TÀI LIỆU THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Chia sẻ: 3704123456

Để đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn, điều quan trọng là phải biết được khách hàng thuộc loại hình doanh nghiệp nào, thành phần kinh tế nào, và những luật nào sẽ điều chỉnh việc thành lập cũng như hoạt động của khách hàng. Do đó, cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối chiếu với những văn bản pháp qui (luật, nghị định, thông tư, quyết định, và các văn bản dưới luật khác) điều chỉnh từng loại hình doanh nghiệp, để từ đó đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: TÀI LIỆU THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

TÀI LIỆU THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 1/ 88
TÀI LIỆU THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

PHẦN I. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC KHÁCH HÀNG VAY VỐN
I.1. Đánh giá khách hàng vay vốn.
1. Năng lực pháp lý.
Để đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn, điều quan trọng là phải
biết được khách hàng thuộc loại hình doanh nghiệp nào, thành phần kinh tế nào, và
những luật nào sẽ điều chỉnh việc thành lập cũng như hoạt động của khách hàng. Do
đó, cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối chiếu với những văn bản pháp qui
(luật, nghị định, thông tư, quyết định, và các văn bản dưới luật khác) điều chỉnh từng
loại hình doanh nghiệp, để từ đó đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn.
Đến thời điểm hiện nay, phạm vi điều chỉnh của một số bộ luật liên quan tới hoạt
động của các loại hình doanh nghiệp được tóm tắt như sau:
- Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp : Công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân; doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị xã hội khi được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn
một hoặc hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần;
- Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp nhà nước : Công ty nhà
nước; đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước tổ chức dưới hình thức
công ty cổ phần nhà nước, công ty TNHH nhà nước một hoặc hai thành
viên trở lên, Luật DNNN chỉ quy định về thẩm quyền của chủ sở hữu nhà
nước trong việc quyết định thành lập mới, tổ chức lại, giải thể và chuyển
đổi sở hữu các doanh nghiệp này với tư cách là chủ sở hữu và quy định về
quan hệ giữa chủ sở hữu nhà nước với người được uỷ quyền đại diện
phần vốn góp của nhà nước và công ty nhà nước. Việc tổ chức quản lý
hoạt động và thực hiện các thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức
lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu được thực hiện theo quy định của Luật
doanh nghiệp;
- Phạm vi điều chỉnh Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, và hợp đồng hợp tác
kinh doanh có bên nước ngoài tham gia;
2. Một số điểm cần lưu ý khi xem xét, đánh giá năng lực pháp lý của khách
hàng.
Sự mở rộng của khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước: Nhằm tạo tiền đề và
tiến tới hình thành một khung pháp lý thống nhất, bình đẳng giữa các loại hình doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 đã mở
rộng khái niệm doanh nghiệp nhà nước hơn so với Bộ luật DNNN ban hành năm
1995, theo đó có 3 loại doanh nghiệp nhà nước, cụ thể như sau:

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 2/ 88
(1) DNNN có 100% vốn nhà nước, hoạt động theo Luật DNNN mới (năm
-
2005) được gọi là Công ty nhà nước (để phân biệt với DNNN có 100% vốn
nhà nước nhưng hoạt động theo các luật khác);
(2) Công ty cổ phần, công ty TNHH một hoặc hai thành viên trở lên có
-
100% vốn Nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; và
(3) Công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên có cổ phần chi
-
phối hoặc vốn góp chi phối của nhà nước, hoạt động theo Luật doanh
nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Chính vì có sự mở rộng khái niệm DNNN, nên nếu dùng chung một khái niệm
DNNN thì dễ lẫn lộn giữa 3 loại DNNN nói trên, do vậy khi đánh giá năng lực pháp
lý của DNNN, cần phải nẵm vững được DNNN đó thuộc loại hình gì . Mặc dù khái
niệm DNNN bao gồm cả 3 loại doanh nghiệp nêu trên, nhưng các công ty cổ phần,
công ty TNHH (dù có 100% vốn nhà nước hay vốn nhà nước chi phối), vẫn hoạt
động theo Luật doanh nghiệp hoặc Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, từ việc
thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đối ở hữu, tổ chức quản lý và hoạt động của
các công ty này. Về loại hình DNNN thứ (2) và thứ (3) trên đây, Luật DNNN mới
không can thiệp, không qui định chồng chéo với Luật Doanh nghiệp hoặc Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam, mà chỉ điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ sở hữu nhà
nước với người đại diện vốn nhà nước tại các công ty cổ phần, công ty TNHH, mà
mối quan hệ này chưa được điều chỉnh ở các luật đó.
Đối với khách hàng là doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc , trách nhiệm trả nợ
chính và cuối cùng vẫn là pháp nhân có đơn vị hạch toán phụ thuộc đó , nên mọi giao
dịch với ngân hàng: Mục đích vay vốn, mức vốn được phép vay, thời gian vay vốn,
thời gian hoàn trả nợ vay, các hình thức bảo đảm tiền vay, ... đều phải được pháp
nhân của đơn vị hạch toán phụ thuộc đó có ý kiến chính thức bằng văn bản.
Đối với công ty TNHH: Điều 42 Luật doanh nghiệp - Các hợp đồng phải
được hội đồng thành viên chấp thuận qui định rõ: Nếu hợp đồng được ký mà chưa
được Hội đồng thành viên chấp thuận trước (chậm nhất là 15 ngày trước khi ký), thì
hợp đồng đó vô hiệu và được xử lý theo qui định của luật pháp. Do đó, để tránh rơi
vào trường hợp hợp đồng vô hiệu, các hợp đồng kinh tế, dân sự, ... trong đó có quan
hệ với ngân hàng như nội dung trong giấy đề nghị vay vốn do Giám đốc công ty ký
(mức vốn đề nghị vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn vay trả, các hình th ức
bảo đảm tiền vay, ...) đều phải được Hội đồng thành viên chấp thuận trước bằng
văn bản.
Khách hàng là công ty cổ phần: Hội đồng quản trị là cấp quyết định các nội
dung như: Chiến lược phát triển của công ty, phương án đầu tư, bổ nhiệm và miễn
nhiệm các chức danh giám đốc (tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác
của công ty.
Khách hàng là tư nhân: Cần kiểm tra một số nội dung chính như năng lực hành
vi dân sự theo quy định của Bộ Luật dân sự, hộ khẩu thường trú, chứng minh thư,
tuổi, địa chỉ cư trú, ...
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 3/ 88
Tất cả những lưu ý nêu trên để giúp cán bộ ngân hàng trong quá trình đánh giá
năng lực pháp lý khách hàng.
Về yêu cầu đánh giá, kết thúc nội dung này, cán bộ ngân hàng phải nêu rõ và
đánh giá được:
Tên khách hàng vay vốn;
-
Quyết định thành lập, cấp ra quyết định thành lập, ngành nghề lĩnh vực
-
hoạt động. Ngành nghề lĩnh vực hoạt động hiện tại có phù hợp với lĩnh
vực của dự án đầu tư mà khách hàng đặt vấn đề vay vốn tại ngân hàng hay
không?;
Người đại diện theo pháp luật của công ty;
-
Chế độ hạch toán: Độc lập hay phụ thuộc.
-
Từ đó kết luận: Khách hàng có đủ tư cách pháp nhân để xác lập mối quan hệ
tín dụng với ngân hàng hay không? Trường hợp chưa đủ thì cần bổ sung những văn
bản pháp lý gì.

3. Phân tích tình hình sxkd, năng lực tài chính.
3.1. Khung phân tích.
Mục tiêu: Báo cáo tài chính doanh nghiệp là tài liệu được nhiều bên quan tâm,
gồm: bản thân khách hàng, các nhà cung cấp nguyên vật liệu, các tổ chức tín dụng,
các công ty kiểm toán độc lập, và các nhà đầu tư. Đối với các tổ chức tín dụng, thực
hiện nội dung này nhằm mục tiêu:
Giúp am hiểu được thực trạng và tình hình tài chính của khách hàng, xác
-
định xem hoạt động sxkd của khách hàng đang diễn ra như thế nào? Tăng
trưởng/suy giảm, ổn định/không ổn định, thuận lợi/khó khăn; đưa ra nhận
định dự báo trong tương lai về tình hình hoạt động sxkd của khách hàng;
Trên cơ sở đó, đánh giá khả năng thu nhập bằng tiền và khả năng trả nợ
-
lâu dài cũng như khả năng tham gia vào các phương án sxkd mới . Từ đó, tổ
chức tín dụng có thể ra quyết định đúng đắn và kịp thời khi cung cấp
cáấngnr phẩm ngân hàng phục vụ hoạt động sxkd của doanh nghiệp.
Để đạt được mục tiêu phân tích đánh giá nêu trên, cần phải dựa vào các tài
liệu do khách hàng cung cấp: Báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo lỗ lãi,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính), báo cáo kiểm toán (nếu
có), các bảng kê chi tiết số liệu của một số tài khoản . Ngoài ra, số liệu mà cán bộ
ngân hàng trực tiếp kiểm tra và thu thập được tại doanh nghiệp cũng rất quan trọng.
Thông thường, có 5 bộ công cụ/5 phương pháp để thực hiện phân tích báo cáo
tài chính doanh nghiệp, cụ thể gồm:
- Phân tích so sánh (Comparative financial statement Analysis);
Phân tích cơ cấu (Common-size Analysis);
-
Phân tích chỉ số (Ratio analysis);
-
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 4/ 88
Phân tích dòng tiền (Cash Flow Analysis); và
-
Phân tích qua phương pháp định giá (Valuation).
-
Dưới đây sẽ đề cập tới những nội dung cụ thể của 5 công cụ/phương pháp nêu trên
thường được dùng để phân tích một báo cáo tài chính doanh nghiệp.
Phân tích so sánh (Comparative financial analysis): Sử dụng báo cáo tài chính của
a.
nhiều năm liên tiếp để so sánh sự thay đổi của các tài khoản, của các chỉ tiêu,
qua đó đánh giá được khuynh hướng/xu hướng của khách hàng qua các năm .
Chính vì vậy, phương pháp này có hai kỹ thuật cơ bản, là: Phân tích sự thay đổi
năm này qua năm khác (Year - to - Year Analysis) và phân tích xu hướng các chỉ
số (Index-Number Trend Analysis). Phân tích sự thay đổi qua các năm thường
được thực hiện trong thời gian 2 đến 3 năm, cho biết sự thay đổi cả về số tuyệt
đối và số tương đối của các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính qua các năm. Phân
tích xu hướng thường được sử dụng nhiều trong phân tích dài hạn, trên 3 năm;
phương pháp phân tích này cho biết chiều hướng, tốc độ và sự thay đổi của xu
hướng so với năm gốc nào đó. Vì vậy, phương pháp phân tích này đòi hỏi ph ải
lựa chọn được một năm làm năm gốc, số liệu các năm sau được so sánh đánh
giá trên cơ sở số liệu năm được lựa chọn làm năm gốc. Bên cạnh việc so sánh,
đánh giá biến động và chỉ ra xu hướng biến động của cùng một chỉ tiêu qua các
năm, còn có thể so sánh xu hướng biến động của các khoản mục/chỉ tiêu có liên
quan. Chẳng hạn, các khoản phải thu tăng 15%, trong khi đó doanh số bán chỉ
tăng 5% hoặc doanh số bán tăng 10% nhưng chi phí vận chuyển lại tăng 20%.
Trong cả hai trường hợp này, cán bộ ngân hàng phải tiếp tục tìm hiểu nguyên
nhân phía sau của sự khác biệt giữa các chỉ tiêu có liên quan này. Với đặc điểm
phân tích sự thay đổi năm này quan năm khác của từng khoản mục, phương
pháp phân tích này, trong nhiều trường hợp, còn được gọi là Phân tích theo
chiều ngang (Horizantal Analysis).
Phân tích cơ cấu (Common-size Analysis): Tính toán được tỷ trọng của các
b.
khoản mục/tài khoản chi tiết trong việc hình thành nên những khoản mục chính
của báo cáo tài chính cũng rất hữu ích trong phân tích tài chính doanh nghi ệp.
Chẳng hạn, khi phân tích bảng cân đối kế toán, thông thường giá trị tuyệt đối
của tổng tài sản (hay tổng nguồn vốn) được chuyển qua và tính bằng giá trị
tương đối là 100%, sau đó các tài khoản thuộc nhóm tài sản (hay nguồn vốn) sẽ
được tính toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng so với giá trị của tổng tài sản
(hay nguồn vốn). Trong phân tích báo cáo thu nhập, doanh số bán/doanh thu
thường được chuyển đổi thành số tương đối 100%, các số liệu còn lại trong
báo cáo thu nhập (giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động, ...) được biểu diễn dưới
dạng phần trăm của doanh thu; như vậy, tổng các khoản mục trong báo cáo thu
nhập sẽ là 100%. Phương pháp phân tích này, trong nhiều trường hợp, còn được
gọi là Phân tích theo chiều dọc (Vertical Analysis).
Phân tích chỉ số (Ratio Analysis): Đây là một trong những phương pháp phổ
c.
biến và được sử dụng khá rộng rãi trong phân tích tài chính. Tuy nhiên, việc tính
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 5/ 88
toán các chỉ số đơn thuần chỉ là thao tác tính toán về số học, hiểu được ý nghĩa
của từng chỉ số sau khi tính toán ra mới là điều quan trọng. Để hiểu được ý
nghĩa một cách đầy đủ, ý nghĩa kinh tế và mối tương quan giữa các chỉ số với
nhau phải được đề cập tới một cách đầy đủ. Chẳng hạn, có một sự quan hệ
trực tiếp và quan trọng giữa giá bán và chi phí, theo đó chỉ số giá vốn hàng bán
trên doanh thu là rất quan trọng. Ngược lại, không có mối quan hệ rõ ràng giữa
chi phí vận chuyển và chứng khoán khả mại. Phương pháp phân tích chỉ số, có
hai nội dung quan trọng cần được chú ý, đó là: (1) Những nhân tố ảnh hưởng
tới các chỉ số, ngoài những hoạt động bên trong sẽ ảnh hưởng tới các chỉ số tài
chính của công ty, cán bộ phân tích phải chú ý tới các sự kiện kinh tế, các y ếu
tố ngành, chính sách quản lý, và phương pháp hạch toán . Ví dụ, khi hàng tồn
kho được hạch toán theo phương pháp LIFO và giá đầu vào tăng lên, chỉ số khả
năng thanh toán hiện thời sẽ bị đánh giá thấp vì LIFO đã đánh giá thấp giá tr ị
hàng tồn kho; và (2) Khả năng phân tích và hiểu được ý nghĩa các chỉ số. Các chỉ
số phải được hiểu một cách cẩn trọng bởi vì một chỉ số thường được xác định
qua một phân số gồm có tử số và mẫu số, những yếu tố ảnh hưởng tới tử số có
thể có tương quan với các yếu tố khác ảnh hưởng tới mẫu số. Chẳng hạn, một
công ty có thể cải thiện được chỉ tiêu chi phí hoạt động trên doanh thu bằng
cách giảm những chi phí khuyến khích bán hàng (ví dụ như chi phí nghiên cứu
và phát triển R & D). Tuy nhiên, cắt giảm những loại chi phí này sẽ dẫn tới
việc giảm doanh số trong dài hạn hoặc thị phần. Vậy, có vẻ như việc cải thiện
được chỉ tiêu về khả năng sinh lời trong ngắn hạn lại có thể dẫn tới ảnh
hưởng đến triển vọng của công ty trong tương lai. Trong hệ thống các chỉ số
đánh giá tài chính doanh nghiệp, nhiều chỉ số có sự thay đổi quan trọng tương
tự như các chỉ số khác. Do vậy, không nhất thiết phải tính toán tất cả các chỉ số
có thể tính toán được để phân tích cùng một vấn đề. Các chỉ số, cũng như nhiều
kỹ thuật phân tích tài chính khác, không thể thích ứng một cách độc lập; thay
vào đó, sẽ là có ý nghĩa hơn nếu chúng được so sánh với: (a) chỉ s ố c ủa nh ững
thời đoạn trước đó, (b) những tiêu chuẩn định trước, và (c) chỉ số của các đối
thủ cạnh tranh. Cuối cùng, sự thay đổi của một chỉ số qua thời gian cũng tương
tự quan trọng như xu hướng của chúng. Có 6 nhóm chỉ tiêu chính trong phân
tích tài chính doanh nghiệp, cụ thể là:
Các chỉ tiêu về thanh khoản (Liquidity ratios): Đánh giá khả năng thanh
-
toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn;
Các chỉ tiêu về cấu trúc vốn và đòn bẩy tài chính (Capital structure and
-
financial leverage ratios): Đo lường cơ cấu nợ so với vốn chủ sở hữu và
tổng qui mô nguồn vốn hoạt động;
Tỷ số trang trải lãi vay (Coverage ratios): Đo lường khả năng của khách
-
hàng trong việc trả lãi vay đến hạn;
Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động (Operating performance): Đánh giá
-
hiệu quả sử dụng tài sản của khách hàng;

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 6/ 88
Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi (Profitability ratios): Đo lường
-
mối quan hệ giữa lợi nhuận so với doanh thu, hoặc giá trị đầu tư;
Các chỉ số về tăng trưởng (Growth ratios): Đo lường mức độ, xu hướng
-
thay đổi của các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, mục tiêu phân tích, và tình hình th ực t ế c ủa
khách hàng để xác định nhóm chỉ tiêu cũng như những chỉ tiêu cụ thể cần tập trung
tính toán và phân tích. Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài
chính doanh nghiệp theo, phân chia theo 6 nhóm chỉ tiêu đã nêu trên



Đơn vị
Chỉ số Công thức tính
TT
Khả năng thanh khoản
I
Khả năng thanh toán Tµi s¶n l-u ®éng
CR = Lần
1
hiện thời (Current ratio) Nî ng¾n h¹n
Khả năng thanh toán Tµi s¶n l-u ®éng- Hµngtån kho
QR = Lần
2
nhanh (Quick Ratio) Nî ng¾n h¹n
Cấu trúc vốn và đòn
II
bẩy tài chính
Tỷ số nợ so với vốn Tæng nî
Tû sè nî so víi vèn = Lần
3
(Total Debt to Equity) Vèn chñsë h ÷ u
Tỷ số nợ dài hạn so với Tæng î dµi h¹n
n
Tû sè nî dµi h¹n so víi vèn =
vốn (Long-term debt to Lần
4 Vèn chñsë h ÷ u
Equity)
Tỷ số nợ so với tổng tài Tængnî
Tû sè nî so víi TTS= Lần
5 sản (Debt to Total Assets) Tængµi s¶n
t
Tỷ số trang trải lãi vay EBIT
Tû sè trangtr¶ i l·i vay = Lần
6
(Coverage ratios) Chi phÝ·i vay
l
Nhóm chỉ số đánh giá
IV
hiệu quả hoạt động
Vòng quay khoản phải Doanhthu b¸n chÞußngtrong n¨m
r
RT =
7 Vòng/n
thu (Receivable turnover) GTTBc¸c kho¶n ph¶i thu
Kỳ thu tiền bình quân Sèngµytrong n¨m
ACP =
8 Ngày
(ACP) Vßngquaykho¶n ph¶i thu
Vòng quay khoản phải Doanhsè muachÞu µngn¨m
h
PT =
9 Vòng/n
trả (Payable Turnover) GTTB kho¶n ph¶i tr¶
Kỳ trả tiền bình quân Sèngµytrong n¨m
APP =
10 Ngày
(APP) Vßngquaykho¶n ph¶i tr¶
Vòng quay hàng tồn kho Gi¸ vèn hµngb¸n
IT =
11 Vòng/n
(Inventory turnover) GTTBhµngtån kho

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 7/ 88
Thời gian thực hiện 1 Sèngµytrong n¨m
DSI =
12 Ngày
vòng quay hàng T/kho Vßngquayhµngtån kho
Vòng quay tổng tài sản Doanhthu
TAT = Lần
13
(TAT) GTTBTængµi s¶n
t
Vòng quay vốn lưu động Doanhthu
WCT =
14 Vòng/n
(WCT) Vèn l-u ®éng b ×nh qu©n
Nhóm chỉ số về khả
V
năng sinh lợi
LãI gộp so với doanh thu Doanhthu rßng- Gi¸ vèn hµngb¸n
GPM =
15 %
(Gross profit margin) Doanhthu rßng
LãI ròng so với doanh Lîi nhuËnrßng
NPM =
16 %
thu (Net profit margin) Doanhthu rßng
Tỷ suất sinh lời tổng tài Lîi nhuËnrßng
ROA =
17 %
sản (ROA) GTTBtængµi s¶n
t
Tỷ suất sinh lời vốn chủ Lîi nhuËnrßng
ROE =
18 %
sở hữu (ROE) Vèn chñsë h ÷ u b ×nh qu©n


Riêng đối với khách hàng là những công ty cổ phần, đặc biệt là những công ty cổ
phần đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, bên cạnh những chỉ tiêu nêu
trên, có thêm một nhóm chỉ tiêu đặc thù đối với loại doanh nghiệp này, gồm:
(EBIT - I) * (1- t) - PD
Lợi nhuận trên cổ phần (Earnings per share): EPS=
- ,
NS
trong đó: I - lãi suất vay vốn hàng năm phải trả; t - thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp; PD - cổ tức hàng năm phải trả cho cổ phiếu ưu đãi; NS - số
lượng cổ phiếu thường đang lưu hành trên thị trường;
Thị giá so với lợi nhuận trên cổ phần (Price - to - Earnings), được xác định
-
ThÞ i¸ cæ hiÕu
g p
theo công thức: Price- to - Earnings ;
=
EPS
ThÞ i¸ cæphiÕu
g
Thị giá so với giá trị sổ sách Price- to - book =
- ;
Gi¸ trÞsæ ¸ch cñacæ hiÕu
s p
Cæøcthùc tÕ® nhËn®-îc
t ·
Tỷ lệ chi trả cổ tức Divident Payout rat =
- ;
e
EPS
Cæøc thùctÕnhËn®-îc
t
Tỷ suất lợi tức cổ phần Divident yield =
- ;
ThÞ i¸ cæ hiÕu
g p

Phân tích dòng tiền (Cash Flow Analysis): Chủ yếu được sử dụng để đánh giá
d.
nguồn và việc sử dụng nguồn vốn tài trợ, được thực hiện chủ yếu dựa vào báo
cáo lưu chuyển tiền tệ. Kết hợp với báo cáo lỗ lãi, bảng cân đối kế toán đ ể
phân tích chi tiết hơn tình hình doanh nghiệp. Vậy, tại sao cần phải phân tích
báo cáo lưu chuyển tiền tệ? Bảng cân đối kế toán thể hiện bức tranh tài chính
tại một thời điểm, báo cáo thu nhập và báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 8/ 88
hiệu quả kinh doanh qua một thời kỳ. Báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán
thường được lập theo nguyên lý kế toán thực tế phát sinh (accrual accounting),
do đó doanh thu và chi phí được phản ánh trong báo cáo thu nhập không tương
ứng với số tiền mà doanh nghiệp thực sự thu vào được và phải thực chi ra trong
kỳ. Việc khác nhau này do hai nguyên nhân chính:
Sự khác nhau giữa lợi nhuận ròng và ngân lưu ròng hoạt động kinh doanh:
-
Báo cáo thu nhập và Bảng cân đối kế toán thường được lập theo nguyên
tắc kế toán theo thực tế phát sinh. Kế toán theo thực tế phát sinh thường
ghi nhận doanh thu khi công ty bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ, chi phí
đã sử dụng để giúp tạo ra doanh thu mà công ty ghi nhận. Do đó, thời điểm
ghi nhận doanh thu không luôn luôn tương ứng với thời điểm thu tiền từ
khách hàng. Tương tự, thời điểm ghi nhận chi phí không nhất thiết là lúc
thực tế thanh toán cho người cung cấp, lương nhân viên hoặc những chủ
nợ khác. Nguyên tắc kế toán này tập trung ghi nhận việc doanh nghiệp sử
dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, không quan tâm đến thực tế thu tiền và
chi tiền như thế nào. Điều này lý giải tại sao một doanh nghiệp hạch toán
vẫn có lãi, nhưng thực tế lại đang đứng trước khả năng thiếu hụt tiền mặt
và khả năng thanh khoản không đảm bảo;
Các hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính đều có thể tạo tiền và sử
-
dụng tiền: Bên cạnh hoạt động kinh doanh chính, doanh nghiệp có thể có
những nguồn thu, chi tiền không liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh
doanh chính. Ví dụ, thu do phát hành chứng khoán, chi thanh toán tiền cho
những hoạt động liên quan đến phát hành chứng khoán hoặc chi trả cổ tức.
Doanh nghiệp cũng có thể mua những thiết bị không có liên quan trực tiếp
đến các hoạt động kinh doanh trong kỳ báo cáo.
Như vậy, vai trò của báo cáo ngân lưu, khi được sử dụng trong phân tích tài
chính doanh nghiệp, có thể được tóm tắt như sau:
Giải thích sự thay đổi trong số dư tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ kinh
-
doanh. Ở Mục 2.2 dưới đây, chúng ta sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ này, số
dư tiền mặt trong bảng cân đối kế toán (TK 111) cũng chính là số dư tiền
mặt cuối kỳ (chỉ tiêu cuối cùng) trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cùng với báo cáo thu nhập, giải thích nguyên
-
nhân thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối;
Chỉ ra mối quan hệ giữa lợi nhuận và ngân lưu ròng, sự thay đổi ròng trong
-
tài sản cố định.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trình bầy dòng ngân lưu trong kỳ được phân chia
thành 3 hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
Dòng ngân lưu từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính đều đ ược l ập theo
phương pháp trực tiếp, còn dòng ngân lưu của hoạt động kinh doanh có thể được lập
theo phương pháp trực tiếp, hoặc gián tiếp, nhưng đều cho kết quả như nhau.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 9/ 88
Phương pháp trực tiếp: Bắt đầu từ tiền thu bán hàng, thu từ các khoản
-
phải thu và các nghiệp vụ kinh tế có thu chi, tiền thực tế thuộc hoạt động
kinh doanh, để đến dòng ngân lưu ròng;
Phương pháp gián tiếp: Bắt đầu từ lãi ròng - chỉ tiêu cuối cùng trong báo
-
cáo lỗ lãi, điều chỉnh các khoản thu chi không bằng tiền mặt như khấu hao,
dự phòng, chênh lệch tỷ giá, các khoản lãi lỗ từ hoạt động đầu tư và hoạt
động tài chính; điều chỉnh thay đổi của tài sản lưu động, dựa trên bảng cân
đối kế toán, để đi đến dòng ngân lưu ròng.
Cả hai phương pháp này đều có những thế mạnh riêng xuất phát từ cách tiếp
cận khác nhau. Với phương pháp trực tiếp, chỉ ra được dòng thu, dòng chi một cách
rõ ràng hơn cho các nhà đầu tư. Với phương pháp gián tiếp, chỉ ra đ ược chất l ượng
của lợi nhuận và những nguyên nhân ảnh hưởng đến dòng ngân lưu ròng từ hoạt
động kinh doanh một cách rõ ràng hơn. Như vậy, hiểu được nguyên tắc l ập báo cáo
lưu chuyển tiền tệ, mối quan hệ giữa báo cáo lưu chuyển tiền tệ với các báo cáo
khác trong báo cáo tài chính, sẽ là một công cụ hữu ích trong việc: Kiểm tra sự hợp lý
và giải thích được sự thay đổi trong một số khoản mục ở bảng cân đối kế toán (tài
sản, vốn chủ sở hữu, tiền mặt, ...); đồng thời thấy được chất lượng doanh thu, lợi
nhuận và mức độ khác biệt giữa doanh thu, lợi nhuận và dòng thực thu/thực chi c ủa
doanh nghiệp.
Phương pháp định giá (Valuation): Phương pháp này dùng để ước lượng giá tr ị
e.
thực của công ty hay cổ phiếu của công ty đang lưu hành trên thị trường.
Nguyên tắc của phương pháp này dựa trên khái niệm giá trị theo thời gian của
tiền và lý thuyết giá trị hiện tại. Về bản chất, là dùng phương pháp định giá
dòng tiền DCF (Discount Cash Flow) để đưa các khoản thu nhập kỳ vọng về
hiện tại ở một suất chiết khấu hợp lý. Do đó, có thể tiến hành đ ịnh giá: Nợ,
Vốn chủ sở hữu, trong đó định giá vốn chủ sở hữu có phần phức tạp hơn khi
các khoản thu nhập kỳ vọng trong tương lai phải ước đoán, trong khi đối với
định giá các khoản nợ thì mức trả lãi vay và gốc đã thống nhất trong hợp đồng
vay vốn chính là những khoản thu kỳ vọng trong tương lai. Ví dụ, doanh nghiệp
huy động vốn bằng công cụ trái phiếu, giá trị trái phiếu ở thời điểm t, được xác
định theo công thức sau:
I t +1 I I I F
+ t +2 2 + t +3 3 + ... + t +n n +
Bt = 1
(1 + r ) n
(1 + r ) (1 + r ) (1 + r ) (1 + r )
trong đó: It+n là lãi phải trả ở thời điểm (t+n), r là lãi suất ở thời điểm hiện tại đang
tiến hành định giá trái phiếu, F là mệnh giá trái phiếu.
Phương pháp này được giới thiệu để nhằm đảm bảo xây dựng đủ một khung phân
tích chuẩn. Tuy nhiên, khi thị trường tài chính chưa phát triển mạnh, chủ y ếu vẫn là
thị trường tiền tệ giữa vai trò chính, các doanh nghiệp không có nhiều sự lựa chọn
trong hình thức huy động vốn, việc áp dụng phương pháp này là chưa thật sự phù
hợp nên khả năng áp dụng là không nhiều.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 10/ 88
2.2. Tính toán các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp - một trường hợp cụ thể.
Để minh hoạ cho nội dung lý thuyết đã trình bầy ở Mục 2.1, trên cơ sở báo
cáo tài chính của Công ty AMC, phần này sẽ giới thiệu cách thức thực hiện phân tích
tài chính doanh nghiệp theo 4 công cụ phân tích đầu tiên: Phân tích so sánh, phân tích
cơ cấu, phân tích chỉ số và phân tích dòng tiền (Đơn vị tính trong báo cáo tài chính là
Triệu USD).
a. Phân tích so sánh, xu hướng.
Chẳng hạn thực hiện phân tích báo cáo thu nhập, trên cơ sở thu nhập 2000 và
2001, tính toán sự thay đổi (số tuyệt đối và số tương đối) của các chỉ tiêu trong báo
cáo thu nhập. Trên cơ sở thay đổi của những chỉ tiêu trong báo cáo thu nhập, sẽ cho
biết mức độ tương quan của sự thay đổi giữa các chỉ tiêu với nhau, chỉ tiêu nào thay
đổi và mức độ thay đổi ít/nhiều, chỉ tiêu nào không thay đổi. Đối với Công ty AMC,
doanh thu năm 2001 giảm so với năm 2000 là 760 triệu USD, tương đương 5,4%, giá
vốn hàng bán không giảm mà lại tăng 3,5%; trong năm này lãi gộp giảm ở mức 18,8%
lớn hơn nhiều so với mức giảm doanh thu. Hơn nữa, mặc dù doanh thu giảm, nhưng
chi phí bán hàng, chi phí hành chính, chi phí chung lại tăng 4,3%. Sự tăng lên c ủa chi
phí bán hàng và chi phí hành chính, cộng với chi phí khác, đã làm cho lợi nhuận trước
thuế và lãi giảm 84,4%. Cũng cần chú ý đến một phần của biện pháp cắt giảm chi
phí hoạt động, đó là cắt giảm chi phí nghiên cứu & phát triển (R & D) 0,6%, tuy nhiên
việc này thường ít khi được nhìn nhận là một dấu hiệu tốt cho hoạt động của công
ty trong tương lai.
Biểu 1: Phân tích so sánh Báo cáo thu nhập Công ty AMC
Thay ® i Thay ® i
æ æ
ChØtiªu 2001 2000
(triÖ USD)
u (%)
Doanh thu 13,234 13,994 (760) -5.43%
Gi¸ vèn hµng b¸n (COGS) 8,670 8,375 295 3.52%
L· i gép 4,564 5,619 (1,055) -18.78%
Chi phÝho¹t ® éng
- B¸n hµng, chi phÝhµnh chÝ ...nh, 2,781 2,665 116 4.35%
- Nghiªn cøu & ph¸t triÓ (R&D)
n 779 784 (5) -0.64%
- Chi phÝkh¸c 659 (44) 703 -
Lî i nhuËn tr­ í c thuÕvµ l· i 345 2,214 (1,869) -84.42%
- Tr¶ l· i vay 237 82 155 189.02%
Lî i nhuËn tr­ í c thuÕvµ l· i 108 2,132 (2,024) -94.93%
- ThuÕthu nhËp doanh nghiÖ p 32 725 (693) -95.59%
Lî i nhuËn sau thuÕ 76 1,407 (1,331) -94.60%

Phân tích xu hướng (Index - number Trend analysis): Lựa chọn những số liệu/chỉ tiêu
có liên quan chặt chẽ với nhau để hình thành bộ số liệu phân tích. Quá trình phân tích,
lựa chọn năm gốc, sau đó điều chỉnh số liệu của các năm còn lại theo số liệu năm
gốc, vẽ nên đường diễn biến xu hướng. Tuỳ tính chất của từng chỉ tiêu, mức độ liên
quan chặt/không chặt giữa các chỉ tiêu với nhau và thực tế đường xu hướng được vẽ
nên, để phân tích đánh giá. Chẳng hạn, trong báo cáo thu nhập của Công ty AMC, lựa
chọn chỉ tiêu doanh thu và chi phí hoạt động để phân tích, năm 1997 đ ược chọn làm
năm gốc.


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 11/ 88
Ph© tÝ xu h­ í ng (n¨ m gèc 1997)
n ch
ChØsè Doanh thu Chi phÝho¹ t ®éng

1.05

1.00
0.98
0.98
0.95
0.94
0.92
0.91
0.90
0.86
0.85

0.80
0.79
0.75
0.73
0.70
1997 1998 1999 2000 2001 2002
N¨ m ho¹ t ®éng



Đồ thị 1: Kết quả phân tích xu hướng doanh thu, chi phí.
Sơ đồ 1: Số liệu tổng hợp và mối liên hệ giữa một số chỉ tiêu trong báo
cáo tài chính Công ty AMC, được dùng để thực hiện những phân tích được trình bầy
trong Mục 2.2




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 12/ 88
B¸ o c¸ o l­ u chuyÓ tiÒ tÖ
nn
® n 31.12.2001
Õ
Dßng tiÒ h/® K/doanh
n éng 2,065
Dßng tiÒ h/® § Ç t­
n éng u (1,047)
B¶ng c©n ®èi
Dßng tiÒ h/® T/chÝ
n éng nh (808)
®Õ 31.12.2000
n B¶ng c© ®
n èi
Thay ® i tû gi¸
æ (8)
T µi s¶n ®Õ 31.12.2001
n
Thay ® i tiÒ mÆtrong kú
ænt 202
Tµi s¶n l­ u ®éng 5,500 T µi s¶n
- TiÒ n 242 Sè d­ tiÒ mÆ®u kú
n tÇ 242 Tµi s¶n l­ u ®éng 4,679
- C¸c kho¶n ph¶i thu 2,658 Sè d­ tiÒ mÆcuèi kú
nt - TiÒ n 444
444
- Hµng tån kho 1,720 - C¸c kho¶n ph¶i thu 2,338
- TSL§ kh¸c 881 - Hµng tån kho 1,136
B¸ o c¸ o lç l· i ® n 31.12.2001
Õ
Doanh thu 13,234 - TSL§ kh¸c 762
Tµi s¶n cè ® nh
Þ 8,712
- Nhµ x­ ëng, thiÕ bÞ
t 5,912 Tæ chi phÝ
ng (13,158) Tµi s¶n cè ®Þ nh 8,683
- TSC§ kh¸c 2,800 L î i nhuËn tõ SXKD 76 - Nhµ x­ ëng, thiÕ bÞ
t 5,669
Thu nhËp tõ h/® kh¸c
éng (115) - TSC§ kh¸c 3,013
T æ tµi s¶n
ng 14,212
L ç/l· i cuèi kú (39) T æ tµi s¶n
ng 13,362
Nguån vèn
Nî ng¾ h¹ n
n 6,211 B¸ o c¸ o t¨ ng gi¶m vèn CSH Nguån vèn
- C¸c kho¶n ph¶i tr¶ 3,397 ® n 31.12.2001
Õ Nî ng¾ h¹ n
n 5,358
- Vay ng¾ h¹n
n 2,203 Vèn cæ n th­ êng ®u kú
phÇ Ç 1,848 - C¸c kho¶n ph¶i tr¶ 3,274
- ThuÕph¶i nép 611 § iÒ chØ
u nh/m l¹i cæ n
ua phÇ (22) - Vay ng¾ h¹n
n 1,537
Vèn cæ n th­ êng cuèi kú 1,826
phÇ - ThuÕph¶i nép 548
Nî dµi h¹ n 4,576
- Vay dµi h¹n 1,165 Nî dµi h¹ n 5,112
- Nî dµi h¹n kh¸c 3,411 L î i nhuËn gi÷l¹i ®u kú
Ç 7,386 - Vay dµi h¹n 1,670
Trõ: Lç/l· i cuèi kú (39) - Nî dµi h¹n kh¸c 3,442
Vèn Chñ së h÷u 3,425
- Vèn cæ n th­ êng
phÇ 1,848 Trõ: Chi tr¶ cæ tøc (514) Vèn Chñ së h÷u 2,891
- L î i nhuËn gi÷l¹i 7,386 L î i nhuËn gi÷l¹i cuèi kú - Vèn cæ n th­ êng
phÇ 1,826
6,833
- Cæ phiÕ ng© quü
u n (5,808) - L î i nhuËn gi÷l¹i 6,833
Cæ phiÕ ng© quü ®u kú
u n Ç (5,808) - Cæ phiÕ ng© quü
u n (5,767)
T æ nguån vèn
ng 14,212
Ph¸t hµnh CP ng© quü
n 82 T æ nguån vèn
ng 13,362
M ua l¹i CP ng© quü
n (41)
Cæ phiÕ ng© quü cuèi kú
u n (5,767)


T hêi gian mét n¨ m
31.12.2000 31.12.2001
Qua phương pháp phân tích xu hướng với hai chỉ tiêu Doanh thu và Chi phí hoạt động
của Công ty AMC giai đoạn 1997 - 2001, cho thấy: Về xu hướng chung, doanh thu
giảm từ năm 1997 và cùng với việc chi phí hoạt động cũng giảm. Nhìn chung, từ
1997 đến 2000, diễn biến của Chi phí hoạt động khá phù hợp với những thay đ ổi
của qui mô doanh thu, thậm chí ở năm 2000, khi doanh thu gần tương đương của
doanh thu năm trước, nhưng chi phí hoạt động không tăng mà còn giảm mạnh so với
năm 1999; hai đường biểu diễn Doanh thu và Chi phí có cùng một xu hướng, hoặc
cùng tăng hoặc cùng giảm. Tuy nhiên, tình hình sang năm 2001 lại diễn biến theo
chiều hướng ngược lại, không còn sự đòng biến giữa Doanh thu và Chi phí, trong đó
so với năm 2000 doanh thu giảm nhưng chi phí lại tăng nhanh. Những biến đ ộng v ề
xu hướng của doanh thu và chi phí (xu hướng giảm), và đặc biệt là tình hình năm
2001 gợi ý cho việc tiếp tục phải phân tích những yếu tố khác liên quan tới thị phần
và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, công tác quản trị chi phí, hoạt động đầu tư, và
hoạt động tài chính của công ty AMC.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 13/ 88
b. Phân tích cơ cấu.
Kỹ thuật phân tích này rất hữu ích đối với việc so sánh, đánh giá trong nội bộ
doanh nghiệp bởi vì báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác nhau thường đ ược
viết lại và đưa về cùng một định dạng. Một điểm cần lưu ý, phân tích cơ cấu của
bảng tổng kết tài sản thường được mở rộng ra hơn đối với các tài khoản cấp d ưới
hình thành nên các nhóm chính của tài sản hoặc nguồn vốn. Chẳng hạn, đ ể đánh giá
tính thanh khoản của tài sản lưu động, điều quan trọng là phải xác định được hàng
tồn kho chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong toàn bộ giá trị tài sản lưu động, chứ không
đơn thuần chỉ là việc xác định hàng tồn kho chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng tài
sản.
Biểu 2: Phân tích cơ cấu Bảng TKTS
Kho¶n môc 2000 2001
Số liệu phân tích cho thấy, Công ty AMC đã
Tµi s¶n
thành công trong việc thu hồi công nợ, giảm các Tµi s¶n l­ u ®éng 38.7% 35.0%
khoản phải thu cũng như hàng tồn kho. Tổng - TiÒn 1.7% 3.3%
- C¸c kho¶n ph¶i thu 18.7% 17.5%
thể, tài sản lưu động đã giảm 3,7 điểm phần - Hµng tån kho 12.1% 8.5%
trăm, cùng với việc nợ ngắn hạn cũng giảm một - TSL§ kh¸c 6.2% 5.7%
Tµi s¶n cè ® nh
Þ 61.3% 65.0%
lượng tương tự. Tuy nhiên, cần lưu ý tới việc - Nhµ x­ ëng, thiÕ bÞ
t 41.6% 42.4%
tài sản lưu động nhỏ hơn nợ ngắn hạn, điều - TSC§ kh¸c 19.7% 22.6%
Tæ tµi s¶n
ng 100.0% 100.0%
này gợi ý đến việc Công ty có thể gặp phải
những vấn đề về khả năng thanh khoản. Nguån vèn
Nî ng¾ h¹ n
n 43.7% 40.1%
c. Phân tích chỉ số. - C¸c kho¶n ph¶i tr¶ 23.9% 24.5%
- Vay ng¾ h¹n
n 15.5% 11.5%
Tính toán chỉ số tài chính theo các nhóm, đối với - ThuÕph¶i nép 4.3% 4.1%
nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh khoản, một chỉ Nî dµi h¹ n 32.2% 38.3%
- Vay dµi h¹n 8.2% 12.5%
tiêu quan trọng là khả năng thanh toán hiện - Nî dµi h¹n kh¸c 24.0% 25.8%
hành. Năm 2001, khả năng thanh toán hiện thời Vèn Chñ së h÷u 24.1% 21.6%
- Vèn cæ n th­ êng
phÇ 13.0% 13.7%
của Công ty AMC là 0,87, điều này có nghĩa là
- L î i nhuËn gi÷l¹i 52.0% 51.1%
có 0,87 $ giá trị tài sản lưu động để đảm bảo - Cæ phiÕ ng© quü
u n -40.9% -43.2%
nghĩa vụ trả 1$ nợ ngắn hạn đến hạn. Tuỳ theo Tæ nguån vèn
ng 100.0% 100.0%

tính chất hoạt động và những biến động cụ thể của các khoản mục có liên quan t ới
chỉ số này để đưa ra nhận xét đánh giá phù hợp, tuy nhiên, mức được xem là thông
thường đối với chỉ số này là từ 1 trở lên. Kết quả tính toán các chỉ số năm 2001 của
Công ty AMC được tóm tắt trong Biểu dưới đây:
Biểu 3: Kết quả tính toán các chỉ số tài chính 2001 - Công ty AMC
Chỉ số Kết quả tính toán Đơn vị
TT
Khả năng thanh khoản
I
Khả năng thanh toán 4.679
CR = = 0,87 Lần
1
hiện thời (Current ratio) 5.358
Khả năng thanh toán 4.679- 1.136
QR = = 0,66 Lần
2
nhanh (Quick ratio) 5.358
Cấu trúc vốn và đòn
II
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 14/ 88
bẩy tài chính
Tỷ số nợ so với vốn 5.358+ 5.112
Tû sè nî so víi vèn = = 3,62 Lần
3
(Total Debt to Equity) 2.891
Tỷ số nợ dài hạn so với 5.112
Tû sè nî dµi h¹n so víi vèn = = 1,77
Lần
4 vốn (Long-term debt to 2.891
Equity)
Tỷ số nợ so với tổng tài 5.358+ 5.112
Tû sè nî so víi TTS = = 0,78 Lần
5
sản (Debt to Total Assets) 13.362
Tỷ số trang trải lãi vay 345
Tû sè trangtr¶ i l·i vay = = 1,45 Lần
6
(Coverage ratios) 237
Nhóm chỉ số đánh giá
IV
hiệu quả hoạt động
Vòng quay khoản phải 13.234
RT = = 5,29
7 Vòng/n
thu (Receivable turnover) (2.658+ 2.338)/2
Kỳ thu tiền bình quân 365
ACP = = 69
8 Ngày/v
(ACP) 5,29
Vòng quay khoản phải Doanhsè muachÞu µngn¨m
h
PT =
9 Vòng/n
trả (Payable Turnover) GTTB kho¶n ph¶i tr¶
Kỳ trả tiền bình quân Sèngµytrong n¨m
APP =
10 Ngày
(APP) Vßngquaykho¶n ph¶i tr¶
Vòng quay hàng tồn kho 8.670
IT = =6
11 Vòng/n
(Inventory turnover) (1.720+ 1.136)/2
Thời gian thực hiện 1 365
DSI =
= 61
12 Ngày
vòng quay hàng tồn kho 6
Vòng quay tổng tài sản 13.234
TAT = = 0,96 Lần
13
(TAT) (14.212+ 13.362)/2
Vòng quay vốn lưu động 13.234
WCT = = 2,6
14 Vòng/n
(WCT) (5.500+ 4.679) / 2
Nhóm chỉ số về khả
V
năng sinh lợi
LãI gộp so với doanh thu 13.234- 8.670
GPM = = 34,48
15 %
(Gross profit margin) 13.234
Lãi ròng so với doanh 76
NPM = = 0,57
16 %
thu (Net profit margin) 13.234
Tỷ suất sinh lời tổng tài 76
ROA = = 0,55
17 %
sản (ROA) (14.212+ 13.362)/2
Tỷ suất sinh lời vốn chủ 76
ROE = = 2,4
18 %
sở hữu (ROE) (3.425+2.891 / 2
)
Ghi chú: Chỉ tiêu số 9 và 10, do không có đầy đủ số liệu chi tiết về việc thanh toán
cho nhà cung ứng, nên không tính toán.
d. Phân tích dòng tiền.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 15/ 88
Thể hiện trên Sơ đồ 1 cho thấy, số dư tiền mặt cuối kỳ (chỉ tiêu cuối cùng
trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ) khớp đúng với dư nợ Tài khoản Tiền (Thuộc
Nhóm 1, mã số 110 theo hệ thống TK hiện nay của Việt Nam) của Bảng cân đối kế
toán. Số liệu không cho biết Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp
trực tiếp hay gián tiếp. Dòng ngân lưu ròng của 3 hoạt động chính cho thấy: Hoạt
động sxkd tạo ra 2.065 triệu USD, sau đó hoạt động đầu tư (chủ yếu là đầu tư thiết
bị, máy móc, nhà xưởng) sử dụng hết 1.047 triệu USD. Dòng ngân lưu còn lại, chủ
yếu được sử dụng để chi trả cổ tức và các chi phí cho các hoạt động tài chính khác.
AMC là một công ty đa quốc gia, hoạt động trên nhiều thị trường với nguồn thu chi
bằng nhiều loại tiền tệ khác nhau. Báo cáo hợp nhất, qui đổi về USD và do có s ự
thay đổi tỷ giá, nên có dòng ra 8 triệu USD. Dòng ngân lưu ròng cuối năm 2001 là 202
triệu USD, cùng với số dư đầu kỳ Tiền mặt là 242 triệu USD (Bảng cân đối kế toán
năm 2000), số dư tiền mặt cuối kỳ năm 2001 là 202 + 242 = 444 triệu USD. Tỷ trọng
3 hoạt động cơ bản của Công ty cho thấy, AMC đã tạo ra một lượng tiền đáng kể từ
hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời Công ty cũng đã sử dụng một lượng vốn
đáng kể để tài trợ cho các công tác đầu tư mới.

2.3. Một số lưu ý trong phân tích tài chính doanh nghiệp.
Dựa trên nền tảng là khung phân tích đã được giới thiệu ở trên, thực tế tình
hình phân tích đánh giá năng lực tài chính khách hàng vay vốn tại các chi nhánh trong
thời gian vừa qua (thể hiện trong nội dung tờ trình của chi nhánh trình TW), dưới đây
là một số điểm lưu ý trong quá trình phân tích, đánh giá:
- Những khoản mục, nội dung có biến động bất thường, cần được tập trung
phân tích làm rõ nguyên nhân: Ngoài việc hiểu, năm vững phương pháp,
trong quá trình phân tích, bất cứ chỉ tiêu tài chính nào có biến đ ộng bất
thường so với số liệu những năm trước, cần phải tập trung phân tích
nguyên nhân, giải thích lý do và có kết luận cụ thể. Chẳng hạn, đ ối với
AMC trong năm 2001, những lý do khiến chi phí sản xuất tăng cao trong
khi doanh số giảm là một dấu hiệu bất bình thường, phải được làm rõ;
- Trong phân tích xu hướng, phương pháp này sẽ trở nên hiệu quả hơn khi:
Lựa chọn được năm gốc phù hợp làm mốc đại diện (thường là những năm
không có những biến cố lớn đối với ngành/lĩnh vực và nền kinh tế) để so
sánh với các năm khác; và lựa chọn được các cặp đôi, cặp ba, ... các chỉ tiêu
có liên quan chặt với nhau, có như thế thì phân tích mới di vào được trọng
tâm vấn đề và mới có thể làm nổi bật được vai trò của các yếu tố nguyên
nhân cũng như kết quả;
- Trong phân tích chỉ số: Ngoài những chỉ tiêu thông dụng đều phải tính toán
đối với bất cứ doanh nghiệp nào, cần có sự lựa chọn cho phù hợp với tính
chất, hiện trạng của từng doanh nghiệp. Tốt nhất là nên xem xét và có
đánh giá sơ bộ trước khi quyết định lựa chọn, tính toán và phân tích những
loại chỉ tiêu nào;

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 16/ 88
Tất cả những kỹ thuật phân tích này, Excel là một công cụ hữu hiệu trong
-
lập, xử lý số liệu, vẽ đồ thị, lập báo cáo trong quá trình phân tích đánh giá.
3. Năng lực quản trị điều hành, kinh nghiệm.
Để làm tốt nội dung này, ngoài việc kiểm tra đánh giá thông qua hồ sơ vay
vốn (đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm, điều l ệ, báo
cáo tài chính...), cần thiết phải làm việc với đại diện doanh nghiệp (cả trực tiếp và
gián tiếp), đồng thời thu thập thêm các thông tin bổ sung (cả chính thức và không
chính thức), nhằm có được nhiều kênh thông tin khác nhau, để từ đó có thể đánh giá
được khách hàng chính xác hơn, sát thực hơn. Đôi khi, thông tin từ các đ ối th ủ cạnh
tranh, từ hiệp hội nghề nghiệp, từ các nhà cung ứng, ... cũng giúp có được sự đánh
giá đầy đủ hơn, toàn diện hơn.
Nội dung chính cần phân tích đánh giá, gồm:
Mô hình tổ chức, bố trí lao động, cơ cấu lao động theo chức danh công tác
-
và trình độ chuyên môn;
Quản trị điều hành của lãnh đạo: Năng lực chuyên môn, năng lực quản tr ị
-
điều hành, phẩm chất tư cách, uy tín trong và ngoài doanh nghiệp, thành
tích; sự đoàn kết trong lãnh đạo và trong doanh nghiệp.
Nếu không có một năng lực quản trị điều hành tốt thì doanh nghiệp khó có thể
đạt được kết quả tốt trong hoạt động sxkd. Do đó, kết quả hoạt động sxkd cũng là
một thước đo khá thực tế khi đánh giá năng lực quản trị điều hành của chủ doanh
nghiệp. Vì vậy, thực hiện tốt yêu cầu phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp như
được hướng dẫn ở Mục 2, cũng hỗ trợ cho nội dung phân tích này.

4. Quan hệ với các TCTD.
Đánh giá mối quan hệ của khách hàng với các TCTD là rất quan trọng, nó cho
thấy thái độ của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ cũng như khả năng
hợp tác với các TCTD. Do đó, đánh giá mỗi quan hệ của khách hàng với các TCTD
cần được thực hiện theo nguyên tắc:
Đầy đủ và toàn diện: Ngoài quan hệ tín dụng, các quan hệ giao dịch khác
-
như quan hệ tiền gửi, bảo lãnh, thanh toán, ... cần được đề cập, đánh giá
đầy đủ;
Cập nhật: Số liệu phản ảnh mối quan hệ của khách hàng với các TCTD
-
phải được cập nhật mới nhất. Lưu ý, khai thác tốt, có hiệu quả nguồn
thông tin nội bộ trong hệ thống và thông tin của ngành (CIC).


I.2. Phân tích, đánh giá dự án đầu tư.
1. Đánh giá tính pháp lý của dự án.
Hoạt động đầu tư xây dựng của mọi thành phần kinh tế phải phù hợp với
chiến lược, qui hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 17/ 88
những qui định pháp luật khác. Dự án đầu tư được xem như là công cụ để thực hiện
quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng, nhằm đảm bảo các yêu cầu về
qui hoạch, kiến trúc, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững.
1.1. Những rủi ro có thể xảy ra khi tính pháp lý của dự án không bảo đảm.
Dự án, nếu tính pháp lý không bảo đảm, thì sẽ có nguy cơ bị đình hoãn trong
quá trình triển khai thực hiện, và nếu điều này xảy ra thì sẽ dẫn tới các hệ luỵ sau:
Mất cơ hội kinh doanh: Khi tiến độ bị kéo dài do dự án bị đình chỉ và phải
-
dừng lại để hoàn tất thủ tục pháp lý, tình hình thị trường có thể có những
diễn biến khác đi và cơ hội kinh doanh có thể sẽ không còn tốt, không còn
thuận lợi như trước nữa;
Tiến độ thực hiện dự án bị kéo dài: Dự án bị dừng để hoàn tất và khép kín
-
thủ tục pháp lý, đôi khi phải điều chỉnh cả lại nội dung đầu tư (qui mô đầu
tư, phương án kiến trúc, phương án công nghệ, ...), do đó thời gian thực
hiện sẽ bị kéo dài;
Tổng vốn đầu tư bị phá vỡ: Tiến độ thực hiện kéo dài, sẽ kéo theo sự gia
-
tăng của nhiều khoản mục chi phí như: Lãi vay trong thời gian thi công, các
nhà cung ứng phạt vi phạm hợp đồng, chi phí hoàn tất thủ tục pháp lý, ...
và có thể cả chi phí do bị cơ quan chức năng phạt vi phạm. Trong nhiều
trường hợp, dự án phải điều chỉnh lại nội dung đầu tư (qui mô, công suất,
phương án kiến trúc, phương án công nghệ, ...), lúc này chi phí sẽ gia tăng
đáng kể vì làm lại để khắc phục sai sót trước đây thường tốn kém hơn,
khó khăn hơn so với làm đúng ngay từ đầu;
Hiệu đầu tư của dự án bị giảm sút, nhiều dự án có nguy cơ phá sản: Lỡ
-
mất cơ hội kinh doanh, tổng vốn đầu tư bị phá vỡ, tiến độ thực hiện kéo
dài, ... sẽ làm cho hiệu quả đầu tư (hiệu quả tài chính, khả năng hoàn vốn
đầu tư, hiệu quả kinh tế) giảm sút.
Với những nguy cơ kể trên, nếu tính pháp lý của dự án không được đảm bảo,
thì không những chủ đầu tư mà các nhà cung ứng, các bên tham gia tài trợ và các bên
có liên quan khác đều cùng phải gánh chịu rủi ro từ việc dự án không đảm bảo về
mặt pháp lý.
1.2. Hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng: Hiện
nay, gồm có:
* Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, gồm có 3 nghị định sau:
Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08.7.1999;
-
Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05.5.2000 sửa đổi, bổ sung một số đềi
-
của Nghị định 52/1999/NĐ-CP;
Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30.01.2003 sửa đổi bổ sung sửa đổi một
-
số điều của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo các
Nghị định 52 và 12;

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 18/ 88
Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý đầu
-
tư và xây dựng công trình;
Nghị định 112/2006/NĐ-CP ngày 29/09/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
-
sung một số điều của Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của
Chính phủ về quản lý đầu tư và xây dựng công trình;
* Quy chế đấu thầu, đồng thời thực hiện theo 3 nghị định sau:
Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01.9.1999;
-
Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05.5.2000 sửa đổi bổ sung một số điều
-
của Nghị định 88/1999/NĐ-CP;
Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12.6.2003 sửa đổi bổ sung một số điều
-
của Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo các Nghị định 88 và 14;
Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 và Nghị định
-
111/2006/NĐ-CP ngày 29/09/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật
Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng.
* Nghị định số 77/CP ngày 18.6.1997 về quy chế đầu tư theo hình thức BOT
áp dụng cho đầu tư trong nước qui định đầu tư theo hình thức BOT. Nghị đ ịnh s ố
62/1998/NĐ-CP ngày 15.8.1998 ban hành quy chế đầu tư theo hình thức BOT, BTO,
BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
* Luật doanh nghiệp (Luật số 13/1999/QH10); Luật doanh nghiệp nhà nước
năm 2003 (Luật số 14/2003/QH11); Luật khuyến khích đầu tư trong nước (năm 1994,
sửa đổi bổ sung năm 1998); Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996 và 2000);
Luật bảo vệ môi trường (công bố theo pháp lệnh số 29-L/CTN ngày 10.01.1994 của
Chủ tịch nước); Luật Hợp tác xã (Luật số 18/2003/QH11).
Ngoài ra, còn có các nghị định của Chính phủ, thông tư của bộ chuyên ngành (Xây
dựng, Kế hoạch đầu tư), các văn bản pháp quy liên quan khác hướng dẫn thực hiện
các Luật, Nghị định nêu trên.
1.3. Nội dung chủ đạo của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, Quy chế đ ấu
thầu.
Ở nội dung này, chỉ đề cập tới công tác quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn
tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà n ước, và d ự
án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước (không đề cập tới
những dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước).
Duyệt các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương
-
đầu tư: Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư trên cơ sở kết quả thẩm
định của Hội đồng thẩm định nhà nước;
Duyệt các dự án nhóm A, B, C: Doanh nghiệp đầu tư (không phân biệt
-
thành phần kinh tế) tự thẩm định dự án, tự quyết định đầu tư theo qui định
và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Các dự án đầu tư phải đảm bảo
phù hợp với qui hoạch được duyệt. Đối với dự án nhóm A sử dụng vốn tín
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 19/ 88
dụng đầu tư phát triển của nhà nước hay vốn tín dụng do nhà nước bảo
lãnh, trước khi quyết định đầu tư phải được Thủ tướng Chính phủ cho
phép đầu tư. Dự án Nhóm A sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN,
trước khi quyết định đầu tư phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép
đầu tư hoặc Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho Bộ trưởng, Chủ tich
UBND cấp tỉnh cho phép đầu tư;
Kỷ luật qui hoạch: Đối với dự án Nhóm A chưa có trong qui hoạch được
-
duyệt, trước khi lập báo cáo NCKT phải được Thủ tướng Chính phủ xem
xét, thông qua báo cáo NCTKT và cho phép đầu tư. Đối với dự án Nhóm B
chưa có trong qui hoạch được duyệt, trước khi lập báo cáo NCKT phải có
ý kiến đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền phê duyệt qui
hoạch;
Phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán: Về nguyên tắc, cấp phê duyệt
-
dự án đầu tư sẽ phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán; riêng đối với
các dự án sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh hoặc vốn tín dụng
đầu tư phát triển của nhà nước, cấp có thẩm quyền phê duyệt thiết kế kỹ
thuật và tổng dự toán có thể uỷ quyền cho cấp dưới trực tiếp phê duyệt
thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán. Đối với dự án đầu tư của tư nhân và các
tổ chức kinh tế không thuộc doanh nghiệp nhà nước, chủ đầu tư chịu trách
nhiệm tổ chức thẩm định và phê duyệt thiết kế.
1.4. Một số lưu ý trong phân tích đánh giá tính pháp lý của dự án.
Trên cơ sở khung pháp lý điều tiết hoạt động đầu tư xây dựng, tuỳ theo từng
loại dự án để kiểm tra và đánh giá tính pháp lý của dự án. Trong quá trình thực hi ện
nội dung này, với tư cách là bên tham gia tài trợ vốn, các TCTD cần lưu ý:
Kiểm tra việc chấp hành có đủ, có đúng với các qui định hiện hành của
-
chủ đầu tư trong quá trình triển khai dự án, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn
bị đầu tư và thực hiện đầu tư: Rất nhiều trường hợp, những vấn đề được
các bên chức năng đặt ra đối với dự án nhưng chủ đầu tư không tiếp thu
để chỉnh sửa dự án, bỏ qua và vẫn tiếp tục triển khai dự án. Có những
trường hợp bên chức năng tham gia ý kiến, nhưng ý kiến không đầy đủ
hoặc chỉ là hình thức mà né tránh trách nhiệm. Trong những trường hợp
này, nếu dự án vẫn tiếp tục triển khai, thì rủi ro về mặt pháp lý, rủi ro về
kỹ thuật, công nghệ, môi trường, ... sẽ là rất lớn. Do đó, TCTD phải nắm
vững: Qui định hiện hành trong quản lý đầu tư và xây dựng, vai trò và trách
nhiệm của các bên có liên quan, nội dung cụ thể mà các bên chức năng có
liên quan đã tham gia đối với dự án, đối chiếu với yêu cầu trong qui định
hiện hành và mức độ tiếp thu, chỉnh sửa của chủ đầu tư trong quá trình
triển khai dự án để có ý kiến cụ thể với chủ đầu tư. Qua đó, hướng việc
triển khai dự án của chủ đầu tư theo đúng qui định hiện hành, nhằm giảm
thiểu rủi ro cho dự án và cho chính phần vốn mà các TCTD tham gia tài trợ;

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 20/ 88
TCTD nên có biện pháp gì trước bối cảnh: Sự phân cấp ngày càng mạnh
-
trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng tự làm tự chịu trách
nhiệm, trong khi đó các doanh nghiệp thường đăng ký thành lập với nhiều
lĩnh vực kinh doanh khác nhau, kể cả ở các lĩnh vực họ không có kinh
nghiệm: Thực tế thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã tận dụng sự
phân cấp mạnh trong quản lý đầu tư và xây dựng để đơn giản hoá các thủ
tục trong quá trình triển khai dự án, tự lập dự án, tự thiết kế, tự thi công, ...
Mặc dù vẫn đúng theo qui định, nhưng năng lực thực có của doanh nghiệp
không tương xứng với qui mô và tính chất của dự án, điều này làm cho dự
án đứng trước nguy cơ rủi ro không phải về mặt pháp lý mà là rủi ro về kỹ
thuật, công nghệ, ... và sẽ có khả năng dẫn tới những rủi ro về tài chính
của dự án. Trong những trường hợp này, đòi hỏi TCTD nên tư vấn cho
doanh nghiệp lựa chọn cách làm không những chỉ đáp ứng được về mặt
thủ tục pháp lý, mà còn phải đảm bảo cho sự thành công của dự án trên
các phương diện: Thực hiện đầu tư, khai thác vận hành và tài chính;
Các qui định về vốn góp của các bên, vốn pháp định và vốn đầu tư đối với
-
các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài : Vốn góp của bên nước ngoài không
dưới 30% vốn pháp định; vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp . Các
trường hợp ngoại lệ, phải được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư
nước ngoài chấp thuận;
Đối với các dự án đầu tư theo hình thức BOT trong nước : Vốn tự có của
-
doanh nghiệp BOT tối thiểu phải đạt 30% tổng mức vốn đầu tư thực hiện
dự án BOT;
Đối với các dự án BOT, BTO, và BT áp dụng cho hoạt động đầu tư nước
-
ngoài tại Việt Nam: Doanh nghiệp BOT, BTO và BT được thành lập theo
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ
ngày được cấp giấy phép đầu tư.
Đối với những dự án đầu tư do các doanh nghiệp thành lập theo Luật
-
doanh nghiệp làm chủ đầu tư, hội đồng quản trị (chủ tịch HĐQT là đại
diện), hội đồng thành viên (chủ tịch Hội đồng thành viên là đ ại diện) sẽ
quyết định các nội dung chính liên quan tới triển khai thực hiện dự án đầu
tư: Hội đồng quản trị công ty cổ phần là cấp quyết định các nội dung như:
Chiến lược phát triển của công ty, phương án đầu tư. Hội đồng thành viên
công ty TNHH quyết định phương thức đầu tư và dự án đầu tư có giá trị
lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty
hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty, thông qua hợ đồng
vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài
sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy
định tại điều lệ công ty.
2. Sự cần thiết phải đầu tư, mục tiêu và nội dung chính của dự án.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 21/ 88
Đối với bất cứ dự án đầu tư nào, phân tích đánh giá nhằm làm rõ được sự cần
thiết phải đầu tư là xuất phát điểm để tiếp tục hoạch định các nội dung đầu tư khác
như: lựa chọn hình thức đầu tư, địa điểm đầu tư, thời điểm đầu tư, qui mô đ ầu t ư,
các giải pháp về công nghệ, thiết bị cũng như việc đáp ứng các yêu cầu đ ầu vào và
dự kiến đầu ra. Khi báo cáo NCKT đã được hoàn tất và chủ đầu tư đề xuất TCTD
tham gia tài trợ vốn để thực hiện dự án, có nghĩa là, theo quan điểm của chủ đầu tư,
có sự cần thiết phải đầu tư dự án đó. Tuy nhiên, với giác độ là một bên xem xét đ ể
đánh giá khả năng tham gia tài trợ vốn, TCTD cần phân tích sự cần thiết phải đầu tư
dự án theo các căn cứ sau:
Qui hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương: Trở lại với vấn đề về kỷ
-
luật trong thực hiện qui hoạch đối với hoạt động đầu tư, điều kiện cần để
một dự án được xem là cần thiết phải đầu tư là dự án đó phải phù hợp
với qui hoạch cũng như chiến lược phát triển ngành, vùng, địa phương;
Điều kiện đủ để xác định sự thiết phải thực hiện đầu tư dự án: Lựa chọn
-
thời điểm đầu tư, hình thức đầu tư, qui mô đầu tư, và phương án đầu tư rõ
ràng là những nội dung rất quan trọng quyết định đến sự thành bại của dự
án. Cho dù dự án có phù hợp với chiến lược phát triển đã đặt ra, nhưng
một trong những nội dung chính yếu nêu trên không được cân nhắc kỹ
càng, thì dự án sẽ dẫn tới thất bại. Những nội dung đầu tư nêu trên, cơ
bản do tình hình thị trường và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp quy ết
định. Do đó, cần thiết phải có những đánh giá tổng quan về thị trường cũng
như năng lực của doanh nghiệp, trên cơ sở đó để xem xét vấn đề theo
hướng: Dự án nếu được thực hiện đầu tư thì sẽ có những tác động gì đến
doanh nghiệp? Với tình hình thị trường như hiện nay và dự báo trong
những năm tới, lựa chọn thời điểm đầu tư như vậy có thuận lợi hay
không, qui mô đầu tư có hợp lý không? Địa điểm đầu tư đã lựa chọn có
phù hợp với thị trường mục tiêu không? Hình thức thức đầu tư có phù hợp
với tính chất của dự án cũng như năng lực của chủ đầu tư không?
Những nội dung phân tích trên sẽ cho thấy bức tranh tổng quát về thị tr ường,
về doanh nghiệp và các chế độ chính sách có liên quan tới hoạt động đ ầu tư trong
lĩnh vực của dự án. Qua đó, đối chiếu với nội dung đầu tư trong báo cáo NCKT, đ ể
đánh giá sự cần thiết phải đầu tư dự án.
Qua đánh giá sự cần thiết phải đầu tư cho thấy cơ hội để có thể thực hiện dự
án, và đương nhiên nhiều nhà đầu tư khác cũng có thể nhận biết được cơ hội đầu tư
này. Cơ hội đầu tư có thể có, nhưng thị trường cạnh tranh đòi hỏi phải lựa chọn
được phương án, cách thức đầu tư hợp lý, do đó cần đánh giá sơ bộ một số nội dung
chính của dự án, cụ thể là:
Mục tiêu của dự án phù hợp hay không phù hợp: Ở mức khiêm tốn quá và
-
trở nên lãng phí cơ hội đầu tư? Phù hợp? hay ở mức quá tham vọng so với
qui mô thị trường và năng lực của chủ đầu tư?

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 22/ 88
Lựa chọn qui mô đầu tư: Có phù hợp với qui mô của thị trường cũng như
-
khả năng mở rộng thị phần và chiếm lĩnh thị trường hay không?
Qui mô vốn đầu tư: Tổng mức, cơ cấu, tiến độ huy động vốn đầu tư;
-
Tiến độ triển khai thực hiện dự án: Có phù hợp với các dự án tương tự
-
không? liệu triển khai dự án có đảm bảo đúng được tiến độ dự kiến
không? Với tiến độ dự kiến thì sẽ có những thuận lợi hay khó khăn gì so
với các đối thủ cạnh tranh?
Những nội dung phân tích nêu trên, một số sẽ được đề cập lại và phân tích chi
tiết ở các phần sau, do đó mức độ phân tích ở phần này chỉ mang tính chất tổng quát
để có được đánh giá khái quát ban đầu về dự án. Nếu với đánh giá khái quát ban đầu
đã cho thấy, dự án có nhiều khó khăn hơn là thuận lợi, và khả năng thành công là
thấp thì có thể đưa ra được quyết định về khả năng tham gia tài trợ của TCTD.
Trường hợp đánh giá khái quát ban đầu cho thấy dự án có những thuận lợi cơ bản,
mục tiêu của dự án đặt ra hợp lý, thì những nội dung phân tích tiếp theo dưới đây sẽ
đi sâu đánh giá chi tiết hơn nữa, đảm bảo quá trình phân tích được liên tục, và có tính
gắn kết giữa các nội dung trong một bản báo cáo.
3. Tổng vốn đầu tư, suất đầu tư, cơ cấu và tính khả thi của phương án nguồn
vốn.
Như tiêu đề của nó, phân tích nội dung này nhằm các mục đích cụ thể như
sau:
Đánh giá tính hợp lý, đầy đủ của mức vốn đầu tư khái toán;
-
Đánh giá tính khả thi của phương án nguồn vốn doanh nghiệp dự kiến sẽ
-
dùng để huy động vốn thực hiện dự án;
Số liệu phân tích về tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn đầu tư và tiến đ ộ giải
-
ngân các loại nguồn vốn được sử dụng làm thông số đầu vào trong tính
toán hiệu quả dự án ở bước phân tích sau.
Để đạt được mục tiêu phân tích nêu trên, trong quá trình xem xét, cần chú ý tới
một số nội dung sau:
Kiểm tra cơ cấu chi phí vốn đầu tư nhằm đảm bảo dự án được khái toán
-
với đầy đủ các khoản mục chi phí (xây lắp, thiết bị, chi phí khác, dự phòng
và lãi vay trong TGXD);
Thực hiện kiểm tra cách xác định chi phí ở một số hạng mục: Nguyên tắc
-
tính toán có đúng không, chế độ áp dụng có phù hợp không, khối lượng tính
có chính xác không. Tuỳ theo khả năng và trình độ của cán bộ phân tích, có
thể kiểm tra xác suất một số hạng mục, kiểm tra những hạng mục có chi
phí đầu tư lớn, hoặc lựa chọn cách thức kiểm tra phù hợp khác;
Tính toán xác định và so sánh suất đầu tư: So sánh suất đầu tư của dự án
-
với các dự án cùng loại khác, chú ý nên cố gắng đưa về cùng một mặt
bằng công nghệ, công suất thiết kế thì việc so sánh mới có ý nghĩa;
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 23/ 88
Tập trung giải thích cho được những nguyên nhân làm cho tổng mức vốn
-
đầu tư, suất đầu tư có sự khác biệt lớn với các dự án cùng loại khác (nếu
có);
Khả năng thu xếp vốn cho dự án: Mức độ chắc chắn trong cam kết tham
-
gia tài trợ vốn cho dự án của các nguồn vốn dự kiến, các điều kiện tài trợ
chính (mức tài trợ, thời hạn cho vay, ân hạn, lãi suất, trả nợ, ...). Tỷ tr ọng
vốn tự có tham gia vào dự án trên cơ sở năng lực tài chính đã đ ược phân
tích ở Phần I.1 - Đánh giá khách hàng vay vốn;
Tiến độ giải ngân các loại nguồn vốn tham gia vào dự án: Sẽ là hợp lý hơn
-
nếu nguồn vốn tự có tham gia vào dự án trước; trên cơ sở tiến độ giải
ngân, tính lãi vay trong thời gian thi công.
4. Lựa chọn công nghệ, thiết bị.
Lựa chọn công nghệ, thiết bị được đánh giá là hợp lý khi đáp ứng được một
số yêu cầu sau:
Phù hợp với khả năng quản lý, khai thác, vận hành của doanh nghiệp và
-
điều kiện khai thác, vận hành công nghệ thiết bị đó tại doanh nghiệp.
Doanh nghiệp phải làm chủ được công nghệ, thiết bị sau thời gian chuyển
giao;
Phù hợp với năng lực tài chính cho phép của doanh nghiệp (lựa chọn công
-
nghệ tiên tiến nhất, thiết bị hiện đại nhất, mức độ tự động hoá cao nhất,
chưa hẳn đã là tốt!);
Đồng thời, chất lượng sản phẩm làm ra phải đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật
-
như cam kết, đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn, về môi trường, và các
tiêu chuẩn kỹ thuật các đã đề ra;
Các điều kiện sau bán hàng: Chuyển giao, bảo hành, bảo trì, ... được thực
-
hiện một cách nghiêm túc.
Như vậy, trong điều kiện tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp còn rất hạn
chế như hiện nay, ngoại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng vẫn
phải đặt ra yêu cầu từng bước thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá, thì việc
lựa chọn một công nghệ quá thâm dụng vốn hoặc quá thâm dụng lao động đều không
hợp lý. Với yêu cầu như vậy, phân tích đánh giá nội dung này cần đặt trọng tâm chú
ý vào một số vấn đề sau:
So sánh công nghệ được lựa chọn với mặt bằng công nghệ chung và xu
-
hướng phát triển công nghệ trong thời gian tới: Đối chiếu với giải pháp
công nghệ thiết bị của các dự án tương tự để đánh giá mức độ phù hợp
của công nghệ thiết bị được lựa chọn. Làm rõ các ý kiến giả thích sự khác
biệt về công nghệ, thiết bị (nếu có). Tham vấn ý kiến của các chuyên gia
trong ngành;


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 24/ 88
Yêu cầu đối với nhập lượng đầu vào của công nghệ, thiết bị lựa chọn có
-
phù hợp với phương án khai thác nhập lượng đầu vào mà dự án đã dự kiến
hay không. Công nghệ có sử dụng được nhập lượng trong nước hay phải
gia tăng tỷ trọng đầu vào nhập khẩu;
Hợp đồng mua bán công nghệ, thiết bị: Uy tín nhà cung ứng, điều kiện
-
thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, điều khoản bảo hành, điều
khoản chuyển giao công nghệ và chi phí liên quan đến chuyển giao công
nghệ, thời gian giao hàng, ...
Đây là một nội dung thuần tuý thuộc phương diện kỹ thuật, khá khó đối với
cán bộ phân tích nếu như không có sự chuẩn bị trước, thiếu tích luỹ về mặt thông tin
và kiến thức tối thiểu. Do đó, sẽ là rất có ích nếu như những thông tin (cả kinh tế
lẫn kỹ thuật) về ngành, lĩnh vực đầu tư được cập nhật, lưu trữ và theo dõi thường
xuyên trong quá trình làm việc.
5. Thị trường yếu tố đầu vào.
Với lĩnh vực đầu tư, qui mô đầu tư, phương án đầu tư như đã được đề cập ở
Mục 2, đánh giá thị trường yếu tố đầu vào, nhất thiết phải làm rõ được các nội dung
cơ bản sau:
- Dự án cần những yếu tố đầu vào nào: Chủng loại gồm những loại gì? số
lượng một năm bình quân là bao nhiêu? yêu cầu về chất lượng là như thế
nào;
Phương án khai thác nhập lượng đầu vào: Tỷ lệ đầu vào khai thác tại chỗ,
-
khai thác thị trường trong nước, nhập khẩu cụ thể là bao nhiêu? Mức độ
đáp ứng các điều kiện cần thiết để có thể khai thác nhập lượng ở thị
trường trong nước. Nhập lượng đầu vào khai thác tại chỗ, khai thác trong
nước hay nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất;
Khả năng làm chủ được tình hình trước những biến động của thị trường
-
yếu tố đầu vào: Doanh nghiệp đã thiết lập được quan hệ với nhà cung
ứng từ trước hay chưa, chính sách bán hàng của nhà cung ứng dành cho
doanh nghiệp như thế nào, tiềm lực tài chính để đối phó với những biến
động của thị trường yếu tố sản xuất?
Chính sách của nhà nước có liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu các
-
yếu tố nhập lượng đầu vào mà dự án cần.
Những nội dung phân tích trên, nhằm: Về mặt định tính, đánh giá mức độ
thuận lợi, khó khăn, khả năng chủ động của doanh nghiệp đối với phương án khai
thác nhập lượng đầu vào. Về mặt định lượng, xác định chi phí đầu vào đơn vị, và các
yếu tố có khả năng thay đổi làm ảnh hưởng tới chi phí đầu vào (biến động của thị
trường do quan hệ cung cầu, biến động của tỷ giá đối với đầu vào phải nhập
khẩu, ...). Những yếu tố có tính chất định lượng này sẽ được sử dụng làm thông số
đưa vào tính toán hiệu quả dự án.
6. Thị trường các yếu tố đầu ra.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 25/ 88
Đây là một trong những nội dung phân tích rất quan trọng trong thẩm đ ịnh dự
án đầu tư. Nội dung phân tích này nhằm đánh giá các vấn đề cơ bản sau:
Khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại và sản phẩm thay thế
-
thông qua giá bán, thông qua chất lượng, và thông qua chính sách bán hàng;
Khả năng tiêu thụ sản phẩm: Thông qua việc đánh giá khả năng cạnh
-
tranh, xác định khả năng chiếm lĩnh thị trường, xác lập thị phần, và cuối
cùng là huy động công suất thiết kế qua các năm.
Để đạt được mục tiêu phân tích nêu trên, trong quá trình xem xét, về nguyên
tắc cần đặt trong tâm phân tích vào một số nội dung chủ yếu sau:
Phân tích tổng quan thị trường qua quan hệ cung - cầu: Về phía cung, xác
-
định năng lực sản xuất, cung ứng hiện có, cơ cấu thị trường theo các tiêu
chí khác nhau, số liệu về hoạt động nhập khẩu và tính chất phân đoạn của
thị trường cung ứng đối với sản phẩm cùng loại; chính sách của nhà nước
đối với hoạt động sản xuất và nhập khẩu sản phẩm cùng loại; chiến lược
cạnh tranh của các nhà sản xuất lớn; dự báo những thay đổi về cơ cấu thị
trường, tốc độ tăng trưởng cung trong thời gian tới. Về phía cầu, đánh giá
tổng quan về nhu cầu sản phẩm đầu ra dự án, tính chất của nhu cầu (co
dãn, không co dãn với giá, tính chất của hàng hoá: đầu ra của dự án là hàng
thiết yếu hay hàng hoá thông dụng), tốc độ tăng trưởng nhu cầu;
Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm: Với đặc điểm của thị
-
trường như phân tích ở trên, với chính sách của các đối thủ cạnh tranh
hiện có trên thị trường, thì các biện pháp đưa ra để đảm bảo khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, như: Khả năng định vị tốt sản phẩm đầu ra của
dự án để lựa chọn chính sách đầu tư hợp lý, cạnh tranh thông qua việc xây
dựng giá bán hợp lý và hấp dẫn, thông qua chất lượng và mẫu mã, thông
qua chính sách bán hàng, ... được chuẩn bị và thực hiện như thế nào?
Xác định thị trường mục tiêu của dự án: Xuất phát từ qui mô đầu tư, lựa
-
chọn công nghệ thiết bị, sự phân đoạn của thị trường hiện tại và khả năng
cạnh tranh của sản phẩm để xác định thị trường mục tiêu của dự án. Liệu
dự án có khả năng tham gia vào thị trường, chiếm lĩnh được thị trường
mục tiêu như dự kiến hay không?
Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối: Đã có sẵn mạng lưới đại
-
lý phân phối hay phải thiết lập mới từ đầu, các kênh phân phối hỗ trợ,
phương thức bán hàng, ... những thuận lợi và khó khăn trong phân phối sản
phẩm.
Nội dung phân tích nêu trên sẽ đưa đến những kết luận đánh giá mang tính
chất cả về định tính và định lượng. Về mặt định tính, đánh giá được khả năng cạnh
tranh và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Về mặt định lượng, các yếu tố về giá bán,
chính sách bán hàng, chi phí trong bán hàng, và khả năng phát huy công suất thi ết kế


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 26/ 88
hàng năm, ... sẽ là những thông số đầu vào để phục vụ quá trình tính toán xác đ ịnh
hiệu quả dự án.


7. Các yếu tố kỹ thuật khác: Quy mô và giải pháp xây dựng, địa điểm đầu tư,
tác động môi trường, giải pháp xây dựng, PCCC, tổ chức quản lý thực hiện dự
án, ...
Cần tập trung xem xét, đánh giá một số nội dung có liên quan sau:
Về địa điểm đầu tư: Có thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường mục tiêu
-
hay không? Khả năng tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có từ địa điểm đầu tư
như thế nào? Xử lý nền móng có phức tạp không, có ảnh hưởng tới chi phí
vốn đầu tư ban đầu không?
Về quy mô và giải pháp xây dựng: Thông qua việc so sánh với các dự án
-
cùng loại khác, trên cơ sở qui mô đầu tư và địa điểm đầu tư đã l ựa chọn,
đánh giá quy mô và giải pháp xây dựng, giải pháp kiến trúc, giải pháp kết
cấu có phù hợp hay không?
Về môi trường, PCCC: Dự án có tuân thủ đúng các qui định hiện hành về
-
môi trường, PCCC hay chưa (báo cáo ĐTM, phương án PCCC được cấp có
thẩm quyền phê chuẩn)? Có dự trù kinh phí xử lý môi trường, kinh phí
thực hiện phương án PCCC trong cơ cấu tổng mức vốn đầu tư không?
Về tổ chức quản lý và thực hiện dự án: Trên cơ sở kinh nghiệm của chủ
-
đầu tư, các qui định hiện hành trong hoạt động đầu tư xây dựng của nhà
nước, và tính chất của dự án, việc lựa chọn hình thức tổ chức quản lý và
thực hiện dự án có phù hợp và hợp lý không.


8. Đánh giá hiệu quả tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay.
Số liệu sử dụng để phân tích, đánh giá: Sử dụng kết quả phân tích đánh giá
các nội dung có liên quan đã nêu ở trên (từ mục 2 đến mục 7), đ ặc biệt là đ ối với
những kết quả phân tích định lượng, làm thông số đầu vào để phục vụ quá trình tính
toán đánh giá hiệu quả tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay.
Nguyên tắc xây dựng các phương án đánh giá hiệu quả tài chính dự án: Xây
dựng phương án cơ bản, là phương án được tính toán với các thông số đầu vào từ dự
án lập và những số liệu phân tích định lượng nêu trên. Sau đó, thực hiện phân tích độ
nhậy đối với các thông số quan trọng. Để tránh việc chấp thuận dự án dựa trên
những ước tính quá lạc quan về chi phí và lợi ích, nên sử dụng những ước tính thiên
lệch về hướng làm giảm bớt lợi ích của dự án, trong khi làm tăng cao mức ước tính
về chi phí. Nếu dự án vẫn hấp dẫn sau khi đã tiến hành thẩm định như vậy, thì có
rất nhiều khả năng dự án sẽ đứng vững khi những điều kiện trong thực tế trở nên
khó khăn hơn so với dự kiến ban đầu.


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 27/ 88
Kỹ năng phân tích: Sử dụng Excel để thực hiện phân tích, đánh giá hiệu quả
tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay của dự án. Trật tự thực hiện phân tích đánh giá
hiệu quả tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay của dự án nên được thực hiện theo
các bước cơ bản như sau:
Lập bảng thông số: Là bảng tổng hợp các thông số cơ bản của dự án, số
-
liệu đưa vào bảng thông số gồm: Số liệu từ dự án, số liệu có được từ kết
quả phân tích về định lượng các nội dung có liên quan tới dự án như đã
trình bầy ở trên. Lưu ý, trong Bảng Thông số, không nên đưa số liệu dưới
dạng liên kết công thức, mà là số liệu dưới dạng số đơn/độc lập/gõ trực
tiếp giá trị vào địa chỉ ô trên excel. Bảng thông số nên được kết cấu theo
các nhóm chỉ tiêu, để thuận tiện trong việc sử dụng và kiểm soát các chỉ
tiêu này trong suốt quá trình tính toán;
Lập bảng tính khấu hao cơ bản: Căn cứ cơ cấu vốn đầu tư phân bổ theo
-
hạng mục, chế độ khấu hao hiện hành, điều kiện thực tiễn của dự án, để
xác định kế hoạch trích khấu hao cơ bản hàng năm. Lưu ý, có thể sử dụng
các hàm tính khấu hao cơ bản trong excel hoặc trực tiếp thiết lập công
thức tính khấu hao. Trong quá trình xác định giá trị tài sản hình thành sau
đầu tư để tính mức trích khấu hao hàng năm, cần xét đến yếu tố lạm phát
trong thời gian thực hiện đầu tư, giá trị tài sản sau khi kết thúc quá trình
đầu tư thường lớn hơn so với giá trị lúc lập dự án ban đầu. Khi doanh
nghiệp thực hiện sửa chữa lớn, giá trị TSCĐ sẽ tăng lên, nên mức trích
khấu hao trong những năm tiếp theo sẽ thay đổi, và sự thay đổi này cần
được thể hiện trong bảng tính khấu hao cơ bản;
Xây dựng kế hoạch trả nợ vốn vay: Căn cứ phương án nguồn vốn và tiến
-
độ huy động các nguồn vốn đầu tư cũng như điều kiện vay vốn để xác
định: Lãi vay phát sinh trong thời gian xây dựng, kế hoạch vay trả cho phù
hợp. Lưu ý, đối với vốn vay bằng ngoại tệ, bên cạnh việc lập kế hoạch
trả nợ bằng ngoại tệ, cần qui đổi ra nội tệ theo tỷ giá phù hợp với tỷ giá
qui đổi hàng năm có gắn với tỷ lệ lạm phát. Hàm PMT, PPMT thường là
những hàm được sử dụng khá phổ biến đối với việc lập kế hoạch trả nợ
vốn vay;
Xác định chi phí sản xuất đơn vị: Căn cứ định mức tiêu hao nguyên nhiên
-
vật liệu, giá thành các yếu tố đầu vào (từ kết quả phân tích công nghệ,
thiết bị và thị trường các yếu tố đầu vào), để xác định chi phí sản xuất
đơn vị. Lưu ý, không đưa vào chi phí sản xuất đơn vị những chi phí có tính
chất bất thường hoặc không thường xuyên, ví dụ như chi phí sửa chữa
lớn;
Xác định nhu cầu vốn lưu động: Căn cứ kế hoạch doanh thu, chính sách
-
bán hàng, chính sách mua hàng của nhà cung ứng, khả năng vốn lưu động
tự có tham gia, khả năng luân chuyển vốn lưu động của các dự án cùng

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 28/ 88
lĩnh vực đầu tư, để xác định nhu cầu vốn lưu động cũng như lãi vay vốn
lưu động hàng năm;
Xác định kết quả kinh doanh: Căn cứ những phân tích về thị trường đầu ra
-
để xác định khả năng huy động công suất thiết kế của thiết bị, qua đó xác
định sản lượng sản xuất hàng năm. Cùng với giá bán sản phẩm dự kiến,
xác định doanh thu hàng năm. Xác định chi phí trên cơ sở kết quả các bảng
tính trung gian, gồm: bảng tính chi phí đơn vị sản phẩm, bảng tính khấu
hao, bảng kế hoạch trả nợ, bảng xác định nhu cầu vốn lưu động. Tiếp
theo, căn cứ vào chế độ thuế, để xác định lợi nhuận ròng;
Xây dựng dòng ngân lưu và tính toán các chỉ tiêu tài chính dự án: Trên cơ
-
sở lợi nhuận ròng được xác định tại bảng tính kết quả kinh doanh, thực
hiện việc điều chỉnh một số khoản mục, gồm: Khấu hao cơ bản, lãi vay
vốn dài hạn để. Cùng với tiến độ giải ngân vốn đầu tư ban đầu, xây dựng
dòng ngân lưu. Trên cơ sở dòng ngân lưu, tính toán các chỉ tiêu tài chính dự
án như: NPV, IRR, DSCR và các chỉ tiêu cần thiết khác.
Phân tích độ nhậy: Căn cứ kết quả phân tích đánh giá dự án theo các nội dung
từ mục 2 đến mục 7, lựa chọn các thông số có khả năng thay đổi lớn nhất và sự thay
đổi của nó sẽ gây ra những biến động lớn về hiệu quả tài chính dự án. Phân tích độ
nhậy với các thông số được lựa chọn. Kết quả phân tích độ nhậy sẽ cho thấy mức
độ ảnh hưởng của các thông số được lựa chọn tới hiệu quả tài chính dự án. Từ đó,
làm căn cứ đưa ra những đề xuất, kiến nghị và biện pháp nhằm hạn chế rủi ro dự án.
9. Nhận diện rủi ro, các biện pháp giảm thiểu rủi ro.
Có nhiều cách để tiếp cận, nhận diện và phân tích rủi ro, như là rủi ro hệ
thống và phi hệ thống, rủi ro do nguyên nhân khách quan và chủ quan đem lại, ... Tuy
nhiên, phân tích và đánh giá rủi ro theo quá trình thực hiện dự án cũng như các yếu tố
trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới các khâu trong vận hành khai thác dự án thường
được sử dụng vì đây là cách tiếp cận khá trực diện, đơn giản, dễ hiểu và khá đầy
đủ. Rủi ro, có thể xảy ra hoặc không xảy ra, có thể xảy ra với dự án này, nhưng lại
không xảy ra với các dự án khác. Hoạt động đầu tư thường gắn với rủi ro, r ủi ro
càng lớn thì mức sinh lợi yêu cầu càng cao. Vấn đề là, các TCTD phải làm thế nào
để nhận diện được rủi ro, chủ động trước những rủi ro có thể xảy ra với dự án mà
họ đang xem xét khả năng tham gia tài trợ, qua đó đưa ra các biện pháp giảm thiểu
rủi ro.
Rủi ro về cơ chế, chính sách: Gồm những bất ổn về cơ chế, chính sách
-
làm thay đổi dòng tiền của dự án theo chiều hướng xấu đi. Ngoài ra, việc
tuân thủ nghiêm túc các qui định hiện hành cũng là một biện pháp đ ể
phòng tránh những rủi ro loại này. Để giảm thiểu rủi ro này, trong phân
tích đánh giá tính pháp lý của dự án, cần chú ý tới việc chấp hành, mức độ
tuân thủ các qui định hiện hành trong hoạt động quản lý đầu tư và xây
dựng. Đồng thời, nếu có thể, doanh nghiệp nên tìm kiếm các hình thức

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 29/ 88
như: Bảo hiểm, tự bảo hiểm, ưu đãi hoặc bảo lãnh của chính phủ cho một
số vấn đề có tính chất bất khả kháng;
Rủi ro xây dựng, hoàn tất: Dự án hoàn thành không đúng tiến độ dự kiến,
-
và các thông số đạt được không phù hợp với những tiêu chuẩn đã đ ặt ra.
Thông qua nội dung phân tích về tổ chức quản lý thực hiện dự án, lựa
chọn nhà cung ứng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, hợp đồng tư vấn giám
sát, ... sẽ đánh giá loại rủi ro này. Biện pháp giảm thiểu rủi ro: Triển khai
dự án theo đúng qui định hiện hành trong đầu tư xây dựng, thiết lập cơ
chế giám sát và chịu trách nhiệm rõ ràng thông qua các hợp đồng tư vấn
giám sát, hợp đồng bảo lãnh; lựa chọn hình thức thực hiện các hợp đồng
một cách phù hợp;
Rủi ro thị trường yếu tố đầu vào: Dự án không thực hiện được phương án
-
khai thác nhập lượng đầu vào như dự kiến, dẫn tới nguồn nhập lượng
đầu vào không ổn định, chất lượng không đảm bảo hoặc chi phí nhập
lượng tăng cao. Để giảm thiểu rủi ro, ngay từ ban đầu trong đánh giá hiệu
quả tài chính dự án, cần lượng hoá những yếu tố không chắc chắn đối với
phương án khai thác nhập lượng đầu vào để đưa vào tính toán cụ thể, thực
hiện khảo sát độ nhậy dự án với những nhập lượng quan trọng và có khả
năng thay đổi nhiều để đánh giá ảnh hưởng của nó tới hiệu quả tài chính
của dự án. Bên cạnh đó, yêu cầu doanh nghiệp tìm kiếm các biện pháp
giảm thiểu khác như: Ký các hợp đồng cung ứng dài hạn, lựa chọn các nhà
cung ứng uy tín, lựa chọn các hình thức hợp đồng (kỳ hạn, giao ngay, giá
cố định, ...) phù hợp với tính chất của thị trường yếu tố đầu vào;
Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán: Loại rủi ro này thường xuất phát
-
từ việc phân tích đánh giá thị trường không cẩn trọng, từ đó dẫn tới việc
xác định mục tiêu và lựa chọn qui mô đầu tư không phù hợp với tình hình
thực tế của thị trường. Đánh giá quá cao nhu cầu của thị trường, định vị
sản phẩm đầu ra và lựa chọn thị trường mục tiêu không phù hợp, dẫn tới
doanh thu không đủ bù đắp chi phí, và không đạt được các chỉ tiêu tài chính
như dự kiến. Biện pháp giảm thiểu rủi ro: Ngay từ đầu, những thông số
về giá bán sản phẩm dự kiến, khả năng huy động công suất thiết kế, khả
năng tiếp cận thị trường và cạnh tranh của sản phẩm, ... phải được phân
tích theo hướng thận trọng, an toàn và hợp lý để đưa tính toán, xác đ ịnh
hiệu quả tài chính dự án. Thực hiện việc phân tích độ nhậy dự án theo các
yếu tố được đánh giá là quan trọng và có khả năng thay đổi nhiều nhất để
xác định mức độ ảnh hưởng của chúng tới hiệu quả dự án, cũng như
khoảng an toàn của dự án. Bên cạnh đó, yêu cầu doanh nghiệp thực hiện
các biện pháp khác như: Tìm kiếm hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn,
hỗ trợ bao tiêu sản phẩm, lựa chọn công nghệ cho phép có thể thực hiện
việc đa dạng hoá về chủng loại sản phẩm, giảm thiểu các điều khoản
không cạnh tranh (nếu có), ...

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 30/ 88
Các loại rủi ro khác: Rủi ro kỹ thuật, vận hành và bảo trì; rủi ro về môi
-
trường và xã hội; rủi ro kinh tế vĩ mô, ... Để các TCTD có thể chủ động
trong nhiều tình huống trên cơ sở đã có những dự tính cụ thể, tuỳ theo
từng loại rủi ro, trên cơ sở phân tích và nhận định, để lượng hoá và đ ưa
vào trong phương án tính toán đánh giá hiệu quả tài chính dự án. Đ ồng
thời, đề xuất với doanh nghiệp các biện pháp giảm thiểu.


10. Hình thức bảo đảm tiền vay.
Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng là việc các TCTD áp dụng các
biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các
khoản nợ đã cho khách hàng vay.
10.1. Khung pháp lý chính về bảo đảm tiền vay và các vấn đề có liên quan.
Liên quan tới nội dung bảo đảm tiền vay, khung pháp lý cơ bản điều chỉnh
hoạt động này, đến thời điểm hiện nay gồm có:
* Bảo đảm tiền vay:
Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29.12.1999 của Chính phủ về bảo đảm
-
tiền vay của các tổ chức tín dụng;
Nghị định số 85/2000/NĐ-CP ngày 25.10.2002 của Chính phủ về sửa đổi
-
bổ sung Nghị định 178/1999/NĐ-CP;
Thông tư số 07/2003/TT-NHNN ngày 19.5.2003 hướng dẫn thực hiện một
-
số quy định về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng;
Thông tư số 03/2003/TT-NHNN ngày 24.02.2003 của Ngân hàng Nhà nước
-
hướng dẫn về cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo Nghị quyết số
02/2002/NQ_CP ngày 07.01.2003 của Chính phủ;
* Thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất:
Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29.3.1999 của Chính phủ về thủ tục
-
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và
thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;
Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01.11.2001 của Chính phủ sửa đổi bổ
-
sung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP;
Thông tư số 1417/1999/TT-TCĐC ngày 18.9.1999 của Tổng cục Địa chính
-
hướng dẫn thi hành Nghị định số 17/1999/NĐ-CP;
Thông tư số 1248/2000/TT-TCĐC ngày 18.9.2000 sửa đổi bổ sung điểm 6
-
mục I Thông tư 1417/1999/TT-TCĐC;
Thông tư liên tịch số 772/2001/TTLT-NHNN-BTP-BTC-TCĐC ngày
-
21.5.2001 hướng dẫn thủ tục thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất của doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại các TCTD;

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 31/ 88
Thông tư liên tịch số 03/2003/TTLT/BTP-BTNMT ngày 14.7.2003 hướng
-
dẫn trình tự, thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh
bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
Công văn số 147/NHNN-CSTT ngày 18.02.2003 v/v xác định giá đất thế
-
chấp, bảo lãnh theo Quy định tại Nghị định 85/2002/NĐ-CP.
* Giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm:
Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19.11.1999 của Chính phủ về giao dịch
-
bảo đảm;
Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10.3.2000 của Chính phủ về đăng ký
-
giao dịch bảo đảm;
Thông tư số 01/2002/TT-BTP ngày 09.01.2002 hướng dẫn một số vấn đề
-
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch
bảo đảm;
Thông tư số 06/2002/TT-BTP ngày 28.02.2002 hướng dẫn một số qui định
-
của Nghị định 165/1999/NĐ-CP;
Công văn số 106/CV-PC ngày 25.3.2002, số 1149/NHNN-PC ngày
-
24.10.2002 của Ngân hàng Nhà nước v/v thực hiện đăng ký giao dịch bảo
đảm;
Công văn số 3846/CV-PCCĐ ngày 10.12.2002 của Ngân hàng Đầu tư &
-
Phát triển Việt Nam v/v thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm tại cục đăng
ký giao dịch bảo đảm.
10.2. Một số vấn đề cần lưu ý trong bảo đảm tiền vay.
Việc đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm mục tiêu công khai hoá các giao dịch
bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức trong việc tìm hiểu thông
tin về tài sản, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh
toán khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặc biệt trong trường hợp một
giao dịch bảo đảm cùng một lúc được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Hoạt động đăng ký đã góp phần tăng cường tính minh bạch trong giao dịch dân sự,
kinh tế, lành mạnh hoá môi trường đầu tư, bảo bệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
bên tham gia giao dịch và cá nhân, tổ chức có liên quan. Với ý nghĩa pháp lý của việc
đăng ký giao dịch bảo đảm, trong nội dung bảo đảm tiền vay, cần lưu ý:
Cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm: Căn cứ vào mức đ ộ r ủi ro
-
của dự án/khoản vay, và các qui định khác của Ngành về giới hạn cho vay
có/không có bảo đảm đối với khách hàng, chi nhánh quyết định cho vay có
hay không có bảo đảm. Tuy nhiên, theo Luật phá sản thì những khoản nợ
không có bảo đảm được xếp sau cùng trong thứ tự phân chia tài sản đ ể
thực hiện nghĩa vụ nợ trong trường hợp thẩm phán ra quyết định mở thủ
tục thanh lý đối với doanh nghiệp;


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 32/ 88
Tránh trường hợp vô hiệu của hình thức bảo đảm tiền vay hoặc tranh
-
chấp có thể xảy ra: Theo Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19.11.1999 về
giao dịch bảo đảm, những giao dịch bảo đảm bắt buộc phải đăng ký tại
cơ quan đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (tài sản phải đăng ký quyền
sở hữu; tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; tài sản bảo đ ảm
được các bên thoả thuận giao bên cầm cố thế chấp hoặc bên thứ ba giữ;
văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm; và tài sản cho thuê tài
chính), thì giao dịch này chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Do đó,
nếu không thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo đối với những giao dịch
bảo đảm bắt buộc phải đăng ký, thì giao dịch bảo đảm đó có thể tr ở nên
vô hiệu;
Đăng ký giao dịch bảo đảm và xác nhận tính xác thực của giao dịch bảo
-
đảm: Cần lưu ý, việc đăng ký giao dịch bảo đảm và được cấp giấy chứng
nhận đăng ký giao dịch bảo đảm không có giá trị xác nhận tính xác thực
của giao dịch bảo đảm, mà đây chỉ là một thủ tục bổ sung bắt buộc, nhằm
bảo đảm quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo
đảm;
Những vấn đề khác: Do BIDV đã đăng ký khách hàng thường xuyên cho
-
hầu hết các chi nhánh cấp I, II, nên đơn yêu cầu đăng ký có thể gửi qua
fax. Ngoài ra, thông qua hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm, các chi
nhánh có thể khai thác thông tin liên quan tới tài sản bảo đảm nợ vay.

II. THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ ­ MỘT CÁI NHÌN TỔNG THỂ.
1. Đặt vấn đề.
Dự án là gì: Có rất nhiều định nghĩa về dự án đầu tư, chẳng hạn theo Quy chế
quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, dự án đầu tư là một tập hợp những đ ề xuất
có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật
chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến,
nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác đ ịnh.
Định nghĩa này chỉ đặt ra yêu cầu giới hạn về thời gian trong quá trình thực hiện dự
án, còn ngân sách và các nguồn lực khác cần cho quá trình thực hiện dự án li ệu có
điều kiện ràng buộc gì không, ngân sách cho dự án là ngân sách cứng hay ngân sách
mềm, có được điều chỉnh tăng giảm một cách “thoải mái” hay không, ... tất cả đ ều
không được đề cập tới.
Một cách tiếp cận khác theo hướng mọi nguồn lực đều khan hiếm, mọi
phương án sử dụng nguồn lực đều có tính cạnh tranh với nhau, dự án được thực hiện
trên cơ sở giới hạn ngân sách cứng, có một định nghĩa khác như sau: “Dự án đầu tư là
một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thực hiện
nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn
lực và ngân sách”.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 33/ 88
Nghiệp vụ thẩm định trong thời gian vừa qua đã có những bước chuyển rất
đáng kể, bên cạnh việc đưa tin học vào ứng dụng để hỗ trợ quá trình tính toán, nội
dung phân tích đã dần được chuẩn hoá, và trở nên phù hợp hơn so với yêu cầu của
thực tiễn hoạt động tín dụng. Tuy nhiên ngày nay, lý thuyết về thẩm định dự án cũng
đã có những bước tiến đáng kể, khung phân tích một dự án đã đ ược giới thiệu ngày
một hoàn chỉnh hơn, bên cạnh đó là sự xuất hiện những phần mềm chuyên dụng về
thẩm định dự án. Tất cả những nội dung trên đã và đang hình thành nên một thông lệ
chung trong công tác thẩm định dự án. Quay trở lại với cách thức tiến hành nghiệp vụ
thẩm định hiện nay, đối chiếu với thông lệ quốc tế, cho thấy còn nhiều bất cập, cụ
thể như sau:
Chưa định hình được một khung phân tích chuẩn: Chưa phân biệt và hiện
-
đang lẫn lộn giữa hai khái niệm phân tích kinh tế và phân tích tài chính.
Trong phân tích tài chính, chưa tách biệt được việc phân tích lợi ích chi phí
của tổng thể dự án so với phần lợi ích và chi phí của chủ đầu tư để đánh
giá đúng được động cơ của các bên có liên quan trong việc tham gia vào dự
án;
Chưa xây dựng được chuẩn một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
-
tài chính dự án: Các chỉ tiêu tài chính chưa được hiểu một cách chính xác
về ý nghĩa kinh tế; mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và cách làm thế nào đ ể
xác định đúng giá trị của chỉ tiêu phân tích cũng chưa được giới thiệu và
hướng dẫn một cách đầy đủ trong các tài liệu nghiệp vụ;
Chưa chuẩn hoá được phương pháp tính toán hiệu quả tài chính dự án:
-
Mỗi nơi, mỗi chi nhánh làm một kiểu, chưa hình thành được một chuẩn
chung để thống nhất thực hiện;
Chưa đưa vào ứng dụng phần mềm hỗ trợ: Hiện tại, thẩm định dự án mới
-
chỉ dừng lại ở việc ứng dụng Excel để lập các bảng tính và chạy độ nhậy,
những hạn chế về số lượng kịch bản dẫn tới việc khảo sát độ nhậy
không được liên tục. Đặc biệt, phân tích độ nhậy bằng Excel không thể
khảo sát được sự thay đổi của nhiều thông số cùng một lúc, trong đó các
thông số khác nhau thay đổi với các dạng thức khác nhau. Trong khi đó,
như đã đề cập ở trên, đã có rất nhiều phần mềm ứng dụng trong thẩm
định dự án được giới thiệu, các phần mềm này cơ bản khắc phục được
những hạn chế hiện nay của việc ứng dụng Excel trong thẩm định dự án.
Nhằm từng bước hướng nghiệp vụ thẩm định dần theo thông lệ quốc tế,
Phần này sẽ giới thiệu một số nội dung, gồm: Khung phân tích dự án, trong đó giới
thiệu các quan điểm khác nhau trong thẩm định dự án; kỹ thuật phân tích dự án theo
quan điểm ngân hàng; phương pháp xây dựng báo cáo ngân lưu một dự án trong phân
tích tài chính; suất chiết khấu trong thẩm định dự án; cuối cùng là hệ thống các chỉ
tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án. Ngoài ra, một chút về phân tích mô phỏng
Monte Carlo và phần mềm Crystal Ball cũng sẽ được lồng ghép giới thiệu trong Phần
này.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 34/ 88
2. Khung phân tích dự án đầu tư.
Dự án đầu tư, trong quá trình thẩm định, cần được đặt trong bối cảnh đầy đủ
của mối quan hệ giữa các bên trực tiếp có liên quan tới quá trình chuẩn bị, lập, triển
khai, và khai thác vận hành. Do vậy, dự án đầu tư được xem như là một tập hợp các
quan hệ giao dịch, qua đó các cá nhân hay các tổ chức phải chịu các chi phí khác nhau
và nhận được những lợi ích khác nhau. Tuỳ thuộc vào bản chất mối quan hệ của các
bên với dự án, mà các bên sẽ có cách nhìn nhận đánh giá lợi ích và chi phí của họ đối
với việc tham gia vào dự án. Do đó, sẽ là không đầy đủ nếu trong quá trình thẩm định
chúng ta chỉ xem xét đánh giá dự án theo một phương pháp, một cách làm duy nhất, và
gộp chung lợi ích vốn rất khác nhau của các bên khác nhau tham gia vào dự án để đưa
ra kết luận đánh giá. Mỗi bên tham gia dự án, đều có cách nhìn nhận đánh giá và mục
tiêu đặt ra khác nhau. Và vì vậy, việc thẩm định dự án từ một số quan điểm khác
nhau là rất quan trọng, vì chúng cho phép các nhà phân tích xác đ ịnh xem các thành
viên liên quan tới dự án có thấy đáng tài trợ, đáng tham gia thực hiện dự án hay
không.
Trên cơ sở mục tiêu của các bên khi tham gia vào dự án, cũng như vai trò vị trí
của các bên trong tổng hoà mối quan hệ tổng thể kinh tế, xã hội, nhằm đưa ra một
khung phân tích chuẩn trong thẩm định dự án, Sơ đồ 2 dưới đây là các quan điểm
phân tích một dự án đầu tư hiện đang được áp dụng khá phổ biến ở những nước


Th ẩm định d ự á n đầu





Phân tíc h
Phân tíc h Phân tíc h
Phân tíc h
Nhu cầu cơ
Kinh tế Phân
Tài c hính
bản
p h ối


Quan
Quan Quan
điểm
điểm điểm chủ
ngân
ngân đầu tư
sách
hàng

phát triển.
Tiếp theo, từng nội dung phân tích cụ thể làm những gì, sự khác nhau giữa các nội
dung phân tích, mục tiêu tiêu phân tích là gì, ở mỗi quan điểm phân tích thì mức đ ộ
quan tâm của các bên có liên quan tới dự án nhiều hay ít, lý do tại sao, ... sẽ giới thiệu
chi tiết ngay dưới đây.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 35/ 88
2.1. Quan điểm phân tích tài chính.
Nội dung phân tích này, có 3 đối tượng chính quan tâm, đó là: Các ngân hàng
(các TCTD) với tư cách là một bên xem xét khả năng tham gia tài trợ vốn cho dự án;
chủ đầu tư với tư cách là bên trực tiếp tham gia bỏ vốn (vốn tự có) và triển khai thực
hiện dự án; và cơ quan ngân sách của chính quyền, với tư cách là bên có chức năng
quản lý nguồn thu chi ngân sách chính quyền địa phương nơi có dự án triển khai.
a. Ngân hàng: Mối quan tâm trước tiên của ngân hàng là xác định khả năng đứng
vững về mặt tài chính, sức mạnh chung của toàn bộ dự án, qua đó nhằm đánh
giá sự an toàn của số vốn vay mà dự án có thể cần. Các ngân hàng không quan
tâm tới chi phí gốc của các tài sản hiện có, không quan tâm tới việc dự án
được tài trợ từ những nguồn vốn nào. Cái mà các ngân hàng quan tâm là: Với
tổng nhu cầu vốn đầu tư ban đầu như đã dự tính, với qui mô đầu tư như đã
thiết kế, với chi phí nhập lượng đầu vào và giá bán sản phẩm đầu ra, với
chính sách thuế mà dự án có nghĩa vụ thực hiện, từ đó xác định ngân lưu dự án
theo quan điểm tổng đầu tư, từ đó tính toán các chỉ tiêu tài chính và đánh giá
sức mạnh chung của dự án về mặt tài chính. Với cách tính toán có tính chất
gộp chung để xác định sức mạnh chung của toàn bộ dự án như vậy, quan
điểm này còn được biết như là quan điểm tổng đầu tư (Total Investment Point
of view - TIP). Ngoài ra, trong quá trình lập ngân lưu dự án theo quan điểm
ngân hàng, các ngân hàng còn xem xét tới dòng tài chính chi cho dự án (kể cả
trợ giá) và các lợi ích (kể cả phần trả thuế), với cả lợi ích và chi phí được xác
định theo giá cả tài chính của chúng. Nếu gọi A là ngân lưu ròng của dự án
theo quan điểm ngân hàng, A được xác định theo nguyên tắc sau:
A = Lîi Ýchµi chÝnhrùc tiÕp- Chi phݵi chÝnhrùc tiÕp- Chi phÝ ¬ héi cñac¸c tµi s¶n hiÖncã (1)
t t t t c

b. Chủ đầu tư (Equity Point of View - EPV): Mối quan tâm của chủ đầu tư là,
với lợi ích và chi phí của dự án, sau khi đã thực hiện nghĩa vụ với ngân sách
(đóng các khoản thuế), và thực hiện nghĩa vụ trả nợ các ngân hàng vốn vay
đầu tư (gốc và lãi), thì phần còn lại dành cho chủ đầu tư dự án là bao nhiêu.
Và phần lợi ích mà chủ đầu tư thu được đó có lớn hơn chi phí cơ hội khác tốt
nhất đã bị bỏ qua vì nguồn lực đã phải dành để đầu tư thực hiện dự án hay
không. Do đó, khác với ngân hàng, chủ đầu tư phải rất quan tâm tới cơ c ấu
vốn đầu tư của dự án (quan tâm tới chi phí gốc của các tài sản hiện có), qua
đó xác định nghĩa vụ hoàn trả vốn vay cả gốc và lãi từ các nguồn. Các nguyên
tắc tính toán còn lại đều giống như ngân hàng đánh giá, do đó có một sự liên
hệ giữa ngân lưu ròng theo quan điểm ngân hàng và ngân lưu ròng theo quan
điểm chủ đầu tư. Gọi ngân lưu ròng của chủ đầu tư là B, công thức xác đ ịnh
B thông qua A được diễn tả như sau:
B = A + Vèn vay ng©n hµng- Tr¶ nî gèc vµ l·i vay (2)
c. Ngân sách: Mối quan tâm của cơ quan quản lý ngân sách là tác động của dự án
đến ngân sách địa phương. Đối với cơ quan ngân sách, các dự án có thể cần

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 36/ 88
chi dưới dạng trợ giá hay các khoản trợ cấp khác, và cũng có thể tạo thu nhập
từ thu phí sử dụng và thuế trực thu hay gián thu. Do đó, đối với cơ quan quản
lý ngân sách địa phương, thu nhập tài chính ròng (C) do một dự án tạo ra có
thể được diễn tả qua công thức sau:
C = ThuÕ µ phÝö dôngtrùc thu vµ gi¸n thu - Trî gi¸, trî cÊptrùc tiÕpvµ gi¸n tiÕp (3)
v s
Một số nội dung khác cần lưu ý trong phân tích tài chính dự án:
Qui ước về giá tài chính: Mọi tính toán trong phân tích tài chính (giá nhập
-
lượng đầu vào, giá bán sản phẩm đầu ra, tỷ giá hối đoái, ...) sử dụng giá
tài chính, là giá cả hàng hoá, dịch vụ được niêm yết trên thị trường, do thị
trường quyết định;
Nguyên tắc tính toán: Phân tích lợi ích - chi phí dựa vào kỹ thuật kế toán;
-
Kết quả của phân tích tài chính dự án cho biết:
-
o Mức độ chắc chắn đối với mỗi hạng mục thu, chi, đối với các chỉ
tiêu tài chính của dự án. Những yếu tố nào được dự kiến sẽ ảnh
hưởng trực tiếp, gián tiếp tới các biến số này và ảnh hưởng như thế
nào?
o Nguồn tài trợ nào được sử dụng để trả cho các chi phí của dự án.
Phương án tài chính này có những đặc điểm riêng biệt khác như: lãi
suất ưu đãi, vốn trợ cấp, vốn cổ phần hoặc vốn vay của nước ngoài;
o Ngân lưu ròng tối thiểu cần có bao nhiêu để dự án có thể duy trì
được hoạt động mà không cần phải có yêu cầu ngoài kế hoạch xin
thêm ngân sách chính phủ để tài trợ bổ sung; và
o Dự án có đạt được ngân lưu ròng đủ lớn hay suất thu hồi tài chính đủ
cao để làm cho dự án khả thi về mặt tài chính không? Nếu không, thì
những nguồn vốn bổ sung nào là có thể dùng và có thể được cam kết
tài trợ thêm cho dự án nếu như dự án đạt hiệu quả về kinh tế và xã
hội.
Nếu bất kỳ vấn đề nào trong số những vấn đề nêu trên cho thấy những khó
khăn trong tương lai, thì chúng ta phải có những điều chỉnh cần thiết về thiết kế hay
về tài chính của dự án để tránh thất bại trong tương lai.




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 37/ 88
Hộp thứ nhất: Ngân hàng ...
... có nên phân tích dự án theo quan điểm chủ đầu tư không?
Các bên chỉ có động cơ tham gia vào dự án khi và chỉ khi mục tiêu của họ
được bảo đảm. Tuy nhiên, đối với Ngân hàng, ngoài phân tích tài chính d ự án
theo quan điểm ngân hàng, liệu có cần quan tâm và phân tích theo quan điểm
chủ đầu tư? Ma trận dưới đây mô tả kết quả phân tích 1 d ự án theo hai quan
điểm trên:
Quan điểm chủ đầu tư

Quan điểm ngân hàng
- +
Chủ đầu

Cùng
-
Bác bỏ Chấp
thuận
Ngân hàng Cùng
+ Chấp chấp
thuận thuận
Trường hợp cùng bác bỏ hoặc cùng chấp thuận thì đã rõ, hai trường hợp còn
lại, dự án chỉ được một bên, hoặc ngân hàng hoặc chủ đầu tư đồng ý tham
gia. Rõ ràng, khi ch ủ đầu tư đánh giá dự án không đáng thực hiện, và cho dù
họ phải thực hiện vì một lý do nào đó, lúc này họ sẽ không còn động cơ để
2.2. Quan điểm phân tích kinh tế.
Mục tiêu phân tích: Thẩm định kinh tế là nhằm đánh giá dự án từ quan điểm
của toàn bộ nền kinh tế để xác định xem việc thực hiện dự án có cải thiện đ ược
phúc lợi kinh tế quốc gia hay không.
Đối tượng nào quan tâm tới phân tích kinh tế: Sự khác biệt chủ yếu giữa phân
tích kinh tế và phân tích tài chính là ở chỗ: Phân tích kinh tế gộp chung l ợi ích và chi
phí trên tất cả dân cư quốc gia để xác định xem dự án có cải thiện được mức phúc
lợi kinh tế quốc gia như là một tổng thể hay không, trong khi phân tích tài chính xem
xét dự án từ quan điểm phúc lợi của một nhóm nhỏ dân cư. Chính vì điểm khác nhau
căn bản của phân tích kinh tế so với phân tích tài chính nêu trên, nên đ ối t ượng quan
tâm tới phân tích kinh tế thường là: Chính phủ, chính quyền địa phương nơi đặt dự
án, các cơ quan quản lý nhà nước; đôi khi các tổ chức tín dụng và chủ đầu tư cũng
quan tâm tới kết quả phân tích kinh tế của dự án.
Một số nội dung chính, các qui ước, nguyên tắc cần quan tâm trong phân tích
kinh tế:
Qui ước về giá kinh tế: Mọi nhập lượng, xuất lượng đều được tính toán
-
bằng giá kinh tế. Giá kinh tế được xác định trên cơ sở giá tài chính, thông
qua hệ số điều chỉnh để xét đến những biến dạng của thị trường do sự
can thiệp của chính sách: Thuế, mậu dịch, giá trần, giá sàn, quota, trợ giá,
trợ cấp;

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 38/ 88
Ngoại tác: Trong phân tích kinh tế, cần bổ sung thêm về ngoại tác hay l ợi
-
ích hoặc chi phí mà dự án tạo ra cho con người, môi trường xung quanh
vùng dự án. Theo quan điểm toàn quốc gia, các hoạt động phải hy sinh để
thực hiện dự án phải được xem và tính như là một khoản chi phí;
Nguyên tắc tính toán: Thay vì dựa hoàn toàn vào kỹ thuật kế toán để phân
-
tích lợi ích - chi phí như trong phân tích tài chính, phân tích kinh tế còn đòi
hỏi sử dụng kỹ thuật tính toán kinh tế (chủ yếu là kiến thức cơ bản về
kinh tế vĩ mô) để bổ sung vào khung kế toán. Ngoài việc sử dụng giá kinh
tế của các nhập lượng và xuất lượng, kể đến các ngoại tác, thì thẩm định
kinh tế của một dự án không tính tới vốn vay vì chúng chỉ thể hiện dòng
tiền chứ không phải là tài nguyên thực sự; các khoản thuế và trợ cấp cũng
không được kể đến trong ngân lưu dự án vì đó được xem là những khoản
chuyển giao trong nội bộ nền kinh tế mà không làm cho qui mô nền kinh
tế thay đổi lớn lên hay nhỏ đi.
Những vấn đề căn bản được nêu ra trong thẩm định kinh tế của một dự án
đầu tư có thể được trình bầy như sau:
Mức độ khác biệt như thế nào giữa các giá trị kinh tế và giá trị tài chính
-
của các biến số;
Nguyên nhân của những khác biệt này;
-
Giá trị của các khác biệt này với mức độ chắc chắn như thế nào;
-
Nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án về mặt kinh tế, cần phải tính đ ến
-
các loại tác động ngoại ứng nào.
Chính những nội dung, phương pháp và nguyên tắc phân tích nêu trên, dẫn tới
hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án về cơ bản là không như nhau, thậm
trí đôi khi còn trái chiều nhau.




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 39/ 88
Hộp th ứ h ai: Ngân hàng ...
... có cần quan tâm tới kết quả phân tích kinh tế dự án không?
Trong phạm vi hẹp của phân tích tài chính, dự án đảm bảo có hiệu quả. Ở một
phạm vi rộng hơn của phân tích kinh tế, xem xét dự án dưới góc độ toàn bộ
quốc gia, liệu kết quả phân tích có ảnh hưởng gì tới lợi ích của các bên trực
tiếp tham gia vào dự án, trong đó có ngân hàng? Ma trận dưới đây mô tả 4 khả
năng có thể xảy ra khi phân tích tài chính và kinh tế 1 dự án.
Phân tíc h kinh tếPhân tíc h tài c hính -+ Bác bỏ? + Ch ấp thu ận Trường
- ?
hợp bác bỏ hoặc chấp thuận thì đã rõ, hai trường hợp còn lại thì cần có sự
điều chỉnh hoặc bổ sung cho dự án. Trường hợp còn lại thứ nhất, dự án có
hiệu quả kinh tế nhưng do hiệu quả tài chính thấp, nên để thực hiện thì chủ
đầu tư cần điều chỉnh lại nội dung dự án hoặc đề xuất với chính quyền để
tìm kiếm các nguồn tài chính, các biện pháp hỗ trợ bổ sung từ bên ngoài
nhằm đảm bảo về hiệu qủa tài chính (vì dự án có lợi cho nền kinh tế).
Trường hợp còn lại thứ hai, dự án có hiệu quả tài chính nhưng hiệu quả kinh
tế thấp, nhiều khả năng dự án sẽ gặp khó khăn trong quá trình triển khai do
không được nhiều sự đồng thuận của xã hội; trong trường hợp này, nếu
không thực hiện việc điều chỉnh lại nội dung dự án, thì cần phải có các cam
kết, các bảo đảm từ phía chính quyền trước khi triển khai dự án.
Như vậy, trong quá trình thẩm định dự án, ở một chừng mực nào đó, Ngân
hàng cũng cần phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế của dự án. Thuận lợi nhất,
một dự án vừa có hiệu quả tài chính, vừa có hiệu quả kinh tế. Các trường hợp
còn lại, nhất thiết phải có những điều chỉnh hoặc bên trong dự án, hoặc từ bên
ngoài dự án thì mới có thể xem xét khả năng ngân hàng tham gia tài trợ vốn
cho dự án.




2.3. Quan điểm phân tích xã hội.
Phân tích xã hội liên quan tới việc xác định ai là người được, ai là người ch ịu
thiệt từ dự án và từ đó đưa ra chính sách thích hợp; và nếu có thể, l ượng hoá nh ững
tác động ngoài kinh tế của dự án. Những tác động này bao gồm ảnh hưởng của dự án
đối với phúc lợi của những nhóm đặc biệt trong xã hội bởi vì hiếm khi một dự án có
thể mang lại lợi ích cho mọi người dân trong xã hội một cách đồng đều. Mặc dù
phân tích xã hội có thể ít chính xác hơn phân tích tài chính hoặc phân tích kinh t ế,
nhưng để có ý nghĩa, việc phân tích xã hội thường gắn liền với những yếu tố đã
được sử dụng trong phân tích tài chính và kinh tế. Dưới đây là những vấn đề được
đặt ra đối với phân tích xã hội:


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 40/ 88
Dự án có thể giúp đạt được những mục tiêu xã hội nào đó của chính
-
quyền?
Ai là đối tượng được hưởng lợi từ dự án, và ai là những đối tượng chịu
-
chi phí của dự án. Cách mà các đối tượng hưởng lợi hoặc chịu chi phí từ
dự án;
Dự án sẽ gây ra tác động gì về mặt chính trị, xã hội, và bằng cách nào;
-
Để đạt được những mục tiêu xã hội tương tự như dự kiến từ dự án, chính
-
quyền có chương trình thay thế nào không, và chi phí ròng cho các chương
trình này là bao nhiêu?
2.4. Phân tích nhu cầu cơ bản.
Đánh giá kết quả gián tiếp của dự án, khi các thành viên của dự án tiêu th ụ
một dịch vụ đáng khuyến khích, những dịch vụ thuộc diện được xem như những nhu
cầu cơ bản, như giáo dục, y tế, được xem như những ngoại ứng khi phân tích.
3. Trình tự xây dựng các bảng tính trong phân tích dự án.
Ngày nay, sử dụng bảng tính trên nền Excel là kỹ thuật khá phổ biến và hiệu
quả để phân tích đánh giá dự án đầu tư. Tuy nhiên, để có thể sử dụng và khai thác
triệt để sức mạnh của Excel, đồng thời đảm bảo yêu cầu tương thích đ ể có thể s ử
dụng các phần mềm hỗ trợ nhằm nâng cao kết quả dự báo từ mô hình bảng tính,
việc xây dựng các bảng tính trong phân tích dự án, từ cơ sở dữ liệu đầu vào, kế
hoạch đầu tư, phương án nguồn vốn và tài trợ, ... cho đến việc xây dựng ngân lưu dự
án theo các quan điểm phân tích khác nhau để tính toán xác định các chỉ tiêu tài chính
dự án, cần được thực hiện theo một trình tự nhất định. Thông thường, nội dung tính
toán trong phân tích dự án gồm các bảng tính chi tiết sau:
Bảng thông số;
-
Bảng tính chỉ số lạm phát và tỷ giá hối đoái cho từng năm;
-
Bảng tính sản lượng, doanh thu hàng năm;
-
Dự toán chi phí hoạt động;
-
Lịch đầu tư;
-
Bảng tính toán nhu cầu vốn lưu động;
-
Bảng tính khấu hao và thanh lý tài sản;
-
Lịch vay vốn và trả nợ;
-
Bảng tính giá thành sản phẩm đơn vị;
-
Bảng tính giá vốn hàng bán;
-
Báo cáo thu nhập;
-
Bảng cân đối kế toán dự kiến;
-
Bản ngân lưu theo các quan điểm khác nhau: Tổng đầu tư, chủ đầu tư.
-

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 41/ 88
Nội dung, ý nghĩa và một số lưu ý khi xây dựng các bảng tính chi tiết nêu trên
được tóm tắt như sau:
3.1. Bảng thông số (Table of Parameters): Mục đích của việc lập bảng thông số là
nhằm tạo bộ thông số đầu vào để thống nhất sử dụng cho tất cả các bước tính toán
tiếp theo trong quá trình thẩm định dự án. Bảng này bao gồm: Tất cả các thông số,
chỉ tiêu đầu vào của dự án như: Công suất thiết kế, cơ cấu sản phẩm, tổng vốn đầu
tư và cơ cấu vốn đầu tư theo hạng mục và theo tính chất sở hữu, tài trợ và các điều
kiện tài trợ (lãi suất, thời hạn vay trả, ...), các chỉ tiêu xác đ ịnh như cầu vốn l ưu
động, thuế, tỷ giá, lạm phát, và các thông số khác. Một số điểm cần l ưu ý trong l ập
bảng thông số:
Không nên liên kết công thức đối với những dữ liệu gốc mà nên gõ tr ực
-
tiếp giá trị vào ô địa chỉ;
Chỉ nên đưa vào bảng thông số những thông tin định lượng, không nên đưa
-
quá nhiều thông tin có tính chất định tính;
Nên phân nhóm các loại dữ liệu để cho bảng thông số trở nên rõ ràng hơn,
-
dễ sử dụng hơn, và dễ kiểm soát hơn;
Trước khi lập bảng thông số, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng dự án,
-
cần cân nhắc, đánh giá và lựa chọn các biến rủi ro ngay từ bộ dữ liệu đầu
vào của dự án hoặc đưa thêm vào để phục vụ cho các bước phân tích tiếp
theo.
Như vậy, bảng thông số không chỉ đơn thuần là một bảng tổng hợp các thông
số đầu vào của dự án, mà qua nội dung trong bảng thông số, đã nói lên phần nào quan
điểm nhìn nhận, đánh giá của người phân tích đối với dự án đó. Do đó, trước khi bắt
tay vào xây dựng bảng thông số cần: (1) Đọc kỹ nội dung dự án đ ể đ ảm bảo đ ưa
đầy đủ các số liệu cần thiết của dự án vào bảng thông số, hạn chế đến mức tối việc
phải bổ sung thêm thông số để không phải định dạng lại bảng; (2) Sơ bộ đánh giá dự
án, đặc biệt là nhận định các biến rủi ro để chủ động đưa thêm vào bảng thông số
cho phù hợp, phục vụ cho khảo sát đánh giá tiếp theo sau.
3.2. Bảng tính chỉ số lạm phát và tỷ giá hối đoái (Inflation Index and Exchange
rate): Lạm phát - một yếu tố tất yếu khách quan, và tỷ giá hối đoái là những y ếu t ố
có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay của dự án, do
đó việc cố định tỷ giá hối đoái hay không xét tới ảnh hưởng của lạm phát sẽ dẫn tới
những đánh giá kết luận thiếu chính xác về dự án. Bảng tính này sẽ xác đ ịnh ch ỉ s ố
lạm phát và tỷ giá hối đoái hàng năm trong suốt vòng đời của dự án, nhằm phục v ụ
cho việc tính toán ở các bảng tiếp theo như: Doanh thu, chi phí, lịch đầu tư, kế hoạch
trả nợ, giá vốn hàng bán, ... Trong quá trình xây dựng bảng này, cần chú ý một s ố
vấn đề sau:
Đối với lạm phát: Tỷ lệ lạm phát trong nước và nước ngoài đều được giả
-
định trên cơ sở số liệu lịch sử, số liệu pháp lệnh và kỹ năng phân tích đánh
giá của người thẩm định dự án. Từ lạm phát trong nước sẽ xác định được
chỉ số lạm phát trong nước, từ lạm phát nước ngoài sẽ xác định được chỉ
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 42/ 88
số lạm phát nước ngoài. Để dự báo được tỷ lệ lạm phát một cách chính
xác và đưa vào tính toán là rất khó khăn, đôi khi không thể thực hiện được,
nhưng không thể không xét đến yếu tố lạm phát trong thẩm định dự vì gặp
khó khăn trong vấn đề dự báo vì lạm phát là một yếu tố tất yếu khách
quan và có tác động quan trọng tới hiệu quả dự án. Do đó, hướng giải
quyết đơn giản là trên cơ sở tỷ lệ lạm phát năm hiện hành, dự báo tỷ lệ
lạm phát trong năm tiếp theo và giả định rằng tỷ lệ lạm phát là không đổi
trong suốt vòng đời của dự án để tính các chỉ số lạm phát cho những năm
tiếp theo;
Tỷ lệ lạm phát nước ngoài lấy của nước nào để đưa vào tính toán? điều
-
này phụ thuộc vào dự án vay và trả nợ vay bằng loại ngoại tệ gì hơn là
việc căn cứ vào nguồn gốc của máy móc thiết bị nhập ngoại. Ví dụ, thiết
bị có thể nhập khẩu của Trung quốc, nhưng nếu thanh toán bằng USD
hoặc EUR thì tỷ lệ lạm phát nước ngoài nên căn cứ vào tỷ lệ lạm phát của
các nước phát triển, chứ không căn cứ vào tỷ lệ lạm phát của Trung quốc.
Nhưng khi thanh toán tiền mua ngoại nhập bằng Nhân dân tệ (đơn vị tiền
tệ của Trung quốc) thì tỷ lệ lạm phát nước ngoài là tỷ lệ lạm phát của
Trung quốc;
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái sẽ được điều chỉnh theo lạm phát trong
-
nước và lạm phát nước ngoài. Thông thường, khi lạm phát trong nước tăng
cao, sẽ gây áp lực lên tỷ giá, đối với các nước đang phát triển như Việt
Nam, dự trữ ngoại tệ không đủ lớn để can thiệp giữ ổn định tỷ giá, thì tỷ
giá sẽ tăng lên. Tỷ giá hối đoái xác định theo tỷ lệ lạm phát trong nước và
nước ngoài được tính theo công thức sau:
ChØ è l¹m ph¸t trong n-íc n¨m t
s
TGH§ t = TGH§ t 1*
ChØ è l¹m ph¸t n-íc ngoµin¨m t
s
3.3. Kế hoạch đầu tư (Investment Schedule). Vốn đầu tư thường được giải ngân
theo tiến độ đầu tư thực hiện dự án chứ không giải ngân toàn bộ vào đầu hoặc cuối
quá trình đầu tư. Do đó, phải căn cứ vào tiến độ thực hiện, tiến đ ộ huy động các
nguồn vốn để xây dựng lịch đầu tư cho dự án. Và do đó, kế hoạch đầu tư, hay còn
gọi là kế hoạch sử dụng vốn của dự án qua từng thời đoạn; kế hoạch này phải phù
hợp với điều kiện đã được thu xếp về cung cấp lao động, tài chính và nguyên vật
liệu cho dự án. Kế hoạch đầu tư được lập nhằm các mục đích sau:
Phân bổ vốn đầu tư qua từng giai đoạn, qua đó xác định lại mức vốn đầu
-
tư ở từng giai đoạn đầu tư và tổng mức vốn đầu tư toàn bộ dự án có xét
đến yếu tố lạm phát trong suốt quá trình đầu tư dự án;
Kế hoạch đầu tư này sẽ được đưa vào và trở thành một bộ phận trong báo
-
cáo ngân lưu lập ở các bước sau này;
Giá trị tài sản cố định hình thành sau đầu tư có được từ Kế hoạch đầu tư,
-
sẽ được dùng để tính mức trích khấu hao cơ bản hàng năm (phục vụ cho
việc xây dựng kế hoạch khấu hao) và lập bảng cân đối dự toán sau này;
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 43/ 88
Thông qua việc lập kế hoạch đầu tư, cho phép xác định được chính xác giá
-
trị phần lãi vay phát sinh trong thời gian thi công.
3.4. Lịch khấu hao (Depreciation Schedule): Khấu hao là việc tính toán và phân bổ
dần một cách có hệ thống nguyên giá tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh
trong thời gian sử dụng của tài sản cố định. Doanh thu, sau khi trừ đi khấu hao và các
loại chi phí khác nhằm xác định được lợi nhuận và nghĩa vụ thuế doanh nghiệp phải
nộp trong kỳ hoạt động. Khấu hao, là dạng chi phí không xuất quỹ, nó không thuộc
dòng ngân lưu ra, cũng không thuộc dòng ngân lưu vào, do đó khấu khao không tham
gia vào báo cáo ngân lưu. Xây dựng Lịch khấu hao, cần lưu ý một số vấn đề sau:
Không khấu hao cả phần VAT: Đối tượng để trích khấu hao là tài sản cố
-
định trên cơ sở nguyên giá. Nguyên giá tài sản cố định là giá/chi phí thực tế
phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được
hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi trả ra tính đến thời điểm
đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: lãi tiền vay đầu
tư cho tài sản cố định, chi phí vận chuyển bốc dỡ, chi phí nâng
cấp, chi phí lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ, ... VAT là một loại
thuế được hoàn lại, do đó không được đưa vào nguyên giá tài sản cố
định để tính khấu hao. Về nguyên tắc hạch toán cũng cho thấy điều
khi doanh nghiệp đầu tư mua sắm tài sản cố định, bút toán hạch
này,
cho nghiệp vụ này thường là:
toán
Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (nguyên giá)
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (1332)
Có các TK 111, 112, hoặc
Có TK 331 - Phải trả cho người bán, hoặc
Có TK 341 - Vay dài hạn.
Rất nhiều dự án chỉ đưa ra cơ cấu vốn đầu tư xây lắp, thiết bị, chi phí
khác, ... gồm cả VAT mà không tách riêng chi phí trước thuế VAT và phần
VAT. Đến khi lập bảng khấu hao, nếu chúng ta đưa toàn bộ giá trị tài sản
kể cả VAT vào để xác định mức khấu hao trong kỳ là không chính xác.
Bổ sung giá trị tài sản cố định để thực hiện trích khấu hao: Khi doanh
-
nghiệp thực hiện sửa chữa lớn, giá trị TSCĐ sẽ tăng lên sau sửa chữa, nên
mức trích khấu hao trong những năm tiếp theo sẽ thay đổi, và sự thay đổi
này cần được thể hiện trong bảng tính khấu hao;
Các phương pháp khấu hao: Theo qui định hiện hành, có ba phương pháp
-
tính khấu hao tài sản cố định, gồm: Khấu hao đường thẳng, khấu hao theo
số dư giảm dần có điều chỉnh và khấu hao theo số lượng khối lượng sản
phẩm. Trong Excel, nhóm hàm tài chính có 3 hàm tính khấu hao, gồm:
Khấu hao đường thẳng - hàm SLN, khấu hao theo số dư giảm dần - hàm
DDB, và khấu hao nhanh theo tổng số thứ tự của số năm trích khấu hao -
hàm SYD.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 44/ 88
3.5. Lịch vay vốn, trả nợ (Loan Schedule): Lịch vay vốn, trả nợ này được xây dựng
dựa trên các thoả thuận tài trợ: Nguồn tài trợ, điều kiện tài trợ vốn vay: lãi suất, thời
hạn trả nợ, hình thức trả nợ. Lịch vay vốn, trả nợ được xây dựng nhằm mục đích
phục vụ cho các phân tích ở những bước tiếp theo sau: (1) Xác định kế hoạch vay
vốn, trả nợ gốc và lãi vay đối với từng năm trong suốt vòng đời dự án; (2) s ố liệu
đầu vào để xây dựng báo cáo ngân lưu dự án theo quan điểm chủ đầu tư; (3) tính toán
chỉ tiêu DSCR. Thông thường, nếu một dự án vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau, có
cả nội tệ và ngoại tệ, thì nội dung lịch vay vốn, trả nợ gồm có:
Lịch vay trả vốn trong nước (tính bằng đồng nội tệ);
-
Lịch vay trả vốn nước ngoài (tính bằng đồng ngoại tệ);
-
Lịch vay trả vốn nước ngoài qui đổi ra nội tệ;
-
Tổng hợp lịch vay vốn, trả nợ các loại nguồn vốn tính chung bằng nội tệ.
-
Để qui đổi lịch trả nợ vốn ngoại tệ ra nội tệ, chỉ cần nhân tất cả các chỉ tiêu
của lịch trả nợ vốn vay ngoại tệ hàng năm với tỷ giá hối đoái tương ứng của năm đó.
Hiện nay, các bên cho vay đều đưa ra cơ chế lãi suất thả nổi thay vì cho vay theo lãi
suất cố định, đặc biệt là cho vay đầu tư dài hạn, và mức lãi suất cho vay thường
công bố mức lãi suất danh nghĩa. Khi tỷ lệ lạm phát gia tăng, để đảm bảo duy trì
được mức sinh lợi yêu cầu thực tế, chắc chắn các bên cho vay sẽ phải tăng lãi suất
cho vay danh nghĩa để đảm bảo mức lãi suất thực ít nhất là ngang bằng với thời
điểm trước đây khi tỷ lệ lạm phát chưa gia tăng (tối thiểu là phải cố đ ịnh mức lãi
suất thực). Khi lãi suất vay vốn thay đổi, không những chi phí sử dụng vốn bình quân
thay đổi, mà các chỉ tiêu trong Lịch vay vốn, trả nợ cũng sẽ thay đổi, và kéo theo r ất
nhiều những thay đổi ở các chỉ tiêu có liên quan khác. Tác động của lạm phát lên các
chỉ tiêu tài chính của dự án như thế nào, nội dung này sẽ được phân tích kỹ ở Mục ....
Riêng đối với việc lập lịch vay vốn, trả nợ, làm thế nào để phản ánh đ ược thực tế
này vào trong bảng tính, chúng ta thực hiện như sau:
Tạo lập liên kết giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và tỷ lệ lạm phát
-
trên Bảng thông số: Trên bảng thông số, đối với mỗi loại nguồn vốn tài
trợ sẽ có hai ô về lãi suất, một ô ghi giá trị lãi suất danh nghĩa, một ô ghi
giá trị lãi suất thực. Căn cứ với mức lãi suất danh nghĩa ngân hàng công bố
và tỷ lệ lạm phát hiện thời, để xác định mức lãi suất thực theo công thức:
i - gPe
r= , trong đó r là lãi suất thực, i là lãi suất danh nghĩa và gPe là tỷ lệ
1 + gPe
lạm phát. Gõ trực tiếp bằng tay giá trị của lãi suất thực (r) được xác định
theo công thức trên vào ô lãi suất thực trên bảng thông số. Sau đó, xác định
lãi suất danh nghĩa theo công thức i = r + (1 + r)*gP e với r là lãi suất thực
vừa xác định được ở trên;
Với cách tổ chức liên kết thông tin như vậy, chúng ta đã xác định và cố
-
định mức lãi suất thực mà các bên cho vay yêu cầu trên cơ sở lãi suất danh
nghĩa mà các bên cho vay công bố và một tỷ lệ lạm phát hiện hành. Khi tỷ

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 45/ 88
lệ lạm phát thay đổi, thì lãi suất vay vốn danh nghĩa cũng sẽ tự động thay
đổi theo để đảm bảo bên cho vay luôn nhận được một mức lãi suất thực
cố định như ban đầu. Nguồn gốc của hai công thức về lãi suất thực và lãi
suất danh nghĩa nêu trên sẽ được giải thích rõ ở Mục ...
Tuy nhiên, đối với những nguồn vốn có lãi suất vay không phụ thuộc lạm phát
(chẳng hạn như vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn ODA, ...), thì
không cần thực hiện kết nối quan hệ trên.
3.6. Bảng tính doanh thu bán hàng (Table of Sale Revenues): Doanh thu được xác
định trên cơ sở giá bán sản phẩm đầu ra và sản lượng tiêu thụ. Giá bán s ản ph ẩm
đầu ra thay đổi theo tỷ lệ lạm phát từng năm được xác định ở bảng chỉ số lạm phát
và tỷ giá hối đoái. Sản lượng sản xuất và tiêu thụ được xác đ ịnh dựa trên công suất
thiết kế và tỷ lệ tồn kho dự kiến. Kết quả của bảng tính này là doanh thu hàng năm
của dự án, sẽ được sử dụng cho những tính toán tiếp theo sau, như: Xác định các
khoản phải thu, cân đối tiền mặt tồn quỹ, báo cáo thu nhập.
3.7. Chi phí hoạt động (Operating cost): Bảng này xác định tất cả các loại chi phí
hàng năm phát sinh trong quá trình dự án bắt đầu đi vào vận hành, như: Chi nguyên
nhiên vật liệu, chi lương trực tiếp, chi phí quản lý, trợ cấp, ...
Cách xây dựng: Kết cấu của Bảng thường được chia làm 3 phần: Chi phí trực
tiếp, chi phí gián tiếp và Thuế VAT. Sau đó, xác định tổng chi phí = Chi phí trực tiếp
+ Chi phí gián tiếp + Thuế VAT phải nộp. Mọi khoản chi phí đều được xác định theo
mặt bằng giá của từng năm, tức là được điều chỉnh theo chỉ số lạm phát.
Kết quả tính toán ở Bảng này để phục vụ cho các bước tính toán tiếp theo, như: Các
khoản phải trả, nhu cầu vốn lưu động, chi phí đơn vị để xác định giá vốn hàng năm
theo các hình thức xác định giá trị tồn kho khác nhau.
3.8. Bảng tính vốn lưu động (Working capital): Mục tiêu lập bảng tính vốn lưu
động nhằm: (1) Xác định giá trị của thay đổi các khoản phải thu (DAR), thay đổi các
khoản phải trả (DAP); những chỉ tiêu này sẽ được dùng để điều chỉnh các khoản
thực thu thực chi trong báo cáo ngân lưu; và (2) Xác định lãi vay vốn lưu động trên cơ
sở nhu cầu vốn lưu động thực tế để đưa vào thành một khoản mục chi phí trong báo
cáo thu nhập. Kết cấu của bảng tính vốn lưu động gồm có các chỉ tiêu sau:
Tồn quỹ tiền mặt CB (Cash Balance) và thay đổi tồn quỹ tiền mặt
-
Δ CB = CBcuèi kú - CB®Çukú ;
Các khoản phải thu AR (Account Receivables) và thay đổi khoản phải thu
-
ΔAR = AR ®Çukú - AR cuèi kú ;
Các khoản phải trả AP (Account Payables) và thay đổi các khoản phải trả
-
ΔAP = AP®Çukú - APcuèi kú ;
Vốn lưu động: Là toàn bộ số vốn lưu động cần thiết để phục vụ cho hoạt
-
động của dự án, được xác định theo công thức sau: WC = CB + AR - AP.


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 46/ 88
Nhu cầu vốn lưu động (WCD): Trên cơ sở vốn lưu động cần cho hoạt
-
động của dự án, sau khi trừ đi vốn lưu động tự có, tự bổ sung từ kết quả
hoạt động của những năm trước, để xác định được nhu cầu vốn lưu động
(cần vay thêm) đáp ứng cho nhu cầu hoạt động của dự án.
Lý giải công thức xác định thay đổi các khoản phải thu, phải trả và tồn quỹ
tiền mặt nêu trên sẽ được giải thích cụ thể ở Mục ... dưới đây.
Cách xác định CB, AR, và AP: Tồn quỹ tiền mặt CB là số dư tiền mặt tồn quỹ
tối thiểu phải duy trì, đây là khoản tiền mặt được dành riêng và sử dụng để làm cho
việc giao dịch, thanh toán được dễ dàng. Cả tồn quỹ tiền mặt CB và các khoản phải
thu AR đều được xác định theo tỷ lệ % đối với doanh thu bán hàng, trong khi đó các
khoản phải trả AP lại được tính theo tỷ lệ % của Chi phí hoạt động. Cả doanh thu
bán hàng và chi phí hoạt động đều đã được xác định từ những bảng tính phía tr ước,
nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để ước lượng và lựa chọn được các tỷ lệ % phù
hợp để xác định các chỉ tiêu CB, AR và AP? Điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào chủ
quan đánh giá của nhà phân tích dự án, nhưng trước hết, tỷ lệ mua chịu, bán chịu và
mức tồn quỹ tiền mặt tối thiểu hoàn toàn do chính sách bán hàng, chính sách xây
dựng thương hiệu, chiến lược thâm nhập thị trường và xác lập thị phần, mối quan
hệ và uy tín của chủ dự án với các nhà cung ứng, chính sách đối với hệ thống đ ại lý
tiêu thụ, ... quyết định. Ngoài ra, một số gợi ý sau đây có thể hữu ích đ ể giúp gi ải
quyết vấn đề này:
Thông thường, sản phẩm mới tham gia vào thị trường và cần xây dựng
-
thương hiệu từ đầu thì chính sách bán hàng hấp dẫn sẽ được l ựa chọn, vì
vậy tỷ lệ bán chịu cao và AR sẽ cao. Ngược lại, đối với đầu tư mở rộng
theo chiều rộng hoặc chiều sâu, sản phẩm đã có uy tín trên thị trường thì
chính sách đối với các đại lý có thể chặt chẽ hơn, AR sẽ không cao;
Dự án đầu tư mới trong lĩnh vực hiện doanh nghiệp đang hoạt đ ộng: Có
-
thể dựa vào chính thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, từ báo cáo tài
chính các năm để xác định những mức tỷ lệ phù hợp cho 3 chỉ tiêu trên;
Lĩnh vực của Dự án đầu tư mới khác với lĩnh vực doanh nghiệp đang hoạt
-
động: Trường hợp này, phải tham khảo số liệu của ngành, của các doanh
nghiệp khác đang hoạt động trong lĩnh vực đầu tư của dự án đ ể ước
lượng và lựa chọn;
Cả dự án và chủ dự án đều mới thành lập: Sản phẩm mới thâm nhập thị
-
trường, quan hệ của chủ dự án với các nhà cung ứng cũng mới được thiết
lập, do đó khả năng phải để tồn quỹ tiền mặt, các khoản phải thu, phải
trả nhìn chung sẽ phải lớn hơn so với các dự án đang hoạt động.
Cách xác định Vốn lưu động: Một cách làm phổ biến hiện nay là căn cứ vào
tổng chi phí nguyên liệu đầu vào, vòng quay vốn lưu động và vốn lưu động tự có để
xác định nhu cầu vốn lưu động trong kỳ. Với cách làm này, đôi khi chỉ một sự thay
đổi nhỏ trong việc xác định vòng quay vốn lưu động, sẽ làm cho kết quả tính toán
nhu cầu vốn lưu động thay đổi rất đáng kể. Với việc đã xác đ ịnh đ ược nhu c ầu t ồn
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 47/ 88
quỹ tiền mặt tối thiểu, các khoản phải thu, các khoản phải trả trong từng kỳ hoạt
động, có một cách tiếp cận khác trong tính toán nhu cầu vốn lưu động, cụ thể như
sau:
Cho dù khả năng luân chuyển vốn lưu động có nhanh hay chậm, vốn lưu
-
động có quay được bao nhiêu vòng trong một kỳ kinh doanh đi nữa, thì vốn
lưu động nếu tính toán đầy đủ phải đáp ứng được các yêu cầu có tính chất
thường xuyên về: Nhu cầu tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (CB), bù đắp được
các khoản phải thu (AR - phần bị chiếm dụng), giá trị hàng tồn kho, và loại
trừ bớt đi phần vốn chiếm dụng được của khách hàng - các khoản phải trả
(AP). Thể hiện cho lập luận này là việc vốn lưu động được xác đ ịnh theo
công thức: WC = CB + AR - AP;
Như vậy, với cách tiếp cận này thì việc tính toán vốn lưu động đã không
-
gặp phải vấn đề khó khăn khi xác định vòng quay của các khoản nguyên
nhiên vật liệu đầu vào như trước đây.
Nhu cầu vốn lưu động (WCD) được xác định trênc ơ sở mức vốn lưu động
-
cần thiết WC, sau khi đã trừ đi: Vốn lưu động tự có, vốn lưu động tự bổ
sung từ kết quả kinh doanh của năm kế trước đó.
Ở công thức xác định vốn lưu động WC, ngoài tồn quỹ tiền mặt, các khoản phải thu,
các khoản phải trả, không thấy có sự xuất hiện của khoản mục hàng tồn kho nh ư
cách đặt vấn đề ban đầu. Điều này được giải thích như sau:
Khi mua nguyên nhiên vật liệu đầu vào để phục vụ cho hoạt động của dự
-
án, tuỳ theo hình thức thanh toán, có thể thanh toán toàn bộ, thanh toán một
phần và thiếu nợ nhà cung ứng một phần, hoặc thiếu nợ/mua chịu toàn bộ;
tiền để mua nguyên vật liệu có thể dùng tiền mặt, hay tiền vay. Về mặt
hạch toán, nhóm các tài khoản: Tiền mặt (nhóm 11), hàng tồn kho (nhóm
15), nợ ngắn hạn (nhóm 31) và các khoản phải trả (nhóm 33) thường được
sử dụng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh loại này. Theo nguyên
tắc kế toán kép (đối ứng tài khoản), giá trị nguyên liệu đầu vào (là một bộ
phận của hàng tồn kho) mua trong kỳ sẽ được thể hiện hoặc ở số phát sinh
nợ của tài khoản nhóm 15, hoặc ở số phát sinh tổng dư có của các tài
khoản thuộc nhóm 11, nhóm 31 và nhóm 33. Ngoài ra, tài khoản phải thu
của khách hàng (thuộc nhóm 13) và tài khoản phải trả người bán (thuộc
nhóm 33) đều có thể có số dư ở cả hai bên Nợ, Có. Như vậy, khi vốn lưu
động xác định theo công thức WC = CB + AR - AP, thì bản thân giá trị hàng
tồn kho đã tự động được tính đủ. Nếu tiếp tục đưa thêm giá trị hàng tồn
kho vào công thức xác định vốn lưu động, sẽ dẫn tới việc tính hai lần nhu
cầu thực và không chính xác;
Một ví dụ cụ thể bằng số: Trong kỳ, dự án cần 300$ để mua vật tư hàng
-
hoá để sản xuất kinh doanh mặt hàng chịu thuế VAT, dự án có thể mua
chịu được của nhà cung ứng 50 $, tiền mặt tồn quỹ hiện không còn để dự
án có thể sử dụng trả một phần hay toàn bộ chi phí mua vật tư hàng hoá.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 48/ 88
Như vậy, phần còn thiếu hụt phải vay ngắn hạn ngân hàng. Nghiệp vụ
này được hạch toán như sau:
Nợ TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu: 100
Nợ TK 153 - Công cụ, dụng cụ: 100
Nợ TK 156 - Hàng hoá: 100
Nợ TK 133 - Thuế VAT được khấu trừ: 30
Có TK 311 - Vay ngắn hạn: 300 + 30 ­ 50 = 280
Có TK 331 - Phải trả người bán: 50

Ở ví dụ trên, tổng chi phí kể cả VAT là 330 $, nhà cung ứng cho chịu 50 $, do
đó cần phải vay ngắn hạn vốn lưu động là 330 - 50 = 280 $ để mua vật tư hàng hoá.
Áp dụng công thức xác định vốn lưu động, ta có: CB = 300, AR = 30 và AP = 50, vậy
vốn lưu động, cũng chính là nhu cầu vốn lưu động cần phải vay ngắn hạn ngân hàng
được xác định là WC = CB + AR - AP = 300 + 30 - 50 = 180 ($). Rõ ràng, chúng ta
không thấy có sự tham gia của hàng tồn kho vào công thức trên, nhưng kết quả tính
toán nhu cầu vốn vay hoàn toàn hợp lý và chính xác. Vậy, trường hợp tồn quỹ tiền
mặt hiện tại có thể sử dụng được là 100 $ để thanh toán một phần chi phí mua v ật
tư hàng hoá, thì nhu cầu vốn lưu động sẽ là bao nhiêu, dùng công thức xác đ ịnh v ốn
lưu động ta hoàn toàn có thể xác định chính xác được. Hạch toán và tính toán như sau:
Nợ TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu: 100
Nợ TK 153 - Công cụ, dụng cụ: 100
Nợ TK 156 - Hàng hoá: 100
Nợ TK 133 - Thuế VAT được khấu trừ: 30
Có TK 111 - Tiền mặt: 100
Có TK 311 - Vay ngắn hạn: 200 + 30 ­ 50 = 180
Có TK 331 - Phải trả người bán: 50
Lúc này, CB = 300 - 100 = 200, các khoản phải thu AR = 30 và AP = 50 vẫn nh ư cũ,
do đó nhu cầu vốn vay/nhu cầu vốn lưu động WCD = 200 + 30 - 50 = 180 ($). Một
lần nữa, hàng tồn kho lại không tham gia vào công thức xác định nhu cầu vốn l ưu
động.
3.9. Bảng tính giá thành đơn vị sản phẩm (Unit Cost of Production): Mục tiêu của
việc lập Bảng tính này nhằm xác định giá thành đơn vị của sản phẩm theo từng năm,
qua đó để phục vụ cho việc xác định giá vốn hàng bán và chi phí thực tế theo cách
thức hạch toán hàng tồn kho khác nhau.
Cách thức xây dựng: Trên cơ sở kết quả tính toán chi phí trực tiếp và chi phí
gián tiếp ở Bảng 3.8. Chi phí hoạt động, đưa thêm chi phí khấu hao hàng năm để xác
định tổng chi phí trước thuế. Sau đó, lấy toàn bộ thuế VAT đã được xác định ở Bảng
3.8 đưa xuống để xác định chi phí đơn vị sản phẩm (bao gồm cả VAT).
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 49/ 88
3.10. Bảng tính giá vốn hàng bán (Cost of Goods Sold): Hàng hoá tiêu thụ trong năm
gồm hai bộ phận: Hàng hoá sản xuất ngay trong năm đó và lượng hàng hoá tồn kho
năm trước năm nay mới được tiêu thụ. Trong khi đó, bởi vì ảnh hưởng của lạm phát
nên chi phí sản xuất đơn vị của hàng hoá sản xuất các năm khác nhau là khác nhau,
cộng với phương pháp hạch toán hàng tồn kho khác nhau sẽ đưa ra các giá trị khác
nhau về hàng tồn kho. Do vậy, chi phí sản xuất hàng năm không đơn thuần là việc
lấy sản lượng tiêu thụ trong năm nhân với chi phí sản xuất đơn vị của năm đó.
Những điều này là nguyên nhân dẫn đến việc phải xây dựng bảng tính giá vốn hàng
bán cho từng năm, qua đó tính một cách chính xác chi phí đã phải bỏ ra để sản xuất ra
khối lượng hàng hoá được tiêu thụ trong năm. Kết quả tính toán ở Bảng này, cụ thể
là giá vốn hàng bán trong năm sẽ được dùng cho việc lập bảng Báo cáo thu nhập.
Cách xây dựng: Kết cấu của Bảng này gồm 4 phần: Tồn kho đầu kỳ, lượng
sản xuất trong kỳ, lượng tiêu thụ trong kỳ, và tồn kho cuối kỳ. Tồn kho năm trước để
lại và chi phí sản xuất năm trước sẽ xác định được giá tr ị hàng t ồn kho đ ầu kỳ.
Lượng sản xuất trong năm và chi phí sản xuất đơn vị trong năm s ẽ xác đ ịnh đ ược
tổng chi phí sản xuất trong năm. Lượng sản xuất được tiêu thụ trong năm và l ượng
tồn kho năm trước sẽ là lượng tiêu thụ trong năm; tuy nhiên giá trị hàng hoá tiêu th ụ
trong năm sẽ bằng giá trị hàng tồn kho năm trước (đã được xác định phía tr ước theo
phương pháp hạch toán hàng tồn kho) và giá trị hàng sản xuất được bán trong năm.
Giá trị hàng tồn kho cuối kỳ được xác định trên cơ sở khối lượng hàng tồn kho nhân
với chi phí đơn vị sản xuất khối lượng hàng tồn kho đó.
3.11. Báo cáo thu nhập (Income Statement): Báo cáo thu nhập được lập trên cơ sở
kết quả của một loạt các bảng tính trung gian phía trước, gồm:
Doanh thu bán hàng (Bảng 3.6);
-
Chi phí hoạt động (Bảng 3.7);
-
Chi phí trả lãi vay vốn đầu tư từ Kế hoạch trả nợ (Bảng 3.5. Lịch vay vốn,
-
trả nợ);
Chi phí trả lãi vay vốn lưu động, được xác định từ Bảng tính nhu cầu vốn
-
lưu động (Bảng 3.8. Vốn lưu động); và
Giá vốn hàng bán (Bảng 3.10).
-
Mục tiêu của việc lập Báo cáo thu nhập là nhằm xác định: Kết quả hoạt động của
dự án theo từng năm trong suốt vòng đời của dự án; và mức thuế thu nhập doanh
nghiệp mà dự án phải chịu hàng năm. Thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm sẽ
được đưa vào báo cáo ngân lưu của dự án ở bước 3.13.
3.12. Bảng cân đối kế toán (Balance sheet): Trong phạm vi hoạt động của dự án,
cũng như một doanh nghiệp độc lập, ta có thể lập được bảng cân đối kế toán cho
từng năm hoạt động trong suốt vòng đời dự án. Bảng cân đối kế toán cho biết thực
trạng tài sản, nguồn vốn tại thời điểm cuối mỗi năm, là cơ sở dùng đ ể phân tích cơ
cấu tài chính, đòn cân nợ, hiệu quả tài chính và các chỉ tiêu phân tích khác.
Cách xây dựng bảng cân đối kế toán:
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 50/ 88
3.13. Báo cáo ngân lưu (Cash Flows Statement): Tất cả những bước tính toán phía
trước để phục vụ cho việc lập được báo cáo ngân lưu dự án. Từ báo cáo ngân lưu,
sẽ tính toán xác định các chỉ tiêu tài chính dự án, thực hiện các bước phân tích ti ếp
theo như: Phân tích độ nhậy, phân tích tình huống và phân tích mô phỏng.
Đây là một nội dung quan trọng và khá mới mẻ so với cách làm hiện nay, có nhiều
vấn đề về lý luận và kỹ năng cần được phân tích và lý giải rõ ràng, do đó sẽ đ ược
trình bầy chi tiết ở riêng một mục - Mục 4 dưới đây.
4. Xây dựng báo cáo lưu dự án.
Như đã đề cập ở trên, tuỳ thuộc vào đối tượng đánh giá/góc nhìn khác nhau mà
có các quan điểm phân tích đánh giá dự án khác nhau. Tương ứng với các quan điểm
phân tích khác nhau, sẽ có những cách lập báo cáo ngân lưu khác nhau, chẳng hạn có
báo cáo ngân lưu theo quan điểm tổng đầu tư, quan điểm chủ đầu tư, quan điểm
ngân sách, ... Mục này chủ yếu sẽ đề cập tới kỹ thuật lập báo cáo ngân lưu theo quan
điểm tổng đầu tư và quan điểm chủ đầu tư, là những nội dung chính mà các TCTD
cần phân tích khi thẩm định dự án. Ngoài ra, sẽ có một ví dụ cụ thể về xây dựng báo
cáo ngân lưu dự án để trực quan minh hoạ những nội dung ở mục này.
4.1. Phương pháp lập.
Nhớ lại nội dung về phân tích tài chính doanh nghiệp đã được đề cập ở Mục
II.1 - Phần I - Thẩm định dự án đầu tư, báo cáo ngân lưu có hai phương pháp lập, đó
là: Phương pháp trực tiếp và Phương pháp gián tiếp. Ở đây, lựa chọn phương pháp
lập trực tiếp, tức là sẽ bắt đầu từ tiền thu bán hàng, thu từ các khoản phải thu và các
nghiệp vụ kinh tế có thu chi, tiền thực tế thuộc hoạt động kinh doanh, đ ể đ ến dòng
ngân lưu ròng. Dĩ nhiên, nếu làm đúng, thì cho dù báo cáo ngân l ưu đ ược l ập theo
phương pháp nào đi nữa, kết quả phải giống nhau.
4.2. Kết cấu một báo cáo ngân lưu.
Báo cáo ngân lưu (đôi chỗ gọi là: báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bảng lưu kim,
dòng tiền, ...) là một báo cáo ghi lại các dòng tiền vào (Inflow) và dòng tiền ra
(Outflow) từ hoạt động của dự án, trên cơ sở đó xác định dòng tiền ròng (Net
Cashflow). Và từ dòng tiền ròng này, sử dụng để tính toán các chỉ tiêu tài chính, phân
tích dự án. Do vậy, báo cáo ngân lưu gồm 3 mục chính: Các dòng tiền vào (Inflow),
các dòng ra (Outflow) và cuối cùng là dòng tiền ròng (Net Cashflow).
a. Báo cáo ngân lưu theo quan điểm tổng đầu tư (TIP), các khoản mục chính gồm có:
*Ngân lưu vào (Inflow):
- Doanh thu;
Thay đổi khoản phải thu ΔAR = AR ®Çukú - AR cuèi kú (4);
-
Trợ cấp (nếu có);
-
Giá trị thanh lý thu hồi được, gồm:
-
+ Nhà xưởng;
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 51/ 88
+ Thiết bị;
+ Đất đai.
* Ngân lưu ra (Outflow).
Chi phí đầu tư ban đầu, gồm:
-
+ Nhà xưởng;
+ Thiết bị;
+ Đất đai.
Chi phí hoạt động, gồm:
-
+ Nguyên nhiên vật liệu đầu vào;
+ Lao động trực tiếp, gián tiếp;
+ Chi hoạt động khác
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp;
+ Chi phí cơ hội các nguồn lực (nếu có);
Thay đổi khoản phải trả ΔAP = AP®Çukú - APcuèi kú (5);
-
Thay đổi cân đối tiền mặt Δ CB = CBcuèi kú - CB®Çukú (6);
-
Thuế VAT;
-
Thuế thu nhập doanh nghiệp;
-
Thuế và các loại phí khác.
-
* Ngân lưu ròng (Net Cashflow). NCF = Tổng ngân lưu vào - Tổng ngân lưu ra. (7)
b. Báo cáo ngân lưu theo quan điểm chủ đầu tư (EPV).
Hãy nhớ lại nội dung đã được đề cập ở Điểm 2.1. Quan điểm phân tích tài
chính - Mục 2. Khung phân tích của Phần này. Ngân lưu ròng tài chính dự án theo
quan điểm chủ đầu tư (EPV) được xây dựng thông qua ngân ngân lưu tài chính dự án
theo quan điểm tổng đầu tư (TIP), có điều chỉnh bởi kế hoạch vay vốn và lịch trả nợ
vốn vay, cụ thể như sau: B = A + Vèn vay ng©n hµng- Tr¶ nî gèc vµ l·i vay. Do đó, rất
đơn giản, từ báo cáo ngân lưu theo quan điểm tổng đầu tư (TIP), phần ngân l ưu vào
đưa thêm khoản mục: Vốn vay đầu tư; phần ngân lưu ra đưa thêm lịch hoàn tr ả nợ
vay (gốc và lãi).
Còn đối với quan điểm ngân sách, báo cáo ngân lưu theo quan điểm ngân sách
có lẽ là đơn giản nhất trong ba báo cáo ngân lưu này. Ngân lưu vào chỉ có những
khoản thuế, lệ phí mà dự án phải nộp, ngân lưu ra là những khoản trợ cấp, trợ giá
mà ngân sách đã dành để hỗ trợ dự án.
4.3. Nguyên tắc và qui ước lập báo cáo ngân lưu.
Kết cấu của một bảng ngân lưu tài chính dự án theo các quan điểm phân tích
đã được đề cập khá chi tiết ở phía trên. Tuy nhiên, để có thể hiểu được tại sao bảng
ngân lưu lại có kết cấu như vậy, và nguồn gốc của các công thức được nêu ra trên là
từ đâu mà có, đồng thời giúp có thể thành thạo trong việc xây dựng báo cáo ngân lưu

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 52/ 88
dự án, cần thiết phải nắm được những nguyên tắc và qui ước thống nhất thực hành,
nội dung này sẽ được đề cập ngay sau đây.
Chỉ ghi vào ngân lưu những khoản thực thu, thực chi ngoại trừ chi phí cơ
-
hội vẫn được đưa vào ngân lưu và được xem như một khoản chi phí:
Doanh thu, sau khi điều chỉnh với chênh lệch các khoản phải thu trong kỳ,
sẽ xác định được khoản thực thu trong kỳ. Tương tự, chi phí sau khi điều
chỉnh với chênh lệch các khoản phải trả trong kỳ sẽ xác định được giá tr ị
khoản thực chi trong kỳ. Gọi các khoản phải thu là AR (Account
Receivables), các khoản phải trả là AP (Account Payables), các khoản thực
thu và thực chi trong kỳ được xác định theo 2 công thức dưới đây:
C¸c kho¶n thùcthu trong kú = Doanhthu + AR ®Çukú - AR cuèi kú

C¸c kho¶n thùcchi trong kú = Kho¶n chi nhµcungøng+ AP®Çukú - APcuèi kú

Tại sao chênh lệch các khoản phải thu, các khoản phải trả lại lấy số đầu
-
kỳ trừ số cuối kỳ? Hãy quan sát kết quả hoạt động của một doanh nghiệp
trong hai năm, năm 1 và năm 2 được miêu tả trong sơ đồ dưới đây:


Thực thu =? Thực thu =?
100 - 40 Năm 2
Năm 1 80 +(40 -
Doanh thu =80
Doanh thu = 50) =50
AR 1 =40 AR
100 2




riêNăm 1, thực thu = 100 - 40 = 60, sang đến Năm 2, doanh thu giảm còn
-
80, tuy nhiên các khoản phải thu chỉ tăng so với năm trước là 10, do đó
thực thu năm 2 là: 80 + (AR1 - AR2) = 80 + (40 - 50) = 70. Như vậy, nếu để
chênh lệch các khoản phải thu là 1 dòng trong ngân lưu vào, thì công thức
xác định chênh lệch các khoản phải thu là ΔAR = AR ®Çukú - AR cuèi kú . Một
cách tương tự, nếu xem chênh lệch các khoản phải trả là một dòng chi
trong ngân lưu ra, công thức xác định chênh lệch các khoản phải trả như
sau:
ΔAP = AP®Çukú - APcuèi kú

Chênh lệch tồn quỹ tiền mặt DCB xác định như thế nào? Tồn quỹ tiền
-
mặt tối thiểu là khoản tiền mặt được dành riêng và sử dụng để làm cho
việc giao dịch, thanh toán được dễ dàng, khi lượng tiền mặt này tăng lên,
đó là một sự sử dụng tiền mặt và như vậy cũng là một ngân lưu ra. Tương
tự, sự giảm sút lượng tiền mặt dành riêng cho giao dịch lại chính là một
nguồn cung cấp tiền mặt cho các mục đích sử dụng khác của dự án, và
như vậy đó là một ngân lưu vào. Do đó, nếu lượng tiền mặt tồn quỹ được
giữ cho công việc giao dịch trong một thời kỳ nào đó tăng lên, phần tăng
lên đó là một ngân lưu ra; nếu lượng tiền mặt đó giảm đi, phần giảm đó là
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 53/ 88
một ngân lưu vào. Do đó, nếu tồn quỹ tiền mặt được để ở dòng ra
(Outflow), thì chênh lệch tồn quỹ trong kỳ được xác định theo công thức:
Δ CB = CBcuèi kú - CB®Çukú

Tại sao không thấy xuất hiện Hàng tồn kho? Trong khoản mục hàng tồn
-
kho có nhiều loại, từ hàng hoá tồn kho, thành phẩm tồn kho, hàng gửi đi
bán, công cụ dụng cụ trong kho, chi phí sản xuất dở dang, nguyên vật liệu
tồn kho, hàng mua đang đi trên đường. Tuy nhiên, chỉ có sự thay đ ổi của
các nhập lượng đầu vào mà doanh nghiệp phải mua bán trực tiếp từ nhà
cung ứng mới ảnh hưởng tới dòng ngân lưu dự án, các khoản mục còn lại
trong hạng mục Hàng tồn kho chỉ là sự luân chuyển trong nội bộ doanh
nghiệp, nên không ảnh hưởng tới ngân lưu dự án. Nếu tồn kho nhập
lượng tăng lên, phần tăng lên đó sẽ được ghi sổ, hạch toán theo các
phương pháp hạch toán hàng tồn kho. Nếu chưa thanh toán cho nhà cung
ứng giá trị hàng tồn kho tăng lên đó thì các khoản phải trả (AP) tăng lên và
được xem như một ngân lưu vào; nếu đã được chi trả, thì các khoản phải
trả (AP) giảm xuống và được xem như một ngân lưu ra. Như vậy, thông
qua việc xác định sự thay đổi của các khoản phải thu DAR, phải trả DAP,
và cân đối tiền mặt DCB thì những thay đổi của hàng tồn kho đã được tự
động đưa vào trong ngân lưu dự án;
Không đưa Khấu hao vào ngân lưu dự án: Nhớ lại kết cấu báo cáo thu
-
nhập, từ doanh thu, sau khi trừ đi một số chi phí trực tiếp, chi phí quản lý,
thuế, ... và cả khấu hao cơ bản thực trích để xác định lợi nhuận sau thuế.
Theo cách làm cũ, ngân lưu dòng của dự án gồm 3 thành phần: Lợi nhuận
sau thuế + Khấu hao cơ bản + Lãi vay vốn dài hạn. Như vậy, ban đầu
khấu hao bị đưa ra (tính vào chi phí hợp lý) ở báo cáo lỗ lãi, sau đó lại
được cộng vào ở công thức xác định dòng tiền dự án, và vì vậy thực chất
thì khấu hao không đóng góp gì cho dòng tiền của dự án. Khấu hao, thực
chất là phương pháp phân bổ chi phí vốn đầu tư cho toàn bộ thời gian hữu
hiệu của dự án, sao cho lợi nhuận ròng trong bất kỳ một năm nào cũng
phản ánh đúng tất cả mọi chi phí, kể cả chi phí đầu tư ban đầu đ ể tạo ra
lợi nhuận ròng đó. Tuy nhiên, khấu hao là một dạng chi phí không xuất
quỹ, do đó không phải là một ngân lưu ra để có thể đưa vào biên dạng
ngân lưu dự án. Đồng thời, toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu của dự án đã
được tính đủ trong biên dạng ngân lưu tài chính bởi vì toàn bộ vốn đầu tư
đã được khấu trừ hết trong năm thực hiện đầu tư. Nếu đưa thêm chi phí
khấu hao vào như một dạng ngân lưu ra, thì có nghĩa là đã khấu trừ hai lần
chi phí này.
Mọi khoản thu chi đều xảy ra vào cuối mỗi thời đoạn.
-
4.4. Minh họa lập báo cáo ngân lưu theo các quan điểm phân tích đánh giá khác
nhau.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 54/ 88
Xét một dự án đầu tư với các thông số đầu vào và kết quả tính toán sẵn có ở
một số bước tính tính trung gian như sau:
Lịch đầu tư: Dự án đầu tư trong hai năm (năm -1, năm 0) với mức đ ầu tư
-
mỗi năm tương ứng là 300 và 100. Chi phí đầu tư này đã được tính và điều
chỉnh lại theo tỷ lệ lạm phát của từng năm, chi phí đầu tư dự án lập ban
đầu tính ở mặt bằng giá hiện hành (năm -1) nên có thấp hơn mức nêu trên.
Tài trợ: Dự án được tài trợ từ hai nguồn, vốn vay và vốn chủ sở hữu ,
-
trong đó:
Thời gian khai thác dự án: 3 năm (năm 1, năm 2 và năm 3) với doanh thu
-
tương ứng của mỗi năm là 100, 250 và 300 đơn vị tiền tệ.
Tài trợ:
-
- Doanh thu
-
5. Xác định suất chiết khấu tài chính dự án.
Khái niệm giá trị theo thời gian của tiền (Time value of money) cho thấy, một
số tiền có được hiện tại có giá trị cao hơn cùng một số tiền như vậy nh ưng nhận
được trong tương lai, tiêu dùng trong tương lai có giá trị thấp hơn tiêu dùng ở hiện
tại. Mấu chốt của khái niệm giá trị theo thời gian của tiền chính là vấn đề về chi phí
cơ hội (Opportunity cost), số tiền có được ở hiện tại có thể được sử dụng để đầu tư
sinh lời trong khoảng thời gian giữa hiện tại và tương lai. Liên hệ với dự án đầu tư,
người ta phải bỏ ra chi phí đầu tư ban đầu và hy vọng rằng những khoản thu nh ập
trong tương lai sẽ không những đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra ban đầu, mà còn đáp ứng
được một suất sinh lợi yêu cầu tối thiểu của chủ đầu tư. Ở thời điểm xem xét để ra
quyết định đầu tư, hầu hết các dòng thu, dòng chi của dự án đều xảy ra trong tương
lai, do đó quyết định đầu tư được đưa ra trên cơ sở kết quả phân tích lợi ích - chi phí,
sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền (Discount Cashflow - DCF) để đưa giá trị
dòng tiền ở các thời điểm khác nhau trong tương lai về hiện tại.
Nội dung trình bầy ở phía trước đã tập trung nhiều vào việc làm thế nào để
lập được báo cáo ngân lưu dự án theo các quan điểm khác nhau. Vậy, khi đã lập
được báo cáo ngân lưu, xác định được dòng ngân lưu ròng của dự án, làm sao có thể
dùng phương pháp chiết khấu để đánh giá được dòng ngân lưu này? Muốn thực hiện
được điều này, đòi hỏi phải có một suất chiết khấu phù hợp. Suất chiết khấu phù
hợp này ở đâu ra? có thể dùng chung một suất chiết khấu để chiết khấu các dòng
tiền ròng được tính toán theo các quan điểm phân tích khác nhau hay không? Những
nội dung này sẽ được đề cập tới ngay sau đây.
4.1. Chi phí sử dụng vốn.
Trường hợp tổng quát, một dự án có thể được tài trợ bằng hai loại nguồn
vốn, gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu. Vốn vay, có thể là vay thương mại t ại các
TCTD, vay thông qua việc phát hành trái phiếu công trình, vay ưu đãi của nhà nước,
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 55/ 88
vay từ các chương trình hợp tác, .... Vốn chủ sở hữu có thể là việc sử dụng các quỹ
của doanh nghiệp để tham gia đầu tư, hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới. Trong
phần vốn vay, có thể vay từ nhiều TCTD với các điều kiện vay vốn khác nhau, phát
hành trái phiếu nhiều đợt với lãi suất khác nhau. Đối với vốn chủ sở hữu tham gia
vào dự án cũng vậy, mỗi đợt phát hành cổ phiếu mới thì chi phí phát hành cũng nh ư
yêu cầu về lợi nhuận trên vốn cổ phần sẽ thay đổi tuỳ theo tình hình thị trường thời
điểm phát hành. Sử dụng mỗi loại nguồn vốn khác nhau, dự án phải chịu một khoản
chi phí sử dụng vốn khác nhau, tuỳ điều kiện sử dụng vốn cụ thể.
Đầu tư bằng vốn vay: Chi phí sử dụng vốn chính là mức lãi suất vay vốn,
-
ký hiệu là rd;
Đầu tư bằng với vốn chủ sở hữu: Chi phí sử dụng vốn chính là suất sinh
-
lợi yêu cầu của vốn chủ sở hữu, ký hiệu là re.
Thông thường re > rd vì đầu tư vào vốn cổ phần có mức rủi ro cao hơn so với đầu tư
vào dự án bằng vốn cho vay. Do đó, nếu một dự án được tài trợ bằng cả vốn vay và
vốn chủ sở hữu, việc sử dụng hoặc lãi suất vay vốn hoặc tỷ suất sinh lợi yêu cầu
của vốn chủ sở hữu làm đại diện cho chi phí sử dụng vốn đều không phản ánh đúng
chi phí vốn thực tế mà dự án phải chịu. Nếu lấy mức lãi suất vay vốn làm suất chiết
khấu tài chính, chúng ta đã tự làm giảm đi chi phí sử dụng vốn mà dự án đang phải
gánh chịu, và vô hình chung kết quả tính toán các chỉ tiêu có s ử dụng ph ương pháp
chiết khấu như NPV sẽ trở nên khả quan hơn một cách giả tạo. Ngược lại, nếu lấy
tỷ suất sinh lợi vốn chủ ở hữu làm suất chiết khấu, chúng ta đã nâng cao chi phí s ử
dụng vốn thực tế mà dự án phải gánh chịu, điều này dẫn tới hệ quả là các chỉ tiêu tài
chính dự án có thể trở nên thấp hơn so với giá trị đúng, và có thể những dự án tốt sẽ
bị bỏ qua một cách đáng tiếc.
4.2.Trung bình trọng số chi phí sử dụng vốn WACC.
Nếu V là tổng nhu cầu vốn đầu tư của dự án, được tài trợ từ hai nguồn là vốn
vay và vốn chủ sở hữu, trong đó D là vốn vay và E là vốn chủ sở hữu, ta có V = D +
E. Tổng quát, khi có nhiều nguồn vốn vay và vốn chủ sở hữu tham gia dự án, ta có:
m
n

∑E
D = ∑ D i và E = . Suất chiết khấu tài chính của dự án được định nghĩa bình
j
i =1 j =1

quân trọng số của chi phí sử dụng các loại nguồn vốn khác nhau ( Weighted Average
Cost of Capital - WACC), và được xác định theo công thức sau:
n m
WACC = ∑ %D i rdi + ∑ %E j rej (8)
i =1 j =1


Trong đó:
E
Di
x100, %E j = j x100, rdi là lãi suất vay vốn của khoản vay thứ i. rej là tỷ
%D i =
V V
suất lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần thứ j.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 56/ 88
D
Mối quan hệ giữa rd, re và WACC: Tỷ trọng vốn vay 0 ≤ ≤ 1, trường hợp
V
D
= 1 có nghĩa là dự án được tài trợ 100% bằng vốn vay, theo công thức (8) thì
V
D
WACC = rd; trường hợp = 0 có nghĩa là dự án được tài trợ 100% bằng vốn cổ
V

phần, lúc này WACC = re. Khi tỷ trọng
r%
D
vốn vay tăng lên có nghĩa là phần
re
V
vốn vay tăng dần, lúc này lãi suất cho
rd
re
vay rd sẽ tăng theo vì hai lý do: Dự án trở
WACC
nên rủi ro hơn, và theo qui luật cung min
cầu, những nguồn vốn lãi suất thấp
rd
thường được huy động trước, các
nguồn vốn càng về sau thì chi phí sử
D
D
dụng càng cao. Đồ thị bên mô tả mối 100%
V
tương quan giữa re, rd và WACC, giá trị V opt
D/V tối ưu tại mức có WACC nhỏ nhất.
WACC thực và danh nghĩa: WACC có thể được tính theo giá trị danh nghĩa nếu
trường hợp lãi suất vay vốn và tỷ suất sinh lợi yêu cầu của vốn cổ phần là lãi suất
danh nghĩa. Trường hợp ngược lại, nếu lãi suất vay vốn và tỷ suất sinh lợi yêu cầu
vốn cổ phần được yết dưới dạng lãi suất thực, ta có WACC thực. WACC thực dùng
để tính toán với dòng tiền thực (điều chỉnh thông qua tỷ lệ lạm phát), WACC danh
nghĩa dùng để tính toán với dòng tiền danh nghĩa, tuy nhiên nếu tính toán chính xác thì
NPV xác định theo WACC thực hay danh nghĩa đều có giá trị như nhau. Tuỳ theo cách
yết lãi suất mà chúng ta có WACC thực hay danh nghĩa, tuy nhiên phần lớn lãi suất
vay vốn các TCTD đều yết theo lãi suất danh nghĩa, và kể cả tỷ suất sinh l ợi vốn
chủ sở hữu cũng vậy, do đó WACC danh nghĩa thường được dùng trong thực tế
nhiều hơn.
WACC được dùng cho quan điểm phân tích nào, quan điểm tổng đầu tư hay
quan điểm chủ đầu tư? WACC đo lường chi phí sử dụng vốn bình quân của toàn bộ
dự án, do đó nó chỉ phù hợp với những tính toán, phân tích đánh giá sức mạnh tổng
thể dự án. Nhớ lại bản chất các quan điểm phân tích đã được trình bầy trong Mục 2 -
Khung phân tích dự án, phân tích tài chính dự án theo quan điểm tổng đầu tư nhằm
đánh giá khả năng đứng vững và sức mạnh chung của toàn bộ dự án về phương diện
tài chính. Do đó, WACC được sử dụng làm suất chiết khấu trong phân tích tài chính
dự án theo quan điểm tổng đầu tư (TIP).
Vậy phân tích tài chính dự án theo quan điểm chủ đầu tư thì dùng suất chiết
khấu nào? Công thức số (2) cho thấy, ngân lưu theo quan điểm chủ đầu tư được hình
thành trên cơ sở ngân lưu theo quan điểm tổng đầu tư sau khi đã cộng (+) với vốn
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 57/ 88
vay và trừ (-) trả nợ gốc và lãi. Mục đích của việc lập báo cáo ngân l ưu theo quan
điểm chủ đầu tư là để đánh giá được lợi ích của chủ đầu tư từ việc thực hiện dự án.
Dự án, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với chính quyền (đóng thuế, phí các loại),
với các TCTD (trả nợ gốc và lãi vốn vay theo hợp đồng tín dụng), phần còn lại chủ
đầu tư được hưởng. Như vậy, nếu phải lựa chọn một suất chiết khấu thích hợp để
chiết khấu dòng tiền theo quan điểm chủ đầu tư về hiện tại, thì đó phải là tỷ suất
sinh lợi yêu cầu vốn chủ sở hữu r e. Nếu sử dụng rd hoặc WACC để chiết khấu dòng
tiền theo quan điểm chủ đầu tư, vô hình chung chúng ta đã hạ thấp suất chiết khấu
vì re ≥ WACC ≥ rd , lúc này các chỉ tiêu tài chính dự án tính toán theo quan điểm chủ
đầu tư sẽ trở nên khả quan một cách giả tạo.
4.3. Lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quả tài chính dự án.
Tại sao phải xem xét ảnh hưởng của lạm phát: Lạm phát, bản thân nó là một
yếu tố không chắc chắn, chẳng hạn dự báo đầu năm có thể thấp nhưng thực tế trong
năm lại cao hơn rất nhiều. Một sự thay đổi nhỏ của lạm phát có thể làm sai l ệch
đáng kể kết quả phân tích dự án, nhất là về phương diện tài chính. Do đó, trong thẩm
định dự án đầu tư, lạm phát là một yếu tố cực kỳ quan trọng và cần đ ược quan tâm
một cách đúng mức để đánh giá đúng các ảnh hưởng của lạm phát tới hiệu quả tài
chính dự án. Từ trước tới nay, yếu tố lạm phát cũng đã được đ ưa vào đ ể xác đ ịnh
ảnh hưởng tới dự án, tuy nhiên cách thức xác định mức độ ảnh hưởng của lạm phát
chưa đầy đủ, chưa toàn diện, mới chỉ dừng lại ở mức: Khi có lạm phát, sẽ làm thay
đổi chi phí của các nhập lượng đầu vào hoặc giá bán sản phẩm đ ầu ra. Rất nhi ều
những ảnh hưởng khác của lạm phát lên dự án như: Chi phí đầu tư ban đầu, lãi suất
vay vốn và kế hoạch trả nợ, các khoản phải thu, các khoản phải trả, hàng tồn kho, ...
tất cả sẽ thay đổi khi lạm phát thay đổi, đều chưa được ghi nhận và phản ánh vào
trong kết quả tính toán. Vậy làm thế nào xác định và đo lường đ ược tác đ ộng c ủa
lạm phát tới hiệu quả tài chính dự án, những nội dung này sẽ đ ược bàn thảo ngay
dưới đây.
a. Tác động của lạm phát lên chỉ tiêu NPV.
Tác động của lạm phát có thể được chia thành hai loại: (1) tác động trực tiếp
do những thay đổi trong vốn đầu tư ban đầu, số dư tiền mặt tồn quỹ, các khoản phải
thu, các khoản phải trả và kế hoạch trả nợ lãi vay; (2) tác động gián tiếp lên tỷ giá
hối đoái, khấu hao, khấu trừ tiền lãi vay.
Tổng vốn đầu tư tăng lên: Sự hiện diện của lạm phát làm gia tăng tổng
-
vốn đầu tư danh nghĩa, về mặt tính toán cho thấy riêng dòng vốn đầu tư
không làm thay đổi NPV của dự án, nhưng tiếp theo việc tổng vốn đầu tư
tăng lên là hàng loạt vấn đề phát sinh. Áp lực huy động vốn đ ầu tư gia
tăng, từ đó ảnh hưởng tới cấu trúc vốn và kế hoạch trả nợ vốn vay sau
này;
Số dư tồn quỹ tiền mặt tăng lên và NPV giảm xuống: Khi có lạm phát,
-
doanh số bán, số thu, và chi phí mua hàng sẽ tăng lên cho dù số lượng hàng

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 58/ 88
hoá mua bán vẫn như cũ. Tồn quỹ tiền mặt nhằm mục đích đảm bảo cho
các giao dịch trong quá trình hoạt động được dễ dàng hơn. Do đó, khi có
lạm phát, tồn quỹ tiền mặt sẽ tăng lên, trong khi đó khoản mục này nằm ở
dòng chi của báo cáo ngân lưu, nên làm cho NPV của dự án giảm xuống;
Các khoản phải thu (AR) tăng lên, NPV giảm xuống: Khi có lạm phát,
-
doanh số bán tăng lên và do đó các khoản phải thu cũng tăng theo. Tuy
nhiên, giá trị hiện tại của các khoản thu sẽ giảm xuống do lạm phát làm
cho giá trị thực của các khoản tíndụng thương mại còn chưa trả giảm
xuống. Kết quả, NPV của dự án giảm theo;
Các khoản phải trả tăng lên, NPV tăng lên: Khi có lạm phát, bên mua với
-
các khoản phải trả được hưởng lợi từ số dư chưa trả bởi vì giá trị thực
của khoản nợ đó giảm xuống trong suốt thời gian trước khi trả. Điều này
đơn thuần là mặt ngược lại của ảnh hưởng lạm phát lên các khoản phải
thu. Tỷ lệ lạm phát gia tăng làm cho hiện giá của khoản phải trả giảm, và
khoản phải trả thuộc dòng chi do đó NPV của dự án tăng lên;
Giảm tiết kiệm thuế từ chi phí khấu hao thực trích trong kỳ, NPV giảm:
-
Khấu hao được xem như một chi phí hợp lý trong kỳ, được tính vào tổng
chi phí trước thuế, và nó tạo ra một lá chắn thuế (taxshield). Tiết kiệm
thuế từ chi phí khấu hao được xác định bằng thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp nhân với mức trích khấu hao hàng năm. Khi có lạm phát,
mức trích khấu hao hàng năm không thay đổi do giá trị tài sản dùng để trích
khấu hao được xác định sau khi kết thúc hoạt động đầu tư, và có đ ịnh
trong tời gian trích, trừ trường hợp tiến hành định giá lại tài sản. Trong khi
đó, vì lạm phát nên giá trị hiện tại của khoản tiết kiệm thuế bị giảm
xuống, có nghĩa là thuế phải nộp tăng lên, và làm cho NPV giảm;
Tăng tiết kiệm thuế từ khấu trừ lãi tiền vay, làm cho NPV tăng lên: Tương
-
tự như khấu hao, lãi vay vốn đầu tư cũng là một loại chi phí trước thuế
hợp lệ, và khoản chi này tạo ra một lá chắn thuế. Khi có sự hiện diện của
lạm phát, lãi vay danh nghĩa sẽ tăng lên, do đó chi phí lãi vay tăng lên, kéo
theo tiết kiệm thuế từ chi phí lãi vay tăng lên, thuế thực phải nộp giảm
xuống, nên NPV sẽ tăng lên.
Bảng tổng hợp dưới đây cho thấy tác động của sự gia tăng tỷ lệ lạm phát lên
các khoản mục của bảng ngân lưu và cuối cùng là lên NPV:

Hạng mục
TT NPV
Tác động trực tiếp
I
Vốn đầu tư
1 ?
Số dư tiền mặt tồn quỹ Giảm
2
Các khoản phải thu Giảm
3
Các khoản phải trả
4 Tăng
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 59/ 88
Tiền trả lãi
5 0
Tác động gián tiếp
II
Tiết kiệm thuế từ khấu Giảm
6
hao
Tiết kiệm thuế từ tiền lãi
7 Tăng

Như vậy, khi lạm phát gia tăng, các khoản mục trong báo cáo ngân l ưu thay
đổi, làm cho NPV tăng, giảm hoặc không thay đổi. Tác động tổng thể của sự gia tăng
tỷ lệ lạm phát lên NPV như thế nào chỉ có thể biết được khi tính toán cụ thể. Tuy
nhiên, ngay cả khi lạm phát gia tăng không làm thay đổi NPV ở một số khoản mục,
nó cũng gây ra những tác động khác về đảm bảo thanh khoản, về áp lực huy động
vốn, ... làm cho các chỉ tiêu khác thay đổi theo hướng bất lợi.
b. Làm thế nào để phản ánh được tác động của lạm phát lên hiệu quả tài chính d ự
án.
Biết được ảnh hưởng của lạm phát đến các chỉ tiêu tài chính dự án, nhưng
làm thế nào để có thể thể hiện được những tác động này trong quá trình tính toán,
điều này phụ thuộc vào cách thức tổ chức và liên kết thông số lạm phát với các thông
số có liên quan khác trong bảng thông số, đặc biệt là thông số lãi vay.
Trước hết, xét mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và lãi suất vay vốn danh
nghĩa: Từ trước tới nay, chúng ta đều cho rằng lãi suất cho vay danh nghĩa (i) bằng lãi
suất cho vay thực (r) cộng với (+) tỷ lệ lạm phát (gPe). Thực tế quan niệm như vậy
đã đơn giản hoá và bỏ qua một số yếu tố liên quan khác quyết định mức lãi suất danh
nghĩa, và nó được bắt đầu một cách đầy đủ từ nguyên tắc sau. Trên thị tr ường tài
chính, lãi suất cho vay danh nghĩa (i) được tạo nên bởi 3 yếu tố chính, gồm: (1) mức
lãi suất thực (r) phản ánh giá trị thực theo thời gian của tiền tệ mà các bên cho vay
đòi hỏi để có thể sẵn lòng bỏ qua việc tiêu thụ trước mắt hoặc các cơ hội đầu tư
khác; (2) yếu tố rủi ro (R) đo lường mức bù đắp mà các bên cho vay đòi hỏi đ ể đ ề
phòng khả năng bên vay không chịu trả khoản vay; và (3) yếu tố (1 + r + R)*gP e là
khoản đền bù cho mất mát dự tính do lạm phát gây ra. Kết hợp các yếu tố này lại, ta
có công thức tính i như sau:
i = r + R + (1 + r + R)*gPe (9)
Từ công thứ (9) cho thấy, trong trường hợp không có rủi ro bên vay không chịu
trả nợ và lạm phát bằng 0, lúc này lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực. Trường hợp
rủi ro bên vay không chịu trả nợ R= 0, công thức (9) trở thành:
i = r + (1 + r)*gPe (10)
và đây cũng là công thức được sử dụng nhiều nhất thể hiện mối quan hệ giữa lãi
suất thực, lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát. Đôi khi do tích số r*gP e nhỏ nên
được bỏ qua, và công thức (10) lại trở thành: i = r + gP e, tức là quay về với quan
niệm ban đầu, lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực cộng tỷ lệ lạm phát. Từ công

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 60/ 88
thức (10), biến đổi rút r ra, ta có công thức xác định lãi suất thực thông qua mức lãi
suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát như sau:
i - gPe
r= (11)
1 + gPe

Các bên cho vay thường công bố mức lãi suất danh nghĩa. Khi tỷ lệ lạm phát
gia tăng, để đảm bảo duy trì được mức sinh lợi yêu cầu thực tế, các bên cho vay s ẽ
phải tăng lãi suất cho vay danh nghĩa để đảm bảo mức lãi suất thực ít nhất là ngang
bằng với thời điểm trước đây khi tỷ lệ lạm phát chưa gia tăng (tối thiểu là phải cố
định mức lãi suất thực). Hiện nay, các bên cho vay đều đưa ra cơ chế lãi suất thả nổi
thay vì cho vay theo lãi suất cố định. Với nguyên tắc này, khi đã bi ết lãi suất danh
nghĩa và tỷ lệ lạm phát, cách thức thiết lập mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất để có
thể phán ánh tác động của lạm phát lên hiệu quả tài chính dự án được thực hiện như
sau:
Trên bảng thông số, lãi suất của mỗi loại vốn đầu tư dự án sẽ có hai ô,
-
một ô ghi giá trị lãi suất danh nghĩa, một ô ghi giá trị lãi suất thực. Ngoài
ra, có một ô ghi giá trị tỷ lệ lạm phát hiện thời;
Trên cơ sở nguyên tắc này, sử dụng công thức (11), với mức lãi suất danh
-
nghĩa ngân hàng công bố và tỷ lệ lạm phát hiện thời, để xác định mức lãi
suất thực mà các bên cho vay yêu cầu, gõ trực tiếp bằng tay giá trị của lãi
suất thực vào ô dành để ghi giá trị này trên bảng thông số. Sau đó, t ại ô
dành để ghi giá trị lãi suất danh nghĩa, lấy giá trị lãi suất thực mới tính
được trong ô địa chỉ lãi suất thực, kết hợp với ô ghi giá trị lạm phát, dùng
công thức (10) để tính lại giá trị mức lãi suất danh nghĩa.
Với cách tổ chức liên kết thông tin như vậy, khi tỷ lệ lạm phát thay đổi, lãi
suất vay vốn cũng sẽ thay đổi, do đó suất chiết khấu WACC cũng tự đ ộng thay đổi
theo. Tuy nhiên, đối với những nguồn vốn có lãi suất vay không phụ thuộc l ạm phát
(chẳng hạn như vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn ODA, ...), thì
không cần thực hiện kết nối quan hệ trên.
Đối với các nội dung còn lại: Vốn đầu tư ban đầu, các khoản phải thu, các
khoản phải trả, ... để đưa tác động của lạm phát vào quá trình tính toán, thì số liệu
chỉ số lạm phát trong nước hàng năm phải được xác định để đưa giá trị vốn đ ầu tư,
doan thu, chi phí, ... về mặt bằng giá của từng năm. Tất cả những nội dung hướng
dẫn này sẽ được mô tả lại qua một dự án cụ thể trong nội dung Phần III - Các dự án
mẫu.
5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án.
Theo phương pháp tính toán, các chỉ tiêu tài chính dự án được chia thành hai
nhóm chính, gồm: Nhóm các chỉ tiêu được xác định theo phương pháp chiết khấu và
Nhóm các chỉ tiêu được xác định theo phương pháp không chiết khấu.
5.1. Các chỉ tiêu được xác định theo phương pháp chiết khấu.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 61/ 88
Nhóm chỉ tiêu này gồm: NPV, IRR và B/C, cách tính toán xác đ ịnh và những
lưu ý đối với từng chỉ tiêu này trong quá trình sử dụng để đánh giá dự án đ ược trình
bầy cụ thể dưới đây.
a. Chỉ tiêu Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value- NPV).
Tiêu thức lựa chọn đối với một dự án: NPV ≥ 0 ;
-
So sánh đánh giá các dự án loại trừ nhau: Trực tiếp so sánh NPV của tập
-
hợp các dự án, và dự án nào có NPV lớn nhất được lựa chọn: NPVmax;
Bt - C t n B -C
n
Công thức tính: NPV = ∑ = CF0 +∑ t t
= CF0 + NPV( r, CF : CFt )
- 1
t t
t =0 (1 + r) t =1 (1 + r)


Trong đó: Bt, Ct là lợi ích và chi phí năm thứ t, n là số năm khảo sát, r là suất
chiết khấu, CF0 là giá trị dòng tiền ròng năm 0 (năm đầu tiên thực hiện đ ầu
tư), CF1 là giá trị dòng tiền năm kế tiếp theo sau của năm 0, CF t là giá trị dòng
tiền của năm thứ t.
Trong quá trình tính toán xác định NPV trên máy tính, sử dụng chỉ tiêu NPV, cần lưu ý
một số điểm sau:
Chỉ quét các ô chứa giá trị dòng tiền ròng từ năm thứ hai trở đi (từ CF), nếu
-
quét cả giá trị CF0 vào trong câu lệnh hàm NPV thì kết quả sẽ là NPV của
năm -1 chứ không phải năm 0 (năm hiện tại);
Đảm bảo sự kiên tục của các ô từ CF1 đến CFt: Ngay cả trong trường hợp
-
1 năm nào đó không có giá trị dòng tiền ròng, thì nên gán cho giá trị bằng 0
để chuỗi số liệu được liên tục, nếu không máy tính sẽ tính NPV về năm
trước năm không có giá trị;
Lựa chọn suất chiết khấu để tính NPV: Nếu tính toán với dòng tiền theo
-
quan điểm tổng đầu tư, dùng suất chiết khấu là WACC; nếu tính toán với
dòng tiền theo quan điểm chủ đầu tư, dùng suất chiết khấu là tỷ suất sinh
lợi yêu cầu vốn chủ sở hữu re;
Không nên quá cứng nhắc với tiêu chuẩn NPV ≥ 0 vì gianh giới để NPV
-
chuyển từ âm sang dương đôi khi rất nhỏ, chỉ cần tăng lợi ích (B t) hay
giảm chi phí (Ct) đi một chút là ta đã có NPV dương rồi. Bởi vậy, mức độ
chính xác của việc xác định Bt và Ct nên được quan tâm đúng mức trước
khi dùng NPV để kết luận về hiệu quả của dự án.
b. Tỷ suất sinh lời nội bộ (Internal Rate of Return - IRR).
Tiêu chuẩn tỷ suất sinh lời nội bộ IRR và NPV có mối liên quan với nhau
bằng cách thức tính toán ra chúng. Để tính NPV, người ta phải dùng một suất chiết
khấu để đưa lợi ích và chi phí của dự án qua các năm về thời điểm hiện tại. Trái lại,
khi tìm IRR của một dự án thì làm theo cách ngược lại. Thay vì phải chọn một suất
chiết khấu, người ta cho NPV = 0 và IRR chính là suất chiết khấu đ ể NPV = 0, hay
nói cách khác, IRR chính là chỉ tiêu phản ảnh mức sinh lời một dự án đem lại.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 62/ 88
B t - Ct
n

∑ (1 + IRR) =0
Công thức xác định: IRR được rút ra từ phương trình sau:
- t
t =0

( r2 - r1 ) * NPV1
. Ngoài ra, còn có công thức tính gần đúng: IRR = r1 + , trong
NPV1 + NPV2
đó r1 là suất chiết khấu cho NPV1 > 0 , r2 là suất chiết khấu cho NPV2 < 0 .
Nếu tìm được các suất chiết khấu r 1 và r2 sao cho NPV1 dương nhỏ nhất
và NPV2 âm lớn nhất, thì mức độ chính xác của công thức trên càng lớn
hơn;
Tiêu chuẩn đánh giá: Bản chất của IRR thể hiện mức sinh lời mà dự án
-
đem lại cho nhà đầu tư, vì vậy nhà đầu tư luôn luôn mong muốn dự án có
IRR càng cao càng tốt. Có một mốc chuẩn để nhà đầu tư quyết đ ịnh có
nên thực hiện dự án hay không, đó là so sánh IRR của dự án với suất sinh
lợi tối thiểu mà nhà đầu tư chấp nhận được. Mỗi nhà đầu tư có một suất
sinh lợi tối thiểu chấp nhận được Minimum Acceptable Rate of Return
(MARR) riêng của mình, điều kiện để một dự án đáng được thực hiện là
IRR ≥ MARR . Phân tích dự án theo quan điểm tổng đầu tư, IRR ≥ WACC ,
phân tích dự án theo quan điểm chủ đầu tư, IRR ≥ re là điều kiện để kết
luận dự án đáng giá;
So sánh các dự án thông qua chỉ tiêu IRR: Chỉ tiêu này không thể so sánh
-
một cách trực tiếp như NPV, IRRA > IRRB và cùng lớn hơn MARR thì chưa
đủ để có thể kết luận được dự án A đáng giá hơn dự án B. Nếu dùng IRR
để so sánh hai dự án với nhau, phải dùng phương pháp gia số, với các
bước tiến hành như sau: Sắp xếp các dự án theo thứ tự vốn đầu tư tăng
dần; lập dòng tiền gia số bằng cách lấy dòng tiền ròng của dự án có vốn
đầu tư lớn trừ đi dòng tiền ròng dự án có vốn đầu tư nhỏ; xác định IRR
của dòng tiền gia số, và nếu dòng tiền gia số có IRR ≥ MARR thì có nghĩa
là dự án có mức vốn đầu tư lớn sẽ đáng giá hơn dự án có mức vốn đầu tư
nhỏ.
Một số lưu ý khi tính toán và sử dụng chỉ tiêu IRR trong thẩm định dự án:
Tính toán IRR trong Excel: Dùng hàm IRR với cú pháp =IRR(CF 0:CFt) và
-
kết thúc bằng phím Enter;
Có nhiều hơn một giá trị IRR: Thông thường, mối quan hệ giữa NVP và
-
IRR là khi suất chiết khấu càng lớn thì NPV càng nhỏ và ngược lại. Xét
một dự án trong hai năm, có dòng tiền ròng như sau: CF 0 = 350.000 $, CF1
= 400.000 $. Suất sinh lời nội bộ có thể dùng hàm trong Excel hoặc tính
400.000- 350.000
trực tiếp, ta có: IRR = = 14,3% . Mối quan hệ điển hình
350.000
này được thể hiện trong đồ thị dưới đây:



reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 63/ 88
NPV NPV _ SuÊt chiÕ khÊu
t
60,000

40,000
IRR =14,3%
20,000
SuÊt chiÕ khÊu r
t
0
0% 4% 8% 12% 16% 20% 24% 28% 32% 36% 40%
­20,000

­40,000 NPV
­60,000

­80,000


Tuy nhiên, IRR có được là từ việc giải phương trình NPV = 0, và do đó
trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi dòng tiền đổi dấu nhiều lần qua
các năm, thì rất có thể có nhiều hơn 1 nghiệm IRR. Chẳng hạn, xét một
dự án khai thác mỏ than, chi phí đầu tư ban đầu là 22 triệu $, trong vòng 4
năm liên tục, mỗi năm thu về được 15 triệu $, năm thứ 5 không khai thác
nữa nhưng chủ đầu tư được yêu cầu phải khôi phục lại hiện trạng mặt
bằng, mất 40 triệu $. Với suất chiết khấu 10%, dự án có NPV = 0,7 triệu
$. Tuy nhiên, dự án lại có hai suất sinh lời nội bộ, 5,62% và 27,78%.

NPV($ mil)
1.50

1.00

0.50
27.78% = IRR2
IRR1 = 5.62%
0.00
0% 3% 6% 9% 12% 15% 18% 21% 24% 27% 30% 33% 36%
­0.50

­1.00 Discount Rate (r)

­1.50

­2.00

­2.50




Việc có nhiều hơn một giá trị IRR chính là một trong những yếu điểm của
chỉ tiêu IRR, sẽ không có lời giải cho việc lựa chọn giá trị IRR nào để làm
căn cứ đánh giá dư án có đáng giá hay không. Trong những trường hợp này,
chúng ta buộc phải quay lại sử dụng chỉ tiêu NPV với nguyên tắc NPV ≥ 0
.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 64/ 88
c. Chỉ tiêu Tỷ số lợi ích - chi phí (B/C) . Thực chất, chỉ tiêu này là một cách thể hiện
khác, một biến thể của chỉ tiêu NPV, thay vì lấy lợi ích trừ đi chi phí (B t - Ct), rồi sau
Bt
đó đưa kết quả này về hiện tại và so sánh với 0, người ta lấy tỷ số rồi so sánhvới
Ct
1. Công thức xác định tỷ số lợi ích/chi phí như sau:
HiÖngi¸ cñac¸c lîi Ých
Tû sè lîi Ých chi phÝ =
- (R)
HiÖngi¸ cñac¸c chi phÝ
Tiêu chuẩn đánh giá: Nếu R ≥ 1 thì dự án được xem là đáng giá;
-
Lựa chọn các dự án loại trừ nhau có cùng qui mô: Dự án nào có R l ớn
-
được lựa chọn.
Một số lưu ý khi sử dụng chỉ tiêu này: Thận trọng khi so sánh các dự án loại
trừ không cùng qui mô: Ví dụ, xét hai dự án A và B, dự án A có giá trị hiện tại của chi
phí là 1 triệu $, giá trị hiện tại của lợi ích là 1,4 triệu $. Như vậy, dự án A có NPV A =
1,4 - 1 = 0,4 triệu $. Dự án B có giá trị hiện tại của chi phí là 7 triệu $, giá trị hiện tại
của lợi ích là 9,4 triệu $, do đó NPVB = 9,4 - 7 = 2,4 triệu $. Nếu dùng chỉ tiêu R để so
sánh, ta có: RA = 1,4/1 = 1,4 > RB = 9,4/7 = 1,34, từ đó kết luận dự án A đáng giá hơn
dự án B. Tuy nhiên, nhìn vào chỉ tiêu NPV cho thấy dự án B có NPV lớn hơn nên
xứng đáng được lựa chọn hơn, và đây mới là kết luận đúng. Ngoài ra, vì chỉ tiêu này
được xác định bằng một phân số, nên quan niệm và phương pháp hạch toán chi phí
cũng ảnh hưởng rất lớn kết giá trị tính toán, nên kết quả tính toán theo cách hạch
toán khác nhau sẽ rất khác nhau. Tóm lại, sử dụng chỉ tiêu này cần rất lưu ý khi phải
so sánh các dự án với nhau, và tốt nhất nếu có thể, nên dùng chỉ tiêu NPV.
5.2. Các chỉ tiêu xác định theo phương pháp không chiết khấu.
d. Thời gian hoàn vốn- Thv.
Thời gian hoàn vốn là số năm cần thiết phải có để lợi ích ròng (ngân lưu ròng)
hoàn trả lại được toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu. Người ta đ ưa ra một giới hạn v ề
thời gian hoàn vốn cho phép, trên cơ sở đó, dự án chỉ được chấp nhận khi thời gian
hoàn vốn cần thiết không vượt quá thời gian hoàn vốn cho phép. Thv ≤ [ Thv ]
Một hình thức phức tạp hơn, nếu đem các lợi ích thu được hàng năm sau khi
đã được chiết khấu để so sánh với tổng mức vốn đầu tư ban đầu, sẽ xác định được
chỉ tiêu thời gian hoàn vốn chiết khấu. Tuy nhiên, trong hoạt động ngân hàng, xác
định thời gian cho vay và thu nợ theo thời gian hoàn vốn, chứ không tính theo thời
gian hoàn vốn chiết khấu.
e. Điểm hoà vốn (BEP - Break even point).




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 65/ 88
Điểm hoà vốn là
$
trạng thái hoạt động của
Tổng doanh
dự án mà tại đó tổng doanh
thu
thu đúng bằng tổng chi phí.
Tại điểm hoà vốn, dự án
Tổng c hi phí
không có lãi nhưng cũng
không bị lỗ. Có một số
BEP
khái niệm căn bản, thường DTBEP
Chi phí biến đổi
được sử dụng nhiều nhất
khi đề cập tới điểm hoà
Chi phí cố
vốn, đó là: Sản lượng hoà định
vốn, doanh thu hoà vốn và
độ an toàn công suất. Cách
xác định các chỉ tiêu này
QBEP Sản lượng
được hướng dẫn như sau:
S ơ đồ điểm hoà vốn lý thuyế(Q)
t
* Sản lượng hoà vốn:
Được xác định theo công
FC
thức: QBEP = , trong đó: FC là định phí, p là giá bán và v là biến phí tính trên 1 đơn
p- v
vị sản phẩm.
FC
DTBEP = Q BEP * p =
* Doanh thu hoà vốn: Được xác định theo công thức VC , trong
1-
S
đó: S là doanh thu trong năm tính toán, VC là tổng biến phí, các ký hiệu khác tương tự
như đã đề cập trong công thức xác định sản lượng hoà vốn.
Q BEP DTBEP
* Công suất hoà vốn: Được xác định theo công thức PBEP = = .
Q S
* Độ an toàn công suất: Là hiệu số giữa mức 100% công suất thiết kế và công suất
hoạt động hoà vốn của dự án. Được xác định theo công thức: S p = 100% - BEPp. Từ
công thức trên cho thấy, công suất hay mức hoạt động hoà vốn càng thấp thì độ an
toàn công suất càng cao, độ rủi ro hoạt động càng ít và hiệu quả tài chính của dự án
càng được đảm bảo hơn.
Sử dụng chỉ tiêu điểm hoà vốn để đánh giá dự án: Tương tự như đối với chỉ
tiêu thời gian hoàn vốn, người ta cũng đưa ra một giới hạn cho phép đối với chỉ tiêu
điểm hoà vốn để làm mốc so sánh với giá trị tính toán được từ dự án. Chẳng hạn, đối
với chỉ tiêu công suất hoà vốn, nếu PBEP ≤ [ PBEP] trong đó [ PBEP] là công suất hoà vốn
cho phép, thì dự án được đánh giá là có hiệu quả tài chính cao, độ rủi ro hoạt động ít.
Các yếu tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu điểm hoà vốn: Từ các công thức cũng như
sơ đồ xác định điểm hoà vốn, các yếu tố cấu thành những công thức xác đ ịnh điểm
hoà vốn hầu như đều có liên quan tới sự thay đổi của chỉ tiêu này. Các y ếu tố như:
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 66/ 88
qui mô định phí, giá bán sản phẩm đầu ra, và chi phí đầu vào đều có thể làm cho
điểm hoà vốn thay đổi. Cụ thể, từng yếu tố một sẽ được bàn thảo ngay sau đây.
e.1. Qui mô định phí. Khi định
$
phí tăng lên, giả sử các yếu
Tổng doanh
tố khác không thay đổi, thu
đường tổng chi phí sẽ được
tinh tiến song song lên trên
một đoạn đúng bằng sự gia
2
Tổng c hi phí
tăng của định phí. Trong khi DTBEP
2 BEP

đó, nếu đường doanh thu
Chi phí biến đổi
vẫn ở vị trí cũ, sẽ làm cho DTBEP
1
1
BEP
điểm hoà vốn mới trở nên
xa hơn so với điểm hoà vốn
ban đầu, có nghĩa là doanh thu Chi phí cố
định
hoà vốn và công suất hoà vốn
phải tăng lên, độ an toàn công
Q1 Q2 Sản lượng
suất giảm xuống. BEP BEP
(Q)
Điểm hoà vốn thay đổi khi
Một trong những thành
chi phí cố định tăng lên
phần quan trọng của định phí
là việc phân bổ chi phí đầu tư
ban đầu cho những năm hoạt động sau này thông qua việc trích khấu hao cơ bản hàng
năm. Cùng với hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất, giá trị tài sản cố định tăng lên,
kéo theo chi phí khấu hao trong kỳ tăng, làm cho định phí tăng lên. Tuy nhiên, n ếu đi
kèm với hoạt động đầu tư mà giá bán sản phẩm không thay đổi thì đường tổng doanh
thu vẫn ở vị trí ban đầu, điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải hoạt động với công
suất lớn hơn ban đầu thì mới đảm bảo hoà vốn. Một sự thay đổi lớn, trong thời gian
ngắn về sản lượng hoà vốn luôn tiềm ẩn những rủi ro cho dự án. Do đó, đ ể có th ể
có được quyết định đầu tư đúng đắn, bên cạnh các vấn đề về kỹ thuật, công nghệ
cần được xử lý chính xác, thì những cân nhắc về mặt thị trường đầu vào, đầu ra cần
được phân tích kỹ lưỡng.




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 67/ 88
e.2. Giá bán sản phẩm đầu ra: Giá bán tăng lên, các yếu tố khác không thay đổi, do
giá bán ở mẫu số nên mẫu số
$
tăng lên, và làm cho công suất
Tổng doanh
và sản lượng hoà vốn giảm thu
xuống so với ban đầu. Trên
đồ thị, khi giá bán tăng lên,
Tổng c hi phí
đường biểu diễn doanh thu
có hệ số góc lớn hơn và trở
BEP 1
nên dốc hơn so với ban đầu, 1
DTBEP Chi phí biến đổi
và xoay về bên trái. Nếu các
yếu tố khác không thay đổi DT 2
BEP 2
BEP
Chi phí cố
thì điểm hoà vốn sẽ trở nên
định
gần hơn so với điểm hoà vốn
ban đầu. Chỉ cần hoạt động
với công suất thấp hơn so
Q2 Q1
với mức hoà vốn ban đầu là Sản lượng
BEP BEP
đã đảm bảo doanh thu bù (Q)
ĐHV thay đổi khi giá bán SP tăng
đắp được chi phí. Ngược lại,
khi giá bán sản phẩm giảm xuống, các yếu tố khác không thay đổi thì đường doanh
thu sẽ xoay về bên phải và trở nên thoải hơn, vì vậy điểm hoà vốn sẽ trở nên xa hơn
so với điểm hoà vốn ban đầu.
e.3. Biến phí: Cũng như các thành phần khác tham gia vào công thức xác định điểm
hoà vốn, khi biến phí thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của điểm hoà vốn. Trở lại với
công thức xác định điểm hoà vốn, khi biến phí tăng lên, do biến phí nằm ở mẫu số
nên làm cho mẫu số giảm xuống, và sản lượng và công suất hoà vốn sẽ trở nên l ớn
hơn so với ban đầu. Trên đồ thị, khi biến phí tăng lên thì đường biểu diễn biến phí sẽ
trở nên dốc hơn so với ban đầu do hệ số góc lớn hơn. Giả sử các yếu tố khác không
thay đổi, do biến phí tăng lên
nên đường tổng chi phí lúc
$
này cũng sẽ trở nên dốc hơn, Tổng doanh
làm cho điểm hoà vốn xa hơn thu
BEP 2
so với ban đầu, doanh nghiệp 2
phải hoạt động với công suất DTBEP Tổng c hi phí
và sản lượng lớn hơn ban
đầu thì mới đảm bảo bù đắp
BEP 1
1
được tổng chi phí sản xuất. DTBEP Chi phí biến đổi
Ngược lại, khi biến phí giảm
xuống trong khi đó các yếu tố Chi phí cố
khác không thay đổi, sản định
lượng và công suất hoà vốn
sẽ giảm xuống so với ban
đầu. Q1 2
Q BEP S ản lượng
BEP
(Q) 68/ 88
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang
ĐHV xa hơn khi biến phí tăng
lên
f. Khả năng hoàn trả nợ vay DSCR (Debt Service Cover Ratio). Đây là chỉ số đánh giá
khả năng trả nợ vay dài hạn của dự án, được tính toán cho từng năm trong suốt thời
gian vay vốn, và được xác định theo công thức như sau:
Lîi nhuËn authuÕ+ KhÊuhao+ L·i vay trung,dµi h¹n
s
DSCR=
Nî gèctrung,dµi h¹n ph¶i tr¶ + L·i vay trung,dµi h¹n
Các số liệu trong công thức trên được lấy từ những phân tích phía trước, cụ thể như
sau:
Nợ gốc trung, dài hạn phải trả + Lãi vay trung, dài hạn phải trả - lấy
-
theo Kế hoạch vay vốn, trả nợ;
Lợi nhuận sau thuế lấy theo Báo cáo kết quả kinh doanh;
-
Khấu hao lấy theo Lịch khấu hao;
-
Tử số của công thức xác định DSCR là toàn bộ nguồn tiền mà bản thân dự án
tạo ra trong quá trình hoạt động, mẫu số là trách nhiệm/nghĩa vụ trả nợ vốn vay theo
cam kết. Trường hợp có nguồn tiền trả nợ bao gồm cả nguồn tiền từ bên ngoài dự
án, thì nguồn tiền bên ngoài dự án được xem là nguồn vốn tự có bổ sung cho khả
năng trả nợ của dự án.
Tiêu chuẩn đánh giá: Chỉ tiêu DSCR được so sánh với 1, nếu lớn hơn hoặc
bằng 1 thì có nghĩa là dự án tạo ra đủ nguồn để có thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ
theo kế hoạch và ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều dự án ở những năm đ ầu
mới đi vào hoạt động có khó khăn về nguồn trả, nhưng những năm sau lại dư nguồn
trả so với kế hoạch. Do đó, bên cạnh việc tính toán DSCR cho từng năm, thường tính
thêm các chỉ tiêu như: Giá trị trung bình để đánh giá tổng thể khả năng hoàn trả nợ
vay của dự án trong toàn bộ thời gian vay vốn; DSCR nhỏ nhất để xác đ ịnh năm mà
dự án gặp khó khăn nhất trong vấn đề trả nợ vốn vay.


6. Kỹ thuật Phân tích mô phỏng.
Sau khi hoàn tất báo cáo ngân lưu và tính toán các chỉ tiêu tài chính d ự án theo
những nguyên tắc lập, xác định như đã trình bầy ở các phần trên, kỹ thuật phân tích
dự án liên tục được nâng cao nhằm phù hợp hơn và đáp ứng yêu c ầu c ủa th ực ti ễn.
Ban đầu là Phân tích độ nhậy với số biến khảo sát đồng thời hạn chế (tối đa hai
biến), sau đó chuyển qua Phân tích tình huống với việc không hạn chế số biến dùng
để khảo sát đồng thời nhưng lại hạn chế về số lượng kịch bản, và ngày nay là kỹ
thuật Phân tích mô phỏng. Hai kỹ thuật phân tích đầu đều có những nhược điểm rất
căn bản, và với kỹ thuật phân tích mô phỏng đã khắc phục được hầu hết những yếu
điểm của hai kỹ thuật phân tích ban đầu, đưa những tính toán trong dự án trở nên gần
với thực tiễn hơn rất nhiều.
6.1. Những hạn chế của phân tích độ nhậy và phân tích tình huống.
Kỹ thuật phân tích độ nhậy (Sensitivity Analysis) chủ yếu sử dụng hàm Table
trong Excel để khảo sát sự thay đổi của các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 69/ 88
(như: NPV, IRR, DSCR, BEP, ...) khi một hoặc tối đa là hai biến số đầu vào cùng
thay đổi. Kết quả của kỹ thuật phân tích này cho biết mức độ ảnh hưởng của mỗi
biến số đầu vào lên hiệu quả tài chính dự án, qua đó có thể xác đ ịnh đ ược bi ến nào
ảnh hưởng ít, biến nào ảnh hưởng nhiều, biến nào là quan trọng như là nguồn gốc
của rủi ro đối với dự án. Như vậy, một cách tóm tắt có thể mô tả kỹ thuật phân tích
này là (Điều gì sẽ xảy ra nếu như ...).
Với nguyên tắc vận hành như vậy, kỹ thuật phân tích độ nhậy có một số hạn
chế cơ bản như sau:
Hạn chế về số lượng các biến đầu vào cùng được dùng trong một kịch
-
bản: Với việc sử dụng hàm Table, chỉ có thể lập được bảng khảo sát một
chiều hoặc hai chiều tương ứng với chỉ một hoặc tối đa là hai biến số đầu
vào được sử dụng cùng lúc để xây dựng kịch bản và khảo sát độ nhậy dự
án. Trong khi đó, hầu hết các biến số đầu vào của dự án đều có khả năng
thay đổi trong quá trình vận hành dự án, và số lượng các biến quan trọng
trong một dự án cũng khá nhiều. Muốn khảo sát độ nhậy của dự án với các
biến số đầu vào khác, thì phải xây dựng các kịch bản khác với một hoặc
một cặp hai biến đầu vào khác;
Những ước lượng điểm đơn: Phép phân tích “cái gì- nếu” luôn dẫn đến
-
những ước lượng điểm đơn, kết quả tính toán là những giá trị đơn lẻ,
không cho biết khả năng đạt được một kết quả cụ thể là bao nhiêu %;
Đối với đa số các biến, hướng tác động là tương đối rõ ràng: Đôi khi,
-
không cần khảo sát độ nhậy, về mặt định tính ta cũng có thể kết luận
được các chỉ tiêu tài chính dự án sẽ thay đổi như thế nào (tăng, giảm) khi
các biến đầu vào thay đổi;
Khảo sát độ nhậy với một hoặc tối đa 2 biến số đầu vào cùng thay đổi là
-
không thực tế do hầu hết các biến số đều có mối tương quan với nhau:
Chẳng hạn, về mặt kỹ thuật tính toán thì hoàn toàn có thể khảo sát được
NPV, IRR và các chỉ tiêu khác sẽ thay đổi như thế nào khi sản lượng sản
xuất và tiêu thụ thay đổi. Tuy nhiên, việc khảo sát như vậy trở nên quá đơn
giản và không có ý nghĩa nếu xét trong thực tiễn vì cùng với việc sản
lượng sản xuất và tiêu thụ thay đổi thì các biến số đ ầu vào có liên quan
khác cũng sẽ thay đổi theo các chiều hướng khác nhau. Sản lượng sản
xuất và tiêu thụ tăng lên, thì chi phí quản lý sẽ tăng lên, chi phí bán hàng sẽ
tăng lên, giá bán có thể sẽ phải giảm xuống, ... Tương tự, nếu tỷ lệ lạm
phát thay đổi, sẽ dẫn tới hàng loạt các yếu tố có liên quan như: giá đầu vào
đầu ra, lãi suất vay vốn đầu tư, và tỷ giá, nghĩa vụ trả nợ vốn vay nội tệ
và ngoại tệ sẽ thay đổi theo. Và như vậy, kỹ thuật phân tích đ ộ nhậy ở
đây vô hình chung đã bỏ qua mối tương quan chặt chẽ giữa các biến số
của dự án, dẫn tới kết quả khảo sát trở nên không có ý nghĩa thực tiễn;
Chưa mô hình hoá dạng thức thay đổi của các biến thông qua qui luật phân
-
phối xác suất của biến trong miền giá trị mà biến đó có thể nhận. Mỗi
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 70/ 88
biến, nếu thay đổi sẽ nằm trong một miền giá trị nào đó, tuy nhiên xác suất
để giá trị của biến rơi vào giá trị trung bình của miền giá trị thường là cao
hơn so với xác suất để biến đó nhận các giá trị thái cực. Phân tích độ nhậy
chưa mô hình hoá được dạng thức thay đổi của các biến trong miền giá trị,
xem khả năng biến đó nhận bất kỳ một giá trị nào trong miền giá trị là như
nhau.
Khắc phục một số nhược điểm của kỹ thuật Phân tích độ nhậy, kỹ thuật
Phân tích tình huống (Scenario Analysis) thừa nhận có sự tương quan giữa các biến
số với nhau. Vì vậy, thay vì tối đa chỉ có hai biến được khảo sát đồng thời như trong
phân tích độ nhậy, ở phân tích tình huống có thể khảo sát một số nhỏ các biến thay
đổi đồng thời trong một kịch bản. Kỹ thuật Phân tích tình huống đ ược thực hi ện
thông qua hàm Scenario trong Excel, mỗi lần chạy chỉ xây dựng được 1 kịch bản trên
cơ sở lựa chọn và gán những giá trị cụ thể cho các biến dùng để khảo sát các chỉ tiêu
tài chính dự án. Với trình tự thực hiện như vậy, phương pháp Phân tích tình huống
thường được xây dựng 3 kịch bản tiêu biểu như sau:
Trường hợp xấu nhất: Thường lấy giá trị của các biến ở thái cực xấu nhất
-
để đưa vào tính toán;
Trường hợp cơ bản: Các biến được đưa vào tính toán với những giá tr ị
-
được kỳ vọng nhiều nhất, được cho là hợp lý nhất;
Trường hợp tốt nhất: Những giá trị ở thái cực tốt, lạc quan nhất được đưa
-
vào tính toán.
Chiết lý căn bản của kỹ thuật phân tích này là dựa trên kết quả tính toán c ủa
tình huống căn bản, thì kết quả ở hai thái cực của các tình huống xấu nhất và t ốt
nhất sẽ làm củng cố thêm “bằng chứng” để đưa ra quyết định đánh giá dự án có cơ
sở vững chắc hơn.
Ở trường hợp căn bản NPV > 0 và ngay trong trường hợp xấu nhất mà
-
NPV vẫn không âm, điều đó có nghĩa là dự án đáng giá;
Ở trường hợp căn bản NPV < 0 và ngay trong trường hợp tốt nhất mà NPV
-
vẫn không dương, điều đó có nghĩa là dự án không đáng giá;
Tuy nhiên, kỹ thuật Phân tích tình huống này cũng có khá nhiều nhược điểm,
cụ thể như sau:
Xây dựng các kịch bản trở nên rất thủ công: Khắc phục được nhược điểm
-
của Phân tích độ nhậy là cùng một lúc có thể khảo sát được nhiều biến
đầu vào, nhưng một nhược điểm lớn của kỹ thuật phân tích tình huống là
mỗi lần chỉ chạy được với một kịch bản. Do đó, việc xây dựng các kịch
bản trở nên rất thủ công, đặc biệt là trong trường hợp cần phải xây dựng
nhiều kịch bản;
Vẫn chưa mô hình hoá được dạng thức thay đổi của các biến số. Cũng
-
tương tự như kỹ thuật Phân tích độ nhậy, Phân tích tình huống không tính
tới xác suất xảy ra trong miền giá trị của mỗi biến.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 71/ 88
6.2. Kỹ thuật phân tích mô phỏng (Simulation Analysis).
Phân tích mô phỏng là việc xây dựng các mô hình tính toán trong đó kết quả
tính toán của mỗi tình huống được xác định trên cơ sở phát số ngẫu nhiên c ủa các
biến được giả định trong mô hình. Trong khuôn khổ các giả định của mô hình, chạy
mô phỏng với số lượng đủ lớn các tình huống (phép thử), sẽ đưa ra một tổ hợp các
giả định và dự báo kết quả có thể được xem như một quy luật/hay một kết luận có
tính quy luật nào đó, làm căn cứ để ra quyết định. Trong thẩm định dự án, mô hình
được xây dựng trên cơ sở những giả định về dạng thức thay đổi của các biến nhạy
cảm/dễ thay đổi và quan trọng, biến được dự báo là các chỉ tiêu tài chính dự án
(NPV, IRR, ...), mỗi tình huống/phép thử khi chạy mô phỏng là một kịch bản, kết
quả tính toán là một phân phối xác suất cho biết khả năng để đạt được một kết cục
cụ thể trong phạm vi giả định ban đầu. Như vậy, Phân tích mô phỏng đã khắc phục
tất cả những nhược điểm của hai kỹ thuật phân tích trên, Phân tích mô phỏng đã đưa
ra được các tình huống tính toán các chỉ tiêu tài chính để có thể đánh giá d ự án phù
hợp và gần với thực tiễn hơn. Cụ thể như sau:
Số lượng các biến được dùng đồng thời để khảo sát các chỉ tiêu tài chính
-
dự án trong một kịch bản là không hạn chế. Vì vậy, nó cho phép và có xét
đến sự tương quan (cùng biến thiên) giữa các biến có tương quan với nhau.
(điểm này khắc phục được hai nhược điểm lớn của kỹ thuật phân tích độ
nhậy);
Có xét đến các phân phối xác suất khác nhau và các miền giá trị tiềm năng
-
khác nhau đối với các biến dùng để khảo sát. Sự thay đổi, tính không chắc
chắn và dạng thức thay đổi của các biến được mô hình hoá thông qua mô
hình phân phối xác suất được gán một cách phù hợp nhất cho từng biến
trong phạm vi miền giá trị tiềm năng của biến đó;
Số lượng kịch bản không hạn chế, kết quả phân tích cho biết khả năng để
-
đạt được một kết cục cụ thể là bao nhiêu % chứ không dừng lại ở những
ước lượng điểm đơn: Cho dù số lượng các biến cùng được dùng để khảo
sát trong một kịch bản là không hạn chế, nhưng Phân tích mô phỏng có thể
xây dựng được hàng trăm ngàn kịch bản khác nhau, mỗi một kịch bản
tương ứng với giá trị của các biến trong miền giá trị tiềm năng được lấy
một cách ngẫu nhiên. Vì vậy, kết quả của kỹ thuật phân tích mô phỏng là
một phân phối xác suất thay vì chỉ ước tính được một giá tr ị đơn l ẻ. Từ
kết quả đó có thể cho biết, khả năng/xác suất để các chỉ tiêu tài chính dự
án như: NPV > 0, IRR > WACC, DSCR > 1, ... là bao nhiêu %? Kết quả tính
toán dưới dạng khả năng của các kết cục sẽ tốt hơn so với kết quả dưới
dạng điểm đơn như hai kỹ thuật phân tích trước đây, nó có thể hỗ trợ
trong việc đánh giá dự án đáng giá hay không. Chẳng hạn, nếu kết quả tính
toán cho thấy, xác suất để NPV tài chính của dự án không âm 0 là rất cao,
điều này có nghĩa là khả năng thành công về mặt tài chính của dự án là lớn,


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 72/ 88
khả năng thất bại thấp, và dự án được đánh giá là đáng giá, nên được thực
hiện.
Như vậy, Phân tích độ nhậy và phân tích tình huống thực chất là những ước
lượng điểm đơn và chỉ cho biết điều gì có thể xảy ra, thì ở Phân tích mô phỏng lại
cho chúng ta biết điều gì có lẽ đúng thông qua việc đưa ra kết quả dưới dạng một
hình ảnh thống kê về phạm vi các khả năng vốn có trong những giả thiết đ ược đ ưa
ra về các biến số đầu vào. Như vậy, thực chất của kỹ thuật phân tích mô phỏng là
việc: (1) Lựa chọn những biến nhạy cảm và không chắc chắn; (2) Gán cho dạng
thực thay đổi của các biến này với mô hình phân phối xác suất phù hợp; (3) Thực
hiện chạy mô phỏng với số lần chạy đủ lớn (mỗi lần chạy, giá trị của các biến sẽ
được lấy ngẫu nhiên trong miền giá trị tiềm năng và tuân thủ mô hình phân phối xác
suất của biến đó); và (4) Kết quả tính toán được đưa ra dưới dạng một phân phối
xác suất, nó cho biết khả năng/xác suất để đạt được một kết cục cụ thể là bao nhiêu
% chứ không phải những ước lượng điểm đơn.
6.3. Các bước xây dựng mô phỏng.
Trong thẩm định dự án, Phân tích mô phỏng được thực hiện theo trình tự 6
bước căn bản như sau:
Mô hình toán học: Lập các bảng tính, từ bảng thông số, lịch đầu tư, khấu
1.
hao, ... cho đến báo cáo ngân lưu và tính toán những chỉ tiêu tài chính dự án
theo các quan điểm phân tích khác nhau.
Xác định các biến rủi ro, biến không chắc chắn : Dựa vào bản chất
2.
kinh tế của từng biến, mức độ tham gia và ảnh hưởng của nó trong tổng
các lợi ích và chi phí của dự án, miền giá trị có khả năng (r ộng hay h ẹp
quanh giá trị trung bình) để lựa chọn các biến được xem là rủi ro, hoặc có
mức độ không chắc chắn lớn;
Mô hình hoá tính không chắc chắn của từng biến rủi ro: Gồm có hai
3.
việc chính, là:
Xác định miền giá trị tiềm năng của từng biến (tối thiểu, tối đa, các giá trị
-
đơn lẻ, ...);
Định dạng phân phối xác suất cho từng biến rủi ro: Căn cứ vào đặc điểm,
-
tính chất không chắc của từng biến để cùng với việc xác định miền giá trị
tiềm năng mà biến đó có thể thay đổi, gán cho tính chất thay đ ổi của biến
đó với một mô hình phân phối xác suất phù hợp.
Xác định và định nghĩa các biến có tương quan: Gồm có hai việc, là:
4.
Xác định mối tương quan giữa các biến rủi ro: Các biến rủi ro có tương
-
quan với nhau không, chiều của mối tương quan là tương quan đồng biến
hay nghịch biến;
Độ mạnh của tương quan: Hệ số tương quan bao giờ cũng nhỏ hơn hoặc
-
bằng 1, hai biến được gọi là tương quan mạnh cùng chiều thì hệ số tương


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 73/ 88
quan sẽ gần với giá trị 1, tương quan yếu thì gần giá trị 0, không tương
quan thì bằng 0 (hoặc bỏ qua khôngc ần khai hệ số tương quan).
Xác định các biến cần dự báo: Thông thường, các chỉ tiêu tài chính căn
5.
bản của dự án như NPV, IRR, DSCR, ... được dùng làm biến dự báo.
Chạy mô phỏng và phân tích kết quả: Thực hiện chạy mô phỏng với
6.
nhiều tổ hợp các biến rủi ro và biến dự báo. Phân tích kết quả, gồm:
Trị thống kê. Các phân phối xác suất;
-
Chiết suất các báo cáo kết quả phân tích;
-
Đánh giá các kết cục cụ thể phục vụ ý đồ phân tích;
-
Nhận xét, kết luận.
-
Trong 6 bước trên thì với cách làm như hiện nay, chúng ta cơ bản đã hoàn
thành được hai bước đầu, sau đó thực hiện phân tích độ nhậy và phân tích tình
huống. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, cách làm hiện nay còn có một số tồn tại, cụ
thể như sau:
Ở bước 1, việc lập các bảng tính chưa được thống nhất về cách thức,
-
trình tự, mỗi chi nhánh thực hiện theo một cách; chưa xây dựng được ngân
lưu dự án để có thể phân tích được một cách rõ ràng lợi ích và chi phí của
các bên liên quan tham gia dự án, như: Ngân hàng, chủ đầu tư, ngân sách
địa phương;
Ở bước 2, đã phân tích nhằm lựa chọn các biến rủi ro và sử dụng kỹ thuật
-
phân tích độ nhậy, phân tích tình huống để đánh giá mức độ ảnh hưởng
của một số biến tới hiệu quả tài chính dự án. Tuy nhiên, kỹ thuật phân tích
độ nhậy và phân tích tình huống đều có những hạn chế nhất định như đã
được đề cập kỹ ở trên. Chưa thực hiện phân tích mô phỏng.
7. Phần mềm Crystal Ball trong phân tích mô phỏng.
Hiện nay có một số phần mềm chạy mô phỏng có thể sử dụng trong thẩm
định dự án như: @Risk, Crystal Ball, Comfar, ... Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm
vượt trội hơn so với kỹ thuật phân tích độ nhậy và phân tích tình huống mà bất cứ
một kỹ thuật phân tích mô phỏng nào đều đem lại như đã được phân tích ở Mục 6,
đối với Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt nam, trước mắt nên lựa chọn Crystal
Ball vì:
Yêu cầu của bộ thông số đầu vào rất linh hoạt: Bộ thông số đầu vào dùng
-
để chạy mô phỏng được viết dưới dạng mở, việc xác định số lượng các
biến rủi ro đầu vào và lựa chọn biến dự báo, mô hình hoá tính không chắc
chắn của các biến rủi ro đều hoàn toàn phụ thuộc và kỹ năng phân tích
đánh giá của người sử dụng. Phần mềm Crystal Ball cung cấp một tập hợp
17 mô hình phân phối xác suất khác nhau, qua đó người sử dụng có thể lựa
chọn để mô hình hoá tính không chắc chắn của các biến đầu vào cho phù
hợp;

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 74/ 88
Dễ sử dụng: Crystal Ball được viết trên giao diện Excel, do đó rất thuận
-
tiện đối với những người sử dụng bảng tính trong Excel. Sẽ càng thuận lợi
hơn cho việc triển khai sử dụng phần mềm này trong BIDV vì cách làm
theo hướng dẫn trong Quy trình Thẩm định hiện nay cơ bản đã đáp ứng
được những nguyên tắc của phần mềm: (1) Tính toán xác định hiệu quả tài
chính dự án hiện đang được thực hiện trên Excel; (2) Lập bảng thông số
đầu vào, tất cả các tính toán đều được tham chiếu qua số liệu đã được
khai báo trong bảng thông số;
Không phải đầu tư thêm hạ tầng công nghệ thông tin: Như đã đề cập ở
-
trên, Crystal Ball được viết trên giao diện Excel - một chương trình ứng
dụng được cài đặt sẵn trong các máy tính cá nhân PC. Yêu cầu về cấu hình
của máy PC: Hệ điều hành Windows 95, Excel 4.0, bộ xử lý Petium với bộ
nhớ tối thiểu 4MB RAM. Do đó, ngoài việc mua bản quyền phần mềm,
không cần phải đầu tư thêm hạ tầng công nghệ thông tin nào khác.
7.1. Đôi nét về phần mềm Crystal Ball.
Crystal Ball Là phần mềm mô phỏng được viết trên giao diện Excel, dành cho
những người sử dụng bảng tính, để phân tích rủi ro, phân tích tối ưu hoá, phân tích
mô phỏng Monte Carlo, và dự báo theo chuỗi thời gian.
Nhà sản xuất: Công ty Decisioneering - một nhà cung cấp hàng đầu về phần
mềm và giải pháp phân tích rủi ro với trên 17 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Công ty có trụ sở chính đóng tại 1515 Arapahoe St., Suite 1311, Thành phố Denver,
CO 80202 USA. Để có thêm thông tin thêm về Decisioneering và các sản phẩm của
công ty này, có thể truy cập vào địa chỉ website sau: www.decisioneering.com.
Phạm vi ứng dụng Crystal Ball: Khá đa dạng, trong đó chủ yếu ở các ngành
như: Tài chính (cụ thể là lập kế hoạch tài chính và quản lý dự án), giáo dục, môi
trường, quản lý chất lượng sản phẩm, và một số ngành/lĩnh vực khác.
Các dòng sản phẩm Crystal Ball: Hiện có 4 loại phần mềm Crystal Ball, trong
đó 3 loại là thương mại, một loại dành riêng cho giảng dạy và học tập ở các tổ chức
học thuật. Mô tả tính năng của các phần mềm này sẽ được nêu cụ thể trong Phụ lục
1, riêng ba phần mềm thương mại (xếp theo thứ tự tính năng tăng dần) gồm:
+ Crystal Ball Standard Edition: Đã có đến phiên bản 2000.5; là một giải pháp
cả gói về phân tích rủi ro; tính năng chủ yếu gồm: Phân tich mô phỏng
Monte Carlo dành cho những người sử dụng bảng tính, và các công cụ của
Crystal Ball.
+ Crystal Ball Professional Edition: Đã có đến phiên bản 2000.5; với các tính
năng cơ bản tương tự như Standard Edition; ngoài ra còn được bổ sung thêm
một số công cụ phân tích, dự báo: Phân tích tối ưu, dự báo số liệu chuỗi thời
gian.
+ Crystal Ball Premium Edition: Tính năng tương tự Professional Edition, có bổ
sung thêm công cụ phân tích Real options, tài liệu đào tạo như đĩa CD, sách
hướng dẫn.
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 75/ 88
Giá, điều kiện giao hàng, bảo trì, nâng cấp, .... của cả 4 loại phần mềm trên
-
được lấy trực tiếp trên website của Decisioneering Inc, được nêu chi tiết tại
Phụ lục 2.
BIDV nên lựa chọn sản phẩm nào? Với các dòng sản phẩm như trên, căn cứ vào
yêu cầu của công tác chuyên môn cũng như khả năng sử dụng, trước mắt BIDV nên
sử dụng loại phần mềm thương mại Crystal Ball Standard Edition, phiên bản mới
nhất hiện nay 2000.5. Khi yêu cầu và khả năng sử dụng nâng cao, có thể nâng cấp
lên loại có tính năng cao hơn.
7.2. Thực hiện lệnh mô phỏng Crystal Ball trên bảng tính Excel.
Phần mềm Crystal Ball, sau khi được cài đặt một cách chính xác, khi khởi
động Excel, sẽ có giao diện như hình dưới đây. Trên Hình ... cho thấy, ngoài những
nút chức năng trên thanh công cụ như của chương trình Excel, sẽ có thêm một số nút
chức năng của Crystal Ball, trong đó có hai nút khá quan trọng là Cell và Run. Trong 6
bước xây dựng mô phỏng nêu trên, nút Cell dùng để mô hình hoá tính không chắc
chắn của các biến rủi ro thông qua việc khai báo các giả định và lựa chọn mô hình
phân phối xác suất cho từng biến (Bước 3), khai báo mức đ ộ tương quan giữa các
biến rủi ro (Bước 4) và khai báo biến cần dự báo (Bước 5). Nút R un để khai báo chế
độ chạy và thực hiện lệnh chạy mô phỏng, chiết suất các loại báo cáo kết quả phân
tích (Bước 6). Ngoài ra, thoát khỏi Crystal Ball, tìm hiểu về Crystal Ball và một số
chức năng phụ khác cũng được tập trung ở nút Run. Các nút, biểu tượng còn lại khác
trên thanh công cụ là những chức năng trực tiếp, người sử dụng không phải tìm kiếm
một cách tuần tự như cách mở các nút Cell và Run rồi mới vào các chức năng cụ thể
đã trình bầy ở trên. Để biết được chức năng của từng biểu tượng, chỉ cần đưa con
trỏ vào biểu tượng đó, chức năng của biểu tượng sẽ được hiển thị ra.




Hình ... : Giao diện Crystal Ball
Trong giao diện trên, có một bài toán nhỏ, đơn giản về cho thuê căn hộ, lần lượt các
bước trong xây dựng mô phỏng sẽ được thực hiện thông qua bài toán này đ ể minh
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 76/ 88
hoạ sử dụng Crystal Ball trong thẩm định dự án. Bài toán có nội dung đơn giản như
sau:
Chủ dự án có 28 căn hộ dành để cho thuê;
-
Giá cho thuê mỗi căn hộ trong 1 tháng: Căn cứ mức giá phổ biến hiện nay
-
trên thị trường, với những thuận lợi/khó khăn từ vị trí của toà nhà đem lại,
để có thể cạnh tranh được với các toà nhà khác, dự kiến mức giá cho thuê
sẽ dao động xung quanh mức khoảng 150 $/căn/tháng;
Khả năng cho thuê: Căn cứ vào thị trường cho thuê căn hộ hiện nay, với
-
mức giá cho thuê trung bình như dự kiến, khả năng cho thuê theo đánh giá
của chủ dự án là bình quân đạt khoảng 25 căn hộ trong tổng số 28 căn hộ
sẵn có để cho thuê;
Doanh thu cho thuê hàng tháng được xác định bằng số căn hộ cho thuê
-
được nhân (x) với giá cho thuê mỗi căn hộ trong 1 tháng.
Theo chủ dự án, nếu với mức doanh thu đạt được tối thiểu từ 3.750 $/tháng
trở lên thì dự án mới đáng giá thực hiện. Như vậy, vấn đề đặt ra là trong bối cảnh thị
trường cho thuê căn hộ như hiện nay, cộng với những đặc điểm riêng có của dự án,
thì khả năng để đạt được mức doanh thu kỳ vọng là bao nhiêu? Đây là câu h ỏi mà
chủ dự án - với tư cách là người ra quyết định phải trả lời. Và đương nhiên, khi chủ
dự án đặt vấn đề ngân hàng tài trợ cho dự án này, câu hỏi trên không còn là của riêng
chủ dự án nữa, ngân hàng cũng cần phải đánh giá được khả năng thành công của dự
án làm căn cứ để ra quyết định có tài trợ cho dự án hay không.
Ở bài toán này, 2 bước đầu tiên là Xây dựng mô hình toán (Xác đ ịnh doanh thu hàng
tháng) - Bước 1, và xác định biến rủi ro (cả hai biến, gồm: Giá cho thuê căn hộ và Số
lượng căn hộ cho thuê được đều không chắc chắn) - Bước 2, đều đã được thực hiện
xong. Chúng ta sẽ bắt đầu từ Bước 3 cùng với việc sử dụng hai nút Cell và Run.
a. Nút Cell - Mô hình hoá tính không chắc chắn của biến rủi ro:
Lựa chọn và Nhấp chuột vào địa chỉ ô chứa biến rủi ro cần khai báo trên
-
Bảng thông số, sau đó nhấp chuột vào nút Cell trên thanh công cụ, chọn
Define Assumption: Cell\Define Assumption..., một tập hợp các mô hình
phân phối xác suất trong hộp Distribution Gallery được mở ra như Hình
dưới đây. Nhấn chuột vào nút More để có thêm các mô hình phân phối xác
suất khác cho lựa chọn;




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 77/ 88
Hình ... : Tập hợp các mô hình phân phối xác suất cho biến rủi ro
Lựa chọn mô hình phân phối xác suất phù hợp với tính chất không chắc
-
chắn của biến rủi ro đó trong hộp Distribution Gallery, sau đó nhấp OK. Có
khoảng 17 mô hình khác nhau về phân phối xác suất để lựa chọn;
Khai báo các trị thống kê cơ bản theo yêu cầu, nhấn Enter, rồi kết thúc
-
bằng nhấn OK. Giả sử lựa chọn mô hình phân phối xác suất chuẩn
(Normal Distribution), sau khi khai báo cáo trị thống kê đặc trưng, kết quả
khai báo như hình dưới đây (các trị thống kê Mean - giá trị trung bình, Std
Dev - độ lệch chuẩn khai báo dưới đây chỉ mang tính chất minh hoạ).




Hình ...: Minh hoạ khai báo giả định biến rủi ro Giá cho thuê căn hộ
Tiếp tục thực hiện khai báo giả định để mô hình hoá tính không chắc chắn
-
của các biến rủi ro khác. Trường hợp cần thay đổi mô hình phân phối xác
suất đã khai báo cho phù hợp hơn, đưa con trỏ về địa chỉ ô chứa biến rủi ro
cần thay đổi trên Bảng thông số, nhấp chuột vào Cell, chọn Clear Data để
xoá khai báo ban đầu, sau đó thực hiện khai báo lại theo trình tự như trên.




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 78/ 88
Hình ...: Kết quả khai báo giả định đối với Biến thứ hai - Số lượng căn hộ cho thuê được
b. Nút Cell - Chọn và khai báo biến dự báo. Trong thẩm định dự án, các biến dự báo
tuỳ theo mục tiêu phân tích và khảo sát, nhưng chủ yếu sẽ là các chỉ tiêu tài chính dự
án như NPV, IRR, tỷ số lợi ích chi phí, DSCR, và các chỉ tiêu khác như doanh thu, lợi
nhuận. Trình tự lựa chọn biến dự báo được thực hiện như sau:
Đưa con trỏ tới vị trí ô địa chỉ chứa biến cần dự báo, nhấp chuột vào nút
-
Cell trên thanh công cụ, chọn Define Forecast ... Khai tên biến dự báo và
đơn vị tính, sau đó nhấp OK để hoàn tất việc khai báo biến dự báo.




Hình ...: Khai báo biến dự báo
Tiếp tục trình tự trên với các biến dự báo còn lại khác. Nút Mor e>> trong
-
Hình trên để lựa chọn thêm kích thước và chế độ hiển thị cửa sổ Window
khi chương trình chạy.
Qua Hình ... cho thấy một cách trực quan toàn bộ cả 3 biến có liên quan, gồm:
Hai biến rủi ro đầu vào (Giá cho thuê căn hộ và Số căn hộ có thể cho thuê được hàng
tháng) và một biến dự báo đầu ra (Doanh thu) sau khi được khai báo giả định (đối với
những biến rủi ro) và khai báo dự báo (đối với biến dự báo). Các ô đ ịa chỉ chứa
những biến rủi ro sau khi được khai báo giả định, các ô địa chỉ chứa biến dự báo sau
khi được khai báo theo những trình tự trên sẽ tự động tô mầu nền khác biệt với các
biến khác không khai báo.
c. Nút Run - Thực hiện chạy mô phỏng, chiết suất báo cáo.


reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 79/ 88
Sau khi đã khai báo giả định các biến rủi ro, lựa chọn những biến cần dự báo,
để thực hiện chạy mô phỏng, thực hiện theo trình tự sau:
Khai báo chế độ chạy mô phỏng: Nhấp chuột vào nút Run trên thanh công
-
cụ, chọn Run Preferences ..., lúc này sẽ xuất hiện cửa sổ để khai báo chế
độ chạy mô phỏng như Hình .... dưới đây:




Hình ...: Hộp thoại khai báo chế độ chạy mô phỏng
Gõ trực tiếp số lần chạy vào ô Maximum Number of Trials, đây cũng chính
là số lượng kịch bản được xây dựng;
Các lựa chọn/khai báo khác: Các lựa chọn như: Dừng khi có lỗi tính toán
-
(Stop On Calculation Errors), cho phép kiểm soát độ chính xác (Enable
Precision Control) tuỳ thuộc vào người sử dụng, nhưng nên được để ở chế
độ lựa chọn. Ngoài ra, có thể sử dụng các chức năng khác ở bên phải của
Hình ... như Speed để điều chỉnh tốc độ chạy, Marcos để điều chỉnh chu
kỳ chạy mô phỏng, Options để tính độ nhậy và lựa chọn chế độ hiển thị
xác suất. Sau khi nhập số lần chạy mô phỏng và các lựa chọn thêm khác
(nếu cần), nhấn OK để kết thúc việc khai báo chế độ chạy mô phỏng;
Chạy mô phỏng: Nhấp chuột vào nút Run trên thanh công cụ, chọn Run,
-
chương trình sẽ bắt đầu quá trình chạy mô phỏng với chế độ chạy như đã
được thiết lập ở những bước kể trên.
Phân tích kết quả chạy mô phỏng: Trước hết, giải thích qua ý nghĩa của các
mô hình phân phối xác suất gán cho các biến rủi ro trong Bài toán nhỏ ở trên như sau:
Giá cho thuê căn hộ: Bình quân cho thuê ở mức 150 $/tháng, nhưng giá cho
-
thuê cụ thể sẽ dao động xung quanh giá trị 150 $/tháng theo qui luật phân
phối chuẩn với độ lệch chuẩn 10 $. Điều này có nghĩa là hai phần ba (gần
68%) các mức giá thực tế cho thuê được sẽ nằm trong khoảng 1 độ lệch
chuẩn, tức là từ 140 $/tháng đến 160 $/tháng. Các mức giá cho thuê còn lại
có thể cho thuê được sẽ nằm ở hai thái cực, hoặc từ 120 đến 140 $/tháng,
hoặc từ 160 đến 180$/tháng. Tuy nhiên, xác suất để có thể phải cho thuê

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 80/ 88
với giá quá thấp (từ 120 đến dưới 140 $/tháng) hoặc cho thuê được với giá
quá cao (trên 160 đến 180 $/tháng) là không nhiều.
Số căn hộ cho thuê được: Tương tự như đối với biến đầu tiên, với giả
-
định dùng mô hình phân phối chuẩn để mô tả tính không chắc chắn của
biến rủi ro này, phần lớn (khoảng 68%) là hàng tháng chủ dự án sẽ cho
thuê được từ 24 đến 26 căn hộ. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau,
bên cạnh khả năng cho thuê được khá đều đặn trong khoảng từ 24 đến 26
căn hộ, sẽ có tháng cho thuê được nhiều và có tháng cho thuê được ít. Vì
vậy, gần một phần ba khả năng là chủ dự án chỉ cho thuê được từ 22 đến
dưới 24 căn (23 căn) hoặc đột biến cho thuê được nhiều (27 đến 28 căn).
Cùng với việc khai báo biến dự báo (Doanh thu), với những giả định về hai
biến rủi ro như trên, thực hiện chạy mô phỏng 10.000 lần, kết quả mô phỏng đ ược
thể hiện trong Hình ... dưới đây.




Hình ...: Kết quả chạy mô phỏng dự báo doanh thu cho thuê căn hộ
Kết quả như trên có ý nghĩa như thế nào? Ở Hình .... cho thấy, với mức giá bình
quân 150 $/tháng, số căn hộ cho thuê được 25 căn/28 căn, chủ dự án kiếm đ ược
doanh thu hàng tháng từ việc cho thuê căn hộ là 3.750 $. Tuy nhiên, do 150 $/tháng chỉ
là mức giá bình quân, thực tế không phải luôn luôn đạt được mức giá đó, có thể thấp
hơn hoặc cao hơn. Tương tự, số lượng căn hộ có thể cho thuê được không phải lúc
nào cũng đạt được 25 căn, bình quân đạt 25 căn nhưng có lúc có thể cho thuê đ ược
thể cao hơn, có lúc lại thấp hơn mức bình quân trên. Chính vì sự không chắc chắn
của các biến rủi ro, đã làm cho doanh thu cho thuê căn hộ không phải lúc nào cũng đạt
3.750 $/tháng, có tháng doanh thu sẽ cao hơn, ngược lại có tháng sẽ đ ạt doanh thu
thấp hơn mức trên. Kết quả tính toán ở Hình ... cho thấy:
Doanh thu của dự án cho thuê căn hộ dao động trong một khoảng khá l ớn,
-
từ 2.700 $/tháng đến 4.848 $/tháng;




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 81/ 88
Trong khoảng giá trị doanh thu có thể nhận được, với yêu cầu của chủ dự
-
án là doanh thu tối thiểu phải đạt từ 3.750 $/tháng trở lên, xác suất để chủ
dự án đạt được mức doanh thu kỳ vọng trên là 50,28%;
Số kịch bản yêu cầu trong khi khai báo chế độ chạy là 10.000 lần, tuy
-
nhiên chương trình chỉ cần chạy đến 9.925 kịch bản là đã đạt độ chính xác
yêu cầu;
Mỗi một lần chạy, chương trình sẽ lấy ngẫu nhiên giá trị của hai biến rủi
-
ro trong phạm vi biến động đã được khai báo trong giả định để tính ra
được một giá trị của biến dự báo Doanh thu. Ký hiệu Mean = 3.763 có
nghĩa là giá trị trung bình của biến dự báo Doanh thu trong 9.925 kịch bản
được xây dựng là 3.763 $/tháng.
Chiết suất báo cáo: Để chiết suất báo cáo, nhấp chuột vào nút R un trên thanh công
cụ, chọn Create Report ..., Crystal Ball hiển thị hộp thoại Create Report như Hình
dưới đây:




Hình ...: Hộp thoại tạo báo cáo
Có 6 nội dung chính trong hộp thoại tạo báo cáo, cho phép người sử dụng có thể
chiết suất đưa ra nhiều loại/dạng báo cáo khác nhau, cụ thể như sau:
Nội dung báo cáo (Report Sections): Phần đồ thị có các lựa chọn như đồ thị
-
phủ, đồ thị xu hướng. Phần thông tin dự báo có các lựa chọn về trị thống
kê, số liệu tổng hợp, đồ thị, phân vị, đồ thị độ nhậy và tần xuất. Phần các
giả định có các giả định đối với tông số và đồ thị minh hoạ;
Dự báo (Forecasts): Có thể đưa tất cả các biến dự báo (All), hoặc lựa chọn
-
một số biến (Chosen), hoặc chỉ các dự báo đang được mở vào báo cáo;
Giả định (Assumptions): Có thể đưa vào báo cáo tất cả (All) hoặc chỉ
-
những giả định nào được lựa chọn (Chosen);
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 82/ 88
Phân vị (Percentiles): Thang xác suất (từ 0 đến 100%) sẽ được chia theo
-
từng mức phân vị, qua đó cho biết khả năng đạt được giá trị của biến dự
báo ứng với mỗi mức phân vị cộng dồn. Có 6 lựa chọn mức phân vị, gồm:
Tứ phân vị (Quartiles), ngũ phân vị (Quintiles), thập phân vị (Deciles); nhị
thập phân (Icosatiles) và hai cách chia phân vị đặc thù khác là: 2,5; 5; 50; 95;
97,5 và 10; 25; 50; 75; 90;
Đồ thị (Charts): Biểu đồ mầu, trắng đen hay biểu đồ MS Excel là 3 lựa
-
chọn trong thể hiện đồ thị;
Lưu báo cáo (Location): Báo cáo có thể lưu ở cùng một file nhưng trên một
-
sheet mới hoặc lưu ở một file khác.
Nhìn chung, một báo cáo nên gồm hai phần: Phần thể hiện kết quả chạy mô
phỏng đối với các biến dự báo và phần thể hiện các giả định của những biến rủi ro.
Báo cáo đối với bài toán cho thuê căn hộ nêu trên được thể hiện trong Bảng dưới
đây:
Crysta l Ba ll R e port
Simulation started on 10/4/04 at 8:21:16
Simulation stopped on 10/4/04 at 8:21:32
Assumptions


Assumption: S o luong ca n ho cho thue duoc Ce ll: B3

N ormal distribution with parameters: So luong can ho cho thue duoc


Mean 25.00
Standard Dev. 1.00

Selected range is from -Infinity to +Infinity
22.00 23.50 25.00 26.50 28.00




Correlated with:
Gia cho thue can ho 1.00


Assumption: Gia cho thue ca n ho Ce ll: B2

N ormal distribution with parameters: Gi¸ cho thuª c¨n hé


Mean 150.00
Standard Dev. 10.00

Selected range is from -Infinity to +Infinity
120.00 135.00 150.00 165.00 180.00




Correlated with:
So luong can ho cho thue duoc (B3) 1.00


End of Assumptions
Trong báo cáo này, một lần nữa trị số thống kê của các giả định đối với những biến
rủi ro được tổng hợp lại, gồm: Tên và địa chỉ của biến rủi ro trên bảng tính Excel,
Mô hình phân phối xác suất, trị thống kê đặc trưng của loại phân phối xác suất đó,
hệ số tương quan. Đối với biến dự báo, tóm tắt kết quả chạy mô phỏng, các tr ị
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 83/ 88
thống kê, biểu đồ tần suất, kết quả chạy mô phỏng theo phân vị là những nội dung
có trong báo cáo.




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 84/ 88
Fore ca st: D oa nh thu (tha ng) Ce ll: B4

Summary:
Certainty Level is 50.30%
Certainty Range is from 3,750 to +Infinity $
Display Range is from 2,720 to 4,802 $
Entire Range is from 2,433 to 5,317 $
After 10,000 Trials, the Std. Error of the Mean is 4

Statistics: Value
Trials 10000
Mean 3,761
Median 3,752
Mode ---
Standard Deviation 400
Variance 160,345
Skewness 0.15
Kurtosis 2.98
Coeff. of Variability 0.11
Range Minimum 2,433
Range Maximum 5,317
Range Width 2,884
Mean Std. Error 4.00

Forecast: Doanh thu (thang)

10,000 Trials Frequency Chart 9,907 Displayed
.022 222



.017 166.5



.011 111



.006 55.5


Mean = 3,761
.000 0

2,720 3,241 3,761 4,282 4,802
Certainty is 50.30% from 3,750 to +Infinity $




Fore ca st: D oa nh thu (tha ng) (cont'd) Ce ll: B4

Percentiles:

Percentile $
0% 2,433
10% 3,251
20% 3,418
30% 3,544
40% 3,650
50% 3,752
60% 3,852
70% 3,964
80% 4,093
90% 4,288
100% 5,317

End of Forecast


Một số nhận xét, đánh giá từ việc áp sử dụng Crystal Ball trong bài toán cho thuê
căn hộ:
reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 85/ 88
Trong bài toán cho thuê căn hộ, số lượng các biến rủi ro và biến dự báo chỉ
-
dùng lại ở mức tối thiểu phục vụ cho mục đích minh hoạ. Trong thực tế
một dự án, số lượng các biến rủi ro cần phải xây dựng những giả định cho
tính không chắc chắn của chúng, số lượng các chỉ tiêu tài chính cần đ ược
dự báo sẽ nhiều hơn so với ở ví dụ minh hoạ. Trong trường hợp này, cách
làm hoàn toàn tương tự như trình tự đã thực hiện trong bài toán mẫu;
Với Crystal Ball, các tình huống về diễn biến mức giá cho thuê, khả năng
-
số lượng căn hộ cho thuê hàng tháng được mô phỏng khá gần gũi so với
thực tế. Số lượng các kịch bản cũng như các biến rủi ro được khảo sát
đồng thời là không hạn chế, mỗi kịch bản được tính toán dựa trên phát s ố
ngẫu nhiên giá trị trong phạm vi mô hình giả định của từng biến rủi ro,
điều này cho phép khảo sát được một cách liên tục và toàn bộ các biến rủi
ro trong miền giá trị tiềm năng của chúng. Cách làm này thoát ra khỏi cách
khảo sát điểm đơn như kỹ thuật phân tích độ nhậy và phân tích tình huống;
Kết quả tính toán được thể hiện dưới dạng một phân phối xác suất và ở
-
mức khái quát cao, cho biết được khả năng đạt được mức kỳ vọng cũng
như khả năng thành công của dự án là bao nhiêu %. Crystal Ball đã đem lại
sự mở rộng khả năng dự báo của mô hình bảng tính và hỗ trợ thông tin cần
thiết để quá trình ra quyết định được chính xác hơn, hiệu quả hơn, và tin
cậy hơn. Đây có lẽ là ưu điểm nổi bật nhất của Crystal Ball so với các kỹ
thuật phân tích khác.
7.3. Một số lưu ý khi sử dụng Crystal Ball.
Kỹ thuật phân tích mô phỏng trong Crystal Ball sử dụng khá nhiều các khái
niệm về xác suất thống kê. Do đó, để thuận tiện trong khai thác ứng dụng và nâng
cao hiệu quả sử dụng phần mềm Crystal Ball, cần thiết phải đề cập và giới thiệu
một số nội dung có liên quan, như: Khái niệm về xác suất, phân phối xác suất, những
dạng phân phối xác suất thông dụng nhất, lựa chọn mô hình phân phối xác suất, hệ
số tương quan giữa các biến, ...
a. Xác suất và phân phối xác suất.


a. Hệ số tương quan giữa các biến rủi ro.




7. Thẩm định dự án trong ngân hàng.
Mục I.2 - Phần I - Thẩm định dự án đầu tư, đã nhắc lại trình tự thực hiện
thẩm định một dự án đầu tư theo qui trình nghiệp vụ hiện hành. Mục 1 - Phần II đã
giới thiệu khung phân tích tổng thể một dự án đầu tư, trong đó dự án được nhìn nhận
đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau, với phạm vi và mục đích phân tích khác nhau.
Hộp phân tích thứ nhất và thứ hai cũng đã đề cập tới ngân hàng nên có mức độ quan

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 86/ 88
tâm như thế nào trong những mối liên quan giữa các quan điểm của phân tích tài
chính và giữa phân tích tài chính với phân tích kinh tế. Vậy, tóm lại ngân hàng nên lựa
chọn phương pháp phân tích như thế nào trong thẩm định dự án để đạt hiệu quả cao
nhất. Dưới đây là đề xuất phương pháp phân tích dự án tại ngân hàng dựa trên khung
phân tích đã được giới thiệu ở trên, có kế thừa phương pháp đang đ ược thực hiện
theo Quy trình Thẩm định hiện hành, đồng thời cũng giới thiệu thêm khả năng ứng
dụng phần mềm Crystal ball thông qua phân tích mô phỏng.
Phạm vi phân tích: Chính và chủ yếu là Phân tích tài chính, theo hai quan
-
điểm, quan điểm tổng đầu tư (TIP) hay còn gọi là quan điểm ngân hàng, và
quan điểm chủ đầu tư (EPV). Ngoài ra, cũng cần quan tâm tới kết quả
phân tích kinh tế của dự án trong những trường hợp cần thiết;
Phương pháp phân tích: Phân tích lợi ích - chi phí trên cơ sở xây dựng ngân
-
lưu dự án theo quan điểm tổng đầu tư và quan điểm chủ đầu tư. Cách thức
lập bảng thông số, các bảng tính trung gian, lập ngân lưu dự án, l ựa chọn
và tính toán các chỉ tiêu tài chính dự án đã được hướng dẫn ở những nội
dung trước;
Trình tự các bước phân tích: Phân tích tất định, phân tích độ nhậy và phân
-
tích mô phỏng;
Nhận xét, đánh giá, và kết luận.
-




4. Xác định suất chiết khấu tài chính.




5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án.


Có như vậy, dưới các góc nhìn khác nhau với mục tiêu khác nhau, nếu dự án
có khả năng đứng vững được
1. Xây dựng dòng tiền theo các quan điểm khác nhau;
a. Quan điểm tổng đầu tư;
b. Quan điểm chủ đầu tư;
c. Quan điểm kinh tế;
d. Quan điểm xã hội.

reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 87/ 88
2. Cách xác định suất chiết khấu theo các quan điểm khác nhau;
a. Chi phí sử dụng vốn;
b. WACC (Weighted Average Cost of Capital).
3. Phân tích độ nhậy – Phân tích tất định;
a. Ưu điểm;
b. Những hạn chế.
4. Phân tích mô phỏng Monte Carlo;
a. Giới thiệu;
b. Phương pháp thực hiện;
c. Một số yêu cầu để có thể thực hiện phân tích mô phỏng;
d. Ý nghĩa, kết quả.
III. PHÂN TÍCH, THẨM ĐỊNH MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐIỂN HÌNH.
Mỗi một dự án đầu tư được xem là thiết kế chi tiết của ý tưởng kinh doanh,
và vì vậy thông thường sẽ khó có thể có hai dự án hoàn toàn giống hệt nhau, mỗi dự
án đều có những đặc điểm và cách thức thiết kế, triển khai riêng sao cho phù hợp với
điều kiện của nó. Cũng như trong lĩnh vực kiến trúc, mỗi công trình đều có những
nét kiến trúc riêng đặc thù, tạo nên một không gian kiến trúc đa dạng. Các công trình
kiến trúc được triển khai trên cơ sở những nguyên lý về kiến trúc và kết cấu; các dự
án đầu tư được xây dựng trên cơ sở ý tưởng kinh doanh, những nguyên tắc về hạch
toán kế toán, những thoả thuận trong điều kiện tài trợ, và những phần mềm hỗ trợ
để cân nhắc lựa chọn và ra quyết định trong môi trường kinh doanh đầy rủi ro.
IV. THẢO LUẬN.




reading_material_2494.doc 6/23/2012 Trang 88/ 88
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản