có thể sẽ phát triển chậm hơn trong một vài quý tới và  những rủi ro về tăng trưởng chậm sẽ tiếp tục kéo dài,  đã  đến lúc Quốc hội  nên cân nhắc thông qua kế  hoạch tài khóa mới ­ kế  hoạch kích thích tiêu  dùng ”, ông Ben Bernanke nói. Từ đó giúp thị trường chứng khoán hồi phục  nhanh.
  13. 3. Tác  động của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ   đến nền kinh tế  của Việt Nam ­ Xuất khẩu sẽ gặp khó khăn lớn và giảm cả số lượng và giá cả… do tổng   cầu thế  giới giảm và  cạnh tranh trên các thị  trường sẽ  khó  khăn, giảm thu  ngoại tệ  cho quốc gia, giảm sản xuất trong nước, giảm GDP, thất nghiệp  tăng,…Tuy nhiên nếu có  chính sách  đúng thì  vẫn có   điều kiện tăng xuất  khẩu và nhảy vào thị trường mới, khi các doanh nghiệp các nước đang gặp  khó khăn và phá sản.. ­ Du lịch quốc tế  vào VN giảm, kéo theo dịch vụ  giảm.. giảm nguồn thu  ngoại tệ cho cán cân vãng lai ­  Đầu tư nước ngoài FDI, FII, ODA giảm, giải ngân chậm…giảm nguồn thu  ngoại tệ, thị trường BĐS tiếp tục khó khăn, nợ quá hạn của NH sẽ tăng ­ Kiều hối giảm mạnh, đặc biệt là kiều hối “đầu tư”. ­  Ảnh hưởng nhất  định  đến cán cân thanh toán vãng lai, cán cân vốn, và  cán cân tổng thể ­ Lãi suất vay USD tăng, chi phí trả nợ nước ngoài tăng ­ Hệ thống NHTM gặp khó khăn trong thanh toán quốc tế và chi phí chuyển   tiền tăng do phải tránh bão. ­ Thị  trường chứng khoán tiếp tục diễn biến phức tạp, do vốn nước ngoài   rút. ­ Vấn đề việc làm, an sinh xã hội là bài toán khó… Kiến nghị với Chính phủ : 4. Tiếp tục thực hiện  đồng bộ  8 giải pháp như   đã  ban hành. Tuy nhiên  ­ cần  ưu tiên cho việc kiểm soát chặt chẽ đầu tư công và tiết kiệm chi  
  14. ngân sách, thắt lưng buộc bụng, từ   đó  có  thể  giảm bớt sự  thắt chặt  chính sách tiền tệ. ­ Duy trì lãi suất hợp lý, không quá cao  để ổn định kinh tế. Không nên   quá  tập trung tăng trưởng kinh tế  trong ngắn hạn, tăng trưởng bền  vững,  đi  đôi với  ổn  định môi trường, giải quyết an sinh xã  hội, phát   triển giáo dục, sức khỏe, hạn chế  tiêu cực xã  hội,..là   ưu tiên hàng   đầu. duy trì tăng trưởng GDP năm 2009 ở mức 6% là chấp nhận được  trong tình hình thế giới hiện nay. ­ Giá  lương thực, nông sản, dầu thô  thế  giới giảm mạnh sẽ  góp phần  giảm mạnh lạm phát  ở  nước ta (lạm phát của năm 2009 sẽ   ở  mức  dưới 12%). Vì  vậy NHTW cần nhanh chóng giảm lãi suất cơ  bản (có  thể giảm ngay 100 diểm= 1%), có thể giảm nhẹ DTBB từ 11% xuống  10%, 9%...từ đó giúp NHTM có điều kiện giảm nhanh lãi suất cho vay   để  hỗ  trợ  doanh nghiệp duy trí  và  mở  rộng lại sản xuất kinh doanh,  đẩy mạnh xuất khẩu khi co cơ hội tốt. Quan trọng là giảm thất nghiệp   đảm bảo an sinh xã hội, phục hồi tăng trưởng kinh tế.. ­ Khi có  dấu hiệu lạm phát giảm mạnh, thì  cần cải tổ  chính sách tiền  lương CBCC nhà nước, hành chính sự nghiệp… Lưu  ý: Ngày 20/10/2008 Thống  Đốc NHNNVN  đã  ban hành các Quyết  định có hiệu lực kể từ ngày 21 tháng 10 năm 2008:  ­ Quyết định số 2316/QĐ­NHNN ngày 20/10/2008 về mức lãi suất cơ bản   bằng đồng Việt Nam; theo đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam giảm từ   14%/năm xuống 13%/năm.  ­ Quyết  định số 2321/QĐ­NHNN ngày 20/10/2008 về lãi suất tiền gửi dự   trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng; theo đó, lãi suất  tiền gửi dự  trữ  bắt buộc bằng  đồng Việt Nam  đối với tổ chức tín dụng tăng   từ 5%/năm tăng lên 10%/năm. 
  15. ­ Quyết định số 2318/QĐ­NHNN ngày 20/10/2008 về lãi suất tái cấp vốn,  lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua  đêm trong thanh toán  điện tử   liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của  Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng; theo đó, lãi suất tái   cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống 14%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ  13%/năm xuống 12%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện  tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của   Ngân hàng Nhà  nước Việt Nam  đối với các ngân hàng giảm từ  15%/năm   xuống 14%/năm.  ­  Quyết   định  số  2317/QĐ­NHNN ngày 20/10/2008 về  việc thanh toán  trước hạn tín phiếu NHNN bắt buộc; theo đó, kể từ ngày 21/10/2008, NHNN   thanh toán trước hạn 20.300 tỷ   đồng tín phiếu NHNN dưới hình thức bắt  buộc phát hành kể từ ngày 17/3/2008 theo nhu cầu rút trước hạn của các tổ  chức tín dụng.  Cần có  một gói giải pháp  để  hỗ  trợ  doanh nghiệp xuất khẩu: thuế,  ­ vốn, lãi suất, tỷ giá, xúc tiến thương mại… Có  một gói giải pháp  để   ổn  định thị  trường bất  động sản, tạo tính   ­ thanh khoản cho thị trường BĐS…Hình thành một quỹ đặc biệt để có  thể mua lại những BĐS tiềm năng (cả BĐS của các NHTM giải chấp)   và  khi tình hình  ổn  định bán lại cho nhà   đầu tư  nước ngoài và  trong  nước, giải quyết  được nợ  quá  hạn cho NHTM… chuẩn bị  những kịch  bản cho một vài NHTM yếu kém. Kiểm   tra   giám   sát   “sức   khỏe”   các   NHTM   một   cách   thường   xuyên  ­ thông qua báo cáo tuần. Kiểm tra giám sát “sức khỏe” các đại gia bất động sản.  ­ Kiểm soát chặt chẽ  nhập khẩu, không  để  nhập siêu quá  lớn,   tăng  ­ thuế các mặt hàng xa xỉ..
  16. Lưu  ý:  đây vừa là nguy cơ thách thức, vừa là cơ hội tốt nếu có  quyết   ­ sách thích hợp. khó  khăn của doanh nghiệp này sẽ  là  cơ  hội của  doanh nghiệp khác. Tài liệu tham khảo: www.vneconomy.vn www.thanhnien.com.vn www.tuoitre.com.vn www.bloomberg.com www.chinhphu.vn www.sbv.gov.vn ­Các ý kiến đóng góp của các thành viên nhóm Nghiên cứu vĩ mô UEH­   Ths   Nguyễn   Hồ   Nam,   NCS   Đinh   Thế   Hiển­   TS   Phạm   văn   Tài­   Ths   Phạm   Trường   Sơn,   Mr.   Nguyễn   Tiến   Dũng,   TS   Lê   Anh   Tuấn,   ThS  Nguyễn thị Thùy Linh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản