Tài liệu ôn thi: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Chia sẻ: Toi Huong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:27

0
302
lượt xem
129
download

Tài liệu ôn thi: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu tham khảo về kinh tế chính trị

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu ôn thi: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

  1. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN I. KHÁI NIỆM GIAI CẤP CÔNG NHÂN 1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin. a. Về thuật ngữ mà Mác và Ăngghen đã dùng để chỉ GCCN - Mác - Ăngghen đã dùng những thuật ngữ đồng nghĩa sau để chỉ GCCN: + GCVS: GC hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán SLĐ của mình làm thuê ở cuối TK XIX. + GCVS đại công nghiệp. + GCVS hiện đại. + GCCN đại công nghiệp. + GCCN đại cơ khí. + GCCN hiện đại, GCCN (trong “Tuyên ngôn của ĐCS”). Các thuật ngữ trên tồn tại như những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị khái niệm GCCN - con đẻ của nền đại công nghiệp TBCN, GC đại biểu cho LLSX tiên tiến, cho PTSX hiện đại. - Hiện nay, ta chọn thuật ngữ cho phù hợp gắn với thời đại => chọn cách gọi: GCCN và GCCN hiện đại. * Lưu ý: Hiện nay, không nên dùng thuật ngữ GCVS vì nó không bao quát hết thực tế. Trên thực tế, không ít người hiểu như sau: “Vô sản” tức là không có của => hiểu: GCVS là GC không có của, nghèo khổ, đói rách, dốt nát. Theo Mác: “Vô sản” tức là không có TLSX chủ yếu, (không phải theo nghĩa của cải thông thường). Mà TLSX là một quan hệ KT với GC khác. Do không có TLSX nên GCCN phải làm thuê, nên họ trở nên nghèo khổ và bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư. => Nghèo khổ của GCCN chính là hậu quả của việc không có TLSX chứ không phải là bản chất của GCCN. b. Những thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân Theo Mác - Ăngghen, GCCN có 2 thuộc tính cơ bản: Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 1
  2. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Là những người trực tiếp hay gián tiếp vận hành các CCSX có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và XH hoá cao. Mác -Ăngghen đã nêu: “các GC khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn GCVS lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp hiện đại”. Ví dụ: 1, Một máy bay Boing 747 được lắp ráp bằng 4,5 triệu linh kiện, được SX bởi mộtmột.000 xí nghiệp lớn và một5.000 xí nghiệp nhỏ ở 6 nước. 2, Quần Jean’s “Thượng hạng” có các thành phần đến từ tất cả các nước châu Á: (Ấn Độ: cung cấp vải; Việt Nam: chuyên biệt về thêu; Bănglađét: may; Hàn Quốc: khuy, móc; Inđônêxia: khoá kéo; Trung Quốc: nhãn ngoài; Malaixia: nhãn bằng da phía sau quần). Tới công đoạn hoàn thiện, vải và phụ kiện chỉ chiếm khoảng từ một0 tới 20% giá bán lẻ.1 - Về vị trí trong QHSX TBCN + Đó là những người lao động không có TLSX, phải bán sức lao động cho nhà TB bị nhà TB bóc lột giá trị thặng dư. Đây là một trong những đặc trưng cơ bản của GCCN dưới chế độ TBCN nên Mác - Ăngghen gọi GCCN là GCVS. + Hiện nay, với sự phát triển của CNTB GCCN hiện đại có nhiều thay đổi khác trước cụ thể: * Cơ cấu ngành nghề: ngoài lực lượng CN truyền thống (áo xanh, áo nâu), phát triển thêm lực lượng CN trong lĩnh vực tự động hoá và tin học (CN cổ trắng, cổ vàng). * Về số lượng: GCCN vẫn không ngừng lớn mạnh. Năm 1950 toàn thế giới có gần 290 triệu CN, năm 1990 CN thế giới có > 615 triệu, năm 1998, CN thế giới có 800 triệu. * Về chất lượng: trình độ trí tuệ, chuyên môn, tay nghề không ngừng được nâng cao, lao động phức tạp ngày càng tăng chiếm từ 50-70% lao động ở các nước phát triển. Xu hướng “tri thức hoá CN” diễn ra mạnh mẽ, ngày càng tiếp thu thêm những người thuộc tầng lớp trí thức vào hàng ngũ của mình. Nhưng trình độ tri thức không làm 1 Báo KH&CN thông tấn xã Việt Nam số 45 (mộtmột97) ngày 3-mộtmột-2005 Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 2
  3. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên thay đổi bản chất GCCN trong CNTB, với tính cách là GC làm thuê cho GCTS trong hoạt động SX công nghiệp. Hiện nay họ bán cả sức lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí một số bán sức lao động với KT rất cao, giá trị ngày càng lớn và do đó càng bị bóc lột giá trị thặng dư theo chiều sâu . - Tóm lại: Dựa vào 2 tiêu chí trên có thể coi Thứ nhất: Những người lao động trong các ngành SX công nghiệp, dịch vụ công nghiệp là CN. Thứ hai: Những người làm công phục vụ trong các ngành như: Y tế, giáo dục, dịch vụ (không liên quan trực tiếp đến SX công nghiệp) là những người lao động nói chung, không phải là CN. - Đặc trưng của GCCN trong TKQĐ lên CNXH: + Về PTSX - PTLĐ: Như đã nêu ở trên + Về vị trí trong QHSX: Xét toàn bộ GC, GCCN đã là người làm chủ, nhưng trong điều kiện nền KT nhiều thành phần thì có một bộ phận CN làm thuê trong các DNTN, với một mức độ nhất định họ vẫn bị những người chủ sở hữu bóc lột giá trị thặng dư. - Ý nghĩa về luận điểm thuộc tính của GCCN: + Vẫn giữ nguyên giá trị, là cơ sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu GCCN hiện đại. + Đặc biệt làm sáng tỏ SMLS của GCCN trong thời đại ngày nay. 2. Định nghĩa GCCN: - Định nghĩa: GCCN là một tập đoàn XH ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của LLSX có tính chất XH hoá ngày càng cao; Là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình SX, tái SX ra của cải VC và cải tạo các quan hệ XH; đại biểu cho LLSX và PTSX tiên tiến trong thời đại hiện nay. - Đặc điểm chung nhất của GCCN các nước + Được “tuyển mộ” trong tất cả các GC, tầng lớp của dân cư. Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 3
  4. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên + Là GC lao động SX VC là chủ yếu trong công nghiệp => Đại biểu cho PTSX tiên tiến của thời đại. + Lợi ích cơ bản của GCCN đối lập với lợi ích cơ bản của của GCTS; lợi ích cơ bản của GCCN phù hợp với lợi ích của NDLĐ và của dân tộc. + Có bản chất quốc tế (Do quốc tế hoá SX công nghiệp hiện đại và phong trào CN). + Có hệ tư tưởng riêng là chủ nghĩa Mác - Lênin với Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân. - Đặc điểm riêng của GCCN: + Trong CNTB: * Giai cấp công nhân không có TLSX chủ yếu (với tính cách GC) vì vậy phải bán sức lao động làm thuê cho GCTS bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư. Ví dụ: ở Mỹ có 270 triệu dân, 5% là nhà TB có 400 tỷ phú chiếm gần 70% TLSX của XH (chủ yếu bằng tiền), còn lại 95% dân số GCCN chiếm 20% lực lượng lao động XH. * Lợi ích cơ bản của GCCN đối lập với lợi ích cơ bản của GCTS do đó tất yếu dẫn tới mâu thuẫn giữa GCVS >< GCTS. * ĐCS của GCCN ở các nước TBCN chưa giữ vai trò lãnh đạo XH. * Chính sách đối nội, đối ngoại của GCCN phải dựa trên cơ sở luật pháp của GCTS. + Trong CNXH: * GCCN cùng toàn dân làm chủ TLSX chủ yếu. * ĐCS của GCCN lãnh đạo XH về mọi mặt. * Chính sách đối nội, đối ngoại của GCCN dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. II. NỘI DUNG VÀ ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN QUY ĐỊNH SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN 1. Nội dung sứ mệnh lịch sử của GCCN a, Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 4
  5. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Trong lịch sử nhân loại những giai đã có SMLS là xoá bỏ XH cũ, xây dựng XH mới cao hơn, đó là: GCCN, GCPK, GCTS, GCCN. - Trong thời đại ngày nay, sứ mệnh lịch sử đó thuộc về GCCN: + Nội dung khái quát: Sứ mệnh lịch sử của GCCN là xoá bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng XH CSCN văn minh. Ăngghen viết: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới - đó là SMLS của GCCN hiện đại”2. Lênin cũng chỉ rõ: “Điểm chủ yếu trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của GCVS là người xây dựng XH XHCN”3. + Nội dung cụ thể: Có 3 nội dung cơ bản: Một là, Trực tiếp SX ra những sản phẩm công nghiệp ngày càng hiện đại để xây dựng cơ sở VCKT, cơ sở KT cho CNXH. Phân tích : Giai cấp công nhân vốn là người lao động trực tiếp gắn với SXCN, vì vậy nhiệm vụ đầu tiên mà họ phải thực hiện chính là lao động để sản xuất ra các máy móc thiết bị để từ đó xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Nâng cao NSLĐ XH từ đó khẳng định sự thắng lợi về mặt kinh tế của CNXH. Lịch sử đã cho thấy một PTSX mới ra đời chỉ có thể khẳng định được sự thống trị của mình khi giai cấp thống trị trong xã hội đó giành được chính quyền và xây dựng CSCV kỹ thuật để từ đó có NSLĐ cao hơn rất nhiều so với NSLĐ của PTSX trước đó. VD: CNTB giành được chính quyền đầu tiên từ tay GCPK thông qua CMTS từ giữa thế kỷ XVI bằng cuộc CMTS Hà Lan, Tuy nhiên phải tới cuối thế kỷ XVIII bằng việc cho ra đời máy hơi nước của J.Oát, CNTB mới khẳng định được vị thế thống trị về mặt kinh tế. Mác nói: "Máy hơi nước là chiếc đinh cuối cùng đóng lên cỗ quan tài của chế độ Phong kiến". 2 Mác – Ăngghen toàn tập.Nxb CTQG, HN một995, T20, Tr 393. 3 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ Matxova, một980, T23, Trmột. Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 5
  6. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên Hai là, Thông qua Đảng tiền phong của mình, GCCN lãnh đạo, tổ chức để NDLĐ giành chính quyền, xoá bỏ chính quyền của các chế độ tư hữu áp bức, bóc lột; xây dựng chính quyền của GCCN và NDLĐ. Ba là, Thông qua Đảng tiền phong của mình GCCN lãnh đạo, tổ chức NDLĐ xây dựng và bảo vệ CNXH, tiến lên CNCS ở mỗi nước trên toàn thế giới. Đây là là nội dung cơ bản, cuối cùng mới mẻ và phức tạp, => thực hiện SMLS của GCCN phải trải qua quá trình lịch sử lâu dài không thể nóng vội giản đơn… b, Nội dung SMLS của GCCN Việt Nam: Giai cấp công nhân Việt Nam cần thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình trong 2 giai đoạn và tương ứng với 2 nội dung đó là: - CM DTDCND - giành chính quyền thiết lập chuyên chính dân chủ CM. - Thực hiện CM XHCN, xây dựng thành công CNXH, không có người bóc lột người, áp bức người, giải phóng NDLĐ. 2. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh SMLS của GCCN: - Do địa vị KT-XH khách quan quy định SMLS của GCCN: + Do địa vị KT- XH khách quan, GCCN là GC gắn với LLSX tiên tiến nhất dưới CNTB. Với tính cách như vậy nó là lực lượng quyết dịnh phá vỡ QHSX TBCN. + Sau khi giành chính quyền, GCCN, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo XH xây dựng một PTSX mới cao hơn PTSX TBCN. - Với tính cách là con đẻ của nền đại công nghiệp: + GCCN là con đẻ của nền SX công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền SX công nghiệp tiến bộ, có lực lượng hùng mạnh. + GCCN bị GCTS áp bức, bóc lột nặng nề, họ là GC trực tiếp đối kháng với GCTS, xét về bản chất họ là GC CM triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột TBCN. + Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng: họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn XH khỏi chế độ TBCN. - Địa vị KT-XH khách quan tạo điều kiện cho GCCN thực hiện SMLS của mình: + Điều kiện KT-XH khách quan không chỉ khiến cho GCCN trở thành GCCM triệt để nhất mà còn tạo cho họ khả năng làm việc đó. Đó là: Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 6
  7. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên * Khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp. * Khả năng đạt tới sự giác ngộ về địa vị lịch sử của khả năng hoạt động chính trị để từng bước đạt mục tiêu đó. * Đó là khả năng đoàn kết các GC khác trong cuộc đấu tranh chống CNTB. * Đó là khả năng đi đầu trong cuộc đấu tranh của toàn thể Ndlđ và của dân tộc vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. * Đó là khả năng đoàn kết toàn thể GCVS và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế theo CN quốc tế VS. + Trong tình hình hiện nay có thể bổ sung thêm một số những điều kiện khách quan cho SMLS của GCCN. Đó là: * Sự phát triển của nền SX công nghiệp => GCCN được trang bị nhiều kiến thức mới về văn hoá cơ bản, KH-CN, tay nghề, nhận thức chính trị …đó cũng là yêu cầu khách quan ngày càng cao của sự phát triển công nghiệp ngày càng hiện đại với GCCN. * Sự phát triển công nghiệp ngày càng hiện đại và XH hoá, quốc tế hoá ngày càng cao thì GCCN càng được phát triển thêm lực lượng (cả về số lượng và chất lượng). - Trong CNTB có mâu thuẫn cơ bản đã hình thành một cách khách quan gồm 2 mặt: + Kinh tế: Mâu thuẫn giữa LLSX >< GCTS. Tóm lại: Cả 2 mặt của mâu thuẫn cơ bản này không thể giải quyết triệt để trong khuôn khổ CNTB điều đó khẳng định tính tất yếu của CMXHCN do GCCN lãnh đạo và tổ chức. Đó là sự quy định khách quan cho SMLS của GCCN. Trí thức, ND sẽ là lực lượng tham gia vào CM. Lưu ý: Thứ nhất, Cuộc đấu tranh để GCCN hình thành SMLS của mình không phải dễ dàng, diễn ra bằng phẳng, thuận buồm, xuôi gió. Thứ hai, Phong trào CN đang đứng trước những thử thách nặng nề, song GCCN vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho sự thực hiện SMLS của mình theo quy luật khách quan của lịch sử. Thứ ba, Mặc dù đời sống của CN có nhiều cải thiện song họ vẫn bị GCTS bóc lột. Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 7
  8. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên Thứ tư, Bất công, bất bình đẳng, khoảng cách thu nhập ngày càng cách xa giữa GCTS và GCCN, quần chúng lao động, GCTS không khắc phục nổi những mâu thuẫn cơ bản. III. NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ QUAN, ĐẶC BIỆT LÀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GCCN 1. Bản thân GCCN: (SV TỰ NGHIÊN CỨU) - Ngay từ khi mới hình thành trong XH TBCN, bản thân GCCN đã không ngừng hoạt động và trưởng thành từng bước về số lượng và chất lượng. + Về số lượng: Phát triển tăng lên rõ rệt ở tất cả các nước, đa dạng hơn về cơ cấu CN. + Về chất lượng: Trình độ tay nghề của GCCN đã được nâng cao trong quá trình phát triển của CMCN và CM KH-CN, cụ thể: Nâng cao học vấn, tay nghề ... - Giai cấp công nhân ngày các được giác ngộ về ý thức giai cấp, về CNXH, lý luận về Chủ nghĩa Mác – Lênin, từ đó có lập trường GC vững vàng từng bước hình thành Đảng tiên phong của GCCN là ĐCS. Vè thế GCCN là cơ sở chính trị căn bản nhất của ĐCS. - Đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực âm mưu của kẻ thù, đi đầu trong quá trình SX hiện đại, xây dựng, bảo vệ CNXH. 2. Tính tất yếu, quy luật hình thành và phát triển đảng của GCCN (GV GIẢNG) - Tính tất yếu của việc thành lập Đảng + Thực tế cho thấy, ngay từ khi mới ra đời GCCN đã tiến hành đấu tranh quyết liệt chống lại GCTS. Quá trình đó diễn ra theo 2 giai đoạn: đấu tranh tự phát; đấu tranh tự giác. Muốn chuyển từ đấu tranh tự phát lên tự giác phải có 2 điều kiện: Một là, GCCN phải giác ngộ SMLS của mình. Sự giác ngộ ấy chỉ có thể có được thống qua hoạt động của ĐCS, đội tiên phong của GCCN. Hai là, GCCN phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất để tạo nên sức mạnh và đoàn kết. việc tổ chức đó cũng chỉ có thể thực hiện được khi có một tổ chức lãnh đạo, đó là ĐCS. Nói cách khác: Chỉ khi nào GCCN đạt tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin thì phong trào của nó mới thực sự là một Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 8
  9. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên phong trào chính trị. Trình độ lý luận đó cho phép GCCN nhận thức được vị trí, vai trò của mình trong XH, nguồn gốc tạo nên sức mạnh và biết tạo nên sức mạnh đó bằng sự đoàn kết, nhận rõ mục tiêu, con đường, biện pháp giải phóng GC mình, giải phóng XH, giải phóng toàn nhân loại. + Phải có CN Mác soi sáng, GCCN mới đạt tới trình độ nhận thức về lý luận về vai trò lịch sử của mình. Sự thâm nhập của CN Mác vào phong trào CN => Sự hình thành chính Đảng của GCCN. - Quy luật thành lập Đảng: + Quy luật chung: ĐCS = CNXHKH (chủ nghĩa Mác - Lênin) + Phong trào CN. Đảng cộng sản ra đời dựa trên sự kết hợp giữa CN Mác – Lênin với phong trào công nhân. Nhưng trong mỗi nước sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử lại được thực hiện bằng con đường đặc biệt tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian. + Ở Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: ĐCS Việt Nam = Chủ nghĩa Mác - Lênin + Phong trào CN + Phong trào yêu nước. Tóm lại: Chỉ có Đảng lãnh đạo, GCCN mới chuyển từ đấu tranh tự phát => tự giác trong mỗi hoạt động với tư cách là một GC tự giác thực sự CM. Mác nhấn mạnh rằng: trong cuộc đấu tranh của mình chống lai quyền lực liên hiệp của các GC hữu sản, chỉ khi nào GCVS tự mình tổ chức được thành một chính Đảng độc lập của mình chống lại quyền lực liên hiệp của các GC hữu sản, chỉ khi nào GCVS tự mình tổ chức được thành một Đảng độc lập, với tất cả mọi chính Đảng cũ do GC hữu sản lập ra mới hành động với tư cách là một GC được. 3. Mối quan hệ giữa ĐCS với GCCN - Khái niệm Đảng chính trị: Đảng chính trị là tổ chức cao nhất, đại biểu tập trung cho trí tuệ lợi ích của toàn thể giai cấp. Đối với GCCN đó là Đảng cộng sản, chẳng những đại biểu cho lợi ích của GCCN mà còn đại biểu cho toàn thể Ndlđ, toàn dân tộc. - Mối quan hệ giữa ĐCS và GCCN: Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 9
  10. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên + Phải có một Đảng chính trị vững vàng, kiên định và sáng suốt, có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của toàn GC và toàn bộ phong trào để GCCN có thể hoàn thành SMLS của mình. + GCCN là cơ sở xã hội – giai cấp của Đảng là nguồn bổ sung lực lượng của Đảng, Đảng là đội tiên phong chiến đấu, là bộ tham mưu của GC, là biểu hiện tập trung lợi ích, nguyện vọng phẩm chất, trí tuệ của GCCN, của NDLĐ. + Với một Đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của Đảng là sự lãnh đạo của giai cấp. Phân tích: Đảng và GC là thống nhất nhưng Đảng có trình độ lý luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo cả GC và dân tộc; vì thế không thể lẫn lộn Đảng với GC. Đảng đem lại giác ngộ cho toàn bộ GC, sức mạnh đoàn kết, nghị lực CM, trí tuệ và hoạt động CM của toàn bộ GC, trên cơ sở đó lôi cuốn tất cả các tầng lớp NDLĐ khác và cả dân tộc đứng lên hoạt động theo đường lối của Đảng nhằm hoàn thành SMLS của mình. Tóm lại: Giữa ĐCS và GCCN có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời. - Điều kiện để GCCN hoàn thành SMLS của mình: + GCCN cũng như mỗi người CN cần thường xuyên phấn đấu vươn lên, trưởng thành về các mặt: tư tưởng, chính trị, lập trường GC, văn hoá, KHKT, tay nghề … + Các tổ chức nghiệp đoàn, công đoàn thường xuyên phát triển vững mạnh … cùng với quá trình phát triển không ngừng của nền SX công nghiệp hiện đại… IV SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GCCN VIỆT NAM (SV TỰ NGHIÊN CỨU) một. Sự ra đời, đặc điểm cơ bản và điều kiện để GCCN Việt Nam vươn lên thành GC lãnh đạo CM Việt Nam a. Đặc điểm: - GCCN Việt Nam có các đặc điểm cơ bản chung nhất của GCCN như GCCN các nước. - Ngoài ra GCCN Việt Nam có những đặc điểm riêng do hoàn cảnh lịch sử cụ thể tạo ra đó là: Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 10
  11. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên + Thứ nhất: Ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, là nước thuộc địa nửa PK sau các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp cuối TK XIX đầu TK XX. + Thứ hai: Đại đa số xuất thân từ ND nghèo ra đô thị, vào các đồn điền, xưởng máy nhỏ … làm thuê cho TS Pháp => Chịu ảnh hưởng của tư tưởng PK. + Thứ ba: Trình độ tay nghề và mức sống thấp, vì Việt Nam lúc đó chưa có nền công nghiệp hiện đại; chịu ảnh hưởng nặng nề của SX nhỏ, tiểu nông. + Thứ tư: Có truyền thống lao động cần cù, yêu nước nồng nàn, gắn bó mật thiết với dân tộc, nhất là GCND và các tầng lớp lao động. + Thứ năm: Sớm được giác ngộ lý luận của CN Mác - Lênin và thành lập Đảng tiên phong của GCCN. Vì vậy GCCN sớm trở thành GC lãnh đạo CM Việt Nam (từ khi có Đảng). b. Điều kiện để GCCN Việt Nam thực hiện SMLS của mình. - Truyền thống dân tộc: Truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm, lòng yêu nước nồng nàn. - Phong trào yêu nước phát triển rộng khắp: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở nước ta đã liên tiếp nổ ra.... - Phong trào CS và CN thế giới phát triển mạnh: CM Tmột0 Nga bùng nổ và thắng lợi => ảnh hưởng đến phong trào DTDC ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, và CM Việt Nam. - Thành phần xuất thân: Tuyệt đại bộ phận GCCN Việt Nam đều xuất thân từ ND và những tầng lớp lao động khác, vì vậy, có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo NDLĐ bị mất nước. 2. Vai trò lãnh đạo GCCN trong cách mạng Việt Nam - GCCN tổ chức đấu tranh tự phát khi ĐCS chưa ra đời: + Ngay từ khi chưa có Đảng, GCCN đã tổ chức một cách tự phát những cuộc đấu tranh chống bọn TB thực dân và được nhân dân ủng hộ. Ví dụ: Bãi công của 600 thợ nhuộm năm một922; Bãi công với hàng trăm người tham gia năm một927; Bãi công với hàng nghìn người năm một928- một929. Tiêu biểu là: Đấu tranh của CN xi măng Hải Phòng; CN sợi Nam Định; CN xe lửa Trường Thi (Vinh); CN Avia Hà Nội; CN Phú Riềng - Bình Phước. Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 11
  12. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Sự ra đời của ĐCS Việt Nam với vai trò lãnh đạo của GCCN đã nâng cao chất lượng phong trào CN: ĐCS Việt Nam = CHủ NGHĨA MÁC – LÊNIN + PTCN + PT yêu nước Đảng đã đem yếu tố tự giác vào phong trào CN, làm cho phong trào CM nước ta có một bước phát triển nhảy vọt về chất. - GCCN Việt Nam lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của nó là ĐCS Việt Nam: + Khi nói GCCN lãnh đạo là nói đến toàn bộ GC như một chỉnh thể chứ không phải từng nhóm, từng người. + Để có thể lãnh đạo, GCCN phải có lực lượng, có tổ chức tiêu biểu cho sự tự giác và bản chất GC của mình. Lực lượng đó là ĐCS. + Lưu ý: Xét về thành phần xuất thân, nước ta có nhiều đảng viên không phải là công nhân. Nhưng bất cứ đảng viên nào cũng phải đứng trên lập trường GCCN thể hiện ở lý tưởng, lý luận M-LN và đường lối CM, ở tinh thần kiên quyết CM trong cuộc đấu tranh để thực hiện SM của GCCN vì lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Điều này dược Đảng ta khẳng định rát rõ: “ĐCS Việt Nam là đội tiên phong của GCCN, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và của dân tộc”4 - GCCN Việt Nam đã lãnh đạo thành công một phần nội dung SMLS của GCCN là: giành chính quyền (CM T8 năm một945, lập ra Nhà nước DCND đầu tiên ở Đông Nam Á). - Đảng đã tiếp tục lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống TD Pháp và ĐQ Mỹ, thực hiện thống nhất Tổ Quốc, độc lập, tự do, hoà bình, mở đầu giai đoạn cả nước đi lên CNXH. - Đảng đã lãnh đạo thực hiện nội dung cơ bản, quyết định nhất của SMLS của GCCN là: xây dựng CNXH (miền Bắc từ năm một954, cả nước từ năm một975 => nay), đặc biệt là trong 20 năm đổi mới. - Hiện nay, Đảng ta đang tập trung lãnh đạo đẩy mạnh CNH,HĐH theo định hướng XHCN nhằm mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. 4 ĐCS VN, VK ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb CTQG, HN 2006, Trmột30 Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 12
  13. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên Tóm lại: Không có Đảng lãnh đạo thì GCCN vẫn chỉ là GC tự phát, không thể hoàn thành SMLS của mình. Do vậy, không thể tách rời GCCN và Đảng của nó với dân tộc, với GCCN và Ndlđ tất cả các nước trong thời đại hiện nay. 3.Thực trạng, phương hướng phát triển GCCN Việt Nam hiện nay a. Thực trạng GCCN Việt Nam hiện nay: - Thành phần: Trong công cuộc xây dựng đất nước QĐ lên CNXH hiện nay, đội ngũ CN Việt Nam bao gồm: những người lao động chân tay và lao động trí óc hoạt động SX trong ngành công nghiệp và dịch vụ thuộc các DNNN, HTX hay thuộc khu vực tư nhân, hợp tác, liên doanh với nước ngoài, tạo thành một lực lượng GCCN thống nhất đại diện cho PTSX tiên tiến dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, được vũ trang bằng Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang lãnh đạo công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. - Vai trò: Là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH,HĐH là cơ sở XH chủ yếu nhất của Đảng và Nhà nước, là hạt nhân vững chắc trong liên minh CN-ND-TT, nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc. - Thực trạng đội ngũ: Hiện nay có: 6,5 triệu CN các loại, trong đó gần 2 triệu đã được đào tạo kỹ thuật. + CN bậc 6/7 chiếm gần 2,5%. Còn lại phổ biến là lao động giản đơn. + Trình độ văn hoá thấp, một bộ phận CN trình độ giác ngộ GC còn hạn chế. Trong đó trình độ THPT chiếm đa số; CĐ, ĐH chiếm 2%, mù chữ một%, chưa qua đào tạo 24%. + Bị phân hoá nhanh trong cơ chế thị trường (Về thu nhập, việc làm, tay nghề, mức sống …), CN trong các DNNN, trong KT tư nhân, liên doanh nước ngoài tăng. + Còn hàng chục vạn CN không có việc hoặc thiếu việc làm, đời sống còn gặp nhiều khó khăn. b. Phương hướng phát triển GCCN Việt Nam: - Mặc dù có những hạn chế, song không thể phủ nhận SMLS của GCCN Việt Nam. Để khắc phục những nhược điểm ấy, NQ HN lần thứ 7 BCHTW khoá VIII của Đảng - một NQ gắn trực tiếp vấn đề CNH,HĐH với vấn đề xây dựng, phát triển GCCN đã chỉ rõ phương hướng xây dựng GCCN nước ta trong giai đoạn hiện nay là: Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 13
  14. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên “Cùng với quá trình phát triển công nghiệp và công nghệ theo xu hướng CNH,HĐH đất nước, cần xâydựng GCCN phát triển về số lượng, giác ngộ về GC , vững vàng về chính trị, tư tưởng, có trình độ học vấn, tay nghề cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, vươn lên làm tròn SMLS của mình”. - Công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng. GCCN đang đi đầu trong xây dựng XH mới, nhất là trong việc xây dựng cơ sở VC-KT của CNXH nhằm thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh …” => chứng tỏ năng lực lãnh đạo của GCCN nước ta, không có lực lưọng XH nào có thể thay thế được vai trò của GCCN trong sự nghiệp lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng XH mới … Đại hội ĐBTQ lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đặc biệt chú trọng phương hướng xây dựng GCCN Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước theo định hướng XHCN. ĐH chỉ rõ: “Đối với GCCN, coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước”5. Cụ thể: + GCCN Việt Nam ở trong mọi thành phần KT gắn với SX công nghiệp, dịch vụ, đời sống XH, KH-CN nhưng để phát triển định hướng XHCN, phải đặc biệt coi trọng phát triển CN kinh tế Nhà nước để vươn lên giữ vai trò chủ đạo. + Tiến hành CNH,HĐH phải gắn liền song song với HĐH. * Nhân tố con người được đặt lên hàng đầu, vì kỹ thuật cũng do con người => Đảng ta đề ra chủ trương: GD-ĐT, KH-CN trở thành quốc sách hàng đầu. * Chuyển dịch cơ cấu KT, chuyển giao KH-CN hiện đại hiệu quả => Từ đó quy hoạch ĐT, ĐT lại CN kỹ thuật các loại (Trung tâm lớn). * Tạo việc làm, tăng thu nhập cho CN kỹ thuật đã ĐT, CN bậc cao vào các DNNN (Sau 2 chính sách 176 và 217 ta mất 70 vạn CN kỹ thuật). * Đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt quan hệ giữa giám đốc - đảng uỷ - công đoàn để GD, tuyên truyền, giác ngộ vê lập trường, tư tưởng chính trị của XHCN, giác 5 ĐCS VN, VK ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb CTQG, HN 2006, Trmộtmột8. Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 14
  15. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên ngộ GC; Tổ chức, bênh vực lợi ích chính đáng của CN (Ví dụ); rèn luyện GCCN về mọi mặt như: kỷ luật lao động, tay nghề, văn hoá, chuyên môn … CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA I. CÁCH MẠNG XHCN VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA NÓ Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 15
  16. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 1. Quan niệm về CM XHCN: (SV TỰ NGHIÊN CỨU) - Quan niệm chung: CM XHCN là một cuộc CM nhằm thay thế chế độ cũ, chế độ TBCN, bằng chế độ XHCN, trong cuộc CM đó, GCCN là người lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân lao động khác xây dựng một XH công bằng, dân chủ văn minh. - Theo nghĩa hẹp: Được hiểu là một cuộc CM chính trị được kết thúc bằng việc GCCN cùng với NDLĐ giành được chính quyền, thiết lập nên Nhà nước chuyên chính vô sản - Nhà nước của GCCN và quần chúng nhân dân lao động. - Theo nghĩa rộng: Là quá trình cải biến CM toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống XH từ kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, … để xây dựng thành công chế độ CNXH và cuối cùng là CNCS. Như vậy, theo nghĩa rộng, cuộc CM XHCN bao gồm cả việc giành chính quyền về tay GCCN, NDLĐ tiến hành cải tạo XH cũ, xây dựng XH mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống XH, tới khi xây dựng thành công CNXH thì cuộc CM này mới kết thúc. 2, Nguyên nhân của CM XHCN (SV TỰ NGHIÊN CỨU) a, Quan điểm của CN Mác - Lênin về nguyên nhân của các cuộc CMXH: - Nguyên nhân sâu xa của các cuộc CMXH Là do sự phát triển của LLSX. Theo quy luật chung của sự phát triển XH, khi LLSX không ngừng phát triển sẽ dẫn tới mâu thuẫn với QHSX đã lỗi thời, kìm hãm nó. Vì vậy tất yếu phải thay QHSX đã lỗi thời bằng một QHSX mới tiên tiến hơn. - Nguyên nhân của CMXH dưới CNTB: LLSX phát triển dẫn tới mâu thuẫn giữa LLSX mang tính chất XH hoá cao >< QHSX mang tính chất tư nhân TBCN về TLSX. + Biểu hiện mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế: Là tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng doanh nghiệp ngày càng tăng với tính vô tổ chức của của SX toàn XH do tính cạnh tranh của nền SX hàng hoá TBCN gây ra. + Biểu hiện trong lĩnh vực XH: mâu thuẫn giữa GCCN >< GCTS và giới chủ TB. Biện pháp khắc phục của GCTS: Nhà nước TS ngày càng can thiệp sâu vào kinh tế bằng việc quốc hữu hoá một số ngành, thực hiện các chính sách phúc lợi XH, thực hiện việc bán một phần nhỏ cổ phiếu cho GCCN… Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 16
  17. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Điều kiện để CMXHCN nổ ra: GCCN phải nhận thức được SMLS của mình, thực hiện việc tuyên truyền, vận động nhân dân lật đổ chính quyền Nhà nước của GCTS để giành lấy chính quyền. 3, Những điều kiện của CMXHCN a, Điều kiện khách quan của CMXNCH - Sự phát triển của nền SX lớn TBCN gắn với sự phát triển của LLSX dẫn đến mâu thuẫn giữa GCTS và GCCN ngày càng gay gắt. Phân tích: Dưới chế độ TBCN, nền SX ngày càng phát triển, những thành phố lớn, những khu công nghiệp tập trung hình thành ngày càng nhiều. Cùng với nó, quy luật cạnh tranh theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”, càng đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, hình thành những khu công nghiệp, những tập đoàn TB ngày càng lớn. Sự phát triển của LLSX đã tạo ra một đội ngũ công nhân ngày càng đông về số lượng, ngày càng nâng cao về chất lượng. - Mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa các nước tư bản với các nước thuộc địa - hậu quả là các cuộc chiến tranh xâm lược của CNTB. - Hậu quả của những cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới do CNTB gây ra đưa đến tình trạng đói nghèo trong các nước ngày càng lớn. Tóm lại: Những quá trình đó đưa đến sự chín muồi của cách mạng làm xuất hiện tình thế cách mạng và cách mạng có thể nổ ra. b, Điều kiện chủ quan của CMXNCN là sự lớn mạnh của GCCN gắn liền với sự ra đời của ĐCS - Điều kiện chủ quan có ý nghĩa quyết định nhất là sự trưởng thành của GCCN, đặc biệt là khi nó có Đảng tiên phong của mình. + GCCN là LLSX quan trọng nhất dưới CNTB, nhưng lại không có TLSX vì vậy phải bán SLĐ để kiếm sống. + Những cuộc đấu tranh của GCCN chống lại GCTS đã nổ ra từ khi CNTB ra đời. Nhưng chỉ khi nào GCCN nhận thức được rằng, chỉ có xoá bỏ chế độ nô lệ làm thuê, giải Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 17
  18. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên phóng GC mình và giải phóng toàn XH bằng một cuộc CM thắng lợi triệt để họ mới được giải phóng thật sự. - GCCN phải nhận thức được SMLS của mình, của việc thực hiện xoá bỏ trật tự của chế độ TBCN, thiết lập nên chế độ XHCN; tức là phải nhận thức được “Việc giải phóng GCCN phải là sự nghiệp của bản thân GCCN”. + Trong chế độ TBCN, không chỉ có GCCN bị áp bức bóc lột mà cả những GC, tầng lớp nhân dân lao động khác cũng bị bóc lột. Điều đó đã tạo ra những điều kiện cho GCCN có khả năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động khác vào cuộc đấu tranh chống GCTS. + Thực tế cuộc đấu tranh thử thách GCCN, với sự soi sáng lý luận của CN Mác – Lênin, giúp GCCN nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng cho mình một chính Đảng thật sự CM, có khả năng tập hợp quần chúng nhân dân lao động, thực hiện việc giác ngộ quần chúng nhân dân, huy động họ đi vào cuộc đấu tranh, tổ chức cuộc đấu tranh, thì GCCN mới thực hiện được SMLS của mình là xoá bỏ CNTB, xây dựng được một chế độ XH mới. - Đảng CM của GCCN phải rèn luyện GCCN có bản lĩnh chính trị, phải tự gột rửa những ảnh hưởng tư tưởng TS, PK, khắc phục tính vị kỷ cá nhân, tư tưởng cục bộ, địa phương, bản vị mới có khả năng tập hợp quần chúng nhân dân, có khả năng đập tan những âm mưu thâm độc và sự chống phá quyết liệt của kẻ thù. 4, Tiến trình của CMXHCN Cách mạng XHCN là một tiến trình gồm 2 giai đoạn: - Giai đoạn thứ nhất + Đặc điểm: Là giai đoạn GCVS tự xây dựng thành GC thống trị, là giai đoạn giành lấy DC. Lênin đã chỉ rõ: giành chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc CM. Đập tan Nhà nước của GCTS, thiết lập chính quyền của GCCN và nhân dân lao động trở thành mục tiêu trực tiếp của lực lượng CM dưới sự lãnh đạo của GCCN. Muốn thực hiện điều đó cần phải có tình thế CM. - Tình thế CM xuất hiện khi mà GC thống trị không thể thống trị như trước được nữa, những người bị áp bức không thể tiếp tục cuộc sống như trước, GC lãnh đạo CM đã đủ năng Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 18
  19. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên lực lãnh đạo, phát động được cuộc đấu tranh CM của GC những người lao động chống lại GCTS. - Thời cơ CM: để CM nổ ra và thắng lợi phải có thời cơ CM. + Ở bên trong mỗi nước: thời cơ CM là lúc GC thống trị tỏ ra hoang mang cực độ xâu xé lẫn nhau do sự lớn mạnh của phong trào CM, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động. Lực lượng lãnh đạo CM đã sẵn sàng hành động cho cuộc quyết chiến để giành chính quyền. + Ở bên ngoài: Là phong trào đáu tranh của GCCN quốc tế ủng hộ CM, kiên quyết đứng lên đấu tranh chống lại những âm mưu xâm lược, can thiệp của những lực lượng TB, lực lượng ĐQ hiếu chiến, tạo điều kiện cho CM bùng nổ và giành thắng lợi. - Điều kiện cho CMXHCN giành thắng lợi - bạo lực CM: Với bản chất hiếu chiến, những thế lực TB ĐQCN sẵn sàng sử dụng bạo lực phản CM để đàn áp phong trào CM của quần chúng nhân dân lao động, do vậy, trong hoàn cảnh đó, cuộc CMXHCN chỉ có thể giành được thắng lợi, giành được chính quyền “bằng cách dùng bạo lực lật đổ GCTS”. + Bản chất của bạo lực CM: Bạo lực CM được hiểu dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang kết hợp với bãi công chính trị của quần chúng. Bạo lực CM cũng có thể được tiến hành bằng cuộc đấu tranh chính trị một cách hoà bình của quần chúng nhân dân lao động, những lực lượng CM, đi đầu là GCCN dưới sự lãnh đạo của ĐCS. Con đường đấu tranh hoà bình đó phát triển đến mức đủ máp lực buộc GCTS phải giao chính quyền nhà nước cho GCCN và nhân dân lao động. Phương pháp đấu tranh này đỡ đổ xương máu, đỡ gây tổn thất cho quần chúng nhân dân lao động, rất quí và hiếm. Thực tế cho tới nay, chưa có nước XHCN nào giành được chính quyền bằng con đường trên. Tuy nhiên, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn dự báo khẳng trên và cho rằng, chỉ khi tương quan so sánh lực lượng hoàn toàn có lợi cho phía CM, thì khả năng trên mới có thể xảy ra. * Giai đoạn thứ hai: - Đặc điểm: Là giai đoạn GCCN đã nắm được chính quyền, sử dụng chính quyền đó, dưới sự lãnh đạo của ĐCS, tập hợp các tầng lớp nhân dân lao động, thực hiện cải tạo Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 19
  20. Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên XH cũ, tổ chức xây dựng XH mới về mọi mặt như: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội… - Yêu cầu của giai đoạn 2: Đòi hỏi GCCN và quần chúng nhân dân lao động phải biết xoá bỏ những gì là bảo thủ, lạc hậu, phản nhân văn; đồng thời phải biết tiếp thu những gì là tiến bộ, nhân văn mà nhân loại đã tạo ra; đồng thời phải biết quí trọng, kế thừa những gía trị truyền thống của dân tộc mình. - Tính chất của giai đoạn 2: Quá trình tổ chức xây dựng XH mới là một nhiệm vụ rất mới mẻ, do đó rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Một mặt cần phải khắc phục những tàn dư, những thói quen, tập tục lạc hậu đã ăn sâu vào trong hàng triệu quần chúng nhân dân lao động, mặt khác phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại những âm mưu phá hoại vừa thâm độc, vừa nham hiểm của những thế lực phản động, hiếu chiến. II. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ ĐỘNG LỰC CỦA CMXHCN: (GV GIẢNG) 1, Mục tiêu của CMXHCN So sánh mục tiêu của CM DCTS và mục tiêu của CM XNCH, CM DCTS với khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái đã tập hợp quần chúng nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh lật đổ GC quí tộc, PK. Nhưng khi GCTS giành được chính quyền, thì mọi quyền tự do, DC của quần chúng nhân dân lao động không dược tôn trọng. Tự do trong chế độ TBCN là tự do bán sức lao động của người công nhân; tự do bóc lột của nước giàu đối với nước nghèo, tự do thống trị của nước lớn đối với nước nhỏ… - Mục tiêu của CMXHCN: Giải phóng con người, giải phóng XH là mục tiêu của GCCN, của CMXHCN, có thể nói CNXH mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. CNXH không chỉ dừng lại ở ý thức, ở khẩu hiệu giải phóng con người, mà từng bước thực hiện việc giải phóng con người tạo nên một thể liên hiệp “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. + Mục tiêu thứ nhất của CMXHCN: Là giành chính quyền về tay GCCN và nhân dân lao động. + Mục tiêu thứ hai của CMXHCN: “Là xoá bỏ chế độ người bóc lột người … nhằm đưa lại đời sống ấm no cho toàn dân”. Giảng viên: Tường Mạnh Dũng Năm học 2009 - 2010 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản