TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

Chia sẻ: Thu Thuy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:46

1
772
lượt xem
193
download

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hoạt động công đoàn cơ sở có tầm quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống. Để đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ, năng lực hoạt động cho đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở, tài liệu Bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở hoàn thành nhiệm vụ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam biên soạn Bộ “Tài liệu bồi dưỡng cán bộ Công đoàn cơ sở” mang tính thống nhất trong các cấp công đoàn. Nội dung là những vấn đề rất cơ bản, rất cần thiết đi sâu...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

  1. TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ  (Ngày đăng: 13/12/2008 ) http://www.congdoanhanoi.org.vn/news.php?tinid=127&loai=24 Lời mở đầu: Hoạt động công đoàn cơ sở có tầm quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống. Để đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ, năng lực hoạt động cho đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở, tài liệu Bồi dưỡng cán bộ công đoàn cơ sở hoàn thành nhiệm vụ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam biên soạn Bộ “Tài liệu bồi dưỡng cán bộ Công đoàn cơ sở” mang tính thống nhất trong các cấp công đoàn. Nội dung là những vấn đề rất cơ bản, rất cần thiết đi sâu vào thực tiễn hoạt động ở cơ sở. Kiến thức, kỹ năng được kế thừa các mặt ưu việt của các tài liệu đã biên soạn trước đó và bổ sung cập nhật thêm những kiến thức mới. Chương trình gồm 9 bài, theo một quá trình nhận thức từ hiểu biết đến rèn luyện kỹ năng, phù hợp với điều kiện của cán bộ công đoàn cơ sở. Từ bài 1 đến bài 3: cung cấp những hiểu biết cơ bản về tổ chức, hoạt động công đoàn cho cán bộ công đoàn cơ sở mới tham gia công tác công đoàn. Bài 1: Những vấn đề cơ bản về Công đoàn Việt Nam  Bài 2: Nguyên tắc, phương pháp hoạt động Công đoàn Bài 3: Quyền công đoàn theo quy định của pháp luật Từ bài 4 đến bài 9: một số nội dung nghiệp vụ, kỹ năng cơ bản hoạt động công đoàn. Bài 4: Nội dung, phương pháp công tác của chủ tịch công đoàn cơ sở Bài 5: Công đoàn cơ sở với công tác tiền lương Bài 6: Công đoàn cơ sở với công tác bảo hộ lao động Bài 7: Công đoàn cơ sở với công tác bảo hiểm xã hội Bài 8: Thoả ước lao động tập thể và kỹ năng thương lượng Bài 9: Tranh chấp lao động giải quyết tranh chấp lao động và đình công Bước đầu thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn, trong quá trình áp dụng mong muốn sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp của công đoàn các cấp, giảng viên kiêm chức, học viên và bạn đọc quan tâm, góp ý để Bộ tài liệu được hoàn thiện. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Bài 1: Những vấn đề cơ bản về Công đoàn Việt Nam  (Ngày đăng: 13/12/2008 ) Từ thế kỷ XV chủ nghĩa tư bản đã nảy sinh ngay trong lòng chế độ phong kiến các nước Tây Âu nhưng còn ở mức độ công trường thủ công. Đến thập kỷ 80 của thế kỷ XVIII (thời kỳ châu Âu phục hưng), hàng loạt những phát minh máy móc ra đời. Giai cấp tư sản Anh đã tận dụng triệt để những thành quả này để thực hiện khát vọng lợi nhuận của mình. Chúng đầu tư máy móc, công xưởng, nhà máy, chuyển nền sản xuất nhỏ-lao động công trường thủ công sang sản xuất lớn bằng máy móc công nghiệp. Người ta đã lấy năm 1764(1764 Giêm Hagrivơ sáng chế ra sa máy, xe 12 sợi; 1784 Giêm Óat phát minh máy hơi nước; 1785 Ét Man Cacrai phát minh ra máy dệt) là năm mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp của nước Anh và là cuộc cách mạng công nghiệp đầu
  2. tiên của nhân loại. Cách mạng công nghiệp là hiện tượng phổ biến của nhiều nước trên thế giới nhưng ở nước Anh sớm hơn khoảng 50 đến 100 năm. Nền công nghiệp lớn hình thành tạo ra nhiều sản phẩm xã hội, giai cấp tư sản ngày càng tích lũy được số tư bản khổng lồ, nắm vận mệnh xã hội. Ngược lại giai cấp vô sản ngày càng lâm vào tình cảnh lầm than, áp bức bóc lột. Mâu thuẫn giữa hai giai cấp tư sản và vô sản ngày càng trở nên sâu sắc. Đã có nhiều cuộc đấu tranh đòi quyền lợi từ thấp đến cao, từ đơn lẻ tự phát đến đoàn kết, liên minh, tập hợp, có tổ chức. Đó là cơ sở thực tiễn hình thành tổ chức công đoàn đầu tiên của nước Anh (1776). Từ đó phong trào công đoàn đã phát triển ra các khu vực trên phạm vi toàn thế giới. Công đoàn là thực thể khách quan tất yếu trong xã hội công nghiệp. Ở Việt Nam vào nửa đầu thế XX do ảnh hưởng những tư tưởng chính trị, xã hội tiến bộ trên thế giới (học thuyết Mác-Lênin), vai trò của các lãnh tụ Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Đức Cảnh, hoạt động tích cực của tổ chức Đảng Cộng sản và phong trào công nhân, Công đoàn Việt Nam đã ra đời trong hoàn cảnh đất nước nghèo nàn lạc hậu, Nhà nước nửa thuộc địa phong kiến, giai cấp công nhân trưởng thành qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Từ khi ra đời (28/7/1929), Công đoàn Việt Nam luôn chăm lo bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động, chịu sự lãnh đạo của Đảng, gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Công đoàn Việt Nam đã và đang tiếp tục chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng và tập hợp đông đảo công nhân viên chức, lao động (CNVC-LĐ) trong các thành phần kinh tế, đi đầu làm nòng cốt trong các phong trào cách mạng do Đảng khởi xướng, thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. 1. Tính chất của Công đoàn Việt Nam Tính chất là đặc trưng của sự vật nói nên cái này khác với cái kia. Tinh chất của một tổ chức là “đặc điểm riêng” tương đối ổn định của tổ chức, phản ánh thực tế khách quan về mục tiêu, tôn chỉ của tổ chức khi hình thành và xuyên suốt trong quá trình phát triển, với các mối quan hệ, các nguyên tắc, phương pháp tổ chức hoạt động. Giai cấp công nhân vừa là nguồn gốc vừa là cơ sở xã hội hình thành, tồn tại phát triển tổ chức công đoàn. Bởi công đoàn ra đời là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Hình thức tổ chức của công đoàn là liên hiệp công nhân lao động theo nghề nghiệp (Trade Union) và dựa trên nguyên tắc tự nguyện…Từ những “đặc điểm riêng đó” đã xác định Công đoàn ViệtNam có hai tính chất: tính chất quần chúng và tính chất giai cấp của giai cấp công nhân. a. Biểu hiện tính chất giai cấp của giai cấp công nhân - Công đoàn Việt Nam là tổ chức đoàn thể của giai cấp công nhân, ra đời tồn tại phát triển nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của giai cấp công nhân. - Công đoàn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân; thực hiện mục tiêu, quán triệt nguyên tắc tổ chức - tập trung dân chủ, đường lối xây dựng cán bộ của Đảng.
  3. b. Biểu hiện tính chất quần chúng - Kết nạp CNVC-LĐ vào tổ chức không phân biệt nghề nghiệp tín ngưỡng thành phần… - Cán bộ công đoàn trưởng thành từ phong trào quần chúng CNVC-LĐ và được họ tín nhiệm bầu ra. - Nội dung hoạt động của Công đoàn đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo CNVC-LĐ. Hai tính chất của Công đoàn có quan hệ gắn bó mật thiết phản ánh bản chất của Công đoàn ViệtNam. Cần quán triệt sâu sắc hai tính chất này trong tư tưởng chỉ đạo, xây dựng tổ chức và hoạt động, không coi trọng tính chất hoặc xem nhẹ tính chất kia. 2. Vị trí của tổ chức đó trong điều kiện chính trị, xã hội. Công đoàn Việt Nam ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy Công đoàn có một vị thế nhất định trong đời sống chính trị xã hội Việt Nam và trong tâm thức của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam nói chung. Cụ thể hơn vị trí Công đoàn Việt Nam còn được thể hiện trên cơ sở pháp lý, quy định trong các văn bản pháp luật cơ bản, hiện hành và các văn bản dưới luật. Tại khoản 1 Điều 1 Luật Công đoàn Việt Nam năm 1990 quy định: “Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính trị xã hội ViệtNam”. Nghiên cứu vị trí của Công đoàn Việt Nam để từ đó biết được các mối quan hệ với các tổ chức chính trị, xã hội khác nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của công đoàn: - Với Đảng, Công đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỗ dựa vững chắc và là sợi dây chuyền nối liền quần chúng với Đảng. - Với Nhà nước, Công đoàn là người cộng tác đắc lực, bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, ngược lại Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý và cơ sở vật chất cho Công đoàn hoạt động. - Với tổ chức chính trị, xã hội khác, Công đoàn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hạt nhân trong khối liên minh Công, Nông, trí thức, bình đẳng, tôn trọng, tạo điều kiện cho nhau hoạt động (thông qua các Nghị quyết liên tịch…) 3. Vai trò của Công đoàn Việt Nam Vai trò của một tổ chức là nói đến sự tác động của tổ chức đó đến tiến trình phát triển của lịch sử và cách mạng, được phản ánh trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng mà tổ chức đó tồn tại và phát triển. Sự tác động của tổ chức công đoàn được dựa trên cơ sở tính chất, vị trí của tổ chức thông qua các hoạt động phong trào cách mạng của quần chúng công nhân lao động. Để các phong trào hành động cách mạng của quần chúng trước hết công đoàn phải có quá trình tập hợp, tuyên truyền, hướng dẫn CNVC- LĐ… Đó chính là vai trò trường học của Công đoàn. Vai trò của Công đoàn Việt Nam trong các thời kỳ: Thời kỳ chưa có chính quyền, Công đoàn có vai trò là trường học đấu tranh giai cấp,
  4. đấu tranh giải phóng dân tộc. Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Công đoàn có vai trò là trường học Chủ nghĩa xã hội của người lao động: Công đoàn tham gia quản lý sản xuất, quản lý xí nghiệp…; tham gia tích cực vào việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hoàn thiện các chính sách kinh tế…; giáo dục thái độ lao động mới, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật, văn hoá, lối sống… Ngày nay trong giai đoạn cách mạng mới, đất nước bước vào thời kỳ CNH-HĐH, vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng phát triển, mở rộng thông qua các phong trào cách mạng của CNVC-LĐ tác động trên các lĩnh vực: - Kinh tế: trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Công đoàn tham gia đổi mới cơ chế quản lý, củng cố nguyên tắc tập trung mở rộng dân chủ, đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các thành phần kinh tế, đảm bảo kinh tế quốc doanh giữ vai trò then chốt, chủ đạo… - Chính trị: Công đoàn là sợi dây chuyền nối tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng CNVC-LĐ, xây dựng giai cấp công nhân, củng cố khối liên minh công, nông và tri thức, góp phần ổn định chính trị - Văn hoá - xã hội: Công đoàn tuyên truyền giáo dục CNVC-LĐ chống tiêu cực và tệ nạn xã hội, xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ văn hoá chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, tính tích cực sáng tạo của CNVC-LĐ. 4. Chức năng của Công đoàn Việt Nam Chức năng của một tổ chức là sự phân công tất yếu, sự quy định chức trách một cách tương đối ổn định và hợp lý trong điều kiện lịch sử - xã hội nhất định. Chức năng của Công đoàn mang tính khách quan, nó được xác định bởi tính chất, vị trí và vai trò của tổ chức Công đoàn. Song từng điều kiện lịch sử và phát triển kinh tế, xã hội, các chức năng của Công đoàn được bổ sung nội dung, ý nghĩa mới cho phù hợp. Công đoàn Việt Nam có ba chức năng. 1. Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động. 2. Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước trong phạm vị chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật. 3. Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và phát triển bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Chức năng của Công đoàn là một chính thể, một hệ thống đồng bộ, đan xen tương tác lẫn nhau. Trong đó, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động mang ý nghĩa trung tâm - mục tiêu hoạt động công đoàn. Từ các chức năng này sẽ định ra các nhiệm vụ cụ thể của công đoàn.
  5. Bài 2: Nguyên tắc, phương pháp hoạt động Công đoàn  (Ngày đăng: 13/12/2008 ) I. Nguyên tắc hoạt động công đoàn Nguyên tắc là những tập hợp quy định, quy tắc chỉ đạo hành động. Nguyên tắc hoạt động Công đoàn là những quy định cơ bản, ổn định; là chuẩn mực để hướng dẫn nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động, thực hiện chức năng của Công đoàn và được thiết lập ngay từ ngày đầu xuất hiện tổ chức. 1. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Đảng CSVN là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị xã hội Việt Nam. Tất cả những thành viên trong hệ thống chính trị trong đó có Công đoàn đều đặt hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt động của Công đoàn luôn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vào chương trình hoạt động của mình. Thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc thông tin báo cáo tình hình và kết quả hoạt động. 2. Liên hệ mật thiết với quần chúng Công đoàn là tổ chức quần chúng rộng lớn của CNVC-LĐ, ngược lại CNVC-LĐ là cơ sở xã hội của Công đoàn. Sức mạnh của Công đoàn là mối liên hệ mật thiết với quần chúng để thu hút, tập hợp, thống nhất ý chí hành động. Nếu xa rời quần chúng Công đoàn sẽ không còn “đất hoạt động”. Cán bộ công đoàn cần nhận thức đầy đủ về vai trò quyết định của quần chúng tăng cường mối quan hệ với quần chúng, hoà mình với quần chúng, giành được niềm tin của quần chúng, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của họ để hướng hoạt động của Công đoàn đáp ứng được yêu cầu càng mới càng cao của quần chúng. Liên hệ mật thiết với quần chúng công đoàn thường được cụ thể bằng sự tiếp cận,, đi lại thăm hỏi trong những dịp sinh nhật, hiếu, hỷ, lễ, tết; tổ chức các hoạt động quần chúng; chia xẻ, lắng nghe ý kiến phản ánh của quần chúng. 3. Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng Tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động Công đoàn là người đoàn viên tự nguyện ra nhập tổ chức Công đoàn, tự nguyện tham gia, thực hiện các nhiệm vụ được giao trên cơ sở nhận thức được trách nhiệm và lợi ích của công việc mà chính mình có bổn phận hoàn thành. Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động Công đoàn có nghĩa là không gò ép, áp đặt mà để đoàn viên tự giác tham gia hoạt động. Trước khi tiến hành một việc dù nhỏ, dù lớn cũng cần có sự giải thích, tuyên truyền thuyết phục để đoàn viên hiểu ý nghĩa, nhận thức trách nhiệm, tự nguyện hành động. Muốn vậy, những hoạt động của Công đoàn phải có nội dung sát thực với những vấn đề mà quần chúng quan tâm, hình thức thể hiện hấp dẫn lôi cuốn quần chúng tham gia. Tuy nhiên cũng không chiều theo ý muốn quần chúng, khi những vấn đề chưa phù hợp với nguyện vọng đông đảo của CNVC-LĐ. 4. Tập trung dân chủ Trong hoạt động Công đoàn, tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản
  6. của CĐVN đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và hành động chống sự “tập trung quan liêu” và “dân chủ vô tổ chức”. Công đoàn Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện qua các nội dung cơ bản sau: - Cơ quan lãnh đạo của các cấp Công đoàn đều do bầu cử lập ra. - Quyền quyết định cao nhất của mỗi cấp Công đoàn thuộc về Đại hội Công đoàn cấp đó. - Giữa 2 kỳ Đại hội cơ quan lãnh đạo cao nhất là Ban Chấp hành do Đại hội cấp đó bầu ra. (Trong trường hợp đặc biệt Công đoàn cấp trên có thể chỉ định Ban Chấp hành cấp dưới nhưng không quá 12 tháng) - Ban Chấp hành Công đoàn các cấp thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức. II. Phương pháp hoạt động công đoàn Phương pháp là cách thức, là con đường, phương tiện để đạt tới mục đích. Phương pháp hoạt động Công đoàn là cách thức làm việc của cán bộ công đoàn và đoàn viên trên cơ sở mục đích, nội dung và nguyên tắc đã xác định. 1. Phương pháp thuyết phục Đó là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, bằng lý lẽ và việc làm mẫu mực để người được thuyết phục hiểu được mục đích của vấn đề tin theo và làm theo. Có nhiều dạng thuyết phục: thuyết phục bằng tình cảm, bằng lý trí, bằng khuyến khích lợi ích hoặc đề cao nghĩa cử để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ mà tham gia hoạt động. Thuyết phục là một nghệ thuật do đó đòi hỏi cán bộ công đoàn phải xâm nhập thực tiễn, sâu sát tình hình, hiểu biết tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh, trình độ đoàn viên và lao động. Người thuyết phục phải có uy tín, có trình độ hiểu biết nhất định. Điều đó biểu hiện bằng hành vi, lối sống chuẩn mực, tri thức, lý luận, tâm lý, khả năng truyền cảm… Các bước thuyết phục thường từ thăm hỏi, động viên, chia xẻ, giúp đỡ… sau là bày tỏ nội dung. Đối tượng thuyết phục không chỉ là quá trình tác động từ cán bộ công đoàn đến đoàn viên và người lao động mà còn được vận dụng từ quần chúng đến quần chúng. Đó là thông qua việc nêu gương điển hình và hình thành dư luận xã hội. Đồng thời đối tượng thuyết phục còn cả là người quản lý, sử dụng lao động. Để sử dụng phương pháp thuyết phục có hiệu quả trong hoạt động công đoàn, cần tránh tình trạng “nói hay làm dở”, truy chụp”, “đao to búa lớn”, quan liêu mệnh lệnh, gò ép quần chúng… 2. Tổ chức cho quần chúng hoạt động Tổ chức cho quần chúng hoạt động là công đoàn tổ chức các phong trào thu hút đoàn viên và lao động tham gia hoạt động một cách sâu rộng theo các chuyên đề như: Tổ chức các phong trào lao động giỏi, lao động sáng tạo, thi đua lao động sản xuất đạt năng
  7. suất cao, chất lượng tốt…tổ chức tham gia xây dựng Thỏa ước lao động tập thể, quy chế dân chủ của đơn vị, tổ chức đối thoại giữa CNVC-LĐ với người quản lý sử dụng lao động, tổ chức các phong trào văn hoá quần chúng… Tổ chức cho quần chúng hoạt động nhằm: thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn; nâng cao uy tín và sức mạnh của tổ chức Công đoàn; tạo mối quan hệ mật thiết giữa Công đoàn và quần chúng. Vì vậy, số lượng CNVC-LĐ tham gia càng lớn thì hiệu quả hoạt động của Công đoàn càng cao. Tổ chức cho quần chúng hoạt động công đoàn cần nghiên cứu chủ đề có nội dung thiết thực, hình thức hoạt động phù hợp, thời điểm thuận lợi, đồng thời cần tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng, sự tích cực tạo điều kiện của chủ doanh nghiệp, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị. Trong việc tổ chức quần chúng hoạt động công đoàn phải xây dựng kế hoạch cụ thể chi tiết. Trong đó các Ban quần chúng, các công đoàn bộ phận, tổ công đoàn sẽ giúp về tuyên truyền vận động, các đoàn viên có nhiệt tình năng lực, năng khiếu sẽ làm nòng cốt cho hoạt động… 3. Xây dựng hệ thống quy chế và tổ chức hoạt động bằng quy chế Công đoàn xây dựng và tham gia các quy chế và tổ chức thực hiện theo các quy định là một trong những nội dung đổi mới hoạt động công đoàn. Để xây dựng hệ thống quy chế và tổ chức hoạt động bằng quy chế của Công đoàn phát huy tác dụng, cán bộ công đoàn cần am hiểu luật pháp, nắm vững chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn, đặc điểm tình hình của tổ chức cơ quan đơn vị. quy chế của một cơ quan, đơn vị là “luật” được thu nhỏ phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị nhưng không trái với pháp luật Nhà nước và Điều lệ Công đoàn. Trong quá trình thực hiện quy chế, Công đoàn cần sử dụng tổng hợp các phương pháp Công đoàn, thường xuyên tổng kết rút kinh nghiệm, phát hiện những bất hợp lý trong quy chế, để sửa đổi bổ sung cho hoàn thiện. Công đoàn cần xây dựng và thực hiện các loại quy chế sau: 1. Quy chế hoạt động trong nội bộ của tổ chức Công đoàn là những quy định về lề lối làm việc, nhiệm vụ và trách nhiệm của Ban Chấp hành, của Chủ tịch, của các Ủy viên Ban Chấp hành và các chức danh khác của Công đoàn. 2. Quy chế phối hợp hoạt động giữa Ban Chấp hành với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị cùng cấp là những quy định về cơ chế phối hợp hoạt động giữa Ban Chấp hành Công đoàn với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nhằm giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai bên và tạo điều kiện hỗ trợ nhau thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên vì mục đích chung của cơ quan, đơn vị. 3. Quy chế quản lý cơ quan, đơn vị là những quy định trách nhiệm, quyền hạn của mỗi thành viên trong cơ quan, đơn vị nhằm góp phần xây dựng cơ quan đơn vị không ngừng phát triển. Bài 3: Quyền công đoàn theo quy định của pháp luật  (Ngày đăng: 13/12/2008 ) I. Giới thiệu chung về quyền công đoàn Quyền Công đoàn được hiểu theo hai nghĩa: Quyền của người lao động và quyền của tổ chức Công đoàn
  8. - Quyền của người lao động: là một trong những quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận. Mọi công nhân, viên chức, lao động (gọi chung là người lao động), nếu có đủ điều kiện theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam đều có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn. - Quyền công đoàn: là các quyền của tổ chức công đoàn, với tư cách là tổ chức chính trị- xã hội của giai cấp công nhân và người lao động, được pháp luật ghi nhận. Theo nghĩa này, quyền công đoàn chính là những điều kiện và đảm bảo pháp lý để công đoàn thực hiện các chức năng cơ bản của mình. Nội dung phần này đề cập đến quyền công đoàn theo nghĩa thứ hai, đó là các quyền của tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật. 1. Khái quát về cơ sở pháp lý của quyền công đoàn Quyền công đoàn được quy định tại Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị định, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; thông tư, quyết định của Bộ trưởng,, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ v.v…(*) ---------------------------------------------- (*) Một số văn bản pháp luật quan trọng, chủ yếu quy định về quyền Công đoàn: - Hiến pháp 1992; - Luật Công đoàn năm 1990; Nghị định 133HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng hướng dẫn thi hành Luật Công đoàn; Nghị định số 302/HĐBT ngày 19/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về quyền và trách nhiệm của Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp, cơ quan; Chỉ thị số 60/ngày 24/2/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Nghị định 133/HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng: Quy chế về mối quan hệ công tác giữa Chính phủ với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành theo Quyết định số 465/TTg ngày 27/8/1994 của Thủ tướng Chính phủ. - Bộ luật Lao động năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996; các văn bản của Chính phủ, Bộ, ngành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động. - Các luật tổ chức nhà nước; Luật Tổ chức Quốc hội năm 2002, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2002, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Nội dung các văn bản pháp luật liên quan đến quyền công đoàn chủ yếu quy định về những vấn đề sau: - Ghi nhận về địa vị pháp lý của tổ chức Công đoàn; - Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Công đoàn; - Quy định về mối quan hệ giữa công đoàn với cơ quan Nhà nước, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan; - Xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối
  9. hợp, tạo điều kiện hoạt động của công đoàn… 2. Đặc điểm của quyền Công đoàn Các quyền Công đoàn có 3 đặc điểm cơ bản như sau: - Thứ nhất: Quyền công đoàn không phải do công đoàn quyết định mà do pháp luật quy định. Đặc điểm này giúp ta phân biệt quyền công đoàn với một số quyền của các cá nhân tổ chức khác; mặt khác, giúp ta phân biệt giữa quyền công đoàn và chức năng công đoàn. Bởi vậy quyền công đoàn là những quyền của tổ chức công đoàn do Nhà nước quy định. Quyền công đoàn là những bảo đảm pháp lý do Nhà nước tạo ra cho công đoàn, để công đoàn sử dụng nhằm thực hiện chức năng của mình. Đó là những điều kiện bảo đảm về pháp lý, được công đoàn sử dụng như là một trong những công cụ quan trọng, không thể thiếu. - Thứ hai: Quyền công đoàn không bao gồm các nghĩa vụ hợp thành Thông thường, trong các quan hệ pháp lý, chủ thể có quyền thường đi đôi với trách nhiệm gánh vác các nghĩa vụ. Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Tuy nhiên, với Công đoàn, Nhà nước chủ yếu quy định các quyền mà không trực tiếp quy định các nghĩa vụ của công đoàn. Như vậy không có nghĩa là trong các quan hệ pháp lý, công đoàn không có nghĩa vụ gì mà cần phải hiểu rằng các nghĩa vụ của công đoàn chủ yếu tồn tại dưới dạng các trách nhiệm của công đoàn. -Thứ ba, trong quan hệ lao động, quyền công đoàn góp phần tham gia điều chỉnh quan hệ lao động Trong quan hệ lao động, công đoàn vừa là một bên quan hệ lao động, vừa tham gia vào việc điều chỉnh quan hệ lao động. Xuất phát từ đặc điểm của quan hệ lao động, người lao động thường có vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động. Do đó, thông qua công cụ pháp luật, Nhà nước quy định cho công đoàn có những quyền với tư cách như một bên quan hệ lao động, đồng thời với tư cách đại diện cho tập thể lao động tham gia điều chỉnh quan hệ lao động, nhằm bảo đảm cho quan hệ lao động được hài hoà, ổn định. 3. Phân loại quyền công đoàn Tùy theo tiêu trí lựa chọn mà quyền công đoàn được phân chia thành các loại khác nhau. - Theo lĩnh vực hoạt động nhằm thực hiện chức năng công đoàn, quyền công đoàn được chia thành hai loại: + Các quyền công đoàn nhằm thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; + Các quyền công đoàn nhằm thực hiện chức năng tham gia quản lý kinh tế-xã hội, quản lý nhà nước, quản lý cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
  10. - Theo tính chất của quyền thì quyền công đoàn bao gồm ba loại: + Quyền tham, gia: Công đoàn được tham gia góp ý, được hỏi ý kiến, song không có quyền quyết định. Quyền quyết định thuộc về cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; + Quyền chung: Là quyền của công đoàn bàn bạc, thỏa thuận, nhất trí với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi quyết định một vấn đề nào đó; + Quyền độc lập: Là quyền của công đoàn trong việc độc lập ra một quyết định. Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có nghĩa vụ đáp ứng và không có quyền can thiệp vào việc ra quyết định của công đoàn. - Theo phân cấp quản lý của công đoàn, quyền công đoàn bao gồm: + Quyền của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; + Quyền của Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở; + Quyền của công đoàn cơ sở. II. Quyền cụ thể của các cấp công đoàn 1. Quyền của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan Trung ương của Công đoàn Việt Nam, có vị trí, vai trò quan trọng trong việc tham gia giải quyết những vấn đề về chính sách lao động - xã hội ở tầm vĩ mô và tổ chức thực hiện các quyền công đoàn trong toàn hệ thống. Theo quy định của pháp luật, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có các quyền sau đây: 1.1. Quyền tham gia - Quyền sáng kiến pháp luật: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền trình dự án Luật, dự án Pháp lệnh ra trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; - Quyền tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động; - Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn đến những vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động; - Quyền tham gia các đoàn kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích người lao động do Chính phủ, Bộ, ngành tổ chức; - Quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về những vấn đề phát sinh trong việc thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách với người lao động; - Quyền tham gia với cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại tố cáo của người lao
  11. động; - Quyền tham gia ý kiến khi Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành, mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho từng thời kỳ (Điều 56, Điều 132 Bộ luật Lao động); - Quyền tham gia ý kiến khi Chính phủ quy định nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động; quy định thang lương; bảng lương đối với doanh nghiệp nhà nước; - Quyền tham gia ý kiến khi Chính phủ quy định các trường hợp đặc biệt được làm thêm không quá 300 giờ trong một năm; - Quyền tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; - Quyền tham gia ý kiến về danh mục các loại bệnh nghề nghiệp trước khi Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước ban hành. 1.2 Quyền chung, quyền độc lập - Quyền phối hợp tổ chức các phong trào thi đua; - Quyền phối hợp tổ chức nâng cao đời sống của người lao động, quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi; - Quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động; - Quyền tham gia quản lý Bảo hiểm xã hội; - Quyền phối hợp, thống nhất với Chính phủ ban hành quy định hướng dẫn việc thành lập công đoàn cơ sở, việc chỉ định Ban Chấp hành công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp; - Quyền thành lập các tổ chức dịch vụ việc làm, dạy nghề, tương tế, tư vấn pháp luật và các cơ sở phúc lợi chung cho người lao động; - Quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động. 2. Quyền của công đoàn cấp trên cơ sở Công đoàn cấp trên cơ sở bao gồm Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố; Công đoàn ngành Trung ương; Công đoàn Tổng Công ty, Công đoàn các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; Liên đoàn Lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Công đoàn ngành địa phương…Đây là cấp công đoàn vừa chịu sự chi phối của công đoàn cấp trên, vừa trực tiếp với cơ sở, vừa có mối quan hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan đồng cấp. Quyền của công đoàn đề cập ở phần này chủ yếu là các quyền công đoàn trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức hữu quan ở địa phương, ngành.
  12. 2.1. Quyền tham gia - Quyền tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách chế độ liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động; - Quyền tham dự hội nghị của các cơ quan nhà nước, đơn vị, tổ chức hữu quan khi bàn về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động; - Quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về những vấn đề phát sinh trong việc thực hiện pháp luật, chế độ, chính sách với người lao động; - Quyền tham gia với cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động; - Giúp đỡ công đoàn cơ sở thực hiện việc thương lượng, ký kết và thực hiện thoả ước lao động tập thể; - Tham gia với các cơ quan nhà nước và đại diện người sử dụng lao động bàn bạc, giải quyết các vấn đề về quan hệ lao động; 2.2 Quyền chung, quyền độc lập - Quyền phối hợp tổ chức các phong trào thi đua trong từng ngành, địa phương và đơn vị; - Quyền phối hợp tổ chức nâng cao đời sống của người lao động, quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi; - Quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người lao động; - Quyền thành lập công đoàn cơ sở, chỉ định Ban Chấp hành công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp; - Quyền thành lập các tổ chức dịch vụ việc làm, dạy nghề, tương tế, tư vấn pháp luật và các cơ sở phúc lợi chung cho người lao động; - Quyền thỏa thuận với Thủ trưởng cơ quan đơn vị, doanh nghiệp về việc sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với Chủ tịch công đoàn cấp dưới; - Quyền tham gia Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh (cấp huyện); - Quyền gửi văn bản đến Toà án yêu cầu kết luận cuộc đình công hợp pháp hoặc bất hợp pháp; - Quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động. 3. Quyền của công đoàn cơ sở Theo quy định của pháp luật, các quyền của công đoàn cơ sở bao gồm:
  13. 3.1. Quyền tham gia - Chủ tịch công đoàn cơ sở được mời dự các cuộc họp của doanh nghiệp, cơ quan bàn những vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích của người lao động. Được doanh nghiệp, cơ quan cung cấp các tài liệu, thông tin cần thiết về những vấn đề nói trên; - Tham gia ý kiến với người đứng đầu doanh nghiệp, cơ quan trong việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ liên quan đến quyền, nghĩa vụ, và lợi ích của người lao động; - Tham gia với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động; - Tham gia ý kiến khi doanh nghiệp xây dựng thang lương, bảng lương, quy chế thưởng, định mức lao động, lịch nghỉ hàng năm, nội quy lao động; - Tham gia ý kiến với người sử dụng lao động trong quá trình xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất đối với người lao động. 3.2 Quyền chung, quyền độc lập - Quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc Toà án xử lý những hành vi, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; - Tổ chức kiểm tra, hoặc phối hợp với người đứng đầu doanh nghiệp, cơ quan kiểm tra việc chấp hành các chế độ, chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động tại doanh nghiệp, cơ quan; - Yêu cầu người có trách nhiệm tạm ngừng hoạt động của doanh nghiệp nếu thấy cần thiết, khi phát hiện nơi làm việc có dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng người lao động; - Phối hợp với người đứng đầu doanh nghiệp, cơ quan giải quyết các tranh chấp lao động; - Thảo luận với người sử dụng lao động trước khi người sử dụng lao động khấu trừ lương của người lao động; - Thảo luận với người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động; - Thoả thuận với người sử dụng lao động về việc sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người là ủy viên Ban Chấp hành công đoàn cơ sở; - Thoả thuận về thời giờ làm việc của cán bộ công đoàn không chuyên trách; - Đại diện tập thể lao động thương lượng và ký kết Thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động tại doanh nghiệp; - Tham gia Hội đồng hòa giải lao động cơ sở để giải quyết tranh chấp lao động tập thể;
  14. - Yêu cầu và tham gia trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật; - Quyết định đình công sau khi quá nửa tập thể lao động tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký; - Nộp đơn yêu cầu Toà án kết luận tính hợp pháp của cuộc đình công; - Khiếu nại đối với các quyết định của Toà án trong quá trình giải quyết đình công. Bài 4: Nội dung, phương pháp công tác của chủ tịch công đoàn cơ sở  (Ngày đăng: 13/12/2008 ) I. Vị trí và nhiệm vụ của chủ tịch công đoàn cơ sở 1. Vị trí của Chủ tịch công đoàn cơ sở - Là người đứng đầu Ban Chấp hành (BCH) công đoàn cơ sở (CĐCS); - Là người thay mặt BCH CĐCS đại diện cho tập thể người lao động trong quá trình tham gia quản lý và bảo vệ, quyền, lợi ích của công nhân lao động. 2. Nhiệm vụ của Chủ tịch công đoàn cơ sở - Cùng BCH vận động, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của công đoàn cấp trên đi vào cuộc sống tại cơ sở. - Điều hành công việc hằng ngày: Chuẩn bị nội dung và chủ trì các cuộc họp BCH, Ban Thường vụ giải quyết các vấn đề khi đã có chủ trương của BCH, Ban Thường vụ. - Tổ chức chế độ làm việc của đội ngũ cán bộ công đoàn tại cơ sở. - Thay mặt BCH tham gia ý kiến, bàn bạc phối hợp với người sử dụng lao động giải quyết các vấn đề có liên quan đến hai bên. - Thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy (nếu có), của công đoàn cấp trên, quản lý nguồn kinh phí công đoàn. II. Nội dung công tác của chủ tịch CĐCS Nội dung công tác của Chủ tịch CĐCS được hiểu là những đầu việc lớn, những nhiệm vụ cơ bản mà Chủ tịch CĐCS cần quan tâm, Thực tiễn cho thấy những công việc thường xuyên. Chủ tịch CĐCS phải giải quyết rất đa dạng. Nếu là người có trách nhiệm, tâm huyết với công tác thì hầu như không lúc nào thấy hết việc. Bên cạnh những công việc định trước trong chương trình còn có nhiều việc phát sinh ngoài chương trình mà cũng không kém phần quan trọng và phức tạp. Ở đây chỉ đề cập đến một số nội dung công tác cơ bản mà Chủ tịch CĐCS cần lưu ý trong quá trình tổ chức thực hiện và cần vận dụng một cách năng động, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đơn vị. 1. Nắm vững chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật và thực tiễn của cơ quan, đơn vị. - Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, Nghị quyết của công đoàn cấp trên, tình hình sản xuất, công tác của đơn vị, tình hình đoàn viên, CNVC- LĐ trong đơn vị; - Thường xuyên cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, thực tiễn;
  15. - Làm căn cứ thay mặt BCH, đại diện cho tập thể lao động thực hiện chức năng, nhiệm vụ tham gia giám sát một cách có hiệu quả. 2. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung xây dựng CĐCS vững mạnh - Nắm vững nội dung tiêu chí về nội dung CĐCS vững mạnh của đơn vị; - Thực hiện tốt việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động như: tiền lương, việc làm, điều kiện lao động…; - Tạo môi trường hoạt động để CNVC-LĐ tham gia quản lý: thảo luận xây dựng nội quy, quy chế của đơn vị; tổ chức Đại hội CNVC, xây dựng Thỏa ước lao động tập thể, đối thoại xã hội với người sử dụng lao động. Tổng hợp những kiến nghị của CNVC- LĐ tham gia với người sử dụng lao động; - Thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục CNVC-LĐ về chế độ, chính sách, pháp luật, ý thức thái độ lao động; - Thực hiện tốt việc chăm lo xây dựng tổ chức và nâng cao năng lực trình độ đội ngũ cán bộ CĐCS, không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động công đoàn cho phù hợp với điều kiện của cơ quan, đơn vị. 3. Xây dựng chương trình công tác của CĐCS. Chương trình công tác của CĐCS là định hướng cho mọi hoạt động của CĐCS để đạt tới những mục tiêu cụ thể. Làm việc theo chương trình, kế hoạch định trước không những thể hiện tính khoa học mà còn có ý nghĩa duy trì hoạt động một cách chủ động, thường xuyên, liên tục và có hiệu quả. Chủ tịch CĐCS phải là người chủ động dự kiến, đề xuất chương trình công tác để Ban Thường vụ, BCH thống nhất, quyết định. Chương trình công tác của CĐCS phải căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội CĐCS, Nghị quyết của Đảng ủy cơ sở (nếu có), của công đoàn cấp trên, tình hình sản xuất, kinh doanh, công tác của đơn vị và điều kiện thực tiễn của cơ sở. Nội dung chương trình công tác phải xác định rõ mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ cụ thể, biện pháp thực hiện và tiến độ triển khai cho từng lĩnh vực hoạt động. 4. Chỉ đạo và tổ chức hoạt động cho các ủy viên Ban Chấp hành CĐCS, Ban Chấp hành công đoàn Bộ phận, Tổ chức công đoàn - Đối với ủy viên Ban Chấp hành: Chủ tịch CĐCS cần dự kiến phân công mỗi ủy viên Ban Chấp hành phải có kế hoạch thực hiện và để đưa vào kế hoạch và Nghị quyết chung. - Đối với công đoàn bộ phận và Tổ công đoàn: Chủ tịch CĐCS cần thường xuyên giúp đỡ, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị thực hiện kế hoạch đề ra. - Chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ CĐCS, thường xuyên đúc rút kinh nghiệm qua thực tiễn hoạt động tổ chức các lớp tập huấn ngắn ngày để trao đổi nghiệp vụ hoạt động công đoàn và nâng cao kiến thức hiểu biết chế độ chính sách pháp luật. 5. Sơ kết, tổng kết báo cáo
  16. Hoạt động công đoàn ở cơ sở thường có những phong trào hoặc những nội dung chương trình công tác cụ thể đã được BCH thông qua. Sau mỗi hoạt động, mỗi phong trào hoặc sau mỗi kỳ công tác, Chủ tịch CĐCS cần chủ động kiểm điểm, đánh giá lại quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện các hoạt động đó xem xét ưu, nhược điểm, rút ra từ bài học kinh nghiệm. Để làm được việc đó Chủ tịch CĐCS phải kiểm tra, thu nhập thông tin, đánh giá kết quả,, tập hợp báo cáo và tiến hành sơ kết một cách kịp thời. Sau đó báo cáo với công đoàn cấp trên và thông báo với toàn thể đoàn viên biết kết quả những việc đã làm được và những việc cần tiếp tục làm trong thời gian tới. III. Phương pháp công tác của chủ tịch CĐCS 1. Nắm bắt kịp thời và xử lý kịp thời các thông tin - Những nội dung thông tin cần nắm: Tình hình sản xuất kinh doanh, công tác đơn vị; thực hiện các chế độ chính sách pháp luật với CNVC-LĐ, tâm tư nguyện vọng đời sống, sản xuất công tác CNVC-LĐ… - Các nguồn thông tin có thể từ: Các cuộc họp giao ban lãnh đạo, phản ánh từ các cấp công đoàn tổ, bộ phận, tiếp xúc với CNVC-LĐ, dư luận trong đơn vị, thông tin đại chúng… - Để xử lý các nguồn thông tin, Chủ tịch CĐCS cần có biện pháp phân loại, phân cấp, xác minh độ tin cậy. Sau đó nghiên cứu biện pháp theo từng vấn đề và phân cấp xử lý. Có vấn đề có thể gặp trực tiếp Thủ trưởng đơn vị, đoàn viên (CNVC-LĐ), có vấn đề phải đưa ra Ban Thường vụ, BCH, hoặc báo cáo Đảng ủy, công đoàn cấp trên xin ý kiến chỉ đạo giải quyết. Sau khi đã giải quyết cần thông báo lại kết quả cho người hoặc nơi cung cấp thông tin yêu cầu xử lý. Vì công việc ở cơ sở nhiều và để đảm bảo tính thời gian của sự việc nên các thông tin cần được xử lý kịp thời mới có tác dụng, hiệu quả cao. 2. Tổ chức các cuộc toạ đàm, hội thảo theo chủ đề: Tổ chức các cuộc toạ đàm, hội thảo là tạo ra môi trường cho cán bộ đoàn viên hoạt động đảm bảo nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân chịu trách nhiệm, phát huy trí tuệ của tập thể. Từ đó Chủ tịch công đoàn có thêm cơ sở giải quyết những vấn đề mới nảy sinh tại đơn vị; CĐCS có chủ trương công tác đúng đắn đến các vấn đề phức tạp trong đời sống sản xuất và xây dựng tổ chức công đoàn. Các cuộc toạ đàm hội thảo có thể theo các chuyên đề với phạm vi trong Ban Thường vụ, BCH hoặc theo các đơn vị tổ, bộ phận công đoàn. Để các cuộc toạ đàm, hội thảo có kết quả cao, Chủ tịch công đoàn cần có sự chuẩn bị về nội dung yêu cầu, đối tượng, vấn đề cần nghiên cứu trao đổi. Sau hội thảo, toạ đàm có ghi chép tổng hợp hoặc biên bản 3. Xây dựng chương trình công tác riêng Nhằm khắc phục việc hành chính sự vụ thiếu tính khoa học, giúp cho điều phối công
  17. việc hợp lý, xác định thời điểm, công việc cần tập trung, nắm được công việc đang tiến hành để chỉ đạo thực hiện theo tiến độ đã đề ra. Ngoài chương trình đã xây dựng bằng văn bản riêng, Chủ tịch công đoàn cần có bảng ghi lịch công tác hàng ngày để nơi dễ nhìn, dễ theo dõi và cho cán bộ công đoàn trong đơn vị cùng biết để phối hợp công việc. 4. Giải quyết các mối quan hệ.(Quan hệ là một động lực, có tác động đến hiệu quả công tác). Quan hệ với cấp ủy Đảng: Là quan hệ giữa đại diện CNVC, lao động với cơ quan lãnh đạo. - Đảng lãnh đạo bằng Nghị quyết, bằng sự phân công cán bộ và tôn trọng tính độc lập của tổ chức công đoàn. - Chủ tịch CĐCS có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy, thường xuyên tranh thủ ý kiến chỉ đạo của Đảng ủy, tập hợp phản ánh tâm tư nguyện vọng của CNVC-LĐ với Đảng để Đảng đề ra những chủ trương đúng đắn và đảm bảo tính quần chúng. Quan hệ với cơ quan quản lý (Thủ trưởng, giám đốc, người sử dụng lao động): là quan hệ giữa đại diện CNVC, lao động với người quản lý lao động. – Đây là mối quan hệ được thể hiện trên tinh thần tôn trọng, hợp tác cùng thực hiện mục tiêu chung của đơn vị, quyền lợi hợp pháp chính đáng của CNVC-LĐ, quyết định đến thắng lợi sản xuất, công tác. - Công đoàn là người cộng tác đắc lực với người quản lý, sử dụng lao động trong lúc thuận lợi cũng như khó khăn để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ công tác, sản xuất kinh doanh, đảm bảo các chế độ chính sách có liên quan đến người lao động. - Công đoàn tham gia góp ý những việc làm có lợi cho doanh nghiệp, đảm bảo quyền lợi CNLĐ nên không ngần ngại tham gia góp ý kể cả những việc làm sai trái của của người sử dụng lao động. Trường hợp người sử dụng lao động cố tình, vi phạm đến lợi ích người lao động, vi phạm chính sách pháp luật…Chủ tịch công đoàn cần thể hiện bản lĩnh vững vàng kiên quyết đấu tranh ngăn chặn. 5. Mối quan hệ với CNVC-LĐ - Là mối quan hệ giữa người lao động và đại diện của họ, Chủ tịch công đoàn với vai trò “thủ lĩnh” nên tác phong, lối sống luôn mật thiết hoà mình với quần chúng lao động, có kế hoạch thăm hỏi, lắng nghe chia sẻ, quan tâm giúp đỡ (trong phạm vi có thể giải quyết được) động viên mọi người trong lao động sản xuất, trong xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng tổ chức công đoàn; - Là mối quan hệ quyết định đến quá trình hoạt động của tổ chức công đoàn nói chung và nói riêng của Chủ tịch CĐCS. 6. Kiểm tra và tự kiểm tra - Kiểm tra là nguyên tắc khoa học, phổ biến trong cương vị của người lãnh đạo, kiểm tra để xem xét, nhịp độ tiến triển, hiệu quả công việc của từng bộ phận cá nhân trong
  18. tổ chức. Kiểm tra theo định kỳ, thường xuyên để phát hiện, bổ sung uốn nắn, rút kinh nghiệm làm việc tốt hơn. - Chủ tịch công đoàn có thể làm việc trực tiếp với cá nhân, bộ phận được giao nhiệm vụ để nghe báo cáo theo từng thời kỳ, từng giai đoạn triển khai và kết quả công tác. Phương châm của công tác kiểm tra là “tự kiểm tra là chính”. Thông qua việc kiểm tra và tự kiểm tra Chủ tịch Công đoàn có thể tự xem xét đến vai trò chỉ đạo của mình. Bài 5: Công đoàn cơ sở với công tác tiền lương  (Ngày đăng: 13/12/2008 ) I. Khái niệm - Tiền lương là chính sách kinh tế và chính sách xã hội liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Đây là nguồn sống chính của người làm công hưởng lương. - Đối với cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan Đảng, Nhà nước, sự nghiệp, nguồn tiền lương chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. - Đối với viên chức, công nhân trong các doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp có thu, nguồn tiền lương dựa vào kết quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, đơn vị. - Tiền lương được trả cho người lao động chủ yếu dưới 2 hình thức là trả lương theo thời gian (lương ngày, lương tuần, lương tháng theo mức lương từng người) trả lương theo sản phẩm làm ra và khối lương công việc hoàn thành). II. Nội dung chủ yếu của chính sách tiền lương: - Tiền lương tối thiểu - Quan hệ tiền lương - Hệ thống thang lương, bảng lương - Các chế độ phụ cấp lương - Cơ chế quản lý, phân phối tiền lương và thu nhập. 1. Tiền lương tối thiểu: là mức tiền lương trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường. Căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của người lao động, khả năng ngân sách, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động, Chính phủ quy định mức lương tối thiểu và điều chỉnh theo từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tùy điều kiện cụ thể của từng nước, lương tối thiểu có thể: - Cao hơn nhu cầu tiêu dùng tối thiểu - Bằng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu - Thấp hơn nhu cầu tiêu dùng tối thiểu Tiền lương tối thiểu là cơ sở tính các mức lương và phụ cấp lương cho các loại lao động theo hệ thống thang lương, bảng lương; là căn cứ để tính đóng và hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội, đóng Bảo hiểm Y tế và thực hiện các chế độ lao động theo quy định
  19. của pháp luật. 2. Quan hệ tiền lương Tiền lương tối thiểu: lao động giản đơn có hệ số bằng 1.00 Lương trung bình: lao động tốt nghiệp đại học có hệ số bằng 2.34 Lương tối đa: chuyên gia cao cấp bậc cuối cùng có hệ số bằng 10 Từ quan hệ tiền lương nêu trên, Nhà nước quy định các bảng lương, thang lương, ngạch lương, số bậc lương, hệ số lương cho từng thang, bảng lương. 3. Hệ thống thang lương, bảng lương - Trên cơ sở quan hệ tiền lương, Nhà nước quy định tiền lương cho cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ lãnh đạo, quản lý cụ thể là: - Đối với cán bộ giữ chức vụ quản lý Công ty nhà nước (Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng); chức vụ cán bộ xã, phường, chức vụ Bộ trưởng và tương đương trở lên, quy định lương chức vụ có 2 bậc lương; - Đối với cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo Công ty nhà nước (Trưởng, Phó phòng), cán bộ lãnh đạo từ cấp huyện đến Thứ trưởng và tương đương xếp lương chuyên môn nghiệp vụ cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo; - Công chức, viên chức chuyên môn nghiệp vụ ở khu vực hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, xếp lương theo các ngạch công chức, viên chức (chuyên viên cấp cao, chuyên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên và tương đương); - Công nhân trực tiếp sản xuất trong các công ty nhà nước xếp lương theo các bảng lương, thang lương, số bậc lương, theo tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật; - Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp thì đơn vị tự xây dựng thang, bảng lương hoặc áp dụng theo Công ty nhà nước. 4. Các chế độ phụ cấp lương: Phụ cấp lương là những khoản tiền bổ sung ngoài tiền lương bù đắp hao phí lao động, khuyến khích, thực hiện nhiệm nâng cao trách nhiệm trong lãnh đạo quản lý. - Phụ cấp thâm niên vượt khung: Áp dụng cho các đối tượng xếp lương chuyên môn, nghiệp vụ (cán bộ công chức, viên chức) sau 3 năm đã hưởng bậc lương cuối cùng trong ngạch thì được hưởng phụ cấp bằng 5% mức lương của bậc cuối cùng, từ năm thứ tư trở đi mỗi năm được tăng thêm 1%. - Phụ cấp chức vụ lãnh đạo: Áp dụng cho cán bộ lãnh đạo từ Trưởng, Phó phòng; Trưởng, Phó ban, Ủy viên thường vụ các đoàn thể từ cấp huyện và tương đương trở lên đến Thứ trưởng có hệ số kề 0.1
  20. đến 1.40 mức lương tối thiểu. - Phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo: Áp dụng đối với người đang giữ chức danh lãnh đạo (bầu cử, bổ nhiệm) ở một cơ quan đơn vị, đồng thời lại kiêm nhiệm vụ chức danh lãnh đạo đứng đầu cơ quan, đơn vị khác mà đơn vị đó được bố trí biên chế. Mức phụ cấp bằng 10% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). Ví dụ: Chị A làm Chủ tịch LĐLĐ huyện nhưng lại kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện thì chị A được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 10% mức lương hiện hưởng của Chủ tịch LĐLĐ huyện. - Phụ cấp khu vực: Áp dụng đối với các đối tượng làm việc ở những nơi xa xôi hẻo lánh và khí hậu xấu. Mức phụ cấp gồm 7 mức 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,7; và 1,0 so với mức lương tối thiểu chung. - Phụ cấp đặc biệt: Áp dụng đối với các đối tượng làm việc ở đảo xa đất liền và vùng biên giới có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn. Phụ cấp gồm 3 mức 30%; 50%; 100% so với mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). - Phụ cấp thu hút: Áp dụng đối với các đối tượng làm việc ở những vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn. Phụ cấp gồm 4 mức: 20%; 30%; 50%; 70% so với mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). Thời gian hưởng phụ cấp từ 3- 5 năm. - Phụ cấp lưu động: Áp dụng đối với những người làm việc một số nghề hoặc công việc thường xuyên phải thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở. Phụ cấp gồm 3 mức 0,2; 0,4 và 0,6 so với mức lương tối thiểu chung. - Phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc gồm: Phụ cấp thâm niên nghề; Phụ cấp ưu đãi nghề; Phụ cấp trách nhiệm theo nghề; Phụ cấp trách nhiệm theo công việc… (Theo quy định tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP, Nghị định 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ). 5. Cơ chế quản lý tiền lương và thu nhập được quy định như sau: - Đối với cán bộ công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách, Nhà nước giao chỉ tiêu biên chế và quỹ tiền lương cho đơn vị, để đơn vị chủ động bố trí lao động, xây dựng định mức trả lương cho người lao động. Theo quy định của Bộ luật Lao động việc trả lương cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu, khuyến khích các đơn vị, các doanh nghiệp trả lương cao hơn cho người lao động, cụ thể là: - Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị được quyền quyết định điều chỉnh hệ số tăng thêm tiền lương so với lương tối thiểu chung, lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi tăng thu nhập để trả cho người lao động.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản