TÀI LIỆU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI FPI

Chia sẻ: Pham Khanh Linh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:78

1
337
lượt xem
142
download

TÀI LIỆU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI FPI

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Theo quy định trong Khoản 3, Điều 3 của Luật Đầu tư mới: "Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư".

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TÀI LIỆU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI FPI

  1. TÀI LIỆU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI FPI 1
  2. Chương 1 Lý luận chung về nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI Khái niệm FPI I. Theo quy định trong Khoản 3, Điều 3 của Luật Đầu tư mới: "Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư". Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài là các khoản đầu tư gián tiếp do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện – để phân biệt với đầu tư gián tiếp trong nước do các nhà đầu tư trong nước thực hiện – thông qua 2 hình thức chủ yếu sau: • Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính. • Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính. Đặc trưng của FPI II. Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán. Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong trực tiếp đầu tư (FDI). FPI là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính. 2
  3. Như vậy có thể thấy, FPI là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước ta, vì chúng xuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán quốc gia và quốc tế. Trên thực tế, mặc dù FPI dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu tư trực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp đồng hợp tác kinh doanh…), song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất. Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dùng vốn của mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu tỷ lệ cổ phiếu do nhà đầu tư nắm giữ thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn của IMF và 30% theo tiêu chuẩn của Việt Nam hiện hành) là đầu tư gián tiếp, nhưng khi vượt ngưỡng này lại được xếp vào đầu tư trực tiếp và khi đó, nhà đầu tư có thể dùng quyền bỏ phiếu của mình để can thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh doanh của doanh nghiệp… Cũng như FDI, động thái dòng FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài; mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư v.v… Nhưng khác với FDI, FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ các nhân tố như: sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán, chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và Nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính; sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước hết là các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ 3
  4. đầu tư đại chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khóan, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán. Dòng FPI sẽ chảy mạnh vào trong nước tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó… Tính chất của FPI III. 1. Tính thanh khoản cao Do mục đích của FPI là tỷ suất lợi tức cao với một mức độ rủi ro nhất định (hoặc tỷ suất lợi tức nhất định với mức rủi ro thấp nhất) chứ không quan tâm đến quá trình sán xuất kinh doanh giống như trong phương thức FDI, cho nên NĐT nước ngoài sẵn sàng bán lại những chứng khoán mà họ đang nắm giữ để đầu tư sang thị trường khác hoặc chứng khoán khác với tỷ suất lợi tức dự tính cao hơn, an toàn hơn. Tính thanh khoản cao của FPI khiến cho hình thức đầu tư này trở thành khoản mục đầu tư ngắn hạn mặc dù cố phiếu được coi là chứng khoán dài hạn và nhiều loại trái phiếu giao dịch trên TTCK có thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm. 2. Tính bất ổn định Tính thanh khoản cao là nguyên nhân làm cho dòng vốn FPI mang tính bất ổn định. Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làm cho thị trường tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư không ngừng được phân bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có tỷ suất lợi nhuận cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh, những ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính và tình trạng bất ổn định của nền kinh tế xảy ra là không thể tránh khỏi. Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn đối với các nước có thị trường tài chính mới hình thành và nền kinh tế còn trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam. 4
  5. 3. Tính dễ đảo ngược Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền kinh tế, nó là hệ quả của hai đặc tính thanh khoản cao và bất ổn định. Do dễ đảo ngược cho nên có thể chỉ trong khoảng thời gian ngắn một lượng vốn FPI lớn tháo lui “bẻ ghi” đầu tư sang thị trường khác để lại hậu quả khôn lường cho nền kinh tế. Kinh nghiệm khủng khoảng kinh tế tài chính của các nước châu á vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đă cho thấy tác hại của sự đảo ngược dòng vốn FPI khi nền kinh tế của các quốc gia này xuất hiện những khoảngtrống, hậu quả là nền kinh tế bong bóng nhanh chóng bị sụp đổ mà trong ngắn hạn khó có thể khắc phục được. IV. So sánh FPI và FDI 1. Điểm tương đồng Thứ nhất, cả hai đều là hoạt động đưa vốn ra nước ngoài làm tăng lượng vốn và dự trữ ngoại tệ của nước chủ nhà. FDI và FPI xuất hiện do nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ hai, luồng vốn được luân chuyển từ nước của nhà đầu tư sang nước sử dụng vốn đầu tư, nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư. Để tạo lợi ích tốt nhất cho mình, nhà đầu tư có thể lựa chọn cho mình cách thức đầu tư phù hợp nhất hoặc kết hợp cả 2 hình thức trên. Lợi nhuận của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và tỉ lệ thuận với số vốn đầu tư. Do đó, tình hình hoạt động của doanh nghiệp là mối quan tâm chung của hai hoạt động đầu tư này. Thứ ba, cả hai nguồn vốn này đều chịu sự điều chỉnh của nhiều luật lệ khác nhau. Do đều là đầu tư quốc tế nên cả FDI và FPI đều chịu sự điều chỉnh của nhiều luật lệ khác nhau. Mặc dù các hoạt động này chịu ảnh hưởng lớn từ luật pháp nước tiếp nhận đầu tư nhưng trên thực tế vẫn bị điều chỉnh bởi các điều ước, thông lệ quốc tế và luật của bên tham gia đầu tư. Do đó, để tạo một 5
  6. môi trường đầu tư lành mạnh, tránh những xung đột và tranh chấp không đáng có, trong quá trình hội nhập và phát triển, các nước nên có sự điều chỉnh luật lệ của mình gần và phù hợp với điều ước và luật lệ quốc tế. 2. Điểm khác biệt Điểm khác biệt thứ nhất là quyền sử dụng và quyền sở hữu nguồn vốn. Với FDI, nhà đầu tư có quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn còn FPI nhà đầu tư chỉ có quyền sở hữu chứ không có quyền sử dụng vốn. Khi đầu tư theo hình thức trực tiếp, nhà đầu tư vừa là người bỏ vốn, vừa là người trực tiếp quản lý điều hành việc sử dụng vốn của mình, vừa có quyền tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, nhà đầu tư đặc biệt quan tâm tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ. Lợi ích thu được theo lợi nhuận công ty và được chia theo tỉ lệ vốn góp. Trái lại, n ế u đ ầ u t ư theo hình th ức v ốn gián ti ếp FPI, nhà đầu tư chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán chứng khoán hoặc những tài sản có giá khác, nhà đầu tư không có quyền tham dự vào hoạt động của công ty. Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc việc bán chứng khoán thu chênh lệch, Tuy nhiên, nếu nắm giữ một t rên m ộ t t ỷ l ệ cổ phần nhất định, FPI có thể trở thành FDI, nhà đầu tư có quyền ra quyết định đối với công ty họ bỏ vốn. Điểm khác biệt thứ hai là tốc độ luân chuyển vốn: FPI có khả năng luân chuyển vốn tốt hơn FDI. Đặc điểm nổi bật nhất của FPI là tính bất ổn định. Việc bán chứng khoán diễn ra đơn giản hơn nhiều so với việc hủy bỏ một dự án đầu tư trong đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, tốc độ luân chuyển vốn của FPI cao hơn nhiều so với FDI. Điều này có thể giúp các nền kinh tế mới nổi tăng tính linh hoạt, thúc đẩy quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, trong thời kì nền kinh tế suy thoái, lượng vốn ra và vào quá nhanh lại làm nền kinh tế mất tính cân bằng, gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất, Ngược lại, FDI là nguồn bổ sung vốn dài hạn cho nước chủ nhà không dễ bị rút đi trong thời gian ngắn vì gắn liền với hoạt động của dự án. Nước chủ nhà sẽ được 6
  7. tiếp nhận một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không lo phải trả nợ. Ví dụ như, nếu nhà đầu tư chọn hình thức đầu tư trực tiếp FDI vào một dự án xây dựng 1 công trình, muốn thu hồi vốn thì phải đợi công trình được hoàn thiện và như vậy có thể sẽ mất tới rất nhiều năm. Trong khi đó, nếu đầu tư vào thị trường chứng khoán, có thể dễ dàng thu hồi vốn bằng cách bán lại chứng khoán. Điểm khác biệt thứ ba là tính chấp nhận rủi ro: FPI thường chấp nhận rủi ro cao hơn FDI. FDI thường hướng tới cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận cụ thể, có thể tính toán và dự báo với xác suất thành công cao. Ngược lại, nhà đầu tư gián tiếp có điều kiện theo đuổi những cơ hội đầu tư với mức rủi ro lớn hơn với kì vọng vào thời cơ tăng trưởng bùng nổ trong tương lai. Về hình thức đầu tư: FPI chỉ là hoạt động luân chuyển vốn còn FDI là hoạt động luân chuyển vốn có thể kèm theo các loại hình đầu tư khác. FDI không chỉ gắn với việc di chuyển vốn mà còn đi kèm hoạt động chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm, tạo thị trường mới cho cả bên đầu tư và tiếp nhận đầu tư. Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà còn bao gồm cả vốn vay doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường, FDI thường đi kèm với 3 yếu tố: hoạt động thương mại, chuyển giao công nghệ, di cư lao động. Sản phẩ m c ủa FDI th ườ ng th ấy là những nhà máy mới, hiện đại ; mạng lưới công nghệ thông tin cao cấp; những khu thương mại khổng lồ; những lao động chất lượng cao giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ quốc tế. Về đối tượng tiếp nhận đầu tư FPI thường đi vào các nước phát triển trong khi FDI lại chuyển từ nước phát triển sang các nước đang phát triển. Để thực hiện FPI cần 1 hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả. Trong khi đó, các nước kém phát triển lại có hệ thống tài chính yếu nên FPI có xu hướng luân chuyển giữa các nước phát triển với nhau hoặc các nước đang phát triển sang các 7
  8. nước phát triển. Trong khi đó, FDI nhằm mục tiêu tìm kiếm thị trường, nguồn nhân công rẻ, lợi nhuận cao V ề chủ thể đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện chủ yếu bằng các Công ty xuyên quốc gia, các thương nhân. Những công ty xuyên quốc gia rất lớn và có lịch sử phát triển lâu đời là Unilever, Ford Motor, Royal Dutch Shell, Siemens. Còn đầu tư gián tiếp được thực hiện bởi Nhà nước, các tổ chức tài chính quốc tế. Tác động của FPI V. 1. Tác động tích cực FPI trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián triếp làm tăng tổng vốn đầu tư trực tiếp xã hội, góp phần khai thác & nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hội nhập thị trường vốn quốc tế. FPI là một kênh dẫn vốn quy mô lớn sẽ trực tiếp làm tăng lượng FPI trên thị trường vốn trong nước. Khi FPI gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước. Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương" các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình, Kết quả tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên. Hơn nữa, FPI gia tăng sẽ là một bảo đảm và tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông qua các quyết định đầu tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng đầu tư trực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như trong nước. FPI góp phần tích cực vào sự phát triển của thị trường tài chính nói riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung. Do FPI có tính thanh khoản cao, nên các giao dịch vốn trên thị trường sẽ trở nên sôi động hơn khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, điều kiện và kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng FPI này là sự phát triển nở rộ các định chế & dịch vụ tài chính – chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài 8
  9. chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư pháp & hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán & thông tin thị trường. Đồng thời kéo theo sự gia tăng yêu cầu & hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên thị trường chứng khoán…Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài chính nói riêng, các thể chế & cơ chế thị trường nói chung. FPI góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý theo các nguyên tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng. Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạch hóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo", "bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài chính, Nhà nước sẽ đa dạng hóa các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà 9
  10. nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn. 2. Tác động tiêu cực Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, dòng vốn FPI còn gây ra một số tác động tiêu cực sau: Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm vả bất ổn về kinh tế có nhân tố nước ngoài. FPI được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên thị trường tài chính, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước, hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tùy theo kế hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình. Đặc trưng nổi bật này cũng chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuếch đại độ nhạy cảm và chấn động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Cần nói thêm rằng, sự nhạy cảm và bất ổn kinh tế có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong, cũng có thể hoàn toàn do các nguyên nhân bên ngoài nước tiếp nhận đầu tư (phản ứng dây chuyền, làn sóng domino của các nhà đầu tư quốc từ đó dẫn tới khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á cuối thập kỷ 90 thế kỷ trước) Thứ hai, khi dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào quá nhiều, nhất là đầu tư gián tiếp, có thể gây ra những rủi ro vĩ mô. Nguy cơ phổ biến nhất là tỷ giá tăng lên quá mức (đồng bản tệ lên giá), chính điều đó phá vỡ cân bằng tài khỏan vốn và làm tích tụ nợ nước ngòai (tỷ gía hối đóai thực tăng sẽ thúc đầy khả năng vay ngoại tệ không có bảo đảm và gieo mầm cho tình trạng mất vốn khi tỷ giá giảm xuống mức thấp hơn mức có thể kiểm sóat được). Bên cạnh đó, vốn đổ vào có thể gây ra áp lực lạm phát trong một số trường hợp như: khi tỷ giá cố định đươc duy trì, dòng vốn đổ vào dẫn đến tình trạng mở rộng điều kiện tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó sẽ tác động đến mức giá, tỷ lệ lạm phát có thể gia tăng. Điều đó sẽ gây bất lợi cho hoạt động kinh tế nói chung 10
  11. và hoạt động của hệ thống trung gian tài chính nói riêng Chương 2 Thực trạng huy động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI của Việt Nam Việc quản lý của nhà nước với dòng vốn FPI I. 1. Quy định về tỷ lệ nắm giữ sở hữu nước ngoài Sau 12 năm mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngày 28/6/1999, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 145/1999/QĐ-TTg chính thức cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam. Ngày 10/6/1999, chính phủ ra quyết định số 139/1999/QĐ-TTg cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức phát hành, chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹ đ ầu tư chứng khoán, trong đó một tổ chức nước ngoài được nắm giữ tối đa 7% và một cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 3%. Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 40% tổng số trái phiếu đang lưu hành của một tổ chức phát hành, trong đó một tổ chức nước ngoài được nắm giữ tối đa 10% và một cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 5%.Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài trong Công ty chứng khoán liên doanh tối đa là 30%. Sang đến năm 2003, thủ tướng chính phủ ra quyết định số 36/2003/QĐ- TTg về việc ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam. Quyết định này nhằm khuyến khích các nhà 11
  12. đầu tư nước ngoài góp vốn, đồng thời huy động công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài và mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam.Tỷ lệ cho phép mua cổ phần vẫn bị khống chế ở mức 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp vì nếu vượt quá tỷ lệ này thì doanh nghiệp không còn là doanh nghiệp trong nước nữa mà đã trở thành xí nghiệp liên doanh được điều chỉnh theo một hệ thống pháp luật khác. Điểm đáng chú ý ở đây là việc mở rộng loại doanh nghiệp được phép nhận vốn góp, bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài bao gồm : doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc uỷ quyền bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố ở từng thời kỳ. Đồng thời là việc mở rộng định nghĩa về nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: “Tổ chức kinh tế tài chính nước ngoài” là tổ chức kinh tế tài chính được thành lập theo pháp luật nước ngoài và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam. “Người nước ngoài không thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài cư trú ở nước ngoài. “Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài và người không có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam. “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Trong khi đó đối với công ty niêm yết, bằng quyết định số 146/2003/QĐ- TTg ngày 17/3/2003 của Thủ tướng chính phủ tỷ lệ mua cổ phiếu từ 20% đã được nâng lên mức 30%. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ không giới hạn tỷ lệ trái phiếu lưu hành trên thị trường chứng khoán Việt Nam thay cho 12
  13. việc chỉ nắm giữ 40% như trước kia. Tỷ lệ góp vốn của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài trong Công ty Chứng khoán liên doanh hoặc công ty quản lý quỹ liên doanh tối đa là 49% vốn điều lệ tăng lên so với mức 30% như trong Quyết định 139/1999/QĐ-TTg. Việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có lẽ sẽ mãi còn bị khống chế ở tỷ lệ 30% nếu như còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên đến năm 2005 với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu Tư sự phân biệt này đã được xóa bỏ. Theo tinh thần của hai đạo luật này nhà đầu tư nước ngoài nói chung được đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong nước, cả về quyền đầu tư, góp vốn, mua cổ phần (dù còn một số phân biệt nhất định). Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCK Việt Nam ban hành ngày 29/9/2005, theo đó các tổ chức cá nhân người nước ngoài mua bán chứng khoán trên TTCK được phép nắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu niêm yết; tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết, đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán và không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trai phiếu lưu hành của một tổ chức phát hành. Mới đây nhất là quyết định 55/2009/QĐ/TTg quy định: Nhà đầu tư nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm giữ: Đối với cổ phiếu: tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp tỷ lệ sở hữu bên nước ngoài được phân loại theo danh mục các ngành nghề cụ thể thì áp dụng theo danh mục phân loại. Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư đại chúng: tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng. Đối với công ty đầu tư 13
  14. chứng khoán đại chúng: tối đa 49% vốn điều lệ của một công ty đầu tư chứng khoán đại chúng. Đối với trái phiếu: tổ chức phát hành có thể quy đ ịnh giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành. Riêng đối với việc nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các ngân hàng thương mại, Chính phủ đã có Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20/4/2007 quy định các nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ tối đa 30% vốn điều lệ. Tuy nhiên chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2007/NĐ-CP vào ngày 5/9/2007 thì quyền này mới được ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng. Theo đó tất cả các tổ chức là pháp nhân, gồm cả doanh nghiệp có vốn đ ầu tư nước ngoài, không phân biệt nơi đăng kí trụ sở chính và mọi cá nhân, không phân biệt quốc tịch và nơi cư trú, đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại các doanh nghiệp, trừ một số trường hợp (công ty cổ phần niêm yết; doanh nghiệp ngành nghề kinh doanh có điều kiện do pháp luật chuyên ngành quy định; doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết về thương mại dịch vụ với WTO). Ngay trong Biểu cam kết dịch vụ với WTO, Việt Nam cũng cam kết: “Một năm sau khi gia nhập, hạn chế 30% cổ phần nước ngoài trong việc mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được bãi bỏ, ngoại trừ đối với việc góp vốn dưới hình thức mau cổ phần trong các ngân hàng thương mại cổ phần và các ngành không cam kết trong biểu cam kết này”. Như vậy từ ngày 11/1/2008 (một năm sau khi gia nhập WTO), thực chất rào cản chỉ nằm trong ba loại trường hợp đặc biệt còn lại theo quy định của Nghị định 139/2007/NĐ-CP. Tuy nhiên khi Việt Nam thực thi lộ trình cam kết với WTO những lĩnh vực hạn chế nói trên trong tương lai cũng sẽ “mở toang” cánh cửa cho đầu tư nước ngoài. 14
  15. Như vậy với hàng loạt những quy định trên, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài đã được nâng lên từ 20% trong gia đoạn đầu lên 49% trong giai đoạn hiện nay. Hạn chế tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài hiện nay cũng là một trong những rào cản trong việc quản lý luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. 2. Quy định giao dịch trên tài khoản vốn Năm 2002, NHNN ban hành quyết định 998/2002/QĐ-NHNN ngày 13/9/2002 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán trong đó, nhà ĐTNN chỉ được chuyển phần vốn đầu tư thuộc giao dịch vốn ra nước ngoài sau 1 năm kể từ ngày phần vốn đó được chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán bằng VND. Và năm 2004, với việc ban hành Quyết định 1550/2004/QĐ-NHNN ngày 6/12/2004 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán của ĐTNN tại TTGDCK đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đ ầu tư nước ngoài. Cụ thể, quyết định này đã bỏ ràng buộc điều kiện rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài, trong khi Quyết định 998/2002/QĐ-NHNN trước đây quy định đối tượng này chỉ được chuyển ra nước ngoài phần vốn đầu tư (thuộc giao dịch vốn) sau 1 năm kể từ ngày phần vốn đó được chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán bằng VND. Đối với các khoản thu nhập tư đầu tư chứng khoán (cổ tức, trái tức, chênh lệch giá...), việc chuyển ra nước ngoài cũng thuận lợi hơn. Cụ thể theo Quyết định 1550, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần hoàn tất các nghĩa vụ về thuế với Nhà nước là được quyền mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài. Bên cạnh đó, Quyết định 1550 cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán và các công ty này sẽ đảm trách việc kiểm soát dòng tiền vào, ra của nhà đầu tư nước ngoài thông qua một ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Trong khi trước đây, QĐ 998 quy định: nhà đầu tư nước ngoài muốn mua, bán chứng khoán niêm yết phải mở tài 15
  16. khoản lưu ký và tài khoản giao dịch chứng khoán tại thành viên lưu ký nước ngoài. Bên cạnh Quyết định 1550/2004 là việc ban hành Thông tư 03/2004/TT- NHNN ngày 25/5/2004 hướng dẫn về việc quản lý ngoại hối đối với việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam.Theo Thông tư 03, để thực hiện góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, Nhà ĐTNN phải mở 1 tài khoản tại một NHTM hoạt động tại Việt Nam. Mọi giao dịch chuyển tiền để thực hiện góp vốn, mua, bán cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, thu và sử dụng cổ tức, lợi tức được chia, mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối để chuyển ra nước ngoài và các giao dịch khác liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam của nhà ĐTNN đều phải thực hiện qua tài khoản này.Theo quy định này các nhà ĐTNN bắt buộc phải thực hiện giao dịch bằng VND. Và gần đây nhất là Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết về pháp lệnh ngoại hối đã quy định như sau: nhà đầu tư nước ngoài phải mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Vốn đầu tư bằng ngoại tệ phải bán lấy đồng Việt Nam để đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Mọi giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam. 3. Chính sách thuế đối với hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Từ khi sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ra đời, để khuyến khích sự phát triển của thị trường chứng khoán, ngày 27/2/2000 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg quy định tạm thời ưu đãi thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán, trong đó quy định: 16
  17. Thuế giá trị gia tăng Tạm thời không thu thuế GTGT đối với các hoạt động kinh doanh chứng khoán trong thời gian 3 năm kể từ năm 2000 đến hết năm 2002. Thuế thu nhập doanh nghiệp Đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành còn được ưu đãi thêm: miễn thuế một năm và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm tiếp theo. Đối với các tổ chức phát hành có chứng khoán được niêm yết được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm tiếp theo kể từ khi niêm yết chứng khoán lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Thuế thu nhập các nhân Các cá nhân đầu tư chứng khoán được miễn thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao cho phần thu nhập từ cổ tức, lãi trái phiếu, chênh lệch mua bán chứng khoán. Thực hiện quy định trên, Bộ tài chính đã có Thông tư số 74/2000/TT-BTC ngày 19/7/2000 hướng dẫn thi hành Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 của thủ tướng Chính phủ quy định tạm thời ưu đãi về thuế đối với các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Sau đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 72/2006/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 100/2004/TT-BTC ngày 20-10-2004 hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với lĩnh vực chứng khoán (CK). Thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% trong thời hạn 10 năm, kể từ khi khai trương hoạt động kinh doanh. Hết thời hạn hưởng thuế suất 20%, 17
  18. công ty phải chuyển sang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất 28%. Trường hợp công ty đã đi vào hoạt động kinh doanh và đã thực hiện kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 32% (đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước) hoặc theo thuế suất 25% (đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) thì kể từ năm tài chính 2004 được chuyển sang áp dụng thuế suất 20% cho khoảng thời gian còn lại. Khoảng thời gian còn lại bằng (=) thời gian được áp dụng thuế suất 20% trừ đi (-) thời gian đã hoạt động. Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán mới thành lập được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 3 năm tiếp theo. Các tổ chức khác bao gồm các quỹ đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài được thành lập theo pháp luật nước ngoài, không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam nhưng có mở tài khoản đầu tư chứng khoán tại Việt Nam, các tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam (trừ công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các tổ chức nêu tại tiết 2.1, điểm 2, mục III Thông tư s ố 100/2004/TT-BTC) thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương thức khoán như sau: Đối với chuyển nhượng chứng khoán (cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu, trừ trái phiếu thuộc diện miễn thuế), số thuế phải nộp được xác định bằng 0,1% tổng giá trị chứng khoán bán ra tại thời điểm chuyển nhượng. Đối với lãi trái phiếu (trừ trái phiếu thuộc diện miễn thuế), số thuế phải nộp được xác định bằng 0,1% tổng giá trị trái phiếu (bao gồm mệnh giá ghi trên trái phiếu và số lãi được nhận) tại thời điểm nhận lãi. Phần lợi tức từ đầu tư vào cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thì không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. 18
  19. Quỹ đầu tư chứng khoán không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân Cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư chứng khoán tại Việt Nam tạm thời chưa phải nộp thuế thu nhập đối với khoản thu nhập từ cổ tức, lãi trái phiếu, chênh lệch mua bán chứng khoán và các khoản thu nhập khác từ đầu tư chứng khoán theo quy định hiện hành. Và gần đây nhất Từ 1/1/2010, cá nhân có thu nhập từ kinh doanh chứng khoán sẽ phải đóng thuế TNCN. Như vậy, khoảng 730 nghìn tài khoản của các nhà đầu tư chứng khoán đăng ký tại các công ty chứng khoán sẽ phải nộp thêm một khoản thuế thu nhập cá nhân với 2 phương án mà Tổng cục thuế đã đưa ra. Một là, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế suất là 20%. Việc áp dụng thuế suất 20% phải tính trên tổng các loại chứng khoán đang giao dịch trong năm Dương lịch. Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đã đăng ký nộp thuế suất 20% vẫn phải tạm nộp theo thuế suất 0,1% trên giá chứng khoán chuyển nhượng từng lần. Hai là trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán không đăng kí nộp thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế suất 20% thì áp dụng thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần. Đối với thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thì theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các tổ chức cá nhân tham gia đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài 5% trên số thu nhập chuyển ra nước ngoài. Đến năm 2004, Nhà nước đã ban hành Thông tư số 26/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện quy định về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và hoàn thuế TNDN tái đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo Thông tư này, từ ngày 1/1/2004, các khoản thu nhập hợp pháp mà tổ chức kinh tế hoặc cá nhân 19
  20. nước ngoài thu được do tham gia đầu tư vốn dưới bất kì hình thức nào theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kể cả cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước và người nước ngoài thường trú ở Việt Nam theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, khi chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc giữ lại ngoài Việt Nam không phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. 4. Hướng dẫn hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Ngày 24/12/2008, Bộ Tài chính ký ban hành Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo đó, Quy chế này lần đầu tiên hướng dẫn hoạt động đ ầu tư của tất cả các tổ chức cá nhân nước ngoài; hoạt động cung cấp dịch vụ chứng khoán, hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo Quy ché này các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới các hình thức trực tiếp mua chứng khoán và đầu tư thông qua việc ủy thác quản lý vốn đầu tư cho công ty quản lý qũy. Các nhà đầu tư nước ngoài phải đăng ký mã số giao dịch chứng khoán với UBCKNN hoặc trung tâm lưu ký chứng khoán thông qua thành viên lưu ký. Theo Quy chế, mỗi nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mở một tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam tại một tổ chức tín dụng được phép hoạt động kinh doanh ngoại hối để thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Mọi giao dịch chuyển tiền để thực hiện góp vốn, mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chuyển nhượng vốn góp trong các hoạt động đầu tư, các thanh toán khác liên quan đến hoạt động đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài; nhận và sử dụng cổ tức, lợi tức được chia, mua ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam để chuyển ra nước ngoài và các giao dịch khác có liên quan đều phải thực hiện thông qua tài khoản này. Mỗi nhà đầu tư nước ngoài cũng chỉ được phép mở một tài khoản lưu ký chứng 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản