TÀI LIỆU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI FPI

Chia sẻ: phamkhanhlinhneu

Theo quy định trong Khoản 3, Điều 3 của Luật Đầu tư mới: "Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư".

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TÀI LIỆU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI FPI

TÀI LIỆU

NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
GIÁN TIẾP NƯỚC
NGOÀI FPI




1
Chương 1
Lý luận chung về nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI

Khái niệm FPI
I.
Theo quy định trong Khoản 3, Điều 3 của Luật Đầu tư mới: "Đầu tư
gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái
phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các
định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia
quản lý hoạt động đầu tư".
Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài là các khoản đầu tư
gián tiếp do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện – để phân biệt với đầu tư
gián tiếp trong nước do các nhà đầu tư trong nước thực hiện – thông qua 2 hình
thức chủ yếu sau:
• Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các
giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của chính phủ và của các tổ chức
tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính.
• Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư
chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.


Đặc trưng của FPI
II.
Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp
phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát
hành chứng khoán.
Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật
chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong trực
tiếp đầu tư (FDI). FPI là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.



2
Như vậy có thể thấy, FPI là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước
ta, vì chúng xuất hiện và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển
của thị trường chứng khoán quốc gia và quốc tế.
Trên thực tế, mặc dù FPI dùng để chỉ các hình thức đầu tư không
phải là đầu tư trực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài, lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh
doanh theo hợp đồng hợp tác kinh doanh…), song sự phân biệt này không phải
lúc nào cũng rạch ròi và thống nhất. Chẳng hạn, khi nhà đầu tư dùng vốn của
mình để mua cổ phiếu của doanh nghiệp, nếu tỷ lệ cổ phiếu do nhà đầu tư
nắm giữ thấp hơn mức nhất định (10% theo tiêu chuẩn của IMF và 30% theo
tiêu chuẩn của Việt Nam hiện hành) là đầu tư gián tiếp, nhưng khi vượt
ngưỡng này lại được xếp vào đầu tư trực tiếp và khi đó, nhà đầu tư có thể
dùng quyền bỏ phiếu của mình để can thiệp trực tiếp vào thực tế quản lý, kinh
doanh của doanh nghiệp…

Cũng như FDI, động thái dòng FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh
mẽ của các nhân tố như bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan
hệ ngoại giao và môi trường pháp lý quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng
đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài; mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ
yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối
với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong nước; sự phát triển của hệ thống
tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường
nói chung của nước tiếp nhận đầu tư v.v…
Nhưng khác với FDI, FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ các
nhân tố như: sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán, chất
lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và Nhà nước phát hành,
cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính; sự
đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước
hết là các quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ



3
đầu tư đại chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển và
chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khóan, trong đó có các
tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm
doanh nghiệp và chứng khoán. Dòng FPI sẽ chảy mạnh vào trong nước tỷ lệ
thuận và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang
hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỷ lệ nắm
giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó…
Tính chất của FPI
III.
1. Tính thanh khoản cao
Do mục đích của FPI là tỷ suất lợi tức cao với một mức độ rủi ro nhất
định (hoặc tỷ suất lợi tức nhất định với mức rủi ro thấp nhất) chứ không
quan tâm đến quá trình sán xuất kinh doanh giống như trong phương thức
FDI, cho nên NĐT nước ngoài sẵn sàng bán lại những chứng khoán mà họ
đang nắm giữ để đầu tư sang thị trường khác hoặc chứng khoán khác với tỷ
suất lợi tức dự tính cao hơn, an toàn hơn. Tính thanh khoản cao của FPI khiến
cho hình thức đầu tư này trở thành khoản mục đầu tư ngắn hạn mặc dù cố
phiếu được coi là chứng khoán dài hạn và nhiều loại trái phiếu giao dịch trên
TTCK có thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm.
2. Tính bất ổn định
Tính thanh khoản cao là nguyên nhân làm cho dòng vốn FPI mang tính
bất ổn định. Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làm
cho thị trường tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn
đầu tư không ngừng được phân bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận
thấp sang nơi có tỷ suất lợi nhuận cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc
độ quá nhanh, những ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính và tình trạng bất
ổn định của nền kinh tế xảy ra là không thể tránh khỏi. Vấn đề trở nên nghiêm
trọng hơn đối với các nước có thị trường tài chính mới hình thành và nền
kinh tế còn trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam.

4
3. Tính dễ đảo ngược
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến
nền kinh tế, nó là hệ quả của hai đặc tính thanh khoản cao và bất ổn định. Do
dễ đảo ngược cho nên có thể chỉ trong khoảng thời gian ngắn một lượng vốn
FPI lớn tháo lui “bẻ ghi” đầu tư sang thị trường khác để lại hậu quả khôn
lường cho nền kinh tế. Kinh nghiệm khủng khoảng kinh tế tài chính của các
nước châu á vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đă cho thấy tác hại của sự
đảo ngược dòng vốn FPI khi nền kinh tế của các quốc gia này xuất hiện
những khoảngtrống, hậu quả là nền kinh tế bong bóng nhanh chóng bị sụp đổ
mà trong ngắn hạn khó có thể khắc phục được.


IV. So sánh FPI và FDI
1. Điểm tương đồng
Thứ nhất, cả hai đều là hoạt động đưa vốn ra nước ngoài làm tăng
lượng vốn và dự trữ ngoại tệ của nước chủ nhà. FDI và FPI xuất hiện do nhu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, luồng vốn được luân chuyển từ nước của nhà đầu tư sang
nước sử dụng vốn đầu tư, nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho nhà đầu tư. Để
tạo lợi ích tốt nhất cho mình, nhà đầu tư có thể lựa chọn cho mình cách thức
đầu tư phù hợp nhất hoặc kết hợp cả 2 hình thức trên. Lợi nhuận của nhà
đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và tỉ lệ thuận với
số vốn đầu tư. Do đó, tình hình hoạt động của doanh nghiệp là mối quan tâm
chung của hai hoạt động đầu tư này.

Thứ ba, cả hai nguồn vốn này đều chịu sự điều chỉnh của nhiều luật lệ
khác nhau. Do đều là đầu tư quốc tế nên cả FDI và FPI đều chịu sự điều chỉnh
của nhiều luật lệ khác nhau. Mặc dù các hoạt động này chịu ảnh hưởng lớn từ
luật pháp nước tiếp nhận đầu tư nhưng trên thực tế vẫn bị điều chỉnh bởi các
điều ước, thông lệ quốc tế và luật của bên tham gia đầu tư. Do đó, để tạo một



5
môi trường đầu tư lành mạnh, tránh những xung đột và tranh chấp không đáng
có, trong quá trình hội nhập và phát triển, các nước nên có sự điều chỉnh luật lệ
của mình gần và phù hợp với điều ước và luật lệ quốc tế.
2. Điểm khác biệt
Điểm khác biệt thứ nhất là quyền sử dụng và quyền sở hữu nguồn vốn.
Với FDI, nhà đầu tư có quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn còn FPI nhà đầu
tư chỉ có quyền sở hữu chứ không có quyền sử dụng vốn. Khi đầu tư theo hình
thức trực tiếp, nhà đầu tư vừa là người bỏ vốn, vừa là người trực tiếp quản lý
điều hành việc sử dụng vốn của mình, vừa có quyền tham gia vào hoạt động
của doanh nghiệp. Do đó, nhà đầu tư đặc biệt quan tâm tới hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ.
Lợi ích thu được theo lợi nhuận công ty và được chia theo tỉ lệ vốn góp. Trái
lại, n ế u đ ầ u t ư theo hình th ức v ốn gián ti ếp FPI, nhà đầu tư chỉ đơn thuần
là hoạt động bỏ vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán
chứng khoán hoặc những tài sản có giá khác, nhà đầu tư không có quyền tham
dự vào hoạt động của công ty. Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc
việc bán chứng khoán thu chênh lệch, Tuy nhiên, nếu nắm giữ một t rên m ộ t
t ỷ l ệ cổ phần nhất định, FPI có thể trở thành FDI, nhà đầu tư có quyền ra
quyết định đối với công ty họ bỏ vốn.
Điểm khác biệt thứ hai là tốc độ luân chuyển vốn: FPI có khả năng luân
chuyển vốn tốt hơn FDI. Đặc điểm nổi bật nhất của FPI là tính bất ổn định.
Việc bán chứng khoán diễn ra đơn giản hơn nhiều so với việc hủy bỏ một dự án
đầu tư trong đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, tốc độ luân chuyển vốn của
FPI cao hơn nhiều so với FDI. Điều này có thể giúp các nền kinh tế mới nổi
tăng tính linh hoạt, thúc đẩy quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, trong thời
kì nền kinh tế suy thoái, lượng vốn ra và vào quá nhanh lại làm nền kinh tế mất
tính cân bằng, gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất, Ngược lại,
FDI là nguồn bổ sung vốn dài hạn cho nước chủ nhà không dễ bị rút đi trong
thời gian ngắn vì gắn liền với hoạt động của dự án. Nước chủ nhà sẽ được


6
tiếp nhận một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không lo
phải trả nợ. Ví dụ như, nếu nhà đầu tư chọn hình thức đầu tư trực tiếp FDI vào
một dự án xây dựng 1 công trình, muốn thu hồi vốn thì phải đợi công trình
được hoàn thiện và như vậy có thể sẽ mất tới rất nhiều năm. Trong khi đó,
nếu đầu tư vào thị trường chứng khoán, có thể dễ dàng thu hồi vốn bằng
cách bán lại chứng khoán.
Điểm khác biệt thứ ba là tính chấp nhận rủi ro: FPI thường chấp nhận rủi
ro cao hơn FDI. FDI thường hướng tới cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận cụ
thể, có thể tính toán và dự báo với xác suất thành công cao. Ngược lại, nhà đầu
tư gián tiếp có điều kiện theo đuổi những cơ hội đầu tư với mức rủi ro lớn
hơn với kì vọng vào thời cơ tăng trưởng bùng nổ trong tương lai.
Về hình thức đầu tư: FPI chỉ là hoạt động luân chuyển vốn còn FDI là
hoạt động luân chuyển vốn có thể kèm theo các loại hình đầu tư khác. FDI
không chỉ gắn với việc di chuyển vốn mà còn đi kèm hoạt động chuyển giao
công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm, tạo thị trường mới cho cả
bên đầu tư và tiếp nhận đầu tư. Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban
đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà còn bao gồm cả vốn vay
doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi
nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường,
FDI thường đi kèm với 3 yếu tố: hoạt động thương mại, chuyển giao công
nghệ, di cư lao động. Sản phẩ m c ủa FDI th ườ ng th ấy là những nhà máy mới,
hiện đại ; mạng lưới công nghệ thông tin cao cấp; những khu thương mại
khổng lồ; những lao động chất lượng cao giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ
quốc tế.
Về đối tượng tiếp nhận đầu tư FPI thường đi vào các nước phát triển
trong khi FDI lại chuyển từ nước phát triển sang các nước đang phát triển. Để
thực hiện FPI cần 1 hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả. Trong khi đó,
các nước kém phát triển lại có hệ thống tài chính yếu nên FPI có xu hướng luân
chuyển giữa các nước phát triển với nhau hoặc các nước đang phát triển sang các


7
nước phát triển. Trong khi đó, FDI nhằm mục tiêu tìm kiếm thị trường, nguồn
nhân công rẻ, lợi nhuận cao
V ề chủ thể đầu tư đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện chủ yếu
bằng các Công ty xuyên quốc gia, các thương nhân. Những công ty xuyên quốc
gia rất lớn và có lịch sử phát triển lâu đời là Unilever, Ford Motor, Royal Dutch
Shell, Siemens. Còn đầu tư gián tiếp được thực hiện bởi Nhà nước, các tổ chức
tài chính quốc tế.
Tác động của FPI
V.
1. Tác động tích cực
FPI trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián triếp làm tăng
tổng vốn đầu tư trực tiếp xã hội, góp phần khai thác & nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn lực trong nước, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy
hội nhập thị trường vốn quốc
tế. FPI là một kênh dẫn vốn quy mô lớn sẽ trực tiếp làm tăng lượng FPI trên thị
trường vốn trong nước. Khi FPI gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia
tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước. Nói cách khác,
các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương" các nhà đầu tư gián tiếp nước
ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình, Kết quả tổng đầu
tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên. Hơn nữa, FPI gia tăng sẽ là một bảo đảm và tạo
động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông qua các
quyết định đầu tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm
tăng đầu tư trực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như
trong nước.
FPI góp phần tích cực vào sự phát triển của thị trường tài chính nói
riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung. Do FPI có tính
thanh khoản cao, nên các giao dịch vốn trên thị trường sẽ trở nên sôi động
hơn khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, điều kiện và
kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng FPI này là sự phát triển nở rộ các định chế
& dịch vụ tài chính – chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài

8
chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ
trợ tư pháp & hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán,
kiểm toán & thông tin thị trường. Đồng thời kéo theo sự gia tăng yêu cầu &
hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên thị
trường chứng khoán…Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần
phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài chính nói
riêng, các thể chế & cơ chế thị trường nói chung.
FPI góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý theo các nguyên tắc
và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Sự gia tăng dòng vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu
mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và
quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng. Việc quản lý và quản trị doanh
nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn
do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạch hóa, cập nhật
hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát
hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào chứng
khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát triển
tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo",
"bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách
quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp khác mà
chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất
lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật pháp, cũng
như các cơ quan, bộ phận và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên
quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải
được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu
cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc
tế. Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài chính, Nhà nước sẽ đa
dạng hóa các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các
mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà


9
nước đối với nền kinh tế nói chung, thị trường tài chính nói riêng sẽ được
cải thiện hơn.
2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, dòng vốn FPI còn gây ra một
số tác động tiêu cực sau:
Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm vả bất ổn về kinh tế có nhân tố
nước ngoài. FPI được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy với các
chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên thị trường
tài chính, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh chóng
mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước,
hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tùy theo kế
hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình. Đặc trưng nổi bật này cũng chính là
nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuếch đại độ nhạy cảm và
chấn động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối
với nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Cần nói thêm rằng, sự nhạy cảm
và bất ổn kinh tế có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong, cũng có thể
hoàn toàn do các nguyên nhân bên ngoài nước tiếp nhận đầu tư (phản ứng dây
chuyền, làn sóng domino của các nhà đầu tư quốc từ đó dẫn tới khủng hoảng
tài chính tiền tệ châu Á cuối thập kỷ 90 thế kỷ trước)
Thứ hai, khi dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào quá nhiều, nhất là đầu tư
gián tiếp, có thể gây ra những rủi ro vĩ mô. Nguy cơ phổ biến nhất là tỷ giá
tăng lên quá mức (đồng bản tệ lên giá), chính điều đó phá vỡ cân bằng tài
khỏan vốn và làm tích tụ nợ nước ngòai (tỷ gía hối đóai thực tăng sẽ thúc đầy
khả năng vay ngoại tệ không có bảo đảm và gieo mầm cho tình trạng mất vốn
khi tỷ giá giảm xuống mức thấp hơn mức có thể kiểm sóat được). Bên cạnh đó,
vốn đổ vào có thể gây ra áp lực lạm phát trong một số trường hợp như: khi tỷ
giá cố định đươc duy trì, dòng vốn đổ vào dẫn đến tình trạng mở rộng điều
kiện tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó sẽ tác động đến mức giá, tỷ lệ lạm
phát có thể gia tăng. Điều đó sẽ gây bất lợi cho hoạt động kinh tế nói chung


10
và hoạt động của hệ thống trung gian tài chính nói riêng




Chương 2
Thực trạng huy động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI
của Việt Nam
Việc quản lý của nhà nước với dòng vốn FPI
I.
1. Quy định về tỷ lệ nắm giữ sở hữu nước ngoài

Sau 12 năm mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngày 28/6/1999, Thủ
tướng chính phủ ban hành quyết định số 145/1999/QĐ-TTg chính thức cho phép
các nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt
Nam.

Ngày 10/6/1999, chính phủ ra quyết định số 139/1999/QĐ-TTg cho phép
các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 20% tổng số cổ phiếu đang
lưu hành của một tổ chức phát hành, chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹ đ ầu tư
chứng khoán, trong đó một tổ chức nước ngoài được nắm giữ tối đa 7% và một
cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 3%. Các tổ chức, cá nhân nước ngoài
được nắm giữ tối đa 40% tổng số trái phiếu đang lưu hành của một tổ chức phát
hành, trong đó một tổ chức nước ngoài được nắm giữ tối đa 10% và một cá nhân
nước ngoài được nắm giữ tối đa 5%.Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài trong
Công ty chứng khoán liên doanh tối đa là 30%.

Sang đến năm 2003, thủ tướng chính phủ ra quyết định số 36/2003/QĐ-
TTg về việc ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài
trong các doanh nghiệp Việt Nam. Quyết định này nhằm khuyến khích các nhà


11
đầu tư nước ngoài góp vốn, đồng thời huy động công nghệ, phương pháp quản
lý doanh nghiệp của nước ngoài và mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh cho
các doanh nghiệp Việt Nam.Tỷ lệ cho phép mua cổ phần vẫn bị khống chế ở
mức 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp vì nếu vượt quá tỷ lệ này thì doanh
nghiệp không còn là doanh nghiệp trong nước nữa mà đã trở thành xí nghiệp liên
doanh được điều chỉnh theo một hệ thống pháp luật khác.

Điểm đáng chú ý ở đây là việc mở rộng loại doanh nghiệp được phép
nhận vốn góp, bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài bao gồm : doanh
nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty hợp danh, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực ngành nghề do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc uỷ quyền
bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố ở từng thời kỳ.

Đồng thời là việc mở rộng định nghĩa về nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:

“Tổ chức kinh tế tài chính nước ngoài” là tổ chức kinh tế tài chính
được thành lập theo pháp luật nước ngoài và hoạt động kinh doanh tại nước
ngoài hoặc tại Việt Nam.

“Người nước ngoài không thường trú ở Việt Nam” là công dân nước
ngoài cư trú ở nước ngoài.

“Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài
và người không có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt
Nam.

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người quốc tịch Việt Nam
và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

Trong khi đó đối với công ty niêm yết, bằng quyết định số 146/2003/QĐ-
TTg ngày 17/3/2003 của Thủ tướng chính phủ tỷ lệ mua cổ phiếu từ 20% đã
được nâng lên mức 30%. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ không giới
hạn tỷ lệ trái phiếu lưu hành trên thị trường chứng khoán Việt Nam thay cho


12
việc chỉ nắm giữ 40% như trước kia. Tỷ lệ góp vốn của tổ chức kinh doanh
chứng khoán nước ngoài trong Công ty Chứng khoán liên doanh hoặc công ty
quản lý quỹ liên doanh tối đa là 49% vốn điều lệ tăng lên so với mức 30% như
trong Quyết định 139/1999/QĐ-TTg.

Việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có lẽ sẽ mãi còn bị khống
chế ở tỷ lệ 30% nếu như còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp nước ngoài và
doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên đến năm 2005 với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp và Luật
Đầu Tư sự phân biệt này đã được xóa bỏ. Theo tinh thần của hai đạo luật này
nhà đầu tư nước ngoài nói chung được đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong
nước, cả về quyền đầu tư, góp vốn, mua cổ phần (dù còn một số phân biệt nhất
định).

Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài
vào TTCK Việt Nam ban hành ngày 29/9/2005, theo đó các tổ chức cá nhân người
nước ngoài mua bán chứng khoán trên TTCK được phép nắm giữ tối đa 49%
tổng số cổ phiếu niêm yết; tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết,
đăng ký giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán và không giới hạn tỷ lệ nắm
giữ đối với trai phiếu lưu hành của một tổ chức phát hành.

Mới đây nhất là quyết định 55/2009/QĐ/TTg quy định: Nhà đầu tư nước
ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được nắm
giữ: Đối với cổ phiếu: tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại
chúng.

Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì áp dụng theo quy
định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp tỷ lệ sở hữu bên nước ngoài được
phân loại theo danh mục các ngành nghề cụ thể thì áp dụng theo danh mục phân
loại. Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư đại chúng: tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ
đầu tư của một quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng. Đối với công ty đầu tư



13
chứng khoán đại chúng: tối đa 49% vốn điều lệ của một công ty đầu tư chứng
khoán đại chúng. Đối với trái phiếu: tổ chức phát hành có thể quy đ ịnh giới hạn
tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành.

Riêng đối với việc nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong
các ngân hàng thương mại, Chính phủ đã có Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày
20/4/2007 quy định các nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ tối đa 30% vốn
điều lệ.

Tuy nhiên chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2007/NĐ-CP
vào ngày 5/9/2007 thì quyền này mới được ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng.
Theo đó tất cả các tổ chức là pháp nhân, gồm cả doanh nghiệp có vốn đ ầu tư
nước ngoài, không phân biệt nơi đăng kí trụ sở chính và mọi cá nhân, không phân
biệt quốc tịch và nơi cư trú, đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không
hạn chế tại các doanh nghiệp, trừ một số trường hợp (công ty cổ phần niêm yết;
doanh nghiệp ngành nghề kinh doanh có điều kiện do pháp luật chuyên ngành quy
định; doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp
dụng theo Biểu cam kết về thương mại dịch vụ với WTO).

Ngay trong Biểu cam kết dịch vụ với WTO, Việt Nam cũng cam kết:
“Một năm sau khi gia nhập, hạn chế 30% cổ phần nước ngoài trong việc mua cổ
phần của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được bãi bỏ, ngoại trừ đối với việc góp
vốn dưới hình thức mau cổ phần trong các ngân hàng thương mại cổ phần và các
ngành không cam kết trong biểu cam kết này”.

Như vậy từ ngày 11/1/2008 (một năm sau khi gia nhập WTO), thực chất
rào cản chỉ nằm trong ba loại trường hợp đặc biệt còn lại theo quy định của Nghị
định 139/2007/NĐ-CP. Tuy nhiên khi Việt Nam thực thi lộ trình cam kết với
WTO những lĩnh vực hạn chế nói trên trong tương lai cũng sẽ “mở toang” cánh
cửa cho đầu tư nước ngoài.




14
Như vậy với hàng loạt những quy định trên, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu
tư nước ngoài đã được nâng lên từ 20% trong gia đoạn đầu lên 49% trong giai
đoạn hiện nay. Hạn chế tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài hiện nay cũng
là một trong những rào cản trong việc quản lý luồng vốn đầu tư gián tiếp nước
ngoài.

2. Quy định giao dịch trên tài khoản vốn

Năm 2002, NHNN ban hành quyết định 998/2002/QĐ-NHNN ngày
13/9/2002 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán trong đó, nhà
ĐTNN chỉ được chuyển phần vốn đầu tư thuộc giao dịch vốn ra nước ngoài sau
1 năm kể từ ngày phần vốn đó được chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán
bằng VND.

Và năm 2004, với việc ban hành Quyết định 1550/2004/QĐ-NHNN ngày
6/12/2004 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán của ĐTNN
tại TTGDCK đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đ ầu tư
nước ngoài. Cụ thể, quyết định này đã bỏ ràng buộc điều kiện rút vốn của nhà
đầu tư nước ngoài, trong khi Quyết định 998/2002/QĐ-NHNN trước đây quy định
đối tượng này chỉ được chuyển ra nước ngoài phần vốn đầu tư (thuộc giao dịch
vốn) sau 1 năm kể từ ngày phần vốn đó được chuyển vào tài khoản giao dịch
chứng khoán bằng VND. Đối với các khoản thu nhập tư đầu tư chứng khoán (cổ
tức, trái tức, chênh lệch giá...), việc chuyển ra nước ngoài cũng thuận lợi hơn.
Cụ thể theo Quyết định 1550, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần hoàn tất các nghĩa
vụ về thuế với Nhà nước là được quyền mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài.

Bên cạnh đó, Quyết định 1550 cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mở
tài khoản giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán và các công ty này sẽ
đảm trách việc kiểm soát dòng tiền vào, ra của nhà đầu tư nước ngoài thông qua
một ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Trong khi trước đây, QĐ 998 quy
định: nhà đầu tư nước ngoài muốn mua, bán chứng khoán niêm yết phải mở tài



15
khoản lưu ký và tài khoản giao dịch chứng khoán tại thành viên lưu ký nước
ngoài.

Bên cạnh Quyết định 1550/2004 là việc ban hành Thông tư 03/2004/TT-
NHNN ngày 25/5/2004 hướng dẫn về việc quản lý ngoại hối đối với việc góp
vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt
Nam.Theo Thông tư 03, để thực hiện góp vốn, mua cổ phần trong các doanh
nghiệp Việt Nam, Nhà ĐTNN phải mở 1 tài khoản tại một NHTM hoạt động tại
Việt Nam. Mọi giao dịch chuyển tiền để thực hiện góp vốn, mua, bán cổ phần,
chuyển nhượng vốn góp, thu và sử dụng cổ tức, lợi tức được chia, mua ngoại tệ
tại các ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối để chuyển ra nước ngoài và
các giao dịch khác liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần trong các
doanh nghiệp Việt Nam của nhà ĐTNN đều phải thực hiện qua tài khoản
này.Theo quy định này các nhà ĐTNN bắt buộc phải thực hiện giao dịch bằng
VND.

Và gần đây nhất là Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định
chi tiết về pháp lệnh ngoại hối đã quy định như sau: nhà đầu tư nước ngoài phải
mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng
được phép để thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Vốn đầu tư bằng ngoại
tệ phải bán lấy đồng Việt Nam để đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Mọi giao dịch
liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp phải thực hiện thông qua tài khoản vốn
đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam.

3. Chính sách thuế đối với hoạt động đầu tư gián tiếp nước
ngoài thông qua thị trường chứng khoán

Từ khi sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ra đời, để
khuyến khích sự phát triển của thị trường chứng khoán, ngày 27/2/2000 Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg quy định tạm thời ưu đãi thuế
đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán, trong đó quy định:



16
Thuế giá trị gia tăng

Tạm thời không thu thuế GTGT đối với các hoạt động kinh doanh chứng
khoán trong thời gian 3 năm kể từ năm 2000 đến hết năm 2002.

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ ưu đãi về thuế thu
nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành còn được ưu đãi thêm: miễn thuế
một năm và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm tiếp theo.

Đối với các tổ chức phát hành có chứng khoán được niêm yết được giảm
50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm tiếp theo kể từ khi niêm
yết chứng khoán lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.

Thuế thu nhập các nhân

Các cá nhân đầu tư chứng khoán được miễn thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao cho phần thu nhập từ cổ tức, lãi trái phiếu, chênh lệch mua bán
chứng khoán.

Thực hiện quy định trên, Bộ tài chính đã có Thông tư số 74/2000/TT-BTC
ngày 19/7/2000 hướng dẫn thi hành Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg ngày
27/3/2000 của thủ tướng Chính phủ quy định tạm thời ưu đãi về thuế đối với các
hoạt động kinh doanh chứng khoán.

Sau đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 72/2006/TT-BTC sửa đổi, bổ
sung Thông tư số 100/2004/TT-BTC ngày 20-10-2004 hướng dẫn về thuế giá trị
gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với lĩnh vực chứng
khoán (CK).

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được áp
dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% trong thời hạn 10 năm,
kể từ khi khai trương hoạt động kinh doanh. Hết thời hạn hưởng thuế suất 20%,


17
công ty phải chuyển sang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất
28%.

Trường hợp công ty đã đi vào hoạt động kinh doanh và đã thực hiện kê
khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 32% (đối với doanh nghiệp
hoạt động theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước) hoặc theo thuế suất 25%
(đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) thì
kể từ năm tài chính 2004 được chuyển sang áp dụng thuế suất 20% cho khoảng
thời gian còn lại. Khoảng thời gian còn lại bằng (=) thời gian được áp dụng thuế
suất 20% trừ đi (-) thời gian đã hoạt động.

Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán mới
thành lập được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm, kể từ khi có thu nhập
chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 3 năm tiếp theo.

Các tổ chức khác bao gồm các quỹ đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài
được thành lập theo pháp luật nước ngoài, không có tư cách pháp nhân tại Việt
Nam nhưng có mở tài khoản đầu tư chứng khoán tại Việt Nam, các tổ chức
thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam (trừ công ty chứng khoán, công
ty quản lý quỹ và các tổ chức nêu tại tiết 2.1, điểm 2, mục III Thông tư s ố
100/2004/TT-BTC) thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương thức
khoán như sau:

Đối với chuyển nhượng chứng khoán (cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư,
trái phiếu, trừ trái phiếu thuộc diện miễn thuế), số thuế phải nộp được xác định
bằng 0,1% tổng giá trị chứng khoán bán ra tại thời điểm chuyển nhượng.

Đối với lãi trái phiếu (trừ trái phiếu thuộc diện miễn thuế), số thuế phải
nộp được xác định bằng 0,1% tổng giá trị trái phiếu (bao gồm mệnh giá ghi trên
trái phiếu và số lãi được nhận) tại thời điểm nhận lãi.

Phần lợi tức từ đầu tư vào cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đã chịu thuế
thu nhập doanh nghiệp thì không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.


18
Quỹ đầu tư chứng khoán không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp

Thuế thu nhập cá nhân

Cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư chứng khoán tại Việt Nam tạm
thời chưa phải nộp thuế thu nhập đối với khoản thu nhập từ cổ tức, lãi trái
phiếu, chênh lệch mua bán chứng khoán và các khoản thu nhập khác từ đầu tư
chứng khoán theo quy định hiện hành.

Và gần đây nhất Từ 1/1/2010, cá nhân có thu nhập từ kinh doanh chứng
khoán sẽ phải đóng thuế TNCN. Như vậy, khoảng 730 nghìn tài khoản của các
nhà đầu tư chứng khoán đăng ký tại các công ty chứng khoán sẽ phải nộp thêm
một khoản thuế thu nhập cá nhân với 2 phương án mà Tổng cục thuế đã đưa ra.
Một là, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo biểu thuế
toàn phần với thuế suất là 20%. Việc áp dụng thuế suất 20% phải tính trên tổng
các loại chứng khoán đang giao dịch trong năm Dương lịch. Cá nhân chuyển
nhượng chứng khoán đã đăng ký nộp thuế suất 20% vẫn phải tạm nộp theo thuế
suất 0,1% trên giá chứng khoán chuyển nhượng từng lần. Hai là trường hợp cá
nhân chuyển nhượng chứng khoán không đăng kí nộp thuế theo biểu thuế toàn
phần với thuế suất 20% thì áp dụng thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng
chứng khoán từng lần.

Đối với thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thì theo Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, các tổ chức cá nhân tham gia đầu tư chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
5% trên số thu nhập chuyển ra nước ngoài.

Đến năm 2004, Nhà nước đã ban hành Thông tư số 26/2004/TT-BTC
hướng dẫn thực hiện quy định về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và hoàn
thuế TNDN tái đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo Thông tư này, từ
ngày 1/1/2004, các khoản thu nhập hợp pháp mà tổ chức kinh tế hoặc cá nhân



19
nước ngoài thu được do tham gia đầu tư vốn dưới bất kì hình thức nào theo quy
định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kể cả cá nhân là người Việt
Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước và người nước ngoài thường trú ở
Việt Nam theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, khi chuyển ra khỏi lãnh
thổ Việt Nam hoặc giữ lại ngoài Việt Nam không phải nộp thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài.

4. Hướng dẫn hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị
trường chứng khoán

Ngày 24/12/2008, Bộ Tài chính ký ban hành Quyết định 121/2008/QĐ-BTC
ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng
khoán Việt Nam. Theo đó, Quy chế này lần đầu tiên hướng dẫn hoạt động đ ầu
tư của tất cả các tổ chức cá nhân nước ngoài; hoạt động cung cấp dịch vụ chứng
khoán, hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài trên
thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo Quy ché này các nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán Việt Nam dưới các hình thức trực tiếp mua chứng khoán và
đầu tư thông qua việc ủy thác quản lý vốn đầu tư cho công ty quản lý qũy. Các
nhà đầu tư nước ngoài phải đăng ký mã số giao dịch chứng khoán với UBCKNN
hoặc trung tâm lưu ký chứng khoán thông qua thành viên lưu ký. Theo Quy chế,
mỗi nhà đầu tư nước ngoài chỉ được mở một tài khoản vốn đầu tư gián tiếp
bằng đồng Việt Nam tại một tổ chức tín dụng được phép hoạt động kinh doanh
ngoại hối để thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Mọi giao dịch
chuyển tiền để thực hiện góp vốn, mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ quỹ, chuyển nhượng vốn góp trong các hoạt động đầu tư, các thanh
toán khác liên quan đến hoạt động đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư nước
ngoài; nhận và sử dụng cổ tức, lợi tức được chia, mua ngoại tệ tại các tổ chức
tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam để chuyển ra nước ngoài
và các giao dịch khác có liên quan đều phải thực hiện thông qua tài khoản này.
Mỗi nhà đầu tư nước ngoài cũng chỉ được phép mở một tài khoản lưu ký chứng


20
khoán và mọi bút toán thanh toán đều phải được thực hiện thông qua tài khoản
này.

Với các văn phòng đại diện của tổ chức tài chính nước ngoài tại Việt
nam, họ chỉ được mở tài khoản chuyên chi bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng Việt
nam có gốc ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại h ối t ại
Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của văn phòng đ ại
diện.

Các nhân viên làm việc tại văn phòng đại diện không trực tiếp thực hiện,
hay thay mặt cho tô chức nước ngoài tham gia điều hành, quản lý các công ty,
quản lý các dự án hợp tác, thực hiện các hợp đồng thỏa thuận ký kết giữa tổ
chức nước ngoài với đối tác Việt Nam, thực hiện các hợp đồng giao dịch tài sản,
không được thay mặt cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các hoạt động kinh
doanh chứng khoán tại Việt Nam và phải báo cáo hoạt động đ ịnh kỳ hàng tháng,
quý, năm cho UBCKNN.

Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các hoạt động, giao dịch đầu tư thông
qua hình thức ủy quyền qua các văn phòng đại diện, nhân viên làm việc tại các
văn phòng đại diện phải chấm dứt việc ủy quyền. Văn phòng đại diện được
nhận ủy quyền đặt lệnh của công ty mẹ và phải thực hiện chế độ báo cáo cho
UBCKNN.

Thực trạng huy động vốn FPI của Việt Nam
II.
1. Thực trạng huy động vốn FPI của Việt Nam từ thị trường
trong nước
Thực trạng huy động vốn FPI qua các quỹ đầu tư
1.1.
1.1.1. Phân loại các nhà đầu tư ở Việt Nam
Những công ty quản lý quỹ nước ngoài với định hướng chỉ đầu tư
lâu dài tại Việt Nam thì đều thành lập các Văn phòng tại Việt Nam, từ đó đi huy
động vốn tại các trung tâm tài chính quốc tế dưới hình thức thành lập quỹ đóng,



21
quỹ mở (hạn chế chức năng). Thuộc thành phần này là các tổ chức như MeKong
capital, Vina capital, Dragon Capital
Dòng vốn từ các định chế này là dài hạn, thông thường một quỹ có thời
hạn hoạt động từ 7 - 10 năm. Phương châm hoạt động của các tổ chức này
thường là đầu tư dài hạn và đầu tư giá trị, ít có các hoạt động đầu cơ lướt sóng,
bởi vì họ phải mất rất nhiều thời gian công sức để xây dựng một danh mục đầu
tư. Hơn nữa, những quyết định đầu tư, mua bán chứng khoán thường thông qua
Hội đồng đầu tư, Hội đồng quản trị và Ban đại diện quỹ... nên đầu tư theo kiểu
lướt sóng là khó xảy ra. Tuy nhiên, các tổ chức này cũng sẵn sàng tái cấu trúc
danh mục đầu tư khi cảm thấy rằng nắm giữ loại cổ phiếu nào đó về mặt lâu
dài là không chắc chắn hoặc cẩn phải phân bổ nguồn vốn để phân tán rủi ro và
đầu tư vào những cổ phiếu khác có lợi hơn.
Hoạt động tái cơ cấu danh mục đầu tư của các tổ chức này không phải là
động thái rút vốn về nước, mặc dù họ có thể chuyển tiền thoái vốn sang ngoại
tệ mạnh trong một khoảng thời gian nào đó.
Nguồn vốn FPI từ các định chế này thường là dài hạn và ổn định, dĩ nhiên
trừ một số trường hợp quỹ phải giải thể thanh lý trước thời hạn, nguồn vốn này
giúp cho TTCK ổn định nên hầu hết các quốc gia trên thế giới có TTCK phát
triển đều trân trọng và khuyến khích thu hút dòng vốn này. Khuyến khích ở đây
là cho phép các công ty quản lý quỹ nước ngoài và quỹ đ ầu tư đ ược thành l ập
theo pháp luật trong nước và coi những thành phần này là nhà đầu tư trong nước,
tuy nhiên nước ta chưa có chính sách này, VAFI đã từng khuyến nghị Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước & Bộ Tài chính chính sách trên nhưng cho đến nay vấn
đề này vẫn còn đang được nghiên cứu.
Các tổ chức tài chính, chứng khoán nước ngoài chưa mở văn phòng
đầu tư tại Việt Nam nhưng đã mở tài khoản giao dịch chứng khoán. Nhìn
chung các tổ chức này đều có chương trình nghiên cứu về Việt Nam. Một số tổ
chức thuộc đối tượng này đã có những chương trình đầu tư vào Việt Nam nhưng
chưa nhiều. Một số tổ chức đã lập văn phòng tại Việt Nam để đầu tư khi có


22
điều kiện, nguồn vốn đầu tư này thường được chuyển dịch từ công ty mẹ, dòng
vốn này mang tính ngắn hạn hơn so với trên .
Hoạt động uỷ thác đầu tư từ các định chế tài chính toàn cầu. Các tập
đoàn tài chính toàn cầu có bộ phận quản lý danh mục đầu tư tại những chi nhánh
của tập đoàn ở khắp nơi trên thế giới, thông thường tập trung tại các quốc gia
giàu có.
Các nhà đầu tư thông qua các định chế này thì có thể dễ dàng đ ầu tư vào
một TTCK nào đó vào bất kỳ thời điểm nào mà không phải mất thời gian mở tài
khoản, mất thời gian nghiên cứu doanh nghiệp... (khác với hình thức mở trực
tiếp tài khoản). Mọi hoạt động giao dịch, thanh toán, nghiên cứu danh mục đầu
tư đều thông qua các định chế này.
Vai trò của các định chế tài chính lớn là rất quan trọng cho hoạt động uỷ
thác đầu tư: cung cấp kịp thời và đầy đủ các tin tức kinh tế tài chính của nước sở
tại, xây dựng được một danh mục đầu tư tốt cho nhà đầu tư của mình, nếu danh
mục không hoàn thiện thì ảnh hưởng tới kết quả đầu tư, các tổ chức tài chính
toàn cầu cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tư vấn cho các nhà đầu tư
quốc tế đầu tư vào một TTCK nào đó.
Dòng vốn FPI từ các nhà đầu tư chiến lược (cùng ngành nghề với
doanh nghiệp sở tại). Ở nhiều nước, người ta coi đây là dòng vốn trực tiếp. Nhìn
chung các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài thường quan tâm tới những doanh
nghiệp lớn thuộc ngành bưu chính viễn thông, ngân hàng bảo hiểm, thực phẩm...
Có một số hạn chế trong thu hút nhà đầu tư chiến lược như tỷ lệ sở hữu,
tỷ lệ cổ phần nhà nước. Để khắc phục những hạn chế trên thì thực tế có nhiều
nhà đầu tư chiến lược nước ngoài thực hiện việc hợp tác với công ty trong nước
thông qua việc thành lập công ty liên doanh..
1.1.1. Thực trạng đầu tư của các quỹ đầu tư
Khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa ra bên ngoài và nhất là
khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài thì đầu tư gián tiếp nước ngoài đã xuất hiện tại
Việt Nam. Đây được coi là làn sóng FPI thứ nhất vào Việt Nam.


23
Giai đoạn từ 1988 đến 2000: là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn FPI vào Việt
Nam, hoạt động đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) ở mức độ
rất khiêm tốn, chủ yếu là thông qua các quỹ đầu tư. Giai đoạn này chỉ có khoảng 70
công ty cổ phần của Việt Nam có vốn đầu tư gián tiếp với tổng số vốn khoảng 200
triệu USD. Trong giai đoạn này, ở Việt Nam đã có bảy quỹ đầu tư nước ngoài được
thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD. Các quỹ này đều do
công ty quản lý quỹ nước ngoài quản lý và những lĩnh vực được quan tâm là bất động
sản, dịch vụ tài chính, du lịch, sản xuất xi măng và thép. Cụ thể như sau:
Tháng 10 năm 1991: Vietnam Fund. Tổng số vốn là 75 triệu USD, dạng quỹ
đóng. Theo cơ cấu ngành, phần đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là bất động sản 24,8%,
tiếp đó là chế biến nông nghiệp 17,1%, công nghiệp chiếm 15%, dịch vụ tài chính
chiếm 14,1% và du lịch 7,9 %. Nhìn chung thì danh mục đầu tư của quỹ là tương đối đa
dạng, dàn trải nhiều lĩnh vực khác nhau. Song tỷ lệ giữa các khoản đầu tư trong cùng
một danh mục lại không cân đối. Ví dụ trong khoản mục đầu tư nông nghiệp thì có tới
16% đầu tư vào công ty đường Anglo,…
Tháng 06 năm 1992: Vietnam Keppel Fund (The Vietnam Investment Fund Ltd.)
Tổng số vốn 12,5 triệu USD, dạng quỹ đóng.
Tháng 08 năm 1993: Beta Vietnam Fund Tổng số vốn 68,3 triệu USD, dạng quỹ
đóng. Quỹ được quản lý bới công ty Indochina Asset Management với ngân hàng giám
sát là ngân hàng Bermuda. Mục tiêu của quỹ tăng trưởng vốn nên đối tượng sẽ là các
công ty mà quỹ có thể mở rộng ảnh hưởng. Cụ thể là các dự án đầu tư có giá trị từ 1-5
triệu USD vào cổ phiếu của các công ty nước ngoài quản lý, không đầu tư vào các công
trình đang hình thành hoặc các công ty trong nước. Khi đầu tư thì người quản lý quỹ
chú trọng đến 50% là đội ngũ quản lý, 35% hiệu quả của kinh doanh của doanh nghiệp
và 15% là vào khả năng tài chính. Quỹ có khoảng 18 danh mục đầu tư tại các công ty
Việt Nam, chiếm 57% tổng tài sản của quỹ, 13,4% đầu tư vào các khoản nợ của Việt
Nam, số còn lại đầu tư vào tài khoản vãng lai. Lĩnh vực chủ yếu của quỹ là khách sạn
chiếm 19,6%, giải trí 7,7%,…



24
Tháng 07 năm 1994: Vietnam Frontier Fund Tổng số vốn 27,5 triệu USD, dạng
quỹ đóng. Công ty quản lý quỹ là Frontier Fund Management và ngân hàng giám sát là
City Bank. Mục tiêu của quỹ là tăng trưởng vốn thông qua đầu tư các công ty ty niêm
yết hoặc chưa niêm yết hoạt động ở Việt Nam. Cụ thể cũng như Beta Vietnam Fund,
quỹ cũng tập trung vào các dự án đầu tư từ 1-5 triệu USD vào các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài và các công ty liên doanh có người nước ngoài quản lý, ưu tiên các
công ty có nguồn thu ngoại tệ mạnh. Ngoài ra quỹ cũng đầu tư vào các dự án môi
trường và các dự án đòi hỏi phải có thời gian thu hồi vốn với phương châm là quản lý
và phát triển các dự án đã đầu tư hơn là tìm kiếm các dự án mới. Quỹ dành 50% để đầu
tư vào 9 công ty Việt Nam, 14% đầu tư vào các quỹ cho vay trên thị trường mới nổi,
lĩnh vực đầu tư lớn nhất là xây dựng chiếm 20% tài sản ròng
Tháng 07 năm 1995: Vietnam Enterprise Investment Limited Tổng số vốn 35
triệu USD, dạng quỹ đóng. Đây là quỹ hoạt động hiệu quả nhất trong số các quỹ đầu
tư tại Việt nam do công ty Enterprise Investment Management quản lý, thuộc quản lý
của Dragon capital, mục tiêu là cấp vốn phát triển cho các công ty lớn của Việt Nam
chính vì thế quỹ còn được gọi với cái tên Quỹ tiền phát hành. Đối tượng của quỹ là các
công ty Việt nam có thể được niêm yết để tạo độ an toàn cao và đạt được tăng trưởng
dài hạn. Mỗi dự án đầu tư của quỹ từ 0,5-2 triệu USD. Yếu tố quyết định đầu tư của
quỹ là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR là từ 25- 30%, chiến lược phát triển trong 3-5 năm và
tỷ lệ chia cổ tức là 10%. Khác với Beta Vietnam fund quỹ không có ý định kiểm soát
công ty, trên 50% tài sản quỹ đầu tư vào công ty Việt Nam, tài trợ cho hoạt động quản
lý của Việt Nam. Lĩnh vực trọng tâm của quỹ là tài chính chiếm 37% tiếp đó là các
ngành sản xuất như xi măng 10%, thép 5,9%,... Đồng thời quỹ cũng quan tầm đến một
số lĩnh vực khác như bất động sản, du lịch,...
Tháng 09 năm 1994: Templeton Vietnam Opportunities Fund. Tổng số vốn 117
triệu USD, dạng quỹ đóng
Tháng 10 năm 1994: Lazard Vietnam Fund. Tổng số vốn 58,5 triệu USD, dạng
quỹ đóng.



25
Bảng 1: Danh sách quỹ và công ty quản lý quỹ
(trước tháng 7/1995)
Năm Quy mô
Công ty quản lý quỹ Quỹ (triệu Tình trạng hiện
thành
lập USD) nay
Chấm dứt hoạt
1. Vietnam Fund Vienam Fund T10/91 75
động năm 2001
Management Co.Ltd.
Thu hẹp quy mô
2. The Vietnam Vietnam Keppel T6/92 12.5
còn 5 triệu USD
Investment Fund Ltd. Fund
Thu hẹp quy mô
3. Indochina Asset Beta Vietnam Fund T8/93 68.3
còn 7 triệu USD
Management
Chấm dứt hoạt
4. Frontier Fund Vietnam Frontier T7/94 27.5
động năm 2004
Management Fund
Chấm dứt năm
5. Templeton Investment Templeton Vietnam T7/94 117
1997 và trở thành
Management Pte.Ltd. Opportunities Fund
Asian Fund
Chấm dứt hoạt
6. Vietnam Vest Ltd Lazard Vietnam T10/94 58.5
động năm 1997
Fund
Đang hoạt động
7. Dragon Capital Ltd. Vietnam Enterprise T7/95 35
Investment Limited
Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (1995)

Thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á
(1998-2000) khiến các dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài đổ vào
châu Á bị chững lại và Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng chung của xu hướng này.
Trong số bảy quỹ đầu tư kể trên có bốn quỹ rút khỏi Việt Nam, hai quỹ thu hẹp
trên 90% quy mô quỹ, chỉ còn duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund
được thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong số
bảy quỹ) là còn hoạt động cho đến nay. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này
là do thiếu thị trường đầu tư, bởi suốt từ năm 1992-1998, cả nước chỉ có 38




26
doanh nghiệp tư nhân được thành lập và 128 doanh nghiệp nhà nước được cổ
phần hóa. Suốt thời gian này, hoạt động FPI ở Việt Nam hết sức mờ nhạt.

Những khó khăn mà các quỹ đầu tư luôn gặp phải ở Việt Nam là môi
trường kinh tế không ổn định, hành lang pháp lý không theo kịp sự phát triển của
thị trường và còn hạn chế sự đầu tư nước ngoài, sự phát triển của các thị trường
mới nổi khác hấp dẫn các nhà đầu tư sau thời gian ở Việt Nam mà không có hiệu
quả cao, hoạt động của TTCK chưa thực sự sôi động với tâm lý tham gia chỉ để
vay trả ngắn hạn hoặc còn e ngại tình hình không ổn định của TTCK, chính sách
thu hút đầu tư tuy có sự mở cửa song vẫn còn e dè hạn chế, nhân sự cũng là yếu
tố liên quan khiến việc gia nhập vào thị trường Việt Nam với rào cản về văn hoá
cũng như tính chuyên nghiệp của môi trường làm việc.

Giai đoạn từ 2001 đến 2007: là thời kỳ phục hồi trở lại và tăng trưởng
mạnh của dòng vốn FPI vào Việt Nam. Sau 4 năm khủng hoảng tài chính tiền tệ
Châu Á, làn sóng FPI thứ hai đã được khởi động lại vào tháng 4/2002 với sự xuất
hiện của quỹ Mekong Enterprise Fund. Xu hướng tăng cường cải thiện môi
trường đầu tư, phát triển các định chế thị trường tài chính, trong đó có lập sàn
giao dịch chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 7-2000 và sàn giao dịch
chứng khoán Hà Nội tháng 3-2005, đặc biệt là chủ trương và quyết tâm của
Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa, tạo hàng hóa cho TTCK phát triển đã giúp
khơi thông luồng vốn FPI nước ngoài. Tới cuối năm 2006, đã có đến 4.673 doanh
nghiệp nhà nước được tái cơ cấu, trong đó có 3.298 doanh nghiệp được cổ phần
hóa. Tuy đa số là những công ty có quy mô trung bình và nhỏ nhưng cũng bước
đầu góp phần tạo sự đa dạng cho TTCK. Khối các doanh nghiệp tư nhân rất
năng động và phát triển mạnh mẽ, đang trở thành một bộ phận quan trọng của
nền kinh tế và cũng là nguồn cung có chất lượng của TTCK. Bên cạnh đó, các
quy định của Chính phủ về tỷ lệ nắm giữ của các nhà đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam được sửa đổi liên tục, theo đó trước năm 2003, các nhà đầu tư nước
ngoài chỉ được nắm giữ 20% cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức phát hành

27
thì vào năm 2003, số cổ phiếu mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ
được tăng lên 30% (theo Quyết định số 146/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ), ngang bằng với mức cổ phần mà nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ
theo các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Ngoài ta mức góp vốn
của người nước ngoài trong công ty chứng khoán liên doanh hoặc quỹ quản lý
đầu tư liên doanh được nâng lên mức 49%.
Tính đến tháng 6-2006, cả nước đã có 19 Quỹ đầu tư nước ngoài với tổng
vốn 1,9 tỉ USD đang hoạt động ở Việt Nam. Tổng cộng đến thời điểm này FPI
mà Việt Nam thu hút được bằng khoảng 2-3% so với tổng vốn FDI đã thu hút
được trong cùng thời kỳ (so với tỷ lệ trung bình 30-40% của các nước khu vực thì
đây là tỷ lệ khiêm tốn…).
Đến tháng 7/2007, 23 quỹ đầu tư nước ngoài với tổng vốn khoảng 2,2 tỷ
USD đi vào hoạt động. Lượng vốn này không phái là nhiều nếu so với nhu cầu
140 tỷ USD để đầu tư phát triển kinh tế 5 năm giai đoạn 2006 – 2010 nhưng đây
là minh chứng cho thấy TTCK đang trở thành kênh dẫn vốn ĐTNN quan trọng
của Việt Nam. Nguồn FPI mới vào từ vài năm nay, đặc biệt là từ đầu năm 2007
ước đạt 5,6 tỷ USD, cao gấp 4,3 lần năm trước. Cuối năm 2007, xuất hiện tình
trạng lượng USD ồ ạt vào TTCK do việc quy định chỉ được đầu tư bằng đồng
Việt Nam, khiến các ngân hàng phải liên tục mua vào gây những sức ép không
nhỏ cho xuất khẩu và lạm phát đặc biệt khi chuẩn bị có những cuộc IPO lớn
trong các lĩnh vực được coi là hot như ngân hàng, dầu khí… Trong 9 tỷ USD thì
có tới 6 tỷ là từ hoạt động đầu tư FPI (chủ yếu là tập trung vào thị trường trái
phiếu chiếm tới 60-70%), việc nguồn vốn ồ ạt vào trong khi hiệu quả đồng vốn
thấp sẽ gây ra tình trạng bong bóng rất dễ gây ra cú sốc cho thị tr ường (hệ số
ICOR 2006 là 5,1; năm 2007 là 5). Song việc nguồn vốn dồi dào đã giúp ổn định
tỷ giá, tăng dự trữ, cải thiện cán cân thanh toán và tác động mạnh tới TTCK.
Mặt khác nó cũng tạo ra một áp lực vô hình bởi cả lý thuyết lẫn thực tế
đều chứng minh rằng chẳng có nước nào vừa tăng tự do hóa luồng vốn, vừa ổn
định được tỷ giá trong khi vẫn giữ được chính sách tiền tệ độc lập.


28
Dù vậy đây cũng được coi là giai đoạn ấn tưởng của nguồn vốn FPI và hệ
quả tích cực của nó giúp thị trường tài chính nói chung và hệ thống Ngân hàng
Việt Nam nói riêng phát triển một cách toàn diện hơn.
Giai đoạn từ 2008 đến nay: đây là giai đoạn khó khăn với cuộc khủng
hoảng tài chính phố Wall, nó lan rộng và ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu và dĩ
nhiên Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Sau thời gian phát triển quá nóng
TTCK Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu suy giảm song điều đáng nói ở đây sự suy
giảm sâu của chỉ số TTCK tới 70% trong năm 2008. Nhà đầu tư nước ngoài bắt
đầu rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc bán trái phiếu Chính phủ chuyển ngoại tệ
về nước.
Thống kê của Tổ nghiên cứu của BIDV cho thấy, chỉ trong tháng 9 và
11/2008, khối đầu tư nước ngoài đã bán ròng 0,7 tỷ USD trái phiếu Chính phủ và
100 triệu USD cổ phiếu các loại. Còn theo số liệu của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước thì trong năm 2008 các nhà đầu tư nước ngoài đã rút 587 triệu USD còn
trong năm 2009 là khoảng 500 triệu USD, trong đó nổi bật lên là hai hiện tượng
thoái vốn của các nhà đầu tư ở Quỹ Vietnam Enterprise Investments Limited
(VEIL), do Dragon Capital quản lý và của Quỹ đầu tư Indochina Capital một
trong những quỹ đầu tiên niêm yết tại TTCK London cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến TTCK (đây là một trong số các các nhà đầu tư chiến lược phổ biến ở ở các
nước phát triển song ở châu Á có thể các nhà đầu tư cảm nhận được sự quá
nóng của TTCK các nước đang phát triển).
Các đợt phát hành trên thị trường trái phiếu bằng ngoại tệ khá ảm đạm.
Đợt phát hành thứ nhất vào tháng 3/2009, 3 lần đấu thầu chỉ huy đ ộng đ ược
230,11 triệu USD trong tổng số 300 triệu USD được đưa ra mời thầu. Đợt 2 vào
tháng 8/2009, trái phiếu ngoại tệ kỳ hạn dài số lượng bỏ thầu rất ít. Trong đó, cả
3 phiên chỉ huy động được 100 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu chào bán kỳ
hạn 1 năm; 47 triệu USD/100 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 2 năm; và 10 triệu
USD/50 triệu USD trái phiếu kỳ hạn 3 năm. Đợt phát hành thứ 3, và thứ 4 vào



29
ngày 29/12/2009, kết quả chỉ huy động được 73 triệu USD trong tổng số 200
triệu USD giá trị trái phiếu gọi thầu, đạt 36,5%.
Song với những chính sách kích cầu hợp lý nguồn vốn FPI vào Việt Nam
trong năm 2010 đã có nhiều khởi sắc cụ thể tháng 6/2010 mức thặng dư ròng FPI
vào Việt Nam là 1,8 tỷ đô la (năm 2009 chỉ đạt 0,1 tỷ USD), trong đó 1 tỷ đô do
việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế. Loại trừ trái phiếu chính phủ thì
tính cả thị trường OCT các nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua ròng trên TTCK 800
triệu USD. Đây là một dấu hiệu tốt cho thấy Việt Nam đang dần thoát khỏi
khủng hoảng và các nhà đầu tư đã có lại niềm tin vào nền kinh tế Việt Nam.
1.1.2. Một số công ty quản lý quỹ chủ yếu
● Dragon Capital
Dragon Capital lập Quỹ Vietnam Enterprise Investment Limited (VEIL)
năm 1995. Đây là quỹ đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với tổng tài sản
hiện nay ước tính khoảng 1 tỷ USD.
Năm 2003, Dragon Capital liên doanh với Sacombank để thành lập
VietFund Mangagement (VFM), công ty quản lý quỹ đầu tiên tại Việt Nam. Hiện
VFM đang quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1).
Cuối năm 2004, Dragon Capital lại thành lập quỹ thứ hai tại Việt Nam là
Vietnam Growth Fund Limited (VGF) hiện có tổng vốn 500 triệu USD.
Năm 2005, Dragon lập thêm quỹ Vietnam Dragon Fund Limited (VDF) có
tài sản hiện tại là 340 triệu USD. Quỹ đầu tư mới nhất của hãng này là Vietnam
Resource Investment (Holdings) Limited (VRI). Đây là quỹ đầu tiên đầu tư vào
các công ty kinh doanh về tài nguyên thiên nhiên.
Tháng 9 năm 2007, Dragon Capital đã giới thiệu một chỉ số chứng khoán
riêng của mình, chỉ số Dragon Capital VN30 Index (DC VN30 Index), đo lường
các thay đổi trên cả 3 sàn giao dịch TP.HCM, Hà Nội và thị trường OTC.
● VinaCapital
Công ty Quản lý Quỹ VinaCapital bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ
tháng 11/2003 với việc ra đời quĩ đầu tư tư nhân Vietnam Opportunity Fund


30
(VOF) số vốn là 171 triệu đô la Mỹ với hướng đầu tư chính là cổ phiếu OTC và
địa ốc.
Từ giữa năm 2006, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital khai trương Quỹ bất
động sản VinaLand, quỹ đã lên tới 65 triệu đô la Mỹ.
Ngày 5/7/2007, Vina Captial đã chính thức đưa Quỹ Cơ sở hạ tầng Việt
Nam (Vietnam Infrastructure Limited – VIL) lên niêm yết trên sàn chứng khoán
thứ cấp London (Alternative Investment Market – AIM). Sự kiện này đã nâng số
quỹ đầu tư mà Vina Capital mở tại Việt Nam lên thành bốn quỹ với tổng số FPI
đã thu hút vào Việt Nam lên tới 1,8 tỷ USD.
VinaCapital cũng đang đẩy mạnh đầu tư vào các công ty công nghệ. Công
ty quản lý quỹ này đã liên doanh với Tập đoàn Draper Fisher Jurveton - t ập đoàn
đầu tư mạo hiểm với tổng vốn đầu tư trên 3,5 tỷ USD để lập quỹ đầu tư DFJ
VinaCapital với tổng số vốn đầu tư ban đầu là 50 triệu USD.
● Mekong Capital
Mekong Capital là công ty quản lý quỹ đầu tư tập trung vào Việt Nam do
các cá nhân có kinh nghiệm về mảng quản lý đầu tư cả ở Việt Nam và quốc tế
thành lập năm 2001.
Công ty thành lập Quỹ đầu tư Mekong Enterprise Fund đầu (tổng vốn đầu
tư 18,5 triệu USD). Mekong Capital chọn những công ty thuộc khu vực tư nhân ở
các địa phương với quy mô nhỏ làm đối tác.
Đến nay, quỹ đã đầu tư hết vào 10 công ty Việt Nam như Công ty Xây
dựng và Kiến trúc AA, Công ty tin học Lạc Việt, Công ty nhựa Tân Đại Hưng,
Công ty gỗ Đức Thành.
Ngày 5/6/2006, công ty đã chính thức khai trương quỹ đầu tư cổ phần thứ
hai (Mekong Enterprise Fund II) tại TP.HCM. Quỹ có tổng vốn 50 triệu USD, tập
trung đầu tư vào các công ty tư nhân Việt Nam phục vụ cho thị trường trong
nước, hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối và quảng bá thương hiệu
(vốn đầu tư trung bình cho mỗi dự án là 3 triệu USD).
● Indochina Capital


31
Indochina Capital đã hoạt động ở Việt Nam 15 năm tiến hành đầu tư 1 tỷ
USD vào các dự án địa ốc, trong đó tiêu biểu là các dự án như Khách sạn Furama
(Đà Nẵng), Saigon Center (Tp.HCM), 63 Lý Thái Tổ (Hà Nội)... và nhiều dự án
địa ốc khác do công ty đầu tư chính; và góp vốn chung với một công ty khác đầu
tư dự án khu du lịch Nam Hải (Đà Nẵng).
Đầu tư khoảng 50 triệu USD vào TTCK. Năm 2006, Indochina Capital
cũng đã thành lập hai quỹ, một địa ốc với 42 triệu đô la Mỹ và một quỹ chứng
khoán với 50 triệu đô la Mỹ.
Để phục vụ cho mục tiêu lâu dài trên thị trường Việt Nam, Indochina
Capital đã thành lập Quỹ Indochina Capital Holding Limited và thực hiện đợt phát
hành và niêm yết trên TTCK London với quy mô ban đầu là 500 triệu USD
(3/2007). Sự kiện này ngay lập tức đã thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước
ngoài và trong đợt phát hành lần đầu Indochina Capital Vietnam Holding Limited
dự định thu hút khoảng 300-350 triệu USD nhưng đã nhận được sự quan tâm rất
lớn của các nhà đầu tư và đạt được con số 500 triệu USD.
1.1.3. Một số quỹ đầu tư chủ yếu
● Prudential
Quỹ đầu tư Prudential (PRUBF1) do Công ty Quản lý Quỹ đầu tư
Prudential Việt Nam thành lập năm 2006 được xem là quỹ đầu tư lớn nhất với
quy mô quỹ vào khoảng 500 triệu USD.
Tuy nhiên, 65% vốn của quỹ này dành để đầu tư vào trái phiếu Chính phủ,
chỉ có khoảng 35% còn lại tương đương với khoảng 175 triệu USD là dành đ ầu
tư vào tài sản vốn và TTCK.
Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính, Quỹ đầu tư này rất phù hợp
với các nhà đầu tư có khả năng chấp nhận rủi ro trung bình, thời gian đầu t ư t ừ
trung bình đến dài hạn và mong muốn có thu nhập định kỳ cùng triển vọng nâng
cao giá trị vốn đầu tư.
● Vietnam Enterprise Investment Fund (VEIL)



32
VEIL là quỹ đầu tư nước ngoài duy nhất có thời gian hoạt động lâu nhất
tại Việt Nam. Quỹ được thành lập vào tháng 7-1995 với tổng số vốn huy động
ban đầu là 35 triệu USD, và trong hơn 10 năm hoạt động đó VEIL đã vượt qua
khủng hoảng kinh tế khu vực và nâng số vốn huy động lên đến hơn 109 triệu
USD. Hiện nay, VEIL là quỹ đứng thứ hai tại Việt Nam về mặt quy mô vốn huy
động nhưng lại đứng đầu về lượng vốn hóa thị trường.
VEIL ưu tiên đầu tư vào 5 ngành chính là tài chính ngân hàng, cơ sở hạ
tầng, bưu chính - viễn thông, du lịch, khai thác khoáng sản và hàng tiêu dùng.
VEIL tập trung đầu tư vào doanh nghiệp có quy mô vốn từ 2 - 3 triệu USD trở
lên và đặc biệt không đầu tư vào các công ty được quản lý bởi gia đình.
Trong năm 2005, VEIL được xem là quỹ có kết quả hoạt động tốt nhất tại
Việt Nam khi giá trị tài sản ròng trên một cổ phiếu quỹ tăng 37,1% so với các
năm trước và giá của một đơn vị quỹ VEIL được giao dịch cao hơn gần 11% giá
trị tài sản ròng.
● Vietnam Growth Fund (VGF)
Quỹ VGF cũng được quản lý bởi Dragon Capital và thành lập vào tháng
10-2004 với số vốn huy động ban đầu là 60 triệu USD, chỉ sau hơn một năm hoạt
động quy mô vốn của quỹ đã tăng 66,7% đạt 100 triệu USD.
Mục tiêu đầu tư của VGF là nhằm vào những công ty có tốc độ tăng
trưởng nhanh và thuộc những ngành đầu tư như VEIL. VGF đặc biệt không đầu
tư vào thị trường bất động sản. Giá trị tài sản ròng trên một cổ phiếu quỹ và giá
giao dịch của VGF vào cuối năm 2006 tăng 15% và 17,6% so với năm trước.
● Vietnam Dragon Fund (VDF)
Dragon Capital cho biết mới vừa thành lập Quỹ VDF vào đầu năm 2006
với số vốn đầu tư ban đầu là 35 triệu USD. Quỹ VDF được huy động vốn bởi
các nhà đầu tư Nhật Bản. Mục tiêu đầu tư của VDF tương tự như VEIL là ưu
tiên đầu tư vào 5 ngành chính là tài chính - ngân hàng, cơ sở hạ tầng, bưu chính -
viễn thông, du lịch, khai thác khoáng sản và hàng tiêu dùng.



33
Trong 9 tháng đầu năm 2006, VDF đã thực hiện 30 khoảng đầu tư vào các
công ty niêm yết và không niêm yết hoạt động chủ yếu ở Việt Nam. Tổng giá trị
tài sản ròng tính đến cuối tháng 9-2006 đạt hơn 169 triệu USD tăng gần 22,5% so
với tháng 12-2005.
● Vietnam Opportunity Fund (VOF)
VOF của Vinacapital bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ tháng 9-2003,
đến tháng 9-2006 có quy mô tổng vốn huy động 171 triệu USD được tập trung
đầu tư vào những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh như dịch vụ tài chính, hàng
tiêu dùng, bán lẻ, bất động sản, du lịch, cơ sở hạ tầng và ngành công nghệ.
Giá trị chứng chỉ quỹ luôn được giao dịch cao hơn giá trị tài sản ròng trên
một cổ phiếu quỹ khoảng 20 – 25% và thậm chí đạt đến đỉnh điểm 44,6%.
Giá trị tài sản ròng trên một cổ phiếu quỹ vào đầu năm 2006 đạt 1,6 USD,
tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước.
● PXP Vietnam Fund
Thành lập sau VOF chừng 3 tháng, PXP Việt Nam chỉ tập trung đầu tư vào
những công ty đã niêm yết hoặc chuẩn bị niêm yết tại TTCK Việt Nam. Quỹ
PXP đầu tư dài hạn vào những công ty Việt Nam hoặc có vốn đầu tư nước ngoài
nhưng lượng vốn hóa ở mỗi công ty phải đạt tối thiểu 5 triệu USD hay có chỉ số
giá trên thu nhập (P/E) của công ty đó phải tương đương với P/E thị trường.
Sau 2 năm hoạt động giá trị tài sản ròng trên một đơn vị quỹ đạt 3,2 USD,
tăng 33,3% so với năm trước. Với việc đầu tư vào Công ty Dược phẩm
Imexpharm, trong cùng thời gian này PXP đã nâng tổng số công ty đã đầu tư lên
23 đơn vị và đạt 93% tổng lượng vốn huy động.
Vào cuối tháng 11-2005, PXP tăng quy mô quỹ từ 25,8 triệu USD lên
khoảng 40 triệu vào quý 2-2006 bằng cách phát hành thêm hơn 2 triệu cổ phiếu.
● Vietnam Emerging Equity Fund (VEEF)
Bên cạnh PXP Việt Nam, PXP Asset Management đã mở thêm quỹ đầu tư
mới Vietnam Emerging Equity Fund (VEEF) vào thị trường Việt Nam với quỹ mô
vốn khoảng 15,9 triệu USD từ tháng 11-2005 và được niêm yết tại TTCK Ai-len


34
(NCB). Đến giữa quý 3-2006, VEEF đầu tư vào 28 công ty Việt Nam, giá trị tài
sản ròng đạt 52,5 giữa quý 3-2006, VEEF đầu tư vào 28 công ty Việt Nam, giá trị
tài sản ròng đạt 52,5 USD, tăng 36% so với lúc mới thành lập.
● Mekong Enterprise Fund (MEF)
Trong số 7 quỹ tư nhân và quỹ không niêm yết của nước ngoài đầu tư tại
Việt Nam, MEF ra đời từ tháng 4-2002 với quy mô vốn 18,5 triệu USD và do
Công ty Mekong Capital quản lý. Đối tượng đầu tư của MEF là những công ty
gia đình vừa và nhỏ, có kết quả kinh doanh tốt, đặc biệt năng đ ộng trong kinh
doanh và có khuynh hướng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. MEF không
quan tâm đến những công ty có quy mô lớn và thường cung cấp dịch vụ hỗ trợ
sau đầu tư để giúp các công ty đó cải thiện hoạt động quản lý doanh nghiệp và
có thể phát triển vượt bậc trong tương lai. Với tốc độ đầu tư khoảng 3 - 4 công
ty mỗi năm, đến nay MEF đã đầu tư 10 doanh nghiệp với tổng vốn khoảng 13 –
14 triệu USD. MEF đã đầu tư gần hết lượng vốn huy động, vì vậy Mekong
Capital mở thêm quỹ mới vào năm 2006 với quy mô vốn khoảng 40 triệu USD và
cùng chiến lược đầu tư như MEF.
● IDG Ventures Vietnam (IDG)
IDG Ventures Vietnam (IDGVV) là quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của
Mỹ tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao được thành lập vào tháng 3-2004. Quỹ
này ưu tiên đầu tiên vào các doanh nghiệp trẻ kinh doanh các ngành công ngh ệ
cao tại Việt Nam.
Với quy mô 100 triệu USD, IDGVV đầu tư vào những doanh nghiệp có
tiềm năng phát triển cao thuộc các ngành công nghệ thông tin, viễn thông,
internet, truyền thông và công nghệ sinh học. Đến nay, IDGVV đã đầu tư 5 triệu
USD vào bốn doanh nghiệp PeaceSoft, Isphere, VinaGame và VietnamWorks.com.
Trong thời gian 7 năm (2003-2010), IDG dự kiến dành khoảng 100 triệu
USD đầu tư vào ngành công nghệ thông tin tại Việt Nam, riêng đầu tư mạo hiểm
chiếm tới 80 triệu USD.



35
Theo IDG Ventures, yếu tố chính để họ quyết định đầu tư vào các công ty
được lựa chọn là yếu tố con người, lãnh đạo. Lĩnh vực mà IDG quan tâm nhất
vẫn là công nghệ cao và media.
Thực trạng huy động vốn FPI qua thị trường chứng khoán
1.2.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ ngày
20/7/2000 với việc đưa vào vận hành trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh , thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000. Sau 10 năm
phát triển, quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam tăng 30-40 lần, từ mức
0,5% GDP năm đầu tiên lên hơn 40% GDP hiện nay. Huy đ ộng vốn qua th ị
trường chứng khoán trong những năm gần đây đạt bình quân hơn 120.000 tỷ
đồng mỗi năm, tương đương một phần ba tổng mức đầu tư toàn xã hội. Thị
trường chứng khoán ngày càng trở thành một kênh huy động vốn phổ biến với
các doanh nghiệp trong nước , thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư trong nước
cũng như các nhà đầu tư nước ngoài . Sự phát triển của thị trường cả về quy mô
số lượng và chất lượng , cùng với các chính sách của Nhà nước đã có tác đ ộng
tích cực đến thị trường , khiến TTCK Việt Nam ngày càng có sức hút với các
NĐTNN, đặc biệt trước khi khủng hoảng tài chính thế giới 2008 diễn ra .

Tổng hợp giao dịch của các nhà ĐTNN trên thị trường chứng khoán
Việt Nam từ năm 2000 đến 2007

Năm Mua Bán
Khối lượng % so Gía trị (tỷ so Khối lượng trị % so
% % so Gía
với đồng) với với ( tỷ đồng với
toàn toàn toàn ) toàn
thị thị thị thị
trường trườn trườn trườn
g g g
2000 - 0 0 0 0 0 0 0
2001 161.600 0,82 12,1 1,17 45.000 0,23 2,36 0,23
2002 4.259.339 10,0 121,21 9,92 874.879 2,35 25,5 2,33
2003 3.385.420 6,35 99,90 3,33 323.010 0,62 5,85 0,20
2004 22.096.711 8,93 1.226,60 6,2 6.507.253 2,34 486,50 2,09
2005 41.940.420 11,5 3.002,44 10,5 31.151.370 7,5 2.766,75 7,5
2006 152.718.070 17,0 12.373,49 20 83.059.350 9,5 7.599,67 10
2007 513.754.369 21,5 66.616,07 27,14 384.566.437 14,59 43.141,42 17,57



36
Giao dịch của các NĐTNN trước năm 2005 là không đáng kể so với quy
mô bé nhỏ của thị trường . Năm 2001, khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch
của khối này chỉ chiếm tương ứng là 2,62% và 2,69% so với giao dịch của toàn
thị trường tại Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh. Trong khoảng thời gian này ,
vai trò của nhà đầu tư nước ngoài không nổi bật trên thị trường chứng khoán
Việt Nam. Điều này có thể giải thích do hoạt động chưa đạt mức độ tăng trưởng
mạnh của thị trường chứng khoán, cũng như giai đoạn nằm ngang kéo dài quá lâu
của chỉ số chứng khoán đã khiến cho không chỉ rất nhiều nhà đầu tư trong nước
mà cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng không đánh giá cao về tiềm năng hồi phục
và phát triển của giá cả cổ phiếu. Bên cạnh đó , các công ty niêm yết lên sàn
chứng khoán vẫn còn nhỏ lẻ chập chững, khung pháp lý tạo bản lề cho nó phát
triển vẫn còn khô cứng, máy móc. Đến tận năm 2005 , khi tỷ lệ nắm giữ của
NĐTNN được nâng từ 30% lên 49%( trừ lĩnh vực ngân hàng ), thì diễn biến thị
trường mới bắt đầu có những dấu hiệu khởi sắc . Cuối năm 2005, tổng số vốn
đầu tư gián tiếp vào Việt Nam mới là 865 triệu USD, chỉ chiếm khoảng 1% so
với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài , đầu tư gián tiếp của các nhà ĐTNN thông
qua Trái phiếu vẫn còn rất nhỏ, ngoại trừ nguồn vốn 750 triệu USD đầu tư vào
trái phiếu chính phủ mà Việt Nam phát hành tại nước ngoài tháng 11/2005 . Toàn
thị trường có tới 436 nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài, trong đó có 38 nhà đầu tư
nước ngoài có tổ chức và 398 nhà đầu tư nước ngoài cá nhân .


Thị trường chứng khoán Việt Nam thực sự phát triển đột phá vào năm
2006, với hoạt động giao dịch sôi động trên cả 3 sàn : Sở GDCK Thành phố Hồ
Chí Minh , Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ( thành lập ngày 8/3/2005 ),
thị trường OTC . Với mưc tăng trưởng đạt tới 60% trong 6 tháng đầu năm 2006 ,
thị trường chứng khoán Việt Nam đã trở thành “ điểm “ có tốc độ tăng trưởng
nhanh thứ 2 thế giới , chỉ sau Dim-ba-bue . Và sự bùng dậy của thị trường non trẻ
này đã có sức hút mạnh mẽ với nhà đầu tư trong và ngoài nước . Bước vào năm


37
2006 , các quỹ đầu tư và nguồn vốn đầu tư gián tiếp đã trở thành nguồn vốn
được quan tâm đặc biệt với sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng
khoán.Tính đến cuối năm 2006, giá trị cổ phiếu do các NĐTNN nắm giữ đ ạt
khoảng 4 tỷ USD , chiếm 16,4% mức vốn hóa của thị trường, tăng gần gấp 3 lần
so với năm 2005, giá trị trái phiếu quốc tế phát hành đạt 1,3 tỉ USD. Đây được
xem là năm bản lề đối với các nhà đầu tư nước ngoài .
Tiếp tục gây ấn tượng mạnh mẽ vào năm 2007 , TTCK bước vào thời kỳ
phát triển bùng nổ. Đến đầu tháng 3/2007, tỷ lệ sở hữu của NĐTNN tại TTCK
Việt Nam đã lên đến 19%. trong đó giá trị đầu tư vào trái phiếu niêm yết chiếm
25%; đầu tư vào trái phiếu không niêm yết chỉ chiếm 6% với tông giá trị vao
̉ ̀
khoang trên 1 tỷ USD.
̉
Trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 9/2007 , thị trường có sự điều
chỉnh . Trước nối lo sợ về một “ thị trường bong bong “ (giai đoạn đầu năm giá
cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã ) , các cơ quan quản lý nhà nước vào
cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểm soát thị trường chặt
chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quá nóng của thị
trường. Phản ứng với điều này , TTCK đã có những đợt điều chỉnh rõ rệt, giá cổ
phiếu giảm, thị trường trở nên trầm lắng. Ở giai đoạn này, các NĐT nước ngoài
cũng tỏ ra khá thờ ơ với thị trường, khối lượng giao dịch trên cả 2 sàn của khối
này đều sụt giảm mạnh, giá trị giao dịch đạt 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so
với giai đoạn đầu năm. Bước vào những tháng cuối năm, thị trường có dấu hiệu
phục hồi. Từ tháng 9 đến tháng 10,giá cổ phiếu có xu hướng phục hồi nhanh
chóng,sau đó lại ngay lập tức điều chỉnh giảm với lượng chứng khoán chuy ển
nhượng rất hạn chế . Tuy nhiên , tính đến hết năm 2007, tổng số vốn đầu tư
gián tiếp đạt 7,414 tỷ USD ,trong đó có 70% đầu tư vào lĩnh vực trái phiếu, cổ
phần và bất động sản. Theo thống kê của Trung tâm lưu kí chứng khoán, năm
2007, NĐTNN có 8.140 tài khoản cá nhân và 477 tài khoản tổ chức. Xét trên toàn
thị trường , nhà đàu tư nước ngoài nắm giữ từ 25 – 30% cổ phần của các công ty
niêm yết, doanh số giao dịch chiếm khoảng 18% giao dịch toàn thị trường. Gía trị


38
danh mục đầu tư trên thị trường chính thức ước đạt 7,6 tỷ USD, gấp 3 lần so với
năm 2006 (2,3 tỷ), nếu tính cả thị trường không chính thức con số này đ ạt tới
gần 20 tỷ USD.
Bước sang năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, cùng với xu thế chung
của nền kinh tế thế giới ,TTCK Việt Nam khép lại một năm của sự sụt giảm .
Ở thời gian này, TTCK Việt Nam gặp phải sự sụt giảm khá sâu về giá trị của
các cổ phiếu. Năm 2008, mặc dù , khối lượng giao dịch của các NĐTNN có tăng
lên nhưng xét về giá trị giao dịch thì sụt giảm khá nhiều so với năm 2007. 3 quý
đầu của năm 2008, tỷ trọng mua cổ phiếu và chứng chỉ quỹ của NĐTNN tại các
sàn giao dịch có xu hướng tăng,duy trì trạng thái mua ròng trên toàn thị trường.




Nguồn: HOSE, BVCS
Nhưng càng vào nhứng tháng cuối năm , giao dịch của các NĐTNN càng
có những dấu hiệu không tích cực. Nhận thấy những khó khăn mà cuộc khủng
hoảng tài chính thế giới mang lại, các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng đẩy
mạnh bán chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu , riêng trong quý 4, giá trị bán ròng



39
cố phiếu và chứng chỉ quỹ trên tonaf thị trường của khối này đã đạt 2.044 tỷ
đồng. Tính đến tháng 12/2008,
Giá trị giao dịch của NĐTNN chỉ còn thương đương 4,6 tỷ USD giảm gần
một nửa so với thời điểm đầu năm. Đối với trái phiếu, các tháng đ ầu năm , nhà
đầu tư nước ngoài vẫn duy trì mua ròng từ cuối năm 2007. Tuy nhiên sang tháng
4, đông nôi tệ giảm giá (lam phat lên tới 25,2% so với cung kỳ năm trước), cac
̀ ̣ ̣ ́ ̀ ́
ngân hang nôi đia bước vao cuôc đua lai suât huy đông khiên lợi suât trai phiêu
̀ ̣̣ ̀ ̣ ̃ ́ ̣ ́ ́ ́ ́
tăng cao, nhà ĐTNN tim cach thoat khoi thị trường trai phiếu. Tai san HOSE, giá
̀ ́ ́ ̉ ́ ̣̀
trị trai phiêu ban ra cua nhà ĐTNN tăng đôt biên trong thang 6, chênh lêch ban ra
́ ́ ́ ̉ ̣ ́ ́ ̣ ́
mua vao đat mức 680 ty, mức chênh ban ra cao nhât tai san HOSE kể từ năm 2007
̀ ̣ ̉ ́ ̣́̀
trở lai.
̣




Nhu câu về USD tăng manh trong thang 4 và thang 5 khiên giá USD trong
̀ ̣ ́ ́ ́
nước cung tỷ giá theo hợp đông kỳ han không chuyên đôi (NDF) tăng đôt biên.
̀ ̀ ̣ ̉ ̉ ̣ ́



40
Tính từ khi cuôc khung hoang tai chinh thế giới lan rông (giữa thang
̣ ̉ ̉ ̀ ́ ̣ ́
9/2008) đên cuôi năm nhà ĐTNN liên tuc ban rong trên thị trường trai phiêu ~
́ ́ ̣ ́ ̀ ́ ́
26.000 tỷ VND, môt phân vôn thu được đã được chuyên đôi sang USD dân tới câu
̣ ̀ ́ ̉ ̉ ̃ ̀
USD cao tai cac ngân hang nước ngoai.Năm 2008 nhà ĐTNN ban rong 37.383 tỷ
̣́ ̀ ̀ ́ ̀
đông (-2,2 tỷ USD) trai phiêu. Tinh tới ngay 16/01/2009, nhà ĐTNN tiêp tuc ban
̀ ́ ́ ́ ̀ ́ ̣ ́
rong trai phiêu -2.645 tỷ đông.
̀ ́ ́ ̀




41
Trong năm 2009, vai trò của các giao dịch NĐTNN chiếm tỷ trọng thấp
hơn trên các giao dịch trên thị trường chứng khoán. So với hai năm 2007 và 2008,
tỷ trọng giao dịch của khối ngoại sụt giảm đáng kể trong tất cả các giao dịch
khớp lệnh.




Tuy nhiên, sang năm 2009 quy mô vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài rút
khỏi TTCK Việt Nam đã giảm dần . Trong quí 1, khối nhà đầu tư nước ngoài
duy trì bán ròng tại HASTC , trong đó chủ yếu là trái phiếu ( bán ròng trên 10
nghìn tỷ đồng ). Tuy nhiên dòng vốn này đã có xu hướng quay trở lại kể từ Quý
II năm 2009, thị trường đã có sự khởi sắc trở lại cùng với sự gia tăng về khối
lượng và giá trị giao dịch của khối ngoại, lần lượt chiếm tương ứng là 32,86%
và 45,21% so với giao dịch của toàn thị trường. Tại thị trường niêm yết, nhà đầu
tư nước ngoài đã nhanh chóng sở hữu đến 49% hoặc đang có xu hướng đ ạt đ ến
49% (tỷ lệ cao nhất cho phép đối với nhà đầu tư nước ngoài) đối với một số mã
cổ phiếu như AGF, CII, BT6, GIL, GMD, IFS, SAM, TDH, TMS, TYA, VNM,
chứng chỉ quỹ VFMVF1. Vốn đầu tư gián tiếp rút ra khỏi Việt Nam trong 10
tháng đầu năm 2009 lên tới 500 triệu USD và đạt khoảng 600 triệu USD năm
2009 (tương đương với dòng vốn rút ra của năm 2008). Mặc dù chứng khoán


42
Việt Nam giảm nhưng Việt Nam vẫn là một trong số ít nền kinh tế mởi nổi
nhận được dòng vốn đầu tư ròng vào danh mục đầu tư chứng khoán năm 2009.
Theo đánh giá các chỉ số chứng khoán chính trên thế giới của trang web
(www.indexq.org), chỉ số chứng khoản của Việt Nam tăng 34,67% và nằm trong
nhóm những chỉ số tăng mạnh nhất trên thế giới trong 6 tháng đầu năm 2009 . So
với hai năm 2007 và 2008 , tỷ trọng giao dịch của khối ngoại sụt giảm đáng kể
trong tất cả các giao dịch khớp lệnh, vai trò trên thị trường chứng khoán có phần
sụt giảm. Đối với thị trường trái phiếu, cac nhà ĐTNN đã ban rong xâp xỉ gân
́ ́ ̀ ́ ̀
372 triêu USD trong cả năm.
̣


Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK TP. HCM
giai đoạn 2001-2009

Tổng KLGD Tỷ trọng Tổng GTGD Tỷ trọng GTGD
KLGD
của nhà ĐTNN (1 của nhà ĐTNN của nhà ĐTNN
Năm
của nhà (tỷ đồng)
CK) (%)
ĐTNN (%)
2001 206.600 2,62 14,5 2,69
2002 4.567.958 12,79 132,5 13,83
2003 3.507.930 13,08 85,7 17,82
2004 15.862.405 21,76 517,9 26,29
2005 16.456.375 17,35 570,2 20,48
2006 40.807.868 16,58 1.335,2 18,37
2007 862.320.833 36,09 109.747,5 41,72
2008 1.119.037.618 32,87 68.974,2 45,21
2009 2.062.767.587 32,86 181.377,7 42,22

Nguồn: Tổng hợp từ Website của Sở giao dịch TP.HCM

Bước sang năm 2010, hoạt động của NĐTNN càng đóng góp sâu sắc hơn
vào việc nâng đỡ thị trường trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam có



43
xu hướng giảm điểm từ đầu năm . Thống kê giao dịch của NĐTNN tại S ở
GDCK Thành phố Hồ Chí Minh 12 tháng trở lại đây




Khối lượng giao dịch Giá trị giao dịch
(tỉ đồng)
(1 CK)
Tháng
Toàn thị Toàn thị
ĐTNN (mua) ĐTNN (bán) ĐTNN (mua) ĐTNN (bán)
trường trường
11-2010 301.398.277 53.788.660 29.326.460 7.402 2.087,277 1.172,654
10-2010 645.376.378 89.452.252 53.823.661 16.587 3.413,936 1.886,341
09-2010 890.557.016 78.289.882 53.478.092 23.451 2.988,991 1.828,266
08-2010 888.023.892 71.340.019 56.720.076 24.322 2.797,000 1.946,331
07-2010 967.016.733 49.736.500 48.368.210 28.340 2.211,950 1.656,959
06-2010 1.074.741.109 104.927.697 83.556.677 33.792 4.389,131 2.987,744
05-2010 685.798.509 28.137.020 25.657.400 24.359 1.483,773 1.115,572
04-2010 1.148.655.450 88.493.889 54.440.249 45.296 4.926,443 2.613,714
03-2010 1.152.277.543 57.218.506 55.834.276 49.004 3.206,438 2.571,040
02-2010 387.047.725 51.674.370 48.264.820 17.305 3.035,121 2.198,717
01-2010 866.172.802 62.681.334 45.736.494 38.827 2.831,953 2.264,704
12-2009 1.007.666.391 95.561.324 71.510.970 40.450 4.247,389 3.135,071

( Nguồn : website sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh)

Trong quý II năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài mua ròng trên thị
trường chứng khoán khoảng 500 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm nay,
vốn FPI ròng đạt mức thặng dư 1,8 tỷ USD (cùng kỳ năm ngoái vẫn còn thâm hụt
492 triệu USD) , trong đó nguồn thu trên thị trường chứng khoán đ ạt 800 tri ệu
USD (bao gồm cả thị trường OTC), bao gồm cả việc phát hành thành công 1 tỷ
USD trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế.Hiện tại, tổng giá trị cổ phiếu
niêm yết mà nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ trên cả 2 sàn vào khoảng 114-
115 nghìn tỷ đồng (gần 6 tỷ USD).




44
Những tháng gần đây , khối ngoại tiếp tục duy trì mua ròng và có vai trò
nâng đỡ thị trường . Trong vòng 6 tháng trở lại đây, NĐTNN mua ròng với số
lượng lớn, và lớn nhất vào tháng 10, với tổng giá trị mua ròng đạt 1.528 tỷ đồng
– trung bình 72 tỷ đồng / phiên, tạo ra lực càu giúp VN-Index hãm đà giảm điểm
của mình. Trong đó, tại HoSE, khối ngoại nắm giữ khoảng 103 nghìn tỷ, chiếm
22% tổng giá trị. Còn tại HNX là hơn 11 nghìn tỷ, chiếm khoảng 8,5%. Tại
HoSE, 30 cổ phiếu được khối ngoại nắm giữ nhiều nhất chiếm tới 85% tổng giá
trị nắm giữ của họ tại sàn này, tương đương gần 87 nghìn tỷ đồng. Trong đó có
20 mã được khối ngoại nắm giữ trên 1.000 tỷ đồng.Cổ phiếu được khối ngoại
nắm giữ nhiều nhất là VNM với 14.292 tỷ đồng (tính theo giá ngày 8/10). Là cổ
phiếu có yếu tố cơ bản tốt nên VNM xuất hiện trong danh mục của rất nhiều
quỹ đầu tư. Hai cổ đông ngoại lớn nhất của Vinamilk là F&N Dairy Investment
(10%) và Dragon Capital (8,4%). Trong quý 1, nhà đầu tư ngoại đã bỏ ra hơn 650
tỷ đồng để gom toàn bộ hơn 7,4 triệu cổ phiếu VNM còn được phép mua. Hiện
tại, khối ngoại đã sở hữu tối đa room 46% của VNM, 3% còn lại được “đ ể



45
dành” cho việc phát hành cổ phiếu tại nước ngoài. Đứng thứ 2 là BVH với 9.915
tỷ đồng (tạm tính cả phần đang chào bán cho cổ đông hiện hữu), chiếm 24,28%
vốn của Tập đoàn Bảo Việt. Trong đó, riêng HSBC Insurance đã nắm giữ tới
18%.Tiếp đến là HAG (6.676 tỷ), FPT (5.898 tỷ), EIB (4.720 tỷ), MSN (4.666 tỷ),
STB, SSI, HPG…Tại HNX, riêng ACB đã chiếm 60% tổng giá trị nắm giữ của
khối ngoại tại đây. Với 30% cổ phần, khối ngoại nắm giữ 6.535 tỷ đồng cổ
phiếu ACB.Ngoài ACB, tại HNX chỉ có 1 vài mã khác được khối ngoại nắm giữ
nhiều như PVS (785 tỷ), PVI (723 tỷ), VNR (544 tỷ), NTP (630 tỷ)… Đối với
những mã này, lượng nắm giữ chủ yếu là của nhà đầu tư chiến lược gắn bó lâu
dài với doanh nghiệp như Swiss Re mua 25% cổ phần của VNR, Oman
Investment Fund mua cổ phần của PVI.

Trên thị trường trái phiếu, hiện tượng công ty niêm yết phát hành trái
phiếu chuyển đổi cho các tổ chức đầu tư nước ngoài gần đây có thể coi là điểm
sáng trong thu hút vốn dầu tư gián tiếp (FPI) vào TTCK Việt Nam. CTCP Tập
đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAG) và Northbrooks Investments (Mauritius) Pte Lia,
đơn vị trực thuộc Tập đoàn Temasek Holdings của Singapore đã ký hợp đồng
mua bán 1.100 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi của HAG với giá chuyển đổi là
67.375 đồng/cổ phiếu sau thời hạn 1 năm. Cũng trong thời gian này, CII và đối
tác nước ngoài- một trong 5 ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ vẫn đang tiếp tục
đàm phán về việc mua trái phiếu chuyển đổi với giá không dưới 43.500 đồng/cổ
phiếu, tổng giá trị phát hành từ 20 đến 25 triệu USD. Ngoài những doanh nghiệp
kể trên, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp cũng đang có kế hoạch tiếp cận
nguồn vốn FPI này mà tiêu biểu nhất l à 2 công ty quốc doanh l ớn là TKV và
PVN. Tập đoàn PVN đang lên kế hoạch phát hành thêm ít nhất 5.000 tỷ đồng (có
thể lên tới 500 triệu - 1 tỷ USD) trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế
trong năm 2010.




46
2. Thực trang huy động vốn FPI của Việt Nam từ thị trường
quốc tế
Thực trạng huy động vốn FPI qua việc phát hành trái
2.1.
phiếu quốc tế
2.1.1. Phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế

Phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế là một kênh huy động vốn FPI
hiệu quả được nhiều nước sử dụng đặc biệt là những nước phát triển, bao gổm
hai loại trái phiếu là trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp. Với Việt
Nam, việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế còn kênh huy động vốn r ất
mới mẻ. Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ có trái phiếu chính phủ được phát hành
trên thị trường quốc tế mà chưa có doanh nghiệp nào thử sức trên lĩnh vực này.

Phát hành trái phiếu Chính Phủ (TPCP) ra thị trường quốc tế là một kênh
huy động vốn hữu hiệu. Nguồn vốn huy động được sẽ đáp ứng nhu cầu phát
triển, đầu tư của Chính Phủ. Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã có 2 đợt
phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế và đều gặt hái được những thành công
đáng kể.

Tháng 10/2005, lần đầu tiên Việt Nam đã phát hành trái phiếu Chính phủ
tại thị trường vốn quốc tế và đã đạt được thành công ngoài mong đợi. Ngày 28
Tháng tám 2005, Bộ Tài chính trình Chính phủ bản đề án phát hành trái phiếu
Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế, trong đó đề xuất những bước đi cụ thể của
trái phiếu quốc tế do Chính phủ Việt Nam phát hành trên một vài thị trường vốn
lớn của thế giới. Theo đó bộ tài chính dự định phát hành 500 triệu USD trái phiếu
chính phủ thời hạn 10 năm, sẽ đáo hạn tháng 1-2016. Tuy nhiên, trái phiếu của
chính phủ Việt Nam lại được đánh giá cao vượt ngoài sự kì vọng. Ngày
19/10/2005, tại Hồng Kông số lượng các nhà đầu tư đặt mua khoảng 1 tỷ USD,
gấp 2 lần số lượng trái phiếu Chính phủ VN dự định phát hành. Đến ngày



47
26/10/2005, sau khi Chính phủ quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250
triệu USD, số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã tăng lên hơn gấp 3 lần từ mức 1
tỷ USD lên mức khoảng 3 tỷ USD. Ngày 29/10/2005 là ngày định giá trái phiếu
Chính phủ VN trên thị trường tài chính thế giới thì số lượng các nhà đầu tư đặt
mua lên tới 4,5 tỷ USD, cao gấp 6 lần trị giá chào là 750 triệu USD. Lãi suất trái
phiếu Chính phủ trong đợt phát hành này đã được điều chỉnh giảm xuống mức
7,125%, thay cho mức dự tính ban đầu là 7,250%. Lãi suất này cao hơn so với
Trái phiếu kho bạc Mỹ là 4,561%/trái phiếu 10 năm, tương đương mức lãi suất
Trái phiếu Kho bạc Mỹ loại 10 năm + 256,4 điểm cơ bản.

Tất cả các nhà đầu tư quan trọng, có uy tín lớn trên thị trường tài chính
thế giới từ Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ đều quan tâm tham gia đặt mua trái
phiếu của chính phủ Việt Nam với số lượng lớn. Đặc biệt lần này một số Ngân
hàng trung ương và các tổ chức đầu tư của Chính phủ các nước trong khu vực
Châu Á đặt mua tới 50 - 100 triệu USD. Trong đó có Ngân hàng dự tr ữ quốc gia
Malaysia tính đến nay chưa từng mua trái phiếu Chính phủ của quốc gia nào thì
nay đã đặt mua trái phiếu của Chính phủ Việt Nam.

Toàn bộ số tiền 750 triệu USD này được chính phủ phê duyệt cho tổng
công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) vay lại toàn bộ để đầu tư thực
hiện mục tiêu hiện đại hóa và nâng cấp ngành đóng tàu biển

Đầu tháng 1, 2010 Việt Nam phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế lần
thứ 2. Từ ngày 18 đến 25/1/2010, Đoàn công tác của Chính phủ Việt Nam do Thứ
trưởng Bộ Tài Chính Trần Xuân Hà làm trưởng đoàn với sự tham gia của Ngân
hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp… thực hiện đợt quảng bá và phát hành trái phiếu tại
các thị trường châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Trong đợt phát hành này, Chính phủ
huy động được 1 tỷ USD với lãi suất danh nghĩa 6,75%/năm và lợi tức phát hành
6,95%. Trong tổng số trái phiếu phát hành, 56% từ các nhà đầu tư Mỹ, 28% từ
các nhà đầu tư châu Á và 16% từ các nhà đầu tư châu Âu. Về cơ cấu nhà đầu tư,


48
các quỹ đầu tư và công ty quản lý tài sản mua 73%, các quỹ bảo hiểm và hưu trí
mua 10%, ngân hàng 7% và các nhà đầu tư khác. Trái phiếu được niêm yết tại Sở
Giao dịch chứng khoán Singapore và đáo hạn vào ngày 29/1/2020.

Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết, Chính phủ sẽ dự định dùng tiền bán
trái phiếu để hoàn trả một phần ngân sách và phần còn lại dành cho các tập đoàn
dầu khí, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty sông Đà và Tổng công
ty lắp máy Việt Nam để đầu tư bổ sung vào các dự án lọc dầu Dung Quất, dự án
xây dựng thủy điện Xê Ca Mản 3, nhà máy thủy điện Hủa Na và mua tàu vận tải
biển.

2.1.2. Phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế
Việc phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế đã tạo nền tàng,
là cơ sở để để các doanh nghiệp phát hành trái phiếu của mình ra thị trường thế
giới. Tuy nhiên phải mất gần 4 năm sau khi trái phiếu chính phủ được phát hành,
Việt Nam mới có doanh nghiệp đầu tiên phát hành trái phiếu ra thị trường quốc
tế.
Năm 2006, tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam Vinashin đệ trình đề
án phát hành trái phiếu của mình lên chính phủ. Tuy nhiên, thủ tướng Chính phủ
Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định không cho phép tập đoàn này tiến hành phát trái
phiếu mà yêu cầu tập đoàn sử dụng hết số vốn 750 triệu USD đã cấp năm trước.
Giữa tháng 6, 2009, chính phủ ban hành Nghị định 53/2009/NĐ-CP điều
chỉnh hoạt động vay, trả nợ nước ngoài thông qua hình thức phát hành trái phiếu
ra thị trường tài chính quốc tế của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam.
Nghị định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 30/7/2009. Nghị định này xây dựng
hành lang pháp lý quan trọng cho việc huy động nguồn vốn FPI thông qua việc
phát hành trái phiếu quốc tế.
Tháng 11, 2009, công ty cổ phần Vincom đã phát hành thành công 100 triệu
USD trái phiếu chuyển đổi và đã niêm yết trái phiếu này trên sàn giao dịch



49
Singapore, trở thành doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên phát hành trái phiếu ra thị
trường quốc tế. Trái phiếu chuyển đổi Vincom có kỳ hạn năm năm đ ược phát
hành bằng đồng USD, không có tài sản đảm bảo và có lãi suất hàng năm là 6%,
thanh toán sáu tháng một lần vào cuối kỳ. Trái phiếu này có thể được chuyển đổi
thành cổ phần phổ thông của Vincom với mức giá chuyển đổi sẽ được tính toán
trên cơ sở giá đóng cửa của cổ phiếu Vincom là 108.000 đồng/cổ phiếu vào ngày
phát hành. Theo ông Lê Khắc Hiệp, chủ tịch hội đồng quản trị Vincom, chưa đầy
12 tiếng đồng hồ số lượng đăng ký mua trái phiếu đã gần gấp hai lần s ố l ượng
dự tính phát hành với hơn 30 nhà đầu tư nước ngoài tham gia. Dù Credit Suisse
(Singapore), đơn vị tư vấn của Vincom, tư vấn phương án phát hành tăng lên
nhưng Vincom vẫn giữ quyết định ban đầu nhằm bảo đảm quyền lợi của các
nhà đầu tư với mức độ pha loãng cổ phiếu vừa phải trong tương lai.
Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai công bố phát hành 1,1 triệu trái phiếu
chuyển đổi, tương đương 1.100 tỷ đồng cho đối tác chiến lược Temasek
Holdings (Singapore)…
Ngày 27/1/2010, bên lề Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos, Thụy Sỹ,
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chứng kiến hợp đồng thu xếp vốn 200 triệu
USD giữa Ngân hàng Đầu tư toàn cầu Credit Suisse với Tổng Công ty phát triển
Đô thị Kinh Bắc. Theo đó, Credit Suisse sẽ phát hành trái phiếu chuyển đổi cho
KBC với lãi suất là 6%-6,2%/năm. Mức lãi suất này thấp hơn mức 6,95% của
Trái phiếu quốc tế Cính phủ vừa phát hành. Giá chuyển đổi bằng 130% giá thị
trường của KBC. Nếu theo gia thị trường trung bình của KBC những ngày gần
đây là 60.000 đồng thi giá chuyển đổi sẽ là 60 x 130% = 78.000đ/cp. Số tiền từ
đợt phát hành này sẽ được KBC bổ sung nguồn vốn đầu tư xây dựng trong năm
2010 để xây dựng khu công nghiệp, đô thị và các dự án như Khách sạn Lotus.
Ngoài những doanh nghiệp kể trên, hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp
cũng đang có kế hoạch tiếp cận nguồn vốn FPI này mà tiêu biểu nhất là 2 công ty
quốc doanh lớn là TKV và PVN. Tập đoàn PVN đang lên kế hoạch phát hành
thêm ít nhất 5.000 tỷ đồng (có thể lên tới 500 triệu - 1 tỷ USD) trái phiếu doanh


50
nghiệp ra thị trường quốc tế trong năm 2010. Ông Nguyễn Tiến Dũng - Phó tổng
giám đốc PVN, vào cuối năm ngoái đã cho hay, kênh phát hành trái phiếu quốc tế
sẽ là kênh huy động vốn hiệu quả giúp tập đoàn ông thu xếp tài chính cho hàng
loạt dự án đang triển khai. Theo tính toán của ông Dũng, nhu cầu vốn chỉ trong
năm 2010 của PVN đã lên tới 4 tỷ USD. Đối với TKV, ông Nguyễn Văn Hải
- Phó tổng giám đốc cho hay, TKV muốn được phát hành khoảng 300 - 500 triệu
USD trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế trong năm nay để lấy vốn cho
các dự án than, bauxit, điện.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang trên đà khôi phục, đồng thời
với việc kiện toàn hành lang pháp lý, việc phát hành trái phiếu ra nước ngoài của
các doanh nghiệp Việt Nam hứa hẹn nhiều thành công trong
Thực trạng huy động vốn FPI qua việc niêm yết trái phiếu
2.2.
trên thị trường quốc tế

Sau 10 năm hình thành và phát triển thị trường chứng khoán, cho đến nay
chưa có một doanh nghi ệp Việt Nam nào niêm yết cổ phiếu của mình trên các
sàn chứng khoán quốc tế. Nguyên nhân của việc này là do điều kiện niêm y ết
trên các sàn giao dịch quốc tế rất khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Ví
dụ như tại sàn London, trước khi niêm yết, doanh nghiệp phải chuẩn bị kỹ hồ
sơ, tài liệu về hoạt động của mình 3 năm trước đó, phải có lượng hàng ít nhất
25% vốn được bán rộng rãi cho công chúng của thị trường này, ngoài ra còn là
những yêu cầu mang tính kỹ thuật khác…Hoặc tại sàn Singapore, để niêm yết,
doanh nghiệp phải có ít nhất 1.000 cổ đông, có tổng lợi nhuận sau thuế trong 3
năm gần nhất từ 7,5 triệu USD trở lên, phải có kiểm toán theo tiêu chuẩn c ủa
Singapore hoặc Mỹ…Còn như tại sàn Hồng Kông, bà Christine Lie, Phó chủ tịch
Sở Giao dịch, cho biết các tiêu chuẩn về tài chính, lợi nhuận đối với doanh
nghiệp niêm yết không phải là quá khó khăn. Nhưng, đã lên sàn này thì doanh
nghiệp phải đối mặt với nhiều thách thức.




51
Nhiều công ty tập đoàn lớn của Việt Nam như tổng công ty Tài chính Cổ
phần Dầu khí Việt Nam (PVFC), ACB, Sacombank, BIDV, Vinamilk và FPT đã
có kế hoạch niêm yết cổ phiếu của mình trên sàn Singapore. Tuy nhiên do nhiều
yếu tố không thuận lợi nên cổ phiếu chưa có cổ phiếu nào đ ược niêm yết trên
sàn chứng khoán Singapore.

Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có duy nhất quỹ đầu tư Indochina Capital
Vietnam Holding Limited thuộc Tập đoàn Indochina Capital là quỹ đầu tiên của
VN niêm yết trên LSE vào tháng 3.2007. Ông Nguyễn Kim Tùng - Giám đốc đầu
tư Indochina Capital - cho biết, đã mất khoảng 9 tháng để chuẩn bị niêm yết tại
LSE. Quá trình này từ 12-24 tháng tùy thuộc vào từng công ty. "Khi niêm yết ra
công chúng, người đứng đầu công ty phải chấp nhận việc thay đổi nhiều như
chia sẻ sự quản lý với những đối tác khác, tuân thủ chặt chẽ quy trình công bố
thông tin, báo cáo tài chính..." - ông Tùng cho biết. Trả lời Thanh Niên, ông
Alderman John Stuttard thừa nhận rất khó khăn cho các công ty VN niêm yết ở thị
trường chính thức bởi ở đó những tiêu chuẩn đã đạt đến mức cao nhất.

Đánh giá tác động của nguồn vốn FPI đến nền kinh tế Việt Nam
III.
1. Đánh giá tác động của nguồn vốn FPI huy động t ừ th ị trường
trong nước
1.1. Đánh giá tác động của nguồn vốn FPI qua thị trường chứng
khoán
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau chặng đường 10 năm phát triển, đã
có sự gia tăng đáng kể về số lượng giao dịch, giá trị giao dịch, các hình thức giao
dịch, số lượng thành viên tham gia trên thị trường , và đóng góp vai trò l ớn trong
việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là vốn gián tiếp FII.
Sau 10 năm, khi nhìn lại, những gì đã đạt được khiến nhiều người không
khỏi ngạc nhiên. Hai Sở giao dịch, một thị trường UPCoM, hơn 550 mã cổ phiếu
niêm yết, 105 CTCK, 46 công ty quản lý quỹ, gần 1 triệu tài khoản giao dịch,


52
trong đó khoảng 25% là của nhà đầu tư nước ngoài… là những con số hết sức ấn
tượng. 10 năm qua, hai sàn đã thực hiện trên 3.000 phiên giao dịch (tại HOSE là
2.327 phiên, HNX là 1.163 phiên) và tất cả đều diễn ra an toàn.
1.1.1. Thành tựu

1.1.1.1. Khung pháp lý, thể chế chính sách

Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực
thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ
và thống nhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ những mâu thuẫn,
xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư); phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc
tế, tạo nền tảng cho TTCKVN khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc
tế và khu vực; tăng cường tính công khai minh bạch cho thị trường và nâng cao
khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan quản lý nhà nước.
1.1.1.2. Về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường
Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước
đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Hoạt động phát hành huy động vốn trên TTCK thực tế chỉ mới phát sinh
từ năm 2006 trở lại đây. Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hi ện vi ệc
chào bán hơn 203 triệu cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới thực
sự bùng nổ, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương
mại được đăng ký với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động lên đến gần
40.000 tỷ VND. Trong năm 2008, do sự suy giảm của TTCK, tổng số vốn huy
động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán chứng khoán ra
công chúng. Thị trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạt động
phát hành qua thị trường chứng khoán, đặc biệt là phát hành cổ phiếu. Tổng số
vốn huy động qua phát hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008,
đạt 21.724 tỷ đồng.


53
Công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đã được gắn kết
với việc huy động vốn từ công chúng đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh việc sắp
xếp khu vực DNNN theo tiến trình cải cách nền kinh tế của Chính phủ và huy
động vốn cho ngân sách nhà nước. Thực tế, việc gắn kết công tác cổ phần hóa
DNNN với công tác tạo hàng cho TTCK là nhân tố chủ đạo quyết đ ịnh thành
công trong việc tạo ra một nguồn hàng phong phú, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng quy mô của thị trường.
Hoạt động phát hành trái phiếu qua Sở giao dịch chứng khoán dần trở
thành một kênh huy động vốn quan trọng cho Chính phủ.
1.1.1.3. Về niêm yết và giao dịch chứng khoán
Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm
yết mà cả về tính thanh khoản của thị trường. Nếu như năm 2005, bình quân có
667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6
triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai
năm sau đó. Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng từ
0.43 lần (năm 2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0.68 lần (năm 2008) và ước đ ạt
1.13 lần (năm 2009).
1.1.1.4. Về hệ thống cơ sở nhà đầu tư (cầu đầu tư):
Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo. Số lượng
nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể. Từ
khoảng gần 3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào
năm 2000, tính đến nay đã có trên 90.000 tài khoản giao dịch, trong đó số nhà đầu
tư tổ chức trong nước là 2.662, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là 807.558, số
nhà đầu tư nước ngoài là hơn 13.000 nhà đầu tư.
1.1.1.5. Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán
Hệ thống các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán phát triển nhanh
về quy mô và năng lực nghiệp vụ, với hệ thống mạng lưới chi nhánh, phòng giao
dịch trải khắp các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước, góp phần giúp công chúng
đầu tư tiếp cận dễ dàng hơn với TTCK.

54
Số lượng người hành nghề tăng nhanh, phù hợp với sự tăng trưởng của
các Công ty chứng khoán. Từ năm 2007 đến 2009 đã có gần 8400 người hành
nghề được cấp chứng chỉ. Số lượng công ty quản lý quỹ gia tăng nhanh kể từ
năm 2006 trở lại đây (năm 2005 mới chỉ có 6 công ty quản lý quỹ thì đ ến cuối
2009 đã có 47 công ty được cấp phép hoạt động).
1.1.1.6. Về tổ chức thị trường
Việc tách các SGDCK và TTLKCK trở thành pháp nhân độc lập khỏi
UBCKNN đã đạt được kết quả nhất định trong việc tách bạch chức năng quản lý
nhà nước trong hoạt động chứng khoán và chức năng tổ chức vận hành TTCK.
Việc phân chia thị trường tập trung thành hai thị trường bộ phận với cùng
một phương thức giao dịch dựa trên các điều kiện niêm yết về lợi nhuận và vốn
điều lệ trong giai đoạn vừa qua đã góp phần quan trọng mở rộng thị trường có tổ
chức, phát huy tính năng động của các TTGDCK/SGDCK trong việc thu hút các
doanh nghiệp vào niêm yết, đăng ký giao dịch.
1.1.1.7. Về hoạt động quản lý, giám sát thị trường
Trong giai đoạn 2000-2009, công tác quản lý Nhà nước và điều hành TTCK
được thực hiện tương đối linh hoạt, bảo đảm TTCK vận hành an toàn và phát
triển ổn định, không để xảy ra đổ vỡ, xáo trộn lớn ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế – xã hội của đất nước, từng bước nâng cao năng lực giám sát và cưỡng
chế thực thi quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư. Hoạt động quản lý và giám sát TTCK với trọng tâm lấy việc bảo vệ
quyền lợi của nhà đầu tư là nòng cốt; các chính sách quản lý TTCK đã thể hiện
mục tiêu tăng cường tính công khai, minh bạch, từng bước áp dụng các thông lệ về
quản trị công ty tốt, các chuẩn mực về kế toán, kiểm toán quốc tế và khuyến cáo
của Tổ chức quốc tế các UBCK (IOSCO).
Thiết lập cơ chế giám sát TTCK chuyên sâu, chuyên nghiệp theo thông lệ
quốc tế. Công tác thanh tra, giám sát của UBCKNN tập trung vào: giám sát tuân thủ
các tổ chức trung gian thị trường; giám sát tuân thủ các tổ chức phát hành, tổ chức
niêm yết; giám sát tuân thủ của các SGDCK, TTLKCK; bên cạnh đó, giám sát giao

55
dịch trên TTCK nhằm phát hiện các hành vi lạm dụng thị trường; thanh tra thực
hiện chức năng cưỡng chế thực thi.
1.1.2. Những hạn chế
1.1.2.1. Về khung pháp lý, thể chế chính sách
Luật Chứng khoán vẫn còn hẹp về phạm vi điều chỉnh, mới chỉ bao hàm
những nội dung cơ bảnvà chưa bao quát mọi hoạt động trên TTCK theo thông lệ
quốc tế; một số quy định của văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán còn chồng
chéo, chưa thống nhất với các văn bản pháp luật khác; việc ban hành các quy định
pháp lý nhìn chung đều có độ trễ so với mục tiêu đề ra, đồng thời, nhiều quy định
tại Luật Chứng khoán chưa được hướng dẫn thực hiện,…

1.1.2.2. Về quy mô và hàng hóa (nguồn cung) của thị trường

Hoạt động phát hành của các công ty đại chúng vẫn còn mang tính tự phát,
không hoàn toàn dựa trên nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp, làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn. Không ít tổ chức phát hành huy động vốn trên TTCK để đầu
tư trở lại vào chứng khoán mà không phải để mở rộng sản xuất kinh doanh, góp
phần tạo nên bong bóng thị trường và rủi ro mất vốn khi thị trường sụt giảm.

Hoạt động chào bán riêng lẻ không có sự điều chỉnh đầy đủ của pháp luật
và quản lý của các cơ quan có thẩm quyền dẫn đến các hành vi lạm dụng, ảnh
hưởng đến sự lành mạnh của TTCK. Bên cạnh đó, việc tuân thủ chào bán ra
công chúng phải đăng ký với UBCKNN còn hạn chế (đặc biệt vào thời kỳ ngay
sau khi Luật chứng khoán mới ban hành) đã tạo nên những rủi ro tiềm ẩn cho
TTCK.

Hoạt động phát hành TPCP còn nhiều bất cập, công tác kế hoạch hoá phát
hành trái phiếu chưa tốt, cơ chế phát hành trái phiếu còn nhiều bất cập, chưa có
các tổ chức tạo lập thị trường TPCP đúng nghĩa để đảm bảo thành công cho các




56
đợt phát hành cũng như tạo tính thanh khoản cho thị trường thứ cấp. Thiếu
đường cong lợi suất chuẩn và tổ chức định mức tín nhiệm.

1.1.2.3. Về niêm yết và giao dịch chứng khoán
Thị trường giao dịch cổ phiếu còn nhiều biến động và hạn chế về tính
thanh khoản đặc biệt khi thị trường có dấu hiệu suy giảm. Bên cạnh đó, hàng
hóa niêm yết trên TTCK chưa đa dạng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng nhu
cầu đầu tư và phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư (chưa có các sản phẩm phái
sinh, các sản phẩm đầu tư tập thể).
Các dịch vụ tiện ích cho nhà đầu tư trên thị trường còn nghèo nàn (chưa có
nghiệp vụ bán khống, vay ký quỹ, bán trước ngày hoàn thất giao dịch), tính minh
bạch của thị trường chưa đáp ứng nhu cầu của công chúng đầu tư.
1.1.2.4. Về hệ thống cơ sở nhà đầu tư (cầu đầu tư):
Hệ thống nhà đầu tư của chúng ta chưa đa dạng, cấu trúc cầu đầu tư hiện
tại chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững. Hệ thống nhà đầu tư tổ
chức chưa phát triển làm hạn chế sự phát triển của TTCK mà đặc biệt là thị
trường TPCP.
Số lượng các tổ chức kinh doanh và cung cấp dịch vụ cho TTCK tăng quá
nhanh, với năng lực về vốn và chuyên môn còn hạn chế, tiềm ẩn rủi ro hệ thống
và chưa tương xứng với hiệu quả hoạt động chung của thị trường.
1.1.2.5. Về tổ chức thị trường
Thị trường giao dịch cổ phiếu chưa niêm yết mới được hình thành dưới
hình thức hệ thống giao dịch Upcom, chưa phát huy được vai trò tạo lập thị
trường theo kiểu thị trường phi tập trung. Ngoài ra, số lượng cổ phiếu đưa vào
giao dịch so với số lượng công ty đại chúng chiếm tỷ trọng quá thấp và thiếu
hấp dẫn đối với doanh nghiệp cũng như công chúng đầu tư. Hiện tại, vẫn còn
tồn tại một bộ phận thị trường cổ phiếu được đăng ký với TTLKCK nhưng chưa
có cơ chế giao dịch và chuyển quyền sở hữu.
1.1.2.6. Về hoạt động quản lý, giám sát thị trường


57
Công tác quản lý, điều hành TTCK trong thời gian qua vẫn còn một số tồn
tại và hạn chế nhất định như: công tác ban hành các văn bản pháp luật, các chính
sách điều hành thị trường chưa linh hoạt, còn bị động và chậm so với yêu cầu
thực tiễn phát triển của TTCK; công tác quản lý, giám sát và cưỡng chế thực thi
còn nhiều bất cập.
1.2. Đánh giá việc huy động vốn qua các quỹ đầu tư
Trong thời gian vừa qua, các công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư đóng
một vai trò quan trọng trong thu hút vốn FPI của Việt Nam. Bên cạnh các nhà đầu
tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài mà chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư, các
công ty quản lý quỹ ngày càng đầu tư nhiều hơn vào TTCK Việt Nam. Các quỹ
đầu tư, công ty quản lý quỹ không chỉ liên tục tăng lên về số lượng mà cả quy
mô, phạm vi đầu tư cũng lớn hơn và tỷ lệ nắm giữ chứng khoán của họ cũng
ngày một cao hơn.
Dòng vốn qua các định chế tài chính này có tính dài hạn và ổn định, điều
này giúp cho TTCK Việt Nam tránh khỏi sự bất ổn khi các quỹ đầu tư, công ty
quản lý quỹ ngày càng có vai trò lớn đối với thị trường.
Những thành tựu đạt được trên là do Nhà nước đã có những chính sách về
phát triển các định chế tài chính, đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc
doanh và ngoài quốc doanh cũng như chính sách về tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của
các nhà đầu tư nước ngoài phần nào góp phần cải thiện môi trường đ ầu tư c ủa
Việt Nam.
Thời gian vừa qua cũng đã xuất hiện hiện tượng thoái vốn ở một số quỹ
như Vietnam Enterprise Invesment Limited hay Indochina Capital, đây là một số
quỹ có thâm niên và kinh nghiệm đầu tư vào thị trường Việt Nam. Tuy nhiên đây
chỉ là hiện tượng nhất thời do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới.
Mặc dù vậy, thực tế môi trường đàu tư của Việt Nam vẫn còn một số bất cập
khiến các nhà đầu tư, quỹ đầu tư e ngại khi đưa ra quyết định đầu tư.
Mặc dù dòng vốn của các công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư là dài
hạn và ổn định song vẫn chưa có những chính sách cụ thể để thu hút dòng vốn


58
này. Một số nước đã khuyến khích dòng vốn này bằng cách cho phép các công ty
quản lý quỹ nước ngoài và quỹ đầu tư được thành lập theo pháp luật trong nước
và coi những thành phần này là nhà đầu tư trong nước nhưng ở Việt Nam vẫn
chưa có những chính sách này.
Cơ sở hạ tầng, hệ thống máy móc thiết bị còn yếu kém cũng là một rào
cản không nhỏ của Việt Nam.
Ngoài ra, các nhà đầu tư còn gặp phải rào cản về nhân sự khi gia nhập thị
trường. Đội ngũ nhân sự của Việt Nam chưa thực sự mạnh,và còn thiếu hụt
trong một số lĩnh vực điều này làm giảm tính chuyên nghiệp của thị trường.
2. Đánh giá tác động của nguồn vốn FPI huy động t ừ th ị trường
quốc tế
2.1. Hiệu quả huy động vốn
Trong 2 kênh huy động vốn từ thị trường quốc tế là phát hành cổ phiếu và
trái phiếu, Việt Nam mới chỉ tiếp cận được kênh huy động qua trái phiếu. Hai
lần phát hành trái phiếu chính phủ ra nước ngoài năm 2005 và 2010 đều đạt được
những kết quả khả quan mà đặc biệt phải kể đến thành công của đợt phát hành
đầu tiên vào năm 2005. Khối lượng đặt thầu của nhà đầu tư nước ngoài lên đến
4,5 tỷ USD, gấp 6 lần khối lượng trái phiếu chính phủ Việt Nam phát hành. Trái
phiếu Chính phủ VN phát hành rất hiệu quả, thấp hơn lãi suất trái phiếu của các
nước trong khu vực có cùng hệ số tín nhiệm. Lãi suất trái phiếu loại 10 năm của
VN thực trả là 7,125%/năm. Trong khi, mức lãi suất trái phiếu Chính phủ
Philippines loại 10 năm giao dịch ở mức 8,1%/năm, còn trái phiếu Chính phủ
Indonesia loại 10 năm giao dịch ở mức 7,8%/năm. Đợt phát hành thứ 2 đầu năm
2010 cũng được đánh giá là thành công, đạt được kết quả chính phủ đề ra như
bán hết khối lượng trái phiếu phát hành, lãi suất dưới 7%. Trái phiếu doanh
nghiệp đầu tiên của Việt Nam được đưa ra thị trường quốc tế, Vincom cũng rất
thành công khi được mua hết ngay sau khi niêm yết trên sàn giao dịch Singapore
30 phút.



59
Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thành công này là do sự lòng tin của nhà đầu
tư nước ngoài vào sự phát triển của nên kinh tế Việt Nam. Cụ thể, trong năm
2005, độ tín nhiệm của Việt Nam được các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế
gần đây liên tiếp nâng mức xếp hạng của Việt Nam. S&P tuần vừa rồi đã nâng
mức tín nhiệm của Việt Nam từ BB- lên BB. Moody cũng nâng lên mức Ba3
trong khi một tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế nổi tiếng khác là Fitch cũng
xếp Việt Nam hạng BB-.
Nguồn FPI huy động từ thị trường quốc tế này đã góp phần tích cực với
sự phát triển kinh tế đất nước. Thứ nhất, nguồn vốn này đã bổ sung được nguồn
cung ngoại tệ đang thiếu hụt, góp phần làm tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, c ải
thiện cán cân thanh toán quốc tế và giảm áp lực lên tỷ giá.
Việc huy động vốn FPI từ việc phát hành trái phiếu năm 2010 không hiệu
quả như lần đầu nhưng cũng đã hoàn thành được chỉ tiêu của chính phủ đề ra.
Mức lãi suất trúng thầu bình quân cùa đợt phát hành này là 6,95%. Theo thông cáo
của Bộ Tài chính về hệ số tín nhiệm quốc gia (thường được các tổ chức tài
chính quốc tế xem như một căn cứ để đánh giá khả năng trả nợ), năm 2009, tổ
chức xếp hạng Moody’s đã xếp hạng tín nhiệm Việt Nam ở mức Ba3 như hai
năm trước đó. Mức xếp hạng này tương đương với Philippines và thấp hơn 1
bậc so với Indonesia, nhưng thấp hơn 3 bậc so với mức chuẩn của đ ầu tư trái
phiếu. Theo tandard&Poors, Việt Nam được xếp hạng BB, cao hơn mức BB- của
Indonesia và Philippines. Tuy nhiên, mức lãi suất trúng thầu của Việt Nam lại cao
hơn so với 2 quốc gia này. Trước đó, Indonesia và Philippines đều phát hành
thành công với lãi suất dưới 6%.
Mặc dù thời điểm phát hành của Việt Nam có một số yếu tố bất lợi như:
thứ nhất, nguồn cung trái phiếu các quốc gia mới nổi trong thời gian gần đây rất
lớn (trên chục tỷ USD từ Indonesia, Phillippines, Hy Lạp, Mehico, Ba Lan, Thổ
Nhĩ Kỳ, Slovakia...) do nhu cầu kích thích kinh tế sau khủng hoảng của các quốc
gia này; thứ hai, tổng thống Mỹ Obama đề xuất đưa ra một số quy định hạn chế
các định chế tài chính nắm giữ các khoản đầu tư rủi ro tác động không nhỏ tới


60
thị trường tài chính nước này. Ngoài ra thị trường tài chính quốc tế cũng đang lo
ngại về các biện pháp thắt chặt kinh tế của Trung Quốc. Sự bất lợi còn thể hiện
ở mức độ đăng ký, ngay trong tháng 1 này, Indonesia phát hành 2 tỷ USD trái
phiếu 10 năm có lượng đăng ký lên tới 5 tỷ USD; Phillippines phát hành 1,5 t ỷ
USD trái phiếu 10 năm có lượng đăng ký lên tới 9 tỷ USD. Nhưng đ ến khi Vi ệt
Nam phát hành với khối lượng thấp hơn (1 tỷ USD) thì khối lượng đăng ký chỉ
khoảng 2,4 tỷ USD. Mức độ đăng ký thấp cũng đồng nghĩa với lợi tức phát hành
cao.
Vẫn phải nói rằng, trong khi xếp hạng tín dụng của Việt Nam cao hơn
nhưng lãi suất trúng thầu lại cao hơn 2 quốc gia bạn cho thấy sự lo ngại của các
nhà đầu tư quốc tế về sự ổn định kinh tế vĩ mô trong tương lai của Việt Nam.
Xếp hạng về năng lực cạnh tranh của các quốc gia được công bố tại diễn đàn
kinh tế thế giới năm 2009 cũng ghi nhận sự tụt hạng sâu về môi tr ường kinh t ế
vĩ mô của Việt Nam. Việt Nam tụt 5 bậc từ 70/134 xuống 75/133 nền kinh tế so
với năm trước trong bảng xếp hạng chung, trong đó có đóng góp quan tr ọng c ủa
sự thay đổi trong chỉ tiêu về ổn định kinh tế vĩ mô, tụt hạng sâu 42 bậc, t ừ 70
xuống 112.
Ngoài ra môi trường kinh doanh năm 2009 của nước ta cũng tiếp tục suy
giảm, bảng xếp hạng về môi trường kinh doanh do Ngân hàng Thế giới công bố,
Việt Nam bị tụt 2 bậc, trong 10 chỉ tiêu đánh giá, Việt Nam bị tụt hạng về 9 chỉ
tiêu, chỉ lên hạng về chỉ tiêu thực hiện hợp đồng.
2.2. Hiệu quả sử dụng vốn
Vốn FPI huy động được từ việc phát hành trái phiếu chính phủ ra thị
trường quốc tế không được sử dụng hiệu quả. Số vốn huy động được này chủ
yếu thuộc ngân sách nhà nước, được chính phủ một phần bổ sung vào ngân sách,
một phần cho các doanh nghiệp quốc doanh vay lại. Cụ thể, toàn bộ số tiền 750
triệu USD huy động được trong năm 2005 đã cho tổng công ty công nghiệp tàu
thuỷ Vinahshin vay lại. Tuy nhiên, hiện nay, Vinashin đang đứng trước nguy cơ
phá sản khi mà tổng nợ đến tháng 6, 2010 là 86000 tỷ đồng. Bởi vậy, có thể nói,


61
số tiền 750 triệu USD vay đã bị sử dụng lãng phí, không những không mang lại
hiệu quả kinh tế mà còn làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trên thị trường quốc
tế, làm ảnh hưởng đến những đợt phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế tiếp
theo.

Số tiền 1 tỷ huy động được trong năm 2010 một phần được đưa vào ngân
sách nhà nước, một phần cho các tập đoàn dầu khí, tổng công ty hàng hải Việt
Nam, tổng công ty sông Đà và tổng công ty lắp máy Việt Nam để đầu tư bổ sung
vào các dự án lọc dầu Dung Quất, dự án xây dựng thủy điện Xê Ca Mản 3, nhà
máy thủy điện Hủa Na và mua tàu vận tải biển, trong đó tập trung phần lớn cho
đầu tư vào nhà máy lọc dầu Dung Quất. Cần đợi một thời gian nữa để đánh giá
được hiệu quả sự dụng vốn FPI lần này của chính phủ. Tuy nhiên, hiệu quả kinh
tế và xã hội của nhà máy lọc dầu Dung Quất không được các chuyên gia trong
ngành đánh giá cao, bởi vậy cũng không loại trừ khả năng số vốn này cũng bị sử
dụng lãng phí như 750 triệu USD năm 2005.




62
Chương 3
Một số giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của việc thu
hút và quản lý nguồn vốn FPI ở Việt Nam

Kinh nghiêm thu hút và quản lý FPI của một số n ước trên th ế
I.
giới
1. Kinh nghiệm của một số nước thu hút và quản lý hiệu quả vốn FPI
Kể từ đầu thập kỷ 90, dòng vốn FPI đã đổ mạnh vào các nền kinh tế mới
nổi dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau như: triển vọng tăng trưởng kinh
tế, lãi suất, tốc độ phát triển của TTCK, đặc biệt là trong tiến trình tự do hóa tài
chính trên toàn cầu. Cùng với đặc tính lhas nổi bật của FPI là bất ổn và nhạy
cảm hơn các dòng vốn khác nên dòng vốn này thường phân bổ không đều giữa
các nền kinh tế mới nổi và đặc biệt tỷ trọng của nó thường thấp hơn so với FPI
Chính vì đặc tính bất ổn và dễ đảo chiều là một trong những nguyên nhân
chính gây ra cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ nên đã xuất hiện nhiều ý kiến
trái ngược nhau về dòng vốn này. Có quan điểm ủng hộ tự do hóa di chuyển vốn
và quan điểm khác lại cho rằng cần phải có các biện pháp kiểm soát vốn nghiêm
ngặt hơn.



63
Tuy nhiên, đối với các nền kinh tế mới nổi thì việc áp dụng các chính sách
và những biện pháp kiểm soát và quản lý vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FPI
là hết sức quan trọng. Nhưng để có thể điều tiết được sự di chuyển của FPI thì
việc áp dụng các chính sách và biện pháp kiểm soát vốn giữa các nước này cũng
rất khác nhau và hiệu quả của nó cũng rất khác nhau. Cụ thể là việc điều tiết sự
di chuyển của dòng vốn FPI ở một số nước như: Malaysia, Trung Quốc,
Singapore rất thành công, trong khi đó, Thái Lan lại bị thất bại khi sử dụng các
công cụ này.
Kinh nghiệm thu hút và quản lý vốn FPI ở Trung Quốc
1.1

1.1.1 Việc thu hút và quản lý vốn FPI ở Trung Quốc
Nền kinh tế Trung Quốc trong những năm qua đã có những bước phát
triển thần kì. Đóng góp vào thành công đó là cách thức thu hút và việc quản lý
hiệu quả luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI). Là quốc gia láng giềng,
với những điểm tương đồng về kinh tế, xã hội, những kinh nghiệm thu hút FPI
của Trung Quốc là những bài học quý cho Việt Nam.

Dòng vốn FPI vào Trung Quốc được đánh giá qua 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1982 – 2004: Giai đoạn này dòng vốn FPI vào Trung Quốc
không có sự phát triển vượt bậc và bứt phá như dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI).
Đến hết năm 2004, Trung Quốc đã thu hút khoảng 7 tỷ USD dòng vốn FPI. Mức
tăng trưởng FPI hàng năm là khá chậm, tỷ trọng FPI/GDP khoảng 2,94% cho thấy
FPI đóng góp vào tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc là không đáng kể. Đi ều
này cũng dễ hiểu bởi đặc điểm chung của các quốc gia đang phát triển là thường
có sự mất cân đối giữa thu hút FPI và FDI. Tuy nhiên, nguyên nhân căn bản và sâu
xa là do mức độ tự do hoá tài khoản vốn của Trung Quốc còn thấp, Chính phủ
đặt ra nhiều biện pháp kiểm soát vốn khá chặt chẽ theo chủ trương thu hút chậm
rãi dòng vốn FPI.




64
Giai đoạn này, các biện pháp kiểm soát dòng vốn FPI của Trung Quốc chủ
yếu dựa vào các biện pháp hành chính và giới hạn khối lượng giao dịch. Chính
phủ và các nhà hoạch định chính sách rất thận trọng với việc mở cửa thị trường
chứng khoán (TTCK) và tiến hành tự do hoá tài khoản vốn chậm rãi. Chính phủ
theo đuổi chiến lược “phân khúc thị trường theo từng loại nhà đầu tư (NĐT)”.
Các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) chỉ được phép mua cổ phần và các công cụ
nợ định giá bằng đồng ngoại tệ trên cả thị trường nội địa lẫn thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, việc chuyển vốn ra và vào Trung Quốc phải được sự chấp thuận
của Chính phủ.

Trung Quốc đưa ra các biện pháp ngăn chặn công ty nước ngoài đ ầu tư
vào các ngành quan trọng như viễn thông, vận tải, năng lượng, quốc phòng. Quy
định giới hạn sở hữu của NĐT nước ngoài là 30%. Đi kèm với các biện pháp
kiểm soát vốn là các biện pháp hạn chế về ngoại hối. Theo đó, NĐTNN muốn
đầu tư vào Trung Quốc phải chuyển sang đồng nội tệ và ngược lại phải chuyển
sang đồng ngoại tệ. Tính đến năm 2001, Trung Quốc đã cấp phép cho 390.484
doanh nghiệp có vốn đầu tư của các quỹ đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu
tư khoảng 359,47 tỷ USD.

Trong gian đoạn này, TTCK Trung Quốc chưa thật sự phát triển, quá trình
cổ phần hóa (CPH) các DNNN chưa được đẩy mạnh, Chính phủ ban hành nhiều
quy định hạn chế sự tham gia của NĐTNN trên TTCK. Nhìn chung, các giải pháp
thu hút vốn FPI là rất thận trọng, Trung Quốc chủ trương hạn chế thu hút dòng
vốn này. Các biện pháp quản lý vốn FPI được đánh giá là có hiệu quả, Trung
Quốc nhờ đó đã đứng vững trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực
châu Á năm 1997.

Giai đoạn 2005 đến nay (từ khi TTCK Trung Quốc bùng nổ): Đây là giai
đoạn dòng vốn gia tăng một cách đột biến gắn liền với việc tự do hoá tài khoản
vốn cũng như sự hội nhập của nền kinh tế Trung Quốc sau khi gia nhập WTO.


65
Trung Quốc đã giảm bớt các biện pháp kiểm soát, đẩy mạnh các biện thu hút
dòng vốn FPI bên cạnh dòng vốn FDI. Trung Quốc bắt đầu cho phép các NĐTNN
mua bán các cổ phiếu và các công cụ nợ được định danh bằng đồng nội tệ trên
cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Các biện pháp kiểm soát ngoại hối
cũng được dỡ bỏ dần nhằm cho phép NĐT có thể chuyển đổi sang đồng nội t ệ
để thực hiện đầu tư. Bên cạnh đó, sức hút của nền kinh tế và sự bùng nổ của
TTCK đã kiến nhiều quỹ đầu tư “đổ xô” vào Trung Quốc, mang theo dòng vốn
FPI khổng lồ cho quốc gia này

Sự phát triển của TTCK cùng với quyết định nới lỏng các chính sách đối
với các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến Trung Quốc trở thành một thị trường
đầy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Mỹ và châu Âu. Thu hút FPI gia tăng nhanh
từ năm 2004 (từ 115 tỷ USD năm 2003 lên 253 tỷ USD năm 2004). Sự phát triển
của TTCK và sự phục hồi của các ngân hàng Trung Quốc đã thu hút được một
lượng vốn khá lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các ngân hàng lớn
như HSBC Securities, Bank of America, Citigroup, American Express. Tính đến
30/4/2009, trên TTCK Trung Quốc có 61 công ty quản lý quỹ với 461 quy đầu tư
chứng khoán tham gia với số vốn hàng trăm tỷ USD. Các quỹ đầu tư gồm 3
dạng sau: quỹ hỗ tương (Mutual Fund), hay còn gọi là quỹ đầu tư dạng mở (open
end fund); quỹ đầu tư dạng đóng (China close – end fund) và Quỹ đầu tư phòng
ngừa.

Từ năm 2005 quá trình CPH các DNNN có bước phát triển mạnh mẽ,
nhiều DN lớn, có vị trị độc quyền trong nền kinh tế quốc dân được tiến hành
IPO. Đây là những DN có tiềm năng lớn, có vốn điều lệ hàng trăm tỷ USD, nhận
được sự quan tâm đặc biệt của NĐT nước ngoài như: Petro China, China
Mobile…. Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc tăng cường các biện pháp kiểm
tra, quản lý các công ty phát hành, ban hành những chính sách, ưu đãi đối với các
DNNN sau khi CPH. Chính vì vậy, trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2007 r ất



66
nhiều quỹ đầu tư nước ngoài dành được những thắng lợi lớn trên TTCK, tạo
chất xúc tác hấp dẫn các quy đầu tư khác tham gia TTCK Trung Quốc.

Đáng chú ý là Chính phủ Trung Quốc đã quan tâm và chú trọng đến việc
giảm bớt các biện phát kiểm soát FPI. Trước đây, việc thu hút FPI phổ biến diễn
ra trên các Sở giao dịch nước ngoài. Tại đó, các NĐTNN mua bán các c ổ phần
của các công ty Trung Quốc, trong đó chủ yếu là cổ phiếu N (N - Shares) và c ổ
phiếu H (H - Shares), NĐTNN không được phép mua cổ phần A, loại cổ phiếu
chủ yếu phát hành trên TTCK Trung Quốc.

Ngày 1/12/2002, Chính phủ Trung Quốc ban hành quy chế “các tổ chức
đầu tư nước ngoài được cấp phép” (Qualified Foreign Institutional Investors -
QFPI), quy định các NĐT nước ngoài có giấy phép QFPI được quyền mua các cổ
phiếu A (A - Shares) được định giá bằng đồng NDT. Khi mới ra đời, quy chế
QFPI hạn ngạch tối đa cho mỗi NĐTNN là 4 tỷ USD, sau đó được nâng lên 10 tỷ
USD, hiện nay Trung Quốc đã cam kết mở rộng hạn ngạch từ 10 tỷ USD lên 30
tỷ USD.

Đến cuối năm 2007, Trung Quốc đã cấp phép QFPI cho 48 công ty nước
ngoài với hạn ngạch 10 tỷ USD vào cổ phiếu A. Như vậy, với hạn ngạch mà cơ
quan quản lý ngoại hối Trung Quốc (CFE) đã cấp QFPI cộng với việc tăng mức
trần đầu tư chứng khoán NĐTNN lên 5 – 10% tổng giá trị thị trường cổ phiếu A
thì khoảng 55 tỷ đến 120 tỷ USD sẽ được phép đầu tư vào thị trường này trong
những năm tới.

Cuối năm 2006, với việc Chính phủ Trung Quốc bắt đầu thực hiện cam
kết gia nhập WTO về việc tự do hoá thị trường vốn, Chính phủ bắt đầu nới lỏng
các quy định về quản lý ngoại hối đối với NĐTNN như: cho phép các công ty
quản lý quỹ nước ngoài tại đại lục chuyển vốn và lợi nhuận đầu tư về nước
một cách nhanh chóng, giảm thời gian lưu vốn của các quỹ đầu tư nước ngoài



67
tại Trung Quốc từ 1 năm xuống còn 3 tháng; tạo điều kiện thuận lợi để NĐTNN
tiếp cận đồng NDT, cho phép NĐTNN dùng ngoại tệ để tham gia một số cuộc
IPO lớn… Những chính sách trên tạo điều kiện thuận lợi cho NĐTNN tham gia
đầu tư và chuyển lợi nhuận về nước. Ngoài ra, Cơ quan giám quản chứng khoán
Trung Quốc đã thực hiện nhiều giải pháp phát triển hệ thống NĐT có tổ chức
cho thị trường như: Công ty uỷ thác đầu tư, Quỹ tương hỗ, Công ty Bảo hiểm,
Quỹ đầu tư chứng khoán… Cơ quan này cũng ban hành thủ tục thực hiện công
bố thông tin, các biện pháp tạm thời nhằm ngăn chặn hành vi lừa đảo liên quan
đến chứng khoán, bảo vệ NĐT.

1.1.2 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc

Thứ nhất, các giải pháp thu hút FPI mang tính đồng bộ, có lộ trình cụ thể,
phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của Trung Quốc, kết hợp chặt chẽ với các
biện pháp phát triển kinh tế, hoàn thiện và phát triển TTCK, nâng cao khả năng
quản lý của Chính phủ.

Thứ hai, Trung Quốc đã xác định chiến lược, mục tiêu, phương hướng thu
hút vốn FPI đúng đắn, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế. Trung Quốc xác đ ịnh
rõ muốn thu hút FPI có hiệu quả, trước hết phải cải thiện môi trường trong
nước, dựa vào trong nước là chính, khi TTCK phát triển, môi trường đầu tư tốt
tất yếu vốn chảy vào; đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá trên
TTCK Trung Quốc.

Thứ ba, Trung Quốc đã biết kết hợp thu hút FPI và quản lý dòng vốn này
một cách hiệu quả, không thu hút FPI với mọi giá. Khi thu hút FPI, Trung Quốc
đã tính toán những giải pháp quản lý phù hợp; kết hợp chặt chẽ việc thu hút FPI
với chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, đặc biệt là chính sách quản lý ngoại
hối và tiền tệ; có những giải pháp quản lý, hạn chế tối đa những tác động tiêu
cực của dòng vốn này với sự phát triển kinh tế của đất nước.


68
Kinh nghiệm thu hút và quản lý vốn FPI ở Singapore
1.2

1.2.1 Việc thu hút và quản lý vốn FPI ở Singapore
Thị trường chứng khoán là nơi thu hút mạnh mẽ nguồn vốn FPI cho
Singapore. TTCK Singapore được xem như một khuôn mẫu hoàn chỉnh về sự
phát triển của thị trường tài chính châu Á nói chung và các nước thành viên
ASEAN nói riêng. Singapore được coi như cửa ngõ của khu vực Đông Nam Á,
cũng là thị trường có tương lai phát triển thành trung tâm giao dịch thứ cấp quan
trọng của khu vực châu Á và một trong những trung tâm kết nối các thị trường
chứng khoán của khu vực châu Á với các thị trường chứng khoán trên toàn cầu.
Sức tăng trưởng của thị trường trái phiếu Singapore dẫn đầu thế giới, với tổng
trái phiếu đang lưu hành lớn gấp 3 lần so 5 năm trước, đạt mức 131 tỷ USD. Đây
cũng là trung tâm giao dịch ngoại hối lớn thứ 4 thế giới - trung tâm ngân hàng tư
nhân của cả khu vực châu Á, châu Âu, Trung Đông và khu vực có các nhà đầu tư
cá nhân lớn và những tên tuổi lớn như Freddie Mac, Goldman Sachs, Ford Motors,
Toyota Motors, JP Morgan..

Sở giao dịch chứng khoán Singapore được thành lập từ năm 1960. Đến
nay Sở GDCK Singapore (SGX) là trung tâm tài chính quốc tế được xếp hạng thứ
4 thế giới, sau London, New York và Tokyo. Theo số liệu từ ICH, vốn hóa thị
trường năm 2007 của SGX là 631 tỷ USD với sự góp mặt của 900 định chế tài
chính, 1.786 NĐT chuyên nghiệp. Được đánh giá là một trung tâm tài chính có cơ
sở hạ tầng tốt, chi phí cạnh tranh, nhân lực có trình độ đến từ các nước trên thế
giới, SGX thu hút 713 công ty niêm yết, trong đó có 35% là công ty nước ngoài.
SGX được tổ chức thành hai thị trường: thị trường giao dịch bảng chính (GDBC)
và thị trường Catalist. Thị trường GDBC là nơi niêm yết CP của các DN có
thương hiệu, tiếp cận với nhiều NĐT tổ chức, nhiều loại sản phẩm. Thị trường
này được giám sát bởi Sở Giao dịch quản lý và giám sát Singapore. Tại thị trường
này, DN có 3 lựa chọn: niêm yết lần đầu song song; niêm y ết l ần 2 (t ương t ự
niêm yết bổ sung ở Việt Nam); niêm yết các chứng chỉ lưu ký toàn cầu. Còn thị


69
trường Catalist được Sở Giao dịch quản lý CTCK giám sát, thị trường này thường
được các công ty tăng trưởng mạnh lựa chọn. Tại thị trường Catalist, thời gian
tiếp cận với thị trường nhanh hơn và một số tiêu chuẩn niêm yết thấp hơn.

Cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống công nghệ thông tin, và ban lãnh đạo
của SGX được đánh gía là có chất lượng thuộc bậc nhất thế giới . Hệ thống giao
dịch của SGX kết nối trực tiếp với hệ thống của các công ty chứng khoán thành
viên để nhận lệnh trực tiếp qua các kênh khác nhau và khớp lệnh liên tục. Bên
cạnh đó, SGX có khả năng cung rất nhiều loại sản phẩm đa dạng cho thị trường
và khả năng quản lý và giám sát thị trường một cách rất hiệu quả.

Về nhân sự, phần đông nhân sự trong ban lãnh đạo của SGX đều là những
người đã từng có kinh nghiệm làm việc nhiều năm tại các định chế tài chính lớn
của thế giới, do đó họ có những kiến thức sâu rộng về thị trường, về nguy ện
vọng của các thành viên và nhà đầu tư trước khi bước vào vị trí của người quản
lý và giám sát thị trường, khả năng quản lý và giám sát thị trường một cách rất
hiệu quả. Chính vì vậy, họ có thể giúp cho SGX có những quyết định kịp thời để
đáp ứng cho nhu cầu của nhà đầu tư.

Để niêm yết trên sàn SGX, doanh nghiệp phải đáp ứng được các đ iều
kiện Lợi nhuận cộng dồn trước thuế cho 3 năm gần nhất 7,5 triệu đô la
Singapore (S$). Để niêm yết bổ sung, tổng giá trị vốn hóa thị trường tại thời
điểm lần đầu
phát hành ra công chúng tiên (IPO) là 80 S$.
DN có ít nhất 1.000 cổ đông (ít nhất 2.000 cổ đông với DN niêm y ết "thứ
cấp" - đã giao dịch ở trong nước chuyển sang SGX).
Tình trạng tài chính lành mạnh với các hoạt động tạo ra luồng lưu chuyển
tiền tệ dương.
Có hai Ủy viên HĐQT độc lập là người cư trú tại Singapore (có thể xem
xét một số trường hợp linh hoạt) của DN niêm yết Việt Nam đại diện tại đó để
xử lý những vấn đề về quan hệ cổ đông và công bố thông tin.


70
Các nghĩa vụ có tính liên tục, tuân thủ theo các quy định niêm yết của cả
Việt Nam và Singapore.
Về quản trị công ty, áp dụng theo Bộ tiêu chuẩn quản trị công ty của
Singapore.
Chi phí niêm yết: Mức phí thấp nhất là 50.000 S$ và cao nhất là
200.000S$. Phí nộp hồ sơ xin niêm yết trên GDBC hoặc trên Catalist là 20.000 S$
và không hoàn lại. Ngoài ra, mỗi năm DN phải nộp tối thiểu 50.000 S$ và cao
nhất 200.000 S$.
Một doanh nghiệp đã đủ điều kiện, muốn niêm yết trên SGX phải trải qua
5 bước Bước thứ nhất là lập kế hoạch (xác định mục tiêu niêm yết và thời gian
thực hiện, cơ cấu IPO dự kiến), bước 2: chuẩn bị (về tài chính, pháp lý, bản cáo
bạch); bước 3: tiếp thị (cơ cấu chào bán, nhà đầu tư chủ chốt, kế hoạch tiếp thị
các tổ chức); bước 4: chào bán (Roadshow, định giá, phân bổ) và bước cuối cùng:
sau giao dịch (tạo lập thị trường, bình ổn và quan hệ NĐT).
Hiện tại Singapore đang có kế hoạch sát nhập với sàn giao dịch chứng
khoán Australia. Công ty Quản lý thị trường chứng khoán Singapore, mã cổ phiếu
SGX ngày 25-10-2010 đã cùng Công ty Quản lý thị trường chứng khoán Úc ASX,
công bố một vụ sáp nhập lớn, theo đó SGX sẽ mua lại ASX với giá 8,4 tỉ đô la
Úc, tương đương 8,3 tỉ đô la Mỹ. Nếu thành công, đây sẽ là vụ sáp nhập quan
trọng nhất trong lĩnh vực chứng khoán ở châu Á-Thái Bình Dương, mở đầu cho
một xu thế mới trên thị trường tài chính khu vực. Mục tiêu của sự sáp nhập này
là nhằm giúp cả hai sàn gia tăng sức cạnh tranh, tiết kiệm chi phí điều hành và
góp phần đưa Singapore nhảy vọt từ một thị trường chứng khoán hạng hai thành
trung tâm tài chính hàng đầu khu vực. Sau khi sáp nhập dự kiến vào quí 2-2011,
công ty mới, có tên tắt là ASX-SGX Ltd. sẽ đặt trụ sở tại Singapore và niêm yết
cổ phiếu ở Singapore và Úc. ASX-SGX Ltd. có giá trị thị trường vào khoảng 12,3
tỉ đô la Mỹ, điều hành việc giao dịch chứng khoán của 2.700 công ty niêm yết
thuộc 20 quốc gia, với tổng giá trị vào khoảng 1.900 tỉ đô la Mỹ. Sàn giao dịch
của ASX-SGX sẽ lớn thứ tư ở châu Á sau các thị trường chứng khoán Tokyo,


71
Hồng Kông và Thượng Hải và lớn thứ hai châu Á về số doanh nghiệp niêm yết.
Theo dữ liệu tháng 9-2010 của Liên đoàn các thị trường chứng khoán thế giới,
tổng giá trị giao dịch của cả hai thị trường chứng khoán Singapore và Úc trong
chín tháng đầu năm nay vào khoảng 1.000 tỉ đô la Mỹ, xếp thứ sáu ở châu Á
nhưng kém xa so với thị trường chứng khoán New York, nơi có 13.800 tỉ đô la Mỹ
giao dịch trong chín tháng qua. Tuy vậy, sàn giao dịch ASX-SGX có thể là cơ sở
hoạt động lớn thứ hai thế giới của các tổ chức đầu tư tài chính, đang quản lý
khối tài sản lên tới 2.300 tỉ đô la Mỹ. Theo nhận định của báo Wall Street Journal,
nhờ quy mô tăng lên, sàn giao dịch mới sẽ có sức hấp dẫn các khách hàng lớn, trả
phí nhiều như các thương nhân có tần suất giao dịch cao và các doanh nghiệp
đang tìm cách huy động vốn ở một thị trường năng động, và như vậy ASX-SGX
sẽ đặt ra thách thức không nhỏ cho các thị trường chứng khoán Tokyo và Hồng
Kông. Trong lĩnh vực chứng khoán, sàn giao dịch quy mô càng lớn thì sức hấp
dẫn càng cao, cho nên vụ sáp nhập SGX-ASX là điều đã được giới phân tích dự
báo trước, vào thời điểm mà quan niệm thị trường chứng khoán là “thị trường
quốc gia” (national exchange) đang bị xóa bỏ dần sau những vụ sáp nhập xuyên
lục địa ở châu Âu và Bắc Mỹ.
1.2.2 Kinh nghiệm rút ra từ Singapore

Đầu tiên, nền tảng vững chắc đã hỗ trợ cho Singapore thu hút được nguốn
vốn FPI dưới sự cạnh tranh khắc nghiệt của những TTCK trong khu vực cũng
như tr ên thế giới. Cụ thể là tổng thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người
cao nhất thế giới, tỉ lệ tiết kiệm cao, nguồn vốn dự trữ lớn, lưu lượng đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài cao, tỉ lệ nợ xấu gần như không tồn tại…

Thứ hai, môi trường kinh doanh mở, tạo điểu kiện tốt nhất cho nhà đầu tư
nước ngoài như: không có giới hạn tối đa về quyền sở hữu của người nước
ngoài trong các công ty Singapore, ưu đãi thuế cho trái phiếu; luật bảo mật thông
tin ngân hàng; luật ủy thác cho phép nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn người



72
thừa hưởng tài sản sau khi họ qua đời (nhằm thu hút khách hàng Trung Đông);
người nước ngoài có thể định cư mãi mãi ở Singapore miễn là họ có tài sản 13
triệu USD, với ít nhất 3,1 triệu USD nằm tại một định chế tài chính ở đây. Tuy
nhiên, tùy thuộc vào tính chất và hoạt động kinh doanh của một số ngành nghề
cũng cần một số quy định như phải có sự chấp thuận từ các cơ quan quản lý có
thẩm quyền. Ở những lĩnh vực cụ thể là những quy định hết sức thông thoáng:
nới lỏng quy định liên quan đến các quỹ mạo hiểm (hedge funds), cho phép họ có
thể thành lập trong vòng một tuần; bỏ các chướng ngại vật đối với sự chuyển
dịch vốn; chuyển từ bảo hộ ngành ngân hàng trong nước sang tập trung vào việc
gia tăng mực độ minh bạch. Kiểm soát rủi ro toàn bộ hệ thống tài chính đ ược
xem trọng hơn bảo vệ từng tổ chức, doanh nghiệp riêng lẻ.

Thứ ba, chính sách của Singapore được điều hoà trong ngắn hạn v à dài
hạn. Các nhà chức trách Singapore từ lâu đã được người ta biết tới về phẩm chất
kiên định và có uy tín cao. Chính vì thế, những thay đổi trong kế hoạch ngắn hạn
không làm thị trường nghi ngờ việc "chung thủy" của Singapore với những mục
tiêu dài hạn. Ví dụ như cuộc khủng hoảng tài chính Thái Lan tỉ lệ hối đoái và
tiền lương được điều chỉnh linh hoạt đã giúp Singapore hồi phục tốt hơn phần
lớn các nước trong khu vực. Nỗ lực sự dụng nhiều chiến lược cùng một lúc (kết
hợp với chính sách tài chính và tiền tệ), Singapore không những tránh được tình
huống xấu nhất của khủng hoảng, mà còn "rải" gánh nặng cải biến lên tất cả
các lĩnh vực của nền kinh tế.

Cuối cùng, Singapore đã cho thấy thành công trong việc tự do hóa tài chính,
và chính điều này đã giữ vững vị trí trung tâm của Singapore trong ngành tài
chính, ngay cả vào những giờ phút khó khăn. Đây cũng là thế mạnh của nền kinh
tế Singapore, đưa đất nước này vượt qua mọi đợt tấn công tiền tệ

2. Kinh nghiệm của một số nước thu hút và sử dụng thất bại vốn FPI



73
Nếu sử dụng nguồn vốn FPI không hiệu quả có thế gây nên nhiều tác
động tiêu cực đối với nền kinh tế, mà hệ quả xấu nhất là khủng hoảng tài chính
Thái Lan 1997. Chính vì Thái Lan đã không thực hiện việc điều tiết sự di chuyển
của dòng vốn FPI một cách thận trọng và do đó họ đã nếm phải thất bại nặng
nề. Nói một cách chính xác là Thái Lan cũng đã sử dụng các biện pháp đi ều ti ết
nhưng không có được sự phối hợp của các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Đ ồng
thời, Thái Lan đã tỏ ra vội vàng khi tiến hành tự do hóa tài khoản vốn mà không
được tiến hành cùng với quá trình giám sát và điều tiết thận trọng hệ thống tài
chính nội địa, đặc biệt là hệ thống ngân hàng. Một nguyên nhân nữa khiến cho
cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ trở nên nghiêm trọng hơn là sự góp sức của
Chính phủ Thái Lan khi họ đứng ra bảo lãnh cho hoạt động của hệ thống tài
chính và điều đó đã dẫn tới hiệu ứng “rủi ro đạo đức”




Giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của việc thu hút và sử
II.
dụng vốn FPI ở Việt Nam
Sự di chuyển mạnh mẽ của luồng vốn tư nhân nước ngoài dưới tác động
của quá trình toàn cầu hóa tài chính cũng như liên kế kinh tế quốc tế cộng với
bản chất dễ biến động, dễ bị đảo ngược và ngắn hạn của vốn FPI đã khiến cho
việc điều tiết trở nên vô cùng cần thiết. Bởi vì, sự điều tiết này sẽ góp phần làm
ổn định tiền tệ và tài chính, đảm bảo tính độc lập của các chính sách kinh tế vĩ
mô và vi mô, thúc đẩy đầu tư dài hạn và củng cố cán cân thanh toán, mặc dù s ự
điều tiết đó có thể đưa lại một số chi phí nhân đ ịnh như: tham nhũng, t ệ quan
liêu…..

Để có thể thực hiện thành công quá trình điều tiết, nước tiếp nhận đầu tư
cần có môi trường chính sách cũng như các nền tảng kinh tế vững mạnh. Những
điều đó bao gồm: tỷ lệ nợ thấp, mức lạm phát vừa phải cán cân thanh toán vãng
lai và ngân sách ổn định, chinh sách tỷ giá hối đoái nhất quán, chính phủ có năng


74
lực để hoạch định và thực hiện các chính sách cũng như có một mức độ độc lập
chính trị nhất định trong việc kiểm soát khu vực tài chính

Có mối quan hệ nhân quả giữa các nền tảng kinh tế cơ bản vững chắc
với việc điều tiết sự di chuyển của dòng vốn tư nhân nước ngoài, đặc biệt là
vốn gián tiếp. Các nền tảng kinh tế cơ bản vững chắc sẽ tạo điều kiện cho việc
thực hiện thành công sự điều tiết bới vì chúng giảm thiểu những tác động tiêu
cực của điều tiết (tham nhũng, quan liêu…). Mặt khác điều tiết thận trọng và
thiết lập các cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động của thị trường tài chính.
Những nhân tố tác động tới quá trình điều tiết của chính phủ bao gồm: chính
sách chống lạm phát của chính phủ, mức độ mở cửa thương mại của nền kinh
tế, khả năng đảo ngược của cải cách thương mại, trạng thái của tài chính quốc
gia (bao gồm mức thâm hụt ngân sách, tỷ lệ nợ nội địa và nước ngoài/GDP), mức
độ thanh khoản của thị trường trái phiếu nội địa, sự vững mạnh của hệ thống
ngân hàng nội địa và mức độ cạnh tranh của các thể chế tài chính, mức độ linh
hoạt của chính sách tài chính, chất lượng của hệ thống giám sát và điều tiết thận
trọng đối với các công ty tài chính và hoạt động của các thị trường tài chính, quan
niệm của thị trường về những cam kết dài hạn đối với điều tiết và chính sách
cải cách

Điều tiết sự di chuyển vốn FPI dẽ được thực hiện tốt khi chúng phù hợp
với mục tiêu chung của các chính sách kinh tế và tốt nhất khi chúng là một b ộ
phận cấu thành câu thành của chiến lược phát triển kinh tế quốc gia. Điều này
không đồng nghĩa với việc kiểm soát hoàn toàn của chính phủ dối với nền kinh
tế mà là sự kết hợp giữa tự do và điều tiết

Không có một hình thức điều tiết sự di chuyển của dòng vốn FPI duy nhất
nào có thể phù hợp cho tất cả các nền kinh tế. Bởi vì, năng lực và quyền lực các
chính phủ không giống nhau, đặc biệt, môi trường cũng như hệ thống tài chính
giữa các nền kinh tế cũng khác nhau. Cụ thể, có những nước đã duy trì sự kiểm



75
soát vốn lại dần dần chuyển sang tự do hóa nhưng có những nước đang thực
hiện tự do hóa lại có thể tiến hành việc kiểm soát vốn có chọn lọc. Do đó, tuy
vào điều kiện bối cảnh kinh tế của mỗi nước để có thể đưa ra những đối sách
phù hợp dựa trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và bối cảnh quốc tế.
Thực tế cũng cho thấy, các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam cần phải
rất thận trọng trong việc áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn cũng như các biện
pháp nới lỏng kiểm soát vốn bởi vì một khi tự do hóa tài khoản vốn hoàn toàn thì
việc thiết lập một hình thức điều tiết. Có thể sẽ khiến cho các nhà đầu tư nước
ngoài hiểu nhầm như là một sự xóa bỏ tự do hóa với những hành vi gây bất ổn
định mạnh cho thị trường tài chính (như rút vốn ồ ạt chẳng hạn)

Bài học về quản lý vĩ mô
Thứ nhất, kết hợp giữa các chính sách một cách hợp lý sẽ giúp giám sát
cả khối lượng và các cấu phần của các luồng vốn ra vào và trong đó khâu quản
lý luồng vốn vào là quan trọng nhất. Đứng trước thực tế rủi ro với khả năng
biến động và tình trạng rút vốn ồ ạt cùng với việc huy động vốn đầu tư cho nền
kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, cần duy trì cân bằng hợp lý
giữa vốn vay ngân hàng và vốn đầu tư, vốn đầu tư trực tiếp. Cụ thể mô hình
được khuyến nghị bằng cách cho các nền kinh tế hiện nay là giảm bớt thị phần
của ngân hàng và tăng cường phát triển thị trường cổ phiếu và trái phiếu để có
thị phần ngang với vốn của ngân hàng
Thứ hai, cải thiện các qui định mang tính minh bạch có thể giúp quản lý
các luồng vốn hiệu quả hơn. Hệ thống kế toán và công bố thông tin hoàn thiện
hơn sẽ giúp được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tốt hơn và từ đó giảm thiểu
được những ảnh hưởng tâm lý bầy đàn. Các qui định và qui chế chuẩn hóa hơn
sẽ giúp cho hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các
ngân hàng và khả năng chịu đựng được các cú sốc từ bên ngoài của các ngân hàng
đó.




76
Thứ ba, cần xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia để giải
quyết các vấn đề và xây dựng một cơ chế hiệu quả để quản lý các dòng vốn
theo nguyên tắc cùng có lợi. Trong mỗi nước cũng cần phải có sự hợp tác giữa
các cơ quan quản lý và các ngành khác nhau, với nguyên tắc ưu tiên hàng đ ầu là
đảm bảo toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia
Thứ tư, cần duy trì một thế cân bằng tương đối giữa các mục tiêu phát
triển kinh tế vĩ mô như: lạm phát, tăng trưởng, tỷ giá hối đoái, lãi suất, ngân
sách, cán cân thương mại và cán cân thanh toán. Lựa chọn một cách tập trung và
phù hợp với các mục tiêu ưu tiên trong quá trình phát triển. Nhà nước phải có
định hướng đầu tư của toàn xã hội theo một cơ cấu hợp lý
Bài học về các biện pháp kiểm soát vốn
Cần cân nhắc các chi phí phát sinh trong khi áp dụng các biện pháp kiểm
soát vốn. Các biện pháp này không thể thay thế cho ổn định kinh tế vĩ mô và cải
cách hệ thống tài chính

Việc kiểm soát dòng vốn vào có khả năng thay đổi cơ cấu dòng vốn vào
nhưng không có mấy tác dụng đối với điều chỉnh tỷ giá

Kiểm soát dòng vốn vào nên được áp dụng tạm thời trên phạm vi rộng.

Việc áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn ra tức thời có thể có tác dụng
ngăn chặn chảy máu vốn nhưng nhất thiết phải kèm theo các chính sách ổn định
kinh tế vĩ mô và cải cách tài chính. Nhưng về lâu về dài sẽ ảnh hưởng đến lòng
tin của các nhà đầu tư nước ngoài

Bài học về vai trò của các cơ quan quản lý trực tiếp
Thứ nhất là việc xây dựng và thi hành các biện pháp quản lý dòng luân
chuyển vốn, đặc biệt là vốn đầu tư gián tiếp, để có sự hợp tác và phối hợp với
các cơ quan quản lý tại nước ngoài

Thứ hai là khung pháp lý và các qui định hiện có đã tạo điều kiện tói mức
độ nào cho các nhà quản lý can thiệp trong trường hợp xảy ra khủng hoảng

77
Cần duy trì lòng tin của các nhà đầu tư và của thị trường. Đôi khi chỉ là
vấn đề định hướng chính sách bằng cách công bố khéo léo trong thời điểm thích
hợp




78
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản