Tài liệu Kinh tế chính trị

Chia sẻ: nv_tien

Đây là tài liệu do nhóm mình tự soạn, hy vọng giúp ích cho các bạn được phần nào. "Động lực phát triển của xã hội loài người ? là một câu hỏi đã được đặt ra từ lâu . Nếu trả lời được chính xác câu hỏi này ta sẽ có một cái nhìn toàn diện và đầy đủ về lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ đó giải thích được lịch sử một cách đúng đắn và giải quyết được các vấn đề đương đại cũng như những câu hỏi của tương lai. Đã có......

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Tài liệu Kinh tế chính trị

----------




Tài liệu Kinh tế chính trị
1. Sở hữu về Tư liệu Sản xuất có vai trò như thế nào đối với xã hội? Đưa
ra quan điểm của mình và bảo vệ quan điểm đó.
Động lực phát triển của xã hội loài người ? là một câu hỏi đã được đặt ra t ừ lâu . N ếu tr ả l ời đ ược chính xác
câu hỏi này ta sẽ có một cái nhìn toàn diện và đầy đủ v ề lịch sử phát tri ển c ủa xã h ội loài ng ười, t ừ đó gi ải
thích được lịch sử một cách đúng đắn và giải quyết được các vấn đề đ ương đ ại cũng nh ư nh ững câu h ỏi c ủa
tương lai. Đã có nhiều câu trả lời khác nhau :chiến tranh, tình ái sự khẳng đ ịnh c ủa các cá nhân,tri th ức v.v.
Nhưng các câu trả lời đó chỉ phản ánh về mặt hình thức m ột phần nào đó trong s ự v ận đ ộng c ủa ch ủ th ể
( con người) trong một giai đoạn lịch sử nhất định chứ chưa cho ta câu trả lời trọn vẹn. Để tr ả l ời câu h ỏi này
trước hết ta cần định nghĩa : thế nào là động lực của sự phát tri ển c ủa xã h ội loài ng ười. Đó ph ải là đ ộng c ơ
sâu xa nhất của mọi hành động của con người (cá nhân, tập th ể, vô th ức hay có ý th ức) trong m ọi giai đo ạn
của lịch sử .Động lực của sự phát triển của xã hội phải là cái mà căn cứ vào đó người ta có th ể gi ải thích
được tất cả các hành động của con người ( cá nhân hay t ập th ể ). N ếu nh ư có hành đ ộng nào đó c ủa con
người hay sự kiện nào đó trong lịch sử không giải thích được bằng nó thì đó ch ưa phải là đ ộng l ực c ủa s ự
phát triển của xã hội loài người!

Đó chính là khát vọng hạnh phúc. Khái niệm hạnh phúc được hiểu như là m ức đ ộ tho ả
Hạnh phúc là sự so sánh tương đối mức độ thoả mãn về nhu cầu v ật chất và nhu c ầu tinh th ần v ới nh ững s ự
kìm hãm của những nhu cầu ấy. Hiểu một cách đơn giản, m ức độ tho ả mãn các nhu c ầu vật ch ất và tinh th ần
càng cao và mức độ kìm hãm các nhu cầu ấy càng thấp thì con người càng h ạnh phúc. Nh ững nhu c ầu v ật
chất và tinh thần của con người còn phụ thuộc vào trình đ ộ phát tri ển c ủa xã h ội. Nh ững nhu c ầu v ật ch ất c ơ
bản của con người là để duy trì sự tồn tại c ủa họ : ăn,uống, m ặc, ở, sinh đ ẻ v.v. ; còn nh ững nhu c ầu tinh
thần cơ bản của con người là tự do, yêu thương và được yêu th ương, đ ược sáng t ạo đ ể kh ẳng đ ịnh h ọ là m ột
con người

Chính lòng yêu tự do, yêu thương đồng bào đã là c ội ngu ồn c ủa nh ững chi ến công vĩ đ ại c ủa con ng ười đ ể
bảo vệ độc lập và tự do của tổ quốc. Và những câu chuyện tình c ảm đ ộng đã làm rung đ ộng bi ết bao th ế
hệ .Khi xã hội phát triển các nhu cầu c ủa con người ngày càng đ ược nâng cao, m ở r ộng. N ếu kh ả năng đáp
ứng của xã hội phù hợp với sự mở rộng nhu c ầu của con người thì con ng ười s ống trong xã h ội ấy đ ược
hạnh phúc còn không thì ngược lại.

Con người là chủ thể của hạnh phúc. Vì vậy muốn được hưởng hạnh phúc con người phải t ồn t ại. Chính vì
vậy con ngưòi phải lao động để trước hết thoả mãn những nhu cầu đủ để duy trì cu ộc sống .Nh ưng cu ộc
sống của con người không chỉ cần có những nhu cầu vật chất mà còn c ả những nhu c ầu tinh th ần n ữa : t ự do,
yêu thương và được yêu thương, được sáng tạo, được hiểu biết v.v. Khi cuộc sống càng phát tri ển thì nh ững
nhu cầu ấy ngày càng được mở rộng và nâng cao. Có nh ững nhu c ầu ở d ạng ti ềm ẩn mà tr ước đây con ng ười
ta coi là những ước mơ không thể thực hiện được thì nay đã thành m ột ph ần t ất y ếu c ủa cu ộc s ống. Có khi
những tiến bộ mà loài người đạt được trong các lĩnh vực c ủa cu ộc sống thúc đ ẩy nhu c ầu c ủa con ng ười và
ngược lại có khi những nhu cầu của con người đã thúc đ ẩy xã h ội phát tri ển. Vì v ậy chính s ự mâu thu ẫn gi ữa
những nhu cầu của con người và khả năng đáp ứng c ủa cu ộc sống đã thúc đ ẩy xã h ội phát tri ển. T ất nhiên đó
là sự phát triển tiến bộ hay phản động còn phụ thuộc vào cách th ức con ng ưòi ta th ực hi ện nó. N ếu tôi nh ớ
không nhầm thì Cac Mac đã nói : "một mục đích tốt đẹp không th ể đòi h ỏi nh ững ph ương ti ện b ất công". Ví
dụ ngay cả các cuộc chiến tranh xâm lược cũng có nguyên nhân sâu xa là ước mu ốn h ạnh phúc c ủa con ng ười
( ở người phát động chiến tranh và cả ở những người lính tham gia chi ến tranh) nhưng ước mu ốn ấy lại đ ược
thực hiện bằng cách chà đạp lên hạnh phúc của người khác. Ngay như học thuyết c ủa đảng qu ốc xã c ủa Hít
le , một trong những học thuyết phản động nhất trong lịch sử cũng lừa bịp người dân Đ ức r ằng n ếu đi theo nó
họ sẽ được hạnh phúc nhưng đó là thứ hạnh phúc được xây dựng trên sự bất h ạnh c ủa ng ười khác! M ột n ền
hoà bình lâu dài chỉ có thể đạt được nếu như con người có m ột n ền sản xu ất có th ể đ ảm bảo các nhu c ầu v ề
vật chất ngày càng tăng , một xã hội bảo đảm các nhu c ầu c ơ b ản v ề tinh th ần và xây d ựng đ ược m ột con
đường tiến tới một xã hội lý tưởng trong đó mọi người đều được hạnh phúc và phát tri ển h ết m ức kh ả năng
của mình tức là có một nền sản xuất tiên tiến và một hệ tư tưởng tiến bộ. !

Như vậy theo tôi một xã hội được đánh giá là tốt đ ẹp phải là m ột xã h ội trong đó h ạnh phúc c ủa con ng ười
được coi là mục tiêu lớn nhất và xã hội đó phải tạo được các đi ều ki ện cho con ng ười xây d ựng đ ược h ạnh
phúc của mình. Hiện nay có hai mô hình xã hội chủ yếu : ch ủ nghĩa t ư bản và ch ủ nghĩa xã h ội. V ậy y ếu t ố
nào quyết định bản chất một chế độ xã hội.

Đối với Việt Nam ta, trước đổi mới, chúng ta coi kinh t ế xã h ội ch ủ nghĩa và kinh t ế t ư b ản ch ủ nghĩa (hay
kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về bản chất và đ ối l ập v ới nhau c ả v ề ch ế đ ộ s ở
hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối và mục đích phát tri ển. Kinh t ế xã h ội ch ủ nghĩa v ận đ ộng theo các
quy luật của chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo các quy lu ật c ủa ch ủ nghĩa t ư
bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch chúng ta cũng đã t ừng nói đ ến h ạch toán và kinh doanh xã
hội chủ nghĩa, vận dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất là m ột đ ộng
lực của sự phát triển).

Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát tri ển so v ới tr ước. Nhìn khái quát đã có nh ững
sự thay đổi lớn như sau:

- Từ quan niệm chủ nghĩa xã hội chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là ch ế đ ộ công h ữu v ề t ất c ả các t ư li ệu
sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm nền kinh tế của ta hiện nay và sau
này có ba chế độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhi ều hình thức sở h ữu
và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà n ước, kinh tế tập th ể, kinh t ế t ư nhân (cá th ể, ti ểu
chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải nhanh chóng hoàn thành
việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ là những thành phần kinh t ế phi xã h ội ch ủ
nghĩa, đã đến quan niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, ph ải ưu tiên phát tri ển l ực l ượng s ản xu ất,
còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất m ới nh ất thi ết ph ải phù h ợp v ới t ừng b ước phát
triển của lực lượng sản xuất.

- Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, v ới vi ệc xóa b ỏ nhanh chóng các thành
phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu đã là n ền tảng c ủa n ền kinh t ế qu ốc dân, đã đi đ ến quan ni ệm
rằng muốn cho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành n ền t ảng v ững ch ắc thì ph ải tr ải qua m ột quá
trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với những bước thích h ợp; trong khi đó, v ẫn khuy ến khích phát tri ển
các thành phần kinh tế tư nhân, coi như thành phần này là động lực quan tr ọng c ủa phát tri ển kinh t ế và phát
triển lực lượng sản xuất.

- Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo m ột kế ho ạch t ập trung, th ống nh ất v ới
những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đ ến phân bi ệt rõ chức năng qu ản lý nhà n ước v ề
kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh; chức năng qu ản lý nhà n ước v ề kinh t ế và ch ủ s ở h ữu tài s ản công
là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thu ộc v ề doanh nghi ệp. T ừ ch ỗ tuy ệt đ ối hóa vai trò
của kế hoạch, phủ nhận vai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận th ị tr ường v ừa là căn c ứ, v ừa là đ ối t ượng
của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc bi ệt trên bình di ện vĩ mô, còn th ị tr ường gi ữ
vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh v ực ho ạt đ ộng và ph ương án t ổ ch ức s ản xu ất,
kinh doanh.

Nhiều người cho rằng : chế độ sở hữu về tư li ệu sản xuất quyết đ ịnh bản ch ất m ột ch ế đ ộ xã h ội. Đ ặc
trưng của chế độ tư bản chủ nghĩa là chế độ tư hữu về tư li ệu sản xuất gắn li ền v ới vi ệc bóc l ột giá tr ị
thặng dư của người lao động còn đặc trưng của chế độ xã hội ch ủ nghĩa là ch ế đ ộ công h ữu v ề t ư li ệu s ản
xuất, không có bóc lột. Tất nhiên đó là khái ni ệm nguyên thu ỷ v ề ch ủ nghĩa t ư b ản và ch ủ nghĩa xã h ội. Ngày
nay ngay tại các nước tư bản chủ nghĩa cũng tồn tại cả sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất và tại các n ước
xã hội chủ nghĩa cũng tồn tại sở hữu tư nhân. Vậy yếu t ố nào xác đ ịnh b ản ch ất m ột ch ế đ ộ xã h ội. Đó chính
là định hướng của xã hội ấy hướng tới việc duy trì chế độ tư hữu hay h ướng t ới vi ệc xây d ựng ch ế đ ộ s ở
hữu toàn dân. Nhưng cũng có nước mà về hình thức là sở h ữu nhà n ước v ề t ư li ệu s ản xu ất nh ưng v ề th ực
chất tư liệu sản xuất lại nằm trong tay m ột số nhà lãnh đạo nhà n ước mà đi ển hình là ở m ột s ố n ước châu
Phi

Do đó, cần khắc phục trong nhận thức là, chỉ thấy sở hữu cá nhân về tư li ệu sinh ho ạt, trong khi không ý th ức
được hoặc phủ nhận sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất, mà đây mới là bản chất của vấn đề làm chủ kinh t ế
của người lao động. Không có sự tham gia của sở hữu cá nhân thì s ở h ữu xã h ội không có n ội dung hi ện th ực,
trừu tượng, phi lịch sử. Cá nhân người lao động không có sở hữu của mình, thì hành vi lao đ ộng c ủa anh ta
thiếu vắng căn bản động lực kích thích và trên thực tế anh ta ch ỉ có th ể làm ch ủ m ột cách hình th ức, danh
nghĩa mà thôi.

Cuộc sống có những quy luật của nó. Muốn xây dựng đ ược m ột xã h ội t ốt đ ẹp ta c ần ph ải tìm cho đ ược
những quy luật ấy để đề ra hướng phát triển phù hợp với nó. Và đi ều quan tr ọng là c ần xác đ ịnh đ ược nh ững
tiêu chuẩn của hạnh phúc tương ứng với mỗi trình độ phát triển của đời sống v ật chất và đ ời s ống tinh th ần
cũng như quy luật phát triển của những tiêu chuẩn ấy để tìm ra được con đ ường phát tri ển phù h ợp. Hai y ếu
tố quan trọng nhất trong mọi thời đại giúp con người xây d ựng m ột xã h ội t ốt đ ẹp là trí tu ệ và tình c ảm trong
sáng đối với con người. Cần phải tạo ra môi trường và c ơ chế thích h ợp đ ể con ng ười đ ược phát tri ển h ết
khả năng trí tuệ của mình để góp phần vào sự phát tri ển của xã h ội, đ ặc bi ệt ưu tiên nh ững tài năng đ ể h ọ có
thể mang lại lợi ích cho xã hội và cho chính bản thân mình.Trên c ơ sở th ừa nh ận r ằng gi ữa nh ững cá nhân
khác nhau có sự phát triển khác nhau về trình độ nhận thức ở các lĩnh v ực khác nhau c ần thi ết ph ải th ực hi ện
khẩu hiệu " Làm theo năng lực hưởng theo lao động" và cùng với nó là vi ệc t ạo ra nh ững đi ều ki ện cho m ọi
người đều được hưởng sự giáo dục và các lợi ích do nền công nghệ tiên tiến mang lại cũng như những cơ hội
để tài năng có thể được bộc lộ. Con người chỉ làm một việc nào đó khi việc đó mang l ại l ợi ích cho mình v ề
vật chất hay về tinh thần. Chính vì vậy việc gắn liền lợi ích của người lao động với công việc c ủa họ là m ấu
chốt để kích thích sản xuất phát triển . Và trong một nền sản xuất khi trình độ của người lao động và trình đ ộ
của công cụ lao động còn chưa thật cao thì nhu c ầu về lẽ công b ằng c ần phải đ ược dung hoà v ới nhu c ầu v ề
sự phát triển của nền sản xuất để đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh th ần khác c ủa con ng ười . Chính vì l ẽ
đó việc sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn lý do để t ồn t ại m ột cách h ợp lý vì nó là m ột đ ộng l ực
quan trọng cho sự phát triển của sản xuất. Chỉ có điều cần phải được giới hạn bằng các hình thức sở hữu nhà
nước để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cả về m ặt sản xuất cũng nh ư v ề m ặt b ảo đ ảm các l ợi ích
chính đáng của người lao động. Khi sản xuất phát tri ển đến một m ức đ ộ nào đ ấy r ất cao, các nhu c ầu v ề v ật
chất của con người đã được thoả mãn đầy đủ thì nhu cầu về lẽ công bằng lại được đặt ra m ột cách c ấp thi ết
và lúc đó sự bóc lột giá trị thặng dư là không thể chấp nhận được. Khi đó m ột n ền sản xu ất d ựa trên ch ế đ ộ
công hữu là sự lựa chọn tốt nhất của nhân loại.
2. Cơ sở để phân chia thành phần kinh tế là gì? Cho ví dụ để chứng minh
rằng: đảm bảo tính độc lập tương đối của các chủ thể kinh tế chính là
nhằm phát huy sự năng động sáng tạo của nó. Thống nhất trong mâu
thuẫn, mâu thuẫn trong thống nhất, đó là một trong những động lực
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Thành phần kinh tế là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân xét về mặt quan h ệ sản xu ất v ới hình th ức s ở
hữu và quan hệ sở hữu đặc trưng, với trình độ nhất định về lực lượng sản xuất.

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là tổng thể các thành phần kinh tế, được sắp xếp theo m ột t ương quan h ợp
lý nhằm mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.

Sự phân chia các thàh phần kinh tế là dựa trên các cơ sở tất yếu khách quan sau:

− Theo quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất:

Cần nhận thức rằng: lực lượng sản xuất luôn có nhiều trình độ, không thu ần nh ất, nên không th ể nào
áp dụng một hình thức hay một kiểu quan hệ sản xuất duy nhất. Do vậy c ần ph ải có nhi ều quan h ệ
sản xuất, nhiều thành phần kinh tế để thích ứng với lực lượng sản xuất.

− Sự đa dạng của các hình thức sở hữu:

Sở hữu là một phạm trù kinh tế biểu hiện mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong vi ệc đ ịnh đo ạt
một tài sản vật phẩm nào đó.

Sở hữu có nhiều hình thức, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xu ất và đ ược th ể hi ện trong
các quan hệ sở hữu khác nhau. Sự đa dạng của các hình thức sở hữu và quan hệ sở h ữu cho th ấy tính
chất đa thành phần của nền kinh tế.

− Việc tồn tại nhiều thành phần trong nền kinh tế là tất yếu còn b ởi vì nó phù h ợp v ới s ự phân công lao
động xã hội, nhờ vậy mà thế mạnh cũng như sự hợp tác của các thành ph ần kinh t ế s ẽ đ ược phát huy,
giúp giải phóng lực lượng sản xuất, tạo nên sức mạnh kinh tế tổng hợp và thúc đẩy phát triển kinh tế.

− Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần góp phần đảm bảo hai điều kiện của kinh tế th ị tr ường và v ới s ự
mâu thuẫn và hài hòa về lợi ích kinh tế, sẽ tạo ra đ ộng l ực thúc đ ẩy phát tri ển kinh t ế. Đi ều này l ại
đúng với nguyên lý phát triển: đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển.

Ở nước ta tồn tại các thành phần kinh tế sau:

- Thành phần kinh tế Nhà nước.

- Thành phần kinh tế hợp tác.
- Thành phần kinh tế tư bản tư nhân.

- Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ.

- Thành phần kinh tế tư bản nhà nước.

- Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần mang tính khách quan và tồn t ại lâu dài. Các thành ph ần kinh t ế v ừa
thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau.

1. Sự thống nhất giữa các thành phần kinh tế:

a. Đó là sự thống nhất giữa cá bộ phận trong một tổng thể. Các thành phần kinh t ế n ằm trong h ệ
thống phân công lao động xã hội, cùng chịu sự quản lý c ủa Nhà n ước, trong đó thành ph ần kinh t ế
nhà nước có vai trò chủ đạo.

b. Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà đan xen, phụ thuộc, h ợp tác và liên k ết v ới nhau.
Các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế vừa phải hợp tác vừa c ạnh tranh v ới nhau m ột cách
bình đẳng, tạo nên sức mạnh chung cho nền kinh tế.

c. Hoạt động của các doanh nghiệp dù ở thành phần kinh tế nào cũng góp phần tạo ra vi ệc làm và thu
nhập cho xã hội, cũng phải sử dụng các nguồn lực kinh t ế m ột cách có hi ệu qu ả, t ạo ra s ản ph ẩm
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội, góp phần ổn định và phát tri ển kinh t ế, đáp ứng nhu c ầu tiêu
dùng xã hội, góp phần ổn định và phát triển kinh tế, đáp ứng l ợi ích c ủa xã h ội, phù h ợp v ới m ục
tiêu “dân giàu nước mạnh – xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

2. Sự mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế:

a. Hình thức sở hữu và lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế thường mâu thu ẫn v ới nhau vì b ản
chất khác nhau.

b. Sự cạnh tranh cũng làm cho các thành phần kinh tế mâu thuẫn với nhau. C ơ chế qu ản lý kinh t ế
mới vẫn đang trong quá trình cải tiến, hoàn thiện nên thiếu sự đồng bộ trng chính sách kinh t ế, d ẫn
đến sự bất bình đằng và mâu thuẫn trong quan hệ kinh tế gi ữa các thành ph ần kinh t ế. Kinh t ế nhà
nước chưa thực sự phát huy được vai trò chủ đạo của mình nên chưa đủ sức tạo ra sự th ống nh ất
và hợp tác hài hòa giữa các thành phần kinh tế.

c. Quan hệ giữa các doanh nghiệp trong cùng một thành phần kinh tế cũng có mâu thuẫn với nhau.

3. Quan điểm và giải pháp đảm bảo sự thống nhất giữa các thành phần kinh tế:

a. Quan điểm:
Chính sự thống nhất và mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế đã tạo ra động lực m ạnh m ẽ cho s ự
phát triển kinh tế.

Vấn đề không phải là xóa bỏ một mặt mâu thuẫn nào, mà là phát huy s ự tác đ65ong qua l ại theo
hướng tích cực, phát huy tính thống nhất của chúng.

b. Giải pháp:

− Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, sử dụng rộng rãi những hình thức
kinh tế tư bản nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của cá thành phần kinh tế. M ọi hình
thức kinh tế có lợi cho sự phát triển đều được khuyến khích.

Cần phát triển nhiều hình thức hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp thuộc m ọi thành
phần kinh tế trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và bảo đảm l ợi ích h ợp pháp c ủa m ỗi
chủ thể kinh tế.

− Cải tiến và hoàn thiện cơ chế kinh tế mới. Bảo đảm môi trường kinh t ế lành m ạnh, bình
đẳng, đảm bảo kết hợp hài hopà lợi ích kinh tế.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, xây dựng khuôn khổ pháp lý, chính sách chung, quy ho ạch phát
triển kinh tế - xã hội, cải cách hành chính để các thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả.

Tăng cường hệ thống kiểm soát vĩ mô nền kinh tế c ủa Chính ph ủ và gi ảm thi ểu s ự can
thiệp sâu vào công việc của các doanh nghiệp.

− Tiếp tục cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước để đảm bảo cho vai trò chủ đạo của kinh
tế nhà nước.

Trong từng nhóm ngành, doanh nghiệp nàh n ước phải đóng vai trò hạt nhân đ ể liên k ết h ợp
tác với các thành phần kinh tế khác.

Đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hi ệu qu ả s ử d ụng
vốn Nhà nước, dân chủ hóa quản lý, tạo môi trường kích thích sự h ợp tác và nâng cao s ức
cạnh tranh của nền kinh tế.
3. Bằng sự cảm nhận và hiểu biết của mình, anh chị hãy chứng minh những
thành tựu, nhữgn thất bại trong công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở Việt
Nam trong thời gian qua.
1. Mục tiêu và quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước:

a. Mục tiêu:

Xây dựng nước Việt Nam trở thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản suất, đời
sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Ra sức phấn đấu để đến năm 2020 nước Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp (có tỷ trọng
ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác). Cụ thể là đến năm 2010, tỉ trọng trong GDP của nông
nghiệp chiếm 16-17%, công nghiệp khoảng 40-41%, dịch vụ chiếm 42-43%, tỷ trọng lao động trong tổng lao
động xã hội, lao động công nghiệp và dịch vụ là 50%, nông nghiệp là 50%.

b. Quan điểm:

+ Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với hợp tác, mở rộng, hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ kinh tế quốc tế. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài,
xây dựng một nền kinh tế mở cửa hội nhập hướng mạnh về sản xuất cho xuất khẩu, đồng thời thay thế sản
phẩm nhập khẩu cho có hiệu quả.

+ CNH-HĐH là sự nghiệp của tòan dân, được mọi thành phần kinh tế tham gia, trong đó nền kinh tế nhà
nước là chủ đạo.

+ Lấy việc phát huy yếu tố con người làm chủ đạo, tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống
người dân, tăng cường dân chủ, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.

+ Khoa học công nghệ là động lực của CNH-HĐH, kết hợp công nghệ truyền thống và công nghệ hiện
đại, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những khâu có tính chất quyết định.

+ Lấy hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cơ bản để xây dựng phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư
phát triển và công nghệ, đầu tư có chiều sâu để khai thác tối đa nguồn lực hiện có, trong phát triển mới ưu
tiên phát triển quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh, đồng thời xây
dựng một số công trình qui mô lớn thật cần thiết và có hiệu quả.

+ Kết hợp chặt chẽ toàn diện, phát triển kinh tế quốc phòng.

2. Những thành tựu và thất bại trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam:

a) Những thành tựu trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
Việt Nam ngày nay đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu phát
triển ấn tượng và thu được những kết quả khả quan trong công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng như nỗ
lực mở cửa hoà nhập với nền kinh tế thế giới. Nhằm hướng đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước
công nghiệp, Việt Nam hiện đang bước vào một giai đoạn quan trọng, đó là đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Trước tình hình đó, Việt Nam đã quyết tâm cao trong đổi mới tư duy phát
triển dựa vào hai nội dung chính như sau:

Thứ nhất: chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường với
nhiều thành phần kinh tế.

Thứ hai: chuyển từ phát triển khép kín sang đẩy mạnh mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
để tận dụng các cơ hội phát triển to lớn mà thời đại dành cho các nước đi sau.

Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng công tác thu hút đầu tư từ nước ngoài.
Chính phủ liên tục cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và
ngoài nước, trong đó đặc biệt coi trọng việc triển khai chương trình xây dựng pháp luật..Riêng trong
năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã và sẽ thông qua hơn 20 luật, là số lượng luật được thông qua nhiều
nhất trong một năm kể từ trước đến nay, trong đó có Luật Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống
nhất.

Khi sửa đổi Luật doanh nghiệp (năm 2000), các doanh nghiệp tư nhân đã có điều kiện thuận lợi để
phát triển. Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành
nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí… Tính trong giai đoạn 2000-
2004, đã có 73.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999. Cho
đến năm 2004, đã có 150.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, với tổng
số vốn điều lệ là 182.000 tỷ đồng. Từ năm 1991 đến năm 2003, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân
trong GDP đã tăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tế ngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên 4,5%, kinh tế cá thể
giảm từ 35,9% xuống 31,2%, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 6,4% lên 14%. Từ 1/7/2006,
Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài) đã có
hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của
các doanh nghiệp, không phân biệt.

Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện pháp điều chỉnh, sắp xếp lại doanh
nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tài chính của công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn
nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, hay việc chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần theo
tinh thần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước, ngày càng được coi trọng nhằm nâng
cao tính hiệu quả cho khu vực kinh tế quốc doanh. Với chính sách xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng giảm đi, từ 40,1% GDP năm
1991 xuống còn 38,3% năm 2003, kinh tế tập thể giảm từ 10,2% xuống 7,9% trong thời gian tương
ứng. Trong các năm 2002-2003, có 1.655 doanh nghiệp nhà nước được đưa vào chương trình sắp xếp
và đổi mới, năm 2004 là 882 doanh nghiệp và năm 2005 dự kiến sẽ là 413 doanh nghiệp.

. Đặc biệt sau khi gia nhập WTO, môi trường pháp lý của Việt Nam ngày càng minh bạch, bình đẳng
và thân thiện hơn với nhà đầu tư. Ngoài ra, Việt Nam còn có nguồn nhân lực trẻ, năng động, tràn đầy
nhiệt huyết và có khả năng tiếp cận nhanh khoa học-công nghệ. Việc nhiều tập đoàn hàng đầu thế
giới như Intel, Microsoft, Nike, Canon lựa chọn Việt Nam để đầu tư đã minh chứng cho những lợi thế
đó. Các nhà đầu tư, các tổ chức quốc tế ngày càng tin tưởng vào Việt Nam: Việt Nam là một đất nước
ổn định và thanh bình; nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao và thu nhập của người dân tăng
lên, do vậy nhu cầu nội địa cũng tăng theo; cộng đồng quốc tế ngày càng tin tưởng vào những nỗ lực
và quyết tâm hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam. Niềm tin đó được thể hiện qua Hội nghị các nhà
tài trợ cho Việt Nam (CG 2004) với con số cam kết ODA lên tới trên 3 tỷ USD.

Báo cáo Đầu tư thế tư thế giới 2007 (WIR) do Tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và
Phát triển (UNCTAD) công bố ngày 20/10/2007, đánh giá Việt Nam là nền kinh tế hấp dẫn thứ sáu trên
thế giới đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong giai đoạn 2007- 2009. Kết quả thăm dò ý kiến
của hàng loạt các tập đoàn xuyên quốc gia trên thế giới do UNCTAD tiến hành cho thấy 11% tổng số
tập đoàn được hỏi ý kiến cho biết họ sẽ ưu tiên đầu tư vào Việt Nam hơn, trong khi tỷ lệ này của
Trung Quốc là 52%, Ấn Độ là 41%, Mỹ 36%, Nga 22% và Brazil là 12%. Hai nước đứng ngay sau Việt
Nam về triển vọng thu hút FDI là Anh và Ba Lan với tỷ lệ lần lượt là 10% và 7%.

Tính đến nay, các khu công nghiệp trong cả nước đã thu hút được 24,2 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Điển hình là Bà Rịa_Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai và TP.HCM thu hút vốn đầu tư
đăng ký trên 2,57 tỷ USD, chiếm khoảng 60% cả về số dự án và số vốn đầu tư thu hút mới trong các
khu công nghiệp trên cả nước. Trong đó, Bà Rịa_ Vũng Tàu thu hút vốn đầu tư nước ngoài với tổng
vốn đầu tư đăng ký là 1,36 tỷ USD. Trong tháng 9 vừa qua, các khu, cụm công nghiệp ở tỉnh Tây
Ninh đã thu hút gần 85 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài, tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát triển xã hội như phân
chia một cách tương đối đồng đều các lợi ích của đổi mới cho đại đa số dân chúng; gắn kết tăng
trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển con
người (HDI) của Việt Nam từ vị trí thứ 120/174 nước năm 1994, lên vị trí thứ 108/177 nước trên thế
giới năm 2005; tăng tuổi thọ trung bình của người dân từ 50 tuổi trong những năm 1960 lên 72 tuổi năm
2005, giảm tỷ lệ số hộ đói nghèo từ trên 70% đầu những năm 1980 xuống dưới 7% năm 2005.
Với chính sách công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Việt Nam ngày càng phát triển về mặt khoa học kĩ
thuật, ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng…làm vị thế và uy tín
của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên toàn thế giới.

Điển hình là công ty Đóng tàu Hạ Long đang thực hi ện dự án đầu t ư nâng c ấp m ở r ộng s ản xu ất đ ến
năm 2010 cùng tập đoàn VINASHIN trong vi ệc tạo đà v ững chắc đ ể ti ến t ới m ục tiêu s ớm đ ưa Vi ệt
Nam trở thành cường quốc đóng tàu thứ tư trên thế giới vào năm 2015. Thành công trong vi ệc đóng
mới, hạ thuỷ và bàn giao loại tàu chở gỗ trọng tải 8.700 tấn cho chủ tàu khó tính Nhật B ản ngày 10/8
cùng hàng loạt sản phẩm tàu hàng 12.500 tấn, tàu chở container 1.700 TEU, tàu 53.000 tấn, tàu ch ở ô tô
4.900 xe...cho ra đời trước đó của Công ty đóng tàu Hạ Long (Quảng Ninh) đã kh ẳng đ ịnh vóc dáng
mới của một trung tâm đóng tàu xuất khẩu lớn của cả nước.

Công ty Đóng tàu Hạ Long (tiền thân là Nhà máy đóng tàu H ạ Long) do Chính ph ủ Ba Lan giúp
thiết kế xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 1976 với nhiệm vụ chính là đóng m ới và s ửa ch ữa
phương tiện thuỷ trọng tải đến 4.000 tấn.

Từ chỗ chỉ đóng những con tàu trọng tải 4.000 t ấn, đ ến nay, Công ty đã cho ra đ ời nh ững con
tàu vượt đại dương trọng tải 6.500 tấn, 12.500 tấn, tàu chuyên ch ở container 1.700 TEU trên m ột dây
chuyền khép kín từ khâu tiếp nhận vật tư, xử lý tôn, gia công chi ti ết đ ến l ắp ráp các phân t ổng đo ạn
trong nhà và đấu đà ngoài triền...đảm bảo thoả mãn các yêu c ầu quy phạm đăng ki ểm VR, NK, GL,
DNV, các công ước Quốc tế. Và, mới đây, uy tín, thương hi ệu c ủa đóng tàu "H ạ Long" nâng lên m ột
tầm cao mới khi Công ty bàn giao và hạ thủy thành công hai trong lo ạt tàu hàng đóng m ới tr ọng t ải
53.000 tấn mang tên Florence (số 1) và Kim cương xanh (Blue Diamond-số 2) . Thành công c ủa nh ững
người thợ Hạ Long không chỉ mở ra nhiều cơ hội mới cho Công ty mà còn kh ẳng đ ịnh tay ngh ề, uy tín
của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam nói chung và ở Quảng Ninh nói riêng trong giai đo ạn h ội
nhập quốc tế.

Để phát tiển đất nước Việt Nam phải tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Đẩy mạnh
chuyển dịch và nâng cấp cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH có hiệu quả và bền vững. Tỷ trọng
nông nghiệp trong GDP và tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm; ở nông thôn có nền nông nghiệp và
kết cấu hạ tầng cơ bản hiện đại, phát triển đa dạng các ngành công nghiệp và dịch vụ, thực hiện sự
chuyển biến căn bản bộ mặt nông thôn Việt Nam phù hợp với một xã hội công nghiệp. Công nghiệp
có đủ khả năng hợp tác và cạnh tranh ngang bằng với các nước trong khu vực, có chỗ đứng vững chắc
trên thị trường quốc tế. Khu vực dịch vụ phát triển đa dạng, trong đó dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn
thông phát triển hiện đại, tiếp cận trình độ quốc tế.

Theo mục tiêu đó tỉnh Bến Tre đã đạt được những thành tựu quan trọng về đẩy mạnh công nghiệp hoá
- hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng chất
lượng và hiệu quả ngày càng cao, đưa trồng trọt và chăn nuôi thành 2 ngành sản xuất chính trong kinh
tế nông nghiệp, hình thành rõ các vùng trọng điểm lúa, cây ăn trái, cây dừa, cây mía và nuôi trồng thủy
sản. Cây ăn trái diện tích tăng từ 36.390 ha (năm 2002) lên 38.312 ha (năm 2006) đạt 89,10% kế hoạch;
phần lớn có sự chuyển đổi, sử dụng giống mới có tính đặc sản, chất lượng cao. Có trên 60% diện tích
được đầu tư thâm canh, cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ sinh học nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa đáp ứng ngày càng tốt
hơn theo yêu cầu của thị trường.

Vườn dừa đã gia tăng đáng kể về diện tích và sản lượng, từ 35.435 ha (năm 2002) lên 41.692 ha (năm
2006) đạt 115,80% kế hoạch, sản lượng từ 217 triệu trái lên 271 triệu trái. Ngoài việc đầu tư ứng
dụng tốt các kỹ thuật mới trong canh tác với việc nuôi xen tôm cá, trồng xen cam, chanh, bưởi, ca cao,
măng cụt, chuối… đã nâng thu nhập cho người trồng dừa lên từ 1,2 - 1,5 lần so với những năm cuối
thập niên 90. Đến nay đã có trên 20% diện tích tạo được doanh thu 50 triệu đồng/ha/năm, cá biệt có
trên 40 ha thu nhập trên 80 triệu đồng/năm, phần lớn ở Chợ Lách.

Diện tích cây lúa tiếp tục giảm còn 38.000 ha theo quy hoạch về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhưng
năng suất không giảm, đạt bình quân 46,63 tạ/ha. Cơ cấu giống có 83% được chuyển đổi theo hướng
năng suất, chất lượng cao, đáp ứng tốt theo yêu cầu xuất khẩu. Đã cơ giới hóa gần 100% khâu làm
đất, tưới tiêu, suốt lúa và 30% khâu gieo sạ, cắt lúa. Ngành nông nghiệp chủ trương phát triển ăn chắc
2 vụ/năm, những vùng chủ động nước ngọt chuyển hệ thống canh tác 2 vụ lúa 1 vụ màu.

Diện tích mía giảm mạnh theo kế hoạch, toàn tỉnh có 9.693 ha đạt 96,93% kế hoạch, tập trung ở các
huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri có trên 80% diện tích được sử dụng giống mới, chữ đường cao,
đáp ứng tốt cho công nghiệp chế biến.

Ngành chăn nuôi phát triển khá nhanh, trong 5 năm qua có bước tăng trưởng đáng kể, đàn bò tăng trên
200% từ 61.474 con năm 2002 lên 162.657 con năm 2006, đàn heo tăng 10%, với chương trình nạc hóa
đã nâng lên đáng kể về chất lượng cho đàn gia súc của địa phương (tỉ lệ lợn ngoại và lợn đem lại kinh
tế cao chiếm 95% tổng đàn). Cùng với chương trình phát triển trang trại, phát triển các loại hình nuôi
mới như: Dê, cừu, thỏ… đã góp phần ổn định sản lượng ngành chăn nuôi trong tỉnh.

Nuôi thủy sản phát triển nhanh cả 3 vùng mặn, lợ, ngọt. Diện tích nuôi toàn tỉnh khoảng 43.000/49.000
ha, đạt 87,76% kế hoạch, trong đó có 5.500 ha nuôi công nghiệp, sản lượng 78.500 tấn năm 2007. Đặc
biệt năm 2006 và đầu năm 2007 tình hình nuôi cá da trơn phát triển nhanh, với trên 400 ha được đầu tư
thả giống, tập trung ven các sông Hàm Luông, Ba Lai, Cổ Chiên và sông Tiền, phong trào nuôi ba ba, cá
sấu cũng được nhân rộng đem lại hiệu quả cao.

Kết quả trên đã đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp trong 5 năm (2001 – 2006) đạt 26,33%,
bình quân 5,27%/năm (chương trình hành động 2001 - 2010 đề ra mục tiêu tăng bình quân 5%/năm). Cơ
cấu kinh tế nông thôn đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, giảm dần tỉ trọng
sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ (cuối năm
2006 nông nghiệp đạt 54,67/67,63%, công nghiệp xây dựng 17/12,09%, dịch vụ 28,35/21,23% (so năm
2002)). Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn không ngừng tăng lên từ
615,2 tỉ đồng năm 2001 lên 2.336 tỉ đồng năm 2006, bình quân tăng hàng năm 27,9%. Hệ thống các nhà
máy chế biến thủy sản, chế biến các sản phẩm từ dừa được đầu tư xây dựng, hoạt động có hiệu quả;
hình thành các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn; mạng lưới dịch vụ, cơ khí sửa chữa nhỏ cũng được
phát triển với quy mô khá rộng trên địa bàn, phát huy tốt các tác dụng, phục vụ tốt cho sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn.

Cơ cấu lao động nông thôn gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm nhanh tỉ trọng lao
động nông nghiệp, tăng tỉ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ, lao động nông nghiệp giảm
6,94%, bình quân giảm 1,16%/năm (năm 2002: 80,75%, năm 2006: giảm còn 73,81%). Đến cuối năm
2006 tỉ lệ lao động nông thôn được đào tạo đạt 30,03% (năm 2000 là 20%), nâng tỉ lệ sử dụng thời gian
lao động lên 82%.

b. Những thất bại trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam:

Ngoài những thành tựu đạt được Việt Nam cũng không tránh kh ỏi nh ững th ất b ại trong quá trình
công nghiệp và hiện đại hoá đất nước. Như tình hình c ủa ngành ô tô Vi ệt Nam hi ện nay. Su ốt m ột
thời gian dài, từ năm 1992 cho đến nay, Nhà nước đã dành nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt cho ngành
công nghiệp ô tô, nhưng ngành này vẫn ch ưa c ải thi ện là bao. Tuỳ thuộc vào địa bàn đầu tư, các liên
doanh lắp ráp ôtô tại Việt Nam hiện đang được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghi ệp ưu đãi
mức 15% hoặc 20% (trong khi các ngành khác bị áp 25%); đồng thời được mi ễn, gi ảm thu ế thu
nhập doanh nghiệp trong một số năm kể từ khi kinh doanh có lãi.

Các doanh nghiệp ôtô còn được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc, phương ti ện vận t ải
chuyên dùng, vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được, linh ki ện, chi ti ết, b ộ ph ận r ời... đ ể t ạo
tài sản cố định. Các hoạt động sản xuất, lắp ráp ôtô bán ra cũng không phải ch ịu thu ế giá tr ị gia tăng.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, tỷ lệ nội địa hoá mà các doanh nghiệp thực hi ện m ới ch ỉ đ ạt 2-10% và
tập trung vào các công đoạn giản đơn. Hệ quả c ủa chính sách b ảo h ộ là giá bán xe s ản xu ất trong
nước cao gấp 1,5 đến 2 lần so với Thái Lan, 2,5 lần so với sản xuất tại chính hãng. Th ậm chí, n ếu
mua xe mới từ Campuchia rồi tháo vứt bỏ khung sườn, vỏ máy, ch ỉ đem linh ki ện, ph ụ tùng v ề Vi ệt
Nam bán... vẫn thu siêu lợi nhuận. Nguyên nhân của tình tr ạng này là do doanh nghi ệp ỷ l ại s ự b ảo h ộ
nên đưa ra giá bán cao để thu lãi cao. Hậu quả là hơn 10 năm bảo hộ vẫn không đem lại gì cho đất
nước: không phát triển về kỹ thuật, không phát triển về đào tạo nhân sự, không t ạo đi ều ki ện t ối ưu
để phát triển ngành sản xuất linh kiện theo tiêu chuẩn thế giới. Công nghệ đ ược b ảo h ộ là công ngh ệ
lỗi thời về kỹ thuật vì không áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật cao để gi ảm tiêu hao năng l ượng, gi ảm ô
nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn giao thông tối ưu cho người s ử d ụng xe và cho nh ững ng ười s ử
dụng những phương tiện giao thông khác.

Theo các chuyên gia, sự ''nhân nhượng'' của Bộ Tài chính đã chẳng mang l ại hi ệu qu ả gì mà ch ỉ làm
cho chính sách thuế ôtô trở nên rối ren hơn và các nhà s ản xu ất, l ắp ráp, kinh doanh xe ôtô có c ơ h ội
trục lợi sau mỗi lần điều chỉnh. Thậm chí, không ít ý kiến đã băn khoăn rằng, tại sao B ộ Tài chính c ứ
phải bảo hộ cho các DN sản xuất, lắp ráp xe ôtô trong nước, trong khi bản thân các DN l ại không tuân
thủ các cam kết.

Sau mỗi lần nâng dần thuế tiêu thụ đặc biệt, phần thuế Nhà n ước thu thêm đ ược không nhi ều, trong
khi giá xe tăng chóng mặt và hậu quả người tiêu thụ phải gánh ch ịu. Còn các nhà s ản xu ất, đ ơn v ị kinh
doanh thì thu về lợi nhuận lớn. Tất cả các hãng ôtô t ại Vi ệt Nam (tr ừ Mekong Auto và Hino) đ ều có
lãi. Kể cả các DN chỉ bán được vài trăm xe/năm vẫn có lãi. Toyota Vi ệt Nam có th ời đi ểm đã lãi t ới 10
triệu USD/năm, Ford cũng đã đạt tới mức lợi nhuận 5 triệu/USD/năm.

Việc bảo hộ là có thời hạn, trong tương lai Việt Nam sẽ phải gi ảm thu ế ôtô nhập t ừ ASEAN. Xa h ơn
nữa khi khu vực mậu dịch tự do ASEAN được mở rộng, tiếp nhận thêm Trung Qu ốc, Nh ật B ản, Hàn
Quốc. Nếu không nhanh chóng có chiến lược mới thì có thể nói là ngành công nghiệp ô tô Việt Nam sẽ
sớm bị loại ra khỏi thị trường ô tô củ thế giới và nước ta sẽ là thị trường c ủa sản phẩm ô tô t ừ Trung
Quốc, Malaysia, Thái Lan và Hàn Quốc.

Ngoài ra, việc đầu tư tràn lan các nhà máy xi măng lò đ ứng. T ập trung quá đông các dự án xi-măng
trong cùng một khu vực. Ði dọc quốc lộ 1 từ Hà Nam đến Quảng Bình hi ện có hàng ch ục d ự án xi-
măng mới như xi-măng Bút Sơn 1, Bút Sơn 2, mới đây là xi-măng Vinashin ở Hà Nam v ừa kh ởi công,
xi-măng Tam Ðiệp ở Ninh Bình trên địa bàn Thanh Hóa, ngoài B ỉm S ơn 1, B ỉm S ơn 2, l ại thêm Nghi
Sơn 1, Nghi Sơn 2, rồi xi-măng Cống Thanh, cuối Thanh Hóa đầu Ngh ệ An là xi-măng Hoàng Mai và
sắp tới là xi-măng Ðô Lương. Quảng Bình có xi-măng Sông Gianh...   Với việc tập trung quá đông các
nhà máy xi-măng trên cùng một dải đất ảnh hưởng rất lớn đến môi tr ường, t ừ vi ệc tiêu th ụ đi ện, đ ến
sử dụng nguồn nước, khai thác nguồn nguyên liệu, đi lại, ăn ở của hàng chục nghìn lao đ ộng. Nhất là
khói bụi xi-măng sẽ ít nhiều ảnh hưởng tới cảnh quan môi trường chung quanh và sức khỏe con người.
Nhiều địa phương đã phải kiên quyết di dời ho ặc đình chỉ nh ững c ơ sở xi-măng ho ạt đ ộng kém hi ệu
quả, không bảo đảm vệ sinh môi trường. Trong đó đi đầu là t ỉnh H ải D ương v ừa qua có t ới chín c ơ s ở
sản xuất xi-măng lò đứng phải đình chỉ hoạt động. Các dự án xi-măng m ới n ếu không b ảo đảm các
yêu cầu về môi trường, đặt ở địa điểm không thích hợp cũng cần kiên quyết đình chỉ.
4. Theo bạn Việt Nam nên xây dựng nền kinh tế thị trường như thế nào?
Hãy bảo vệ quan điểm của mình.
Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường có cùng bản chất,chỉ khác nhau về trình độ phát triển. Kinh tế
thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
hay xã hội chủ nghĩa là phụ thuộc tính chất của nhà nước tư sản hay xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay tồn tại và phát triển kinh tế thị trường là tất yếu khách quan vì nước ta có đầy đủ điều kiện
tồn tại và phát triển của nền kinh tế thị trường :

_ Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá chẳng những không
mất đi mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng lận chiều sâu. Phân công lao động trong từng
khu vực,từng địa phương cũng ngày càng phát triển. sự phát triển của phân công lao động được thể
hiện ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị
trường.

_ Nền kinh tế đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất: sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể,sở
hữu tư nhân. Vì vậy tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập,có lợi ích riêng và sự khác biệt về trình độ
tổ chức và công nghệ sản xuất.

_ Kinh tế hàng hoá với quan hệ hang-tiền là trung gian đang là mô hình kinh tế phổ biến hiện nay.

_ Những ích lợi to lớn của kinh tế thị trường so với kinh tế bao cấp.

Do đó, sự tồn tại kinh tế thị trường ở nước ta là tất yếu,khách quan.

Sự phát triển kinh tế thị trường mang lại những lợi ích sau:

_ Do có sự cạnh tranh,nên những người sản xuất hàng hoá phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ
mới hiện đại vào sản xuất để giảm chi phí sản xuất đến mức tối thiểu nhờ đó nâng cao được năng
suất lao động của xã hội,thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

_ Kinh tế hàng hoá kích thích tính năng động,sáng tạo của chủ thể kinh tế,sản xuất được khối lượng
hàng hoá và dịch vụ lớn,kiểu dáng đa dạng phong phú,chất lượng cao.

_ Sự phân công lao động xã hội sẽ thúc đẩy sự chuyên môn hoá sản xuất,khai thác được tiềm năng,lợi
thế kinh tế của từng vùng,cũng như lợi thế của đất nước trong quan hệ kinh tế với nước ngoài để
nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.

Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế,chuyển từ n ền kinh tế k ế ho ạch hóa t ập trung sang
kinh tế hàng hoá. Mô hình kinh tế thị trường của Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. biểu hiện ở những đặc điểm sau:
_ Các chủ thể kinh tế có tính độc lập,có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.

_ Giá cả là tín hiệu kinh tế và do thị trường quyết định,hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và
nó có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành,các lĩnh vực
của nền kinh tế.

_ Nền kinh tế vận động chịu sự chi phối của những quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá
trị,quy luật cung cầu,quy luật cạnh tranh….sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều
tiết của nền kinh tế.

_Có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua pháp luật kinh tế,kế hoạch hoá,các chính sách kinh tế.

Ngoài ra,kinh tế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được
dẫn dắt,chi phối bởi bản chất và nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội. Do đó,có thể rút ra những đặc điểm
cơ bản nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta như sau:

_ Mục tiêu phát triển kinh tế thị trường:có nhiều cách thức để phân biệt nền kinh tế thị trường của
nước ta so với nền kinh tế thị trường các nước khác,đó là mục đích chính trị,mục tiêu kinh tế-xã hội
mà Nhà nước và dân ta đã lựa chọn làm định hướng chi phối sự vận động phát triển nền kinh tế. Mục
tiêu hàng đầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là giải phóng sức sản
xuất, động viên mọi nguồn lực để thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá,xây dựng cơ sở vật chất,kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội,nâng cao năng suất lao động,từng bước cải thiện đời sống nhân dân,thực
hiện tiến bộ xã hội.

_ Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần kinh tế,trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo:trên cơ sở tồn tại nhiều loại hình sở hữu và nhiều thành phần kinh tế,nhiều tổ chức sản xuất kinh
doanh nhằm khai thác tốt mọi nguồn lực,nâng cao được hiệu quả kinh tế,để thoả nảm nhu cầu ngày
càng tăng của nhân dân.các đơn vị kinh tế đều được bình đẳng với nhau trước pháp luật,vừa hợp tác
vừa cạnh tranh với nhau để phát triển.trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Và mỗi thành
phần kinh tế có bản chất kinh tế xã hội riêng, cjịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng,nên bên
cạnh sự thống nhất của các thành phần kinh tế,còn có những khác biệt và mâu thuẫn làm cho bền kinh
tế thị trường nước ta có thể phát triển theo những hướng khác nhau. Vì vậy kinh tế nhà nước phải
được xây dựng và phát triển có hiệu quả để thực hiện tốt vai trò chủ đạo của mình. đồng thời nhà
nước phải thực hiện tốt vai trò quản lí vĩ mô kinh tế-xã hội để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

_ Nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập,trong đó phân ph ối theo lao đ ộng
là chủ yếu:mỗi chế độ xã hội có những hình thức phân phối tương ứng v ới nó. Trong n ền kinh t ế th ị
trường nước ta,tồn tại các hình thức phân phối thu nhập sau:phân phối theo lao động,phân phối theo
vốn vay hay tài sản đóng góp,phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã h ội. kinh t ế th ị tr ường đ ịnh
hướng xã hội chủ nghĩa khác kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là ở ch ỗ xác lập chế độ công hữu và
thực hiện phân phối theo lao động còn kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa chủ yếu là phân phối theo
tư bản. phát triển kinh tế thị trường là phương tiện để đạt được m ục tiêu xây d ựng xã h ội ch ủ
nghĩa,thực hiện dân giàu nước mạnh,xã hội công bằng dân chủ,văn minh. Vì vậy m ỗi b ước tăng
trưởng kinh tế phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân,với tiến bộ và công bằng xã hội.

_ Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí c ủa nhà n ước xã h ội ch ủ nghĩa:n ền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế th ị tr ường
nhưng khác biệt ở chỗ nhà nước quản lí nền kinh tế không phải nhà n ước t ư bản mà là nhà n ước xã
hội chủ nghĩa,nhà nước của dân,do dân và vì dân,còn trong chủ nghĩa t ư b ản s ự qu ản lí là do nhà n ước
của giai cấp tư sản. Vai trò quản lí của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là vô cùng quan tr ọng. Nó đ ảm b ảo
cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả cao,đặc biệt là đảm bảo công bằng xã hội.

_ Nền kinh tế thị trường nước ta là nền kinh tế mở cửa,hội nhập với khu vực và qu ốc t ế:do s ự tác
động của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ,m ở cửa kinh t ế,h ội nh ập vào kinh t ế khu v ực và th ế
giới là tất yếu đối với nước ta nhằm phát huy n ội lực,tranh th ủ ngo ại l ực đ ể xây d ựng và phát tri ển
kinh tế thị trường. Thực hiện mở rộng kinh tế đối ngoại theo h ướng đa ph ương hóa v ề ngu ồn và đa
dạng hóa các hình thức đối ngoại,gắn với thị trường trong n ước và th ị tr ường khu v ực và th ế gi ới. Sau
khi gia nhập WTO là cơ hội tốt để nước ta hội nhập với kinh tế khu v ực và th ế gi ới đ ể nâng cao s ức
cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.

Hiện nay nền kinh tế thị trường nước ta đã có nhiều bước phát triển,tuy nhiên vẫn còn thua kém m ột
số nước trong khu vực. Do cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu,th ấp kém,n ền kinh t ế ít nhi ều còn
mang tính chất tự cấp tự túc. Lao động thủ công vẫn chiếm t ỉ tr ọng l ớn trong t ổng s ố lao đ ộng xã h ội.
Do đó,năng suất,chất lượng,hiệu quả sản xuất của nước ta còn rất thấp so với khu v ực và th ế
giới.phân công lao động kém phát triển,sự chuyển dịch c ơ cấu kinh tế ch ậm. Nông nghi ệp chi ếm t ỉ
trọng cao,các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ trọng th ấp.kh ả năng c ạnh tranh c ủa các doanh
nghiệp trên thị trường trong nước,cũng như thị trường nước ngoài còn rất yếu.

_Thị trường dân tộc đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đồng bộ

+ Thị trường hàng hóa-dịch vụ hình thành nhưng còn h ạn h ẹp

+Thị trường tiền tệ,thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhi ều khó khăn,nh ư các doanh
nghiệp tư nhân rất thiếu vốn nhưng không vay được,trong khi đó có nhi ều ngân hàng th ương m ại huy
động được tiền gửi mà không cho vay để ứ đọng. Thị trường chứng khoán ra đ ời nhưng v ẫn ch ưa phát
triển, ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thị trường này.

_Nền kinh tế nhiều thành phần cũng tham gia,nhưng chủ yếu là sản xuất nh ỏ,phân tán và kinh t ế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo.
_ Sự hình thành thụ trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại,hội nhập vào thị trường khu
vực và thế giới trong hoàn cảnh trình độ phát tri ển kinh tế k ỹ thu ật c ủa n ước ta còn y ếu kém so v ới
các nước khác. Xu hướng toàn cầu hoá và khu vục hóa kinh tế đang di ễn ra m ạnh m ẽ. Đ ặt ra cho các
nước nói chung cũng như nước ta nói riêng những thách thức vô cùng to l ớn. Vì v ậy,n ước ta ph ải ch ủ
động hội nhập,chuẩn bị tốt để chủ động tham gia vào khu vực hóa và toàn c ầu hóa,phát huy nh ững
mặt mạnh của nền kinh tế nước ta,thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa kinh tế đối ngoại,tận dụng
ngoại lực để phát huy nội lực,nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa n ền kinh t ế qu ốc dân,
định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

_Quản lí nhà nước về kinh tế xã hội còn yếu. Hệ thống pháp luật,c ơ chế,chính sách ch ưa đ ồng b ộ và
thiếu nhất quán,việc thực hiện chưa nghiêm túc,năng lực cán bộ còn hạn chế.

Các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa ở Việt Nam

Để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,c ần th ực hi ện đ ồng b ộ nhi ều gi ải
pháp.

_ Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần:

Trước đây chúng ta thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn gi ản với hai hình th ức là s ở h ữu toàn dân và s ở
hữu tập thể. Vì vậy,khi chuyển sang kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ,cần phải đ ổi m ới c ơ
cấu sở hữu cũ,bằng cách đa dạng hóa các hình thức sở h ữu,từ đó sẽ hình thành nh ững ch ủ th ể kinh t ế
độc lập.

Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Muốn vậy c ần phải tập trung ngu ồn l ực phát tri ển có
hiệu quả kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế. Đẩy mạnh việc đổi mới kĩ
thuật,công nghệ trong các doanh nghiệp nhà n ước,thực hiện cạnh tranh bình đẳng trên th ị tr ường,các
doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.

Khuyến khích kinh tế tư nhân ở nông thôn và cả thành thị phát tri ển các ngành ngh ề s ản xu ất kinh
doanh hợp pháp. Thực hiện hình thức liên doanh,liên kết gi ữa kinh tế tư nhân trong và ngoài n ước,tao
điều kiện cho nền kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhằm tăng kh ả năng c ạnh tranh,thu hút
công nghệ hiện đại.

_ Đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa, ứng dụng tiến bộ công nghệ và phát triển phân công lao
động xã hội.

Cần phải trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành,các lĩnh vực của nền kinh t ế phải ti ến hành pâhn
công lại lao động và phân bố dân cư. Hình thành c ơ cấu kinh t ế h ợp lí đ ể khai thác t ốt các ngu ồn l ực
của đất nước,tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh tế.

_ Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường
+ Cần hình thành thị trường sức lao động có tổ chức để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.

+ Phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ : xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp,ti ếp tục đ ổi m ới c ơ ch ế
quản lí giá,phát triển mạnh thương mại trong nước,tăng nhanh xuất nhập khẩu.

+Xây dựng thị trường vốn và thị trường tài chính để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất.

+ Phát triển khoa học và công nghệ trên cơ cở đổi mới cơ chế,chính sách

_ Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Trong điều kiện hiện nay,chỉ có mở cửa kinh tế,hội nhập vào kinh tế khu vực và thế gi ới m ới thu hút
được vốn, kĩ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác tiềm năng và thế m ạnh c ủa đất n ước nh ằm
phát triển kinh tế.

Mở rộng kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa về nguồn và đa dạng hóa các hình th ức kinh t ế
đối ngoại.

Cần đẩy mạnh xuất khẩu,coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối ngo ại. Gi ảm dần nh ập siêu, ưu
tiên nhập khẩu các tư liệu sản xuất. Thu hút vốn đầu tư của nước ngoài,hướng vào những lĩnh
vực,những sản phẩm có công nghệ tiên tiến,có tỷ trọng xuất khẩu cao.

_ Giữ vựng ổn định chính trị,hoàn thiện hệ thống pháp luật

Sự ổn định kinh tế chính trị là nhân tố quan trọng đầu tiên để phát tri ển kinh t ế. Là đi ều ki ện đ ể các
nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư. Mu ốn nh ư v ậy,n ước ta c ần ph ải gi ữ và
tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Vi ệt Nam,nâng cao hi ệu l ực qu ản lí c ủa Nhà
nước,phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Hệ thống pháp luật đồng bộ tạo ra hành lang pháp luật cho hoạt đ ộng kinh t ế,bu ộc các doanh nghi ệp
chấp nhận sự điều tiết của Nhà nước.

_ Xóa bỏ cơ chế bao cấp,hoàn chỉnh cơ chế quản lí của nhà nước

Thực tế đã cho ta thấy được kinh tế thị trường có hiệu quả hơn kinh tế bao cấp,do đó xóa bo c ơ ch ế
bao cấp,phát triển kinh tế thị trường sẽ có tác dụng nâng cao hi ệu quả kinh tế xã h ội,c ải thi ện đ ời
sống nhân dân,xây dựng tiến bộ xã hội.
5. Yếu tố nào là quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam?
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, là giai đo ạn mà th ị tr ường có vai trò quan
trọng và phát triển đa dạng, là mô hình kinh tế trong đó các quan h ệ kinh t ế đ ều đ ược th ực hi ện thông qua th ị
trường.

Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội ch ủ nghĩa, th ực ch ất đó là n ền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo c ơ chế th ị tr ường có s ự qu ản lý c ủa Nhà n ước, theo đ ịnh
hướng xã hội chủ nghĩa.

Để có thể xác định những yếu tố quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế thị trường ở Vi ệt Nam, chúng
ta cần sơ lược những đặc điểm của nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay:

1. Nền kinh tế hàng hóa nước ta có trình độ xã hội hóa cũng như tính c ạnh tranh ch ưa cao. Đ ặc đi ểm này
biểu hiện ở các mặt sau:

− Con người thiếu năng động, trình độ tay nghề, trình độ kỹ thuật, quản lý còn yếu kém.

− Nguồn vốn thiếu thốn, cơ sở hạ tầng vật chất và cơ sở hạ tầng xã hội còn thấp kém. Công
nghệ thiết bị lạc hậu nên chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, sức cạnh tranh kinh tế kém.

− Thu nhập còn thấp nên sức mua xã hội không cao, do vậy sản xu ất và đ ời s ống khó phát tri ển,
nhu cầu tiêu dùng chưa được thỏa mãn đầy đủ.

− Hệ thống pháp luật chưa đầy đủ và chưa đồng bộ.

2. Nền kinh tế hàng hóa Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, v ới vai trò ch ủ đ ạo c ủa thành ph ần
kinh tế Nhà nước.

Kinh tế hàng hóa và cơ cấu kinh tế nhi ều thành phần th ống nhất v ới nhau, b ởi vì chúng có cùng c ơ s ở
là 2 điều kiện của kinh tế hàng hóa. Hai đie6u2 kiện này là cơ sở đ ảm bảo cho s ự t ồn t ại lâu dài c ủa
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.

Tính chất nhiều thành phần của nền kinh tế chính là cơ sở thúc đẩy kinh t ế hàng hóa phát tri ển. Th ực
trạng kinh tế hàng hóa kém phát triển ở n ước ta do nhiều nguyên nhân gây ra, song nguyên nhân gây
hậu quả nặng nề nhất là sự vội vàng xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã h ội ch ủ nghĩa, th ực ch ất là
xóa bỏ điều kiện tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa, xóa b ỏ đ ộng l ực quan tr ọng cho phát tri ển
kinh tế.

Các thành phần kinh tế vừa hợp tác, bổ sung vừa cạnh tranh với nhau là một đặc đi ểm không thể thi ếu
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Theo Văn kiện Đại hội VIII: Trong nền kinh tế hàng hóa nhi ều thành phần ở n ước ta, th ị tr ường theo
định hướng XHCN là một thể thống nhất với nhi ều lực lượng khác nhau tham gia s ản xu ất và l ưu
thông, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế Nhà n ước với vai trò ch ủ đạo c ủa mình, n ắm gi ữ các
ngành, các lĩnh vực then chốt nên trở thành nhân tố đảm bảo định hướng XHCN cho nền kinh tế.

3. Kinh tế hàng hóa nước ta có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN.

Đặc điểm này cho thấy sự tương đồng và khác biệt về kinh tế hàng hóa gi ữa nước ta với các n ước
khác trên thế giới. Sự tương đồng là Việt Nam cũng thực hi ện m ột n ền kinh t ế h ỗn h ợp, phát huy
đồng thời bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình. Còn sự khác biệt là ở bản chất c ủa Nhà n ước ta, th ể
hiện bản chất của chế độ XHCN. Ngoài ra, sự khác nhau n ữa là về trình đ ộ qu ản lý, v ề ngh ệ thu ật
điều tiết thị trường.

Kinh tế thị trường theo định hường XHCN là hoàn toàn mới, chưa có ti ền lệ. Chính đ ịnh h ướng XHCN
góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững.

Để đảm bảo định hướng XHCN thì:

- Chế độ công hữu phải giữ địa vị thống trị, được khẳng định về mặt kinh tế: sở hữu nhà n ước ph ải
được vững mạnh, không ngừng củng cố và phát triển.

- Nhà nước XHCN có vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế… duy trì sự ổn định, hạn chế tính tự phát
gây thiệt hại của nền kinh tế thị trường thp6ng qua việc sử dụng hệ th ống lu ật pháp, hệ th ống
chính sách kinh tế - xã hội, hệ thống các công cụ kinh t ế. Nhà n ước ph ải trong s ạch, v ững m ạnh
với đội ngũ cán bộ nhà nước có đủ trình độ ngang tầm nhiệm vụ.

- Doanh nghiệp nhà nước phải góp phần làm tốt vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

4. Nền kinh tế hàng hóa Việt Nam phát triển theo hướng quốc tế hóa.

Đặc điểm này được nêu lên là do tính lịch sử đặc thù c ủa nền kinh tế n ước ta: đó là tr ước đây chúng ta
quan hệ với thế giới trong phạm vi hẹp, nay thì mở rộng. đặc điểm này còn bắt nguồn từ qui lu ật phân
công lao động và hợp tác quốc tế.

Mở cửa nền kinh tế là phù hợp với quy luật xã hội hóa sản xu ất, qu ốc t ế hóa s ản xu ất. M ở c ửa v ới
bên ngoài mới có thể so sánh với trình độ của thế giới, phát huy được lợi thế ti ềm năng c ủa đất n ước
và kết hợp nguồn lực bênt rong với nguồn lực bên ngoài.

Với các đặc điểm như trên các điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta như sau:

1. Nhà nước cần đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế và xã hội:
− Ổn định về chính trị là ổn định về chủ trương chính sách, pháp luật nh ất quán, b ộ máy Nhà
nước ngày càng hoàn thiện.

− Ổn định về kinh tế là ổn định về tài chính, ti ền tệ, th ị tr ường, giá c ả ít bi ến đ ộng, ngăn ch ặn
được lạm phát, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh.

− Ổn định xã hội là việc bảo đảm an ninh trật tự, xóa kinh tế ngầm, gi ảm thi ểu mâu thu ẫn xã
hội, hạn chế thất nghiệp, đảm bảo đời sống người dân, tạo ra môi tr ường xã h ội thu ận l ợi, t ạo
niềm tin của nhân dân.

2. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và cơ sở hạ tầng xã hội:

− Cơ sở hạ tầng vật chất là hệ thống cầu đường, bến cảng, sân bay, đi ện nước, thông tin b ưu
điện, chợ, siêu thị… được xem là phần cứng của nền kinh tế.

− Cơ sở hạ tầng xã hội: là hệ thống giáo dục, y tế, cảnh quan môi tr ường, h ệ th ống b ảo hi ểm…
là phần tâm của nền kinh tế.

Nơi nào mà cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội được đầu tư xây d ựng, thì n ơi đó kinh t ế th ị tr ường
phát triển, đời sống người dân được cải thiện đáng kể.

3. Có hệ thống luật pháp, hệ thống chính sách hoàn thiện và phải nâng cao năng lực quản lý kinh tế vĩ mô
của Nhà nước:

Luật đảm bảo quyền lợi và sẽ xử lý những hành vi trái luật của các ch ủ th ể kinh t ế. V ới hệ th ống
luật pháp đầy đủ, đồng bộ và hoàn thiện, sẽ giảm thiểu những vụ phạm pháp và tranh ch ấp, t ạo sự an
tâm cho các nhà đầu tư.

Nhà nước phải vận dụng những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô m ột cách đ ầy đ ủ và đúng đ ắn; b ộ máy
thực hiện có hiệu lực; đội ngũ cán bộ Nhà nước trong sạch, v ững m ạnh, có đ ủ trình đ ộ ngang t ầm
nhiệm vụ, để có thể chống làm ăn phi pháp, chống quan liêu, tham nhũng.

4. Cần khuyến khích những tâm lý, tập quán có lợi cho kinh tế hàng hóa:

− Ham làm giàu một cách chính đáng: tâm lý ham làm giàu không mâu thuẫn v ới CNXH, b ởi vì
dân giàu thì nước mạnh. Làm giàu là ước muốn cần khuyến khích nhưng không được bất chính,
không bóc lột, không phạm pháp…

− Tập quán “Sống và làm việc theo pháp luật”.

− Tập quán giữ uy tín trong kinh doanh.

5. Cần có cá nhà quản lý và kinh doanh giỏi, thích nghi với kinh tế thị trường:
Nền kinh tế hàng hóa dưới tác động của quy luật giá tr ị sẽ phân hóa nh ững ng ười s ản xu ất hàng hóa
thành hai nhóm: người kinh doanh giỏi sẽ tồn tại và phát tri ển, người kinh doanh kém b ị phá s ản và b ị
loại khỏi thị trường. Muốn phát triển kinh tế hàng hóa, Nhà n ước ph ải có chình sách và ch ương trình
kinh tế - xã hội rộng lớn nhằm đào tạo và phát triển đội ngũ các chuyên gia kinh t ế, k ỹ thu ật, qu ản
lý…

Cần có đội ngũ công chức hành chính không vụ lợi, tận tâm phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế.
6. Có hay không có nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam? Hãy bảo vệ quan điểm.
Khác với nền kinh tế tự nhiên cũng như nền kinh tế tự cung t ự c ấp, kinh t ế th ị tr ường là hình th ức xã h ội hóa
trong lĩnh vực kinh tế - xã hội. Giai đoạn đầu tiên c ủa tiến trình xã hội hóa là xã hội hoá lao động (chân tay và
sau đó là trí óc) với điều kiện tổ chức, quản lý và vốn của tư nhân (được gọi là kinh t ế t ư bản t ư nhân). Giai
đoạn xã hội hoá thư hai là xã hội hoá về vốn (được gọi là tư bản tập thể) – cơ sở hình thành CNTB đ ộc
quyền. Giai đoạn xã hội hoá thứ ba, cao hơn là xã hội hoá về tổ chức, quản lý diễn ra trong giai đoạn công ty
cổ phần – cơ sở hình thành CNTB độc quyền nhà nước. gi ữa thế kỷ XIX, tuy m ới có nh ững m ầm móng nào
đó của xu hướng cổ phần hoá, nhưng K.Marx đã dự báo rằng: Công ty cổ phần là một lỗ hổng của CNTB.

Đến nửa cuối thế kỷ XX, trong những đợt khủng ho ảng và c ạnh tranh gay g ắt, đã xu ất hi ện hình th ức xã h ội
hoá mới, với sự ra đời hàng nghìn “xí nghiệp công nhân tự qu ản”, ho ặc “xí nghi ệp ng ười lao đ ộng t ự qu ản”
ngay trong lòng CNTB. Trong số đó có nhi ều công ty c ổ ph ần mà h ơn 50% t ổng s ố v ốn thu ộc v ề các c ổ đông
là công nhân. Theo báo chí cho biết, loại hình xí nghiệp, công ty này th ường ho ạt đ ộng hi ệu qu ả t ốt h ơn các
công ty tư bản cùng loại. Dựa vào đặc điểm của nó, có thể gọi là giai đoạn xã hội hoá tổng hợp bao quát các
mặt lao động, vốn, tổ chức và quản lý thành một chỉnh thể.

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi h ỏi”ph ải tr ải qua m ột th ời kỳ quá đ ộ
lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã h ội có tính ch ất quá đ ộ và trong th ời kỳ
quá độ ấy có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiếu thành phần kinh tế”. Trong đường lối kinh tế,
Đảng ta đề ra:” Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế đ ộc l ập t ự ch ủ, đ ưa n ước ta
trở thành một nước công nghiệp ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất phù h ợp theo đ ịnh h ướng xã h ội ch ủ
nghĩa”.

Ngày nay không có một quốc gia nào dù là chưa có công nghi ệp hoá hay đã ở th ới kỳ h ậu công nghi ệp mà
không có sự can thiệp của nhà nước vào nền linh tế theo rất nhi ều lý do khác nhau. T ất nhiên m ức đ ộ can
thiệp của nhà nước là rất khác nhau và không có m ối tương quan tr ực ti ếp gi ữa m ức đ ộ đó v ới t ốc đ ộ tăng
trưởng kinh tế. Nền kinh tế thị trường và c ơ chế thị trường không làm gi ảm nh ẹ s ự qu ản lý c ủa nhà n ước.
Vấn đề là phương thức quản lý của nhà nước như thế nào để vận dụng đầy đ ủ các quy lu ật yêu c ầu khách
quan của bản than nền kinh tế thị trường. Đảng ta chủ trương xây dựng: “ nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tư
tưởng cơ bản của chủ trương này là kết hợp tất cả các ưu thế c ủa c ơ chế thị trường, sự th ống nhất th ể ch ế
và phương hướng hành động từ một trung tâm thông qua quản lý c ủa Nhà n ước và lý t ưởng xã h ội ch ủ nghĩa
về nâng cao phúc lợi xã hội và phân phối công bằng hơn thu nhập giữa các nhóm xã hội.
Trước hết, chúng ta phải hiểu rằng quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN hay quan hệ sản xuất trong n ền
kinh tế thị trường định hướng XHCN là vấn đề rất mới mẻ về lý luận và th ực ti ễn. Phát tri ển đất n ước theo
định hướng XHCN có nghĩa là chúng ta chưa thể có ngay CNXH theo đúng nghĩa c ủa nó, mà đó là m ột quá
trình, là mục tiêu chúng ta phải đạt tới. Trong quá trình đó, phải t ừng b ước xác l ập CNXH, ph ải t ạo ra nh ững
điều kiện, những tiền đề để phát triển theo đúng quỹ đạo của CNXH, tránh nguy c ơ ch ệch h ướng. Trong quá
trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải kết hợp m ục tiêu tăng tr ưởng kinh t ế v ới m ục
tiêu xã hội và mục tiêu bảo vệ mội trường nhằm thực hiện “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.

Để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hoá các hình th ức s ở h ữu. Và “t ừ
các hình thức sở hữu tư bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhi ều thành ph ần
kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, h ỗn h ợp”. Đ ể đ ạt đ ược đi ều đó, đòi h ỏi
chúng ta phải thực hiện nhất quán chính sách phát tri ển kinh tế nhi ếu thành phần.Các thành ph ần kinh t ế kinh
doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của n ền kinh t ế th ị tr ường đ ịnh h ướng XHCN,
cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó, kinh tế nhà n ước gi ữ vai trò ch ủ đ ạo, kinh
tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.

Một nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm, phát triển cân đối, bền vững hay phát triển không ổn định, nó phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quản lý của nhà n ước có vai trò quan tr ọng nh ất, quy ết đ ịnh đ ến
sựhphát triển của thị trường và toàn bộ nền kinh tế.

Khi nói đến vai trò quản lý của nhà nước đối với quá trình phát tri ển c ủa n ền kinh t ế cũng có nghĩa là nói đ ến
vai trò, khả năng, mức độ can thiệp của Chính phủ vào thị tr ường, vào quá trình v ận đ ộng c ủa n ền kinh t ế. s ự
can thiệp này đến đâu, bằng biện pháp gì, vào lĩnh vực nào trong từng th ời đi ểm, để m ột m ặt v ừ đ ịnh h ướng
cho sự phát triển đúng đắn của thị trường, mặt khác vẫn khuyến khích tính ch ủ đ ộng, sang t ạo c ủa c ơ s ở và
các doanh nghiệp, tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế.

Nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch tập trung, bao cấp trước kia đã tuyệt đ ối hoá vai trò qu ản lý c ủa nhà n ước,
phủ nhận vai trò tự điều tiết của thị trường. Từ quản lý vĩ mô đến quản lý vi mô đều do bàn tay của nhà nước
điều hành thong qua cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ từ trung ương đ ến đ ịa ph ương và các đ ơn v ị c ơ s ở
bằng hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh cứng nhắc. Cơ chế tập trung bao c ấp đã sinh b ộ máy qu ản lý
nhà nước cồng kềnh và hàng nghìn doanh nghiệp quốc doanh luôn dựa vào sự bao c ấp c ủa nhàn n ước, d ẫn
đến hậu quả là sản xuất kinh doanh không có lãi, thị trường không phát triển.

Nhận thức sớm được những mặt hạn chế của cơ chế cũ, Đảng và nhà n ước đã l ịp th ời chuyển đ ổi n ền kinh
tế nước ta sang nền kinh tế thị trường theo tinh thần nội dung c ủa Ngh ị quyết Đ ại h ội Đ ảng l ần th ứ VII là:
“Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước”.
Chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường là bước đi đúng đ ắn, k ịp th ời c ủa
Đảng và Nhà nước ta. Song điều đáng chú ý ở đây là chúng ta vẫn gi ữ vai trò “Qu ản lý c ủa Nhà n ước theo
định hướng XHCN” chứ không phải theo cơ chế thị trường tự do với sự tuyệt đ ối hoá vai trò t ự đi ều ti ết c ủa
thị trường như các học thuyết kinh tế học cổ điển và lý thuyết “Bàn tay vô hình” mà A.Smith đã nêu ra.

Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta trong những năm qua cho th ấy “n ền kinh t ế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà n ước” là m ột mô hình phát tri ển
hợp lý, vì nó có sự kết hợp giữa “Thị trường” với “Nhà nước”, tức là có sự kết hợp giữa “Bàn tay vô hình” với
“Bàn tay hữu hình” của nhà nước để tạo nên một thể chế quản lý mới có tính hiệu quả cao hơn.

Vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi ở đây là vai trò quản lý c ủa nhà n ước trong n ền kinh t ế theo c ơ ch ế th ị
trường hiện nay được thể hiện như thế nào, nhà nước c ần và không c ần can thi ệp vào lĩnh v ực nào c ủa th ị
trường? Đây là một vấn đề có thể còn có nhiều cách gi ải đáp theo những cách ti ếp c ận khác nhau. Nh ưng, t ừ
thực tế quản lý đã rút ra được trong những năm qua, kết h ợp v ới nh ững bài h ọc kinh nghi ệm c ủa các n ước
trên thế giới đã cho thấy vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện ở những nội
dung cơ bản như sau:

 Xây dựng một hệ thống chính sách vĩ mô ổn định, hợp lý nhằm định hướng cho th ị tr ường phát tri ển theo
đúng mục tiêu, đồng thời tạo long tin cho các nhà doanh nghiệp trong và ngoài n ước yên tâm đ ầu t ư, phát
triển sản xuất, kinh doanh.

Bài học thực tế của các nước phát triển đã cho thấy: hệ thống chính sách vĩ mô, hệ th ống pháp lu ật đ ầy đ ủ,
ổn định sẽ là nền tảng vững chắc cho nền kinh tế phát tri ển bền v ững, lành m ạnh, đúng đ ịnh h ướng, đ ồng
thời nó còn là cơ sở tạo ra một sân chơi bình đẳng, r ộng rãi cho các nhà doanh nghi ệp trong và ngoài n ước.
Với ý nghĩa đó, trong những năm thực hiện đường lối đ ổi m ới v ừ qua, nhà n ước ta đã ban hành đ ồng b ộ h ệ
thống văn bản pháp luật (đến nay đã có 43 luật, bộ luật, 45 pháp lệnh và hàng trăm văn b ản pháp quy khác
được ban hành) nhằm đáp ứng kịp thời cho công tác quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Cùng với việc hoàn chỉnh, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, những chính sách đi ều hành qu ản lý vĩ mô
cũng không ngừng được củng cố, hoàn thiện tạo nên m ột c ơ chế quản lý m ới, trong đó ch ức năng qu ản lý vĩ
mô của nhà nước ngày càng được tăng cường, đồng thời quyền ch ủ đ ộng ở các c ơ s ở và các doanh nghi ệp
ngày càng được nâng cao, ở một chừng mực nào đó, Nhà n ước đã th ể hi ện đúng vai trò, ch ức năng là ng ười
trọng tài điều khiển chứ không trực tiếp tham gia vào cuộc chơi trong không gian của thị trường.

Cơ chế quản lý mới đã có sự phân định rõ chức năng quản lý hành chính nhà n ước v ề kinh t ế c ủa cán b ộ,
ngành với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghi ệp. Theo đó là vi ệc gi ảm d ần c ơ ch ế b ộ
chủ quản đã tạo cho các công ty, các doanh nghiệp quốc doanh có nhi ều quyền t ự quy ết đ ịnh trong s ản xu ất
kinh doanh, đồng thời phía nhà nước đã giảm được gánh n ặng bao cấp. Đây chính là m ột b ước hoàn thi ện c ơ
chế quản lý vĩ mô, thiết lập sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo c ơ sở cho sự phát tri ển c ủa th ị
trường trong nước.

 Vai trò tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, an toàn và bình đẳng

Môi trường kinh doing thuận lợi, an toàn được biểu hiện thong qua nhi ều yếu t ố nh ư: h ạ t ầng c ơ s ở t ốt, h ệ
thống pháp luật đầy đủ, ổn định, nền hành chính rõ rang và b ộ máy c ộng quy ền trong s ạch, lành m ạnh…
Những yếu tố trên đều do nhà nước (và chỉ có nhà nước) tạo dựng nên nhằm thu hút đ ầu t ư trong và ngoài
nước phụcvụ co mục tiêu phát triển.

Môi trường kinh doanh còn thể hiện ở sự lành mạnh, bình đẳng trong c ạnh tranh gi ữa các thành ph ần kinh t ế,
giữa các doanh nghiệp, các tổ chức, các nhân hoạt động trongm ột không gian kinh t ế. B ởi vì, kinh t ế th ị
trường lấy cạnh tranh làm cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triển c ủa th ị tr ường, nhà n ước c ần t ạo ra c ơ ch ế
khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. Nhưng muốn có cạnh tranh lành m ạnh, tr ước h ết ph ải h ạn ch ế và ch ống
độc quyền, bởi vì độc quyền là “bản án tử hình” của cơ chế thị trường, dù đó là độc quyền nhà nước hay độc
quyền tư nhân.

Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, đối với những nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi như ở nước ta hiện
nay, thì cạnh tranh chưa thực sự đi vào tiềm thức trong hoạt đ ộng kinh t ế, ch ưa tr ở thành đ ộng l ực thúc đ ẩy
sự phát triển của thị trường. Trong khi đó, độc quyền nhà nước vẫn đang ngự trị trên nhiều lĩnh v ực c ủa n ền
kinh tế.

Độc quyền nhà nước lại chủ yếu dựa trên quyền lực hành chính ch ứ không ph ải d ựa trên năng l ực ho ạt đ ộng
kinh tế, bởi vì chính các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà n ước hoạt động không có hi ệu qu ả. Đ ộc quy ền d ựa
trên quyền lực hành chính được xem như rào cản hành chính đ ối v ới c ạnh tranh. Theo m ột s ố h ọc gi ả Trung
Quốc (là nước có môi trường kinh tế gần giống với Việt Nam) thì có 2 hình th ức đ ộc quy ền ch ủ y ếu d ựa trên
quyền lực hành chính là: độc quyền ngành và độc quyền địa phương.

 Vai trò bảo hộ

Để thị trường phát triển, nhà nước cần có sự bảo hộ hợp lý đối với m ột số kĩnh v ực và ngành hàng trong
nước. Bởi vì nhà nước là quản lý chủ thể cao nhất, là người đại diện cho quyền l ợi c ủa c ả c ộng đ ồng qu ốc
gia, chỉ có nhà nước mới có đủ tư các, sức mạnh, tiềm lực để thực hiện quyền bảo h ộ. Thông qua các c ơ
quan bảo vệ pháp luật và bộ máy hành chính, nhà nước có trách nhi ệm b ảo v ệ nh ững quy ền l ợi h ợp pháp c ủa
mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên thị tr ường, nh ư: quyền s ở h ữu (dù là s ở h ữu nhà n ước hay s ở
hữu tư nhân), quyền tự do kinh doanh theo pháp luật quy định, bảo v ệ bản quyền, nhãn hi ệu hàng hoá…Theo
nghĩa bao quát hơn, hình thức bảo hộ của nhà n ước còn được thể hiện ở sự b ảo h ộ n ền s ản xu ất trong n ước
trước sự cạnh tranh từ bên ngoài, bảo vệ những quyền lợi của công dân, các tổ chức doanh nghiệp trong n ước
khi có sự tranh chấp với các tổ chức, các tập đoàn kinh tế nước ngoài.
Trong giai đoạn hiện nay, tuy xu thế “hội nhập”, “m ở cửa” đang diễn ra m ột cách m ạnh m ẽ, nh ưng v ấn đ ề
bảo hộ sản xuất trong nước vẫn luôn là biện pháp, là chính sách có ý nghĩa quan tr ọng, thu ộc t ầm qu ản lý vĩ
mô của các chính phủ.

 Vai trò can thiệp, điều chỉnh, bổ sung thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước không những chỉ giữ vai trò bảo hộ, khuyến khích, tạo lập mội trường
kinh doanh, mà còn có khả năng can thiệp, điều chỉnh, bổ sung cho thị trường, hướng th ị tr ường vận đ ộng,
phát triển theo đúng mục tiêu quản lý. Đây là một vấn đề thực tế, m ột nhiệm v ụ quan tr ọng thu ộc ch ức năng
quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay vẫn không ít quan điểm cho r ằng: Nhà n ước không th ể và cũng
không nên can thiệp vào thị trường.

Điều tiết thị trường là khả năng tác động, can thiệp của Nhà n ước (chủ th ể qu ản lý) vào quá trình v ận đ ộng
của thị trường nhằm loại bỏ hoạc hạn chế những ảnh hưởng xấu của thị trường, hướng th ị tr ường v ận
động, phát triển theo đúng mục tiêu đã định.

Trong thực tế, không có nhà nước nào lại không có sự tác động, can thi ệp ít hay nhi ều vào th ị tr ường, làm
biến đổi thị trường. Chỉ có điều là sự tác động, can thiệp đó đến mức nào, hình th ức và bi ện pháp can thi ệp ra
sao, hiệu quả của sự can thiệp đó đến đâu? Lại là vấn đề khác, phụ thuộc vào tình hu ống c ủa th ị tr ường, vào
khả năng điều hành của chính phủ và thực lực của nền kinh tế mà nhà nước đang nắm giữ. thực tế quản lý đã
cho thấy, trong những năm qua nhà nước đã có những biện pháp can thi ệp k ịp th ời vào th ị tr ường, nên nh ững
tác động xấu do cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực trong những năm 1997 – 1998, nh ững t ổn
thất do thiên tai, bão lụt….đã không ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển kinh tế của nước ta.

Thông thường, sự tác động, can thiệp của nhà nước vào thị trường được thực hiện bằng quyền lực hành chính
thông qua các biện pháp hành chính của nhà n ước tác động vào th ị tr ường, h ướng th ị tr ường v ận đ ộng theo
mục tiêu định trước phù hợp với đường lối phát triển kinh tế. Tuy nhiên, c ơ ch ế tập trung bao c ấp tr ước kia
đã quá lạm dụng quyền lực hành chính trong quản lý, không th ừa nhận nh ững quy lu ật khách quan trong s ự
vận động của thị trường. Do vậy, nền kinh tế được điều hành chủ yếu b ằng các bi ện pháp hành chính, các
quyết định quản lý đều dựa theo ý chí chủ quan c ủa chủ thể qu ản lý (nhà n ước), d ẫn đ ến h ậu qu ả là th ị
trường bị thu hẹp, các quy luật kinh tế không phát huy tác dụng, nền kinh tế không phát triển.

Thực tiễn quản lý đã cho thấy, muốn điều tiết thị trường có hiệu quả cần phải sử dụng kết hợp hài hoà các
biện pháp hành chính với biện pháp kinh tế thông qua các công c ụ quản lý là pháp lu ật, các chính sách kinh t ế
như: chính sách thuế, chính sách giá cả, chiến lược đầu tư, chính sách tiêu dùng…Trong c ơ ch ế th ị tr ường,
biện pháp kinh tế đã ngày càng trở thành biện pháp cơ bản để điều tiết, định hướng cho sự phát tri ển c ủa th ị
trường.

Khi đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, hệ quả kèm theo là gây cho
những người quan tâm đến vấn đề này cảm giác nhận thức r ằng kinh t ế th ị tr ường là s ản ph ẩm t ự nhiên, đ ặc
thù của nền kinh tế dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, rằng chủ nghĩa xã hội luôn gắn v ới kinh t ế k ế ho ạch, ch ỉ
huy và bao cấp; rằng sau những thất bại của kinh tế kế ho ạch, các đ ảng c ộng s ản c ầm quy ền ở các n ước xã
hội chủ nghĩa hiện nay đang “ vay mượn” mô hình kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa để “lắp
ráp” thêm với nội dung “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Thật ra, không phải đợi đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa, mô hình kinh t ế th ị tr ường m ới xu ất hi ện. Kinh t ế th ị
trường đã xuất hiện từ khi loài người biết đền sản xuất hàng hoá, có nghĩa là khi các h ộ gia đình, các vùng,
miền đã biết phát huy lợi ích của chuyên môn hoá (hóan toàn t ự nhiên, t ự phát nh ư b ản ch ất và quy lu ật t ất
yếu của xã hội loài người). Kinh tế thị trường đã có từ chế độ phong ki ến (th ậm chí k ể c ả tr ước đó), nh ưmh
tuyệt nhiên không phải do nhà nước phong kiến chủ trương áp đặt. Nh ư v ậy, Kinh t ế th ị tr ường là s ản ph ẩm
tự nhiên, tất yếu của nền sản xuất xã hội khi đã thoát kh ỏi trình đ ộ t ự cung t ự c ấp, b ất k ể ở th ể ch ế chính tr ị
nào: phong kiến, tư bản hay xã hội chủ nghĩa.

Thời gian qua, trước những hiện tượng tiêu c ực nổi c ộm nh ư tham nhũng, buôn l ậu, h ư h ỏng c ủa cán b ộ có
chức quyền, tệ nạn xã hội…, nhiều người đã rất phiến diện khi vội vã qui ch ụp cho kinh t ế th ị tr ường là
nguyên nhân. Đó là một thái độ hoàn toàn không khoa học, không công b ằng chút nào. Kinh t ế th ị tr ường là
một khái niệm của khoa học xã hội nghiên cứu về kinh tế.

Quản lý nhà nước và pháp luật lại là một phạm trù khác. Chỉ cần liên h ệ đ ến Singapore, Hà Lan…, chúng ta
phải thừa nhận rằng kinh tế thị trường ở đó phát triển từ rất sớm và đến nay đã đ ạt m ức khá cao, nh ưng n ạn
tham nhũng đâu có tràn lan như ở nhiều quốc gia có nền kinh tế theo khuynh hướng kế hoạch và tập trung hay
mới chập chững bước vào chủ trương kinh tế thị trường.

Vì vậy, để tránh những ngộ nhận thiếu khoa học, nên chăng trong lĩnh v ực kinh t ế ch ỉ c ần đ ề ra ch ủ tr ương
xây dựng, củng cố và hoàn thiện từng bước n ền kinh tế thị trường (trong đó không th ể thi ếu vai trò c ủa nhà
nước trong việc khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh t ế th ị tr ường). R ồi trong v ấn đ ề chính tr ị - xã
hội, mới đề cập đến xây dựng thể chế xã hội chủ nghĩa. Lẽ đương nhiên, c ần nêu đ ược nh ững đ ặc tr ưng c ơ
bản của thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa mà đất nước cần hướng tới.
7. Thế nào là một nền tài chính lành mạnh? Hãy so sánh với thực tại nền
tài chính của Việt Nam. Theo bạn cần chỉnh sửa gì? Hãy bảo vệ quan
điểm.
Tài chính là một phạm trù kinh tế khách quan chúng ra đời là tồn tại trong n ền kinh t ế hàng hoá.Nó d ẫn d ắt và
thúc đẩy nền kinh tế hang hoá đạt được những bước tiến khổng lồ.Ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển làm
cho tài chính ngày càng đa dạng hơn,phong phú h ơn và có m ột v ị trí và vai trò vô cùng quan tr ọng trong n ền
kinh tế.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,tài chính đã thực sự phát huy đầy đủ vai trò c ủa mình đối v ới sự
phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Để đạt được hiệu qu ả cao trong n ền kinh t ế thì c ần ph ải có m ột n ền
tài chính lành mạnh.Vậy nền tài chính lành manh là gì?

I. Khái niệm

Tài chính lành mạnh là nền tài chính thông qua việc hình thành và sử dụng các qu ỹ ti ền t ệ h ợp lý đ ể đáp ứng
các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước,cho quốc phòng an ninh,cho các ch ủ th ể trong xã h ội,và cho các
mục đích khác…Các thành phần kinh tế hoạt động trong khuôn kh ổ pháp lu ật,ti ền t ệ tr ở thành công c ụ h ữu
hiệu ,phản ánh đúng quan hệ cung cầu và quy luật giá trị đồng thời phát huy m ạnh m ẽ vai trò c ủa nó đ ối v ới
sản xuất kinh doanh,dịch vụ và đời sống xã hội đưa nền kinh tế đạt được những mục tiêu mong muốn.

II. Vai trò của tài chính:

1. Điều tiết kinh tế:

Trên cơ sở kinh tế , giám sát bằng bằng đồng tiền,nhà nước nắm được thực tế ho ạt động c ủa n ền kinh t ế
từ đó phát hiện ra những vấn đề cần can thiệp điều tiết.Bàng các chính sách phân phối ,nhà nước đi ều ti ết
nền kinh tế theo kế hoạch đã định.Nhà nước có thể đầu tư thêm v ốn ,b ổ sung v ốn, đ ầu t ư và h ỗ tr ợ đ ể
hạn chế phát triển những nghành chưa cần thiết…Đồng thời nhà n ước cũng có th ể thong qua vi ệc nâng
cao hoặc hạ thấp thuế suất để điều tiết hoạt động đầu tư kinh doanh gi ữa các nghành nhàm thúc đ ẩy
kinh tế phát triển.

2. Xác lập và tăng cường các quan hệ kinh tế

Để lành mạnh hoá các quan hệ tài chính,một mặt nhà nước điều chỉnh các quan h ệ tài chính ,m ặt khác
phải chủ động tạo điều kiện thúc đẩy sự ra đời các thị tr ường v ốn trung h ạn, dài h ạn,nh ất là th ị tr ường
chứng khoán

3. Tích tụ và tập trung vốn,cung ứng vốn cho các nhu cầu của s ự nghi ệp công nghi ệp hoá,hi ện đ ại
hoá đất nước:
Trong nền kinh tế luôn diễn ra quá trình di chuyển ngu ồn tài chính hai chi ều t ừ lĩnh v ực s ản xu ất sang
lĩnh vực phi sản xuất,từ trong nước ra ngoài nước và ngược lại.Nếu nhà nước có chính sách tốt điều chỉnh
các quan hệ tài chính nảy sinh trong quá trình di chuyển nói trên thì có th ể thúc đ ẩy quá trình t ập trung
voón cho đầu tư phát triển, giảm bớt ccá chi phí không cần thiết và thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài.

4. Tăng cường tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh:

Thông qua việc điều chỉnh các quan hệ thu chi tài chính và phân phối thu nh ập tài chính có th ể nâng cao
hiệu quả hoạt đông sản xuất kinh doanh thong qua chức năng giám đ ốc,tài chính duy trì k ỷ lu ật tài chính
góp phần đẩy lùi lãng phí,tham ô…

5. Hình thành quan hệ tích luỹ ,tiêu dung hợp lý:

Phân hoá sản xuất thành kẻ giàu,người nghèo gây nên sự bất công trong xã hội tạo

ra sự chênh lệch về thu nhập giữa người giàu,người nghèo.Vì vậy cần phân phối lại

và điều chỉnh từng bước cho phù hợp bằng cách đánh thuế thu nhập vào người có thu

nhập cao,hỗ trợ người có thu nhập thấp,lập các quỹ xoá đói giảm nghèo,nâng lương

cho người lao động…

6. Củng cố liên minh công-nông,tăng cường vai trò của nhà nước quốc phòng và an ninh:

Lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho thấy một nền tài chính lành mạnh theo h ướng tăng tr ưởng kinh
tế gắn liền với tiến bộ xã hội sẽ tạo cơ sở kinh tế-xã hội vững chắc cho vi ệc c ủng c ố lien minh công-
nông- trí-thức.

III. Nền tài chính của Việt Nam hiện nay:

Ở nứoc ta hiện nay nền kinh tế thị trường đã và đang trên đường phát triển,nhà

nước ta đã có nhiều chính sách tài chính theo hướng XHCN,tạo đi ều ki ện phát tri ển th ị tr ường tài chính
theo kịp các nước trên thế giới .Từ những đổi mới trong tư duy kinh t ế c ủa đại h ội VI,th ực hi ện các chính
sách thong thoáng và phù hợp với thong lệ quốc tế,Vi ệt Nam đã thực sự có sự chuyển h ướng mang tính
bước ngoặt lịch sử trong các chính sách.

Trải qua một chặng đường dài gần 40 năm không ngừng thay đ ổi ,hoàn thi ện h ệ th ống chính sách pháp
luật ,những ảnh hưởng của sự đổi mới trong hệ thống chính sách ngo ại th ương g ặt hái đ ược nhi ều thành
công.

Chính sách mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho các đối tượng thuộc m ọi thành ph ần kinh t ế đã t ận d ụng
và khai thác được các tiềm năng xuất khẩu trong nước.Việc nhà nước không còn can thi ệp quá sâu vào đ ộc
quyền các hoạt động xuất nhập khẩu khiến cho các nguồn hang trong nước được khai thong,các hoạt động
xuất nhập khẩu được điều tiết nhẹ nhàng theo sự thay đổi trong thị trường.Tình trạng”cha chung không ai
khóc” đã chấm dứt,nhà nước không còn bù lỗ cho các ho ạt đ ộng ngo ại th ương,các nhà doanh nghi ệp đã t ự
hạch toán kinh doanh để có lãi,nhờ chính sách tài chính tài chính c ủa n ước ta h ọ đã năng đông hg ơn khi đi
kiếm “miếng cơm manh áo”nuôi sống cho chính mình và nộp thuế nghĩa vụ cho nhà nước.

Trong những năm vừa qua Việt Nam đã đạt được những thàng tự to lớn và đi lên b ằng chính đôi chân c ủa
mình.Tính đến thời điểm 2000 nước ta đã có quan hệ thương mại v ới 160 qu ốc gia và vùng lãnh th ổ, đã ký
hiệp định thương mại với 62 nước ,và đã có hiệp định thương mại v ề đ ối xử t ối hu ệ qu ốc(MFN) v ới 72
nước…

nhờ quan hệ tài chính tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của việt nam vàoEU nói riêng và châu âu nói chung
đều tăng qua các năm.Năm 1991 tỷ trọng vào EU mới chi ếm 5,7% kim ngạch xu ất kh ẩu c ủa vi ệt nam và
tới năm 2000đã là 21,7%đua tỷ trọng xuất khẩu của việt nam sang châu âu lên gần 28%.T ổng giá tr ị XK
đạt 2.875,7 triệu USD tăng trong vài năm trở lại đây

Quan hệ thương mại với Bắc Mỹ chủ yếu là Mỹ đã có bước phát tri ển nhanh k ể t ừ khi bình th ường hoá
quan hệ Việt-Mỹ vao năm0995

Sau khi trở thành thành viên chính thức c ủa ASEAN (1995),APEC(1998) ,và gia nh ập WTO,vi ệt nam đã
cam kết cắt giảm thuế thuế quan và mở rộng thị trường vào năm 2006

Việt Nam đã xây dựng,công boó và từng bước thực hiện đi ều chỉnh h ệ th ống thu ế quan phù h ợp v ới đi ều
kiện của AFTA,APEC, WTO.. điều này ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách c ủa chính ph ủ và đ ể đ ảm
bảo nguồn thu không giảm sút đột ngột,các sắc thuế trong nội địa như thu ế tiêu th ụ đặt bi ệt …s ẽ ph ải
điều chỉnh và điều này ảnh hưởng đến mặt bằng giá c ủa một số măt hang và t ới tiêu dùng c ủa dân
cư.Cùng với quá trình mở rộng,mở cửa tự do hoá thương mại cũng như đầu tư trong n ội b ộ khu v ực ngày
càng tăng(hơn 50%)Viêt Nam đã hợp tác tài chính ti ền tệ nh ư ổn đinh t ỷ giá h ối đoái,phát hành trái
phiếu,cổ phiếu,trnhs cạnh tranh phá giá,giảm chi phí giao dịch, đảm bảo ổn định giá cả…

Mặc dù nền tài chính gần đây của Việt Nam có những ti ến bộ đáng ghi nh ận trên nhi ều lĩnh v ực nh ưng
những việc cần làm còn không ít khó khăn.

Nhũng chính sách này đòi hỏi nhà nước có những chính sách đ ầu t ư thông thoáng h ơn,chính sách t ỷ giá linh
hoạt,chính sách pháp luật phù hợp với những cam kết quốc tế,chính sách pháp lu ật đảm b ảo đ ược quy ền
và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ xuất nhập khẩu,chính sách bảo h ộ và th ương hi ệu
cho các mặt hang nội địa,chính sách thuế quan.Hy vong m ột t ương lai không xa,v ới s ự thay đo ỏi không
ngừng và ngày càng hoàn thiện của các chính sách nhà n ước,Vi ệt Nam s ẽ đ ạt đ ược nhi ều thành t ựu to l ớn,
đua nền tài chính đi lên,trở thành một nước có nền tài chính thực sự vững mạnh.
Nhìn chung trong nền kinh tế hiện nay nhà n ước đóng vai trò là người đi ều ch ỉnh các ho ạt đ ộng kinh t ế-xã
hội thông qua các công cụ ,chính sách,pháp luật…Tuy nhiên th ực hi ện đ ược vai trò nay đòi h ỏi ph ải gi ải
quyết hang loạt các vấn đề:

- Nhà nước nên can thiệp vào đâu,khi nào và mức độ ra sao?

- Nhà nước can thiệp thông qua coong cụ gì và tác động giữa các công cụ ra sao…?

IV. Quan điểm về chính sách tài chính lành mạnh:

Để xây dựng một nền tài chính lành mạnh thì nhà nước phải mạnh,luật pháp hoàn chỉnh,thực lực kinh
tế đủ mạnh

1. Nhà nước mạnh:

- Nhà nước giỏi chiến lược, biết hoặch định,lựa chọn tổ chức thực hiện chi ến l ược có hi ệu qu ả
cao nhất

- Nhà nước biết kích thích các tác nhân kinh tế ,khơi dậy mọi ti ềm năng bằng m ột h ệ th ống
chính sách hợp lý,khuyến khích tiết kiệm, đầu tư giải quyết việc làm

- Nhà nước không nên can thiệp quá liều lượng vào n ền kinh tế mà là người đi ều hoà n ền kinh
tế thị trường

- Nhà thể hiện ở cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của nó. Đó là một nhà nước gọn nhẹ
và thành thạo không quản ly đất nước bằng số lượng nhân viên c ủa mình hay b ằng các quy ết
định tuỳ tiện.Thực tế cho thấy rằng chiến lược gi ỏi ,chính sácg hay s ẽ không mang l ại k ết qu ả
mong muốn nếu kết cấu bộ máy tổ chức nhà nước cồng kềnh,số lượng nhân viên càng đông thì
hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà n ước càng thấp,tập trung quan lieu,t ất nhiên d ẫn đ ến ch ỉ
huy phân tán không hiệu quả

2. Pháp luật hoàn chỉnh:

- Nhà nước xây dụng và không ngừng hoàn thiênh khung pháp lu ật ,nhất là luât kinh t ế nh ằm t ạo
ra một hanh lang pháp lí cho các chủ thể kinh tế an tâm hoạt động trong an toàn và trật tự

- Những chủ trương chính sácg có tầm vóc lớn và dài hạn của nhà nước đều ph ải đ ược th ể ch ế
hoá bằng các đạo luật thông qua bởi quốc hội nhằm đảm bảo chấp hành nhất quán.

3. Thực lực kinh tế đủ mạnh:

- Đây là vấn đề còn nhiều quan điểm trái ngược nhau.Nhà nước có thực lực kinh t ế đ ủ m ạnh
không phải ở số lượng các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu mà là ở chỗ:
- + Tuỳ theo yêu cầu cụ thể nhà nước lựa chọn m ột cách chính xác đ ể có th ể kiêm soát nghành
này,can thiệp, điều tiết lĩnh vưc kia hoặc bảo trợ nâng đ ỡ nhưng ho ặt đ ộng khác m ột cách có
hiệu quả

+ Trong mỗi giai đoạn khác nhau nhà nước đều định hướng hợp lý m ức đ ộ,ph ạm vi can thi ệp
vào nền kinh tế,sự can thiệp vào nền kinh tế phải đảm bảo sự tăng trưởng,phát tri ển kinh t ế
nhanh, ổn định,bền vững.

- Thực lực của nhà nước còn thể hiện ở trình đọ,hiệu năng sử dụng những

công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô bằng cách :

+ Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính

+ Giải quyết việc làm chống thất nghiệp, khuyến khích người lao động tự t ạo công ăn,vi ệc làm và
thu hút lao động

+ Kiềm chế và kiểm soát lam phát,thu hút vốn đầu tư

+ Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, ổn định và dự báo được tỷ giá hối đoái.

+ Phát triển thị trường trái phiếu khu vực,cổ phiếu..

+Thông qua hoạt đông thu chi của mình,ngân sách nhà nước gián ti ết điều chỉnh ho ạt động c ủa n ền
kinh tế quốc dân trên cả phương diện tổng thể và bộ phận

+ Viêc thu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước góp phần thực hiên bình đẳng và công
bằng xã hội

+ Để nền tài chính lành mạnh nhà nước áp dụng tốt các công cụ tài chính về ti ền t ệ-tín d ụng,qu ỹ
dự trữ quốc gia,các quỹ bảo hiểm…sao cho hợp lí để bù đáp thâm hụt ngân sách ,t ạo v ốn đầu
tư,phục vụ yêu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế xã hội theo chiến lược dài han của nhà nước

 Tất cả các chính sách trên đều là cơ sở,nền tản để tạo ra nền tài chính lành mạnh góp phần trong công cuộc
xây dựng đát nước đi lên,phat triển chung nhip độ với các nước trên thế giới.
9. Hãy cho biết những mặt được và chưa được của các Ngân hàng Thương
mại ở Việt Nam hiện nay: NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, chi nhánh
NHTM liên doanh, NHTM ngoài nước.
I. Khái niệm và vai trò của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền của người gửi và cho các công ty và cá nhân vay lại. Tiền
huy động được của người gửi gọi là tài sản “nợ” của ngân hàng. Tiền cho công ty và cá nhân vay lại cũng
như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là tài sản “có” của ngân hàng. Phần
chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu g ọi là vốn tự
có của ngân hàng thương mại. Phần tài sản có tính thanh khoản được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi
vào ngân hàng bị rút ra đột ngột gọi là tỷ lệ dự trữ của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia
làm hai loại: vốn cấp 1 và vốn cấp 2.

− Vốn cấp 1(còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ cộng với lợi nhuận không chia
cộng với các quỹ dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng nh ư quỹ dự trữ b ổ
sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển.

− Vốn cấp 2 về cơ bản bao gồm: (i) phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức tín d ụng
(ii) nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển đ ổi, cổ phiếu ưu đãi và một
số công cụ nợ thứ cấp nhất định) và (iii) dự phòng chung cho rủi ro tín dụng.

Dựa vào cơ cấu ngành kinh tế với tư cách là đối tượng phục vụ, các ngân hàng th ương m ại đ ược chia thành
hai loại:

 Ngân hàng chuyên doanh (ngân hang ngoại thương, ngân hàng nông nghi ệp, ngân hàng đ ầu t ư phát
triển…).

 Ngân hàng kinh doanh tổng hợp (ngân hàng công thương).

Căn cứ vào chủ thể sở hữu về vốn khi thành lập ngân hàng, các ngân hàng thương mại được chia thành:

− Ngân hàng thương mại nhà nước: là ngân hàng thương mại được thành l ập bằng 100% v ốn c ủa nhà
nước. Nó hoạt động theo những nguyên tắc của doanh nghiệp nhà nước. Các ngân hàng th ương m ại nhà
nước ở Việt Nam: Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp (Agribank), Ngân
hàng công thương (Incombank), và Ngân hàng Đầu tư (BIDV), Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông
Cửu Long.

− Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng được thành lập theo hình th ức công ty c ổ ph ần mà v ốn do
các cổ đông đóng góp với số cổ phần thuộc sở hữu c ủa mỗi đông không quá t ỷ l ệ do ngân hàng nhà
nước quy định. Sự tồn tại và hoạt động của ngân hàng này ph ải theo khuôn kh ổ pháp lu ật c ủa nhà n ước
và những quy định của ngân hàng nhà nước.

Các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), Ngân
hàng thương mại cổ phần nhà Hà nội (Habubank), Ngân hàng Thương m ại Cổ phần K ỹ thương Vi ệt
Nam (Techcombank), Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phương Nam , Ngân hàng Th ương m ại c ổ ph ần
Việt Á, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank),…

− Ngân hàng thương mại tư nhân: là ngân hàng kinh doanh mà v ốn thu ộc s ở h ữu c ủa t ư nhân m ột ch ủ. T ổ
chức và hoạt động của nó theo luật pháp của nhà n ước và quy đ ịnh c ủa ngân hàng nhà n ước v ới các
điều khoản riêng.

− Ngân hàng thương mại nước ngoài: là những cơ sở (chi nhánh) của nước ngoài tại Việt Nam. Sự tồn tại
và hoạt động của chúng phải tuân theo luật pháp của nhà nước Vi ệt Nam và ch ịu s ự qu ản lý kh ống ch ế
của ngân hàng nhà nước.

− Ngân hàng liên doanh: là các ngân hàng liên doanh gi ữa m ột ngân hàng qu ốc doanh v ới m ột ho ặc nhi ều
đối tác nước ngoài. Các ngân hàng này chịu sự chi phối của quy đ ịnh v ới ngân hàng n ước ngoài. Có 4
ngân hàng liên doanh sau đây: "Indovinabank" (IVB), "VID Public Bank", First Vina Bank", "VinaSiam
Bank".

 Vai trò của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh v ực ti ền t ệ. ho ạt đ ộng c ủa các ngân hàng
thương mại lại gắn với chức năng quản lý vi mô – chức năng kinh doanh c ủa các doanh nghi ệp trong n ền
kinh tế thị trường. Với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng th ương m ại ph ải là
những doanh nghiệp:

− Có tư cách pháp nhân, tự chủ vế tài chính, hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế.

− Chịu sự quản lý vĩ mô của ngân hàng nhà nước.

− Có quan hệ với khách hang theo nguyên tắc tự chịu trách nhi ệm về v ật ch ất và hành chính đ ối v ới tài
sản, tiến vốn và cam kết giữ bí mật cho khách hàng.

− Có quan hệ với các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc bình đẳng, t ự nguy ện, cùng có l ợi, v ừa h ợp
tác vừa cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật.

Ngân hàng thương mại dù được thành lập dưới hình thức nào cũng đều hoạt động theo ba nghi ệp vụ chính
như: huy động vốn, cho vay và thanh toán.
II. Những mặt “được” của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

1) Điểm mạnh

− Có hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp.

+) Khối ngân hàng nhà nước:

NHTM có mạng lưới lớn nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank). Ngân hàng
này hiện có 500 phòng giao dịch và gần 1.500 chi nhánh trên toàn quốc.

Đứng thứ hai là Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) với 104 chi nhánh c ấp 1 và s ở giao
dịch khắp nước, số lượng phòng giao dịch lên tới vài trăm. Kế đến là Ngân hàng Công th ương Vi ệt Nam
(Incombank) với mạng lưới 2 sở giao dịch, 130 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch.

+) Khối ngân hàng cổ phần: Đứng đầu hệ thống ngân hàng TMCP là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Th ương
Tín (Sacombank) với 52 chi nhánh và 109 phòng giao dịch. Ti ếp theo là Ngân hàng TMCP K ỹ Th ương
(Techcombank) với 109 điểm giao dịch trải rộng trên 16 tỉnh thành. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2007,
Techcombank đã mở mới hơn 20 điểm giao dịch. Cùng với đó, Techcombank còn tranh th ủ m ở r ộng h ệ
thống ngân hàng điện tử để khách hàng chỉ cần kích chuột vào Internet là đã có thể sử dụng được dịch vụ
Fast i-pay, Fast Mobipay... Không chỉ Techcombank và Sacombank có nhi ều chi nhánh, phòng giao d ịch
mà các ngân hàng TMCP khác như Ngân hàng TMCP á Châu (ACB) cũng có t ới 84 chi nhánh và phòng
giao dịch; Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank) hi ện có 36 đi ểm giao d ịch và s ẽ m ở thêm 23
điểm giao dịch trong quý 3 và đầu quý 4/2007. M ột số ngân hàng khác cũng tăng c ường m ở r ộng m ạng
lưới như Đông á hiện có 80 chi nhánh và phòng giao dịch, còn Ngân hàng TMCP Quân đội (MB Bank) đặt
mục tiêu nâng số điểm giao dịch lên 80 trong năm 2007.

− Am hiểu về thị trường trong nước.

Hiện nay, một số ngân hàng, các tổ chức tài chính nước ngoài đã quyết đ ịnh mua c ổ ph ần trong các ngân
hàng thương mại tại Việt Nam (như HSBC mua cổ phần c ủa Techcombank, ANZ mua c ổ ph ần c ủa Ngân
hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) hay Standard Chartered mua c ổ ph ần c ủa Ngân hàng Á Châu
(ACB)...). Tuy nhiên, số lượng này còn khiêm tốn, vẫn chưa t ạo ra s ự c ạnh tranh m ạnh m ẽ m ột ph ần
cũng là do họ chưa thể am hiểu về thị trường trong nước bằng các ngân hàng thương mại của Việt Nam.

− Đội ngũ khách hàng của ngân hàng thương mại Việt Nam khá đông đảo.

Vd: chỉ trong vòng ba năm kể từ ngày thành lập ngân hàng Vietcombank đã có m ột tri ệu khách hàng s ử
dụng thẻ ATM

− Chiếm thị phần lớn về hoạt động tín dụng, huy động vốn và dịch vụ.
Các ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn huy đ ộng và c ấp tín
dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu nhập.

Những ngân hàng thương mại trong nước hiện đang nắm gi ữ kho ảng gần 90% th ị ph ần (c ả ti ền g ửi và cho
vay), trong đó riêng các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm 70%.

− Đội ngũ nhân viên tận tụy, ham học hỏi và có khả năng ti ếp c ận nhanh các ki ến th ức, k ỹ thu ật hi ện
đại.

− Có được sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt từ phía ngân hàng Trung ương.

− Môi trường pháp lý thuận lợi.

− Hầu hết đều đang thực hiện hiện đại hóa ngân hàng.

Thời gian qua, nhiều ngân hàng đã đưa ra các dịch v ụ m ới nh ư: Internet Banking, ATM, ngân hàng qua
điện thoại cố định và mobile phone.Các phương thức thanh toán không dùng ti ền m ặt đang phát tri ển
mạnh mẽ tại Việt Nam. Các dịch vụ và tiện ích trong lĩnh vực ngân hàng đáp ứng ngày càng t ốt h ơn
những đòi hỏi từ cuộc sống.

2) Cơ hội

− Có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ và đào tạo đội ngũ cán bộ, phát huy lợi thế so sánh của mình để
theo kịp yêu cầu cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường ra n ước ngoài. T ừ đó, nâng cao ch ất l ượng s ản
phẩm và dịch vụ.

− Hội nhập kinh tế quốc tế tạo động lực thúc đẩy công cu ộc đ ổi m ới và c ải cách h ệ th ống ngân hàng
Việt Nam, nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cường khả năng tổng hợp, hệ
thống tư duy xây dựng các văn bản pháp luật trong hệ thống ngân hàng, đáp ứng yêu c ầu h ội nh ập và th ực
hiện cam kết với hội nhập quốc tế.

− Hội nhập kinh tế quốc tế giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam học hỏi đ ược nhi ều kinh nghi ệm
trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng trong n ước s ẽ ph ải nâng cao trình
độ quản lý, cải thiện chất lượng dịch vụ để tăng cường độ tin cậy đối với khách hàng.

− Hội nhập quốc tế sẽ tạo động lực thúc đẩy cải cách ngành ngân hàng Vi ệt Nam, th ị tr ường tài chính
sẽ phát triển nhanh hơn tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển các loại hình dịch vụ mới…

− Hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam từng bước mở r ộng ho ạt đ ộng qu ốc
tế, nâng cao vị thế của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong các giao dịch tài chính quốc tế.

− Mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng thương mại trong ho ạt động kinh doanh ti ền
tệ, đề ra giải pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và v ị th ế c ủa h ệ th ống
ngân hàng thương mại Việt Nam trong các giao dịch quốc tế. Từ đó, có đi ều ki ện ti ếp c ận v ới các nhà đ ầu
tư nước ngoài để hợp tác kinh doanh, tăng nguồn vốn cũng như doanh thu hoạt động.

− Chính hội nhập quốc tế cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia tất c ả các d ịch v ụ ngân hàng t ại
Việt Nam buộc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải chuyên môn hoá sâu h ơn v ề nghi ệp v ụ ngân
hàng, quản trị ngân hàng, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi ro, cải thi ện ch ất l ượng tín
dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch vụ ngân hàng và phát tri ển các d ịch v ụ ngân hàng m ới
mà các ngân hàng nước ngoài dự kiến sẽ áp dụng ở Việt Nam.

3) Điểm yếu

Với những điểm mạnh đã mở ra nhiều cơ hội cho các ngân hàng thương m ại ở Vi ệt Nam như vậy s ẽ góp
phần thúc đẩy cho nền kinh tế của nước ta phát tri ển. Tuy nhiên, các ngân hàng th ương m ại n ước ta v ẫn
còn tồn tại rất nhiều hạn chế, yếu điểm.

− Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so v ới yêu c ầu c ủa ngân hàng th ương m ại hi ện đ ại,
bộ máy quản lý cồng kềnh, không hiệu quả.

− Chính sách xây dựng thương hiệu còn kém.

Từng dịch vụ của ngân hàng thương mại chưa tạo dựng được thương hiệu riêng, qui mô c ủa t ừng d ịch v ụ
còn nhỏ, chất lượng dịch vụ thấp, sức cạnh tranh yếu, đặc biệt tính ti ện ích c ủa m ột s ố d ịch v ụ đ ối v ới
khách hàng chưa cao, trong khi đó hoạt động marketing ngân hàng còn h ạn ch ế, nên t ỷ l ệ khách hàng là cá
nhân tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng còn ít.

− Chất lượng nguồn nhân lực kém, chính sách tiền lương chưa thỏa đáng, dễ d ẫn đ ến chảy máu ch ất
xám.

Hiện tại các ngân hàng chưa thực sự chú trọng vào các chính sách nhân sự nhằm thu hút và gi ữ ng ười gi ỏi
một cách hiệu quả. Bởi vì hầu hết các ngân hàng chỉ nghĩ đến việc dùng tiền để gi ữ người và lấy người t ừ
các ngân hàng khác. Đây là một sai lầm c ơ bản. Bởi tiền không ph ải là y ếu t ố quy ết đ ịnh đ ến vi ệc ch ọn và
giữ được người giỏi ở lại làm việc.

Vd: ngân hàng Vietcombank năm 2005, lãi ròng hơn 1.000 tỷ, tài chính lành m ạnh nh ưng vi ệc đãi ng ộ nhân
viên lại phải do nhà nước quy định. Nếu như ở NH c ổ ph ần, l ương t ổng giám đ ốc không d ưới 5 ngàn USD
thì ở ngân hàng quốc doanh, chỉ được xấp xỉ 10 triệu đồng. Cũng chính vì s ự thi ếu năng đ ộng trong chính
sách đãi ngộ, nên ngân hàng quốc doanh luôn đối m ặt v ới nguy c ơ ch ảy máu ch ất xám. M ột s ố ít tâm huy ết
với nghề, nín thở chờ đợi thời điểm biến thành ngân hàng cổ phần. M ột số khác, không đ ủ kiên nh ẫn đã
chia tay.
− Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các ngân hàng thương m ại Vi ệt Nam
đều thua kém các ngân hàng trong khu vực.

Bình quân vốn tự có của các ngân hàng thương m ại nhà n ước ch ỉ 200-250 tri ệu USD, b ằng v ốn c ủa m ột
ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực. Chỉ có m ột số ít ngân hàng th ương m ại có v ốn trên 1.000 t ỷ đ ồng.
Tỷ lệ sinh lời bình quân trên vốn tự có của các tổ chức tín d ụng hi ện đ ạt 6% (trong khi ở các n ước trong
khu vực đạt 13-15%).

Tổng vốn điều lệ của 4 ngân hàng thương m ại nhà n ước hi ện m ới đạt x ấp x ỉ 25.000 t ỷ đ ồng. Bình quân
vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước chỉ là 200-250 triệu USD, b ằng v ốn c ủa m ột ngân hàng
cỡ trung bình trong khu vực.

− Sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng và chưa đáp ứng nhu cầu toàn diện của khách hàng.

Hiện tại, nhiều ngân hàng vẫn đang dừng ở mức là đ ưa d ịch v ụ ra ch ứ còn s ự ti ện d ụng cho ng ười dùng
chưa được tính đến nhiều.

− Thiếu sự liên kết giữa các ngân hàng thương mại với nhau.

Khi thị trường thẻ ATM phát triển, thì việc thẻ của ngân hàng nào ch ỉ dùng đ ược trong h ệ th ống máy ATM
của ngân hàng đó đã làm hạn chế hiệu quả và tiện ích cho người sử dụng, hạn chế tốc đ ộ phát hành và
thanh toán bằng thẻ. Việc thiếu liên kết giữa các hệ thống ATM của các ngân hàng gây lãng phí tiền bạc.

− Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là tín dụng, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro.

Phần lớn các ngân hàng thương mại còn có mức nợ xấu cao; khả năng thanh toán bình quân c ủa các t ổ ch ức
tín dụng mới xấp xỉ 60%.

Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ thì ngân hàng trong n ước v ẫn ch ủ y ếu là
hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng vẫn còn thiếu các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc
tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ.

− Hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nhất quán.

− Quy mô vốn hoạt động còn nhỏ nên chưa thực hiện được mục tiêu kinh doanh một cách hoàn chỉnh.

Do các chủ thể cung cấp dịch vụ ngân hàng phát triển khá, nhưng năng l ực tài chính còn y ếu (v ốn t ự có
nhỏ, khả năng sinh lời thấp, nợ xấu cao) nên hạn chế khả năng huy đ ộng v ốn, cho vay và phát tri ển s ản
phẩm mới, tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro trong kinh doanh.

− Việc thực hiện chương trình hiện đại hóa của các ngân hàng thương m ại Việt Nam ch ưa đ ồng đ ều
nên sự phối kết hợp trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ chưa thu ận lợi, ch ưa tạo đ ược nhi ều ti ện
ích cho khách hàng như kết nối sử dụng thẻ giữa các ngân hàng.
Hiện nay, đối với mạng lưới thanh toán thẻ của ngân hàng, hiện vẫn tồn tại tới 3 liên minh (liên minh c ủa
Vietcombank, hệ thống kết nối giữa ANZ và Sacombank, và hệ thống c ủa ngân hàng Đông Á). Do đó, n ếu
người mua và người bán có tài khoản ở những ngân hàng ho ặc liên minh khác thì vi ệc thanh toán đi ện t ử
gần như không thực hiện được trong giao dịch thương mại trực tuyến. Việc không thống nhất được các h ệ
thống ATM này đã và đang gây lãng phí về nguồn lực, bó hẹp mạng lưới thanh toán của khách hàng.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản