Tài liệu về Sở hữu trí tuệ - Bài 3

Chia sẻ: Ngoc Lanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:33

0
511
lượt xem
277
download

Tài liệu về Sở hữu trí tuệ - Bài 3

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hệ thống cấp bằng độc quyền sáng chế hiện đại đầu tiên được thiết lập ở thành quốc Venice và giữa thế kỷ thứ XV nhằm khuyến khích sáng tạo. Quy chế năm 1474 đã giải thích rằng: " Xung quanh chúng ta có nhiều thiên tài, có khả năng sáng tạo và nghĩ ra những thiết bị tinh xảo.. "

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu về Sở hữu trí tuệ - Bài 3

  1. CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY Professor Michael Blakeney Queen Mary Intellectual Property Research Institute University of London TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ Giáo sư Michael Blakeney Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary Đại học London Provided and translated by the EC-ASEAN Intellectual Property Rights Co-operation Programme (ECAP II) Tài liệu này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) dịch và cung cấp
  2. Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ cung cấp Bài 3 Sáng chế và mẫu hữu ích 1 Luật nội dung của các nguyên tắc sáng chế Lịch sử Hệ thống cấp bằng độc quyền sáng chế hiện đại đầu tiên được thiết lập ở thành quốc Venice vào giữa thế kỷ thứ XV nhằm khuyến khích sáng tạo. Quy chế năm 1474 đã giải thích rằng “Xung quanh chúng ta có nhiều thiên tài, có khả năng sáng tạo và nghĩ ra những thiết bị tinh xảo … Bây giờ, nếu đặt ra các quy định về các tác phẩm và thiết bị do những người đó tạo ra, để người khác khi thấy những thứ đó không thể bắt chước và lấy đi vinh dự của tác giả sáng chế, thì nhiều người sẽ phát huy tài năng của mình hơn, sẽ nghĩ ra và làm ra các thiết bị vô cùng hữu ích và có lợi cho Khối thịnh vượng chung của chúng ta”. [Trích từ Mandich, ‘Venetian Patents (1450-1550)’ (1948) 30 Journal of the Patent Office Society 166 đến 177.] Tại Anh, từ thế kỷ thứ XIV, các quốc vương Anh đã dành sự bảo hộ cho cả thợ thủ công ngoại quốc nhằm khuyến khích luồng kỹ năng công nghệ vào nước này. [Xem Hulme, ‘The History of the Patent System under the Prerogative and at Common Law’ (1896) 12 Law Quarterly Review 141.] Cho đến cuối thế kỷ thứ XVI, việc bán các bằng độc quyền sáng chế đối với cả việc bán và sản xuất hàng hóa cũng đã trở thành một nguồn thu lớn cho các quốc vương Anh. Trong một nỗ lực hạn chế việc bán quyền đối với sáng chế một cách thái quá, năm 1624 Nghị viện Anh đã ban hành Quy chế về Độc quyền làm cơ sở cho các luật sáng chế hiện đại của những nước xây dựng pháp luật dựa trên thông luật. Quy chế này chứa đựng quy định chung về cấm độc quyền, các bằng độc quyền sáng chế được cấp cho: “việc độc lập làm ra hoặc tạo ra hàng hóa mới bằng phương pháp bất kỳ trong phạm vi vương quốc” và quy định rằng độc quyền bằng sáng chế chỉ được cấp trong thời hạn tối đa là 14 năm. Vì thế, theo hệ thống thông luật của Anh, bằng độc quyền sáng chế chỉ được cấp cho các sáng chế hữu ích. 2 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  3. Tại châu Âu lục địa, văn bản pháp luật hiện đại đầu tiên về sáng chế là Luật của Pháp ngày 7 tháng 01 năm 1791. Luật này chịu ảnh hưởng lớn của tinh thần cách mạng thời kỳ đó và trong phần lời nói đầu có nhận định rằng “mọi ý tưởng mới, mà việc bộc lộ hoặc phát triển chúng có thể là hữu ích cho xã hội thuộc về người đầu tiên nghĩ ra, và sẽ là xâm phạm quyền thực chất của một người nếu không coi một sáng chế về kỹ thuật và hàng hóa hữu ích là tài sản của tác giả sáng chế đó”. [Nguồn T. Regnauld, De la Législation et de la Jurisprudence concernant les Brevets d’invention de Perfectionnement et d’Importation Paris, Antione Bavoux, 1825, 135] Tinh thần cách mạng tương tự và sự tôn trọng quyền con người ảnh hưởng đến luật của Pháp cũng đã tác động đến Hiến pháp của Hoa Kỳ năm 1787, trong đó tại Mục 8 quy định rằng “Quốc hội có thẩm quyền … thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật hữu ích, bằng việc bảo đảm cho các tác giả và nhà sáng chế các quyền độc quyền đối với các tác phẩm và phát hiện của họ trong một thời hạn nhất định” Câu hỏi tự đánh giá Câu 1 Theo lịch sử về bằng độc quyền sáng chế, mục đích chính của bằng độc quyền sáng chế là gì? Trả lời Mục đích của bằng độc quyền sáng chế là dành sự bảo hộ cho các tiến bộ công nghệ (sáng chế). Đó là phần thưởng cho việc bộc lộ sự sáng tạo ra cái mới cũng như việc phát triển tiếp theo, hoặc cải tiến những công nghệ đã có. Cơ sở lý luận cho việc bảo hộ sáng chế Nguồn gốc lịch sử của luật sáng chế gợi ra một số thuyết giải thích cho việc bảo hộ sáng chế. Những thuyết đó bao gồm: 1. Thuyết phần thưởng. Các tác giả sáng chếcần được thưởng cho việc tạo ra các sáng chế hữu ích và luật pháp phải được sử dụng để bảo đảm việc thưởng này. 2. Thuyết khuyến khích. Cơ chế theo đó sáng chế được khen thưởng, sẽ khích lệ sự tạo ra sáng chế mới cho nghiên cứu và phát triển. 3. Thuyết hợp đồng hoặc bộc lộ. Bằng việc đưa ra hệ thống bảo hộ, các nhà sáng chế sẽ được khuyến khích bộc lộ các sáng chế của họ, giới thiệu công chúng, sau một thời gian độc quyền. 3 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  4. 4. Thuyết luật tự nhiên. Các cá nhân có quyền sở hữu đối với các ý tưởng của mình. Gần đây, do ảnh hưởng của các cuộc đàm phán vượt ra ngoài khuôn khổ của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của Tổ chức Thương mại thế giới (TRIPs), thuyết báo hiệu đã được phát triển, theo đó chế độ bảo hộ sáng chế sẽ báo hiệu một môi trường đầu tư có thể chấp nhận được, đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 2 Lý thuyết về bảo hộ sáng chế có đưa ra các biện giải hữu ích cho việc bảo hộ sáng chế? Trả lời Ngoài mục đích khuyến khích và tưởng thưởng cho sự đổi mới, bảo hộ sáng chế còn là mong muốn hợp pháp của các tác giả sáng chế và sự tồn tại việc bảo hộ này là dấu hiệu của một hệ thống pháp luật tiên tiến. Yêu cầu về hiệu lực Tiêu chuẩn quốc tế đối với việc bảo hộ sáng chế trong phạm vi quốc gia được quy định tại Điều 27.1 của Hiệp định TRIPs, theo đó, “bằng độc quyền sáng chế phải được cấp cho sáng chế bất kỳ, dù là sản phẩm hay quy trình, trong tất cả các lĩnh vực công nghệ, với điều kiện nó phải mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp”. Pháp luật sáng chế quốc gia , phù hợp với Điều 27(1) của TRIPs, cấp bằng độc quyền sáng chế cho các sáng chế có tính mới, khả năng áp dụng công nghiệp và trình độ sáng tạo. Khái niệm sáng chế Yêu cầu đầu tiên cho việc bảo hộ sáng chế là đối tượng bảo hộ phải là một sáng chế. Điều này xuất phát từ yêu cầu về “phương pháp sản xuất” trong Quy chế về Độc quyền. Nói chung, yêu cầu này được hiểu là sáng chế phải có đặc tính kỹ thuật hay nói cách khác, phải có đóng góp về mặt kỹ thuật cho nền kỹ nghệ. Vì thế, nếu đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế chỉ đơn thuần liên quan đến một phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học, quy tắc và phương pháp tư duy, phương pháp kinh doanh hoặc chương trình máy tính hoặc, thì bằng độc quyền sáng chế sẽ không được cấp. 4 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  5. Tại Hoa Kỳ, để làm ví dụ, một sáng chế phải thuộc một trong số năm “nhóm luật định” về đối tượng có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế, đó là: quy trình, máy móc, hàng hóa (tức là các vật thể được tạo ra bởi con người hoặc máy móc), các thành phần kết cấu của một đối tượng, và việc sử dụng vào mục đích mới của đối tượng bất kỳ nêu trên. Tương tự, ở châu Âu, các ý tưởng lý thuyết phi kỹ thuật là đối tượng bị loại trừ khỏi ra khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế . Tuy nhiên, các đại diện sáng chế đã đặc biệt sáng tạo khi mở rộng giải thích khái niệm “sáng chế” để khẳng định những ứng dụng kỹ thuật của đối tượng bị loại trừ. Điều này được minh họa dưới đây. (a) Phát minh Hầu hết các hệ thống bảo hộ sáng chế đều chỉ ra sự khác biệt giữa sáng chế và phát minh. Phát minh được xem là những khám phá về sự vật hoặc hiện tượng đã tồn tại trong tự nhiên, ngược lại, sáng chế là việc áp dụng kiến thức đó để giải quyết một vấn đề thực tiễn. Tuy nhiên, sự khác biệt này trở nên khá mơ hồ khi áp dụng do có rất nhiều ví dụ về khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế của các phát minh, nếu chúng được kết hợp với các ứng dụng kỹ thuật. Ví dụ, các phát minh liên quan đến cấu trúc và vị trí của ADN đã được cho là có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu chúng được áp dụng trong công nghệ gen. Thực vậy, kỹ thuật phân lập đơn thuần một phần của trình tự gen đã được xem là có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế, thậm chí ngay cả khi tính hữu ích chức năng của trình tự đó chỉ mang tính suy đoán. (b) Lý thuyết khoa học Cùng với các phát minh, lý thuyết khoa học, ví dụ như tuyết tương đối của Einstein, không có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế. Mặt khác, một thiết bị hoạt động trên cơ sở một lý thuyết khoa học lại được xem là một sáng chế. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 3 Ý tưởng giảm hiệu ứng nổ của sự cháy trong xi-lanh, bằng cách đệm thêm không khí vào, có khả năng được bảo hộ không? Trả lời Có, nếu ý tưởng được thể hiện trong một thiết bị như động cơ đốt trong. (c) Chương trình máy tính 5 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  6. Nếu một ý tưởng là cơ sở của một sáng chế có thể không có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế như phương pháp toán học, thì yêu cầu bảo hộ một quy trình kỹ thuật trong đó có sử dụng phương pháp toán học lại có thể được chấp nhận do đây không phải là yêu cầu bảo hộ phương pháp toán học. Do đó, Cơ quan Sáng chế châu Âu (EPO) cho rằng máy chụp X-quang cùng với bộ xử lý dữ liệu hoạt động theo một chương trình máy tính có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế. Yếu tố cốt yếu ở đây là xem xét sáng chế trong một tổng thể. Tương tự, một sáng chế bao gồm nhiều yếu tố chức năng được thực hiện bởi phần mềm (chương trình máy tính) không bị xếp vào các đối tượng loại trừ nếu các yếu tố kỹ thuật có liên quan tới các chi tiết của giải pháp cho vấn đề mà sáng chế giải quyết là không thể thiếu để có thể thực hiện được sáng chế đó. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 4 Các yếu tố nào được tính đến khi xác định liệu một phương pháp do một chương trình máy tính thực hiện nhằm bổ sung nguyên lý góc quay vào hệ thống biểu đồ tương hỗ có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế? Trả lời Vấn đề mấu chốt là liệu các yếu tố chức năng của hệ thống được cho là liên quan đến phương pháp toán học và liệu việc sử dụng hệ thống, theo sự điều khiển của một chương trình máy tính, có mang lại hiệu quả kỹ thuật nào đó giúp giải quyết vấn đề được xem là có liên quan đến các yếu tố kỹ thuật hay không. Phạm vi và bản chất của một sáng chế được xác định từ yêu cầu bảo hộ như được giải thích trong bản mô tả. Thường sẽ có sự chồng chéo đáng kể giữa việc phản đối dựa trên cơ sở đối tượng yêu cầu bảo hộ không phải là một sáng chế với các phản đối khác như thiếu tính mới, thiếu trình độ sáng tạo và không có khả năng áp dụng công nghiệp. Câu hỏi tự đánh giá 6 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  7. Câu hỏi 5 Các sáng chế nào dưới đây có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế? (a) phương pháp diệt cỏ dại trong cỏ khô bằng hóa chất? (b) một vi khuẩn lai tạo được sử dụng trong việc xử lý ô nhiễm dầu? (c) phương pháp nhận biết kim cương nhờ vào ảnh chụp của X-quang của mẫu vật; (d) một hệ thống kế toán kinh doanh được vi tính hóa. Trả lời các đối tượng từ (a) đến (c) đều đã được cho là có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế bởi vì các đối tượng đó đều là các ứng dụng kỹ thuật hữu ích trong sản xuất công nghiệp. (d) mặc dù có vẻ không có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế do chỉ đơn thuần là phương pháp kinh doanh, nhưng đã được xem là có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế tại Hoa Kỳ. [State Street Bank & Trust Co. v Signature Financial Group, Inc. 149 F.2d 1368 (Fed Cir 1968)]. Những ví dụ này cho thấy sự linh hoạt của các tòa án sáng chế và thực tế rằng danh mục các sáng chế có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế là không có giới hạn. Các sáng chế bị loại trừ Nhiều điều ước quốc tế về sáng chế quy định rõ rằng có thể vì chính sách công cộng hoặc đạo đức mà các sáng chế có thể bị loại trừ ra khỏi khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế. Ví dụ, Điều 27.2 của Hiệp định TRIPs quy định rằng các sáng chế có thể bị loại trừ khỏi khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế nhằm bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, bao gồm việc bảo vệ cuộc sống của con người, động vật, thực vật, sức khỏe hoặc tránh những tổn hại nghiêm trọng cho môi trường”. Thêm vào đó, Điều 27.2(b) cho phép loại trừ khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế của “(a) phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị bệnh cho người và động vật; (b) giống cây trồng và vật nuôi mà không phải là vi sinh, và quy trình nhân giống cây trồng và vật nuôi chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình phi sinh học và vi sinh”. (a) trật tự công cộng và đạo đức Cơ sở loại trừ này đã trở nên khá có ý nghĩa trong những năm gần đây với những đổi mới trong công nghệ gen. Một ví dụ như quyết định về trường hợp 7 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  8. Harvard/Oncomouse của Cơ quan Sáng chế châu Âu (EPO). Quyết định liên quan đến một đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế việc thay đổi gen của chuột hoặc động vật có vú khác để làm cho chúng đặc biệt nhạy cảm với chất gây ung thư để nghiên cứu bệnh ung thư. Ban Giải quyết khiếu nại đã được yêu cầu phải cân bằng giữa yếu tố đạo đức và môi trường với các lợi ích đối với con người thu được từ việc nghiên cứu dược phẩm. Hơn nữa, các đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế trong lĩnh vực này đã làm cho Ủy ban châu Âu trong Chỉ thị về Công nghệ sinh học, phải loại trừ các đối tượng sau: quy trình nhân bản vô tính người hoặc biến đổi gen quy định đặc điểm của con người; việc sử dụng phôi người vì mục đích công nghiệp hoặc thương mại; và quy trình biến đổi gen quy định đặc điểm của động vật có thể gây ra cho chúng sự đau đớn mà không mang lại lợi ích nào cho xã hội. Mối nguy hiểm đối với môi trường do một quy trình biến đổi gen nhằm tăng khả năng kháng bệnh cho các cây trồng, theo Cơ quan Sáng chế châu Âu thuộc vấn đề về trật tự công cộng. [Plant Genetic Systems [1995] EPOR 357]. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 6 Một sáng chế nhằm sản xuất vũ khí nhiệt hạch có thuộc trường hợp ngoại lệ trật tự công cộng không? Trả lời Nói chung, khái niệm “trật tự công cộng” được hiểu theo hướng bảo vệ an ninh công cộng và sự nguyên vẹn về mặt thể chất của mỗi cá nhân với tư cách là một phần của xã hội. Tại Hoa Kỳ, sáng chế liên quan đến vũ khí nguyên tử bị loại trừ một cách trực tiếp, nhưng loại sáng chế như vậy có thể rơi vào trường hợp ngoại lệ trật tự công cộng. (b) Phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị bệnh cho người hoặc động vật Việc loại trừ phương pháp chẩn đoán, chữa bệnh và phẫu thuật để điều trị bệnh cho con người hoặc động vật phản ánh quan điểm rằng những đối tượng này là rất quan trọng đối với xã hội tới mức phải từ chối sự độc quyền đối với việc tư nhân hoá hoặc thương mại hoá chúng. Có một số sự nhầm lẫn, tuy nhiên, ranh giới giữa thuốc trị bệnh không có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế với các loại dược phẩm có 8 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  9. khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế được sử dụng trong điều trị. Vì thế, ví dụ như thuốc tránh thai được xem là có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế. (c) giống thực vật và động vật mà không phải là chủng vi sinh, và quy trình nhân giống thực vật hoặc động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình phi sinh học và quy trình vi sinh". Để giải thích cho việc loại trừ động vật và quy trình nhân giống động vật chủ yếu mang bản chất sinh học thì những quan niệm đạo đức trong thời gian trước đó là xác đáng nhất. Chỉ thị về Công nghệ sinh học của Ủy ban châu Âu đã trực tiếp loại trừ các đối tượng sau do trái với trật tự công cộng hoặc đạo đức: (a) quy trình nhân bản vô tính người; (b) quy trình biến đổi phôi theo hướng làm thay đổi đặc điểm của con người; (c) sử dụng phôi người vì mục đích công nghiệp và thương mại; và (d) quy trình biến đổi gen quy định đặc tính của động vật có thể gây cho chúng những đau đơn mà không đem lại lợi ích bền vững nào cho người hoặc động vật, và cả những động vật do các quy trình đó tạo ra. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 7 Một sáng chế, trong đó cấy vào những con chuột dùng cho mục đích nghiên cứu một loại gen làm cho chúng tự mọc lên một khối u có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế không? Trả lời Nói chung, câu trả lời là tuỳ thuộc vào quan niệm đạo đức phổ biến trong phán quyết. Quan điểm của EPO trong vụ việc HARVARD/Onco-mouse [1991] EPOR 525 là để cân bằng, sáng chế phải làm giảm mức đau đớn, nhưng vấn đề vẫn chưa được các toà án xem xét. Rõ ràng là, có một số điều kiện để hài hoà hoá luật sáng chế trong lĩnh vực này. Thông thường, một quy trình chủ yếu mang bản chất sinh học thì không có sự can thiệp đáng kể của con người. Do đó, yêu cầu bảo hộ quy trình chuẩn bị lai giống cây trồng sẽ không phải là một ngoại lệ của khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế nếu các quy trình đó có sự thay đổi đáng kể so với quy trình sinh học đã biết và quy trình cũ của những người nhân giống, với sự kết hợp giữa năng suất và hoa lợi cao do đặc điểm kỹ thuật quan trọng. 9 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  10. Mặt khác, quy trình vi sinh lại không chỉ bao gồm quy trình lên men truyền thống và quy trình chuyển hoá sinh học, mà còn bao gồm cả việc vận dụng kỹ thuật vi sinh trong công nghệ gen hoặc kỹ thuật pha trộn và việc sản xuất hoặc thay đổi sản phẩm trong hệ thống kết hợp. Nói cách khác, chúng bao gồm tất cả các hoạt động trong đó có sự kết hợp công nghệ hoá sinh và công nghệ vi sinh, bao gồm công nghệ gen và hoá học, nhằm khai thác khả năng của các vi khuẩn và các tế bào nuôi. Tính mới Nếu luận điểm về sự bộc lộ, theo luật sáng chế, yêu cầu sáng chế phải chưa được công chúng biết đến; nghĩa là nó vẫn chưa từng được sử dụng bởi các công nghệ hiện có. Luật sáng chế thường yêu cầu tính mới so với tình trạng kỹ thuật đã biết. Do đó, Công ước Sáng chế châu Âu (Điều 54.1 và 2) quy định rằng "Một sáng chế sẽ được xem là có tính mới nếu sáng chế không phải là một phần của tình trạng kỹ thuật. Tình trạng kỹ thuật được xem là bao gồm tất cả mọi thứ mà công chúng có thể tiếp cận được, dưới dạng mô tả bằng văn bản hoặc lời nói, dưới hình thức sử dụng hoặc các hình thức khác, trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế.” Luật Sáng chế Hoa Kỳ(35 U.S.C. § 102) quy định rằng "Một người được cấp bằng độc quyền sáng chế trừ phi – sáng chế đã được người khác biết đến hoặc sử dụng ở nước này, hoặc đã được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc mô tả trong ấn phẩm được xuất bản ở nước này hoặc nước khác, trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế." Tương tự, Điều 29 Luật Sáng chế Nhật Bản cũng quy định rằng Người bất kỳ tạo ra sáng chế có khả năng áp dụng công nghiệp có thể được cấp bằng độc quyền sáng chế trừ các trường hợp sau: (i) sáng chế đã được công chúng biết đến ở Nhật Bản trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế; (ii) sáng chế đã được công chúng thực hiện tại Nhật Bản trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế; 10 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  11. (iii) sáng chế đã được mô tả trong ấn phẩm được phân phối tại Nhật Bản hoặc nơi bất kỳ trước ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. (a) Tình trạng kỹ thuật đã biết Tính mới được hiểu là cái gì bất kỳ không tạo thành một phần của tình trạng kỹ thuật. Hầu hết luật của các quốc gia đều đưa ra tiêu chuẩn chung về tình trạng kỹ thuật trong đó tình trạng kỹ thuật được đánh giá trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, các nước cũng có thể đánh giá tính mới trên cơ sở chỉ tham khảo tình trạng kỹ thuật ở nước đó. (b) Tri thức đã được công bố hoặc công chúng có thể tiếp cận được Tình trạng kỹ thuật để đánh giá tính mới bao gồm tất cả những gì đã được công bố hoặc công chúng có thể tiếp cận được. Công bố một sáng chế là bổ sung vào kho tri thức mà công chúng có hoặc có thể có được bằng cách tham khảo những nguồn thông tin mở. Những nguồn thông tin này bao gồm: sách, tài liệu dạng giấy, ảnh, phim, hoặc các thiết bị mang sáng chế cũng như sự bộc lộ bằng lời nói. Công bố là việc phổ biến cho công chúng. Trong trường hợp mô tả dưới dạng văn bản, như tài liệu sáng chế hoặc sách, việc công bố được xem là đã xảy ra khi cuốn sách được đặt ở các thư viện công cộng hoặc các tổ chức mà tại đó công chúng có thể tiếp cận được. Các tài liệu dưới dạng văn bản trong bưu phẩm, nói chung không được xem là được công bố trước công chúng. Một bức ảnh được xem là sử dụng được khi bức ảnh đó làm cho người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật này có thể làm theo ảnh đó, và, không cần tự thêm vào một sáng chế nào, phác thảo được các hình vẽ cần thiết và cuối cùng với một quy trình thử nghiệm và sai số có thể tạo ra được một cỗ máy có thể hoạt động được, trong đó có sự kết hợp tất cả các phần trong yêu cầu bảo hộ. Nếu một hàng hóa đã được công chúng sử dụng, các yếu tố có thể nhìn thấy được của hàng hoá đó sẽ được xem là đã trở thành một phần của tình trạng kỹ thuật. 11 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  12. Việc xác định liệu hành động công bố đã được thực hiện hay chưa là vấn đề về bằng chứng, thường được xác định dựa trên sự cân bằng các khả năng. Là một vấn đề thực tiễn của công tác thẩm định, thông tin được xem là đã được công bố nếu việc tiếp cận thông tin đó được xem là quyền và không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ bảo mật nào. (c) Phương pháp bộc lộ Để làm mất tính mới, phạm vi bộc lộ của một sáng chế trước công chúng phải vì mục đích sử dụng thực tiễn, tương ứng với yêu cầu trong bản mô tả sáng chế, ví dụ như kiến thức mà dựa vào đó công chúng có thể xác định được sáng chế. Việc bộc lộ có thể kèm theo bản mô tả dạng giấy, hoặc thậm chí cả ảnh chụp. Pháp luật của từng nước sẽ quyết định số lần một đối tượng được công bố trước khi nó có thể được xem là đã được công chúng tiếp cận. (d) Trình độ chuyên môn của người đọc Tòa án đánh giá mức độ bộc lộ bằng cách tham khảo ý kiến của người đọc có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật có liên quan, có kiến thức mới nhất về tình trạng kỹ thuật này ở thời điểm nhất định. (e) Bộc lộ mà không làm mất tính mới Hầu hết luật sáng chế của các quốc gia đều bảo vệ việc bộc lộ sáng chế tại các cuộc triển lãm hoặc trước các cộng đồng học thuật để không làm mất tính mới. Ý nghĩa của “triển lãm được công nhận” thường được hiểu theo Điều 11 của Công ước Paris hoặc Điều 1 của Công ước về triển lãm quốc tế được thông qua tại Paris vào ngày 22 tháng 11 năm 1928 quy định: "(1) Các nước thành viên của Liên minh sẽ, phù hợp với luật pháp quốc gia mình, dành sự bảo hộ tạm thời cho các sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, và nhãn hiệu có khả năng được bảo hộ, gắn với các hàng hóa được trưng bày tại các triển lãm chính thức hoặc được chính thức công nhận trên lãnh thổ của quốc gia bất kỳ trong Liên minh.” Điều 1 Công ước về triển lãm quốc tế quy định rằng: (1) Triển lãm là một cuộc trưng bày, dưới tên gọi bất kỳ mà mục đích chủ yếu của nó là nhằm giáo dục công chúng: nó có thể là triển lãm trưng bày các phương tiện để cho 12 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  13. con người sử dụng của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của nền văn minh, hoặc trình diễn những tiến bộ đạt được trong một hoặc nhiều lĩnh vực có nỗ lực của con người, hoặc thể hiện các triển vọng tương lai. (2) Triển lãm quốc tế khi có nhiều hơn một quốc gia được mời tham dự. Việc bộc lộ cho các cơ quan công quyền nhằm mục đích thử nghiệm cần thiết cũng có thể được xem là không làm mất tính mới. Thông tin mang tính cá nhân, nội bộ hoặc bí mật sẽ không được xem là đã được bộc lộ trước công chúng. Do đó, thông tin được công bố mà không hạn chế việc sử dụng tiếp đó có thể được xem là kiến thức mà công chúng có thể tiếp cận được. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 8 Các hành vi dưới đây có được xem là đã được công bố cho công chúng, do đó, đã làm mất tính mới không: (a) Công bố dưới hình thức lời nói. Trả lời: Trong trường hợp không có bằng chứng chứng minh ngược lại, các đặc điểm chính của sáng chế bộc lộ trong công bố, thì được xem là đã được bộc lộ dưới hình thức lời nói. (b) Một bản thỏa thuận hợp tác nội bộ Trả lời: Một thông báo không nhằm vào công chúng không được xem là công bố cho công chúng (c) Việc bộc lộ bằng lời cho một người không có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Trả lời: Đây không được xem là đã công bố cho công chúng. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 9 Khi nào thì những việc sau được xem là công bố cho công chúng? (a) việc đệ trình một đề án khoa học để công bố sau đó. 13 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  14. Trả lời: ngày công bố (b) Sách hướng dẫn có đề ngày công bố Trả lời: tại ngày đề trên tài liệu đó, trừ phi có bằng chứng chứng minh ngược lại (c) bản mô tả sáng chế của nước ngoài Trả lời: ngày được công bố công khai. (f) Các tài liệu liên quan với nhau Một số quốc gia đã nỗ lực để công bố thông tin trong ít nhất hai tài liệu liên quan hoặc thông qua ít nhất hai hành động liên quan nếu mối quan hệ giữa các loại tài liệu hoặc các hành động đạt tới mức độ mà người có trình độ trong lĩnh vực tương ứng cho rằng đó là một nguồn thông tin duy nhất. (g) Tính mới và Quy trình thẩm định sáng chế Nhiệm vụ của đại diện sáng chế là thuyết phục Phòng thẩm định Sáng chế về tính mới của sáng chế. Cách tiếp cận thực tế mà thẩm định viên thực hiện sẽ được sử dụng để kiểm tra tính mới của sáng chế được yêu cầu bảo hộ dựa trên các nội dung cơ bản của sáng chế đã được bộc lộ trong báo cáo tra cứu về tình trạng kỹ thuật. Sáng chế hoặc yêu cầu bảo hộ sáng chế có tính mới nếu các thông số cơ bản chưa được bộc lộ trong tình trạng kỹ thuật đã biết. Để xác định xem liệu một điểm yêu cầu bảo hộ có tính mới so với tình trạng kỹ thuật hay không, thẩm định viên phải: (a) lập báo cáo tra cứu trong lĩnh vực kỹ thuật có liên quan có thể được xem xét để phản đối do thiếu tính mới; b) giải thích báo cáo tra cứu để xác định những gì đã được bộc lộ cho công chúng vào ngày công bố; c) xác định xem liệu báo cáo tra cứu có bộc lộ tất cả các dấu hiệu được yêu cầu bảo hộ không; d) khẳng định liệu có sự khác biệt nào giữa các dấu hiệu của sáng chế được yêu cầu bảo hộ với những gì đã được bộc lộ trong báo cáo tra cứu không; 14 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  15. (e) phân tích bản mô tả và yêu cầu bảo hộ này và xác định xem các nội dung đó có phải là cơ bản (không cơ bản) của sáng chế hay không; e) xác định xem liệu báo cáo tra cứu có bộc lộ tất cả các nội dung cơ bản của sáng chế được yêu cầu bảo hộ không. Nếu các nội dung cơ bản của sáng chế không được bộc lộ trong báo cáo tra cứu về tình trạng kỹ thuật, yêu cầu bảo hộ đó sẽ được xem là có tính mới và sau đó thẩm định viên sẽ xem xét liệu sáng chế có trình độ sáng tạo hay không. Khi phân tích báo cáo tra cứu, thẩm định viên phải đọc và giải thích báo cáo tra cứu từ góc độ của một người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật đó vào ngày công bố. Do đó, thẩm định viên được khuyến khích là nhìn từ góc độ của công chúng. Báo cáo tra cứu sẽ được đọc với trình độ hiểu biết trung bình đã được biết đến vào ngày lập báo cáo. Trình độ hiểu biết trung bình bao gồm sự hiểu biết có được do đào tạo, kinh nghiệm, quan sát và đọc tài liệu và sẽ được xác định dựa trên các căn cứ của người có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Các từ và cụm từ được sử dụng trong tài liệu này sẽ được hiểu theo nghĩa mà một người có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng hiểu tại thời điểm có liên quan. Tòa án đã chấp nhận mức độ bộc lộ dưới dạng phi ngôn ngữ nhất định, bằng cách bao gồm những dạng thí nghiệm, thử nghiệm, loại thử sai số, mà có thể được thể hiện dưới dạng văn bản. Để dự đoán trước yêu cầu của người nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, tài liệu công bố trước phải gồm các nội dung rõ ràng và không thể nhầm lẫn để thực hiện những gì mà người nộp đơn tuyên bố đã sáng tạo ra. Do đó, thông tin bất kỳ liên quan đến sáng chế có liên quan được đề cập trong tài liệu công bố trước đều phải vì các lợi ích thực tế, tương ứng với những gì sáng chế sẽ mang lại sau đó. Việc bộc lộ này phải đầy đủ đến mức mà người có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế. Câu hỏi tự đánh giá Câu hỏi 10. Khi yêu cầu bảo hộ đối với một hợp chất hóa học, trong đó không chỉ ra độ nguyên chất, thì độ nguyên chất nào được đề cập đến trong bản mô tả. 15 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  16. Trả lời Nếu toàn bộ bản mô tả và bản chất của vấn đề so với giải pháp kỹ thuật đã biết hướng tới độ nguyên chất, thì đó chính là dấu hiệu được yêu cầu bảo hộ. Nếu không thì độ nguyên chất không phải là một dấu hiệu của yêu cầu bảo hộ. Trình độ sáng tạo – tính không hiển nhiên (a) Tổng quan Để được bảo hộ, một cải tiến về công nghệ phải có trình độ sáng tạo, xét về phương diện hành vi sáng tạo thì là không hiển nhiên đối người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Nói cách khác, không có sự khác biệt về ý nghĩa giữa tính hiển nhiên và việc thiếu trình độ sáng tạo. Trình độ sáng tạo có thể liên quan đến giải pháp cho một vấn đề đã có từ lâu hoặc thỏa mãn một nhu cầu đã có trong thời gian dài. Sự đơn giản của sáng chế được xem như không có sự phản đối về khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế. Sáng chế có thể tồn tại ở dạng ý tưởng, thậm chí trong đó phương pháp thực hiện ý tưởng rõ ràng. Mặt khác, sáng chế có thể là một sự nhận thức về các phương pháp mới để thực hiện một ý tưởng đã có trong thực tế. Hoặc đó có thể là sự kết hợp giữa hai yếu tố này. Do vậy, một sáng chế có thể nằm trong việc bộc lộ một hóa chất mới, miễn là việc khám phá không liên quan đến chu trình hóa học thông thường. Một hợp chất mới để được cấp bằng độc quyền sáng chế phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các dấu hiệu độc lập được kết hợp để tạo ra kết quả mong muốn. Người ta cho rằng sẽ là không có trình độ sáng tạo khi áp dụng một cơ chế hoặc kỹ thuật đã biết cho một mục đích tương tự, nhưng nếu cách thức sử dụng kéo theo việc sử dụng các đặc tính chưa hề được biết của một chất hoặc cơ chế phổ biến thì đó cũng có trình trình độ sáng tạo. Khi một sáng chế trước đó yêu cầu bảo hộ một số chất hoặc sản phẩm, thì tác giả sáng chế được lựa chọn trong số các sáng chế này do ưu thế hiển nhiên mà chúng có được trong nhóm đầu tiên. Để được cấp bằng độc quyền sáng chế, sự lựa chọn này phải mang lại những ưu thế vượt trội có tính cá biệt đối với nhóm được chọn. Tri thức liên quan làm căn cứ để đánh giá tính hiển nhiên là những tri thức của những người thợ lành nghề có đầy đủ kỹ năng theo giả thuyết trong bản công bố về tình trạng kỹ thuật tồn tại vào ngày ưu tiên của sáng chế. Chúng ta thường gặp một câu hỏi hóc búa về mức độ thông thái của người thợ lành nghề trong việc đánh giá tri thức. Một số tòa án viện dẫn đến tri thức của nhà nghiên cứu thông thái, trong khi một số khác lại tập trung vào tri thức của người công nhân có kỹ năng nhưng không có khả năng sáng tạo. Một vấn đề khác biệt giữa các nước là liệu tri thức mà người thợ lành nghề có kỹ năng theo giả thuyết có tồn tại tại nước của tác giả sáng chế hay không, hoặc là tri thức đó có thể tồn tại ở nơi bất kỳ trên thế giới hay không. 16 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  17. Xem xét vấn đề về tính hiển nhiên, báo cáo tra cứu không chỉ là tri thức được công bố mà còn là tri thức về các vật chất và máy móc đã được công khai sử dụng. Những đối tượng bị loại trừ ra khỏi việc xem xét này có thể đang được sử dụng bí mật hoặc đang trong giai đoạn thử nghiệm. (b) Đánh giá trình độ sáng tạo Các tòa án thường miễn cưỡng đánh giá một cách tổng thể về tính hiển nhiên hoặc trình độ sáng tạo khi xem xét tất cả các khía cạnh trong từng trường hợp cụ thể. Tòa phúc thẩm Vương quốc Anh đã đưa ra phương pháp sau để đánh giá trình độ sáng tạo trong vụ Windsurfing kiện Tabur Marine [năm 1985] RPC 59: (i) Xác định ý tưởng sáng tạo của sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế; (ii) Giả thiết về trình độ tri thức của người có trình độ kỹ thuật, nhưng người đó lại không có thật, người đó phải tự cho là có trình độ hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng và người đó phải được giả định là đã đọc kỹ tài liệu, bao gồm các bản mô tả sáng chế có liên quan đã được công bố; (iii) Xác định, nếu có thể, những khác biệt tồn tại giữa các đối tượng đã biết hoặc đã được sử dụng và sáng chế đó; và (iv) Quyết định, không cần kiến thức về sáng chế đó, liệu những khác biệt đó có tạo thành mức độ hiển nhiên đối với người có trình độ hoặc liệu chúng có cần đến trình độ sáng chế hay không. Cơ quan Sáng chế châu Âu (EPO) thông qua “phương pháp và giải pháp tiếp cận” gồm ba giai đoạn sau: 1. xác định tình trạng kỹ thuật; 2. xác định vấn đề kỹ thuật cần được giải quyết; và 3. cân nhắc xem liệu sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, khởi đầu từ trình độ kỹ thuật gần nhất, và vấn đề kỹ thuật có là hiển nhiên đối với người có trình độ kỹ thuật hay không. Giải pháp kỹ thuật gần nhất được công bố là sự kết hợp các dấu hiệu nảy sinh từ một nguồn tham khảo duy nhất là cơ sở tốt nhất để đánh giá tính hiển nhiên. Trong giai đoạn thứ hai, vấn đề kỹ thuật được lý giải như mục đích và nhiệm vụ cải tiến hoặc làm thích ứng giải pháp kỹ thuật gần nhất nhằm đánh giá các ảnh hưởng kỹ thuật mà sáng chế tác động đến giải pháp kỹ thuật gần nhất. Điều này bao gồm việc đánh giá khách quan trình độ kỹ thuật đã biết, có thể khác với giải pháp kỹ thuật mà người nộp đơn trên thực tế biết được khi nộp đơn. Trong giai đoạn thứ ba, vấn đề cần được giải quyết là liệu có chỉ dẫn nào trong giải pháp kỹ thuật đã biết sẽ (trái với có thể) khiến cho người có trình độ phải .kỹ thuật đối mặt với vấn đề kỹ thuật, để cải tiến hoặc làm thích ứnggiải pháp kỹ thuật gần nhất, khi xem xét chi dẫn này thì tìm được điều gì đó trong thời hạn yêu cầu bảo hộ và đạt đuợc những gì mà sáng chế đạt được. 17 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  18. (c) Phương pháp tiếp cận của thẩm định sáng chế Đối với đại diện sáng chế, rõ ràng là sẽ rất hữu ích khi biết được các phương pháp luận mà thẩm định viên sáng chế sẽ áp dụng để giải quyết vấn đề liên quan đến trình độ sáng tạo. Dưới đây là các bước thông thường mà một thẩm định viên thường tuân thủ khi áp dụng phương pháp vấn đề - giải pháp thông tiếp cận: a) hiểu được bản mô tả trong quá trình thẩm định và xác định vấn đề mà sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế giải quyết; b) xác định tình trạng kỹ thuật cơ bản; c) xác định người có tình độ kỹ thuật trong lĩnh vực có vấn đề cần giải quyết; d) xác định xem liệu, trong phạm vi của vấn đề, người có trình độ kỹ thuật có thể xác định được, hiểu được và được xem là có liên quan đến tài liệu trích dẫn nêu trong báo cáo tra cứu hay không; e) xác định xem liệu, trong phạm vi của vấn đế, sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế là một trong số các trường hợp sau: - giải pháp kỹ thuật tương đương của tài liệu trích dẫn trong báo cáo tra cứu; - sự cải tiến kỹ thuật so của tài liệu trích dẫn đó - một tập hợp rõ ràng hoặc một sự quy nạp đặc biệt; hoặc - một sự kết hợp rõ ràng các dấu hiệu của kiến thức chung thông thường f) xem xét xem liệu yêu cầu bảo hộ có bao gồm: - giải pháp nêu trong tài liệu trích dẫn của báo cáo tra cứu đó khác với giải pháp - những khó khăn thực tế cần giải quyết khi tìm kiếm giải pháp đó; - xác định “bản chất thực” của vấn đề; g) nếu có liên quan, xem xem liệu có nhu cầu nhận biết được trước đó khi sử dụng các thử nghiệm về: - nhu cầu đã có từ lâu - sự thất bại của người khác - sao chép sáng chế có dựa vào tình trạng kỹ thuật - thành công thương mại (d) Xác định cơ sở của tình trạng kỹ thuật Trong quá trình xác định cơ sở tình trạng kỹ thuật để đánh giá trình độ sáng tạo, kiến thức chung thông thường vào ngày ưu tiên của yêu cầu bảo hộ được coi là chuẩn mực. Trong quá trình đánh giá tính mới, báo cáo về tình trạng kỹ thuật được diễn giải như tại thời điểm công bố nó ngoại trừ các thông tin được phát hiện ra sau đó. Liên quan đến trình độ sáng tạo, báo cáo tra cứu được diễn giải bởi người có trình độ kỹ thuật trong lĩnh vực tương ứng khi cố gắng giải quyết vấn đề – nghĩa là, vào ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định. Điều này có nghĩa là, đối với trình độ sáng tạo, việc bộc lộ báo cáo tra cứu có thể được mở rộng một cách có hiệu quả thông qua việc xem xét các kiến thức chung thông thường có được trong giai đoạn giữa thời điểm công bố báo cáo tra cứu và ngày ưu tiên của yêu cầu bảo hộ đang được xem xét. 18 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  19. Khái niệm về kiến thức chung thông thường được hiểu là việc sử dụng những điều đã biết hoặc từng được sử dụng trong hoạt động thương mại có liên quan. Kiến thức này bao gồm cả kiến thức cơ bản và kinh nghiệm sẵn có đối với mọi người trong hoạt động thương mại khi cân nhắc việc tạo ra các sản phẩm mới hoặc những cải tiến trong quá khứ, và nó phải được xem như đang được một cá nhân sử dụng tương tự như một thể nhân chung về kiến thức. Các chứng cứ bằng văn bản phải được nêu ra cho thẩm định viên để xác định kiến thức thông thường bao gồm những gì trong từng lĩnh vực cụ thể. Do vậy, tài liệu tham khảo sẽ bao gồm: • các sách giáo khoa và sách tham khảo chuẩn; • các từ điển ngôn ngữ chuẩn; • các từ điển kỹ thuật có liên quan; • các trao đổi liên quan đến sáng chế yêu cầu cấp bằng độc quyền đang được thẩm định; • các tạp chí hoặc các ấn phẩm trong lĩnh vực cụ thể; và • các bản mô tả sáng chế. Chứng cứ cần cung cấp cho thẩm định viên sẽ cũng được chấp nhận là những tài liệu được bộc lộ trong các ấn phẩm được chấp nhận một cách rộng rãi bởi những người trực tiếp tham gia vào hiện trạng kỹ thuật liên quan đến việc bộc lộ. Nhìn chung, trong thực tiễn quốc gia, nếu ấn phẩm in ấn ở nước ngoài dựa trên chỉ dẫn về kiến thức chung thông thường, chứng tỏ rằng ấn phẩm đã được biết đến một cách rộng rãi trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng ở nước sở tại. Một điều bắt buộc chung đối với các thẩm định viên là phải dựa vào các bản mô tả sáng chế riêng lẻ và nội dung của chúng như một phần của kiến thức chung thông thường, trừ khi nó là một điều thông thường đối với mọi người trong một lĩnh vực cụ thể phải dựa vào. Ngoài ra, nếu một số bản mô tả được nộp bởi những người nộp đơn khác nhau, đề cập đến một khía cạnh kiến thức thì có thể được xem như là kiến thức chung. (e) Phương pháp tiếp cận vấn đề/giải pháp đối với trình độ sáng tạo Điểm khởi đầu của phương pháp tiếp cận vấn đề/giải pháp đối với trình độ sáng tạo là xác định vấn đề mà sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền giải quyết. Vấn đề này sẽ là trọng tâm việc phân tích và đưa ra bối cảnh để: a) xác định người có trình độ kỹ thuật trong lĩnh vực có liên quan; b) xác định kiến thức chung thông thường có liên quan; c) xác định xem liệu thông tin nêu trong báo cáo tra cứu có phải là thông tin mà người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật có thể, trước ngày ưu tiên của điểm yêu cầu bảo hộ sẽ biết được, hiểu được và được coi là có liên quan đến công việc trong lĩnh vực kỹ thuật có liên quan đến sáng chế; và 19 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
  20. d) đánh giá sự liên quan của tài liệu trích dẫn nêu trong báo cáo tra cứu và xem xét liệu sáng chế có giải quyết được vấn đề đặt ra hay không. Vấn đề mà sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền giải quyết sẽ được xác định thông qua việc đọc hiểu bản mô tả. Những bản mô tả bàn về tình trạng kỹ thuật có thể nêu các khó khăn mà sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền sẽ phải giải quyết và qua đó, trực tiếp tìm ra vấn đề mà sáng chế sẽ giải quyết. Tuyên bố về "mục đích của sáng chế" cũng chỉ ra vấn đề cần được giải quyết bởi sáng chế. Nếu không có sự tham khảo cụ thể nào về tình trạng kỹ thuật hoặc mục đích của sáng chế, vấn đề sẽ phải được tìm ra từ các điểm yêu cầu bảo hộ, thường là từ các dấu hiệu quan trọng của điểm yêu cầu bảo hộ độc lập rộng nhất. Khi đã xác định được vấn đề, thẩm định viên sẽ tìm hiểu từ bản mô tả các dấu hiệu cần thiết để giải quyết vấn đề. Sau đó, thẩm định viên phải kiểm tra xem yêu cầu bảo hộ được phân tích có xác định tất cả các dấu hiệu này hay không. Nếu không đúng, vấn đề sẽ phải được thay đổi cho đúng với vấn đề mà điểm yêu cầu bảo hộ đó giải quyết. (f) Xác định người có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật đó(PSA) Người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật đó phải được xác định theo vấn đề mà sáng chế định giải quyết mà không theo giải pháp kỹ thuật được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. Các quy tắc cơ bản để xác định ai là người có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật đó cũng tương tự như các quy tắc xác định đối tượng mà bản mô tả hướng đến. Như vậy, đó là người có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật đó, đó là, người lao động có kỹ năng nhưng không có khả năng sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ có liên quan ở nộp đơn với những kiến thức chung thông thường về lĩnh vực kỹ thuật đó. Câu hỏi tự đánh giá (SAQ) Câu hỏi 11 Thông tin nào sẽ được thẩm định viên xem xét để được người có trình độ kỹ thuật phát hiện ra trong một tài liệu trích dẫn của báo cáo về tình trạng kỹ thuật? Trả lời. a. thông tin đã được bộc lộ trong báo cáo tra cứu các tài liệu sáng chế, gồm các bản mô tả sáng chế của các nước có số lượng đơn nộp lớn; b. thông tin có trong tài liệu bất kỳ khi tra cứu để đánh giá tính mới; c. thông tin trong báo cáo liên quan đến giải pháp của vấn đề kỹ thuật được bộc lộ trong yêu cầu bảo hộ. (g) Đánh giá trình độ sáng tạo Do sự phản đối về việc thiếu trình độ sáng tạo chỉ phát sinh nếu nó chỉ ra rằng một người có trình độ trong lĩnh vực kỹ thuật đó khi giải quyết vấn để sẽ thực hiện các bước cần thiết để tạo ra sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, nên thẩm định viên sẽ phải kiểm tra liệu sáng chế được yêu cầu cấp bằng độc quyền có thuộc một trong số các trường hợp sau: 20 Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản