Tại sao gọi là FED mà không gọi là Central Bank

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
195
lượt xem
126
download

Tại sao gọi là FED mà không gọi là Central Bank

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đa phần, Chính phủ các nước trên thế giới sử dụng cụm từ “Central Bank” (Ngân hàng Trung ương), còn lại sử dụng cụm từ “Federal Reserve” (Dự trữ Liên bang) như Cục Dự trữ liên bang Mỹ – FED, hay “Reserve Bank” (Ngân hàng dự trữ) chẳng hạn như: Úc (Reserve of Australia), New Zealand (Reserve Bank of New Zealand), Ấn Độ (Reserve Bank of India)… Mặc dù, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của Central Bank giống như FED hay Reserve Bank, nhưng giữa Central Bank và FED vẫn có những điểm khác nhau khá lớn,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tại sao gọi là FED mà không gọi là Central Bank

  1. Tại sao gọi là FED mà không gọi là Central Bank Đa phần, Chính phủ các nước trên thế giới sử dụng cụm từ “Central Bank” (Ngân hàng Trung ương), còn lại sử dụng cụm từ “Federal Reserve” (Dự trữ Liên bang) như Cục Dự trữ liên bang Mỹ – FED, hay “Reserve Bank” (Ngân hàng dự trữ) chẳng hạn như: Úc (Reserve Bank of Australia), New Zealand (Reserve Bank of New Zealand), Ấn Độ (Reserve Bank of India)… Mặc dù, về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của Central Bank giống như FED hay Reserve Bank, nhưng giữa Central Bank và FED vẫn có những điểm khác nhau khá lớn, tùy thuộc vào tính chất “sở hữu về vốn” và sự lựa chọn “mô hình” mà các quốc gia áp dụng. Bài viết này không đi sâu so sánh bất cứ vấn đề gì giữa Central Bank và FED hay Reserve Bank, mà chỉ tóm lược một vài sự kiện quan trọng, tạo nên cái gọi là FED Hoa Kỳ, và các cuộc khủng hoảng tài chính do các thế lực tài phiệt quốc tế gây ra, để làm căn cứ cho bạn đọc tự so sánh, tìm hiểu. 1. Hội nghị Trà Boston – Giọt nước tràn ly Như chúng ta đã biết, Hoa Kỳ vốn là thuộc địa của Anh cho đến năm 1774, để phản đối chính sách thuế của Anh đánh vào Trà (tea tax), một hội nghị trà được được tổ chức tại Boston (Boston Tea Party). Nhân dịp này, nhiều người Mỹ đóng giả người da đỏ nhảy lên tàu chở trà của Anh khiêu chiến và ném các thùng trà xuống biển. Hành động đó đã bị chính quyền cai trị Anh đàn áp. Để chống trả, phía Mỹ đã thành lập các đội quân chiến đấu chống lại quân đội Anh. Nhân sự kiện này, vào năm 1774, ông Benjamin Franklin đã đứng ra triệu tập một Hội nghị ở Philadelphia để đưa ra chính sách về quyền của người Mỹ được đóng thuế. Trong đó ông Benjamin nhấn mạnh: “Nếu như ngân hàng Anh không tước đoạt quyền phát hành tiền tệ của xứ thuộc địa (tức nước Mỹ) thì người dân của xứ này sẽ vui vẻ đóng các khoản thuế trà và các sản phẩm khác… và nó trở thành nguyên
  2. nhân chủ yếu gây ra cuộc chiến tranh độc lập của Mỹ”. Sau đó, với sự chiến thắng vang dội của đoàn quân Massachusetts, Hội nghị đã cho ra Bản tuyên ngôn độc lập ngày 4/7/1776 và dưới sự lãnh đạo tài tình của Tướng George Washington, quân đội Mỹ đánh thắng quân đội Anh vào năm 1781, theo Hiệp ước Versailles, năm 1785 Anh quốc chính thức công nhận độc lập cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tại thời điểm này, vai trò và tầm ảnh hưởng của ông Benjamin Franklin được xếp sau Tướng George Washington. Ông Benjamin được coi là người cha lập quốc của nước Mỹ, ông là người duy nhất ký tên vào 4 tài liệu chính thức về việc thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đó là: Tuyên ngôn độc lập, Hiệp ước Paris, Hiệp ước liên minh với Pháp, Hiến pháp Mỹ. Quay lại Hội nghị trà Boston, người ta coi Hội nghị tiệc trà Boston như là giọt nước tràn ly, đưa cuộc cách mạng Mỹ đến thắng lợi, trong đó hệ thống tài chính - tiền tệ Hoa Kỳ bắt đầu có những bước thay đổi. Cụ thể: dưới thời thuộc địa Anh, vấn đề điều hành chính sách tiền tệ, in ấn và phát hành tiền do Anh quốc thực hiện. Sau độc lập, vấn đề điều hành chính sách tiền tệ và in ấn phát hành tiền do Hoa Kỳ đảm nhận. Tuy nhiên, dưới sức ép của các nhà tài phiệt châu Âu chủ yếu là Anh, Pháp, Đức, Italia và các nhà tài phiệt Ngân hàng Hoa Kỳ, hệ thống ngân hàng Mỹ, đặc biệt là vị trí của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ bị các thế lực tài phiệt biến thể liên tục theo hướng NHTW tư hữu, đúng như mô hình NHTW tư hữu Anh quốc. Nói đúng hơn là NHTW Hoa Kỳ đã trải qua các cuộc chiến “đẫm máu” nhằm xác lập tính chất “sở hữu” của NHTW thuộc về ai: Chính phủ hay các nhà tài phiệt tư nhân. Trong đó, tên gọi (nguồn gốc của FED) diễn biến như sau: từ 1791-1811, có tên gọi là “First Bank of the United States” (học theo mô hình ngân hàng Anh quốc) do Tổng thống Washington ký thành lập và có hiệu lực trong vòng 20 năm. Trong đó, các nhà tài phiệt tư nhân Hoa Kỳ như J.P Morgan, Rockefeller và Gia tộc Rothschild chiếm 80% cổ phần, Chính phủ Hoa Kỳ chỉ nắm giữ 20%. Năm 1811-1816, không có Central Bank; năm 1816-1836, là “Second Bank of the United States”, trong đó, các nhà tài phiệt Hoa Kỳ và Gia tộc
  3. Rothschild tiếp tục nắm giữ 80% cổ phần, còn Chính phủ Hoa Kỳ chỉ nắm giữ 20%. Từ năm 1837-1862, là Free Bank Era; từ 1846-1921, là Independent Treasury System; từ 1863-1913, là National Banks; từ 1913 - đến nay là Federal Reserve System, tức FED ngày nay. Như vậy, tên gọi của FED liên tục được thay đổi qua các thời kỳ, trong đó có những giai đoạn xuất hiện cùng lúc ba loại hình: Free Bank Era, Independent Treasury System, National Banks… Mãi đến năm 1913, mới chính thức có tên gọi là “Hệ thống dự trữ liên bang” (FED). Tại sao vậy, câu chuyện bí mật đảo JekyII là một phần của lịch sử FED. 2. Bí mật đảo JekyII – Nơi sản sinh ra Federal Reserve (FED) Để cải tổ và vực dậy nền tài chính Hoa Kỳ sau cuộc đại khủng hoảng tài chính xảy ra tại Mỹ năm 1907, năm 1908, Tổng thống Theodore Roosevelt (1901-1909) là vị Tổng thống thứ 26 của Mỹ quyết định thành lập Ủy ban tiền tệ quốc gia (National Monetary Commission) để chỉnh đốn và cải cách hệ thống tài chính Mỹ. Chủ tịch Ủy ban tiền tệ quốc gia lúc bấy giờ là Nghị sỹ Nelson Aldrich (phía bên ngoại của David Rockefeller). David Rockefeller là ông vua dầu lửa, Chủ tịch tập đoàn dầu lửa Standard Oil, được mệnh danh là người giàu nhất nước Mỹ cho đến khi ông qua đời năm 1937. Trước khi bắt tay vào cải cách, ông Aldrich và các thành viên trong Ủy ban đã tiến hành chuyến “công du” châu Âu trong vòng 2 năm nhằm khảo sát và nghiên cứu toàn diện hệ thống tài chính châu Âu. Khi trở về nước, ông cùng các thành viên và các nhà tài phiệt ngân hàng hàng đầu nước Mỹ lúc bấy giờ bắt tay vào thực hiện công cuộc cải tổ hệ thống tài chính và ngân hàng Mỹ, đặc biệt là Ngân hàng Trung ương. Dấu mốc được đặt vào ngày 22/11/1910, tức ngày mà Nelson Aldrich cùng các nhà tài phiệt ngân hàng quan trọng nhất nước Mỹ lúc bấy giờ tiến ra hòn đảo JekyII thuộc bang Georgia. Là một hòn đảo nghỉ đông thuộc sở hữu của những nhân vật giàu có siêu hạng ở Mỹ, trong đó có J.P.Morgan. Morgan cũng là người thành lập ra câu lạc bộ đi săn trên đảo JekyII. Tại đây, Nelson Aldrich đã thành lập “The First Name Club”, với tên gọi của câu lạc bộ
  4. như vậy, buộc tất cả những người phục vụ trên đảo JekyII chỉ được xưng tên, tuyệt đối không được xưng họ đối với những vị khách quan trọng (đến từ đất liền). Tức người ta tránh không nhắc tới “Last Name” nhằm không cho ai biết, kể cả người hầu, nghĩa là dù bất cứ ai trên đảo có nghe trộm các cuộc đàm thoại của những nhân vật chóp bu về tài chính này thì cũng không biết tên họ là ai, để nói lại cho người ngoài hay báo chí biết về họ. Chính vì vậy, cho đến ngày nay, ít có tài liệu nhắc đến hoặc viết một cách đầy đủ về The First Name Club. Đó là điều bí mật gắn liền với hòn đảo JekyII Island, ngoài khơi bang Georgia, được coi là cái nôi sinh ra FED. Nhóm người do Nelson Aldrich dẫn đầu gồm một số nhân vật được chọn lọc rất cẩn trọng trong giới tài chính và ngân hàng Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Trong số đó, người đóng vai trò quan trọng nhất là ông Paul Warburg (1868-1932) người Mỹ gốc Đức, di cư sang Mỹ năm 1904, nhập quốc tịch Mỹ năm 1911. Paul đến Mỹ và hùn một khoản vốn khổng lồ vào Công ty Kuhn Loeband Company tại New York. Paul cũng là đại diện của dòng họ Rothschild nổi tiếng ở Đức, Anh, Pháp, Italia đảm nhận chức Tổng công trình sư của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), kiêm chủ tịch đầu tiên của FED. Paul Warburg có 4 anh em đều là những nhân vật nổi tiếng trong giới tài phiệt ngân hàng thời bấy giờ, gồm: Max Warburg - anh trai cả là Cục trưởng Cục tình báo Đức, Paul Warburg là người em thứ hai giữ chức Chủ tịch FED nhiệm kỳ đầu tiên và là người giữ chức vụ cao nhất về tài chính Hoa Kỳ thời bấy giờ, Felix Warburg - em trai thứ ba là cổ đông cao cấp của Công ty Kuhn Loeb, Fritz là em trai thứ tư giữ chức Chủ tịch Sở giao dịch Vàng Humburg – Đức, là người từng đại diện cho Chính phủ Đức bí mật giảng hòa với Nga. Cả bốn anh em nhà họ Warburg đều là những nhân vật chóp bu mang trong mình dòng máu do thái – Người Đức. Xin nhắc lại rằng, mặc dù Gia tộc Rothschild không có mặt trên đảo JekyII, nhưng toàn bộ định hướng hình thành FED đều do Gia tộc Rothschild (bài viết sẽ đề cập cụ thể ở phần tiếp theo) điều khiển đằng sau hậu trường thông qua Paul Warburg nhân vật chính thiết kế ra FED. Cùng với Paul là các nhân vật tài phiệt như: Nelson Aldrich – thượng nghị sỹ, Chủ tịch Ủy ban tiền tệ quốc gia; A.Piatt Andrew – Trợ lý Bộ trưởng Tài chính
  5. Mỹ; Frank Vanderlip – Chủ tịch National Bank City; Henry P. Davision – cổ đông cao cấp của Công ty J.P.Morgan; Charles D.Norton – Chủ tịch First National Bank; Benjamin Strong – trợ lý của J.P.Morgan. Nhóm làm việc do Nelson Aldrich chủ trì đã họp trong vòng 9 ngày liên tục, để viết nên một dự luật cải tổ hệ thống ngân hàng và luật pháp tiền tệ trình lên Quốc hội. Dự luật mới có những đặc điểm khác với dự luật trước đó, ở chỗ: như đã đề cập ở trên, tên gọi của Ngân hàng Quốc gia Hoa Kỳ thay đổi liên tục, cho đến năm 1863-1913, mới chính thức gọi là Ngân hàng Quốc gia Hoa Kỳ (được hiểu là Ngân hàng Trung ương). Sau khủng hoảng tài chính 1907, những yếu kém của Ngân hàng Quốc gia bộc lộ, niềm tin dân chúng vào sự điều hành của Ngân hàng Quốc gia suy giảm mạnh, bởi Ngân hàng Quốc gia là ngân hàng tư nhân, do các nhà tài phiệt ngân hàng tư nhân Hoa Kỳ và quốc tế lập nên. Chính vì vậy, để phục hồi sức mạnh của Ngân hàng Quốc gia do tư nhân nắm giữ, điều đặc biệt đầu tiên của dự thảo mới là đổi tên Ngân hàng Trung ương thành Cục Dự trữ liên bang (Federal Reserve System – FED) mặc dù bản chất bên trong không thay đổi. Việc đổi tên từ “Ngân hàng” sang “Dự trữ” nhằm đánh lạc hướng dư luận công chúng, làm cho công chúng tin rằng cơ quan điều hành này là cơ quan của Chính phủ, do nhân viên Chính phủ điều hành, chứ không phải là “tư nhân điều hành” (các nhà tài phiệt). Hơn nữa, tên gọi Ngân hàng Trung ương thường liên quan đến hàng loạt âm mưu đen tối của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế Anh quốc, vì thế Paul kiến nghị nên sử dụng tên gọi “Cục Dự trữ liên bang” (FED) thay cho NHTW để che đậy tai mắt thiên hạ. Bên cạnh đó, FED của Mỹ được thiết kế theo kiểu tư nhân nắm giữ cổ phần. Khác với Ngân hàng Thứ nhất (1791-1811 có tên gọi là “First Bank of the United States”) và Ngân hàng Thứ hai (1816-1836 có tên gọi là “Second Bank of the United States”), đó là trong cơ cấu cổ phần của FED thì 20% cổ phần vốn có của Chính phủ tại Ngân hàng Thứ nhất và Thứ hai, nay đã được tư nhân hóa, do đó FED trở thành một NHTW tư hữu thuần túy. Thứ hai: nhân vật chịu trách nhiệm chủ trì FED phải là một chuyên gia hàng đầu của Ngân hàng New York. Để nhận được sự ủng hộ của các nghị sỹ đến từ các bang khác, đặc biệt là các bang thuộc miền Trung tây
  6. nước Mỹ vốn không ưa các chuyên gia đến từ miền Đông, trong đó có Ngân hàng New York. Vì vậy, Paul thiết kế làm sao cho 12 ngân hàng địa phương cấu thành vào FED nhằm trung hòa các mối quan hệ, và thuận cho việc lựa chọn nhân vật đứng đầu FED phải là của Ngân hàng New York. Mặc dù trên thực tế, Ngân hàng New York luôn nắm vị trí “thống lĩnh”, các chủ trương chính sách do Ngân hàng New York đưa ra đều là kim chỉ nam hành động cho toàn bộ các ngân hàng địa phương thực hiện. Thứ ba: trụ sở chính của FED đóng tại Washington chứ không phải là New York, mặc dù New York là trung tâm tài chính (Phố Wall) không những của Hoa Kỳ mà của toàn thế giới, đây cũng là vấn đề được Paul thiết kế nhằm tránh sự kỳ thị của dân chúng Mỹ đối với các ngân hàng đến từ New York thời bấy giờ. Thứ tư: tìm những người đứng đầu 12 FED địa phương, trong đó Paul cho thấy một điều rằng: các nghị sỹ miền Trung tây nước Mỹ thường tỏ rõ mối thù địch với Ngân hàng New York, do đó, để khống chế 12 FED địa phương, Paul đề xuất Tổng thống là người chịu trách nhiệm bổ nhiệm người đứng đầu 12 FED địa phương, mà không phải là Quốc hội. Đối với FED Trung ương, Hội đồng Thống đốc FED có 7 thành viên, Chủ tịch FED do Tổng thống bổ nhiệm, 2 thành viên khác của FED đại diện cho Chính phủ là Bộ Tài chính và Kho bạc Mỹ, còn lại là các ông chủ ngân hàng tư nhân. Trong đó, Tổng thống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 1 thành viên trong vòng 2 năm. Như vậy, 1 nhiệm kỳ Tổng thống 4 năm thì Tổng thống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 2 thành viên trong Hội đồng Thống đốc FED. Nếu nhiệm kỳ Tổng thống kéo dài 8 năm (2 nhiệm kỳ) thì quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm chỉ được tối đa 4 người, và 4 người này phải được Thượng viện thông qua, đó là điều không dễ. Lịch sử Mỹ đã chứng minh điều này. Chẳng hạn Ông Alan Greenspan nguyên là Giám đốc Tập đoàn J.P.Morgan, được Tổng thống Reagan bổ nhiệm vào vị trí Chủ tịch FED vào năm 1987, cho đến năm 2006 mới nghỉ hưu, Ông đã trải qua 4 đời Tổng thống, mà không phải “nghỉ giữa chừng”, điều đó chứng tỏ sức mạnh độc lập của FED và vai trò “điều khiển” của các nhà tài phiệt Hoa Kỳ đủ để nói lên tính khác biệt trong điều hành của mình so với các quốc gia khác.
  7. 3. Vốn, mạng lưới và in ấn tiền của FED - Vốn: vốn của FED do các FED địa phương đóng góp, trong đó FED Bank của New York (Federal Reserve Bank of New York) nắm đa số cổ phần, chiếm 53% cổ phần và quyết định toàn bộ hoạt động của FED. Trong FED Bank của New York thì Citibank và J.P.Morgan Chase Co nắm đa số cổ phần. Citibank là của gia đình Rockefeller - ông vua dầu lửa như đề cập trên. Còn J.P.Morgan Chase Co là của gia đình Morgan. J.P.Morgan (1837-1913) là ông trùm của ngành công nghiệp Mỹ, ông đã thành lập Tập đoàn Thép Hoa Kỳ với tổng số vốn lên đến hàng tỷ USD, bảo trợ tài chính cho International Havester, AT&T, General Electric, là cha đẻ của dự án xây dựng hệ thống đường ray của Mỹ. Đặc biệt dưới sự lãnh đạo của ông, các ngân hàng lớn của New York đóng vai trò như là Ngân hàng Trung ương của Mỹ. Do đó, các chính sách FED Bank của New York đưa ra được coi như là định hướng cho toàn bộ các FED địa phương thực hiện. Một điều đặc biệt nữa, đó là trong thời kỳ điều hành của J.P.Morgan, ông đã kết hợp được lợi ích của các công ty cạnh tranh để tạo ra một hệ thống khổng lồ và ổn định. Hai gia đình Rockefeller và J.P.Morgan cùng với gia đình Carnegie (Vua sắt thép của nền công nghiệp Mỹ) và gia đình Rothschild (dòng họ người do thái, định cư tại Đức), nổi tiếng và giàu có trên thế giới. Mỗi khi nói đến dòng họ này là người ta suy nghĩ ngay đến quyền lực và tiền bạc. Gia đình Rothschild đã xây dựng nên một hệ thống ngân hàng tư nhân và chi phối phần lớn thị trường tiền tệ, tín dụng châu Âu trong một thời kỳ dài. Tên ông gắn liền với Ngân hàng Rothschild tại 5 trung tâm tài chính tiền tệ lớn nhất châu Âu lúc đó là: Frankfurt-Đức, London –Anh, Paris- Pháp, Vienne-Áo, Napoli-Italia do 5 con trai của ông làm chủ. Nếu Bill Gates – ông chủ tập đoàn Microsoft hiện được giới truyền thông liệt vào danh sách một trong những người giàu có nhất thế giới hiện nay, thì những thế lực vô hình như Gia tộc Rothschild ít khi xuất hiện trong top những người giàu nhất, mặc dù trên thực tế, họ mới chính là những người giàu nhất hành tinh, trên cả Bill Gates nhiều
  8. lần, song do giới truyền thông bị các ông trùm này “khóa miệng” nên không ai có thể biết được tài sản của họ là bao nhiêu. Hiện tại, có 7 nhân vật quan trọng của Phố Wall đang khống chế đại bộ phận các ngành công nghiệp cơ bản cũng như nguồn vốn của nước Mỹ đó là: J.P Morgan, James J.Hill, George Berk (Chủ tịch First National Bank) trực thuộc Tập đoàn Morgan; 4 người còn lại là John Rockefeller, William Rockefeller, James Stillman (Chủ tịch National City Bank), Jacob Schiff (Công ty Kuhn Loeb) trực thuộc Tập đoàn Standard Oil Cities Bank. Đầu mối trung tâm về vốn do họ tạo nên đang trở thành thế lực chủ yếu khống chế nước Mỹ. Cũng chính 7 vị tai to mặt lớn của Phố Wall chính là những người thực sự điều khiển việc thành lập Cục Dự trữ liên bang Mỹ. Sự phối hợp nhịp nhàng và hết sức bí mật giữa những ông trùm trên với Gia tộc Rothschild của châu Âu cuối cùng đã lập nên một phiên bản của Ngân hàng Anh quốc tại Mỹ có tên gọi là FED tư nhân hoàn toàn. - Mạng lưới chi nhánh của FED: Federal Reserve System gồm có 12 FED bank địa phương, mỗi FED bank địa phương là 1 bank thuộc sở hữu của các ông chủ nhà bank tư nhân, bao gồm: 1- Boston, 2-New York, 3- Philadelphia, 4- Clavelands, 5- St Louis, 6- San Francisco, 7- Richmond, 8- Atlanta, 9-Chicago, 10- Minneapolis, 11- Kansas City, 12 – Dallas. - In ấn tiền: Hiện tại, việc in ấn tiền tại Hoa Kỳ do 2 cơ quan đảm nhận, cụ thể: FED (bao gồm 12 FED New York và địa phương) đảm nhận việc phát hành tiền giấy, Bộ Tài chính phát hành tiền xu (coins) có mệnh giá One Cent, Five Cents, One Dime, One Quarter và một số đồng tiền One Dollar. Trong đó, mỗi một FED khu vực được ký hiệu bằng 1 chữ cái, những chữ cái này in trên giấy bạc mà các FED phát hành, cụ thể nhìn bên trái tờ tiền dolla chúng ta thấy có chữ ký hiệu A ở phía 4 góc có ghi số 1 nằm trong lòng tờ tiền, tức đồng tiền đó do FED Boston in ấn; tương tự FED New York là B, bốn góc có số 2 nhỏ, tức đồng tiền đó do FED New York in ấn; FED Philadelphia là C {3}, FED Clavelands là D {4}, FED
  9. Richmond là E {5}, FED Atlanta là F {6}, FED Chicago là G {7}, FED St Louis là H {8}, FED Minneapolis là I {9}, FED Kansas City là J {10}, FED Dallas là K {11} và FED San Francisco là L {12}. 4. Khủng hoảng tài chính và vai trò của các nhà tài phiệt Ngân hàng quốc tế Do FED bị khống chế bởi các nhà tài phiệt ngân hàng và tập đoàn công nghiệp hàng đầu tại Mỹ và châu Âu nói trên, nên trước khi FED ra đời, hay sau khi FED ra đời thì bản chất hoạt động cũng không có gì thay đổi. FED luôn đóng vai trò là NHTW của Hoa Kỳ và cũng là NHTW của thế giới, bởi FED luôn hội tụ những bậc kỳ tài về lĩnh vực tài chính ngân hàng (nói đúng hơn là những nhà tài phiệt hàng đầu thế giới về lĩnh vực ngân hàng) nắm giữ vai trò điều hành FED. Họ là những thế lực có thể tạo ra bất cứ cuộc khủng hoảng nào, nếu họ cần. Vì vậy, bất cứ cuộc khủng hoảng nào xảy ra, đều có nguyên nhân và ẩn chứa đằng sau đó là cả một thế lực thao túng. Chẳng hạn, theo thống kê, các khủng hoảng tài chính xảy ra từ những năm 1857 đến nay đều do các thế lực tài phiệt ngân hàng tạo ra, nhằm gây áp lực với Chính phủ nếu một chính sách nào đó gây bất lợi cho các nhà tài phiệt, hay các ngân hàng “cứng đầu” không tuân theo FED New York, nơi đặt trụ sở chính của các nhà tài phiệt Phố Wall Hoa Kỳ và châu Âu. Theo Tác phẩm “Chiến tranh tiền tệ” (Currency Wars ) của tác giả Song HongBing cho biết: Phố Wall không ngừng áp dụng thủ đoạn tạo ra khủng hoảng tài chính để loại bỏ các phần tử đối lập. Trong các năm 1857, 1870, 1907 vì muốn ép Chính phủ Mỹ xây dựng lại NHTW tư hữu (tức FED ngày nay), các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế liên tục hợp tác và cùng nhau tạo ra khủng hoảng tài chính. Cuối cùng họ cũng đạt mục đích là thành lập FED tư hữu theo ý muốn thông qua các cuộc khủng hoảng tài chính, từ đó khống chế hoàn toàn quyền phát hành tiền của Mỹ. Chỉ tính riêng cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra tại Mỹ năm 1930 đến 1933, tổng cộng đã có 8.812 ngân hàng phải đóng cửa, do các ngân hàng này từng tỏ thái độ “bằng vai phải lứa” với 5 đại gia tài chính ở New York, đồng thời không chịu vay nợ từ hệ
  10. thống Cục Dự trữ Liên bang Mỹ nên các ngân hàng vừa và nhỏ đã phải nối đuôi nhau phá sản. Đứng về người vay tiền, chỉ tính riêng 1 ngày, tại 1 bang của Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng 1930-1933 đã có 60.000 ngôi nhà và nông trường bị phát mại. Một thủ đoạn kiếm tiền khác của các ngân hàng quốc tế đó là tạo ra các cuộc suy thoái kinh tế. Trước tiên, họ mở hầu bao để thúc đẩy tín dụng phát triển, tạo nên tình trạng thị trường bong bóng, rồi sau khi tài sản của người dân đã đổ dồn vào cơn sóng đầu cơ thì rút mạnh vòng quay lưu chuyển tiền tệ, tạo nên suy thoái kinh tế và sụt giá tài sản. Khi giá tài sản sụt xuống chỉ còn 1/10, thậm chí, là 1/100 giá trị thực thì các nhà tài phiệt lại ra tay mua vào. Trong ngôn ngữ của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế thì hành động này được gọi là “xén lông cừu” (fleecing of the flock). Sau khi Ngân hàng Trung ương tư nhân được thành lập, cường độ và phạm vi của hành động “xén lông cừu” đã đạt đến mức chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Hành động xén lông cừu được các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế ra tay gần đây nhất chính là tạo ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 trên cơ thể các con “hổ nhỏ” và “rồng nhỏ” của châu Á. Tương tự, chúng ta có thể thấy cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 cũng là cuộc “xén lông cừu” trên phạm vi toàn cầu. Cuộc khủng hoảng đã buộc 106 ngân hàng tại Mỹ phải đóng cửa, phá sản (chưa kể các ngân hàng châu Âu) và buộc hàng triệu người dân từ Âu sang Á lâm vào cảnh nợ nần…; các ngân hàng đóng cửa tại Mỹ trong cuộc khủng hoảng này vẫn chủ yếu là những ngân hàng nhỏ, địa phương. Nếu đánh giá khủng hoảng ở hai góc nhìn “các nhà tài phiệt” và “dân chúng”, tác phẩm “Curruncy Wars” cũng đưa ra nhận xét rằng: “Điều mà các nhà tài phiệt ngân hàng cần chính là nguy cơ khủng hoảng và suy thoái nghiêm trọng trong đời sống xã hội. Dưới sự đe dọa của khủng hoảng và suy thoái, người dân dễ trở nên thỏa hiệp nhất, sự đoàn kết dễ bị phá vỡ nhất, dư luận dễ bị dẫn dắt nhất, sức tập trung xã hội dễ bị phân tán nhất, và đương nhiên, mưu kế của các nhà tài phiệt ngân hàng cũng dễ được thực hiện nhất. Vì vậy, khủng hoảng và suy thoái được các nhà tài phiệt ngân hàng xem như một thứ vũ khí được sử dụng một cách hiệu quả nhất nhằm đối phó với Chính phủ và người dân”.
  11. Rõ ràng, khủng hoảng và suy thoái là con bài của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế tạo ra, do đó trong môi trường toàn cầu hóa, các sách lược đối phó với khủng hoảng và suy thoái của các quốc gia đang phát triển cần phải hết sức thận trọng và chính xác mới tránh được các bẫy “xén lông cừu” của các nhà tài phiệt quốc tế.
Đồng bộ tài khoản