Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

Tài liệu Thuyết Tân Cổ Điển Và Cải Cách Cận Biên

Chia sẻ: Nguyen Kha | Ngày: | Loại File: pdf | 18 trang

0
44
lượt xem
5
download

Quan Điểm của Jevons về Tư Bản (nguồn vốn), Lao Động, và Đấu Tranh Giai Cấp Như đã được đề cập ở trên, Jevons định nghĩa về nguồn vốn "bao gồm tất cả các sự vật mang lại lợi ích cho người dùng nó, nó mang đến cho người công nhân những ước muốn, nhu cầu, những vật như thế này làm cho anh ta có thể thực hiện công việc của mình, và kết quả công việc tuỳ thuộc vào thời gian ít hay nhiều....

Tài liệu Thuyết Tân Cổ Điển Và Cải Cách Cận Biên
Nội dung Text

  1. Thuyết Tân Cổ Điển Và Cải Cách Cận Biên từ kinh tế chính trị đến khoa học kinh tế- PHẦN1 Quan Điểm của Jevons về Tư Bản (nguồn vốn), Lao Động, và Đấu Tranh Giai Cấp Như đã được đề cập ở trên, Jevons định nghĩa về nguồn vốn "bao gồm tất cả các sự vật mang lại lợi ích cho người dùng nó, nó mang đến cho người công nhân những ước muốn, nhu cầu, những vật như thế này làm cho anh ta có thể thực hiện công việc của mình, và kết quả công việc tuỳ thuộc vào thời gian ít hay nhiều." Trong phần ông viết về vấn đề "tư bản hoá", Jevons đưa ra quan điểm của mình là bất cứ thứ gì được dùng nhằm mục đích khiến cho công nhân phải làm việc và duy trì giữa họ ở lại tiếp tục sản xuất ra nhiều của cải vật chất thì chính những thứ đó tạo nên "nguồn vốn". Ở đây ông lấy ví dụ là ổ bánh mì cho "người thợ xây làm việc cực nhọc". Ông cho rằng "Bản chất ổ bánh
  2. chẳng là gì cả, nhưng tác dụng của nó là được dùng để thuê mướn người thợ, chúng ta nên quán triệt quan điểm về tư bản hay tư bản hoá này". Quan điểm này của ông song hành cùng với những phân tích của Marx về tiến trình đầu tư mà trong đó ông xem số tiền tăng thêm - một phần là tiền lương thuê công nhân và đây được xem như một phần của nguồn vốn (và phần còn lại của số tiền tăng thêm đó là những máy móc, phương tiện sản xuất). Nhưng quan điểm này chỉ song hành cùng với Marx cho đến khi Jevons biện luận rằng mức tiêu thụ của người công nhân dùng để duy trì họ trong suốt quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, mức tiêu thụ này chính là một phần của quá trình tư bản hoá. Còn khả năng tự tái sản xuất của người công nhân là một phần của quá trình tự tái sản xuất tư bản. Đây là điều mà Marx không đưa vào thoả luận về đầu tư, nhưng ông hoàn toàn hiểu rõ nó thuộc hệ thống "tái sản sản xuất", hệ thống này minh hoạ quá trình tự tái sản xuất tư bản bao gồm khả năng tự tái sản xuất của tất cả các thành phần của
  3. tư bản kể cả lao động (hay năng lực lao động - theo như nguyên văn của Marx). Khi bàn luận về việc duy trì công nhân đó, Jevons có nói đến "đầu tư vào giáo dục". Trong đó, chúng ta có thể thấy ông cũng có mở rộng vấn đề, tuy vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Ông cho rằng việc nuôi trẻ chỉ đơn thuần là việc tiêu thụ (nhằm thoả mãn đứa trẻ và cả cha mẹ của chúng), trong khi đó thì việc nuôi sinh viên ăn học là để họ có thể kiếm tiền lại được ông gọi là đầu tư vốn. Những nhà kinh tế học quan tâm đến vấn đề mức thu nhập của thời trước gọi đây là "chi phí cơ hội", nhưng Jevons lại cho là số tiền dùng cho học tập ở hiện tại chính là số tiền đầu tư nhằm tao ra một lượng lợi nhuận lớn hơn cho tương lai. Nếu chúng ta mở rộng ra khi xét trên tổng thể nền kinh tế - thay vì xét theo từng cá nhân hay từng gia đình như cách của Jevons - thì rõ ràng là những chương trình ủng hộ cho những đứa trẻ có tư chất bẩm sinh hay những chương trình giáo dục đều chứng tỏ rằng tất cả các chi phí dành cho việc giáo dục trẻ nhằm chuẩn bị cho thị
  4. trường lao động tương lai, dù cho ở mức độ tối thiểu nào đi nửa, thì cũng rơi vào trường hợp phân loại "tư bản hoá" của Jevons. Đó là những chi phí để tạo ra "nguồn tư bản nhân lực" - theo như nguyên văn của chủ nghĩa Marx. Trong cả hai trường hợp trên, những chi phí này đều là những món tiền đầu tư dùng cho sản xuất ở tương lai và còn gọi là chi phí "tư bản". Và Jevons cũng bị thuyết phục là: cả tư bản và lao động đều là những nhân tố cần thiết cho quá trình sản xuất và xã hội tư bản thời đại của ông bị suy xụp là do sự mâu thuẫn phát sinh không cần thiết giữa hai nhân tố này. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, ông cho là phát sinh từ cả hai phía, một bên là người đi thuê lao động, "họ rất dễ cự tuyệt những nhu cầu … mà xâm phạm đến quyền tự quyết định và quyền quản lý của họ", còn một bên là người lao động làm thuê, tất cả những người công nhân dường như thường không quan tâm đến những phương thức đấu tranh của họ đang làm hại cho chính bản thân họ, cho những người khác và cả nền kinh tế nói chung. Ở đây quan điểm của
  5. Jevons cho hướng giải quyết mâu thuẫn lại thiên về một phía. Ông cảm thấy rằng "vấn đề tai hại lớn nhất" là nằm ở phái những người công nhân, và họ phải có một nền tảng giáo dục đủ để hiểu được những cuộc đấu tranh nào là chính đáng, cái nào là không. Trong một bài giảng về "Tầm Quan Trọng Của Việc Phổ Biến Kiến Thức Kinh Tế Chính Trị" được ông trình bài cho một nhóm giáo viên các trường, Jevons có nói rằng việc truyền thụ kiến thức cho công nhân nên bắt đầu từ nhỏ -- "thực vậy, ngay khi còn nhỏ, một cậu bé có thể đọc được dễ dàng". Và công tác giáo dục cấp bách đó có hai điểm chính sau: thứ nhất, nó nhắm đến việc giảm những cuộc xung đột tranh chấp ở tương lai như những cuộc đình công, bạo loạn; thứ hai, giai cấp công nhân Anh có quyền bầu cử lại tạo ra mối nghi ngại của công nhân về luật áp đặt về thuế như luật về "mức lương tối thiểu" hay "mức lương đủ sống" mà luật này lại xâm phạm đến "những bộ luật cơ bản nhằm điều tiết các mối quan hệ giũa tư bản và lao động" cũng như phá
  6. vỡ đi nền kinh tế, ảnh hưởng đến nền tự do và tạo ra khuynh hướng các nhà tư bản đem tiền ra nước ngoài đầu tư. Trong bài giảng này, cũng như trong bài mà ông trình bày với tư cách là khách mời của "Hiệp Hội Chính Trị Công Đoàn" ở Manchester, Jevons trình bày khá chi tiết về những hành động đấu tranh của công đoàn mà ông nghĩ rằng một số trong đó là chính đáng, còn số còn lại là không. Những hành động mà ông cho là chính đáng bao gồm: những hành động xã hội thân thiện nhằm tương trợ nhau, những hành động xuất phát từ nhu cầu về các điều kiện làm việc như: giảm giờ làm, điều kiện vệ sinh, an toàn lao động … . Đối với vấn đề giảm giờ làm, Jevons cho rằng người công nhân rất đúng khi muốn nhận lấy một phần thành quả từ sức lao động của mình thông qua việc giảm bớt giờ làm - và ông dự báo là việc gia giảm như thế cũng chỉ đến mức nào đó tuỳ vào khả năng tăng năng suất lao động của mình và không thể vượt quá mức năng suất lao động được, nếu vậy nó sẽ làm giảm sút lợi nhuận, giảm nguồn vốn đầu tư, và giảm tích luỹ tương lai.
  7. Những hành động đấu tranh mà ông cho là không chính đáng, đó là đòi tăng lương vượt quá mức năng suất lao động của mình. Ông chỉ ra rằng bởi do một số công nhân có tài trong việc đứng ra tổ chức và gây áp lực đòi tăng lương, những thành công này của họ cũng đã ảnh hưởng xấu đến bên kia. Thứ nhất thành công của một vài người trước sự thất bại của một số người khác trong vấn đề cấp bậc lương dẫn đến sự so đo của họ với nhau. Thứ hai, khi đồng lương của một số người gia tăng kéo theo sự tiêu thụ của họ với những mức giá cao hơn, và điều này gây bất lợi cho những người khác. Thứ ba, bất kỳ sự thành công nào của công nhân trong việc đòi tăng lương (vượt quá mức năng suất lao động của họ) cũng dẫn đến việc các nhà tư bản đóng cửa các nhà máy trong nước và đem tiền đi đầu tư ở nước ngoài, nơi lao động rẻ, và nơi đó họ có thể dễ quản lý người lao động hơn. Ông cảnh báo rằng "những nhà tư bản sẽ dần rút vốn của họ ở trong nước và đem đi đầu tư ở những nước thuộc địa, ở Mỹ, và những quốc gia khác."
  8. Jevons nghĩ rằng những ảnh hưởng không tốt đó chỉ có thể tránh được khi công nhân biết hạn chế những cuộc đấu tranh; những cuộc đấu tranh chỉ có thể được hạn chế khi công nhân có sự hiểu biết; những hiểu biết đó chỉ có thể do việc sớm giáo dục cho công nhân về kinh tế chính trị. (Đối với những phương pháp giáo dục khác - như sử dụng "những giáo trình rẻ tiền" hay những mẫu chuyện ngắn - thì ông cho răng chúng không đạt yêu cầu vì chúng chỉ tiếp cận đến số ít công nhân mà thôi.) Cuối cùng Jevons gợi ý cho người công nhân về những khả năng tiết kiệm và tập hợp tiền tiết kiệm lại để lập thành những hội đoàn hợp tác với nhau để tự mình đứng lên làm nhà tư bản. Lẽ dĩ nhiên là ông cũng nhận ra rằng "tuy nhiên trong xã hội có nhiều ngành mậu dịch đòi hỏi một lượng vốn rất lớn mà bạn khó có thể tự mình đảm trách một cách an toàn mà không có sự hỗ trợ từ những nhà tư bản khác." Ông cảm thấy rằng trong những trường hợp cộng tác giữa các nhà tư bản và những người công nhân là rất cần thiết, và Bộ Hoà Giải có thể đứng ra quản lý mối quan hệ
  9. này, sao cho giữa họ có thể tối thiểu hoá sự bất đồng và tối đa hoá sự hợp tác. Những nhà cải cách "cận biên khác" Tiếc là chúng ta không có nhiều thì giờ đề cập đến những nhà cải cách cận biên quan trọng khác như Carl Menger (1841-1921), Marie-Esprit Leon Walras (1834-1910), Francis Ysidro Edgeworth (1845-1926), Knut Wicksell (1851-1926), và Alfred Marshall (1842-1924). Người được đề cập đầu tiên là một trong những người sáng lập ra và phát triển thuyết chính thức mà ngày nay ta gọi là "tân cổ điển"[8]. Còn người cuối cùng - Alfred Marshall - không chỉ là người sáng lập ra thuyết đó mà còn là người có công phổ biến nó vào những quốc gia nói tiếng Anh. Ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng trong thuyết tân cổ điển ngày nay phần lớn là do công chọn lọc và đánh giá những cách thể hiện khác nhau về những ý tưởng mới này. Như bạn có thể thấy trong phần nội dung cũng như trong phần chú thích ở cuối trang của
  10. chuơng thứ ba của quyển thứ ba tác phẩm Những Nguyên Tắc Kinh Tế Học, những thuật ngữ như "lợi ích sau cùng" hay "hệ số lợi ích" của Jevons được chuyển thành "lợi ích biên" và "lợi ích giảm dần" gần giống như ta sử dụng ngày nay. Thay vào đó, tôi nghĩ chúng ta nên khảo sát qua "thanh lọc" lớn về mặt lý thuyết của thuyết tân cổ điển thông qua tác phẩm của Pareto và Hicks. John Hicks và "Sự Thanh Lọc" Thuyết Kinh Tế Tân Cổ Điển Trong dòng suy nghĩ quyết định chọn lựa đi từ Becarria và Bentham, Jevons, và đến nhiều nhà cải cách biên khác, thì vấn đề "lợi ích" không chỉ là một phạm trù trung tâm mà còn là một thứ dùng để đo lường số lượng chính xác nhiều hay ít. Lợi ích được tính bằng "đếm được". Tuy nhiên, quan điểm này không chỉ dẫn đến vấn đề về chính trị, mà việc áp dụng thuyết này còn làm cho vấn đề chính trị đó càng trở nên tệ hại hơn Vấn đề về mặt chính trị ở đây như sau. Nếu lợi ích mà mỗi cá nhân đạt được từ việc tiêu thụ hàng hoá có thể đo được một cách
  11. chính xác (được tính bằng đơn vị "util") thì lợi ích bị mất đi của họ cũng có thể đo được như vậy và do đó những ảnh hưởng về mặt xã hội khi tái phân phối doanh thu hay của cải cũng có thể đo được. Nếu bạn chấp nhận những nguyên tắc của thuyết vị lợi mà trong đó mục tiêu nhắm đến của chính sách kinh tế là mang lại nhiều hạnh phúc nhất cho đại đa số công chúng, thì thu nhập và của cải nên được tái phân phối cho đến khi lợi ích biên của người nhận được số thu nhập hay của cải đó bằng với sự tổn thất biên của người mất đi số thu nhập hay của cải đó. Hay nói cách khác, nếu lợi ích biên của một đôla mang lại đối với người giàu là một util, còn đối với người nghèo là 1000 util, thì tổng lợi ích của xã hội sẽ có thể tăng lên khi ta phân phối lại đồng đôla đó từ người giàu chuyển sang người nghèo. Tuy nhiên, bất kỳ sự tái phân phối nào như vậy đều đánh vào trọng tâm của chủ nghĩa tư bản rằng thu nhập và tích trữ của cải để làm vốn là động cơ trong quá trình tái sản xuất hàng ngày. Những nhà kinh tế học mà chúng ta nói qua đều đã thiết lập nên một lý thuyết mà được sử dụng để công kích vào hệ thống chủ nghĩa tư bản hiện hữu.[9]
  12. Và lý thuyết này đã được dùng theo đúng mục đích của nó. Nó được hầu hết các nhà xã hội học tiếp nhận khi tranh cãi về vấn đề tái phân phối của cải mà John Hobson đã từng đề cập trong những bài viết của ông về khủng hoảng kinh tế và chủ nghĩa đế quốc. Nhưng lập luận thì hoàn toàn khác, khi tiếp nhận lý thuyết này, họ không quan tâm đến những vấn đề như tổng cầu hay nhu cầu tìm kiếm thị trường ở nước ngoài, nhưng phần kết luận thì giống nhau: đều công kích vấn đề của cải và nhu cầu tái phân phối thu nhập và của cải. Vào giữa thế kỷ này, việc tiếp nhận lý thuyết đó lại gây mâu thuẫn giữa lao động và tư bản trong nước cũng như đầu cơ ra nước ngoài, đây là lúc có nhiều sự kiện nổi bậc như Quốc Tế Thứ Hai, Cách Mạng Đầu Tiên Ở Nga năm 1905-1907 và Cách Mạng Mexico năm 1910 không ngạc nhiên gì khi dẫn đến việc sửa chữa bổ sung lý thuyết đó, đầu tiên là loại bỏ những yếu tố về số lượng tạo chỗ tựa cho những tranh luận như thế, và thứ hai là loại bỏ những gì liên quan đến triết lý về niềm vui của con người.
  13. Trong chương đầu tiên của quyển Giá Trị Và Tư Bản (1939)[10], John Hicks đã chỉ ra được cơ sở lý luận cho sự thay đổi về mặt cơ bản này. Ông gợi lại vấn đề Pareto tiếp thu khái niệm của Edgeworth về ba mặt phẳng thứ nguyên của lợi ích và hai đường cong bàng quang thứ nguyên thừa nhận những phân tích về quyền lựa chọn của người tiêu dùng dựa trên nền tảng một loạt những giả định khá nghiêm ngặt như tính chia hết vô hạn, tính liên tục, và độ lồi. Giả sử như lợi ích của tất cả các mặt hàng là số dương, thì đường cong bàng quang sẽ hướng lên để bù vào phần tổn thất và độ dốc mang giá trị âm của những đường này sẽ được tính bằng tỷ số giữa các lợi ích biên của những loại hàng hoá có liên quan. Kết quả chính là một "ánh xạ" của một số vô hạn của những đường cong bàng quang nghiêng về phía trục toạ độ và lồi về phía gốc toạ độ. Khi kết hợp nhiều khả năng mở rộng hơn về mặt tiêu dùng (nhờ có thu nhập và mức giá hàng hoá ở mức tương đối), thì với ánh xạ này của những đường cong bàng quang, quá trình tối đa hoá
  14. lợi ích sẽ dẫn đến trường hợp người tiêu dùng sẽ lựa chọn kết hợp những loại hàng có lợi ích tối đa mà thu nhập cho phép và sự kết hợp đó được thể hiện bằng vị trí của tiếp tuyến giữa "khả năng tài chính"[11] của người tiêu dùng và đường cong bàng quang[12] nào đó. Từ quan điểm này của Hick, ta thấy có một điều thú vị là công thức mà Pareto đưa ra cho phép chúng ta không cần xét đến tất cả các lợi ích với nhau, bao gồm cả những yếu tố về vấn đề chính trị nhớp nháp (mặc dù ông không luận gì về chính trị). Mặc dù những đường cong bàng quang bắt nguồn từ khoảng không ba chiều bao gồm cả lợi ích mà ông cho rằng những đường này không cần thiết. Mà những gì cần cho sự tồn tại của chúng chính là phân loại sắp xếp những sở thích tiêu dùng theo những rổ hàng hoá khác nhau. Ông cho là công thức này chỉ nói cho ta biết rằng người ta thích lưạ những loại mặt hàng nào hơn thôi, chứ không cho ta biết được ý nghĩa bề mặt của lợi ích, tức là không cho biết họ thích lợi ích của loại mặt hàng nào hơn mặt hàng thứ
  15. nhất hay thứ hai. Lợi ích đếm được mất tác dụng và lợi ích "thứ tự" được dùng để thay thế cho nó. Hicks nói rằng điều này "làm mất đi tầm quan trọng của phương pháp luận mở rộng". Sau khi chắc lọc lại thuyết này, Hicks trình bày lại những gì mà ông gọi là "loại bỏ" tất cả những khái niệm bắt nguồn từ thuyết này, bao gồm lợi ích biên, lợi ích biên giảm dần,và tỷ số giữa những lợi ích biên. Trong đó ông thảo luận về những sở thích, tỷ lệ thay thế biên và những tỷ lệ thay thế biên giảm dần. Hicks hoàn toàn bỏ qua những triết lý của thuyết vị lợi trong thuyết cận biên, mặc dù ông không nói cho chúng ta tại sao ông lại làm như thế - ngoại trừ một dẫn chứng ông đưa ra về Occam's Razor và một nguyên tắc là càng ít giả định thì càng tốt. Nhưng thuận lợi về mặt chính trị là quá rõ. Khi loại bỏ lợi ích và số lượng trong giả thuyết này thì không còn có lý do nào phải tiếp tục tranh cải về những cương lĩnh chính trị đầy nhạy cảm nữa như tái phân phối thu nhập. Bạn có lẽ sẽ nghĩ rằng việc chuyển đổi thu nhập từ người giàu sang người nghèo sẽ làm tăng phúc
  16. lợi xã hội nói chung, nhưng thực chất trong thuyết này không hề nói đến điều đó. Thực vậy, khi loại bỏ lợi ích và cả những nhân tố thông thường tạo nên quyết định về sở thích, thì lý thuyết này sau khi được sửa đổi lại có thể làm cho người ta không thể so sánh gì với nhau, được bao gồm cả không thể ước tính những gì mất đi và những gì đạt được. Nếu bạn tái phân bố chuyển thu nhập từ người giàu sang người nghèo, thì khả năng tài chính của người giàu có thể rút nhỏ lại, và có lẽ làm cho đường cong bàng quang của họ hạ xuống thấp hơn, đồng thời khả năng tài chính của người nghèo lại tăng thêm, và có lẽ làm đường cong bàng quang của họ nâng cao hơn, nhưng chung quy thì vẫn không so sánh được hai sự biến đổi về định lương này. Nhưng ta có thể nói rằng người giàu sẽ không thích tình trạng như vậy, còn nguời nghèo thì ngược lại. Trong chương hai quyển sách này của mình, Hicks tiếp tục nói về việc "loại bỏ" lợi ích khi giải thích rằng đường cầu nghiêng xuống phía dưới có thể do bắt nguồn từ giả thuyết về sở thích mà ông
  17. đã phân tích ở chương trước. Chuơng này không chỉ thú vị bởi những chi tiết về đạo hàm - mà bạn đã quá quen thuộc trong môn kinh tế vi mô, mà còn do quá trình mà ông chứng minh đạo hàm đó. Hầu như trong từng bước, ông đều đưa ra những giả định nào được thiết lập nên nhằm đạt được những kết quả sau cùng như mong đợi. Trong quá trình đó, bạn có thể thấy rằng lý thuyết này được tạo ra nhằm chứng minh cho một kết luận được mong đợi. Không một suy luận nào trong những nguyên tắc đầu tiên mà ông đưa ra được sử dụng cả, nhưng ông đã đưa ra một lý thuyết mang một phần kết riêng biệt. Trong trình tự đó ta thấy có một điểm buồn cười trong chương một khi Hicks cố chứng minh cho những giả định của mình đưa ra nhưng ông lại chưa kinh qua nó, tức là tự mình tạo ra một giả định khác (ta có thể bỏ qua tính cách hơi lập dị này của ông), tuy nhiên những giả định khác cần phải được chứng minh bằng kinh nghiệm của mình. (TQ hiệu đính: cần tìm hiểu hơn về "giá trị" và "tính hợp lý" của lý luận thì sẽ hiểu rõ tác giả hơn. Trong cuốn sách của ông ta, các lý luận của John Hicks có "giá trị" nhưng ông ta không có chứng minh
  18. các giả định của mình, cho nên lý luận của ông ta không "hợp lý".).

Có Thể Bạn Muốn Download

Đồng bộ tài khoản