Tài liệu về Cá Chẽm

Chia sẻ: Phan Thị Thanh Vân | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:54

0
170
lượt xem
90
download

Tài liệu về Cá Chẽm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Green Wood (1976) xếp Lates vào họ Centropomidae và cho biết họ này chia làm 8 loài, loài L. calcarifer phân bố ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương, 7 loài còn lại phân bố ở vùng biển Châu Phi [7]. Theo Mai Đình Yên (1979) và Nguyễn Nhật Thi (1991) Việt Nam chỉ có một loài cá chẽm duy nhất, loài cá này được xếp vào họ cá mú và tên thường gọi loài cá này là cá chẽm hay cá vược.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu về Cá Chẽm

  1. B TRƢỜNG ĐẠI HỌC ... KHOA ... TÀI LIỆU VỀ CÁ CHẼM i
  2. MỤC LỤC Trang DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ....................................................................................... i DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH VẼ ........................................................................ i CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................................................... i 1. MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1 1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................................. 1 1.2. Mục tiêu đề tài ........................................................................................................ 2 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................................................. 3 2.1. Đặc điểm sinh học cá chẽm ..................................................................................... 3 2.1.1. Hệ thống phân loại: .......................................................................................... 3 2.1.2. Hình thái và đặc điểm nhận dạng (FAO, 1974). ................................................ 4 2.1.3. Phân bố ............................................................................................................ 4 2.1.4. Vòng đời .......................................................................................................... 4 2.1.5. Đặc điểm sinh sản của đối tƣợng nghiên cứu .................................................... 5 2.2. Tình hình nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ƣơng nuôi cá chẽm trên thế giới và trong nƣớc .............................................................................................................................. 6 2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới.................................................................... 6 2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc ..................................................................... 6 2.3. Probiotic ................................................................................................................. 8 2.3.1. Tổng quan về Probiotic .................................................................................... 8 2.3.2. Các nhóm vi sinh vật trong chế phẩm probiotic ............................................... 9 2.3.3. Công dụng của probiotic trong nuôi trồng thủy sản ........................................ 11 2.3.4. Sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam ................. 12 2.4. Tổng quan về Quorum sensing .............................................................................. 16 2.4.1. Vật chất liên lạc của Quorum sensing ............................................................. 16 2.4.2. Dấu hiệu liên lạc của vi khuẩn và cơ chế tác động vào Quorum sensing ......... 17 2.4.3. Ứng dụng của Quorum sensing ...................................................................... 18 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................ 20 3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 20 3.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 20 3.3. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................................... 20 ii
  3. 3.4. Nội dung thực hiện ............................................................................................... 22 3.5. Phƣơng pháp tiến hành ......................................................................................... 22 3.5.1. Chăm sóc, quản lý, ấu trùng cá chẽm - Ƣơng nuôi cá bột lên cá giống ............ 22 3.5.2. Quy trình nhân sinh khối vi khuẩn trong phòng thí nghiệm ............................ 23 3.5.3. Cách thức bổ sung vi khuẩn vào các nghiệm thức........................................... 23 3.5.4. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm ....................................................................... 25 3.6. Chỉ tiêu nghiên cứu ............................................................................................... 27 3.6.1. Theo dõi các yếu tố thủy lý, thủy hóa ............................................................. 27 3.6.3.Xác định các chỉ tiêu tăng trƣởng của ấu trùng cá chẽm .................................. 28 3.7. Phƣơng pháp thu thập và xử lý số liệu................................................................... 28 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..................................................................................... 29 4.1. Các chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa trong các bể ƣơng ................................................... 29 4.1.1. Nhiệt độ ......................................................................................................... 29 4.1.2. Độ pH ............................................................................................................ 30 4.1.3. Lƣợng khí NH3 – N ........................................................................................ 31 4.1.4. Hàm lƣợng NO2 – N ...................................................................................... 32 4.2. Chỉ tiêu Vibrio tổng số .......................................................................................... 33 4.2.1. Vibrio tổng số trong nƣớc ƣơng nuôi .............................................................. 33 4.2.2. Vibrio tổng số trong ruột cá............................................................................ 34 4.3. Tăng trƣởng của cá ............................................................................................... 35 4.3.1. Tỷ lệ sống ...................................................................................................... 35 4.3.2. Trọng lƣợng khô ............................................................................................ 36 4.3.3. Tổng trọng lƣợng khô .................................................................................... 37 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ........................................................................................ 39 5.1. Kết luận ................................................................................................................ 39 5.2. Đề xuất ................................................................................................................. 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 40 PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 43 iii
  4. DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1: Các dòng vi khuẩn probiotic dùng trong đợt thí nghiệm ...................................... 20 Bảng 2: Tăng trƣởng của cá chẽm lúc 30 ngày tuổi (%) ................................................... 35 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ Hình 1: Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch 1790) ................................................................. 3 Hình 2: Sơ đồ quản lý, chăm sóc ấu trùng cá chẽm giai đoạn 2-30 ngày tuổi ................... 23 Hình 3: Sơ đồ làm giàu luân trùng và Artemia ................................................................. 25 Hình 4: Sơ đồ quy trình thí nghiệm chung cho đợt thí nghiệm ......................................... 25 Hình 5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ....................................................................................... 26 Đồ thị 1: Sự biến thiên nhiệt độ nƣớc trong các bể ƣơng .................................................. 29 Đồ thị 2: Sự biến thiên pH trong quá trình ƣơng nuôi ...................................................... 30 Đồ thị 3: Biểu diễn nồng độ NH3-N trung bình trong các bể ƣơng ................................... 31 Đồ thị 4: Biểu diễn nồng độ NO2-N trong nƣớc nuôi ấu trùng cá chẽm ........................... 32 Đồ thị 5: Mật độ Vibrio tổng số trong nƣớc trung bình của các nghiệm thức .................... 33 Đồ thị 6: Mật độ Vibrio tổng số trong ruột cá trung bình của các nghiệm thức ................ 34 Đồ thị 7: Tỷ lệ sống trung bình của cá chẽm lúc 30 ngày tuổi ở các nghiệm thức ............. 36 Đồ thị 8: Trọng lƣợng khô trung bình của cá chẽm 30 ngày tuổi ở các nghiệm thức ......... 37 Đồ thị 9: Tổng trọng lƣợng khô của mỗi bể nuôi cá chẽm lúc 30 ngày tuổi ...................... 37 CÁC CHỮ VIẾT TẮT CPSH: Chế phẩm sinh học ĐC : Đối chứng EM (Effective Microorganisms) : các vi sinh vật hữu hiệu FAO: Food agricultural Organization: Tổ chức nông lƣơng thế giới HH1: Hỗn hợp 1 HH2: Hỗn hợp 2 NTTS: Nuôi trồng thủy sản i
  5. 1. MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Dân số thế giới ngày càng tăng và nhu cầu về các sản phẩm thủy sản cũng tăng theo trong khi sản lƣợng khai thác ngày một giảm đi. Sự đóng góp đầy tiềm năng từ nuôi trồng thủy sản (NTTS) trong an toàn thực phẩm địa phƣơng, cung cấp sinh kế và dinh dƣỡng là đặc biệt quan trọng. Trong nuôi trồng thuỷ sản hiện nay, việc sử dụng con giống nhân tạo đã trở nên rất phổ biến, nhiều qui trình sản xuất giống và ƣơng nuôi các loài thủy sản đã đƣợc xây dựng và chuẩn hóa. Tuy nhiên, tỷ lệ sống thực tế của ấu trùng trong sản xuất giống và trong ƣơng nuôi của nhiều loài tôm, cá đƣợc đánh giá là chƣa cao. Trong thực tế, việc lạm dụng quá nhiều các loại thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản đã làm cho một số vi khuẩn gây bệnh trở nên kháng thuốc. Nhiều loại thuốc kháng sinh đƣợc sử dụng trong ƣơng nuôi ấu trùng tôm – cá biển, vì vậy, đã không còn phát huy đƣợc công dụng. Hạn chế này đã làm cho môi trƣờng sản xuất, ƣơng nuôi con giống dễ bị ô nhiễm, chất lƣợng con giống giảm sút. Để thay thế các loại thuốc kháng sinh, ngƣời ta đã nghiên cứu, sử dụng các loại vaccine, chất kích thích miễn dịch (Immunostimulants), vi sinh (Probiotics), thể thực khuẩn (Bacteriophages), vi tảo (Microalgae) và các loại acid béo. Trong đó, việc sử dụng các chế phẩm Probiotic đã đƣợc đánh giá là giải pháp bền vững, có nhiều triển vọng. Vì vậy, Probiotic ngày càng đƣợc áp dụng rộng rãi và trở nên phổ biến. Chế phẩm sinh học (CPSH) là những sản phẩm có chứa một vài nhóm vi sinh vật (là những loài vi khuẩn sống có lợi) nhƣ nhóm: Bacillus sp., Lactobacillus sp., Nitrosomonas sp., Nitrobacter sp., Clostridium sp.. Ngoài ra, trong thành phần của một số CPSH có chứa các enzyme (men vi sinh) nhƣ Protease, Lipase, Amylase… có công dụng hỗ trợ tiêu hóa và giúp hấp thu tốt thức ăn. Do đó, việc triển khai nghiên cứu ứng dụng probiotic trong NTTS đã và đang đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm. Đây là hƣớng phát triển đầy hứa hẹn giúp cho công nghệ ƣơng nuôi ấu trùng tôm – cá biển bền vững, ổn định. 1
  6. Trong thế giới vi sinh, vi khuẩn sống nhƣ một quần xã, trong đời sống của chúng đều có sự cạnh tranh và cộng tác. Tuy nhiên, sự cạnh tranh thƣờng diễn ra khốc liệt hơn vì vòng đời của mỗi loài ngắn. Do vậy, các vi khuẩn phải có hệ thống liên lạc với đồng loại của chúng. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, cho rằng: Quorum sensing cho phép vi khuẩn hợp tác hành động. Hệ thống Quorum sensing của vi khuẩn đã đƣợc phát hiện từ lâu. Chúng có chức năng điều khiển độc lực của rất nhiều loài vi khuẩn là tác nhân gây bệnh cho ngƣời, cho vật nuôi và cho cây trồng. Các vi khuẩn có thể tự tổng hợp và tiết ra những chất làm dấu hiệu một cách chắc chắn, gọi là chất kích thích (autoinducer hay là pheromones) thƣờng là N – acyl homoserine lactones (AHLs). Việc phá hủy hệ thống Quorum sensing của tác nhân gây bệnh nhằm làm bất hoạt mà không ảnh hƣởng đến sự phát triển của tác nhân gây bệnh, là hƣớng nghiên cứu - ứng dụng hoàn toàn mới trong lĩnh vực phòng trị bệnh bằng Probiotic. Để góp phần ngăn chặn, điều trị bệnh do vi khuẩn và đƣa chế phẩm vi sinh vào ứng dụng nhiều hơn trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát đặc tính probiotic của một số hỗn hợp vi khuẩn phân hủy Quorum sensing trong ƣơng nuôi ấu trùng cá chẽm (Lates calcarifer Bloch 1790)” tại Trung tâm Quốc gia giống hải sản Nam Bộ, Vũng Tàu. 1.2. Mục tiêu đề tài Đánh giá ảnh hƣởng của các hỗn hợp vi khuẩn probiotic đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá chẽm (Lates calcarifer Bloch 1790) ở giai đoạn 30 ngày tuổi. 2
  7. 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Đặc điểm sinh học cá chẽm 2.1.1. Hệ thống phân loại: Tổ chức FAO (1974) đã tổng kết và đƣa ra vị trí phân loại của cá chẽm (tên tiếng Anh là Sea Bass, Barramundi) nhƣ sau: Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Percifermes Họ: Centropomidae Giống: Lates Loài: Lates calcarifer (Bloch 1790) Green Wood (1976) xếp Lates vào họ Centropomidae và cho biết họ này chia làm 8 loài, loài L. calcarifer phân bố ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dƣơng, 7 loài còn lại phân bố ở vùng biển Châu Phi [7]. Theo Mai Đình Yên (1979) và Nguyễn Nhật Thi (1991) Việt Nam chỉ có một loài cá chẽm duy nhất, loài cá này đƣợc xếp vào họ cá mú và tên thƣờng gọi loài cá này là cá chẽm hay cá vƣợc. Hình 1: Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch 1790) 3
  8. 2.1.2. Hình thái và đặc điểm nhận dạng (FAO, 1974). Cá chẽm có thân dài, dẹp, cuống đuôi khuyết sâu, đầu nhọn, miệng cá rộng và hơi so le, hàm trên chồm tới phía sau mắt, răng dạng lông nhung, vây lƣng có 7-9 gai và 10-11 tia mềm, vây lƣng và vây hậu môn có vẩy nhỏ bao phủ, vây đuôi tròn, vẩy dạng lƣợc rộng. Màu sắc: Ở giai đoạn còn nhỏ khi biến thái chƣa hoàn chỉnh cá có màu đen. Đến giai đoạn cá giống phía trên có màu nâu Ôliu, hai bên và bụng có màu sáng bạc khi cá sống trong môi trƣờng nƣớc mặn lợ, màu nâu vàng trong môi trƣờng nƣớc ngọt. Giai đoạn trƣởng thành cá có màu xanh lục hay vàng nhạt ở phần trên và màu bạc ở phần dƣới. Màu sắc của cá còn phụ thuộc vào chất lƣợng môi trƣờng sống. 2.1.3. Phân bố - Phân bố theo vùng địa lý: Cá chẽm phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Tây Thái Bình Dƣơng, giữa kinh tuyến 50 0 Đông – 160 0 Tây, vỹ tuyến 26 0 Bắc – 250 Nam. Cá còn tìm thấy ở khắp Bắc Châu Á, phía Nam kéo dài đến Queenland (Úc) phía Tây đến Đông Châu Phi [24]. Ở Việt Nam cá phân bố khắp các vùng biển, cửa sông, lạch, tập trung nhiều ở các tỉnh Miền Tây Nam Bộ và một số tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ. - Phân bố theo vùng sinh thái: Cá chẽm là loài rộng muối và có tính di cƣ xuôi dòng, cá thành thục tìm thấy ở các vùng ven bờ gần các cửa sông nƣớc lợ. Trong khi đó, cá giống có thể gặp trong môi trƣờng nƣớc ngọt. Trong điều kiện tự nhiên, cá chẽm lớn lên ở nƣớc ngọt, lợ và di cƣ ra vùng nƣớc mặn để đẻ trứng [20]. 2.1.4. Vòng đời Cá chẽm trải qua phần lớn thời gian sinh trƣởng (2-3 năm) trong các thuỷ vực nƣớc ngọt, nơi cửa sông nối liền với biển. Cá có tốc độ tăng trƣởng nhanh, thƣờng đạt 3-5kg sau 2-3 năm. Cá trƣởng thành 3-4 4
  9. tuổi di cƣ từ vùng nƣớc ngọt về vùng cửa sông và ra biển nơi có độ mặn 30-32‰ để phát triển tuyến sinh dục và đẻ trứng. Cá đẻ trứng theo chu kỳ trăng, cá thƣờng đẻ vào thời điểm thuỷ triều lên. Điều này giúp trứng và ấu trùng trôi vào vùng cửa sông, tại đó ấu trùng di chuyển ngƣợc dòng để lớn lên [30]. 2.1.5. Đặc điểm sinh sản của đối tượng nghiên cứu 2.1.5.1. Thành thục sinh dục Theo Kungvankij và cộng sự (1986) vào giai đoạn đầu của vòng đời (Cỡ 1,5-2,5kg) phần lớn cá chẽm là con đực, nhƣng khi đạt trọng lƣợng cỡ 4-6kg phần lớn cá chuyển thành cá cái. Tuy nhiên, sau 3-4 năm nuôi, với cùng nhóm tuổi có thể phân biệt cá đực và cá cái dựa vào các chỉ tiêu, đặc điểm về ngoại hình nhƣ: - Mõm cá đực hơi cong, còn mõm cá cái thẳng. - Cơ thể cá đực thon hơn cá cái. - Trọng lƣợng cá cái lớn hơn nếu cùng tuổi. - Vây gần lỗ huyệt của cá đực dày hơn cá cái trong mùa sinh sản. - Đến mùa sinh sản bụng cá cái phình to hơn cá đực. 2.1.5.2. Sức sinh sản và đẻ trứng Sức sinh sản của cá chẽm có liên quan đến kích thƣớc và trọng lƣợng của cá. Cá cái có trọng lƣợng 5,5-11kg cho khoảng 400.000 trứng/kg cá, cá 12-22kg cho khoảng 600-700.000 trứng/ kg cá [31]. Trƣớc khi đẻ, cá đực và cá cái thành thục sẽ tách đàn và ngừng ăn một tuần, cá đực và cá cái sẽ bơi lội thành cặp, thƣờng xuyên ở tầng mặt khi sắp đẻ trứng. Cá đẻ thành nhiều đợt trong vòng 7 ngày, thời gian đẻ thƣờng vào lúc chiều tối đến đêm. 2.1.5.3. Phát triển phôi Sau khi thụ tinh 30-40 phút trứng bắt đầu phân cắt, sự phân chia tế bào tiếp tục 15-20 phút/lần và trứng phát triển tế bào trong vòng 3 giờ. Sự phát triển phôi trải qua các giai đoạn thông thƣờng: Phôi nang, phôi 5
  10. vị, phôi thần kinh, phôi mầm. Tim phôi bắt đầu hoạt động sau khoảng 15 giờ và trứng nở sau 18 giờ tính từ lúc trứng thụ tinh (ở nhiệt độ 28 0 C- 30 0 C; độ mặn 30-32‰) [26]. 2.2. Tình hình nghiên cứu sinh sản nhân tạo và ƣơng nuôi cá chẽm trên thế giới và trong nƣớc 2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cá chẽm (L. calcarifer) là loài có giá trị kinh tế quan trọng ở vùng Nhiệt đới và Cận Nhiệt đới, thuộc Châu Á và Thái Bình Dƣơng. Cá đƣợc nuôi thƣơng phẩm nhiều ở các nƣớc: Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Đài Loan.... trong các ao đầm nƣớc lợ và nƣớc ngọt cũng nhƣ nuôi trong lồng trên các vùng biển. Sinh sản nhân tạo cá chẽm đƣợc nghiên cứu thành công đầu tiên ở Thái Lan vào những năm 1976 bằng phƣơng pháp vuốt trứng từ những cá bố mẹ chín muồi sinh dục đánh bắt đƣợc từ các bãi đẻ tự nhiên [31]. Đến năm 1973, Thái Lan đã thành công trọng việc kích thích cá nuôi vỗ cho sinh sản bằng phƣơng pháp điều chỉnh môi trƣờng, vòng đời của loài cá này đã đƣợc khép kín trong sản xuất giống nhân tạo. Đến năm 1985, mỗi năm tại Thái Lan sản xuất trên 100 triệu con giống, riêng Trạm thuỷ sản Satul mỗi năm cấp trên 30 triệu con [27]. Một số nƣớc có tiềm năng nuôi trồng thủy sản nhƣ Indonesia, Philipine, Trung Quốc, Nauy… cá chẽm đƣợc sản xuất và nuôi thƣơng phẩm với quy mô công nghiệp trong ao đất, nuôi lồng trên biển với mật độ từ 2-6 con/m3, năng suất đạt 10- 80 tấn/ha. Nhƣ vậy, giống nhân tạo đã trở thành nguồn cung cấp giống chủ yếu cho các trại cá biển ở các nƣớc này [3]. 2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước Cá chẽm đƣợc đƣa vào nghiên cứu, thử nghiệm sinh sản nhân tạo tại trƣờng Đại học Cần Thơ, Đại học thuỷ sản Nha Trang từ những năm 1994. Công trình này mở ra triển vọng phát triển mạnh mẽ công tác nghiên cứu ứng dụng để xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống các loài cá biển khác có giá trị kinh tế cao bằng con đƣờng sinh sản nhân tạo. Trong quy trình kỹ thuật nuôi vỗ cá chẽm (cá vƣợc) bố mẹ trong hệ thống lồng nuôi trên biển và bể xi măng nƣớc chảy tuần hoàn với hệ thống lọc sinh học, tỷ lệ cá có thể tham gia 6
  11. sinh sản đạt 100%. Quy trình kỹ thuật ấp nở trứng cá, ƣơng nuôi cá bột thành cá giống quy mô sản xuất thƣơng mại với tỷ lệ sống đạt 38%. Kích thích cá vƣợc sinh sản tự nhiên trong hệ thống bể xi măng với hệ thống lọc sinh học bằng việc sử dụng kích dục tố, tỷ lệ đẻ trứng đạt 100%, hoặc kích thích bằng các yếu tố sinh thái, tỷ lệ đẻ trứng đạt 95%. Sau đó, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II cũng tiến hành nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chẽm. Năm 2000, Viện đã nghiên cứu thành công và xây dựng quy trình khép kín công nghệ sản xuất giống cá chẽm, từ việc thuần dƣỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ thành thục trong bể ximăng, kích thích sinh sản, ƣơng cá bột lên cá giống. Sau khi thành công, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II đã tiến hành chuyển giao cho một số tỉnh ven biển. Từ đó, các công ty, doanh nghiệp tƣ nhân cũng nhƣ các trại sản xuất giống theo quy mô hộ gia đình đã đƣa đối tƣợng này vào sản xuất đại trà. Tiếp thu công nghệ từ Đại học Nha Trang, Trạm thực nghiệm nuôi trồng thủy sản Cát Tiến (Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm nuôi trồng thủy sản Bình Định) cho sinh sản, ƣơng nuôi thành công cá chẽm. Để có cơ sở đủ tiêu chuẩn ƣơng cá chẽm, tỉnh Bình Định đã đầu tƣ nâng cấp Trạm thực nghiệm nuôi trồng thủy sản Cát Tiến: xây dựng hệ thống xử lý nƣớc biển, bể nuôi cá bố mẹ với hệ thống lọc sinh học, hệ thống bể ƣơng nuôi từ cá bột đến giai đoạn cá hƣơng, với tổng thể tích bể trên 60m3, hệ thống bể nuôi sinh khối luân trùng (rotifer) để làm thức ăn cho cá bột, và hệ thống cung cấp khí cho các bể nuôi... Kết quả cho thấy tỷ lệ nở thông thƣờng từ 80-85%, đến 45 ngày, cá đạt chiều dài từ 2-3cm, đây là giai đoạn cá giống. Trên cơ sở quy trình công nghệ nuôi vỗ cá bố mẹ, cho cá đẻ, thu và ấp trứng cá, ƣơng nuôi từ cá 1 đến 10 ngày tuổi và từ 10 – 30 ngày tuổi của Trƣờng Đại Học Nha Trang, tại Trại thực nghiệm nuôi trồng thuỷ sản Yên Hƣng - Quảng Ninh, từ tháng 3/2005 đến tháng 12/2006 Thạc sỹ Ngô Thế Anh và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu ứng dụng sinh sản nhân tạo và ƣơng nuôi giống cá vƣợc (Lates calcarifer Bloch 1790). Từ việc nắm vững các vấn đề về bệnh cá; gây nuôi thức ăn tƣơi sống: tảo Chlorella, luân trùng Copepoda; kỹ thuật ấp trứng Artermia… nhóm nghiên cứu đã đạt đƣợc kết quả tốt: Năng suất trứng bình quân đạt 76.363 trứng/ kg cá cái/ đợt sinh sản; tỷ lệ cá bột (so với trứng thụ tinh) đạt từ 70-90%, trung bình 82,38%; tỷ lệ 7
  12. sống của cá chẽm giai đoạn từ 1-10 ngày tuổi đạt 59-71%, trung bình 62,25%; cỡ cá đạt đƣợc từ 3,9mm–6,1mm, trung bình đạt 4,81mm; tỷ lệ sống của cá chẽm giai đoạn từ cá 10 ngày tuổi lên cá 30 ngày tuổi đạt từ 40– 55%, trung bình đạt 47,63% [1]. 2.3. Probiotic 2.3.1. Tổng quan về Probiotic Thuật ngữ “probiotic” đƣợc Lilly và Stilwell đề xuất năm 1965 để tả những chất sản sinh bởi vi sinh vật làm tăng trƣởng một vi sinh vật (hoặc sinh vật) khác. Năm 1989, Parker lại định nghĩa thêm cho rõ: Probiotic là những sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn) có khả năng cộng sinh (hoặc hợp sinh) trong đƣờng ruột có tác dụng cân bằng hệ vi sinh vật, trong đó có một số tác dụng hữu ích cho vật chủ. Trong năm này giáo sƣ Fuller.R có định nghĩa Probiotic là: “Thành phần thức ăn có cấu tạo từ những vi khuẩn và có tác dụng hữu ích lên vật chủ qua việc làm cải thiện sự cân bằng vi khuẩn đƣờng ruột của nó”. Ngày nay, Probiotic đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Probiotic là sản phẩm chứa vi sinh vật sống nhằm mục đích cải thiện sức khỏe con ngƣời và vật nuôi”. Từ “Probiotics” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp bao gồm 2 từ “Pro” có nghĩa là “dành cho” và “biotics” có nghĩa là “sự sống”. Nghiên cứu ứng dụng probiotic mới chú ý trong 20 năm trở lại đây, nhƣng tác dụng của nó đã đƣợc nhận thấy từ lâu. Elie Metnhicoff là ngƣời đầu tiên đặt nền móng cho việc sử dụng probiotic. Năm 1908, ông đề nghị sử dụng vi khuẩn lactic (Lactobacterium delbruekii spp bulgaricus) để kéo dài tuổi thọ cho con ngƣời. Ngày nay chế phẩm probiotic đƣợc sử dụng khá hiệu quả trong chăn nuôi, trồng trọt, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi truờng. Tuy nhiên việc ứng dụng chế phẩm này vào nuôi trồng thuỷ sản (tôm, cua, cá, nhuyễn thể…) mới bắt đầu trong hơn thập kỷ gần đây [10]. Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (EM - Effective Microorganisms) có nghĩa là các vi sinh vật hữu hiệu. Chế phẩm này do Giáo sƣ Tiến sĩ Teruo Higa - trƣờng Đại học Tổng hợp Ryukyus, Okinawoa, Nhật Bản sáng tạo và áp dụng vào thực tiễn đầu năm 1980. Trong chế phẩm này có khoảng 80 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí thuộc các nhóm: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn. 80 loài vi sinh vật này đƣợc lựa chọn từ 8
  13. hơn 2000 loài đƣợc sử dụng phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ lên men [11], [25]. EM đƣợc thử nghiệm tại nhiều quốc gia : Mỹ, Nam Phi, Thái Lan, Philippin, Trung Quốc, Braxin, Nhật Bản, Singapore, Indonexia, Srilanca, Nepal, Việt Nam, Triều Tiên, Belarus... và cho thấy những kết quả khả quan. Tác giả của công nghệ EM, Giáo sƣ Teruo Higa mong muốn các nhà khoa học trên thế giới cùng cộng tác để tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện chế phẩm EM. Năm 1989, tại Thái Lan đã tổ chức Hội nghị Quốc tế Nông nghiệp Thiên nhiên Cứu thế. Các nhà khoa học đã thảo luận về giá trị của công nghệ EM và tăng cƣờng sử dụng nó. Nhờ vậy, mạng lƣới Nông nghiệp thiên nhiên Châu Á - Thái Bình Dƣơng (APNAN) đƣợc thành lập, đã mở rộng hoạt động tại 20 nƣớc trong vùng và tiếp xúc với tất cả các lục địa trên thế giới. Đến nay, có khoảng 50 nƣớc tham gia chƣơng trình nghiên cứu ứng dụng EM và các nƣớc: Mỹ, Trung Quốc, Braxin, Thái Lan… đã trực tiếp nhập công nghệ EM từ Nhật Bản. Hiện tại, EM có thể sản xuất đƣợc tại trên 20 quốc gia trên thế giới [18]. 2.3.2. Các nhóm vi sinh vật trong chế phẩm probiotic Chế phẩm probiotic là tập hợp các chủng vi sinh vật có ích. Đó là các tế bào sống của các chủng vi sinh vật, sống hợp sinh và sinh sản ra một số hợp chất có tác dụng đến đời sống cây trồng, vật nuôi và cải thiện môi trƣờng. Thành phần chế phẩm probiotic thƣờng có những nhóm vi sinh vật sau: - Các nhóm vi sinh vật cơ bản: (1) Vi khuẩn lactic; (2) Vi khuẩn Bacillus; (3) Nấm men (Saccharomyces);(4) Vi khuẩn quang dƣỡng khử H2S (vi khuẩn tía có lƣu huỳnh, vi khuẩn tía không có lƣu huỳnh và vi khuẩn xanh). - Các nhóm vi sinh vật phụ: (5) Nhóm vi khuẩn Nitrat hoá (Nitrosomonas, Nitrobacter); (6) Nhóm xạ khuẩn; (7) Nhóm nấm mốc. Trong số này nhóm xạ khuẩn, nấm mốc thƣờng chỉ dùng khi chế phẩm bổ sung vào phân huỷ rác thải hoặc nuôi cấy chủng sinh ra một lƣợng enzym đáng kể dùng bổ sung vào chế phẩm để hỗ trợ sự phân huỷ hợp chất hữu cơ [10]. 9
  14. Có 3 nguyên tắc cơ bản để lựa chọn các chủng vi sinh vật sản xuất CPSH là: (1) Các chủng vi sinh vật phải có hoạt tính sinh học mạnh nhƣ khả năng sinh phức hệ enzyme cao và ổn định; (2) Không gây độc cho ngƣời, vật nuôi, cây trồng, vi sinh vật hữu ích và (3) nuôi cấy dễ dàng, sinh trƣởng tốt trong môi trƣờng tự nhiên, thuận lợi cho quá trình nhân giống thu sinh khối [2]. - Các nhóm vi sinh vật đƣợc sử dụng để sản xuất chế phẩm vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam + Các nhóm vi sinh vật sử dụng trong sản xuất CPSH phục vụ xử lý môi trƣờng nuôi trồng thủy sản: Nhóm vi sinh vật dị dƣỡng hoại sinh: Một số loài của nhóm vi khuẩn Bacillus (Bacillus subtilis, Bacillus licheniformis, Bacillus sp, Bacillus megaterium...) dùng để làm sạch môi trƣờng nhờ khả năng sinh các enzyme (protease, amylase, xenlulase, kitinase) phân hủy các hợp chất hữu cơ và kiểm soát sự phát triển quá mức của vi sinh vật gây bệnh do cơ chế cạnh tranh nguồn dinh dƣỡng giữ cho môi trƣờng luôn ở trạng thái cân bằng sinh học. Nhóm vi sinh vật khử amoni và nitrat: Các loài thuộc chi Nitromonas, Nitrobacter chúng amoni hóa NH3 và nitrat hóa NO3- thành nitơ phân tử làm giảm độc cho môi trƣờng. + Các nhóm vi sinh vật dùng để sản xuất thức ăn và kiểm soát vi sinh vật gây bệnh gồm: Enterococcus faecium, Streptomyces cinnamonensis, Bacillus subtilis, Lactobacillus sp., Acetobacteria sp., Saccharomyces sp., Pediococcus acidilatici, Lactobacillus acidophilus, L. sporogenes... Vi khuẩn lactic: Đây là nhóm vi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các vi sinh vật gây bệnh bởi các chủng vi sinh vật này có khả năng sinh acid lactic, bacteroxin... có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh cho tôm, cá trong môi trƣờng. Nhóm vi sinh vật này thƣờng đƣợc sử dụng để bổ sung vào thức ăn cho tôm, cá, làm cân bằng khu hệ vi sinh vật đƣờng ruột, ngăn cản sự thâm nhập của các vi sinh vật có hại vào đƣờng ruột, tăng khả năng phòng ngừa một số bệnh đƣờng ruột. Đồng thời, còn có tác dụng tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, giúp cho vật nuôi 10
  15. khỏe mạnh và phát triển nhanh [2]. 2.3.3. Công dụng của probiotic trong nuôi trồng thủy sản Khác với biện pháp sử dụng hóa chất và kháng sinh, CPSH cung cấp một phƣơng thức an toàn bền vững đối với ngƣời nuôi và tiêu dùng. Thay cho việc tiêu diệt các bào tử vi khuẩn, CPSH đƣợc sản xuất với mục đích kích thích sự gia tăng các loài vi khuẩn có lợi trong ao, cải thiện môi trƣờng (nƣớc và nền đáy ao), sức khỏe vật nuôi, cụ thể là: - Phân hủy các hợp chất hữu cơ đƣợc tạo nên bởi nhiều nguồn khác nhau trong ao nuôi nhƣ thức ăn dƣ thừa, phân của tôm cá, xác chết của sinh vật trong ao… làm cho đáy ao và chất lƣợng nƣớc trong ao đƣợc cải thiện, làm giảm nguy cơ ô nhiễm hữu cơ từ lớp bùn đáy. - Hấp thụ một số khí độc có thể tạo ra trong quá trình chuyển hóa chất hữu cơ và trong quá trình trao đổi chất của vật nuôi, nhƣ Nitrosomonas spp. có thể phân hủy amonia thành nitrite và Nitrobacter spp. phân hủy nitrite thành nitrate, hoặc Rhodobacter spp. và Rhodococcus spp. có khả năng làm giảm H2S trong đáy bùn ao, do đó sẽ làm giảm mùi hôi trong nƣớc, giúp tôm cá phát triển tốt. - Nâng cao khả năng miễn dịch của tôm cá (do kích thích tôm, cá sản sinh ra kháng thể). - Ức chế sự hoạt động và phát triển của vi sinh vật có hại (do các loài vi sinh vật có lợi sẽ cạnh tranh thức ăn và tranh giành vị trí bám với vi sinh vật có hại). Trong môi trƣờng nƣớc, nếu vi sinh vật có lợi phát triển nhiều sẽ kìm hãm, ức chế, lấn át sự phát triển của vi sinh vật có hại, do đó sẽ hạn chế đƣợc mầm bệnh phát triển để gây bệnh cho tôm cá. - Probiotic khi đƣa vào môi trƣờng còn có khả năng đóng vai trò điều khiển sự phát triển ổn định của tảo phù du vì sản phẩm hoạt động phân hủy của các vi khuẩn có lợi là CO2 và các muối dinh dƣỡng, chúng sẽ giúp cải thiện và ổn định tảo phù du. Đặc biệt, trong các ao nuôi thâm canh probiotic còn gián tiếp kìm hãm sự phát triển của tảo đáy làm màu nƣớc trong ao nuôi ổn định và thích hợp giúp ổn định hàm lƣợng oxy hòa tan (DO), pH trong ngày đêm và trong suốt vụ nuôi. 11
  16. - Ngoài ra một số chế phẩm vi sinh còn có tác dụng tăng khả năng hấp thụ thức ăn của vật nuôi, cải thiện hệ men và vi khuẩn có lợi ở đƣờng ruột động vật thủy sản và phần nào kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn gây hại trong ruột vật nuôi. Công dụng này thuộc về một số ít loại chế phẩm vi sinh có khả năng đƣa vào cơ thể vật nuôi bằng con đƣờng thức ăn. - Chế phẩm vi sinh về cơ bản không có các phản ứng tiêu cực tới sức khỏe vật nuôi và môi trƣờng, ngoại trừ buộc các nhà nuôi trồng thủy sản phải đầu tƣ thêm tiền bạc trên 1 đơn vị diện tích nuôi. Tuy vậy, nếu sử dụng chế phẩm vi sinh sẽ giúp ngƣời nuôi không hoặc rất ít cần sử dụng đến kháng sinh và hóa chất trong suốt chu kỳ nuôi [5]. 2.3.4. Sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam NTTS là một trong những nghề sử dụng tài nguyên thiên nhiên là đất và nƣớc, luôn gắn bó với môi trƣờng sinh thái. Vì vậy, NTTS cần phải tăng năng suất, nâng cao sản lƣợng, giá trị tiêu thụ lại vừa phát triển một cách bền vững, lâu dài. Việc sử dụng CPSH probiotic để xử lý nƣớc môi trƣờng nuôi trồng thuỷ sản là một phƣơng án tối ƣu đang đƣợc sử dụng khá phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, phƣơng pháp sử dụng CPSH trong NTTS nhƣ thế nào cũng là vấn đề cần thảo luận. CPSH đƣợc sử dụng có tác dụng điều chỉnh hệ vi sinh vật thuỷ sinh theo hƣớng hạn chế các vi sinh vật gây bệnh, tăng cƣờng sự phân huỷ các chất hữu cơ do thức ăn thừa, do vật nuôi bài tiết, do xác động thực vật chết thối rữa... để cải thiện môi trƣờng, đồng thời làm tăng cƣờng khả năng miễn dịch của vật nuôi đối với vi sinh vật gây bệnh. Bên cạnh đó, việc sử dụng các CPSH trong nuôi trồng thuỷ sản sẽ hạn chế sử dụng hoá chất, thuốc kháng sinh, yếu tố gây ra hậu quả của việc nuôi trồng thuỷ sản kém bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản của nƣớc ta tiến bƣớc vào thị trƣờng nƣớc ngoài một cách thuận lợi mà không gặp phải rào cản nào. Hiện nay có hàng trăm loại CPSH đƣợc sử dụng bao gồm chế phẩm trộn vào thức ăn và chế phẩm xử lý nƣớc. Các CPSH này chủ yếu do các công ty cung cấp, phân phối, đại lý cho nƣớc ngoài hay sử dụng công nghệ của nƣớc ngoài để sản xuất phân phối tại Việt Nam. Bởi vậy, dù có nhiều công ty tham gia chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật đến ngƣời nuôi thì trƣớc hết vì 12
  17. mục đích thƣơng mại để có thể thu càng nhiều lợi nhuận càng tốt chứ không phải vì quyền lợi của ngƣời sử dụng. Chƣa kể đến tác dụng của chế phẩm ra sao bởi vì những chế phẩm ngoại nhập hay chủng vi sinh vật từ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam có phù hợp với điều kiện của Việt Nam hay không thì việc đƣa một lƣợng đáng kể chủng vi sinh vật vào Việt Nam cũng là một mối nguy hiểm tiềm tàng, xét về khía cạnh an toàn sinh học. Nghề nuôi tôm cho hiệu quả kinh tế cao, nhƣng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do dịch bệnh. Bệnh tôm ảnh hƣởng rất lớn đến sản lƣợng và chất lƣợng sản phẩm. Virus và vi khuẩn Vibrio là hai tác nhân gây bệnh nguy hại nhất đối với nghề nuôi trồng thuỷ sản. Các ao hồ nuôi tôm thâm canh có môi trƣờng nƣớc nuôi rất phú dƣỡng do việc sử dụng quá nhiều thức ăn tổng hợp giàu protein (30 - 40%), 92% hàm lƣợng các chất hữu cơ chứa nitơ ô nhiễm trong các ao hồ nuôi có nguồn gốc từ thức ăn. Qua tính toán thì chỉ có 17% thức ăn đƣợc đồng hoá thành sinh khối của tôm, 18% thức ăn hoà vào nƣớc, 48% do bài tiết, do lột xác hoặc hoạt động sống và 20% ở phân. Nhƣ vậy, môi trƣờng nƣớc nuôi tôm dần bị ô nhiễm, khiến cho dịch bệnh có cơ hội phát triển. Để hạn chế dịch bệnh, ngƣời nuôi tôm phải thƣờng dùng các chất diệt khuẩn, chủ yếu là các chất chlorine và các chất kháng sinh. Các biện pháp hoá học này đều có hậu quả nguy hiểm đối với sức khoẻ của vật nuôi và sức khoẻ của con ngƣời khi sử dụng. Đối với chlor và dẫn xuất có thể kết hợp với các chất hữu cơ thành phức chlor hữu cơ rất độc. Việc lạm dụng các chất kháng sinh dẫn đến hiện tƣợng kháng thuốc của các vi sinh vật gây bệnh và có thể không kiểm soát đƣợc các bệnh dịch. Do đó, việc dùng các hoá chất trong chăn nuôi và bảo quản sản phẩm đang gặp rất nhiều khó khăn đối với các loại thuỷ sản xuất khẩu [10]. Những năm gần đây, để giảm thiểu những bất lợi do sử dụng hóa chất trong nuôi trồng thủy sản, việc nghiên cứu và sử dụng các CPSH để phòng bệnh và cải thiện môi trƣờng trong quá trình nuôi tôm ở nƣớc ta đang phát triển mạnh. Theo Cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hiện có khoảng trên 200 thƣơng hiệu CPSH và vitamin đang bán trên thị trƣờng nƣớc ta. Đa số các CPSH có nguồn gốc nhập ngoại, giá bán của các loại chế phẩm này khá cao, nên đã gây khó khăn cho ngƣời nuôi trồng thủy sản trong việc lựa chọn một sản phẩm vừa đạt chất lƣợng vừa có giá thành rẻ. Với lý do đó, các Viện 13
  18. nghiên cứu, các nhà khoa học trong nƣớc với sự hỗ trợ kinh phí từ Nhà nƣớc đã nghiên cứu thành công một số các CPSH có giá thành tƣơng đối rẻ nhƣng chất lƣợng thì không thua các sản phẩm của nƣớc ngoài. Các nhà khoa học tại Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm EBS2 để bổ sung vào thức ăn trong nuôi trồng thủy sản. EBS2 có vai trò quan trọng nhƣ những vitamin kích thích trong quá trình sinh trƣởng của các đối tƣợng nuôi trồng thủy sản. Kết quả thử nghiệm với cua biển cho thấy trong 22 ngày đầu lô cua dùng thức ăn tổng hợp có bổ sung EBS2 đạt tốc độ tăng trƣởng 3,5%. Trong khi đó lô không bổ sung EBS2 có tốc độ tăng trƣởng là 0,9% và lô dùng thức ăn tự nhiên có tốc độ tăng trƣởng là 0,5% (Phòng Hóa sinh biển, 2001). Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phúc, Viện Sinh học Nhiệt đới TP.HCM đã nghiên cứu chế tạo thành công hai CPSH để nuôi tôm. Hai chế phẩm này có tên là Probact dùng để trộn vào thức ăn của tôm, và Ecobact dùng để xử lý môi trƣờng nƣớc trong ao nuôi tôm. Hai CPSH này có tác dụng giảm thiểu vi sinh vật gây bệnh cho tôm, cải thiện chất lƣợng nƣớc và bùn trong các ao nuôi tôm (góp phần tăng tính miễn dịch cho tôm trong quá trình nuôi). Bƣớc đầu hai chế phẩm này đã đƣợc sử dụng thử nghiệm tại một số hộ nông dân ở huyện Cần Giờ, Nhà Bè, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, cho kết quả khá tốt. Tôm ít bị bệnh, tăng trƣởng tốt, năng suất thu hoạch tăng từ 30-45% [9]. Ngoài ra, CPSH Biochie bao gồm một số chủng thuộc chi Bacillus (Bacillus subtilis, Bacillus megaterium, Bacillus licheniformis) và Lactobacillus (Lactobacillus acidophilus) cũng đƣợc sử dụng rộng rãi ở trong nƣớc, chúng có chức năng phân hủy hợp chất hữu cơ bằng cách tiết ra các enzyme nhƣ protease, amylase. Chúng còn có khả năng tổng hợp chất kháng khuẩn làm giảm số lƣợng vi sinh vật gây bệnh phát triển quá mức nhƣ Vibrio, Aeromonas…. Sử dụng CPSH Biochie để xử lý nƣớc nuôi tôm cá có tác dụng làm giảm lƣợng bùn hữu cơ, giảm chu kỳ thay nƣớc và cải thiện môi trƣờng (tăng oxi hòa tan, giảm COD, BOD). Bên cạnh đó, còn có tác dụng giảm đáng kể tỷ lệ chết, tỷ lệ còi cọc, tăng sản lƣợng tôm cá và giảm mùi hôi của ngƣ trƣờng [15a]. Ngoài những chế phẩm probiotic trên, CPSH BioF có chứa chủng Lactobacillus acidophillus đƣợc sử dụng trong nuôi trồng thủy sản có tác 14
  19. dụng tăng khả năng hấp thụ thức ăn và hạn chế bệnh do Aeromonas, Vibrio… gây ra. Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy khi bổ sung BioF vào thức ăn tôm làm tăng tỷ lệ sống và đặc biệt tăng đáng kể sản lƣợng tôm trong ao. Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã thử nghiệm nuôi tôm giống tại Sơn Thủy, Hà Nội trong các tráng kích thƣớc 3x2x1,5m. Chỉ sau 5 ngày thử nghiệm đã thấy sự khác biệt về chiều dài và trọng lƣợng của tôm ở tráng có sử dụng chế phẩm so với đối chứng. Tiếp tục theo dõi sau 24 ngày thấy chiều dài trung bình của tôm ở bể thử nghiệm là 1,97 cm, ở lô đối chứng là 1,71 cm. Kết quả bƣớc đầu cho thấy sử dụng BioF để nuôi tôm giống rất hiệu quả, tôm tăng trƣởng nhanh, khoẻ, đồng đều [15b]. Viện Sinh học Nhiệt đới đƣợc sự hỗ trợ kinh phí của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã thành công trong việc nghiên cứu và sản xuất chế phẩm probiotic BioII gồm hỗn hợp các vi sinh vật sống và enzyme tiêu hóa dùng trong nuôi trồng thủy sản [4]. Chế phẩm này đã đƣợc khảo nghiệm trên ao nuôi tôm sú ở các tỉnh cho kết quả khả quan và đƣợc Công ty thuốc thú y và nuôi trồng thủy sản đƣa ra thị trƣờng. Chế phẩm EM đƣợc giáo sƣ Teruo Higa - Nhật Bản phát minh năm 1980, đƣợc ứng dụng trong các lĩnh vực nông - ngƣ nghiệp trên thế giới. Tuy nhiên, chế phẩm EM ở dạng lỏng đƣợc nhân giống từ EM gốc của Nhật Bản với mật độ tế bào vi sinh vật có lợi cho nuôi trồng thủy sản thấp (
  20. đến gần 80% số hộ áp dụng mô hình này thu lợi nhuận ổn định. Ƣu điểm của mô hình nuôi tôm sử dụng chế phẩm vi sinh là tạo nên môi trƣờng sạch, chi phí thấp, tôm phát triển nhanh và hạn chế dịch bệnh, nhất là bệnh đốm trắng, đầu vàng, phân trắng. Theo kết quả khảo sát của Bộ thuỷ sản, về mật độ nuôi tôm 10-20 con/m2 chiếm 60%, trong đó số hộ sử dụng chế phẩm vi sinh đạt hiệu quả gần 80%. Ðối với hai dạng mật độ dƣới 10 con/m2 chiếm 11% và dƣới 20 con/m2 chiếm 29%, thì những hộ chỉ sử dụng chế phẩm vi sinh đạt hiệu quả 65-75%. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau cũng đã phối hợp với Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ Cà Mau triển khai mô hình nuôi tôm thâm canh bằng CPSH EM.ZEO tại xã Tân Hƣng Đông - huyện Cái Nƣớc. Nhìn chung, việc áp dụng mô hình nuôi tôm bằng chế phẩm EM.ZEO bƣớc đầu mang lại hiệu quả khả quan, giữ cho môi trƣờng của ao luôn sạch, tôm khoẻ mạnh mà hoàn toàn không sử dụng các hoá chất độc hại, kháng sinh. Trong suốt quá trình nuôi, tôm phát triển tốt và không bị nhiễm bệnh. Đây là mô hình nuôi tôm công nghiệp mang tính bền vững vì quy trình của dự án sử dụng chủ yếu vi sinh EM.ZEO. Chế phẩm đƣợc bổ sung vào thức ăn, hoà vào nƣớc để làm sạch hoặc giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng nƣớc và xử lý ao đìa tránh đƣợc ô nhiễm H 2S cùng với NH3, CH4. Chế phẩm probiotic có thể dùng với chế phẩm dƣỡng tảo, tạo điều kiện cho vi tảo phát triển, tăng nguồn thức ăn cho tôm cá. Biện pháp dùng CPSH probiotics đang là biện pháp thích hợp và có rất nhiều triển vọng [10]. 2.4. Tổng quan về Quorum sensing Vi khuẩn sống nhƣ một quần xã, trong đời sống của chúng đều có sự cạnh tranh và cộng tác. Tuy nhiên, trong thế giới vi sinh thì sự cạnh tranh diễn ra khốc liệt hơn nhiều vì vòng đời của mỗi loài ngắn. Nhiều nhà khoa học cho rằng, Quorum sensing cho phép vi khuẩn hợp tác hành động. Nhƣ vậy, có thể định nghĩa Quorum sensing là khả năng của vi khuẩn có thể liên lạc và trao đổi thông tin để cộng tác thông qua các chất mang dấu hiệu [21]. 2.4.1. Vật chất liên lạc của Quorum sensing Các vi khuẩn có thể tự tổng hợp và tiết ra những chất làm dấu hiệu một cách chắc chắn, gọi là chất kích thích (pheromones hay là autoinducer - AI) 16
Đồng bộ tài khoản